Đề tài được thực hiện với đối tượng nghiên cứu là năng lực tư vấn của Viện KT&QHTS, đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn, cho các dự án trong lĩnh vực thủy sản được thực hiện trên lãnh thổ Việ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TẠ VĂN LỢI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS TS Tạ Văn Lợi – người hướng dẫn khoa học, đã định hướng nghiên cứu cho luận văn cũng như theo dõi, trao đổi, góp ý, hướng dẫn và động viên học viên trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Học viên cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo của Bộ môn Quản trị kinh doanh quốc tế đã đưa ra những lời nhận xét, góp ý xác đáng để học viên hoàn thiện luận văn
Lời cảm ơn trân trọng cũng xin được gửi tới các thầy cô giáo thuộc Viện sau đại học và các thầy cô giáo Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức và hướng dẫn các phương pháp nghiên cứu trong suốt quá trình đào tạo của học viên
Học viên cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo và các cán bộ Viện Kinh tế
và quy hoạch thủy sản đã tạo những điều kiện tốt nhất, luôn dành sự quan tâm và động viên để học viên hoàn thành tốt khóa học và luận văn
Lời cảm ơn nữa học viên xin được gửi tới các đồng nghiệp: TS Cao Lệ Quyên – Phó viện trưởng Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, ThS Hoàng Văn Cường – Trưởng phòng Đào tạo và Hợp tác quốc tế, ThS Nguyễn Thành Bách – Trưởng phòng Tổ chức, Hành chính đã chia sẻ những thông tin, tài liệu qúy báu để học viên thực hiện luận văn
Cuối cùng, học viên xin dành lời cảm ơn và sự yêu qúy đến gia đình vì tình yêu,
sự động viên và hỗ trợ cho học viên trong suốt quá trình học tập vừa qua
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Chữ kí của học viên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TƯ VẤN DỰ ÁN QUỐC TẾ7 1.1 Những vấn đề lý luận về dự án quốc tế 7
1.1.1 Khái niệm dự án quốc tế 7
1.1.2 Đặc điểm của dự án quốc tế 7
1.1.3 Chủ thể tham gia dự án quốc tế 8
1.2 Những vấn đề lý luận về năng lực tư vấn dự án quốc tế của tổ chức tư vấn 9
1.2.1 Một số khái niệm 9
1.2.2 Nội dung năng lực tư vấn dự án quốc tế của tổ chức tư vấn 10
1.3 Tiêu chí đánh giá năng lực tư vấn DAQT của tổ chức tư vấn 14
1.3.1 Tiêu chí định lượng 14
1.3.2 Tiêu chí định tính 18
1.4 Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản 20
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TƯ VẤN DỰ ÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆN KINH TẾ VÀ QUY HOẠCH THỦY SẢN 22
2.1 Giới thiệu chung về Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản 22
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 22
2.1.2 Lĩnh vực hoạt động 23
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý 23
2.1.4 Giới thiệu một số dự án tư vấn quốc tế tiêu biểu của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản giai đoạn 2013-2017 25
2.2 Thực trạng năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản 27
2.2.1 Năng lực nhân sự thực hiện tư vấn dự án quốc tế 27
2.2.2 Kinh nghiệm của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản 33
2.2.3 Năng lực tổ chức thực hiện tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS 35
Trang 52.2.4 Năng lực quản trị tài chính 36
2.3 Chỉ tiêu đánh giá năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản 37
2.3.1 Tiêu chí định lượng 37
2.3.2 Tiêu chí định tính 43
2.4 Đánh giá chung về năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản 46
2.4.1 Điểm mạnh 46
2.4.2 Điểm yếu 47
2.4.3 Nguyên nhân 48
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ VẤN DỰ ÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆN KINH TẾ VÀ QUY HOẠCH THỦY SẢN 50
3.1 Xu thế hội nhập quốc tế và vai trò của tư vấn dự án quốc tế ở Việt Nam50 3.1.1 Xu thế hội nhập quốc tế 50
3.1.2 Vai trò của tư vấn dự án quốc tế ở Việt Nam 51
3.2 Định hướng nâng cao năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản đến 2025 54
3.3 Phân tích SWOT đối với Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản trong thực hiện tư vấn dự án quốc tế 55
3.4 Giải pháp nhằm nâng cao năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản 56
3.4.1 Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tư vấn DAQT 57
3.4.2 Giải pháp mở rộng mạng lưới khách hàng, góp phần củng cố và nâng cao kinh nghiệm tư vấn DAQT của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản 60
3.4.3 Giải pháp thúc đẩy cơ chế phối hợp thực hiện giữa các phòng ban nhằm nâng cao năng lực tư vấn của Viện 63
3.4.4 Giải pháp nâng cao năng lực quản trị tài chính 64
KẾT LUẬN 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
KT&QHTS Kinh tế và Quy hoạch thủy sản
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ tham gia tư vấn DAQT của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản 28 Bảng 2.2 Kinh nghiệm tham gia tư vấn dự án quốc tế của đội ngũ nhân sự Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản 30
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản 24
Hình 2.2 Kinh nghiệm làm việc trong ngành thủy sản của đội ngũ nhân sự thực hiện tư vấn dự án quốc tế tại Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản 29
Hình 2.3 Khả năng ngoại ngữ của đội ngũ nhân sự tham gia tư vấn DAQT 32
Hình 2.4 Kỹ năng mềm của đội ngũ nhân sự tư vấn DAQT Viện KT&QHTS 33
Hình 2.5 Kết quả tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS giai đoạn 2013-2017 34
Hình 2.6 Số lượng DAQT Viện KT&QHTS chủ trì tư vấn giai đoạn 2013-2017 34
Hình 2.7 Tỷ lệ chuyên gia tham gia tư vấn dự án quốc tế của Viện KT&QHTS 37
Hình 2.8 Tỷ lệ chuyên gia làm chủ nhiệm tư vấn dự án quốc tế của Viện KT&QHTS 39
Hình 2.9 Tỷ lệ trúng thầu tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS giai đoạn 2013-2017 .39
Hình 2.10 Tỷ lệ hoàn thành tư vấn DAQT đúng thời hạn của Viện KT&QHTS 40
Hình 2.11 Tỷ lệ dự án quốc tế giải ngân đúng thời hạn của Viện KT&QHTS 42
Hình 2.12 Mức độ hài lòng của khách hàng về chất lượng tư vấn của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản giai đoạn 2013-2017 44 Hình 2.13 Cơ chế phối hợp thực hiện tư vấn dự án quốc tế của Viện KT&QHTS 45
Trang 9BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Trang 10TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong những năm gần đây, lĩnh vực hợp tác quốc tế được thúc đẩy mạnh mẽ trên toàn cầu nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của toàn nhân loại Tại Việt Nam, lĩnh vực hợp tác quốc tế cũng dành được nhiều sự quan tâm trong tất cả các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực thủy sản, một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn của đất nước Hiện nay, đã và đang có rất nhiều dự án được tài trợ bởi các chính phủ, tổ chức phi chính phủ nước ngoài hỗ trợ để phát triển ngành thủy sản Việt Nam theo hướng bền vững
Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản là một đơn vị sự nghiệp công lập thuộc
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Viện được giao chức năng thực hiện các nghiên cứu, hoạt động liên quan đến lĩnh vực thủy sản trong đó bao gồm cung cấp dịch vụ tư vấn cho các dự án quốc tế do các chính phủ và tổ chức phi chính phủ tài trợ nhằm phát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững Quá trình tham gia tư vấn cho các dự án quốc tế cho thấy năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện KT&QHTS còn một số thiếu sót như năng lực của đội ngũ nhân sự chưa tốt, phương pháp nghiên cứu chưa đổi mới, khả năng thu hút, tạo ấn tượng với các chủ đầu tư mới
còn hạn chế Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nâng cao năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản”
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS, đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn (tổ chức tư vấn) cho các DAQT trong lĩnh vực thủy sản Để đạt được mục tiêu này, tác giả đã hệ thống hóa lý luận về năng lực tư vấn DAQT của tổ chức tư vấn Trên cơ
sở đó, tác giả phân tích thực trạng và đánh giá năng lực tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS trong giai đoạn 2013-2017 Kết quả phân tích đánh giá giúp tác giả phát hiện được các tồn tại, hạn chế và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực
tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS
Đề tài được thực hiện với đối tượng nghiên cứu là năng lực tư vấn của Viện KT&QHTS, đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn, cho các dự án trong lĩnh vực thủy sản được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam dưới sự tài trợ của các chính phủ và tổ chức
Trang 11phi chính phủ nước ngoài nhằm mục tiêu phát triển ngành thủy sản Việt Nam bền vững
Kết cấu của đề tài được chia thành 3 chương
Chương 1 trình bày cơ sở lý luận về năng lực tư vấn DAQT Mục tiêu của chương 1 là xây dựng khung lý thuyết và các tiêu chí để làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng năng lực tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS trong chương
2 Trong chương 1, tác giả đã nêu khái quát lý thuyết về hai vấn đề chính đó là dự
án quốc tế và năng lực tư vấn dự án quốc tế của tổ chức tư vấn Về DAQT, tác giả trình bày 3 nội dung chính, đó là: (1) Khái niệm DAQT; (2) Đặc điểm của DAQT;
và (3) Chủ thể tham gia DAQT Về năng lực tư vấn DAQT của tổ chức tư vấn, tác giả nêu rõ các khái niệm liên quan đến năng lực tư vấn DAQT của TCTV và nội dung năng lực tư vấn DAQT của TCTV Theo đó, tác giả xác định các yếu tố chính cấu thành nên năng lực tư vấn DAQT của TCTV gồm có: (i) Năng lực nhân sự tư vấn DAQT của TCTV Đây là yếu tố cốt lõi tạo nên năng lực tư vấn của TCTV Năng lực nhân sự được thể hiện qua các khía cạnh: trình độ học vấn trong ngành nghề/lĩnh vực tư vấn yêu cầu, kinh nghiệm làm việc, khả năng ngoại ngữ, kỹ năng
sử dụng máy tính và kỹ năng mềm của các nhân viên tham gia tư vấn; (ii) Kinh nghiệm của TCTV, cụ thể là kinh nghiệm hoạt động trong ngành và kinh nghiệm tham gia cung cấp dịch vụ tư vấn cho các dự án nước ngoài; (iii) Năng lực tổ chức thực hiện tư vấn DAQT, thể hiện ở việc phân công công việc, phối hợp thực hiện cũng như khả năng ứng phó với các tình huống xảy ra trong quá trình tư vấn; và (iv) Năng lực quản trị tài chính, năng lực này cho thấy khả năng quản lý các khoản kinh phí của TCTV có theo đúng mục tiêu và thời gian dự án đưa ra hay không Năng lực
tư vấn DAQT là một khái niệm rất trìu tượng, khó có thể xác định được, chính vì thế, tác giả đã đưa ra nhóm các tiêu chí định lượng và định tính để làm cơ sở cho việc phân tích và đánh giá Các tiêu chí định lượng gồm có: Tỷ lệ chuyên gia thực hiện tư vấn DAQT của tổ chức tư vấn (đánh giá chất lượng của đội ngũ nhân sự tham gia tư vấn DAQT của TCTV); Tỷ lệ chuyên gia làm chủ nhiệm tư vấn DAQT của tổ chức tư vấn (phản ánh khả năng chủ trì thực hiện và kinh nghiệm tư vấn
Trang 12DAQT của TCTV); Tỷ lệ trúng thầu của tổ chức tư vấn (phản ánh kinh nghiệm của TCTV); Tỷ lệ hoàn thành tư vấn DAQT đúng thời hạn (phản ánh kinh nghiệm của TCTV trong việc thực hiện tư vấn DAQT); Tỷ lệ DAQT giải ngân đúng thời hạn (cho biết khả năng quản trị tài chính của TCTV) Các tiêu chí định lượng đều được tính toán theo công thức và cho kết quả là các con số cụ thể, cho thấy xu thế của từng yếu tố Các tiêu chí định tính bao gồm: Mức độ hài lòng của chủ đầu tư (cho biết mức độ thỏa mãn của chủ đầu tư về chất lượng tư vấn DAQT của TCTV) và Cơ chế phối hợp thực hiện tư vấn DAQT của tổ chức tư vấn (phản ánh khả năng phối hợp làm việc của các thành viên trong quá trình thực hiện tư vấn DAQT) Các tiêu chí định tính được đánh giá theo thang đo Likert 5 cấp độ để xác định ý kiến, quan điểm của các nhóm đối tượng về nội dung đưa ra Khung lý thuyết ở chương 1 là cơ
sở lý luận để phân tích thực trạng năng lực tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS giai đoạn 2013 – 2017 Trong chương này, tác giả cũng giới thiệu khái quát về kinh nghiệm hoạt động và tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS, một tổ chức tư vấn công lập đã có 34 năm nghiên cứu, hoạt động trong ngành thủy sản và 12 năm tham gia
tư vấn các dự án được các chính phủ, tổ chức phi chính phủ nước ngoài đầu tư vào phát triển ngành thủy sản Việt Nam theo hướng bền vững
Chương 2 trình bày thực trạng năng lực tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS giai đoạn 2013 – 2017 Trước hết, tác giả giới thiệu tổng quan về Viện KT&QHTS bao gồm quá trình hình thành và phát triển, lĩnh vực hoạt động, cơ cấu tổ chức và
bộ máy quản lý, và giới thiệu một số dự án tư vấn quốc tế tiêu biểu của Viện giai đoạn 2013 – 2017 Viện KT&QHTS là một cơ quan trực thuộc Bộ NN&PTNT, lĩnh vực hoạt động chính là nghiên cứu cơ chế, chính sách về quy hoạch và phát triển kinh tế ngành thủy sản, trong đó tư vấn phát triển thủy sản đang là một trong những lĩnh vực được ưu tiên đẩy mạnh phát triển trong vòng 10 năm trở lại đây Giai đoạn
2013 – 2017, Viện đã tham gia thực hiện thành công khá nhiều hoạt động tư vấn cho các dự án được đầu tư bởi các chính phủ và tổ chức phi chính phủ nước ngoài nhằm mục tiêu phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam, một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn của đất nước
Trang 13Kết quả phân tích thực trạng năng lực tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS cho thấy bức tranh tổng thể về các khía cạnh của năng lực tư vấn của Viện, trong đó đội ngũ nhân sự thực hiện tư vấn DAQT của Viện tương đối tốt, số lượng cán bộ thường xuyên tham gia vào các hoạt động tư vấn DAQT là 50 trên tổng số 77 cán
bộ của Viện và tất cả đều tốt nghiệp đại học trở lên, số lượng cán bộ có bằng Tiến sĩ
và Thạc sĩ tăng qua các năm 75% cán bộ tham gia tư vấn DAQT đã có trên 5 năm kinh nghiệm làm việc trong ngành thủy sản và trên 70% số cán bộ này có trên 5 năm kinh nghiệm tham gia tư vấn các DAQT 100% các bộ có kỹ năng sử dụng máy tính cơ bản, đáp ứng tốt các yêu cầu của công việc 65% cán bộ tham gia tư vấn DAQT tự tin vào các kỹ năng mềm của bản thân như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đàm phán, kỹ năng phân tích, kỹ năng thuyết trình, Tuy nhiên, khả năng ngoại ngữ đang là vấn đề của đội ngũ cán bộ Viện Hiện chỉ có khoảng 30% cán bộ tham gia tư vấn DAQT có khả năng sử dụng thành thạo cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Đây là nhược điểm mà Viện cần phải cải thiện trong thời gian tới để hoàn thiện, nâng cao năng lực tư vấn DAQT của Viện Bên cạnh đội ngũ nhân sự tư vấn có chất lượng tương đối tốt, Viện KT&QHTS còn là đơn vị giàu kinh nghiệm Giai đoạn
2013 – 2017, Viện đã thực hiện tư vấn cho 26/38 DAQT tham gia dự thầu, trong đó
có 10 dự án do Viện chủ trì Về năng lực tổ chức thực hiện tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS, hiện nay 8 phòng ban, trung tâm chuyên môn của Viện có khả năng thực hiện hoàn chỉnh một hoạt động tư vấn liên quan đến lĩnh vực chuyên trách của từng đơn vị Về năng lực quản trị tài chính, Viện có đội ngũ kế toán chuyên trách có kinh nghiệm lâu năm đảm nhiệm việc theo dõi, quản lý tình hình thu chi cho các hoạt động tư vấn DAQT
Kết quả đánh giá năng lực tư vấn của Viện KT&QHTS theo nhóm các tiêu chí định lượng và định tính phản ánh xu hướng thay đổi về năng lực tư vấn DAQT của Viện trong giai đoạn 2013 – 2017 Cụ thể, tỷ lệ chuyên gia tham gia tư vấn DAQT của Viện trong giai đoạn 2013 – 2017 có xu hướng tăng qua các năm, đạt 77% vào năm 2017, cho thấy năng lực của đội ngũ nhân sự tham gia tư vấn DAQT ngày càng được nâng cao, có chất lượng tốt Tỷ lệ chuyên gia làm chủ nhiệm tư vấn
Trang 14DAQT của Viện cũng tăng qua các năm, đạt 27% năm 2017, cho thấy khả năng tự thực hiện các gói tư vấn DAQT của Viện ngày càng cao Tỷ lệ trúng thầu tư vấn DAQT của Viện có dao động trong giai đoạn này nhưng vẫn đạt mức khá cao (77% năm 2017) Tỷ lệ hoàn thành tư vấn DAQT đúng thời hạn và tỷ lệ DAQT giải ngân đúng thời hạn đều đạt 100% vào 3 năm đầu của giai đoạn và có sự sụt giảm vào 2 năm cuối, tuy nhiên vẫn duy trì ở mức 90% Nguyên nhân của sự sụt giảm là do số lượng dự án tăng cùng một số nguyên nhân khách quan và chủ quan trong quá trình thực hiện Về mức độ hài lòng của chủ đầu tư, 90% đại diện các nhà đầu tư hài lòng
về chất lượng thực hiện và tiến độ thực hiện tư vấn của Viện, 85% hài lòng về kinh nghiệm làm việc và trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân sự tư vấn của Viện, 75% hài lòng về kinh nghiệm hoạt động trong ngành cũng như kinh nghiệm cung cấp dịch vụ tư vấn cho các DAQT của Viện, và chỉ 70% nhà đầu tư hài lòng về khả năng ngoại ngữ của các cán bộ tư vấn của Viện Đây là vấn đề mà Viện cần cải thiện nếu muốn tham gia sâu rộng hơn vào lĩnh vực cung cấp tư vấn DAQT trong tương lai Về cơ chế phối hợp thực hiện, trên 85% cán bộ Viện đánh giá cơ chế phối hợp của Viện đạt mức linh hoạt, đáp ứng tốt các công việc đặt ra
Năng lực tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS giai đoạn 2013 – 2017 có một
số điểm mạnh như sau: Thứ nhất, đội ngũ nhân sự tham gia tư vấn DAQT ngày càng gia tăng cả về chất và lượng; Thứ hai, tỷ lệ trúng các gói thầu tư vấn cho các
DAQT có xu hướng tăng qua các năm, góp phần nâng cao hình ảnh cũng như uy tín của Viện trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ tư vấn cho các dự án nước ngoài trong
ngành thủy sản; Thứ ba, cách thức tổ chức từng phòng ban có khả năng thực hiện
độc lập một hoạt động tư vấn riêng biệt liên quan đến lĩnh vực chuyên trách của mình giúp các phòng ban chủ động trong việc triển khai các công việc cho gói tư
vấn; Thứ tư, việc quản trị tài chính được thực hiện bởi đội ngũ kế toán giỏi chuyên
môn và giàu kinh nghiệm giúp đảm bảo nguồn kinh phí được sử dụng đúng nơi đúng chỗ
Những mặt còn hạn chế trong năng lực tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS
đó là: Thứ nhất, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ không đồng đều, khả năng
Trang 15tiếng Anh còn kém và cách tiếp cận, tư duy chưa bắt kịp với sự thay đổi nhanh
chóng của thời kì hội nhập hiện nay; Thứ hai, mạng lưới khách hàng còn nhỏ hẹp, chưa tiếp cận được các khách hàng mới, tiềm năng; Thứ ba, sự phối hợp, liên kết
làm việc giữa các phòng ban còn yếu nên chưa đủ khả năng thực hiện các gói tư vấn
lớn; Thứ tư, đội ngũ kế toán chưa có các chứng chỉ tài chính – kế toán quốc tế nên
cũng gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận với các quy định chi tiêu của các tổ chức nước ngoài
Việc phân tích, đánh giá năng lực tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS trong chương 2 là cơ sở để tác giả đưa ra các giải pháp trong chương 3
Trong nội dung chương 3, tác giả trình bày về (i) xu thế hội nhập quốc tế và vai trò của tư vấn DAQT ở Việt Nam; (ii) định hướng nâng cao năng lực tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS đến năm 2025; (iii) phân tích SWOT đối với Viện KT&QHTS trong thực hiện tư vấn DAQT; và (iv) đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao năng lực tư vấn DAQT của Viện Với định hướng đẩy mạnh lĩnh vực tư vấn DAQT của Viện cả về chiều sâu lẫn chiều rộng, tác giả đã đưa ra một số giải pháp như sau: (1) tăng cường hoạt động tập huấn, đào tạo cho các cán bộ của Viện, đặc biệt là cán bộ trẻ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế cũng như khả năng ngoại ngữ để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các chủ đầu tư nước ngoài; (2) tiếp tục duy trì và phát triển quan hệ hợp tác với các khách hàng hiện tại, đồng thời tìm kiếm cơ hội để mở rộng hợp tác với các khách hàng mới, tiềm năng khác; (3) xây dựng và đẩy mạnh cơ chế phối hợp thực hiện giữa các phòng ban nhằm hướng đến thực hiện các gói tư vấn lớn, liên quan đến nhiều khía cạnh trong ngành thủy sản; (4) khuyến khích đội ngũ kế toán tham gia các khóa đào tạo nghiệp vụ và thi lấy các chứng chỉ tài chính – kế toán nước ngoài như ACCA, ACA, CPA, để dễ dàng tiếp cận và nắm rõ quy trình quản lý tài chính của các tổ chức nước ngoài
Đề tài “Nâng cao năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản” đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về DAQT, năng lực tư vấn DAQT
của TCTV, đồng thời đưa ra các tiêu chí để đánh giá năng lực tư vấn DAQT của
Trang 16TCTV Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích và đánh giá năng lực tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS giai đoạn 2013 – 2017, từ đó rút ra những điểm mạnh và điểm yếu trong năng lực tư vấn DAQT của Viện Cuối cùng, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tư vấn DAQT của Viện Tác giả tin tưởng rằng các giải pháp này sẽ góp phần giúp hoàn thiện và nâng cao năng lực của Viện trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ tư vấn cho các dự án nước ngoài trong lĩnh vực thủy sản tại Việt Nam trong tương lai
Trang 17BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TẠ VĂN LỢI
Trang 18MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, lĩnh vực hợp tác quốc tế được thúc đẩy mạnh mẽ trên toàn cầu nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của toàn nhân loại Tại Việt Nam, lĩnh vực hợp tác quốc tế cũng dành được nhiều sự quan tâm trong tất cả các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực thủy sản, một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn của đất nước Hiện nay, đã và đang có rất nhiều dự án được tài trợ bởi các chính phủ, tổ chức phi chính phủ nước ngoài hỗ trợ để phát triển ngành thủy sản Việt Nam theo hướng bền vững
Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản là một đơn vị sự nghiệp công lập thuộc
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Viện có chức năng nghiên cứu kinh tế, cơ chế, chính sách trong quy hoạch phát triển thủy sản; hợp tác quốc tế, đào tạo; điều tra cơ bản; cung cấp dịch vụ tư vấn về kinh tế và quy hoạch thuỷ sản trên phạm vi
cả nước Những năm gần đây, Viện KT&QHTS đã thực hiện nhiều đề tài, dự án quốc tế nghiên cứu về chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển bền vững ngành thuỷ sản, nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển thủy sản, các vấn đề xã hội trong nghề cá, cộng đồng nghề cá, hiệu quả kinh tế và thị trường tiêu thụ của các hoạt động và sản phẩm nuôi trồng thủy sản cũng như các dự
án quy hoạch chuyển đổi đất nông nghiệp kém hiệu quả sang phát triển thủy sản
Nhìn lại quá trình tư vấn dự án quốc tế, chúng ta có thể nhận thấy năng lực tư vấn dự án quốc tế của một số đơn vị trong nước nói chung và Viện KT&QHTS nói riêng đang gặp phải những khó khăn như: các phương pháp nghiên cứu về chính sách, chiến lược, kinh tế xã hội của nghề cá chưa được đổi mới, chưa cập nhật kịp thời các cách tiếp cận nghiên cứu mới trên thế giới, đội ngũ cán bộ làm công tác tư vấn dự án quốc tế còn yếu về chuyên môn và khả năng ngoại ngữ, kinh nghiệm công tác chưa nhiều, khả năng nắm bắt và thu hút các dự án quốc tế còn hạn chế, chủ yếu dựa vào sự giới thiệu cũng như chỉ định từ bộ, ban, ngành cấp trên Đây là một trong những thách thức lớn đối với Viện KT&QHTS trong thời gian tới để cập nhật các cách tiếp cận nghiên cứu tiên tiến về chính sách, chiến lược phát triển, về
Trang 19tổ chức không gian trong quy hoạch phát triển ngành và xây dựng đội ngũ cán bộ tư vấn dự án quốc tế giàu kinh nghiệm và giỏi chuyên môn, nghiệp vụ
Chính vì vậy việc chọn và nghiên cứu đề tài: “Nâng cao năng lực tư vấn dự
án quốc tế của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản” theo tôi là hết sức cần thiết
trong giai đoạn hiện nay, hy vọng đề tài nghiên cứu vừa có ý nghĩa lý luận, vừa mang tính thực tiễn sẽ góp phần xây dựng các giải pháp khả thi để giải quyết những vấn đề đang tồn tại nhằm nâng cao năng lực tư vấn dự án quốc tế trong thời gian tới
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến thời điểm hiện tại đã có một số công trình, luận văn, nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề nâng cao năng lực tư vấn tại các doanh nghiệp, cơ quan,
tổ chức Sau đây là một số tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu:
- Luận văn thạc sỹ “Bảo đảm thực hiện các mục tiêu dự án ODA cho phát
triển cơ sở hạ tầng nông thôn bền vững các tỉnh miền núi phía Bắc” của tác giả
Nguyễn Thị Hương Giang (2013) Luận văn xác định và đánh giá các điều kiện đảm bảo thực hiện các mục tiêu dự án ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn bền vững các tỉnh miền núi phía Bắc bao gồm nguồn nhân sự thực hiện dự án, hoạt động sắp xếp nguồn vốn, cơ chế chính sách phối hợp của các chủ thể tham gia dự án, giám sát đánh giá dự án của Ban quản lý dự án
- Luận văn thạc sỹ “Tăng cường quản trị các dự án ODA của Ban quản lý dự
án thoát nước Hà Nội” của tác giả Vũ Thị Trang (2013) Luận văn khái quát các
vấn đề lý luận về quản trị dự án ODA và tầm quan trọng của việc quản trị dự án ODA, đồng thời phân tích các yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến công tác quản trị của Ban quản lý dự án, đánh giá thực trạng quản trị dự án ODA của Ban quản lý dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn 2006-2011
Hai luận văn này có điểm chung là nghiên cứu các vấn đề liên quan đối với
dự án ODA xét trên góc độ của nhà quản lý dự án
Ngoài hai luận văn nêu trên, tác giả cũng tham khảo luận văn thạc sỹ “Nâng
cao năng lực tư vấn quản lý dự án xây dựng của Công ty tư vấn công nghệ, thiết bị
và kiểm định xây dựng” của tác giả Nguyễn Xuân Bắc (2007) Luận văn này đã xác
Trang 20định các yếu tố cấu thành năng lực tư vấn quản lý dự án xây dựng, tác động của chúng đến chất lượng hoạt động tư vấn quản lý dự án xây dựng của Công ty tư vấn công nghệ, thiết bị và kiểm định xây dựng Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung vào năng lực tư vấn quản lý dự án trong lĩnh vực xây dựng
Qua nghiên cứu, tham khảo các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, tác giả nhận thấy hiện nay chưa có nghiên cứu nào về vấn đề “nâng cao năng lực tư vấn
dự án quốc tế” xét trên góc độ tổ chức tư vấn (đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn) Do
đó, đề tài luận văn “Nâng cao năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản” không trùng lặp với các công trình đã công bố
3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát hóa cơ sở lý luận về năng lực tư vấn dự án quốc tế
Đánh giá thực trạng năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện KT&QHTS
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện KT&QHTS
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện KT&QHTS
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Phạm vi về không gian
Luận văn tập trung điều tra, nghiên cứu năng lực tư vấn của Viện KT&QHTS cho các dự án trong lĩnh vực thủy sản được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam dưới sự tài trợ của các chính phủ và tổ chức phi chính phủ nước ngoài nhằm mục tiêu phát triển ngành thủy
4.2.2 Phạm vi về thời gian
Trang 21sản Việt Nam bền vững
Luận văn thực hiện đánh giá thực trạng năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện KT&QHTS trong 5 năm (2013- 2017) và kiến nghị đến năm 2025
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với định tính để đánh giá năng lực tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS
5.2 Phương pháp thu thập thông tin và xử lý số liệu
5.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn để thu thập và nghiên cứu các thông tin thứ cấp từ các nguồn sẵn có, từ đó rút ra những đánh giá ban đầu về năng lực tư vấn dự án quốc tế tại đơn vị nghiên cứu Các thông tin thứ cấp được lấy
từ hai nguồn:
- Thông tin bên trong tổ chức: là các thông tin sẵn có tại đơn vị như báo cáo tổng kết kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác qua các năm, hồ sơ năng lực tư vấn dự án của đơn vị, các tài liệu liên quan đến công tác tư vấn dự án quốc tế
- Thông tin bên ngoài tổ chức: là các thông tin được công bố tại các nguồn khác nhau bên ngoài đơn vị như sách, báo, các nghiên cứu, ấn phẩm, trang web có liên quan đến đề tài
Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Thông tin sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra bằng bảng hỏi và thông qua quan sát trực tiếp
o Thu thập thông tin bằng bảng hỏi
Để phục vụ việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng năng lực tư vấn DAQT của Viện KT&QHTS, tác giả đã thực hiện điều tra khảo sát 02 nhóm đối tượng với số phiếu và nội dung cụ thể như sau:
Nhóm 1: 40 cán bộ thuộc 6 phòng chuyên môn và 2 trung tâm của Viện
Trang 22KT&QHTS tại Hà Nội đã được mời tham gia trả lời phiếu khảo sát Đây là đội ngũ cán bộ thường xuyên tham gia vào các hoạt động tư vấn DAQT của Viện Các cán bộ được yêu cầu trả lời các câu hỏi liên quan đến năng lực của bản thân bao gồm trình độ chuyên môn/học vấn, kinh nghiệm làm việc trong ngành thủy sản, kinh nghiệm tư vấn DAQT, khả năng ngoại ngữ và kỹ năng mềm Các cán bộ cũng được đề nghị đưa ra quan điểm của bản thân về cơ chế phối hợp thực hiện tư vấn DAQT của Viện giai đoạn 2013 – 2017 Ngoài
ra, họ cũng đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tư vấn DAQT của Viện Số phiếu thu về là 40/40
Nhóm 2: 20 phiếu khảo sát đã được gửi cho 20 cán bộ thuộc 5 tổ chức bao gồm Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), Cơ quan Phát triển Hoa Kỳ (USAID), OXFAM, Trung tâm nghề cá thế giới – WorldFish và Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) Đây là những tổ chức có quan hệ hợp tác với Viện KT&QHTS trên 7 năm và có ít nhất 2 lần
sử dụng dịch vụ tư vấn của Viện KT&QHTS trong vòng 5 năm từ 2013 đến
2017 Mỗi tổ chức khảo sát 4 cán bộ đã từng làm việc trực tiếp với Viện KT&QHTS Phiếu khảo sát tập trung tìm hiểu mức độ hài lòng của các tổ chức này về dịch vụ tư vấn của Viện KT&QHTS, đồng thời tìm hiểu khả năng hợp tác trong tương lai giữa hai bên Các đại diện của các chủ đầu tư này cũng được đề nghị đưa ý kiến về điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động
tư vấn của Viện và đề xuất để giúp nâng cao năng lực tư vấn của Viện trong tương lai Số phiếu thu về là 20/20
o Thu thập thông tin bằng quan sát
Tác giả thu thập thêm thông tin thông qua quan sát trực tiếp hoạt động tư vấn
dự án quốc tế tại đơn vị, từ đó đưa ra những đánh giá chính xác hơn về năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện KT&QHTS
5.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Trang 23Sau khi thu thập số liệu từ bảng hỏi, tác giả sử dụng phần mềm Excel để phục vụ việc xử lý và phân tích số liệu Các phương pháp phân tích được sử dụng bao gồm:
Phân tích thống kê mô tả
Sử dụng các chỉ số tỷ lệ (%) để tính toán, mô tả và so sánh các thông tin chung về năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện KT&QHTS
Đồ thị hóa
Các số liệu thu thập được sẽ được đồ thị hóa trên các hình, bảng biểu để thể hiện diễn biến, xu thế thay đổi về năng lực tư vấn dự án quốc tế qua các năm của Viện KT&QHTS
Tư duy logic
Phương pháp này được sử dụng để đánh giá, phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện KT&QHTS, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp giúp nâng cao năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực tư vấn dự án quốc tế
Chương 2: Thực trạng năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực tư vấn dự án quốc tế của Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản
Trang 24CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TƯ VẤN DỰ
ÁN QUỐC TẾ
1.1 Những vấn đề lý luận về dự án quốc tế
1.1.1 Khái niệm dự án quốc tế
Dự án là “một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo
ra một thực thể mới” (Từ Quang Phương, 2014) Hiểu một cách đơn giản, dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau được thực hiện trong một khoảng thời gian có hạn với những nguồn lực đã được giới hạn, đặc biệt là nguồn tài chính
để đạt được những mục tiêu cụ thể, rõ ràng, làm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng mà
dự án hướng đến
Theo đó, dự án quốc tế là dự án được thực hiện trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia với sự tham gia của các chủ thể nước ngoài nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra của dự án Thông thường, các DAQT thường nhận được 100% hỗ trợ (dưới hình thức tài chính hoặc phi tài chính) từ các chính phủ, tổ chức chính phủ và phi chính phủ của nước ngoài nhằm mục đích hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội của nước tiếp nhận theo hướng bền vững
1.1.2 Đặc điểm của dự án quốc tế
- Tính mục tiêu: Mỗi dự án khi được thiết kế đều có mục tiêu tổng quát và
mục tiêu cụ thể riêng biệt, phù hợp với điều kiện của nơi dự án được triển khai thực hiện Sản phẩm cuối cùng sẽ được xem xét, đánh giá xem có phù hợp, có đạt được các mục tiêu đã đặt ra hay không
- Có các hạn định rõ ràng: Mỗi dự án khi được thiết kế đều được xác định
thời gian bắt đầu triển khai và thời gian kết thúc cụ thể Ngoài ra, các mốc thời gian khác bao gồm theo dõi, đánh giá tiến độ thực hiện dự án, nộp báo cáo cũng được xác định trước nhằm đảm bảo dự án được thực hiện trong khoảng thời gian đã đặt
ra
- Tính khác biệt: Các dự án đều được thiết kế khác nhau nhằm đảm bảo
Trang 25không có sự trùng lặp gây lãng phí không cần thiết Mỗi dự án khác nhau có mục tiêu khác nhau Theo đó, cách thức tổ chức thực hiện cũng khác nhau Các hoạt động đều đảm bảo được thiết kế phù hợp với từng dự án cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra
- Tính giới hạn: Mỗi dự án đều được giới hạn thực hiện trong phạm vi thời
gian đã đặt ra với các nguồn lực và phạm vi kinh phí nhất định đã được duyệt bởi nhà đầu tư
- Có yếu tố nước ngoài: Một dự án được gọi là DAQT khi nó có sự tham gia
của các chủ thể nước ngoài, trong đó các chủ thể nước ngoài thường đóng vai trò là nhà tài trợ hoặc chủ đầu tư cung cấp vốn cho việc thực hiện dự án
- Hình thức đầu tư đa dạng: Đối với các DAQT được nghiên cứu trong luận
văn này là các dự án được thực hiện không phải với mục đích đầu tư sinh lời mà là các dự án hỗ trợ, giúp đỡ nhằm mục tiêu phát triển bền vững thì hình thức đầu tư cũng đa dạng hơn Ngoài hình thức đầu tư tài chính truyền thống là cung cấp một khoản vốn nhất định cho BQLDA thực hiện dự án, thì còn có các hình thức đầu tư phi tài chính khác bao gồm hỗ trợ về mặt công nghệ, kỹ thuật; tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao năng lực, kiến thức, kỹ năng cho cán bộ, người dân
- Tính quốc tế: Sản phẩm của các DAQT sẽ được làm tài liệu tham khảo rộng
rãi không chỉ giới hạn trong phạm vi của nước tiếp nhận mà còn được sử dụng bởi các chính phủ, tổ chức nước ngoài để phục vụ công tác nghiên cứu, tìm hiểu thông tin về nước đó khi được chủ đầu tư cho phép sử dụng
1.1.3 Chủ thể tham gia dự án quốc tế
Giống như dự án, DAQT được thực hiện với sự tham gia, quản lý của nhiều chủ thể khác nhau bao gồm cả chủ thể ở cấp vĩ mô và vi mô như sau:
- Nhà tài trợ: là tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài cung cấp một phần
hoặc toàn bộ kinh phí, vốn cho dự án và giải ngân theo kế hoạch giải ngân trong văn kiện dự án với sự phối hợp thực hiện của đơn vị quản lý dự án
- Chủ đầu tư: là tổ chức hoặc cá nhân sở hữu vốn hoặc được giao quyền quản
lý và sử dụng vốn Đối với các DAQT nhằm mục đích hỗ trợ, giúp đỡ phát triển
Trang 26kinh tế-xã hội bền vững, chủ đầu tư là không phải là người trực tiếp bỏ vốn đầu tư
mà là đại diện hợp pháp của nhà tài trợ tại nước tiếp nhận, có vai trò quản lý nguồn vốn do nhà tài trợ cung cấp để thực hiện dự án theo đúng chương trình, kế hoạch đã đặt ra
- Ban quản lý dự án: là những người được chủ đầu tư lựa chọn để thực hiện
quản lý dự án của mình Tùy theo quy mô và tính chất của dự án, BQLDA được chủ đầu tư giao một số chức năng, nhiệm vụ nhất định để quản lý, thực hiện dự án
- Tổ chức tư vấn: là tổ chức nghề nghiệp có tư cách pháp nhân, có đủ tiêu
chuẩn theo pháp luật để thực hiện việc cung cấp dịch vụ tư vấn và được BQLDA lựa chọn thực hiện các hạng mục công việc của dự án phù hợp với năng lực của tổ chức tư vấn TCTV chịu sự kiểm tra thường xuyên của BQLDA và chủ đầu tư trong quá trình thực hiện các hạng mục công việc của dự án Mối quan hệ giữa tổ chức tư vấn với ban quản lý dự án và chủ đầu tư là quan hệ hợp đồng
1.2 Những vấn đề lý luận về năng lực tư vấn dự án quốc tế của tổ chức
tư vấn
1.2.1 Một số khái niệm
Khái niệm năng lực
Năng lực là một thuật ngữ trìu tượng, khó định nghĩa được chính xác Theo cách hiểu thông thường, năng lực là “sự kết hợp của tư duy, kỹ năng và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng có thể học hỏi được của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện thành công nhiệm vụ” (DeseCo, 2002) Mức độ và chất lượng hoàn thành công việc sẽ phản ứng mức độ năng lực của cá nhân, tổ chức đó Năng lực không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn là được hình thành qua quá trình học hỏi, luyện tập và làm việc
Khái niệm tư vấn
Tư vấn là một ngành dịch vụ trìu tượng và có thể định nghĩa là một tiến trình tương tác giữa nhân viên tư vấn và khách hàng nhằm giúp đỡ, cung cấp thông tin để khách hàng có thể phát triển tiềm năng của bản thân và tìm ra giải pháp của vấn đề
Tư vấn là giảng giải và đưa ra một lời khuyên về nghiệp vụ, hoặc góp ý về một vấn
Trang 27đề cụ thể nhưng không có quyền quyết định
Khái niệm tư vấn dự án quốc tế
Tư vấn dự án quốc tế là việc thu thập và xử lý thông tin, vận dụng kiến thức,
kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ để đưa ra những lời khuyên cũng như đề xuất các giải pháp, phương án để thực hiện, giám sát, đánh giá dự án quốc tế
Khái niệm năng lực tư vấn dự án quốc tế
Từ các khái niệm trên có thể định nghĩa năng lực tư vấn dự án quốc tế là khả năng vận dụng các kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và kinh nghiệm thực tế của cá nhân, tổ chức vào việc thực hiện, triển khai, giám sát và đánh giá các DAQT được tài trợ bởi các cá nhân, tổ chức nước ngoài nhằm mục đích hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội bền vững Năng lực tư vấn DAQT của một cá nhân, tổ chức được đánh giá dựa trên kinh nghiệm tham gia tư vấn các DAQT, mức độ và chất lượng hoàn thành nhiệm vụ tư vấn cho các DAQT của cá nhân, tổ chức đó
1.2.2 Nội dung năng lực tư vấn dự án quốc tế của tổ chức tư vấn
Năng lực tư vấn DAQT của TCTV được hình thành tư nhiều yếu tố, tuy nhiên các yếu tố chính bao gồm:
Năng lực nhân sự tư vấn dự án quốc tế của tổ chức tư vấn
Nhân sự luôn đóng vai trò quan trọng trong tất cả các công việc Nhân sự là yếu tố tiên quyết quyết định sự thành công hay thất bại của tất cả các doanh nghiệp,
tổ chức Doanh nghiệp, tổ chức nào có đội ngũ nhân sự chất lượng cao thì sẽ đạt được hiệu quả công việc cao, nhờ đó ngày càng phát triển và có chỗ đứng vững vàng trên thị trường
Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ tư vấn cho các DAQT, năng lực nhân sự tham gia tư vấn của TCTV cũng là yếu tố quan trọng hàng đầu Theo thang điểm đánh giá hồ sơ dự thầu cho hoạt động nghiên cứu sinh kế thuộc dự án “Nâng cao khả năng chống chịu của các cộng đồng ven biển trước những tác động của biến đổi khí hậu tại Việt Nam” của UNDP (2017), đội ngũ nhân sự đề xuất tham gia thực hiện tư vấn chiếm trọng số điểm cao nhất, 50% tổng số điểm đánh giá đề xuất kỹ thuật của hồ sơ dự thầu Điều này chứng tỏ, năng lực nhân sự có vai trò cốt lõi trong
Trang 28việc hình thành năng lực tư vấn DAQT của TCTV
Năng lực nhân sự tư vấn DAQT của TCTV được thể hiện qua rất nhiều khía cạnh bao gồm:
- Trình độ học vấn trong ngành nghề/ lĩnh vực tư vấn yêu cầu
Trình độ học vấn được hiểu là bằng cấp cao nhất mà một người đạt được Đội ngũ nhân sự tư vấn DAQT của TCTV có trình độ học vấn trong ngành nghề/lĩnh vực tư vấn yêu cầu càng cao chứng tỏ họ có kiến thức chuyên môn sâu rộng Điều này góp phần lớn vào thành công của TCTV khi cung cấp dịch vụ tư vấn cho các DAQT Thông thường, theo điều khoản tham chiếu của các tổ chức nước ngoài như UNDP (2017), OXFAM (2017), EU-MUTRAP (2016), đội ngũ nhân sự tham gia vào hoạt động tư vấn DAQT tại các TCTV được yêu cầu có bằng tốt nghiệp đại học trở lên
- Kinh nghiệm làm việc
Bên cạnh trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc của đội ngũ nhân sự tư vấn DAQT cũng rất quan trọng, góp phần khẳng định năng lực tư vấn DAQT của tổ chức tư vấn Trong Điều khoản tham chiếu của các tổ chức nước ngoài khi mời thầu như UNDP (2017); OXFAM (2017), EU-MUTRAP (2016) cũng quy định rõ yêu cầu về kinh nghiệm của trưởng nhóm cũng như các thành viên tham gia tư vấn Kinh nghiệm của đội ngũ nhân sự bao gồm kinh nghiệm làm việc và kinh nghiệm thực hiện các hoạt động tư vấn DAQT trong ngành nghề/lĩnh vực tư vấn yêu cầu Một người có nhiều năm làm việc trong nghề đồng thời cũng có nhiều năm tham gia
tư vấn DAQT thì người đó có rất nhiều kinh nghiệm trong việc thực hiện cũng như ứng phó kịp thời với các trường hợp bất ngờ xảy ra trong quá trình thực hiện tư vấn DAQT, góp phần vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ tư vấn đó Một TCTV có đội ngũ nhân sự với nhiều cá nhân giàu kinh nghiệm như vậy thì càng cho thấy kinh nghiệm tư vấn DAQT của tổ chức tư vấn đó rất tốt, xây dựng được sự tin tưởng vững chắc cho các khách hàng hiện tại, đồng thời tạo dựng được hình ảnh tốt đẹp đối với các khách hàng tiềm năng – đối tượng mà TCTV đang hướng tới
- Khả năng ngoại ngữ
Trang 29Một trong những yếu tố cần có của đội ngũ nhân sự để có thể tham gia tư vấn DAQT đó là khả năng sử dụng thành thạo tiếng Anh (OFXAM, 2017 và EU-MUTRAP, 2016) Các TCTV thực hiện các DAQT hiện nay đều được yêu cầu nộp báo cáo bằng 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và tiếng Anh Chính vì vậy, nếu đội ngũ nhân
sự của TCTV có khả năng tiếng Anh tốt thì đó sẽ góp phần khẳng định năng lực của TCTV, tạo dựng lợi thế cho tổ chức tư vấn khi tham gia đấu thầu các DAQT
- Kỹ năng sử dụng máy tính
Kỹ năng sử dụng máy tính cũng rất quan trọng trong quá trình thực hiện tư vấn các DAQT, đặc biệt là các kỹ năng cơ bản về sử dụng các ứng dụng của Microsoft Office để phục vụ quá trình viết báo cáo (EU-MUTRAP, 2016) và làm bài trình bày (UNDP, 2017) Đội ngũ nhân sự thực hiện tư vấn có kỹ năng sử dụng máy tính tốt sẽ đảm bảo thực hiện tốt các công việc trong quá trình tư vấn như lập
kế hoạch, xây dựng bộ công cụ, phân tích và xử lý số liệu, quản lý tài chính và viết báo cáo Chính vì vậy, hầu hết các TCTV hiện nay khi tuyển dụng đều yêu cầu các ứng viên ít nhất phải có chứng chỉ tin học cơ bản theo quy định của pháp luật
- Kỹ năng mềm
Bên cạnh các yếu tố trên, kỹ năng mềm của đội ngũ nhân lực thực hiện tư vấn DAQT cũng là yếu tố cần thiết, tạo lợi thế cho tổ chức tư vấn Đây cũng là một trong những tiêu chí cho điểm để đánh giá chất lượng của đội ngũ nhân sự tư vấn của UNDP (2017) Các kỹ năng mềm gồm có kỹ năng đàm phán, phân tích, giao tiếp, trình bày báo cáo Nếu đội ngũ nhân viên của TCTV có được một số kỹ năng mềm này thì sẽ giúp ích rất nhiều cho TCTV trong tất cả các hoạt động bao gồm cả
tư vấn DAQT
Kinh nghiệm của tổ chức tư vấn
Kinh nghiệm của TCTV là yếu tố quan trọng thứ hai cho thấy năng lực của TCTV Kinh nghiệm của TCTV chiếm 20% tổng số điểm đánh giá đề xuất kỹ thuật của hồ sơ dự thầu (UNDP, 2017) Kinh nghiệm của TCTV được đánh giá dựa trên
số năm TCTV hoạt động trong ngành và số năm tham gia thực hiện tư vấn các DAQT cho ngành nghề, lĩnh vực được yêu cầu TCTV càng có nhiều năm hoạt
Trang 30động và tư vấn DAQT trong ngành nghề, lĩnh vực yêu cầu thì càng chứng tỏ TCTV
đó có nhiều kinh nghiệm Điều này giúp TCTV ghi điểm trong mắt chủ đầu tư và ban quản lý dự án, nhờ đó TCTV có khả năng trúng thầu cao hơn
Năng lực tổ chức thực hiện tư vấn DAQT
Trong quá trình thực hiện tư vấn DAQT, công tác tổ chức thực hiện rất quan trọng, giúp thực hiện các phương pháp được đề xuất để hoàn thành nhiệm vụ tư vấn Đây cũng là phần chiếm 30% trọng số điểm đánh giá đề xuất kỹ thuật của hồ sơ dự thầu (UNDP, 2017) TCTV có năng lực tổ chức thực hiện tốt thì sẽ đảm bảo hoàn thành thành công hoạt động tư vấn được giao Năng lực tổ chức thực hiện chủ yếu được thể hiện qua việc phân công công việc cho các thành viên thực hiện tư vấn DAQT của các nhóm trưởng, khả năng và thời gian ứng phó với những tình huống bất ngờ xảy ra của các thành viên trong quá trình triển khai thực hiện Công việc được giao đúng người đúng chuyên môn, các thành viên có khả năng ứng phó với những tình huống bất ngờ nhanh và trong thời gian ngắn giúp TCTV vừa đảm bảo được chất lượng công việc vừa đảm bảo hoàn thành công việc đúng thời hạn yêu cầu Điều này cũng góp phần chứng tỏ TCTV có năng lực tốt trong việc thực hiện
tư vấn DAQT
Năng lực quản trị tài chính
Một yếu tố quan trọng khác thể hiện năng lực của TCTV là năng lực quản trị tài chính Mỗi một dự án nói chung và dự án quốc tế nói riêng đều được bố trí một khoản kinh phí nhất định để thực hiện Các TCTV sau khi trúng thầu sẽ được giao một khoản kinh phí để thực hiện các phần công việc được nêu trong gói thầu Khi
đó, TCTV cần phải có năng lực quản trị tài chính tốt nhằm đảm bảo các khoản kinh phí được chi đúng mục đích, đúng thời hạn để các công việc được diễn ra thuận lợi
và đạt được kết quả tốt Do đó, đề xuất tài chính thường chiếm 30% tổng số điểm đánh giá hồ sơ dự thầu (UNDP, 2017) Mặt khác, chủ đầu tư và BQLDA cũng rất quan tâm xem xét, đánh giá năng lực quản trị tài chính của TCTV qua các dự án được TCTV thực hiện trước đó để đưa ra các nhận xét trước khi lựa chọn TCTV trúng tuyển
Trang 311.3 Tiêu chí đánh giá năng lực tư vấn DAQT của tổ chức tư vấn
Năng lực tư vấn DAQT của TCTV là vô hình, khó có thể tính toán một cách chính xác Do đó, tác giả sử dụng một số tiêu chí định lượng và định tính sau để đánh giá được năng lực tư vấn DAQT của TCTV:
1.3.1 Tiêu chí định lượng
Tiêu chí định lượng là tiêu chí được lượng hóa, được thể hiện dưới dạng con
số, có thể dễ dàng đánh giá, phân tích
Tỷ lệ chuyên gia thực hiện tư vấn DAQT của tổ chức tư vấn
Tiêu chí này được sử dụng để phản ánh và đánh giá chất lượng của đội ngũ nhân sự tham gia tư vấn DAQT của TCTV Mỗi ngành nghề, lĩnh vực khác nhau có quy định khác nhau về việc đánh giá một người là chuyên gia trong ngành nghề, lĩnh vực đó Thông thường, chuyên gia là những người có trình độ chuyên môn cao (có bằng đại học trở lên trong ngành nghề, lĩnh vực yêu cầu), có kinh nghiệm làm việc lâu năm trong ngành và đã tham gia tư vấn một số DAQT nhất định trong ngành nghề, lĩnh vực yêu cầu Tỷ lệ chuyên gia thực hiện tư vấn DAQT của TCTV càng cao chứng tỏ năng lực (chất lượng) nhân sự của TCTV đó càng tốt Ngược lại,
tỷ lệ chuyên gia càng thấp chứng tỏ đội ngũ nhân sự của TCTV còn yếu kém, cần được nâng cao để có thể mang lại ấn tượng tốt cho chủ đầu tư Theo điều khoản tham chiếu của UNDP (2017), số điểm đánh giá cho đội ngũ chuyên gia tham gia thực hiện gói tư vấn chiếm 50% tổng số điểm đánh giá đề xuất kỹ thuật của hồ sơ
Trong đó:
𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑐ℎ𝑢𝑦ê𝑛 𝑔𝑖𝑎 𝑡ư 𝑣ấ𝑛 𝐷𝐴𝑄𝑇𝑖: là tỷ lệ chuyên gia tham gia tư vấn DAQT
của TCTV trong năm i;
Trang 32𝑆ố 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑐ℎ𝑢𝑦ê𝑛 𝑔𝑖𝑎𝑖: là số người được đánh giá, công nhận là chuyên gia
trong ngành nghề, lĩnh vực yêu cầu của TCTV trong năm i;
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝑛𝑔ườ𝑖 𝑡ℎ𝑎𝑚 𝑔𝑖𝑎 𝑡ư 𝑣ấ𝑛 𝐷𝐴𝑄𝑇𝑖: là tất cả các thành viên thường
xuyên tham gia thực hiện tư vấn DAQT của TCTV trong năm i
Tỷ lệ chuyên gia làm chủ nhiệm tư vấn DAQT của tổ chức tư vấn Tiêu chí này là tiêu chí rất quan trọng để phản ánh khả năng chủ trì thực hiện các gói tư vấn cho các DAQT cũng như kinh nghiệm tư vấn DAQT của TCTV Tỷ
lệ này càng cao thì chứng tỏ chất lượng nhân sự và kinh nghiệm tư vấn DAQT của
tổ chức đó càng tốt Ngược lại, tỷ lệ này càng thấp thì chứng tỏ khả năng chủ trì thực hiện các gói tư vấn cho các DAQT của tổ chức đó còn yếu kém Theo điều khoản tham chiếu của UNDP (2017), số điểm đánh giá cho chuyên gia giữ vai trò là chủ nhiệm tư vấn chiếm 60% tổng số điểm đánh giá đội ngũ chuyên gia tham gia thực hiện gói tư vấn
Tỷ lệ chuyên gia làm chủ nhiệm tư vấn DAQT của TCTV trong một năm được tính bằng công thức sau:
𝐓ỷ 𝐥ệ 𝐜𝐡𝐮𝐲ê𝐧 𝐠𝐢𝐚 𝐥à𝐦 𝐜𝐡ủ 𝐧𝐡𝐢ệ𝐦 𝐭ư 𝐯ấ𝐧 𝐃𝐀𝐐𝐓𝒊 =
𝐒ố 𝐥ượ𝐧𝐠 𝐜𝐡𝐮𝐲ê𝐧 𝐠𝐢𝐚 đủ đ𝐢ề𝐮 𝐤𝐢ệ𝐧 𝐥à𝐦 𝐜𝐡ủ 𝐧𝐡𝐢ệ𝐦 𝐭ư 𝐯ấ𝐧 𝐃𝐀𝐐𝐓 𝒊
Trong đó:
𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑐ℎ𝑢𝑦ê𝑛 𝑔𝑖𝑎 𝑙à𝑚 𝑐ℎủ 𝑛ℎ𝑖ệ𝑚 𝑡ư 𝑣ấ𝑛 𝐷𝐴𝑄𝑇𝑖: là tỷ lệ chuyên gia đủ
điều kiện làm chủ nhiệm tư vấn DAQT của TCTV trong năm i;
𝑆ố 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑐ℎ𝑢𝑦ê𝑛 𝑔𝑖𝑎 đủ đ𝑖ề𝑢 𝑘𝑖ệ𝑛 𝑙à𝑚 𝑐ℎủ 𝑛ℎ𝑖ệ𝑚 𝑡ư 𝑣ấ𝑛 𝐷𝐴𝑄𝑇𝑖: là số
chuyên gia được đánh giá, công nhận là đủ điều kiện làm chủ nhiệm tư vấn DAQT của TCTV trong năm i;
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝑐ℎ𝑢𝑦ê𝑛 𝑔𝑖𝑎 𝑡ư 𝑣ấ𝑛 𝐷𝐴𝑄𝑇𝑖: là tất cả các chuyên gia thường xuyên
tham gia thực hiện tư vấn DAQT của TCTV trong năm i
Tỷ lệ trúng thầu của tổ chức tư vấn
Trang 33Tiêu chí này phản ánh kinh nghiệm của TCTV Tất cả các TCTV đều phải tham gia dự thầu TCTV dành được điểm số cao nhất sẽ ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn đã được nêu trong gói thầu TCTV có tỷ lệ trúng thầu càng cao chứng tỏ TCTV đó giàu kinh nghiệm trong việc thực hiện tư vấn các DAQT, tạo dựng sự tin tưởng cao trong lòng chủ đầu tư khi giao gói thầu cho TCTV Ngược lại, tỷ lệ trúng thầu của TCTV thấp sẽ khiến chủ đầu tư hoài nghi về khả năng thành công của gói thầu khi giao cho tổ chức đó Theo điều khoản tham chiếu của UNDP (2017), số điểm đánh giá kinh nghiệm của TCTV thông qua tỷ lệ trúng các gói thầu tương tự chiếm 75% tổng số điểm cho phần đánh giá kinh nghiệm của TCTV trong
tham gia nộp hồ sơ dự thầu trong năm i
Tỷ lệ hoàn thành tư vấn DAQT đúng thời hạn
Tiêu chí này là một trong các yếu tố chính để chủ đầu tư đánh giá, cho điểm kinh nghiệm của TCTV khi xem xét đề xuất kỹ thuật của hồ sơ dự thầu (UNDP, 2017) Việc hoàn thành công việc đúng tiến độ là yếu tố quan tâm hàng đầu của nhà tài trợ, chủ đầu tư cũng như ban quản lý dự án để đảm bảo không ảnh hưởng đến các hoạt động, công việc liên quan Việc hoàn thành công việc đúng thời hạn hay không phụ thuộc lớn vào kinh nghiệm của TCTV Kinh nghiệm thực hiện tư vấn các DAQT tương tự giúp TCTV nắm bắt tốt các yêu cầu công việc, tiến hành triển
Trang 34khai các hoạt động nhanh chóng, nhịp nhàng, góp phần hoàn thành công việc đúng thời hạn được cao TCTV có tỷ lệ hoàn thành công việc đúng thời hạn cao chứng tỏ
tổ chức tư vấn đó giàu kinh nghiệm Ngược lại, tỷ lệ hoàn thành công việc đúng thời hạn của TCTV thấp chứng tỏ tổ chức đó còn thiếu kinh nghiệm trong việc thực hiện các gói tư vấn tương tự
Tỷ lệ hoàn thành công việc đúng thời hạn của tổ chức tư vấn trong một năm được tính theo công thức sau:
tư vấn DAQT đúng thời hạn trong năm i;
𝑆ố 𝑙ượ𝑛𝑔 𝐷𝐴𝑄𝑇 ℎ𝑜à𝑛 𝑡ℎà𝑛ℎ đú𝑛𝑔 ℎạ𝑛𝑖: là số DAQT mà TCTV hoàn
thành đúng thời hạn yêu cầu trong năm i;
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝐷𝐴𝑄𝑇 𝑡ℎự𝑐 ℎ𝑖ệ𝑛𝑖: là tất cả các DAQT mà TCTV thực hiện tư vấn trong năm i
Tỷ lệ DAQT giải ngân đúng thời hạn
Tiêu chí này được sử dụng để đánh giá khả năng quản trị tài chính của TCTV
và chiếm 30% tổng điểm đánh giá hồ sơ dự thầu (UNDP, 2017) Bên cạnh việc hoàn thành công việc đúng thời hạn, việc giải ngân DAQT đúng mục đích, đúng thời hạn cũng được nhà tài trợ, chủ đầu tư và BQLDA rất quan tâm Giống như dự
án, DAQT được giải ngân đúng mục đích, đúng thời hạn chứng tỏ dự án đang được triển khai đúng tiến độ và đúng theo mục đích yêu cầu Tỷ lệ DAQT được giải ngân đúng thời hạn càng cao chứng tỏ tổ chức tư vấn có khả năng quản trị tài chính tốt, không có hiện tượng sử dụng kinh phí của dự án này cho các mục đích khác dẫn đến việc giải ngân dự án không theo tiến trình yêu cầu Ngược lại, tỷ lệ DAQT được giải ngân đúng thời hạn thấp chứng tỏ tổ chức tư vấn còn yếu kém trong việc kiểm
Trang 35soát, quản trị tài chính, khiến chủ đầu tư thiếu niềm tin để giao nhiệm vụ tư vấn cho
𝑆ố 𝑙ượ𝑛𝑔 𝐷𝐴𝑄𝑇 𝑔𝑖ả𝑖 𝑛𝑔â𝑛 đú𝑛𝑔 ℎạ𝑛𝑖: là số DAQT mà TCTV hoàn thành
giải ngân đúng thời hạn yêu cầu trong năm i;
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝐷𝐴𝑄𝑇 𝑡ℎự𝑐 ℎ𝑖ệ𝑛𝑖: là tất cả các DAQT mà TCTV thực hiện tư vấn trong năm i
1.3.2 Tiêu chí định tính
Khác với tiêu chí định lượng, tiêu chí định tính là các tiêu chí khó lượng hóa
và không thể thể hiện dưới dạng các con số Để xác định được các yếu tố định tính, người ta thường xây dựng các thang đo để có thể dễ dàng đánh giá, cho điểm các yếu tố này
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả sử dụng thang đo Likert để đánh giá các tiêu chí định tính Thang đo Likert là thang đo do nhà tâm lý học người Mỹ cùng tên phát minh Đây là thang đo được sử dụng phổ biến để xác định ý kiến hay thái độ của ai đó về một việc hay sự kiện nào đó Đây là những yếu tố khó có thể lượng hóa bằng các con số cụ thể Thang đo Likert thường có 5 cấp độ từ tệ nhất đến tốt nhất để phát hiện, xác định mức độ của ý kiến, thái độ của một cá nhân về vấn đề được hỏi
Trong luận văn này, tác giả sử dụng thang đo Likert để đánh giá 2 yếu tố khó định lượng được khi đánh giá năng lực của TCTV đó là: Mức độ hài lòng của chủ đầu tư và Cơ chế phối hợp thực hiện tư vấn DAQT của tổ chức tư vấn
Trang 36 Mức độ hài lòng của chủ đầu tư
Tiêu chí này được sử dụng để đánh giá mức độ thỏa mãn của chủ đầu tư về chất lượng tư vấn DAQT của tổ chức tư vấn Theo mô hình Servqual (Parasuraman, 1988), việc đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng (chủ đầu tư) sẽ cho biết nhận định của khách hàng đối với kết quả dịch vụ thực tế và sự kỳ vọng của khách hàng
về dịch vụ đó Từ đó, tổ chức tư vấn nhận biết được điểm mạnh và điểm yếu để có những giải pháp thỏa mãn tốt hơn các yêu cầu của khách hàng (chủ đầu tư)
Mức độ hài lòng của chủ đầu tư được đánh giá dựa trên 5 cấp độ: Rất hài lòng – Hài lòng – Trung bình – Ít hài lòng – Không hài lòng “Hài lòng” nghĩa là sự thỏa mãn, hợp ý về các kết quả nhận được do đáp ứng các yêu cầu, kỳ vọng của khách hàng
Dựa trên các cấp độ trên, tổ chức tư vấn luôn đặt cố gắng hết sức để nhận được sự “Hài lòng” hoặc “Rất hài lòng” từ phía chủ đầu tư vì đó là cơ hội để tổ chức tư vấn thể hiện năng lực với các chủ đầu tư nhằm xây dựng mối quan hệ tốt đẹp lâu dài trong tương lai Các tổ chức tư vấn rơi vào 3 cấp độ còn lại thì sẽ rất nguy hiểm vì nó ảnh hưởng tới hình ảnh, uy tín của TCTV trong mắt chủ đầu tư Nếu TCTV bị đánh giá là “Trung bình”, “Ít hài lòng” hoặc “Không hài lòng” thì sẽ khó có cơ hội tiếp tục hợp tác với chủ đầu tư đó trong tương lai, đồng thời cũng để lại hình ảnh xấu trong lòng các chủ đầu tư hiện đang hợp tác cũng như các chủ đầu
tư tiềm năng khác
Cơ chế phối hợp thực hiện tư vấn DAQT của tổ chức tư vấn
Tiêu chí này cho biết khả năng phối hợp làm việc của các thành viên trong quá trình thực hiện tư vấn DAQT Tiêu chí này giúp đánh giá năng lực tổ chức thực hiện tư vấn DAQT của TCTV để thực hiện các phương pháp đề xuất trong hồ sơ kỹ thuật, một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá và cho điểm hồ sơ dự thầu (UNDP, 2017) Tiêu chí này cũng được phân theo 5 cấp độ: Rất linh hoạt – Linh hoạt – Bình thường – Ít linh hoạt – Không linh hoạt “Linh hoạt” có nghĩa là sự ứng biến nhanh nhạy, điều chỉnh kịp thời để dễ dàng thích nghi với tình hình thực tế,
Trang 37không cứng nhắc tuân theo nguyên tắc làm ảnh hưởng xấu đến kết quả thực hiện công việc
Tổ chức tư vấn có cơ chế phối hợp thực hiện tư vấn DAQT ở mức “Rất linh hoạt” và “Linh hoạt” chứng tỏ năng lực tổ chức thực hiện tư vấn DAQT của tổ chức
tư vấn đó tốt, cần tiếp tục duy trì và phát huy TCTV chỉ đạt mức “Linh hoạt bình thường”, “Kém linh hoạt”, hay “Không linh hoạt” chứng tỏ năng lực tổ chức thực hiện còn hạn chế, thậm chí còn yếu kém Các TCTV nằm trong trường hợp đó cần phải xem xét lại cơ chế tổ chức thực hiện của mình, tìm ra điểm còn yếu kém để đưa ra phương án điều chỉnh, cải thiện nhằm nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của mình, tạo ấn tượng tốt với chủ đầu tư
1.4 Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản
Viện KT&QHTS có gần 35 năm hoạt động trong ngành thủy sản Trong hơn
30 năm hoạt động và phát triển, Viện đã thực hiện thành công nhiều đề tài, dự án về kinh tế, quy hoạch, hợp tác quốc tế, góp phần định hướng phát triển ngành thủy sản trong các giai đoạn phát triển của đất nước Viện đã có những đóng góp to lớn trong việc xây dựng một số quy hoạch trọng điểm của ngành như Quy hoạch phát triển thủy sản ba vùng kinh tế trọng điểm quốc gia; Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 Viện cũng chủ trì
và thực hiện thành công nhiều đề tài nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau trong ngành thủy sản như chính sách, kinh tế - xã hội, công nghệ và môi trường, Với kinh nghiệm hơn 30 năm hoạt động cùng với chất lượng thực hiện công việc cao, Viện KT&QHTS hiện đang được đánh giá là đơn vị nghiên cứu hàng đầu trong việc phân tích chính sách, kinh tế - xã hội trong lĩnh vực khai thác và nuôi trồng thủy sản của Việt Nam
Năm 2005, đội ngũ lãnh đạo Viện KT&QHTS nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động hợp tác quốc tế và xác định đây là một nhiệm vụ quan trọng cần được quan tâm phát triển Với mục tiêu tăng cường năng lực cho cán bộ Viện phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế, Viện xác định thực hiện đa dạng hóa các hình thức và mức độ hợp tác quốc tế Bên cạnh đó, Viện cũng đã chủ động và tích cực tham gia cung cấp
Trang 38dịch vụ tư vấn cho các DAQT Các DAQT mà Viện đã và đang tiến hành gồm các lĩnh vực: nghiên cứu về chính sách, chiến lược và quy hoạch liên quan đến phát triển thuỷ sản, nghiên cứu các vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường thuỷ sản, sử dụng tài nguyên thuỷ sản, trao đổi tài liệu khoa học, tổ chức các khoá học ngắn hạn, các hội thảo quốc tế, phối hợp triển khai các đề tài nghiên cứu chung…
Đến năm 2017, sau 12 năm tham gia tư vấn DAQT, Viện đã thực hiện tốt nhiều nhiệm vụ tư vấn cho các tổ chức quốc tế, tổ chức chính phủ và phi chính phủ như quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), tổ chức OXFAM, cơ quan phát triển Hoa Kỳ (USAID), tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), đại sứ quán Đan Mạch, tổ chức hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA),… Trong đó có nhiều hoạt động tư vấn lớn có tác động tích cực và đóng góp đáng kể vào sự phát triển của ngành cũng như nâng cao vị thế của Viện như hợp tác với UNDP về đánh giá sinh kế rừng ngập mặn tại 5 tỉnh ven biển Việt Nam, hợp tác với OXFAM trong dự án “Phát triển chuỗi giá trị tôm công bằng và bền vững tại Việt Nam”, hợp tác với Trung tâm nghề
cá thế giới (Worldfish) thực hiện dự án “Nâng cao khả năng phục hồi của cộng đồng đối với biến đổi khí hậu thông qua phát triển mô hình nuôi trồng thủy sản thông minh với biến đổi khí hậu ở khu vực ven biển Bắc Trung Bộ - Việt Nam”
Nhìn chung, Viện KT&QHTS là đơn vị vừa giàu kinh nghiệm trong ngành vừa có nhiều năm thực hiện tư vấn cho các DAQT Đây là một trong những ưu thế của Viện khi tham gia đấu thầu các gói tư vấn DAQT trong lĩnh vực thủy sản
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TƯ VẤN DỰ ÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆN KINH TẾ VÀ QUY HOẠCH THỦY SẢN
2.1 Giới thiệu chung về Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngày 07/05/1984, Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản ký quyết định chính thức tách 2
bộ phận chủ yếu là Phòng Quy hoạch dài hạn thuộc Vụ Kế hoạch và Phòng Khảo sát xây dựng quy hoạch của Vụ Nuôi trồng thuỷ sản để thành lập Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản Kể từ ngày đó, Viện KT&QHTS chính thức đi vào hoạt động với tư cách một cơ quan nghiên cứu sự nghiệp về khoa học và kinh tế, tổ chức sản xuất, quản lý kinh tế thuỷ sản và công tác quy hoạch của ngành trực thuộc Bộ Thủy sản
Sau một thời kỳ xây dựng Viện KT&QHTS đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác nghiên cứu chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển góp phần đáng kể vào sự phát triển chung của ngành thuỷ sản Việt Nam Ngày 16/8/2007, Bộ Thuỷ sản chính thức sáp nhập vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Từ đây, Viện KT&QHTS trở thành một đơn vị trực thuộc Bộ NN&PTNT Đây được ghi nhận là một điểm nhấn để Viện cố gắng hơn trong công tác nghiên cứu
Ngày 25/01/2010 Tổng cục Thủy sản được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trực thuộc Bộ NN&PTNT và Viện KT&QHTS theo phân cấp trực thuộc Tổng cục Thủy sản Trong giai đoạn này, Viện được giao thực hiện thành công nhiều dự án, đề án quy hoạch, chiến lược cấp quốc gia góp phần vào định hướng chung cho cả nước, cho ngành điển hình như: “Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2020 - định hướng đến năm 2030”; “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030” và Đề án “Tái cơ cấu ngành thủy sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”
Ngày 19/6/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ NN&PTNT, qua đó Viện KT&QHTS
Trang 40quay trở lại là đơn vị trực thuộc Bộ NN&PTNT từ thời điểm đó đến nay Ngày 12/9/2014, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đã ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện KT&QHTS
Trong gần 35 năm hoạt động, Viện KT&QHTS đã đạt được một số thành tựu nổi bật sau:
- Huân chương lao động hạng III
- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ
- Bằng khen của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT trong nhiều năm
- Danh hiệu tập thể Lao động xuất sắc trong nhiều năm
Là một cơ quan nghiên cứu, Viện KT&QHTS được giao thực hiện một số hoạt động nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực thủy sản bao gồm: phân tích cơ chế, chính sách phát triển và quy hoạch ngành thủy sản; nghiên cứu, đánh giá và phân tích các yếu tố về văn hóa, kinh tế, xã hội, môi trường và biến đổi khí hậu tác động đến sự phát triển của ngành thủy sản; xây dựng các quy hoạch về phát triển thủy sản bao gồm quy hoạch phát triển ngành hàng và các sản phẩm thủy sản; quy hoạch khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản; thực hiện các hoạt động tư vấn cho các dự án trong nước và quốc tế nhằm phát triển ngành thủy sản Việt Nam theo hướng bền vững
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý
Ban lãnh đạo Viện KT&QHTS gồm có 01 Viện trưởng và 02 Phó Viện trưởng và đều do Bộ trưởng Bộ NN&PTNT bổ nhiệm, miễn nhiệm theo quy định Ngoài ra, Viện KT&QHTS có 8 phòng chức năng và 3 đơn vị trực thuộc