Việc ổn định tỷ giá giữa đồng nhân dân tệ với các đồng tiền chủ chốt khác đã giúp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc, đồng thời cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất của hàng loạ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Thúy Hằng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn đến Ban giám hiệu, quý thầy cô Trường
Đại học Kinh tế Quốc dân, Viện đào tạo sau đại học, Viện Thương mại và
Kinh tế quốc tế, quý thầy cô trực tiếp giảng dạy lớp Kinh tế quốc tế K23 đã
nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kinh nghiệm và trợ giúp cho tác giả trong suốt
thời gian theo học tại Trường Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn và kính
trọng đến PGS.TS Nguyễn Như Bình đã rất tâm huyết ủng hộ, động viên,
khuyến khích và chỉ dẫn tận tình cho tác giả thực hiện và hoàn thành luận văn
cao học này
Luận văn này chắc chắn không thể tránh được những khiếm khuyết, rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của Qúy thầy cô và các bạn
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Thúy Hằng
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: VAI TRÒ CỦA TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ NHÂN DÂN TỆ TỚI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 5
1.1 Tỷ giá hối đoái và ảnh hưởng của tỷ giá tới hoạt động ngoại thương 5 1.1.1 Tỷ giá và vai trò của tỷ giá đối với hoạt động ngoại thương 5
1.1.2 Các kênh tác động của tỷ giá đối với hoạt động ngoại thương 6
1.2 Chính sách tỷ giá của Trung Quốc và quá trình điều hành tỷ giá đồng nhân dân tệ 10
1.2.1 Vai trò của Nhân dân tệ trong thanh toán quốc tế 10
1.2.2 Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc 12
1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc điều chỉnh tỷ giá 22
1.3 Tác động của điều chỉnh tỷ giá của Trung Quốc 29
1.3.1 Tác động của điều chỉnh tỷ giá của Trung Quốc tới hoạt động xuất nhập khẩu Trung Quốc 31
1.3.2 Tác động của điều chỉnh tỷ giá của Trung Quốc đến quan hệ thương mại một số nước và khu vực 35
1.3.3 Ảnh hưởng của điều chỉnh tỷ giá của Trung Quốc đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc 42
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ CỦA NHÂN DÂN TỆ ĐẾN TRAO ĐỔI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 46
2.1 Thực trạng trao đổi hàng hóa Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn 2005-2016 46
2.1.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn 2005-2016 46
2.1.2 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc 47
2.1.3 Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc 49
Trang 42.1.4 Cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc 51
2.2 Tác động của điều chỉnh tỷ giá Nhân dân tệ đến trao đổi thương mại Việt Nam – Trung Quốc 55
2.2.1 Tác động của điều chỉnh tỷ giá Nhân dân tệ đến xuất nhập khẩu Việt Nam 55
2.2.2 Tác động của điều chỉnh tỷ giá Nhân dân tệ đến đến cán cân thương mại Việt Nam – Trung Quốc 59
2.3 Vấn đề đặt ra đối với thương mại Việt Nam với Trung Quốc khi đồng nhân dân tệ giảm giá……… 62
2.3.1 Nạn buôn lậu và gian lận thương mại………63
2.3.2 Tình trạng phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc………64
2.3.3 Giảm sức cạnh hàng Việt Nam trên thị trường Trung Quốc…… 65
CHƯƠNG 3: DỰ BÁO XU HƯỚNG ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ NHÂN DÂN TỆ VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ NHÂN DÂN TỆ ĐẾN TRAO ĐỔI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 66
3.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến điều chỉnh tỷ giá của Trung Quốc trong những năm tới 66
3.1.1 Kinh tế chậm lại 66
3.1.2 Xuất khẩu suy giảm 67
3.1.3 Nợ công và nợ ngân hàng 68
3.2 Những khả năng điều chỉnh tỷ giá Nhân dân tệ của Trung Quốc 70
3.3 Giải pháp hạn chế ảnh hưởng của điều chỉnh tỷ giá nhân dân tệ đến trao đổi thương mại Việt Nam – Trung Quốc 73
3.3.1 Các giải pháp vĩ mô 73
3.3.2 Giải pháp cải thiện cán cân thương mại Việt Nam – Trung Quốc 82
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Tiếng Anh Tiếng Việt
Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
biệt
12 POBC/PBC People‟s Bank of China Ngân hàng trung
ương Trung Quốc
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Cán cân thương mại của Trung Quốc nửa đầu năm 2015 23 Bảng 1.2: Quá trình điều chỉnh tỷ giá hối đoái của Trung Quốc giai đoạn 2011 – 2016 27 Bảng 1.3: Ảnh hưởng của tỷ giá NDT đến hoạt động xuất khẩu một số nước
và khu vực 33 Bảng 1.4: Thương mại hàng hóa của Mỹ với Trung Quốc giai đoạn 2011-
2015 36 Bảng 1.5: Tình hình thương mại Trung Quốc – ASEAN (2010-2014) 41 Bảng 2.1: Xuất nhập khẩu Việt Nam – Trung Quốc giai đoạn 2005 – 2015 47 Bảng 2.2: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Trung Quốc giai đoạn 2010 – 2015 48 Bảng 2.3: Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ Trung Quốc giai đoạn 2010 – 2015 50
Trang 7
DANH MỤC BIỂU
Hình 1.1: Diễn biến tỷ giá Nhân dân tệ từ 2001 đến 2010 15
Hình 1.2: Tỷ giá NDT/USD giai đoạn 12/2003 – 06/2010 16
Hình 1.3: Tỷ giá tham chiếu của đồng NDT (NDT/USD) từ 02/11/2015 – 24/12/2015 19
Hình 1.4: Tỷ giá hối đoái của Trung Quốc giai đoạn 2010 – 01/2016 20
Hình 1.5: Diễn biến tỷ giá đồng NDT/USD từ 01/2016 -07/2016 21
Hình 1.6: Chỉ số PMI của Trung Quốc giai đoạn 2004 - 2014 22
Hình 1.7: Cán cân thương mại của Trung Quốc năm 2015 24
Hình 1.8: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc từ năm 2011- 2015 32
Hình 1.9: Thương mại Hoa Kỳ với Trung Quốc giai đoạn 2011-2015 37
Hình 1.10: Cán cân thương mại của Liên minh châu Âu với Trung Quốc 39
Hình 1.11: Cán cân thương mại của Trung Quốc – Nhật Bản từ năm 2010-2014 40
Hình 1.12.: Cán cân thương mại Trung Quốc – ASEAN từ 2010-2014 42
Hình 1.13: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc (2011-2016) 43
Hình 1.14: Top 15 nền kinh tế thu hút FDI nhiều nhất giai đoạn 2010-2012 44
Hình 2.1: Cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn 2005 – 2015 51
Hình 2.2: Tình trạng nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc giai đoạn 2011 - 2015 52
Hình 3.1: Mức nợ công của Trung Quốc so với thế giới 69
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết lựa chọn đề tài
Trong thập niên gần đây, Trung Quốc đã trỗi dậy một cách mạnh mẽ và trở thành một cường quốc kinh tế, trở thành nước hàng đầu trong các lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa, sản xuất công nghiệp chế biến và tiêu thụ năng lượng và là nền kinh
tế lớn thứ hai thế giới (sau Hoa Kỳ) Trong lĩnh vực tài chính, Trung Quốc cũng đứng đầu thế giới trên các phương diện như dự trữ quốc tế và đồng thời cũng là chủ
nợ lớn nhất của Hoa Kỳ Vị thế hàng đầu của Trung Quốc được dẫn dắt và củng cố chủ yếu nhờ vào mức tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa và GDP rất cao trong thời gian dài
Những thành tựu này một phần có được nhờ nước này có những chính sách tiền tệ khá hữu hiệu như can thiệp tỷ giá đề giảm giá đồng nhân dân tệ, kìm giữ mức lãi suất thấp qua đó giảm chi phí đầu vào sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu
Tuy nhiên trong những năm trở lại đây nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu có dấu hiệu giảm tốc mạnh xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan Để kìm hãm sự giảm tốc này, chính phủ và ngân hàng trung ương Trung Quốc đã có những chính sách mới nhằm can thiệp sâu hơn nữa vào thị trường trong nước nhằm cứu vãn nền kinh tế như các chính sách nhằm vào thị trường chứng khoán và tỷ giá đồng nhân dân tệ
Mặc dù nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này đang có những dấu hiệu tiêu cực, tuy nhiên không thể phủ định thành quả của các chính sách điều chỉnh tỷ giá của Trung Quốc đã có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế Việc ổn định tỷ giá giữa đồng nhân dân tệ với các đồng tiền chủ chốt khác đã giúp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc, đồng thời cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất của hàng loạt các quốc gia khác Theo nhận định của nhiều nhà kinh tế, đây là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng giảm phát của nhiều nền kinh tế hàng đầu thế giới, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thâm hụt cán cân thương mại, sự gia tăng tỷ
lệ thất nghiệp của các nước này Bên cạnh đó Trung Quốc cũng được coi là động
Trang 9lực phát triển của nhiều nền kinh tế ở châu Á Trung Quốc ngày càng khẳng định được vai trò và vị thế của mình trong nền kinh tế toàn cầu Điều này càng khẳng định tầm quan trọng của tỷ giá đồng nhân dân tệ Một sự thay đổi của tỷ giá đồng nhân tệ sẽ tác động rất lớn đến các hoạt động kinh tế của các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước có mối quan hệ sâu rộng trên nhiều lĩnh vực Hiện Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất và là thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn của Việt Nam (kể cả mậu dịch và phi mậu dịch) Chính vì vậy,
tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “ Điều chỉnh tỷ giá của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 Tổng quan các công trình liên quan đến đề tài
Đến nay, ở trong nước đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như sau:
- “ Chính sách tỷ giá của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO” của
tác giả Trịnh Tiến Đạt Trong công trình này tác giả đã đưa ra các chính sách tỷ giá của Trung Quốc trong hai thời kỳ trước và sau khi Trung Quốc gia nhập WTO
từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc điều hành tỷ giá hối đoái trong thời gian tới
- “ Chính sách tỷ giá của Trung Quốc và tác động của nó đến thương mại Trung Quốc và một số nước trên thế giới” của tác giả Nguyễn Thị Vân Đề tài đã
phân tích cụ thể chính sách tỷ giá của Trung Quốc trong những năm gần đây qua đó nói lên ảnh hưởng của chính sách đó đến thương mại của các nước trong đó có Việt Nam
Các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp nhưng dữ liệu về hoạt động điều hành chính sách tỷ giá của Trung Quốc trong những năm gần đây và cũng khẳng định tầm quan trọng và ảnh hưởng của việc điều chỉnh tỷ giá của Trung Quốc đến các hoạt động của kinh tế của các nước trên thế giới Tuy nhiên đây là các công trình gắn liền với chính sách tỷ giá chung chứ chưa đưa ra được những nguyên nhân
cụ thể trong việc thay đổi tỷ giá của đồng nhân dân tệ
Trang 103 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc khi tỷ giá Nhân dân tệ thay đổi Từ đó đề ra các giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến động Nhân dân tệ đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Làm rõ tầm quan trọng và tác động của đồng Nhân dân tệ đến hoạt động ngoại thương của Trung Quốc với các nước và khu vực
Thứ hai: Phân tích thực trạng trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tác động của biến đổi tỷ giá Nhân dân tệ đến trao đổi thương mại Việt Nam – Trung Quốc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc điều chỉnh giảm tỷ giá hối đoái
của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về mặt nội dung của luận văn: thực trạng và nguyên nhân của việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái của Trung Quốc và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
- Phạm vi nghiêu cứu về mặt không gian của luận văn: trao đổi thương mại giữa Việt Nam với Trung Quốc
- Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian của luận văn: nghiên cứu và phân tích thực trạng trao đổi thương mại Việt Nam với Trung Quốc từ năm 2005 đến 2016, đề xuất kiến nghị cho thời kỳ 2017-2020
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thu thập từ các tài liệu, thông tin từ Tổng cục hải quan
Trang 11- Ngoài ra Luận văn cũng sử dụng nguồn dữ liệu được thu thập thông qua internet, sách và tạp chí
5.2 Phương pháp phân tích thông tin
Số liệu thu thập được sẽ được tổng hợp thành bảng biểu sau đó sẽ được sử dụng trong việc phân tích, so sánh, thiết lập đồ thị và lập bảng thống kê để thực hiện
xử lý thông tin và thực hiện nghiên cứu
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Bài luận sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh nhằm đánh giá số liệu và làm rõ các vấn
đề và mục tiêu nghiên cứu
6 Bố cục của luận văn
Ngoài Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo, Mở đầu và Kết luận, luận văn được chia thành 3 chương theo bố cục dưới đây:
Chương 1: Vai trò của tỷ giá và tác động của việc điều chỉnh tỷ giá nhân dân tệ tới thương mại quốc tế
Chương 2: Tác động của điều chỉnh tỷ giá Nhân dân tệ đến trao đổi thương mại Việt Nam – Trung Quốc
Chương 3: Dự báo xu hướng điều chỉnh tỷ giá nhân dân tệ và giải pháp hạn chế ảnh hưởng điều chỉnh nhân dân tệ đến trao đổi thương mại Việt Nam với Trung Quốc
Trang 12CHƯƠNG 1: VAI TRÒ CỦA TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ NHÂN DÂN TỆ TỚI
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1 Tỷ giá hối đoái và ảnh hưởng của tỷ giá tới hoạt động ngoại thương
1.1.1 Tỷ giá và vai trò của tỷ giá đối với hoạt động ngoại thương
Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, các quan hệ kinh tế, văn hóa… giữa các quốc gia ngày càng phát triển mạnh mẽ làm xuất hiện các quan hệ thanh toán quốc tế Từ trước đến nay vàng vẫn được coi là tiền tệ quốc tế, tuy nhiên trong thực tế người ta dùng nhiều đồng tiền của một nước nào đó để thanh toán thông qua các phương tiện thanh toán quốc tế như séc, hối phiếu…chứ không chi trả trực tiếp bằng vàng
Phương tiện thanh toán dùng trong các giao dịch quốc tế ghi theo đơn đơn vị tiền tệ của một nước là ngoại hối với nước khác
Trên lãnh thổ của mỗi quốc gia chỉ duy nhất đồng tiền của quốc gia đó được lưu hành vì vậy để có thể thực hiện các hoạt động thanh toán quốc tế đòi hỏi phải đổi từ đồng tiền nước này sang đồng tiền nước khác, từ đó làm phát sinh vấn đề tỷ giá hối đoái
Như vậy, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một quốc gia tính bằng tiền tệ của một nước khác, hay là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của các quốc gia khác nhau
- Vai trò của tỷ giá hối đoái đối với hoạt động ngoại thương
Tỷ giá hối đoái là biến số quan trọng của hoạt động ngoại thương Vì vậy, tác động trực tiếp nhất và cơ bản nhất của tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng trước hết đến những cân đối bên ngoài nền kinh tế Những cân đối bên ngoài nền kinh tế được biểu hiện tập trung ở cán cân thanh toán và những quan hệ trong cán cân thanh toán;
Trang 13nên những thay đổi của tỷ giá có tác động trực tiếp đến cán cân thanh toán và những quan hệ trong cán cân thanh toán
Nền kinh tế thị trường thế giới hiện nay về thực chất đó là nền kinh tế tiền tệ,
do vậy tỷ giá thực sự đã trở thành công cụ phân bổ các nguồn lực trên phạm vi toàn cầu Các nền kinh tế càng tham gia sâu rộng vào hệ thống thương mại toàn cầu, thì càng chịu tác động mạnh của sự biến động tỷ giá, nghĩa là vai trò phân bổ các nguồn lực của tỷ giá càng phát huy mạnh mẽ Trong hệ thống tiền tệ và thương mại quốc tế, nếu một đồng tiền quốc gia có giá trị danh nghĩa cao hơn thực tế thì hàng nhập khẩu sẽ có giá rẻ, có lợi cho người tiêu dùng trong nước, nhưng lại bất lợi cho người sản xuất cùng những mặt hàng nhập khẩu đó vì bị cạnh tranh gay gắt Hàng hóa xuất khẩu sẽ có giá trị cao, bất lợi cho khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu, nghĩa là cả thị trường trong nước và ngoài nước đều đứng trước nguy cơ bị thu hẹp Nhưng nếu một đồng tiền có giá trị danh nghĩa thấp hơn thực tế, thì ngược lại hàng nhập khẩu sẽ có giá trị cao hơn, tuy không có lợi cho người tiêu dùng nhưng lại có lợi cho người sản xuất trong nước, vì họ được bảo hộ cao hơn bằng tỷ giá và cả bằng thuế quan Hàng xuất khẩu sẽ có giá thấp hơn, do vậy có khả năng cạnh tranh cao hơn, có lợi cho những cơ sở kinh doanh xuất khẩu
Cả thị trường trong và ngoài nước đều có cơ hội được mở rộng – đó chính là điều kiện quan trọng để thu hút đầu tư nước ngoài Đây là lý do mà nhiều nước, trong đó
có Trung Quốc, đã duy trì chính sách định giá thấp trong nhiều năm để duy trì khả năng cạnh tranh cao của hàng xuất khẩu
1.1.2 Các kênh tác động của tỷ giá đối với hoạt động ngoại thương
1.1.2.1 Tác động đến sức cạnh tranh của hàng xuất nhập khẩu
Tác dụng của việc định giá thấp (phá giá tiền tệ) đối với nước tiến hành phá giá là khuyến khích xuất khẩu hàng hóa nhờ tăng lợi nhuận thu được thông qua xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu hàng hóa vì sẽ gặp khó khăn khi tiêu thụ hàng hóa nhập khẩu do giảm lợi nhuận thu được, từ đó lượng ngoại tệ sẽ tăng nhiều hơn nhờ xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, đồng thời giảm mạnh việc sử dụng ngoại tệ để nhập hàng hóa vào trong nước, nhờ đó khôi phục lại sự cân bằng của cán cân thương mại trên
Trang 14cơ sở giảm thâm hụt (hoặc cân bằng) cán cân thương mại, cải thiện cán cân vãng lại
và góp phần lành mạnh hóa cán cân thanh toán quốc tế
Tuy nhiên, phá giá chỉ có thể tăng thêm kim ngạch xuất khẩu nếu tăng được nguồn cung về hàng xuất khẩu xuất và xuất khẩu các mặt hàng được sản xuất, chế biến từ nguyên liệu trong nước chiếm tỷ trọng cao vì lúc này sẽ hướng lao động trong nước tập trung vào sản xuất hàng xuất khẩu Trong khi đó, đối với sản xuất của nhiều quốc gia đang phát triển, hàng nhập khẩu, đặc biệt là nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, đóng vai trò quan trọng trong sản xuất hàng xuất khẩu Phá giá sẽ làm tăng giá hàng nhập khẩu và làm tăng chi phí sản xuất và tăng mặt bằng giá chung khi hàng nhập khẩu đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất Sản lượng hàng hóa mà doanh nghiệp muốn sản xuất sẽ giảm đi do chi phí sản xuất và mặt bằng giá chung tăng lên Trong trường hợp hàng xuất khẩu được sản xuất chủ yếu
từ nguyên liệu đầu vào nhập khẩu thì phá giá có thể đem lại tác động bất lợi do làm tăng giá nhập khẩu nguyên liệu đầu vào Vì vậy, việc phá giá có cải thiện cán cân thương mại hay không còn tùy thuộc vào khả năng đẩy mạnh xuất khẩu của nước tiến hành phá giá và khả năng cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu của nước đó
1.1.2.2 Tác động đến cán cân thanh toán
Tác động của tỷ giá hối đoái đối với cán cân thanh toán được biểu hiện tập trung trước hết đối với cán cân thương mại – nội dung chủ yếu nhất của tài khoản vãng lai Cơ chế tác động của tỷ giá được thể hiện thông qua sự tương tác của mối quan hệ cung – cầu với tỷ giá trên thị trường Trước hết, tỷ giá và những biến động của tỷ giá có ảnh hưởng trực tiếp đến mức giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu của một nước Khi tỷ giá thay đổi theo hướng làm giảm sức mua của đồng nội tệ (giá trị của đồng nội tệ giảm), thì giá cả hàng hóa của nước đó sẽ tương đối rẻ hơn so với hàng hóa của nước ngoài và có khả năng cạnh tranh tốt hơn dẫn đến cầu về xuất khẩu hàng hóa của nước đó sẽ tăng, cầu về nhập khẩu hàng hóa nước ngoài của nước đó
sẽ giảm và cán cân thương mại dịch chuyển về phía thặng dư Kết quả sẽ ngược lại khi đồng nội tệ tăng giá Sự tăng giá của đồng nội tệ có tác dụng tăng giá tương đối
Trang 15hàng hóa của một nước so với nước ngoài, làm giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu và cán cân thương mại dịch chuyển về phía thâm hụt
Tuy nhiên, trên thực tế, cán cân tài khoản vãng lai của một nước có thể xấu ngay sau khi có sự giảm giá thực tế của một đồng tiền và chỉ bắt đầu được cải thiện sau đó một vài tháng hoặc một năm hay có sự thay đổi rất mạnh trong tỷ giá hối đoái nhưng lại chỉ có những sự thay đổi rất ít trong cán cân thương mại
Phối hợp những thay đổi trong cán cân thương mại và tài khoản vốn dẫn đến những thay đổi của cán cân thanh toán Khi những thay đổi cán cân tài khoản vãng lai và tài khoản vốn tạo ra tình trạng thặng dư của cán cân thanh toán thì tài khoản
dự trữ quốc tế của một nước sẽ có điều kiện được cải thiện, dự trữ ngoại tệ gia tăng
Sự thặng dư liên tục trong cán cân thanh toán của một nước có thể dẫn đến nước đó phải áp dụng chính sách tiền tệ mở rộng (bán nội tệ mua ngoại tệ), cung tiền tệ tăng lãi suất giảm, đầu tư tăng, tạo thêm việc làm, giảm thất nghiệp, kinh tế phát triển, thu nhập tăng Trong chế độ tỷ giá “cố định”, nếu các điều kiện khác không thay đổi, cán cân thanh toán thặng dư về lâu dài có xu hướng tác động làm giảm giá đồng nội tệ, khuyến khích xuất khẩu
Ngược lại, những thay đổi cán cân tài khoản vãng lai và tài khoản vốn làm cho cán cân thanh toán cảu một nước thâm hụt thì sẽ dẫn đến sự suy giảm trong mức dự trữ quốc tế của nước đó để tài trợ cho cán cân thanh toán Giống như trường hợp thặng dư, sự thâm hụt dai dẳng trong cán cân thanh toán của một nước (trong chế độ tỷ giá “cố định”), cuối cùng sự dẫn đến nước đó phải áp dụng chính sách tiền
tệ thắt chặt (bán ngoại tệ mua nội tệ), cung tiền giảm, lãi suất tăng, đầu tư có thể giảm, thất nghiệp tăng, kinh tế ngưng trệ và thu nhập giảm Nếu các điều kiện khác không thay đổi, cán cân thanh toán thâm hụt về lâu dài có xu hướng làm tăng giá đồng nội tệ, khuyến khích sự gia tăng của nhập khẩu
1.1.2.3. Tác động đối với thu hút đầu tư nước ngoài
Tỷ giá hối đoái thay đổi không chỉ tác động đến cán cân thương mại mà còn tác động đến cán cân tài khoản vốn Một sự thay đổi tỷ giá hối đoái theo hướng tăng
Trang 16giá đồng nội tệ có tác động thúc đẩy và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài Ngược lại, một sự biến đổi tỷ giá theo hướng giảm giá đồng nội tệ sẽ có tác động gia tăng việc thu hút đầu tư của nước ngoài Đây có thể là một công cụ mà các nước đang phát triển có thể khai thác để giảm bớt tình trạng khan hiếm về vốn trong quá trình công nghiệp hóa nếu biết điều hành chính sách tỷ giá hợp lý
Tuy nhiên, tác động tích cực của tỷ giá cao, giá trị đồng nội tệ thấp tại thời điểm hiện tại đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài lại có mâu thuẫn với các khoản vay đã huy động trước đó vì nó làm tăng thêm gánh nặng nợ nước ngoài; nó cũng làm tăng những rủi ro của đầu tư truong tương lai khi các nhà đầu tư có dự khiến tăng về tính không ổn định của tỷ giá hối đoái
Đây chính sự mâu thuẫn mà việc lựa chọn chính sách tỷ giá phải đối mặt Sự tác động đến tài khoản vốn ở một góc độ nào đó là biện pháp gián tiếp để đẩy mạnh phát triển ngoại thương nhằm tránh những rào cản của chính sách bảo hộ thương mại và những rủi ro hối đoái với ngoại thương Những tác động của tỷ giá đến các mối quan hệ trong cán cân thanh toán tương tác lẫn nhau không những làm thay đổi cân đối bên ngoài nền kinh tế mà qua cán cân thanh toán còn tác động làm thay đổi những cán cân thay đổi bên trong nền kinh tế
1.1.2.4 Tác động đến thị trường tiền tệ
Lãi suất nội tệ là một kênh tác động quan trọng nhằm điều chỉnh nền kinh tế nên trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ của mình, NHTW luôn sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ tác động làm thay đổi các hành vi đầu tư, tiêu dùng, xuất nhập khẩu… của nền kinh tế Khi kinh tế phát triển quá nóng, NHTW tác động nhằm gia tăng lãi suất để hạn chế đầu tư, khi nền kinh tế trì trệ, NHTW tác động để
hạ lãi suất qua đó kích thích đầu tư nhằm vực dậy nền kinh tế Tuy nhiên, do tác động làm cho lãi suất nội tệ thay đổi, sự tác động này cũng làm cho tỷ giá thay đổi theo, lãi suất thay đổi càng nhanh, càng mạnh thì tác động làm cho tỷ giá biến động
Trang 17cũng càng nhanh và mạnh, mức độ tự do hóa lãi suất càng cao thì hiệu quả truyền dẫn qua kênh tỷ giá của chính sách tiền tệ càng lớn và ngược lại
Khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, lượng tiền cung ứng tăng lên làm lãi suất thực của thị trường giảm xuống, dẫn tới lợi tức dự tính về tiền gửi nội tệ giảm, trong khi lợi tức dự tính về tiền gửi ngoại tệ chưa kịp thay đổi theo, đồng nội tệ trở nên kém hấp dẫn hơn so với ngoại tệ đã kích thích các chủ thể trong nền kinh tế có xu hướng chuyển đổi tiền gửi bằng nội tệ sang ngoại tệ làm tăng nhu cầu về ngoại tệ dẫn đến tỷ giá tăng, góp phần khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu làm cho xuất khẩu ròng và tổng cầu tăng dẫn tới tổng sản lượng tăng Ngược lại, chính sách tiền tệ thắt chặt làm lượng tiền cung ứng giảm, lãi suất thực trong nước tăng, cầu tài sản nội tệ cũng tăng, do đó làm giảm tỷ giá danh nghĩa và làm giảm tỷ giá thực Sự lên giá của đồng nội tệ sẽ làm giảm nhu cầu xuất khẩu, tăng nhu cầu nhập khẩu, do đó làm giảm tổng cầu và giảm tương ướng sản lượng sản xuất của nền kinh tế
Như vậy trong điều kiện lãi suất thị trường được tự do hóa, tỷ giá được xem
là một kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ quan trọng nhằm tạo ra sự biến động tích cực đến các biến số vĩ mô của nền kinh tế và cuối cùng là đến sự ổn định dài hạn của giá cả, trong đó NHTW thông qua các công cụ của mình, tác động làm thay đổi các điều kiện tiền tệ khiến cho lãi suất thị trường thay đổi, kéo theo sự thay đổi của
tỷ giá, qua đó ảnh hưởng đến giá trị xuất khẩu ròng, đến sản lượng của nền kinh tế
và đến các chỉ số giá chung của nền kinh tế
2.1 Chính sách tỷ giá của Trung Quốc và quá trình điều hành tỷ giá
đồng nhân dân tệ
2.1.1 Vai trò của Nhân dân tệ trong thanh toán quốc tế
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế trong nhiều năm qua, với mục tiêu gia tăng ảnh hưởng của NDT trong tật trự tiền tệ quốc tế, thương mại và hệ thống thanh toán quốc tế từ năm 2003 Trung Quốc đã bắt đầu kế hoạch quốc tế hóa nhân dân tệ với nhiều biện pháp như thúc đẩy giao thương bằng NDT, tăng cường
Trang 18sử dụng NDT trong thanh toán quốc tế, tăng cường ký các thỏa thuận hoán đổi tiền
tệ bằng nội tệ… Tiến trình quốc tế hóa đồng NDT đã được đẩy mạnh đặc biệt trong giai đoạn từ năm 2009 trở lại đây và đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận: thị trường đồng NDT bên ngoài Trung Quốc đã không ngừng mở rộng và phát triển, sức ảnh hưởng của NDT đến thế giới ngày càng mạnh
Những năm trở lại đây, chính phủ Trung Quốc khuyến khích thanh toán các giao dịch quốc tế bằng NDT Việc thanh toán bằng NDT giữa các doanh nghiệp Trung Quốc với các doanh nghiệp nước ngoài tăng lên đáng kể Theo thống kê của POBC các giao dịch thương mại thanh toán bằng NDT tệ đã tăng lên từ 4,5% năm
2010 lên tới 6,6% năm 2011 Ngoài ra các doanh nghiệp Trung Quốc còn đưa ra các chính sách khuyến khích các đối tác sử dụng NDT khi giao dịch với họ NDT luôn được các doanh nghiệp Trung Quốc ưu tiên khi giao dịch quốc tế
Tính đến năm 2011, tổng số địa phương được phép thanh toán xuất nhập khẩu bằng NDT của Trung Quốc đã lên tới 31 tỉnh, khu tự trị với toàn thế giới (15 nước) Nếu như năm 2010 chỉ có khoảng 2% trong tổng giao dịch thương mại quốc
tế bằng NDT thì năm 2011 tỷ trọng này đã tăng gấp 5 lần, lên đến 10% Xét theo kim ngạch xuất nhập khẩu, 6 tháng đầu năm 2011, tổng kim ngạch bằng NDT lên tới 957 tỷ NDT, tăng 13 lần so với 6 tháng đầu năm 2010 Hiện tại tỷ trọng giao dịch thương mại bằng NDT của Trung Quố với các quốc gia châu Á là 13% Theo Ngân hàng HSBC, tỷ trọng này trong năm 2015 đã tăng 50%
Từ năm 2004, Trung Quốc đã cho phép ngân hàng ở Hồng Kông nhận tiền gửi bằng NDT Mức tăng trưởng tín dụng tiền gửi bằng đồng NDT từ năm 2005 đã tăng mạnh, nhất là giai đoạn 2010-2012 Tính tới cuối năm 2011, lượng tiền gửi của các khách hàng tại Hồng Kông đã đạt 589 tỷ Nhân dân tệ, tăng 87% so với năm
2010 Tuy nhiên mức tăng này nhỏ hơn nhiều so với mức tăng 402% trong năm
2010 Ngoài ra, thông qua kênh Hồng Kông, tiền gửi NDT còn có ở Luân Đôn, đạt mức 35 tỷ NDT năm 2011 và 109 tỷ NDT vào tháng 4/2012
Trong năm 2012, Trung Quốc đã hoàn thành 18 hợp đồng hoán đổi ngoại tệ song phương với các nước trên với tổng giá trị lên tới 1,6 nghìn tỷ NDT Trung
Trang 19Quốc đã ký kết các hoán đổi tiền tệ bình thường (NDT và bản tệ) với một số nước bao gồm với Philippin (NDT-Peso), Nhật Bản (NDT- Yên, 2 chiều), Hàn Quốc (NDT-Won, 2 chiều), Autralia Ngoài ra, nước này còn ký kết một loạt hợp đồng hoán đổi ngoại tệ khẩn cấp với một số nước như Argentina (70 tỷ NDT), Hàn Quốc (180 tỷ NDT), Belarus (20 tỷ NDT), Indonesia ( 100 tỷ NDT), Malaysia (80 tỷ NDT)…
Ngoài ra Trung Quốc còn thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài vào và ra bằng đồng NDT thông qua các quỹ đầu tư thuộc Chương trình Các nhà đầu tư tổ chức giao dịch bằng đồng NDT (Theo Renminbi Qualified Foreign Institutional Investors – RQFII) thông qua các hoạt động đầu tư, mở chi nhánh và sát nhập, hợp nhất và mua lại (M&A) Đối với đầu tư gián tiếp, nước này đã cấp quota cho 23 định chế RQFII với tổng giá trị tương đương 2,9 tỷ USD trong năm 2012, tăng 190% so với năm 2011
Không chỉ trao đổi thương mại với các nước bằng NDT, hiện nay Trung Quốc còn thực hiện cho vay bằng NDT, điều này càng gia tăng sức ảnh hưởng của đồng nhân dân tệ trên thế giới
Tiếp tục được đẩy mạnh đã đưa NDT trở thành đồng tiền thanh toán nhiều thứ năm trên thế giới Một số quốc gia như Nga, Nhật, Belarus… đã chấp thuận sử dụng đồng NDT và đồng bản tệ trong thanh toán… Ngày 10/11/2015, Cơ quan trao đổi ngoại tệ Trung Quốc cho biết sẽ cho phép NDT được đổi trực tiếp với đồng franc Thụy Sĩ (CHF) trên thị trường ngoại hối Đây là nỗ lực tiếp theo của Trung Quốc nhằm hiện thực hóa tham vọng quốc tế hóa đồng NDT
Ngày 30/11/2015, Qũy tiền tệ (IMF) đã quyết định đưa NDT vào giỏ tiền tệ trong Quyền rút vốn đặc biệt (SDR) Quyết định này sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2016, trong SDR đồng nhân dân tệ chiếm 10,92% tỷ trọng cao hơn tỷ trọng của đồng Yên (8,33%) và đồng bảng Anh ( 8,09%) tuy nhiên vẫn thấp hơn nhiều so với tỷ trọng của đồng USD ( 41,73%) và Euro ( 30,93%)
Việc đồng nhân dân tệ được IMF đưa vào SDR được xem là bước đột phá lớn đối với Trung Quốc trong hệ thống tài chính toàn cầu Điều này khiến cho vị thế
Trang 20của Trung Quốc, quốc gia đang trỗi dậy mạnh mẽ và hiện đã là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sau Mỹ, trên các thị trường tài chính càng được củng cố và có uy tín hơn
2.1.2 Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc
Trong nhiều năm qua Trung Quốc luôn theo đuổi chế độ tỷ giá hối đoái trên
cơ sở định giá NDT thấp so với các ngoại tệ khác (đặc biệt là với đồng Đô la Mỹ - USD) nhằm tạo lợi thế thương mại ngắn từ đó đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thặng dư thương mại, duy trì tỷ lệ thất nghiệp thấp, tạo sự ổn định và bền vững trong dự trữ ngoại hối
Từ năm 1997, Trung Quốc hầu như giữ nguyên tỷ giá danh nghĩa khoảng 8,28 NDT/ 1USD Chính sách tỷ giá đó có lợi cho xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc tuy nhiên điều này lại ảnh hưởng đến các nước công nghiệp phát triển, làm dẫy lên cuộc tranh cãi về việc định giá NDT, đặc biệt từ phía
Mỹ
Trước sức ép liên tục từ phía Mỹ, chính phủ Trung Quốc khẳng định quan điểm : Việc thực hiện cải cách chế độ tỷ giá hối đoái của NDT là yêu cầu tất yếu, Trung Quốc nhất định sẽ thực hiện cải cách tỷ giá hối đoái nhưng việc cải cách tỷ giá cơ chế tỷ giá hối đoái cần phải xuất phát từ thực tế Trung Quốc Song song với những hoạt động ngoại giao, Trung Quốc đã bắt đầu chuẩn bị để đưa NDT ra giao dịch tự do trên thị trường
Một trong những cột mốc quan trọng nhất trong chính sách tỷ giá của Trung Quốc là vào ngày 21/7/2005, PBOC tuyên bố tăng giá đồng Nhân dân tệ lên 2,1%
so với đồng USD Đồng NDT đã gắn với đồng USD ở tỷ giá 8,28 NDT/1USSD trong suốt hơn 1 thập kỷ và đang ở mức 8,11NDT/1USD và sẽ giao động theo một
„„rổ các đồng tiền‟‟, chứ không còn gắn riêng với đồng USD Ngày 10/8/2005, Trung Quốc công bố thành phần của rổ tiền tệ được dùng để ấn định giá trị đồng NDT, chủ yếu bao gồm đồng USD, Euro, đồng yên Nhật Bản và đồng Won Hàn Quốc Các đồng tiền của Singapo, Anh, Malysia, Nga, Australia, Canada và Thái Lan cũng được xét tới khi ấn định tỷ giá hối đoái của NDT
Trang 21Kể từ đó, đồng Nhân dân tệ liên tục có sự biến động về tỷ giá, đặc biệt trong đầu năm 2006 Bước vào năm 2006, PBOC bắt đầu trao cho các NHTM quyền lớn hơn trong việc định giá đồng tiền này Cụ thể là việc định giá đồng Nhân dân tệ so với đô la Mỹ được dựa trên mức giá trung bình do các NHTM lớn của Trung Quốc đưa ra Ngày 4/1/2006 đồng NDT của Trung Quốc đã tăng giá đạt mức cao kỷ lục
so với đô la Mỹ (trên thị trường giao ngay, mức giá là CNY/USD = 8,0675) Việc trao cho các NHTM thêm quyền ấn định tỷ giá chuẩn hàng ngày (tỷ giá hối đoái chủ đạo) được xem như một dấu hiệu cho thấy PBOC Trung Quốc sẵn sàng tính đến các lực đẩy của thị trường trong giao dịch ngoại hối Ngày 2/3/2006, PBOC chính thức nâng giá đồng NDT lên một mức mới Theo đó, tỷ giá CNY/USD được nâng lên mức 8,038, tăng gần 0,9% so với mức tỷ giá vào tháng 7 năm 2005 Vào cuối năm
2006, đồng NDT đã tăng lên mức 7,82 CNY/USD, gần như ngang giá với đô la Hồng Kông ( 7,8 HKD/USD)
Ngày 07/02/2007, tỷ giá NDT/USD đã đạt mức kỷ lục khi Ngân hàng Trung ương Trung Quốc công bố tỷ giá đạt chuẩn là 7,7496 NDT/USD Trước đó chỉ trong 4 ngày, có 2 lần NDT đã giá cao kỷ lục so với USD: ngày 6/02, tỷ giá trao đổi
ở mức 7,7595 và ngày 2/2 là 7,7613 NDT/USD Việc liên tục trong vài ngày đã xuất hiện 3 kỷ lục về tỷ giá cao của NDT so với USD được các chuyên gia tài chính nhận định rằng NDT đang được nâng giá một cách chủ động với tốc độ nhanh nhằm mục tiêu giảm bớt mức xuất siêu khổng lồ của Trung Quốc, nhất là buôn bán với
Mỹ
Từ năm 2005 đến 2010, đồng Nhân dân tệ liên tục lên giá so với đô la Mỹ Điều này cho thấy Trung Quốc đang dần nới lỏng chính sách tỷ giá và để thị trường quyết định giá trị đồng NDT Đây cũng là biện pháp nhằm xoa dịu sức ép đòi thả nổi đồng Nhân dân tệ của Mỹ và các đối tác thương mại của Trung Quốc
Theo hình vẽ 1.1 dưới đây, có thể thấy rõ sự tăng giá của tỷ giá NDT từ năm
2001 đến 2010
Trang 22Hình vẽ 1.1: Diễn biến tỷ giá Nhân dân tệ từ 2001 đến 2010
Nguồn: Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD Statistics)
Từ ngày 22/6/2010, Nhân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) bắt đầu thực hiện những bước đi đầu tiên trong cam kết linh hoạt giá đồng NDT Theo đó,
tỷ giá hối đoái của NDT so với USD tiếp tục tăng PBOC xác lập tỷ giá hối đoái mới ở mức 1 USD = 6,7980 NDT tăng 0,43% so với mức 6,8275 NDT của ngày 21/6/2010 Đây được xem là mức cao nhất kể từ khi PBOC định giá lại đồng NDT vào tháng 07/2005
Xét về chiều hướng tăng giảm của tỷ giá hối đoái, trong giai đoạn 2010 –
2014, đồng NDT liên tục tăng giá và tăng đến mức 6,0406 NDT/USD vào đầu tháng 01/2014, nhưng sau đó lại giảm trở lại
Xét về biên độ dao động thì biên độ thả nổi giữa đồng NDT so với đồng USD đã qua 3 lần điều chỉnh kể từ ngày cải cách chế độ tỷ giá hối đoái vào tháng 07/2005 Cụ thể là ngày 21/5/2007 (từ 0,3 lên 0,5%), ngày 14/4/2012 (từ 0,5 lên 1%) và ngày 17/3/2014 (từ 1 lên 2%)
Trang 23Hình vẽ 1.2: Tỷ giá NDT/USD giai đoạn 12/2003 – 06/2010
Nguồn: Federal Reserve Bank and U.S Bureau of Labor Statistics
Theo các nhà phân tích thị trường, việc mở rộng biên độ thả nổi tỷ giá hối đoái của đồng NDT là một biện pháp cải cách quan trọng về tỷ giá hối đoái Trung Quốc sẽ góp phần tăng tính linh hoạt của nó Đồng thời, thị trường ngoại hối trong thời gian tới sẽ diễn biến theo hướng thả nổi 2 chiều
Từ khi Trung Quốc thi hành cải cách cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái của đồng NDT đến nay, tỷ giá hối đoái giữa đồng NDT so với USD phần lớn là biến động theo 1 chiều Các chuyên gia nhận định, biên độ thả nổi quá nhỏ sẽ khiến cho
tỷ giá khó có thể thực hiện lên xuống và phát triển theo hướng thả nổi hai chiều
Kể từ năm 2005, tỷ giá tham chiếu đồng NDT hầu như được cố định với đồng USD Tuy nhiên, Chính phủ cho rằng biện pháp điều chỉnh tỷ giá này không còn thích hợp với tình hình thực tế và quyết định điều chỉnh quy chế
Trang 24Bắt đầu từ ngày 11/8/2015, đồng NDT đã được thả nổi có điều chỉnh, PBOC
sẽ quy định tỷ giá tham chiếu dựa trên giao dịch ngày hôm trước, cung cầu trên thị trường tiền tệ và diễn biến của các đồng tiền chủ chốt Tỷ giá giao dịch trên thị trường tự do vẫn sẽ xoay quanh mốc tỷ giá tham chiếu với tỷ lệ 2%
Ngay sau khi Trung Quốc thả nổi có điều chỉnh tỷ giá, đồng NDT giảm giá mạnh Cụ thể là việc Trung Quốc đã tạo ra “cú sốc” cho thế giới khi phá giá đồng nội tệ 3 phiên liên tiếp từ 11 dến 13/8/2015 Từ 14/08 trở đi có dấu hiệu tăng nhẹ trở lại Như vậy, so với tỷ giá kể từ phiên chưa điều chỉnh quy chế mới vào ngày 10/8/2015, tỷ giá tham chiếu đồng NDT đã giảm 4,6% từ mức 6,1162 NDT/USD xuống còn 6,3969 NDT/USD vào ngày 17/8/2015
Việc giảm giá đồng nội tệ của PBOC đã ảnh hưởng lớn đến thị trường khi nhiều chuyên gia lo ngại một cuộc chiến tiền tệ có thể diễn ra Hãng tin Reuters dự đoán NDT có thể giảm giá 10%, nhưng PBOC tuyên bố không có lí do nào để cơ quan này hạ giá đồng nội tệ Trong phiên 14/08, tỷ giá đồng NDT đã được nâng 0,05% sau 3 phiên giảm sâu trước đó
Ngay sau khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) quyết định đưa đồng NDT vào rổ tiền tệ “Quyền rút vốn đặc biệt” (SDR) cùng với đồng Đô la Mỹ (USD), Euro (EUR), Bảng Anh (GBP) và Yên Nhật (JPY) vào ngày 30/11/2015, Trung Quốc đã thông báo tỷ giá hối đoái của đồng NDT đã được giữ ở mức cơ bản ổn định so với
rổ tiền tệ này kể từ thời điểm cơ sở 31/12/2014 Điều này cho thấy Bắc Kinh không muốn đồng NDT giảm giá mạnh so với các đồng tiền khác trong rổ tiền tệ trong tương lai gần
Kể từ đó, các động thái trước trong tỷ giá hối đoái đã diễn ra: sự giảm giá đồng NDT so với USD diễn ra chủ yếu trên thị trường nước ngoài, song cũng xảy ra trên thị trường Đại Lục, nơi PBOC giữ quyền kiểm soát Khoảng cách giữa thị trường nước ngoài và trong nước hiện tăng 1,96% cao hơn so với mức đỉnh ghi nhận hồi năm 2011 Khoảng cách này cho thấy đồng NDT trên thị trường Đại lục không thực sự đạt mức “tự do sử dụng” – một trong những tiêu chí quan trọng để đồng tiền có thể gia nhập SDR, dẫn đến chủ đích phá giá đồng NDT quá sớm sau
Trang 25khi đạt được mục tiêu gia nhập SDR, dù thời hạn chính thức có hiệu lực từ tháng 10/2016 Theo giới phân tích, nếu Bắc Kinh tiếp tục hạ giá nhanh đồng NDT thì sẽ làm mất ổn định kinh tế và rất có thể sẽ châm ngòi cho làn sóng đua nhau hạ giá nội
tệ toàn khu vực
Sau khi Trung Quốc thả nổi có điều chỉnh tỷ giá, đồng NDT tiếp tục giảm giá Ngân hàng Trung ương Trung Quốc ngày 9/12/2015 đặt tỷ giá tham chiếu đồng Nhân dân tệ ở mức thấp nhất trong 4 năm qua Theo đó, tỷ giá tham chiếu đồng Nhân dân tệ mà PBOC thiết lập cho ngày 9/12/0215 là 6,414 Nhân dân tệ đổi 1 USD Biên độ dao động tỷ giá mà PBOC áp dụng lúc này là +/-2% so với tỷ giá tham chiếu Sáng ngày 9/12/2015 tỷ giá Nhân dân tệ giao ngay có giảm, nhưng mức giảm khá khiêm tốn Đầu giờ sáng, tỷ giá Nhân dân tệ giao ngay tại Trung Quốc là 6,4244 Nhân dân tệ đổi 1 USD, giảm 0,1% so với cuối ngày 8/12/2015 Ngày 11/12/2015, PBOC đã công bố tỷ giá tham chiếu bình quân của đồng NDT là 6,4358 NDT/USD – thấp hơn 0,2% so với tỷ giá tham chiếu 6,4236 Nhân dân tệ đổi
1 USD vào hôm 10/12/2016 và là mức thấp nhất kể từ tháng 8/2011
Ngày 14/13/2015, một lần nữa Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã phá giá đồng Nhân dân tệ, theo đó 1 USD giờ đổi được 6,4495 NDT Đây là lần thứ hai trong vòng 4 ngày Trung Quốc thực hiện phá giá đồng Nhân dân tệ của nước này Chính quyền Trung Quốc cho rằng, biện pháp cần thiết này nhằm tối ưu hóa các khoản thanh toán quốc tế của Bắc Kinh Giới quan sát cho rằng, các nhà chức trách Trung Quốc đang có kế hoạch thả nổi đồng Nhân dân tệ vào năm 2020 Ngoài ra, Bắc Kinh dự định sẽ mở cửa hầu hết các lĩnh vực trong hệ thống tài chính cho các nhà đầu tư nước ngoài Đến ngày 28/12/2015 Ngân hàng Trung ương Trung Quốc
ấn định tỷ giá tham chiếu đồng Nhân dân tệ ở mức 6,475 NDT/1USD Diễn biến biến động tỷ giá đồng NDT/USD trong năm 2015 được biểu diễn ở hình vẽ 1.3 phía dưới
Trang 26Hình vẽ 1.3: Tỷ giá tham chiếu của đồng NDT (NDT/USD) từ 02/11/2015 – 24/12/2015
Nguồn: BizLIVE
Tính đến phiên 6/1/2016 trên thị trường quốc tế, đồng tiền này tiếp tục giảm xuống mức 6,6915 NDT/USD, mức thấp nhất kể từ quý IV/2010
Trang 27Hình vẽ 1.4: Tỷ giá hối đoái của Trung Quốc giai đoạn 2010 – 01/2016
Nguồn: www.tradingeconomics.com
Ngày 15/02/2016 Ngân hàng trung ương Trung Quốc đã niêm yết tỷ giá tham chiếu tăng 0.3% ở mức 6.5118 NDT đổi 1 USD, mức cao nhất trong hơn 1 tháng qua Trong khi đó đồng USD đã giảm 0.8% trong tuần qua, đồng Yên của Nhật Bản tăng 3% và đồng USD tăng 0.9%
Sáng ngày 29/04/2016, Ngân hàng trung ương Trung Quốc thông báo điều chỉnh tỷ giá với mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 7/2005 Theo đó, tỷ giá tham chiếu tăng 0,6% lên mức 6,4589 NDT đổi lấy 1 USD Đồng nhân dân tệ ở hải ngoại cũng tăng thêm 0,1% lên 6,4578 NDT đổi lấy 1 USD sau khi tăng 0,3% trong phiên trước
đó Dù mức điều chỉnh của hôm nay là rất lớn so với những biến động nhỏ suốt từ đầu năm đến nay, nhưng theo các chuyên ra cho rằng nguyên nhân chỉ đơn giản là
do đồng USD đã biến động quá mạnh so với các đồng tiền lớn khác trên thế giới chứ không phải do PBOC đổi hướng chính sách Bằng chứng là NDT ở hải ngoại đã biến động không mạnh Phiên hôm trước đó (ngày 28/04/2016) chỉ số Dollar Index
đã giảm 1% sau khi Ngân hàng Trung ương Nhật Bản bất ngờ giữ nguyên chính sách tiền tệ Đồng bạc xanh đã rơi xuống mức thấp nhất kể từ tháng 6/2016 sau khi
Trang 28yên Nhật có phiên tăng giá mạnh nhất trong gần 6 năm và số liệu được công bố ngày 28/4/2016 cho thấy GDP quý I của Mỹ tăng trưởng ở mức thấp nhất trong 2 năm qua
Tuy nhiên sang đến tháng 5/2016, PBOC đã điều chỉnh tỷ giá tham chiếu NDT giảm 0,3% xuống mức 6,5693 NDT đổi lấy 1 USD
Ngày 06/6/2016 Hệ thống Giao dịch ngoại hối Trung Quốc, tỷ giá tham chiếu của đồng NDT đã tăng 296 điểm cơ bản lên 6,5497 NDT đổi 1 USD Đây là mức tăng theo ngày lớn nhất kể từ hôm 29/4 vừa qua, khi tỷ giá tham chiếu tăng
365 điểm cơ bản Theo các chuyên gia cho rằng việc NDT tăng giá chủ yếu do đồng USD yếu trong bối cảnh thị trường cho rằng ít có khả năng Ngân hàng Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất suất sau khi Bộ Lao động Mỹ ngày 03/6/2016 thông báo tỷ lệ việc làm ở Mỹ trong tháng 5 thấp hơn dự kiến
Hình vẽ 1.5: Diễn biến tỷ giá đồng NDT/USD từ 01/2016 -07/2016
Trang 291.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc điều chỉnh tỷ giá
Mặc dù, trong giai đoạn từ năm 2010 – 2014, đồng NDT có chiều hướng tăng giá do áp lực nhằm giảm căng thẳng giữa các quốc gia yêu cầu Trung Quốc nới lỏng kiểm soát tiền tệ với mục tiêu giảm sự mất cân bằng thương mại giữa các quốc gia Nhưng với động thái phá giá đồng nội tệ lên đến 4,6% chỉ trong tháng 08/2015, Trung Quốc đã gây rúng động thị trường tiền tệ nhiều nước trên thế giới Vậy đâu là
lý do khiến nước này quyết định phá giá đồng NDT là gì?
1.2.3.1 Yếu tố trong nước
Một là, hỗ trợ khu vực xuất khẩu (động lực chính của nền kinh tế Trung Quốc từ xưa đến nay) đang có dấu hiệu suy yếu
Một trong số đó là việc xuất khẩu của Trung Quốc đã liên tục suy giảm trong thời gian qua do giá nhân công gia tăng và các nhà đầu tư vào lĩnh vực sản xuất rút vốn khỏi thị trường Trung Quốc
Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) của các ngành sản xuất của Trung Quốc theo thống kê của Ngân hàng HSBC đã đứng thấp dưới mức 50 điểm (thể hiện trạng thái suy thoái) trong tháng thứ 4 liên tiếp, đạt mức 49,2 trong tháng 06/2015 Nhìn vào hình vẽ PMI có thể thấy lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc đang trong trạng thái yếu nhất kể từ đầu năm 2014 trở lại đây
Hình vẽ 1.6: Chỉ số PMI của Trung Quốc giai đoạn 2004 - 2014
Nguồn: Markit, HSBC
Trang 30Mặc dù Trung Quốc vẫn duy trì thặng dư thương mại trong các tháng đầu năm 2015, mức độ thặng dư trong các tháng tiếp theo và gần đây đều có dấu hiệu suy giảm Nguyên nhân trực tiếp do khu vực xuất khẩu suy yếu, xuất khẩu của Trung Quốc giảm sút đáng kinh ngạc và chỉ số giá cả sản xuất tháng 07/2015 chạm mức thấp nhất 6 năm qua Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu trong tháng 07/2015 giảm 8,3% so với cùng kỳ năm trước Như vậy, nền kinh tế Trung Quốc phải đối mặt với
áp lực suy giảm sức cầu tại cả thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu
Bảng 1.1: Cán cân thương mại của Trung Quốc nửa đầu năm 2015
Sang đến tháng 8/2015, cán cân thương mại của Trung Quốc được cải thiện, thặng
dư lên đạt 60 tỷ USD được duy trì liên tiếp trong 3 tháng tiếp theo Đến tháng 11/2015, cán cân thương mại có sụt giảm xuống còn 54 tỷ USD nguyên nhân do nhu cầu nhập khẩu tăng, trong khi xuất khẩu tăng không đáng kể
Trang 31Đơn vị : tỷ USD
Hình vẽ 1.7: Cán cân thương mại của Trung Quốc năm 2015
Nguồn: IMF Trong bối cảnh nền kinh tế Trung Quốc đang giảm tốc mạnh, khi chỉ đạt mức tăng trưởng 6,9% vào năm 2015 thấp nhất trong 25 năm qua, việc hạ tỷ giá đồng nhân dân tệ có thể kích thích hồi phục kinh tế thông qua xuất khẩu là điều dễ hiểu
Đồng nội tệ của các nước đối thủ xuất khẩu của Trung Quốc như đồng Yên của Nhật Bản, đồng Won của Hàn Quốc – hiện đang mất giá so với đồng USD trong khi đồng NDT tương đối ổn định Qủa thực, đồng nội tệ Trung Quốc là đồng tiền diễn biến tốt thứ hai tại các thị trường mới nổi so với USD trong năm 2015 (Đô la Hồng Kông được ghi nhận có diễn biến tốt nhất) Đồng nội tệ suy yếu tương đối đã đem lại cho các đối thủ thương mại của Trung Quốc lợi thế trên thị trường xuất khẩu Bằng việc cho phép đồng NDT hạ giá, Trung Quốc đang hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu của mình nâng cao vị thế cạnh tranh
Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, xuất khẩu chiếm 22% tổng sản phẩm
Trang 32quốc nội (GDP) của Trung Quốc trong năm 2014 Do đó, tăng trưởng xuất khẩu được cải thiện có thể gây tác động lớn tới GDP của nước này
Hai là, biện pháp ổn định lại nền kinh tế trước những biến động lớn
Theo ước tính, có gần 1.000 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài bị rút khỏi thị trường Trung Quốc kể từ năm 2014 đến nay, điều này đang gây ra những hậu quả khá nghiêm trọng Cùng với đó là những hệ lụy khác với nền kinh tế như mức thu ngân sách từ thuế giảm và thất nghiệp gia tăng khi các nhà máy và xưởng sản xuất ngưng hoạt động do các nhà đầu tư rút vốn
Việc dòng vốn đầu tư bị rút ra quá nhiều trong một thời gian ngắn tạo ra những khoảng trống nguy hiểm mà chính phủ Trung Quốc buộc phải tìm cách lấp chỗ trống Việc hạ tỷ giá nhân dân tệ, vì thế được xem là sự chuẩn bị cho động thái lấp các khoảng trống này
Lợi dụng chính bất lợi này giúp Nhân Dân Tệ suy yếu nhằm níu chân những nhà đầu tư đang có ý định ra đi do hạ thấp chi phí sản xuất tạo thêm công ăn việc làm và tăng trưởng kinh tế
Động thái hạ tỷ giá NDT của chính phủ Trung Quốc trước đó, vì thế mang ý nghĩa sự chuẩn bị cho việc thực hiện các chính sách nhằm ổn định hoạt động của nền kinh tế, trước những tác động nghiêm trọng của việc dòng vốn đầu tư nước ngoài bị rút ra quá nhanh, hơn là việc hướng đến một cuộc chiến tỷ giá để hỗ trợ xuất khẩu
Ba là, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đang giảm
Kể từ tháng 4/2015 đến tháng 07/2015, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã giảm liên tiếp từ 43 tỷ USD so với tháng Sáu, xuống 3,65 nghìn tỷ USD Dự trữ hiện nay thấp hơn mức kỷ lục được ghi nhận vào tháng 6/2014 là 343 tỷ USD, mặc
dù vẫn ở mức cao nhất thế giới
Quý II/2015 là quý thứ tư liên tiếp ghi nhận sự suy giảm dự trữ ngoại hối kể
từ mức đỉnh vào năm ngoái PBOC đã buộc phải bán ngoại tệ dự trữ và mua NDT
để giữ cho đồng tiền này ổn định so với đồng USD, phá giá đồng NDT sẽ cho phép Trung Quốc tăng lượng ngoại tệ dự trữ của mình
Trang 33Bốn là, thị trường chứng khoán Trung Quốc đang có sự sụt giảm mạnh
Có thể thấy, Trung Quốc mạnh tay phá giá đồng Nhân dân tệ từ sau khi thị trường chứng khoán nước này sụt giảm mạnh, nhất là từ ngày 13/8/2015 Đến ngày 25/08, chỉ số chứng khoán lớn nhất Trung Quốc là Shanghai Composite tiếp tục lao dốc 7,63% mất thêm 244,94 điểm – là mức giảm tồi tệ nhất trong gần 20 năm qua Trong khi đó, chỉ số chứng khoán thứ hai là Shenzhen Composite cũng mất tới 133,39 điểm, giảm 7,09% chỉ trong ngày 25/08 Nhà đầu tư mất lòng tin và cơn bán tháo cổ phiếu đã xảy ra trên diện rộng Vốn hóa thị trường chứng khoán Trung Quốc ước tính đã "bốc hơi" tới 4.500 tỷ USD kể từ giữa tháng 06/2015 đến nay
Khủng hoảng của thị trường chứng khoán và thông tin xấu về kinh tế Trung Quốc đã khiến giới chuyên gia nghi ngại, chính sách tiền tệ của nước này có thể sẽ phải nới lỏng hơn Được biết, cùng ngày, Ngân hàng PBOC đã bơm 150 tỷ Nhân dân tệ (khoảng 23,4 tỷ USD) vào thị trường nhằm giảm căng thẳng thanh khoản Và động thái này cũng là một trong số những nguyên nhân quan trọng làm hạ giá đồng NDT
1.2.3.2 Yếu tố ngoài nước
Một là, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đang chịu áp lực từ việc phải giảm dần các can thiệp vào tỷ giá của đồng Nhân Dân Tệ, trao thêm sự tự do hóa cho thị trường để quyết định tỷ giá NDT nếu nước này muốn được IMF chấp nhận đưa Nhân Dân Tệ vào rỏ tiền tệ - quyền rút vốn đặc biết SDR
Chuyên trang tài chính của CNN cho rằng, việc nới lỏng tiền tệ theo định hướng thị trường sẽ là đòn bẩy hỗ trợ chiến dịch đưa đồng NDT vào nhóm những đồng tiền mạnh được Tổ chức Tiền tệ Quốc tế (IMF) dùng để định giá tài sản dự trữ Hiện nhóm này gồm có đồng USD, euro, bảng Anh và yên Nhật Một khi lọt vào nhóm tiền này, đồng NDT sẽ có quyền rút vốn đặc biệt (SDR) và được sử dụng thường xuyên hơn trong các hoạt động thanh toán và chuyển khoản quốc tế
Khi mà IMF đang thảo luận với Bắc Kinh về việc đưa đồng tiền này vào rổ tiền tệ quyền rút vốn đặc biệt vừa làm tài sản dự trữ vừa làm cơ sở xác định giá trị các loại tiền tệ khác trên thế giới và muốn vậy thì những đồng tiền được chọn phải
Trang 34là những đồng tiền “mạnh” và có sự tự do hóa tài chính theo cung cầu thị trường
Và Bắc Kinh cũng muốn NDT trở thành một phần của hệ thống SDR này như một
sự khảng định vai trò đang lớn mạnh trong nền kinh tế toàn cầu của Trung Quốc
Hai là, do áp lực cạnh tranh với đồng tiền của các đối thủ mạnh trên thị trường, đồng tiền rẻ hơn sẽ tạo ra lợi thế về xuất khẩu cho Trung Quốc
Giáo sư Cốc Nguyên Dương (Gu Yuanyang), chuyên gia nghiên cứu kinh tế thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc chỉ rõ “Không chỉ Trung Quốc, mà ngay
cả Nhật Bản, các nước EU, các nước Mỹ Latinh và các nước đang phát triển đều điều chỉnh phá giá đồng nội tệ để tăng cường xuất khẩu, thúc đẩy nền kinh tế của nước mình”,
Do đó, Việc liên tục duy trì tỷ giá như cũ giữa đồng Nhân dân tệ và đồng USD sẽ gây khó khăn cho xuất khẩu hàng hoá của Trung Quốc Trong tháng 07/2015, xuất khẩu hàng hoá của nước này giảm tới 8,3% Với việc điều chỉnh làm giảm tỷ giá đồng NDT, Chính phủ Trung Quốc hy vọng sẽ tăng cường xuất khẩu nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra đó là tăng trưởng GDP vào cuối năm đạt 7% Đánh giá chung:
Bảng 1.2: Quá trình điều chỉnh tỷ giá hối đoái của Trung Quốc giai đoạn 2011 – 2016
Thời gian Những điều chỉnh Nguyên nhân điều chỉnh
2005 – 2010
- Ngày 21/7/2005, PBOC tăng tỷ giá NDT thêm 2,1% so với đồng USD
- Tháng 7/2006 NDT tăng thêm 1,4% so với USD
Trong năm 2006, giá trị NDT
đã tăng 3,28% so với USD
- Ngày 7/02/2007, tỷ giá NDT/USD là :7,7496 NDT/USD
- Ngày 22/6/2010 tỷ giá
- Hoàn thiện cơ chế hình thành tỷ giá NDT
- Làm dịu tình trạng mất cân bằng trong cán cân thương mại với các đối tác, mở rộng kích cầu trong nước, tăng sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu
- Xoa dịu sức ép đòi thả nổi đồng Nhân dân tệ của Mỹ và các đối tác
Trang 35hối đoái của NDT so với USD
- 14/04/2012: 0,5% - 1%
- 17/03/2014: 1% - 2%
Đồng thời diễn biến theo hướng thả nổi hai chiều (trước Cải cách cơ chế tỷ giá, tỷ giá hối đoái của Trung Quốc phần lớn biến động theo một chiều tăng hoặc giảm)
- Đây là biện pháp cải cách quan trọng nhằm tăng tính linh hoạt của tỷ giá
- Do tình hình cung cầu ngoại hối – lấy thu chi thế quốc tế làm cơ sở quyết định
08/2015-01/2016
Sau khi Trung Quốc thả nổi
có điều chỉnh biên độ từ ngày 10/8/2015, đồng NDT giảm giá mạnh từ mức 6,1162 NDT/USD xuống còn 6,3969
17/8/2015
Tính đến ngày 11/12/2015, tỷ giá tham chiếu bình quân là 6,4358 NDT/USD
Đến phiên ngày 6/1/2016, giảm còn 6,6915 NDT/USD, mức thấp nhất kể từ quý IV năm 2010
- Hỗ trợ xuất khẩu trong nước đang có dấu hiệu suy giảm
- Mục tiêu quốc tế hóa đồng NDT, đặc biệt là sau khi Quỹ Tiền tệ Quốc
tế (IMF) quyết định đưa đồng NDT vào rổ tiền tệ
“Quyền rút vốn đặc biệt” (SDR) cùng với đồng Đô
la Mỹ (USD), Euro, Bảng Anh và Yên Nhật vào ngày 30/11/2015 (thời hạn
có hiệu lực chính thức từ tháng 10/2016)
02/2016-04/2016 -15/02/2016: 6,5118 NDT đổi Đồng USD biến động
Trang 361 USD
- 29/04/2016: 6,4589 NDT đổi 1 USD
mạnh so với các đồng tiền lớn khác trên thế giới
05/2016 6,5693 NDT đổi 1 USD USD mạnh lên
1.3 Tác động của điều chỉnh tỷ giá của Trung Quốc
NDT giảm giá có thể mang lại những tác động tích cực đối với nền kinh tế Trung Quốc như:
- Khuyến khích xuất khẩu, tăng việc làm, giảm thất nghiệp
- Có lợi cho thu hút đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc nhờ chi phí sản xuất giảm
- NDT giảm giá làm cho khoảng cách giàu nghèo tại Trung Quốc cũng giảm theo Vấn đề này đang gây nhức nhối cho xã hội Trung Quốc Khi đồng NDT giảm giá, tầng lớp trung lưu chiếm khoảng 15% dân số, thường dùng hàng ngoại nhập sẽ phải bỏ ra nhiều chi phí hơn để tiếp tục sử dụng những mặt hàng này Bên cạnh đó,
đa số người nghèo và nông dân, có mức thu nhập trung bình sẽ được hưởng lợi nhờ xuất khẩu tăng, lợi nhuận kỳ vọng của các doanh nghiệp cũng tăng
- Dự trữ ngoại tệ tăng, do xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm, lượng dự trữ ngoại
tệ sẽ tăng tương đối khi NDT tăng giá
- Khuyến khích người nước ngoài đến Trung Quốc du lịch, tăng nguồn thu và tạo việc làm cho người dân Trung Quốc
Bên cạnh đó, việc giảm giá NDT sẽ dẫn đến những tác động tiêu cực sau:
- Hạn chế nhu cầu người tiêu dùng Trung Quốc đối với các sản phẩm nhập khẩu, chi phí về nguyên liệu nhập khẩu tăng do giá cả nhập khẩu sẽ cao hơn trước
- Quan hệ Trung Quốc với các bạn hàng quốc tế chủ yếu sẽ căng thẳng hơn
- Hạn chế các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài, do tài sản của
họ tính bằng USD sẽ giảm một cách tương đối
Trang 37- Nợ nước ngoài tính bằng USD của Trung Quốc sẽ tăng lên
Đối với các ngành, các khu vực kinh tế, đồng NDT tăng giá sẽ tạo ra những tác động trái ngược vì mỗi nghành đều có những chi phí và lợi nhuận khác nhau, nên việc đánh giá tác động của NDT giảm giá có những khác biệt Việc giảm giá có thể làm lợi cho ngành này nhưng lại có thể gây tổn hại cho ngành khác Tác động của NDT giảm giá tới một số ngành kinh tế chủ chốt như sau:
- Đối với thị trường bất động sản: khả năng giảm giá NDT có thể làm cho thị trường bất động sản tại Trung Quốc khởi sắc Nguyên nhân từ trước đến nay lượng vốn nước ngoài sử dụng vào kinh doanh bất động sản chiếm 1/3 tổng lượng vốn nước ngoài vào Trung Quốc Điều này dẫn đến tình trạng giá nhà đất trong những năm trướctăng cao, đặc biệt tại các thành phố Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu… đây là tình trạng bong bóng bất động sản tại Trung Quốc Việc đổ vỡ bong bóng này đã làm cho thị trường bất động sản tại Trung Quốc đi xuống và kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
- Đối với các ngành như công nghiệp lắp ráp, điện tử và các công nghiệp khác, NDT giảm giá có nghĩa là kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng, nhưng đồng thời chi phí nhập khẩu các linh kiện và thiết bị máy móc cũng tăng Vì vậy việc giảm giá NDT có lợi hay không còn phụ thuộc vào nguồn cung hàng nhập khẩu trong nước
- Đối với ngành ngành may mặc: khi NDT giảm giá, ngành dệt may sẽ là ngành được hưởng lợi Theo ước tính bản đầu, khi đồng NDT giảm giá thêm 1% mỗi phân ngành trong ngành dệt may sẽ tăng lợi nhuận từ xuất khẩu, trong đó ngành bông vải tăng 12%, ngành len sợi tăng 8% và ngành may mặc tăng 13%
- Đối với các ngành nguyên nhiên liệu như dầu mỏ, khí tự nhiên, thép, nhôm, đồng và các nguyên liệu thô thiết yếu khác sẽ có lợi khi NDT giảm giá
Trang 381.3.1 Tác động của điều chỉnh tỷ giá của Trung Quốc tới hoạt động xuất nhập khẩu Trung Quốc
1.3.1.1 Tình hình xuất nhập khẩu của Trung Quốc trong những năm qua
Với việc thực hiện cải cách mở cửa đã tạo điều kiện cho Trung Quốc hòa nhập vào cộng đồng quốc tế, thúc đẩy công cuộc hiện đại hóa kinh tế một cách mạnh mẽ Nổi bật nhất là các hoạt động kinh tế đối ngoại của Trung Quốc ngày càng phát triển mạnh với quy mô ngày càng mở rộng
Về kim ngạch xuất nhập khẩu Trung Quốc :
Năm 2008, do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế, ngoại thương Trung Quốc liên tục giảm mạnh từ tháng 11/2008 đến tháng 2.2009 Trong năm 2010, ngoại thương Trung Quốc đã khôi phục lại mức trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính quốc tế Tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu Trung Quốc trong năm 2010 đạt mức 222,3 tỷ USD vượt qua mức 2561 tỷ USD năm 2008 là năm có kết quả tốt nhất trong lịch sử ngoại thương Trung Quốc
Trong năm 2011, kinh tế thế giới gặp khó khăn do khủng hoảng nên thặng dư thương mại của Trung Quốc giảm xuống còn 180,8 tỷ USD
Theo Tổng cục Thuế Trung Quốc, trong năm 2012, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc có xu hướng tăng trưởng trở lại 231,8 tỷ USD
Theo công bố của Tổng cục Hải quan Trung Quốc số liê ̣u xuất nhâ ̣p khẩu năm 2015 của Trung Quốc Số liê ̣u cho thấy , tổng kim nga ̣ch xuất nhâ ̣p khẩu hàng hoá của Trung Quốc trong năm 2015 đa ̣t 24.590 tỷ Nhân dân tệ , giảm 7% so với năm 2014 Trong 7 tháng đầu năm 2015, xuất khẩu từ Trung Quốc sang Liên minh châu Âu (EU) giảm 2,5% so với cùng thời gian năm ngoái, trong khi xuất sang Nhật Bản giảm 10,5% Điểm sáng duy nhất là xuất khẩu sang Mỹ tăng 9,3% so với năm
2014 Bên cạnh xuất khẩu, nhập khẩu của Trung Quốc cũng giảm mạnh trong tháng
7, chủ yếu bởi xu hướng tụt dốc của giá cả các loại hàng hóa Trong tháng 7, nhập khẩu hàng hóa cũng giảm 8,1%, so với mức giảm 6,6% trong tháng 6; đưa thặng dư thương mại về mức 43 tỷ USD
Trang 39Chúng ta có thể theo dõi tình hình tăng trưởng của hoạt động xuất nhập khẩu Trung Quốc qua biểu đổ sau:
Đơn vị : tỷ USD
Hình 1.8: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc
từ năm 2011- 2015
Nguồn: World Bank
Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu:
Trong giai đoạn đầu, xuất khẩu hàng hóa chủ yếu dựa vào các sản phẩm công nghiệp và nói chung là hàng thấp cấp, về sau, xuất khẩu dựa nhiều vào thành phẩm công nghiệp và chế tạo Tỷ lệ hàng chế tạo xuất khẩu (giá trị hàng chế tạo/ tổng xuất khẩu) là 50% năm 1980 và 49% năm 1986 tăng lên 89% năm 1998 Trước năm 1987, nhiên liệu khoáng sản và đặc biệt là xăng dầu là những sản phẩm chính còn từ năm 1986, mặt hàng này đã được thay thế bằng xuất khẩu máy móc và linh kiện Mặt hàng cơ điện xuất khẩu trị giá 64,5 tỷ USD, chiếm 39,5% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó sản phẩm máy móc thiết bị viễn thông, thiết bị nhỏ đồng bộ đang dần trở thành những sản phẩm xuất khẩu quan trọng của Trung Quốc Những
Cán cân thương mại
Trang 40sản phẩm sơ cấp không phù hợp với nhu cầu thị trường quốc tế nhanh chóng giảm bớt
Về cơ cấu hàng nhập khẩu:
Với kế hoạch phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu, Trung Quốc tập trung nhập khẩu những thiết bị quan trọng, phụ tùng tiên tiến, công nghệ cao phục vụ cho sản xuất xuất khẩu Bên cạnh đó, một phần lớn hàng gia công nhập khẩu của Trung Quốc là hàng trung gian (như hóa chất, linh kiện điện tử, thiết bị dệt) được dùng để sản xuất ra các sản phẩm tại Trung Quốc, một số mặt hàng được tái xuất sang nước khác Sản phẩm gia công của Trung Quốc chiếm vị trí lớn nhất trong nền thương mại Trung Quốc
1.3.1.2 Tác động của chính sách tỷ giá đến hoạt động xuất nhập khẩu Trung
Quốc
Tác động của thay đổi tỷ giá đến nhập khẩu được thực hiện thông qua giá cả Khi đồng nội tệ giảm giá, giá xuất khẩu sẽ giảm Nếu nhu cầu của thị trường nước ngoài bị ảnh hưởng bởi giá xuất khẩu (độ co giãn với giá cao) thì xuất khẩu sẽ tăng Tác động nhập khẩu sẽ đi theo chiều hướng ngược lại Vì vậy, khi đồng bản tệ giảm giá, xuất khẩu sẽ tăng và nhập khẩu sẽ giảm nếu hàng hóa đó có độ co giãn cao với giá nếu như tổng độ co giãn theo giá của xuất khẩu và nhập khẩu (theo giá trị tuyệt đối) lớn hơn 1 được thỏa mãn
Ảnh hưởng của việc phá giá đồng Nhân dân tệ 10% đến xuất khẩu Trung Quốc:
Bảng 1.3: Ảnh hưởng của tỷ giá NDT đến hoạt động xuất khẩu một số nước