MỤC LỤC Danh mục chữ viết tắt Danh mục bảng biểu Tóm tắt luận văn LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 5 1 1 LÝ LUẬN[.]
Trang 1MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Tóm tắt luận văn
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 5
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 5
1.1.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái 5
1.1.2 Phân loại tỷ giá hối đoái 7
1.1.2.1 Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối 7
1.1.2.2 Căn cứ cơ chế điều hành chính sách tỷ giá 8
1.1.2.3 Căn cứ mức độ ảnh hưởng lên cán cân thương mại 9
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái 10
1.1.3.1 Cán cân thanh toán 10
1.1.3.2 Lạm phát và sức mua 11
1.1.3.3 Lãi suất và lợi tức dự tính 12
1.1.3.4 Thuế quan và hạn ngạch 13
1.1.3.5 Yếu tố tâm lý 13
1.1.3.6 Các nhân tố khác 14
1.1.4 Cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái 15
1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 18
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TÁC ĐỘNG TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC 21
2.1 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC 21
2.1.1 Những kết quả đạt được 21
2.1.2 Những hạn chế và nguyên nhân 30
Trang 22.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP
CHỦ LỰC CỦA TỈNH VĨNH PHÚC 33
2.2.1 Nhóm ngành dệt may 33
2.2.2 Nhóm ngành nông nghiệp 36
2.2.3 Nhóm ngành cơ khí 38
2.3 ĐÁNH GIÁ VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ TỚI XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC 39
2.3.1 Diễn biến tỷ giá và chính sách tỷ giá 39
2.3.2 Tác động của tỷ giá đến hoạt động XK của các doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc 46
2.3.3 Kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại 52
2.3.3.1 Kết quả đạt được 52
2.3.3.2 Hạn chế 53
2.3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 53
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI NHẰM TĂNG CƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY 55
3.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU XUẤT KHẨU CỦA TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2011-2015 55
3.1.1 Tình hình chung 55
3.1.2 Phương hướng, mục tiêu 55
3.2 GIẢI PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI NHẰM TĂNG CƯỜNG XUẤT KHẨU Ở VĨNH PHÚC HIỆN NAY 56
3.2.1 Thực hiện đa dạng hoá đồng tiền thanh toán 56
3.2.2 Sử dụng công cụ bảo hiểm rủi ro tỷ giá 59
3.2.3 Dựa vào hiệp hội để đàm phán với đối tác 62
3.2.4 Thành lập bộ phận nghiên cứu về tỷ giá hối đoái 64
3.2.5 Nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ làm công tác kinh doanh 65
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 66
Trang 33.3.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 66
3.3.1.1 Duy trì chính sách tỷ giá linh hoạt nhưng ổn định 66
3.3.1.2 Xác lập một tỷ giá hối đoái của VND có tính chất cạnh tranh nhằm khuyến khích xuất khẩu 67
3.3.1.3 Hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng trong việc thực thi chính sách tỷ giá 69
3.3.2 Đối với cơ quan chức năng của Tỉnh Vĩnh Phúc 72
3.3.3 Đối với các Ngân hàng thương mại 73
3.3.3.1 Phản ánh trung thực, kịp thời các thông tin về việc thực hiện chính sách tỷ giá của Ngân hàng nhà nước 73
3.3.3.2 Tổ chức thực hiện tốt công tác phân tích, dự đoán tỷ giá 73
3.3.3.3 Trang bị các điều kiện về thông tin, thanh toán 74
3.3.3.4 Mở rộng các hình thức tài trợ, dịch vụ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu 74
3.3.3.5 Nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ của cán bộ 74
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 Bảng chữ viết tắt tiếng Việt
Trang 52 Bảng chữ viết tắt tiếng Anh
1 AFTA Asean Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do Asean
2 ASEAN Association of Southeast
Asia
Khu vực Đông Nam Á
3 BIDV Bank for investment and
development of VietNam
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
6 Eximbank VietNam Export and
Import Bank
Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam
7 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
8 FIE Foreign Invested enterprise Doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài
10 RER Real Exchange Rate Tỷ giá hối đoái thực
11 SOE State owned enterprise Doanh nghiệp nhà nước
13 USD United States dollar Đồng đô la Mỹ
14 VAT Value added tax Thuế giá trị gia tăng
15 Vietcombank Joint stock commercial
bank for foreign trade of VietNam
Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam
16 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại Thế giới
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Các mặt hàng XK chủ yếu của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn
2000-2004 23
Bảng 2.2: Các mặt hàng XK chủ yếu của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005-2009 25
Bảng 2.3: Tỉ lệ đóng góp của các loại hình doanh nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong tổng giá trị xuất khẩu 26
Bảng 2.4: Kim ngạch XK của Công ty TNHH DAEWOO APPREL Việt Nam giai đoạn 2005-2009 35
Bảng 2.5: Kim ngạch XK của Công ty TNHH Vina Korea giai đoạn 2005-2009 35
Bảng 2.6: Kim ngạch XK của Công ty TNHH Thế Hệ Mới Vĩnh Phúc giai đoạn 2005-2009 38
Bảng 2.7: Kim ngạch XK của Công ty Honda Việt Nam giai đoạn 2005-2009 39
Bảng 2.8: Diễn biến tỷ giá 2000 – 2006 43
Bảng 2.9: Tổng kết diễn biến của tỷ giá và xuất khẩu của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005-2009 48
Bảng 3.1: Chỉ tiêu xuất khẩu của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2010-2015 56
Biểu 2.1: Diễn biến tỷ giá từ năm 1999 đến 2003 41
Biểu 2.2: Diễn biến tỷ giá USD/VND năm 2008 44
Biểu 2.3 : Tỷ giá USD/VND 2008 - 2009 45
Biểu 2.4: Biểu đồ diễn biến của tỷ giá và xuất khẩu của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1999-2009 và dự báo năm 2010 49
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tỷ giá hối đoái luôn là một vấn đề nóng hổi đối với mọi nền kinh tế Ngày nay, khi nền kinh tế của mỗi quốc gia và quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng được mở rộng thì vai trò của tỷ giá ngày càng được nâng cao Tỷ giá hối đoái có sự tác động trực tiếp tới cán cân thanh toán của một nước, mà trước hết là tác động tới những thay đổi trong cán cân thương mại Cán cân thương mại của một nước có thể xấu đi hay tốt lên là do những thay đổi của tỷ giá Không những thế, thông qua những thay đổi của cán cân thương mại, cán cân thanh toán, tỷ giá hối đoái còn là một công cụ quan trọng của chính sách tiền
tệ ảnh hưởng đến chính sách tài chính và các chính sách vĩ mô khác…
Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn phát triển kinh tế và từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới Việc phát triển các mối quan hệ kinh tế – thương mại với tất cả các nước trên thế giới được coi là một trong những nội dung quan trọng của chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế của Việt Nam Thông qua hoạt động XNK và một chính sách tỷ giá hối đoái hợp lý có thể thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng Tuy nhiên, không phải lúc nào tỷ giá thay đổi cũng dẫn đến sự thay đổi tương ứng trong cán cân thương mại và cán cân thanh toán mà đôi khi nó lại tác động ngược lại với những gì lý thuyết đã chỉ
ra
Trong những năm vừa qua, Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh có tốc
độ tăng trưởng kinh tế hàng đầu cả nước Xuất khẩu của tỉnh tuy có tỷ trọng thấp so với kim ngạch xuất khẩu của cả nước nhưng lại có đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của tỉnh Các doanh nghiệp xuất khẩu trong tỉnh Vĩnh Phúc luôn nỗ lực hết mình, tìm mọi biện pháp để đẩy mạnh xuất khẩu mà trong đó tỷ giá là một nhân tố được quan tâm đặc biệt Để làm rõ được thực tế tác động của tỷ giá hối đoái đến hoạt động XK, cụ thể là tỷ giá
Trang 8hối đoái giữa Đô la Mỹ và Đồng Việt Nam thời gian qua, đề tài “Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc” đã được lựa chọn để nghiên cứu
Luận án tiến sỹ kinh tế “Tỷ giá hối đoái: Chính sách và tác động của
nó tới hoạt động ngoại thương” của Nguyễn Thị Thư - Học viện Ngân hàng
năm 2002 Công trình này tập trung nghiên cứu chuyên sâu các chính sách tiền tệ, tỷ giá như là một chính sách kinh tế vĩ mô nhằm thực hiện các mục tiêu chung của nền kinh tế
Gần đây nhất (2008) là có đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Phân tích ảnh hưởng của sự biến động tỷ giá ngoại tệ (đồng USD, EUR) đối với xuất khẩu của Việt Nam”- Chủ nhiệm đề tài là Nguyễn Thị Quy Đề tài đã
luận giải khá rõ khái niệm về tỷ giá hối đoái, các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái đối với hoạt động xuất khẩu qua cách thức lựa chọn cơ chế tỷ giá của Chính phủ và phân tích khá sâu sắc tác động của tỷ giá hối đoái tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam qua các thời kỳ, từ đó rút ra được 6 bài học kinh nghiệm trong việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái cho Việt Nam rất cần thiết, quý giá và khá toàn diện Đề tài có ý nghĩa nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, là tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác nghiên cứu, đào
Trang 9tạo về thị trường ngoại hối, về chính sách tiền tệ, về mối quan hệ tác động qua lại giữa sự biến động tỷ giá và hoạt động xuất khẩu và nhất là cho công tác quản lý Nhà nước trong điều kiện hội nhập KTQT
Ở nước ngoài rất nhiều các tác phẩm nổi tiếng thế giới viết về tỷ giá như: Differential Responses to Price and Exchange Rate Influences in the Foreign Trade of Selected Industrial Countries của Wilson và Takacs, Price Competiveness in Export Trade among Industrial Countries của Junz và Rhomberg, Impact of the Exchange Rate on Export Volumes của Smith… Các tác phẩm này đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tỷ giá và trình bày quan điểm ủng hộ tác động tích cực của tỷ giá hối đoái đối với xuất khẩu
Ngoài ra còn rất nhiều công trình khoa học khác đề cập đến vấn đề tỷ giá luôn mới, luôn ‘nóng bỏng’ nhưng cho đến nay chưa có một bài viết nào
đề cập đến tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến xuất khẩu của một tỉnh như Vĩnh Phúc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam với đôla Mỹ đến xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1999-2009
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tỷ giá VND/USD (không xem xét tỷ giá giữa VND và các ngoại tệ khác) ảnh hưởng đến xuất khẩu của các DN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1999-2009
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp thu thập số liệu, khảo sát thực
tế, thống kê, phân tích, tổng hợp
Nguồn thông tin sử dụng trong đề tài được lấy từ: Tổng cục thống kê,
Bộ công thương, Ngân hàng nhà nước, Sở Công Thương Vĩnh Phúc, Các
Trang 10doanh nghiệp xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, và các tạp chí chuyên ngành
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tỷ giá hối đoái và ảnh hưởng của
tỷ giá hối đoái tới hoạt động xuất khẩu
Chương 2: Phân tích ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái tới hoạt động xuất
khẩu của các doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Một số giải pháp liên quan đến tỷ giá hối đoái nhằm tăng
cường hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TỚI
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1.1.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là một vấn đề phức tạp, là một trong những công cụ cơ bản của Nhà nước trong quản lý và điều hành vĩ mô, nó đang là một chủ đề được tranh luận nhiều và sôi nổi vào bậc nhất của kinh tế học Cho đến nay,
đã có rất nhiều lý thuyết giải thích sự hình thành và dự đoán sự biến động của
tỷ giá Tuy nhiên, trong khi nhiều chủ đề của kinh tế học vĩ mô đã đạt được sự nhất trí cao của các nhà kinh tế học thì vẫn còn rất nhiều tranh cãi xoay quanh chủ đề tỷ giá hối đoái nhưng chưa có một lý thuyết hoàn chỉnh về tỷ giá hối đoái Sự chưa hoàn chỉnh của các lý thuyết về xác định tỷ giá hối đoái là do việc phân tích xuất phát từ những thị trường đơn lẻ như thị trường hàng hoá, thị trường tiền tệ, thị trường vốn, trong xác định tỷ giá hối đoái Trong khi
đó tỷ giá lại chịu tác động qua lại của nhiều yếu tố với các mức độ khác nhau:
từ các yếu tố thực, có thể đo lường được đến các yếu tố tâm lý, kỳ vọng Hơn nữa, bản thân các yếu tố này lại có tác động qua lại lẫn nhau và chịu tác động trở lại của tỷ giá trong một khuôn khổ biến động
Do vậy, có rất nhiều nhà kinh tế đưa ra những khái niệm khác nhau về
tỷ giá hối đoái như: i) Samuelson (nhà kinh tế học người Mỹ) cho rằng: Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ đổi tiền của một nước lấy tiền của một nước khác; ii) Slatyer - nhà kinh tế người Úc, trong một cuốn sách thị trường ngoại hối, cho rằng: Một đồng tiền của một nước nào đó thì bằng giá trị của một số lượng đồng tiền nước khác; iii) Christopher Pass và Bryan Lowes, người Anh trong
Trang 12Từ điển Kinh tế học xuất bản lần thứ hai, cho rằng: Tỷ giá hối đoái là giá của một loại tiền tệ được biểu hiện qua giá một tiền tệ khác
Các khái niệm trên đây đều phản ánh một số khía cạnh khác nhau của
tỷ giá hối đoái Để thống nhất với các nội dung ở phần sau, cần đưa ra một khái niệm tổng quát; Tỷ giá hối đoái là giá cả của đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác
Về bản chất, tỷ giá hối đoái là một loại giá cả Do đó, cũng giống như các loại giá cả khác trong nền kinh tế, tỷ giá được xác định bởi quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường mà ở đó ngoại hối được trao đổi, mua và bán, qua
đó tỷ giá hối đoái được xác định và được gọi là thị trường ngoại hối Các tác nhân hoạt động chủ yếu trên thị trường hoại hối là Ngân hàng Trung ương, các Ngân hàng thương mại, các định chế tài chính phi ngân hàng và các công
ty Trên thực tế, với sự phát triển và hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế toàn cầu, đã hình thành một mạng lưới thị trường ngoại hối trên phạm
vi toàn cầu Các thị trường được kết nối với nhau bởi hệ thống thông tin liên lạc và nhờ đó thị trường ngoại hối toàn cầu hoạt động suốt ngày đêm, đảm bảo không có sự chênh lệch lớn về tỷ giá của các đồng tiền ở các địa điểm khác nhau trên thế giới
Các loại tỷ giá được sử dụng trong giao dịch gồm tỷ giá giao ngay (spot rate) và tỷ giá kỳ hạn (forward rate) Tỷ giá giao ngay được áp dụng khi giao dịch ngoại hối được thực hiện ngay lập tức Trong trường hợp số ngày có giá trị của giao dịch ngoại hối là 30, 90,180 ngày hoặc lâu hơn thì tỷ giá đó là tỷ giá kỳ hạn Tỷ giá có thể được yết giá theo phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp Khi được yết theo phương pháp gián tiếp có nghĩa là giá một đồng nội tệ bằng bao nhiêu đồng ngoại tệ Dưới hình thức này thì sự tăng lên của tỷ giá có nghĩa là đồng nội tệ lên giá Hoặc tỷ giá có thể được yết giá theo phương pháp trực tiếp, giá đồng ngoại tệ tính theo nội tệ và do đó sự tăng lên của tỷ giá có
Trang 13nghĩa là đồng nội tệ xuống giá Cách yết giá thứ hai được sử dụng trong cuốn sách này bởi sự thông dụng của nó
Tỷ giá hối đoái nói trên được gọi là tỷ giá hối đoái danh nghĩa Trong kinh tế học, người ta còn sử dụng một số định nghĩa khác về tỷ giá hối đoái Một khái niệm về tỷ giá hối đoái khác được phổ biến là tỷ giá hối đoái thực (RER- Real Exchange Rate) Tỷ giá hối đoái thực được hiểu theo hai cách được xác định trong mối tương quan với một bạn hàng thương mại hoặc với tất cả các bạn hàng thương mại Trong trường hợp thứ nhất, tỷ giá tỷ giá hối đoái thực xác định được gọi là tỷ giá hối đoái thực song phương (BRER) Trong trường hợp thứ hai, khi tỷ giá hối đoái thực được xác định trong tương quan với tất cả các bạn hàng thương mại thì được gọi là tỷ giá hối đoái thực
đa phương, hay còn gọi là tỷ giá hối đoái hiệu quả thực (REER)
1.1.2 Phân loại tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái có nhiều loại và được phân loại dựa trên các căn cứ sau:
1.1.2.1 Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối
1 Tỷ giá mua vào - Bid Rate: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn
sàng mua vào đồng tiền yết giá
2 Tỷ giá bán ra - Ask (or Offer) Rate: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng
yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá
3 Tỷ giá giao ngay - Spot Rate: Là tỷ giá được thoả thuận hôm
nay,nhưng việc thanh toán xảy ra trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo (nếu không có thoả thuận khác thì thường là ngày làm việc thứ hai)
4 Tỷ giá kỳ hạn - Forward Rate: Là tỷ giá được thoả thuận ngày hôm
nay, nhưng việc thanh toán xảy ra sau đó từ ba ngày làm việc trở lên
5 Tỷ giá mở cửa - Opening Rate: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao
dịch đầu tiên trong ngày
6 Tỷ giá đóng cửa - Closing Rate: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng cuối
Trang 14cùng được giao dịch trong ngày Thông thường, ngân hàng không công bố tỷ giá của tất cả các hợp đồng đã được ký kết trong ngày, mà chỉ công bố tỷ giá đóng cửa Tỷ giá đóng cửa là một chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động tỷ giá trong ngày Tỷ giá đóng cửa hôm nay không nhất thiết phải là tỷ giá mở cửa ngày hôm sau nhưng nó là cơ sở quan trọng giúp NHNN xác định tỷ giá của phiên giao dịch đầu tiên ngày hôm sau
7 Tỷ giá chéo - Crosed Rate: Là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra
từ đồng tiền thứ ba (còn gọi là đồng tiền trung gian)
8 Tỷ giá chuyển khoản - Transfer Rate: Tỷ giá chuyển khoản áp dụng
cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là các khoản tiền gửi tại ngân hàng
9 Tỷ giá tiền mặt - Bank Note Rate: Tỷ giá tiền mặt áp dụng cho ngoại
tệ tiền kim loại, tiền giấy, séc du lịch và thẻ tín dụng Thông thường, tỷ giá mua tiền mặt thấp hơn và tỷ giá bán tiền mặt cao hơn so với tỷ giá chuyển khoản
10 Tỷ giá điện hối: Là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện Ngày nay,
do ngoại hối được chuyển chủ yếu là bằng điện nên tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng là tỷ giá điện hối
11 Tỷ giá thư hối: Là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư (không phổ
biến)
1.1.2.2 Căn cứ cơ chế điều hành chính sách tỷ giá
1 Tỷ giá chính thức - Official Rate (ở Việt Nam ngày nay là tỷ giá giao
dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng): Là tỷ giá do NHNN công bố, nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ Tỷ giá chính thức được áp dụng để tính thuế xuất nhập khẩu và một số hoạt động khác liên quan đến tỷ giá chính thức Ngoài ra, ở Việt Nam tỷ giá chính thức còn là cơ sở để các NHTM xác định tỷ giá kinh doanh trong biên độ cho phép
2 Tỷ giá chợ đen - Black Market Rate: Là tỷ giá được hình thành bên
Trang 15ngoài hệ thống ngân hàng, do quan hệ cung cầu trên thị trường chợ đen quyết định
3 Tỷ giá cố định - Fixed Rate: Là tỷ giá do NHTW công bố cố định
trong một biên độ dao động hẹp Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duy trì tỷ giá cố định, buộc NHTW phải thường xuyên can thiệp, do đó làm cho
dự trữ ngoại hối quốc gia thay đổi
4 Tỷ giá thả nổi hoàn toàn - Freely Floating Rate: Là tỷ giá được hình
thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu trên thị trường, NHTW không hề can thiệp
5 Tỷ giá thả nổi có điều tiết - Managed Floating Rate: Là tỷ giá được
thả nổi, nhưng NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế
1.1.2.3 Căn cứ mức độ ảnh hưởng lên cán cân thương mại
1 Tỷ giá danh nghĩa song phương: Là tỷ lệ trao đổi số tuyệt đối giữa
hai đồng tiền, ví dụ, tỷ giá giao dịch trên thị trường ngoại hối Việt Nam là 1USD = 15.500 VND, tại Tokyo là 1 USD = 123,21 JPY, tại Châu Âu là 1EUR = 1,1679 USD
Như vậy, tỷ giá danh nghĩa song phương chính là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hoá giữa chúng, do đó, khi tỷ giá danh nghĩa thay đổi không nhất thiết phải tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá
2 Tỷ giá thực song phương (bilateral real exchange rate): Là tỷ giá
được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước và ở nước ngoài, do đó, nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ
3 Tỷ giá danh nghĩa trung bình (nominal effective exchange rate - NEER): NEER phản ánh sự thay đổi giá trị của một đồng tiền đối với tất cả
Trang 16các đồng tiền còn lại (hay một rổ các đồng tiền)
4 Tỷ giá thực trung bình (real effective exchange rate - REER): Để biết
được tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại ta phải dùng đến khái niệm tỷ giá thực trung bình REER được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đa biên đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước và
ở tất cả các nước còn lại, do đó, nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
Theo khái niệm ở trên, tỷ giá là một phạm trù chịu sự chi phối của quy luật cung – cầu, cụ thể ở đây là quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối Bất cứ một nhân tố nào gây ảnh hưởng tới cung, cầu ngoại tệ đều có tác động
ít nhiều đến tỷ giá Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái bao gồm:
1.1.3.1 Cán cân thanh toán
Cán cân thanh toán là bảng cân đối ghi lại các khoản thu nhập và chi trả của một quốc gia, phản ánh tất cả các luồng ngoại tệ vào và ra Vì vậy, tình trạng cán cân thanh toán có ảnh hưởng lớn đến cung – cầu ngoại tệ, trực tiếp tác động đến tỷ giá hối đoái Cán cân thanh toán thường dư thể hiện nguồn thu hay luồng ngoại tệ vào nhiều hơn nguồn ngoại tệ phải trả hay luồng ra sẽ
là một điều kiện chắc chắn tăng cung ngoại tệ, hỗ trợ giá trị đồng bản tệ và giảm tỷ giá hối đoái Ngược lại, trong trường hợp cán cân thanh toán thiếu hụt, cầu ngoại tệ để đáp ứng chi trả tăng, tỷ giá hối đoái sẽ chịu sức ép tăng giá và làm giảm giá trị đồng bản tệ
Cán cân thương mại là cán cân thể hiện đầy đủ thực trạng của nền kinh
tế thông qua XK và nhu cầu ngoại tệ thực trả cho NK Tình trạng của cán cân thương mại có ảnh hưởng lớn nhất đến tỷ giá hối đoái Dựa trên cơ sở cán cân thương mại và chính sách vĩ mô có thể dự đoán được xu hướng, diễn biến của
tỷ giá hối đoái Ví dụ, một quốc gia có cán cân thương mại bị thâm hụt, thường
Trang 17có những chính sách hỗ trợ XK và kiềm chế NK để giảm bớt mức thâm hụt Thâm hụt cán cân thương mại gây sức ép tăng tỷ giá hối đoái và các nhà làm chính sách có thể sử dụng chính sách giảm giá đồng bản tệ để hỗ trợ XK
Thực trạng cán cân vốn thể hiện các luồng vốn đầu tư, vay trả nợ, viện trợ cũng là những cơ sở để dự báo diễn biến của tỷ giá hối đoái Nước nào đang ở giai đoạn thu hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh thông qua các chính sách tạo môi trường khuyến khích đầu tư thường tăng cung ngoại tệ, trong khi quốc gia nào đang đứng trước giai đoạn phải thanh toán nợ hoặc chịu sức ép đầu tư ra nước ngoài có thể chịu ảnh hưởng tăng cầu ngoại tệ Các luồng chuyển tiền tư nhân cũng gây ảnh hưởng tức thời đến tỷ giá Ví dụ, nguồn kiều hối chuyển vào Việt Nam trong dịp tết thường tăng đột biến, làm tăng cung USD, tác động làm giảm tỷ giá
1.1.3.2 Lạm phát và sức mua
Lạm phát là yếu tố quan trọng, tác động trực tiếp đến sức mua của đồng tiền một nước Do mức lạm phát và đối sách của mỗi Chính phủ đối với lạm phát khác nhau nên đứng dưới góc độ sức mua của tiền tệ, mỗi đồng tiền có mức biến thiên khác nhau về giá trị Quan hệ về tỷ lệ lạm phát trực tiếp ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái Giả sử, trong 1 năm nước A có mức lạm phát không thay đổi, trong khi nước B có mức lạm phát 100% thì theo quy luật một giá và thuyết ngang giá sức mua, nếu đầu năm tỷ giá giữa đồng tiền A và
B là 1/1 thì cuối năm tỷ giá sẽ là 1/2 (một đồng tiền nước A ăn hai đồng tiền nước B) Giả thuyết mức lạm phát của một nước không thay đổi thực tế là không có cơ sở Do vậy, tỷ giá hối đoái sẽ phụ thuộc chủ yếu vào chênh lệch
tỷ lệ lạm phát giữa hai nước Thông thường nước nào có mức lạm phát lớn hơn thì sức mua đối nội của đồng tiền nước đó giảm nhiều hơn và đồng tiền nước đó sẽ giảm giá so với đồng tiền nước kia
Quan điểm của Chính phủ đối với vấn đề lạm phát cũng gián tiếp ảnh
Trang 18hưởng đến cung – cầu ngoại tệ Quyết tâm theo đuổi mục tiêu kiềm chế lạm phát sẽ là một đảm bảo vững chắc cho giá trị đồng nội tệ, ổn định tỷ giá hối đoái Ngược lại, mục tiêu kiềm chế lạm phát không có tính cấp bách mà thay vào đó là chính sách tăng trưởng kinh tế hướng ngoại, tăng cường XK có nhiều khả năng sẽ “kêu gọi” Chính phủ cho phép một mức tỷ giá mềm dẻo và
có lợi cho XK hơn
1.1.3.3 Lãi suất và lợi tức dự tính
Trong điều kiện thực hiện cơ chế tự do về quản lý ngoại hối, lưu thông các luồng vốn giữa các quốc gia không bị cản trở thì lãi suất, hay nói cụ thể hơn là mức chênh lệch lãi suất giữa hai quốc gia sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá hối đoái Nước nào có mức lãi suất ngắn hạn cao hơn sẽ thu hút các luồng vốn ngắn hạn vào, tăng cung ngoại hối và có tác động làm giảm tỷ giá hối đoái, ngược lại nước nào có lãi suất thấp sẽ có xu hướng tăng tỷ giá hối đoái, do nhu cầu chuyển ngoại hối ra đầu tư vào nước có lãi suất cao hơn sẽ làm tăng cầu ngoại hối, gây tác động làm tăng tỷ giá hối đoái
Giả sử trong điều kiện lạm phát không thay đổi, tỷ giá giữa đồng A và đồng B là: A/B = E
Lãi suất tiền gửi 1 năm của đồng A là: ia
Lãi suất tiền gửi 1 năm của đồng B là: ib
Nếu người gửi tiền gửi bằng đồng A, sau 1 năm sẽ được:
A + A*ia = A*(1+ia) Nếu đổi ra đồng B và gửi theo lãi suất của đồng B sẽ được:
B*E + B*E*ib = B*E*(1+ib) Sau một năm mức tỷ giá cân bằng sẽ là:
A/B = E = A*(1+ia)/B*E*(1+ib) Như vậy, nếu lãi suất ia tăng lên trong khi lãi suất ib không đổi thì mức
tỷ giá sẽ tăng lên, hay đồng B lên giá so với đồng A Và nếu lãi suất ib tăng
Trang 19lên trong khi lãi suất ia không đổi thì tỷ giá E sẽ giảm hay đồng A lên giá so với đồng B
Trên thực tế, chênh lệch lãi suất không phải lúc nào cũng gây tác động đến luồng luân chuyển của các đồng tiền và tỷ giá hối đoái Yếu tố chính tác động đến các quyết định đầu tư là tình hình kinh tế, chính trị ổn định của mỗi quốc gia Trong bối cảnh lạm phát cao, chính trị bất ổn, thì việc đơn phương tăng lãi suất ngắn hạn của một quốc gia không thể khẳng định là sẽ thu hút được nhiều luồng ngoại hối mà đôi khi còn tạo ra nhu cầu chuyển ngoại hối ra nước ngoài để đảm bảo rủi ro và giá trị tài sản
1.1.3.4 Thuế quan và hạn ngạch
Chính sách thuế quan và hạn ngạch đối với hàng hoá XNK gián tiếp gây ảnh hưởng đến cung – cầu ngoại hối giữa các đồng tiền Giả sử Mỹ áp dụng thuế hoặc hạn ngạch đối với thép NK từ Nhật Bản, điều này khiến thép
Mỹ được bán với giá thấp hơn thép Nhật, cầu thép Mỹ tăng, USD có xu hướng lên giá vì thép Mỹ vẫn tiếp tục được bán tốt ngay cả khi USD lên giá Như vậy, thuế quan và hạn ngạch về lâu dài làm đồng tiền của một nước lên giá
1.1.3.5 Yếu tố tâm lý
Các yếu tố tâm lý thường gây ra những tác động ngắn hạn và tức thời tới tỷ giá hối đoái trên thị trường Tin tức, phỏng đoán, bình luận của thị trường thông qua các phương tiện thông tin đại chúng dẫn đến những hoạt động đầu cơ, găm giữ các loại ngoại tệ gây xáo trộn tỷ giá Những biến động
do yếu tố tâm lý không phản ánh đúng cung – cầu thực tế mà chỉ có tính tạm thời, xu hướng vận động đến tâm lý thường xuất phát từ tin tức về nền kinh
tế, về rủi ro của hệ thống tài chính – ngân hàng, về các quyết sách quan trọng của Chính phủ và NHTW về các chính sách tài chính – tiền tệ, chính sách lãi suất, tỷ giá… Tâm lý tiêu dùng cũng gián tiếp gây ảnh hưởng đến tỷ giá hối
Trang 20đoái Khi dân chúng thích dùng hàng ngoại nhập, cầu hàng nhập tăng làm tăng cung ngoại tệ - đẩy tỷ giá lên cao và làm giảm giá đồng nội tệ
Tác động do yếu tố tâm lý đôi khi có ảnh hưởng rất lớn đến chính sách
tỷ giá và thị trường hối đoái, gây ra những cú sốc ngắn hạn, khó lường trước đối với những người làm chính sách Vì vậy, những biện pháp hạn chế hoạt động đầu cơ, tránh đưa tin tức không sát thực, “thổi phồng” lên các phương tiện thông tin đại chúng là hết sức cần thiết
1.1.3.6 Các nhân tố khác
Bên cạnh các nhân tố kể trên, tỷ giá hối đoái còn bị tác động bởi các nhân tố khác như: thực trạng phát triển của nền kinh tế, các thị trường hối đoái, tài chính
Thông thường một nền kinh tế phát triển ở mức cao, ít chịu những cú sốc từ bên ngoài, do đó tránh được những đột biến về tỷ giá hối đoái Ngược lại, nền kinh tế chậm phát triển, phụ thuộc nhiều vào NK sẽ chịu nhiều rủi ro
do những cú sốc từ bên ngoài, tỷ giá hối đoái thường biến động bấp bênh Năng suất lao động hay mức độ phát triển của nền khoa học công nghệ quyết định đến chất lượng hàng hoá và khả năng cạnh tranh Nước nào có năng suất lao động cao sẽ có thể hạ giá hàng nội địa tương đối so với hàng ngoại mà vẫn
có lãi, cầu hàng nội sẽ tăng và đồng nội tệ có xu hướng tăng giá Trong khi
đó, nước có năng suất lao động thấp thì hàng hoá nước đó sẽ trở nên đắt hơn, gây tác động tăng cầu ngoại tệ, giảm giá nội tệ
Thực trạng của các thị trường tài chính, ngoại hối cũng có ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái Nước nào có thị trường tài chính, ngoại hối phát triển ở mức cao thường ít có biến động về tỷ giá hối đoái do các nhà làm chính sách
có nhiều biện pháp can thiệp phối hợp hơn, dễ dàng hạn chế các cú sốc tỷ giá Đồng thời, thị trường hối đoái phát triển với các công cụ đa dạng hoá (như forward, swap, option…) sẽ tạo điều kiện cho tỷ giá hối đoái được định dạng
Trang 21ổn định ở tầm dài hạn hơn những thị trường hối đoái chưa phát triển (mới chỉ
sử dụng những phương tiện giao dịch sơ khai như thị trường hối đoái Việt Nam hiện nay)
1.1.4 Cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái
Trong các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, việc hình thành tỷ giá hối đoái cũng dựa vào các cơ sở khác nhau Tỷ giá hối đoái được hình thành theo ba cơ sở sau:
- Trong thời kỳ đầu, khi mới thành lập tỷ giá hối đoái, vàng được sử dụng làm bản vị Tất cả các quốc gia sẽ ấn định một số tiền tệ cố định cho mỗi ounce vàng Cho tới thế chiến thứ nhất, nước Anh dựa theo định mức vàng và tiên phong trong việc đổi vàng thành tiền và ngược lại Trong thời kỳ này được gọi là thời kỳ của chế độ bản vị vàng
Trong chế độ bản vị vàng thì biên độ dao động của tỷ giá gọi là điểm vàng, bằng ngang gia vàng được cộng hoặc trừ chi phí vận chuyển vàng giữa các nước Tuy nhiên sau đó, những gánh nặng về tài chính của thế chiến thứ nhất buộc nước Anh phải bán bán thành lớn vàng dự trữ của họ và chế độ bản
và bán vũ khí Trong mối tương quan so sánh giữa nước Anh và nước Mỹ, nước Mỹ có ý đồ chuyển vị thế đồng USD của mình thành đồng tiền thống trị trong dự trữ và thanh toán quốc tế
Ngày 22 tháng 7 năm 1944, Mỹ đã chính thức triệu tập một cuộc hội nghị quốc tế gồm đại diện các nước đồng minh để bàn về hệ thống tiền tệ sau
Trang 22chiến tranh tổ chức tại Bretton Woods - một địa danh thuộc bang New Hampshire ở miền Bắc nước Mỹ Hội nghị có 45 nước tham dự Họ đã thiết lập IMF, WB và bản vị vàng hối đoái Chế độ tỷ giá này còn được gọi là chế
độ tỷ giá cố định Bretton Woods Vì bản chất của tỷ giá hối đoái thời kỳ này
là dựa trên cơ sở đồng USD, chúng ta có thể hiểu nó chính là chế độ "Bản vị đồng Đô la Mỹ” Theo chế độ này, tỷ giá hối đoái chính thức giữa đồng tiền của các nước thành viên được hình thành trên cơ sở so sánh hàm lượng vàng của USD (1 USD = 0,888671 gram vàng nguyên chất) Do vậy, thực chất là tỷ giá hối đoái vẫn phải dựa vào hàm lượng vàng trong các đồng tiền Người ta
so sánh hàm lượng vàng có trong mỗi đồng tiền với hàm lượng vàng trong đồng Đô la Mỹ, rồi từ đó xác định tỷ giá hối đoái giữa nước mình với nước
Mỹ Các tỷ giá hối đoái này chỉ được phép dao động trong biên độ 1% của tỷ giá chính thức đã được đăng ký tại IMF Tại thời điểm đó, một ounce vàng được thoả thuận bằng 35 USD, giá trị trung bình của đồng bảng Anh là 2,4 USD; FRE là 0,18 USD và DEM là 0,2732 USD Trong trường hợp tỷ giá vượt quá biên độ 1% thì Ngân hàng Trung ương phải can thiệp bằng cách mua vào hoặc bán ra một lượng USD nhất định
- Từ năm 1958 đến 1961, sự thiếu hụt trong cán cân thanh toán của nước
Mỹ lên đến 56 tỷ USD, lượng vàng dự trữ giảm từ 24,8 USD xuống còn 12,2
tỷ USD, nợ trước ngoài tăng từ 13,6 tỷ USD lên đến 62,2 tỷ USD Sự mất giá của đồng USD làm cho nạn đầu cơ tiền tệ trên thị trường quốc tế tăng lên Hàng tỷ USD đã được tung ra trên thị trường để mua các đồng tiền được giá các Ngân hàng Trung ương của các nước thành viên IMF cũng không đủ sức can thiệp để giữ đồng USD theo nguyên tắc tỷ giá Bretton Woods Trong bối cảnh đó, ngày 15 tháng 8 năm 1971, Tổng thống Mỹ Nichxon cùng Bộ trưởng ngân khố John Connally đã tuyên bố rằng Mỹ sẽ không đổi vàng để lấy USD
từ các Ngân hàng Trung ương nước ngoài nữa Cú sốc này đã khiến cho thị
Trang 23trường hối đoái phải đóng cửa vài ngày Khi mở cửa trở lại, giá trị 1 ounce vàng bằng 35 USD trở nên vô nghĩa bởi vì Mỹ sẽ không còn đổi vàng của mình để lấy USD nữa
- Nếu như chế độ "Bản vị đồng Đô la Mỹ" tồn tại được là trên cơ sở so sánh hàm lượng vàng trong đồng USD với các đồng tiền khác thì đối với các đồng tiền không mang hàm lượng vàng lại phải sử dụng một cách khác để xác định tỷ giá hối đoái Người ta đã dựa trên cơ sở: Giá trị của mỗi đồng tiền nằm ở sức mua (hay trao đổi) hàng hoá của nó và các đồng tiền cũng là hàng hoá cho nên một đồng tiền mua được nhiều hàng hóa được con người thích và quý hơn các đơn vị tiền tệ khác Để so sánh sự khác nhau về giá trị của mỗi đồng tiền - từ đó xác định tỷ giá - người ta đặt nó trên cơ sở của sức mua tương đương (Purchasing Power Parity - PPP) Quy luật sức mua tương đương nói rằng: "Giá cả nội địa của một đơn vị hàng hoá nước ngoài sẽ là tương đương với giá cả nội địa của chính đơn vị hàng hoá hoàn toàn giống như thế được sản xuất trong nước" Về thực chất đây là sự so sánh sức mua của đồng tiền nước này với sức mua của đồng tiền nước khác Theo phương pháp này, giả định rằng hàng hoá ở các nước là có chất lượng đồng đều giống nhau, các chi phí khác nhau về thuế, hải quan được giả định bằng không thì dựa vào so sánh giá của một nhóm hàng hoá ở hai nước đó người ta sẽ xác định được tỷ giá hối đoái
Tóm lại, cơ sở hình thành nên tỷ giá hối đoái lần lượt dựa vào vàng, đồng Đô la Mỹ và so sánh sức mua của đồng tiền Cũng phải thừa nhận rằng ngày nay một loại tiền tệ nào đó có giá trị cao hơn một loại tiền tệ khác là do sức mua của nó tại thị trường mà nó là tiền tệ pháp định Điều này do kỹ thuật phát hành tiền giấy của nước đó quy định Đặc biệt là do quy định hàm lượng vàng trong lịch sử để lại và giá trị của các loại hàng hoá do nước đó sản xuất
ra có giá trị thế nào đối với thị trường thế giới
Trang 241.2 ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
XK vừa là mục tiêu của cân bằng ngoại của nền kinh tế, vừa là nhân
tố tác động và chịu tác động trực tiếp của tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là một loại giá, giống như các loại giá cả khác, cơ chế tác động của tỷ giá được thực hiện thông qua sự tương tác của mối quan hệ cung – cầu với tỷ giá trên thị trường Tỷ giá hối đoái và biến động của tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp đến mức giá cả hàng hoá, dịch
vụ XNK của một nước Khi tỷ giá thay đổi theo hướng làm giảm sức mua của đồng nội tệ (giá trị của đồng nội tệ giảm) thì giá cả hàng hoá, dịch vụ của nước đó sẽ tương đối rẻ hơn so với hàng hoá dịch vụ của nước ngoài ở
cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế Hàng hoá, dịch vụ nước đó
có khả năng cạnh tranh tốt hơn dẫn đến cầu về XK hàng hoá, dịch vụ nước
đó sẽ tăng, cầu NK hàng hoá, dịch vụ nước ngoài của nước đó sẽ giảm, cán cân thương mại sẽ dịch chuyển về phía thặng dư
Trên thực tế, tỷ giá hối đoái không chỉ tác động tới cầu hàng hoá xuất khẩu mà còn tác động tới cung hàng hóa xuất khẩu trên phương diện sau: tỷ giá tăng lên sẽ làm cho doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp xuất khẩu tính bằng nội tệ tăng lên, từ đó kích thích doanh nghiệp mở rộng sản xuất theo
cả chiều rộng và chiều sâu, làm gia tăng sản lượng dẫn đến tăng khối lượng xuất khẩu Tỷ giá hối đoái tăng lên do phá giá nội tệ cũng sẽ làm chi phí sản xuất tính bằng ngoại tệ giảm đi, giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu có thể hạ giá bán bằng ngoại tệ để cạnh tranh giá Mặc dù, biện pháp này sẽ làm lợi nhuận siêu ngạch của doanh nghiệp giảm đi (so với nếu giữ giá bán như cũ) nhưng tổng doanh thu và lợi nhuận vẫn có thể tăng do sự lấn át của hiệu ứng khối lượng sản phẩm bán ra tăng nhanh
Tuy nhiên, hiệu ứng phá giá chỉ kích thích xuất khẩu trong thời gian ngắn, khi mà chi phí sản xuất hàng hóa xuất khẩu chưa tăng lên do hiệu ứng
Trang 25giá nguyên vật liệu nhập khẩu tăng Trong dài hạn, chi phí sản xuất của doanh nghiệp tính bằng nội tệ sẽ có xu hướng tăng (điều này cũng làm chi phí sản xuất tính bằng ngoại tệ cũng có xu hướng tăng) vì các lý do sau:
- Thứ nhất, trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu có sử dụng các nguyên liệu nhập khẩu Vì vậy, tỷ giá tăng sẽ làm hàng nhập khẩu tăng giá qua đó làm chi phí sản xuất tăng theo Hiệu ứng tăng chi phí có thể xảy ra trễ hơn do tác động của việc dự trữ nguyên vật liệu
- Thứ hai, khi tỷ giá hối đoái tăng, các doanh nghiệp xuất khẩu thu lợi nhuận siêu ngạch trong ngắn hạn Tuy nhiên, theo quy luật bình quân hóa lợi nhuận trong nền kinh tế, sẽ có sự chuyển dịch cơ cấu thị trường từ sản xuất phục vụ thị trường nội địa chuyển sang sản xuất hướng vào xuất khẩu Điều này tăng tính cạnh tranh cả về đầu vào lẫn đầu ra của sản xuất phục vụ xuất khẩu khiến chi phí sản xuất tăng, làm cho giá thành sản phẩm phải hạ xuống
- Thứ ba, sau khi nội tệ giảm giá, thì chỉ số giá tiêu dùng sẽ có xu hướng tăng do ảnh hưởng của tăng giá hàng nhập khẩu làm cho tiền lương thực tế của người lao động giảm xuống Trong dài hạn, doanh nghiệp sẽ phải giải quyết vấn đề này bằng cách tăng tiền lương danh nghĩa làm chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng lên
Vì những lý do trên nên trong dài hạn rất khó để doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu có thể duy trì mức lợi nhuận siêu ngạch của mình từ việc tăng
tỷ giá hối đoái
Như vậy, tác động của tăng tỷ giá tới cung hàng xuất khẩu có tính hai mặt, trong ngắn hạn nó có thể là nguyên nhân kích thích tăng cung hàng xuất khẩu trong khi về mặt dài hạn có thể là nhân tố kìm hãm Từ đó đặt ra yêu cầu lượng hóa mức độ ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá tới cung hàng xuất khẩu đối với từng nhóm mặt hàng xuất khẩu cũng như mức độ ảnh hưởng của thay đổi
tỷ giá trong ngắn hạn và dài hạn
Trang 26Ngoài tác động đến cung cầu hàng hoá xuất khẩu, tỷ giá hối đoái còn tác động đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu trên thị trường nước ngoài Vì tỷ giá hối đoái là nhân tố đầu vào của hàng xuất khẩu, bằng việc phá giá đồng nội tệ, các doanh nghiệp xuất khẩu có thể duy trì giá bán hàng xuất khẩu bằng ngoại tệ thấp mà vẫn đảm bảo mức lợi nhuận cận biên như cũ Giá bán thấp tạo ra khả năng cạnh tranh về giá cho hàng xuất khẩu trên thị trường nước ngoài Như vậy, tác động của tỷ giá hối đoái tới khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu được thể hiện trên phương diện giá cả
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TÁC ĐỘNG TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC
2.1 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC 2.1.1 Những kết quả đạt được
Trước năm 1990, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam hoạt động theo cơ chế “Nhà nước độc quyền ngoại thương” Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất không được trực tiếp xuất khẩu hàng hoá của mình sản xuất ra, việc xuất khẩu hàng hoá chỉ do một số đầu mối là các tổng công ty thương mại Nhà nước thực hiện Trong khi đó, thị trường xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam là rất hạn chế, chủ yếu là Liên Xô cũ và các nước Đông Âu Đây là thị trường không đòi hỏi cao về chất lượng hàng hoá, việc thanh toán theo phương thức hàng đổi hàng và bằng đồng Rúp chuyển nhượng theo một tỷ giá
cố định không phản ánh đúng giá trị thị trường Tất cả những yếu tố trên đã kìm hãm hoạt động xuất khẩu của Việt Nam nói chung và của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng, kim ngạch xuất khẩu thấp, khả năng cạnh tranh của hàng hoá thấp kém…
Bắt đầu từ năm 1990, nền kinh tế nước ta chuyển mạnh từ một nền kinh
tế đóng sang nền kinh tế mở, tình hình thế giới có nhiều thay đổi, quan hệ kinh tế đối ngoại của ta được mở rộng Chính phủ Việt Nam đã đổi mới một cách căn bản cơ chế xuất- nhập khẩu nói chung và cơ chế xuất khẩu nói riêng theo hướng xoá bỏ chế độ “độc quyền ngoại thương”; ngày càng mở rộng quyền xuất khẩu trực tiếp cho các doanh nghiệp sản xuất, các địa phương, các thành phần kinh tế, trong đó có cả các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Chính sách khuyến khích xuất khẩu nhận được sự quan tâm ngày càng lớn của mọi
Trang 28ngành mọi cấp quản lý Các hạn ngạch, giấy phép xuất khẩu ngày càng được giảm thiểu và xoá bỏ, từ đó góp phần hạn chế và đi đến xoá bỏ cơ chế “xin-cho” trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu Các chính sách, công cụ tiền tệ vĩ
mô như lãi suất, tỷ giá hối đoái được nhận thức đúng mức và được sử dụng nhuần nhuyễn hơn để khuyến khích xuất khẩu; hành lang pháp lý từng bước được hoàn thiện theo hướng thúc đẩy xuất khẩu
Tất cả những yếu tố trên đã tạo ra động lực để thúc đẩy xuất khẩu cũng như sản xuất hàng xuất khẩu trong thời gian qua không chỉ cho các doanh nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc mà cho tất cả các doanh nghiệp trên toàn quốc Những kết quả đạt được đã góp phần thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Giai đoạn 2001-2005 là giai đoạn 5 năm đầu thực hiện “Chiến lược xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001-2010” Có thể nói, đây là giai đoạn chứng kiến nhiều biến động lớn về kinh tế, chính trị, xã hội trên quy mô toàn thế giới và để đạt được tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân 17,4%/năm (tức là cao hơn so với mục tiêu đặt ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2001-2005 là 1,3%), Chính phủ, các Bộ, ngành và doanh nghiệp đã thể hiện được những nỗ lực và quyết tâm rất lớn Theo số liệu của
Bộ Thương mại, kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm 1991-1995 gấp 2,5 lần so với 5 năm trước, đến năm 2000 tăng khoảng 5 lần so với năm 1990; nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu trong 10 năm (1991-2000) đạt khoảng 18,4%/năm so với nhịp độ tăng trưởng bình quân của GDP là 7,2%/năm, tức là tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 2,6 lần
Trong bối cảnh đó, xuất khẩu của Vĩnh Phúc trong thời kì 2000-2005 tuy cũng đã có sự khởi sắc vượt bậc so với giai đoạn 1990-1999 nhưng so với các tỉnh trong vùng và so với cả nước thì giá trị vẫn còn quá nhỏ bé (bảng 2.1) Năm 2000, tỉ trọng XK của Vĩnh Phúc chỉ chiếm 0.15% so với kim
Trang 29ngạch XK của cả nước, tỉ trọng này có xê dịch chút ít qua các năm 2001, 2002… nhưng vẫn chỉ đạt ở mức 0.18% vào năm 2004
Nguồn: Sở công thương Vĩnh Phúc
Trong 02 năm đầu của giai đoạn 2001-2005, thị trường thế giới đã có nhiều diễn biến không thuận Cùng với cả nước, tỉnh Vĩnh Phúc bước vào giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, đã áp dụng các giải pháp khuyến khích xuất khẩu nhưng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 95 triệu USD vào năm
2000 (tăng 15% so với năm 1999) và 110 triệu USD vào năm 2001 (tăng 8.5
so với năm 2000) Bước sang năm 2003, nhờ tranh thủ tình hình dầu thô lên giá cộng với việc tích cực đẩy mạnh thâm nhập thị trường Hoa Kỳ, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đã đạt ở mức đáng kể 135 triệu USD (tăng 43,8% so với năm 2000) Trong 02 năm cuối của giai đoạn 2001-2005, nhờ tích cực xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu đi đôi với sự tăng trưởng đáng
kể nguồn cung hàng xuất khẩu thông qua khắc phục thành công những khó khăn, kim ngạch xuất khẩu đạt 147.9 triệu USD trong năm 2004 (tăng 11,13%
so với năm 2003) và lên tới 189.1 triệu USD trong năm 2005
Trang 30Năm 2006 là năm đầu tiên nước ta triển khai thực hiện các mục tiêu của đại hội Đảng lần thứ X về phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010, hoạt động xuất khẩu tiếp tục tăng mạnh, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của cả nước đạt 39,6 tỷ USD, tăng 22,1% so với năm 2005 và đạt 66,4%/GDP
Trong giai đoạn này, hoạt động xuất khẩu của tỉnh Vĩnh Phúc diễn ra rất sôi động và càng trở nên sôi động hơn kể từ năm 2005 khi có sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Mặc dù kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng nhưng so với các tỉnh trong vùng, so với cả nước và so với tiềm năng của tỉnh thì giá trị kim ngạch xuất khẩu hiện nay của Vĩnh Phúc vẫn là quá nhỏ bé Giá trị xuất khẩu bình quân đầu người của tỉnh năm 2004 đạt 299 USD/người, năm 2005 đạt 324,2 USD/người và năm 2009 là 313 USD/người, dự kiến năm
2010 là 350 USD/người
Năm 2005, kim ngạch XK của tỉnh đạt 189,1 triệu USD Năm 2008 tỷ giá tăng cao và nhiều biến động thất thường, góp phần làm cho kim ngạch XK tăng lên mức 318,4 triệu USD, tăng 65.1% so với năm 2005 Năm 2009 con
số này đã tăng lên mức 350 triệu USD và dự kiến đến năm 2010 là 450 triệu USD
Cũng giống với cả nước, hoạt động xuất- nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2000 đến nay cũng có nhiều chuyển biến tích cực và lại càng trở nên sôi động hơn kể từ năm 2005 khi các dự án FDI được thực hiện, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đi vào hoạt động và một số doanh nghiệp tích cực tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa Giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân năm 16,6%/năm Năm năm (2001-2005), tăng 52,5%/năm Năm 2004, giá trị xuất khẩu đạt 147,9 triệu USD (tăng 164,4% so với năm trước) Năm 2005 GTKN xuất khẩu đạt tới 189,1 triệu USD, trong đó, xuất khẩu từ các doanh nghiệp FDI chiếm tỷ lệ trên 65%
Trang 31tư nước ngoài
2 Xe máy xuất khẩu 28,000 33,000 34,000 36,000 10,000 15,000
3 Phụ tùng ô tô 17,000 22,000 23,000 21,000 18,000 20,000
4 Đệm ghế ô tô 10,000 13,000 14,000 15,000 10,000 15,000 7.Linh kiện điện tử 12,000 15,000 16,000 32,000 52,000 100,000 8.Mặt hàng cơ khí 5,000 16,000 17,000 15,000 21,000 25,000 9.Hàng hoá khác 2,100 5,900 4,600 6,400 13,000 17,000
Nguồn: Sở Công Thương Vĩnh Phúc
Trang 32Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của tỉnh là sản phẩm may, mặc, giày dép các loại, chè khô, hàng thủ công mỹ nghệ, nông sản Trong đó, chiếm tỷ trọng lớn nhất là hàng may mặc, 40,5%; giày dép các loại 20%, các sản phẩm khác 35,8%… Các sản phẩm sản xuất trên địa bàn tỉnh đã xuất khẩu sang 40 nước Xuất sang EU giày thể thao; sang Nhật Bản: chè, hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm gỗ; sang Nga, Đông Âu: chè sản phẩm may mặc; sang Hoa Kỳ: hàng thủ công mỹ nghệ, giày thể thao
Bảng 2.3: Tỉ lệ đóng góp của các loại hình doanh nghiệp của
tỉnh Vĩnh Phúc trong tổng giá trị xuất khẩu
Năm
Loại hình
Giá trị (tỷ VND)
Tỉ lệ (%)
Giá trị (tỷ VND)
Tỉ lệ tăng trưởng %
Giá trị (tỷ VND)
Tỉ lệ tăng trưởng %
Nguồn: Sở Công thương Vĩnh Phúc
Nhìn vào bảng 2.3, ta thấy sự đóng góp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIEs) và các doanh nghiệp nhà nước (SOEs) chiếm 69.6%
và 2.1% trong tổng giá trị xuất khẩu của năm 2008 Tỷ lệ này dần thay đổi qua các năm 2009 và dự báo năm 2010: tỷ lệ đóng góp của doanh nghiệp nhà nước bị thu hẹp dần và tỷ lệ đóng góp của doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng dần Nguyên nhân là do quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước (SOEs) và nguyên nhân thứ hai là các doanh nghiệp tư nhân ngày càng được phát triển cả về số lượng lẫn chất
Trang 33lượng, kinh doanh có hiệu quả hơn
Trên cơ sở những kết quả đạt được trong hoạt động xuất khẩu giai đoạn 2001-2009, có thể rút ra một số nhận định cơ bản như sau:
1 Qui mô và tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu của tỉnh đã được mở rộng và tăng trưởng ở mức độ khá cao Hầu hết những chỉ tiêu được đặt ra về tăng trưởng xuất khẩu đều đã được thực hiện và vượt so với mục tiêu đặt ra, đặc biệt có một số chỉ tiêu đã vượt ở mức cao
2 Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu đã có những chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến, chế tạo, nhóm hàng có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần xuất khẩu hàng thô, hàng gia công có giá trị thấp Nhiều mặt hàng xuất đã mở rộng được qui mô sản xuất, nâng cao giá trị xuất khẩu như dệt may, giày dép, chè ; nhiều mặt mới có tốc
độ tăng trưởng cao đang và sẽ là những hạt nhân quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu hàng hoá của tỉnh trong những năm tới đây như sản phẩm gỗ, điện tử , sản phẩm nhựa
3 Thứ ba, các chủ thể tham gia xuất khẩu không ngừng được mở rộng,
đa dạng hoá và hoạt động ngày càng hiệu quả, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực các doanh nghiệp 100% vốn trong nước ở mức cao 23,09% Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chiếm tỷ trọng lớn và là động lực quan trọng đối với tăng trưởng xuất khẩu của cả tỉnh (bảng 2.9)
* Nguyên nhân của những kết quả trên:
Những thành tựu nêu trên trong kết quả hoạt động xuất khẩu của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2000-2009 xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Những nguyên nhân này rất đa dạng, song tựu chung lại, có thể chia làm hai nhóm chính: nhóm những nguyên nhân chủ quan và nhóm những nguyên nhân
Trang 34khách quan
* Những nguyên nhân chủ quan:
Thứ nhất, tỉnh Vĩnh Phúc đã có sự quan tâm chú ý đầu tư đến lĩnh vực
xuất khẩu, từ đó có những đổi mới trong cơ chế, chính sách quản lý xuất khẩu, mở cửa thị trường cũng như những chính sách nhằm mở rộng quyền kinh doanh cho các doanh nghiệp trong tỉnh đã góp phần quan trọng tạo ra sự chuyển biến trong hoạt động đầu tư, sản xuất và xuất khẩu hàng hoá giai đoạn 2001-2009
Thứ hai, trong những năm gần đây, đặc biệt là từ năm 2005, Vĩnh Phúc
là một trong những tỉnh nhận được sự đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất cả nước, tạo ra nguồn lực quan trọng để mở rộng qui mô sản xuất trong tỉnh, gia tăng khối lượng hàng hoá phục vụ cho xuất khẩu Năm 2008, Vĩnh Phúc cũng thu hút được 124 dự án đầu tư, nâng tổng số dự án trên địa bàn toàn tỉnh lên
365 dự án, trong đó có 100 dự án FDI với tổng số vốn đầu tư 1,98 tỷ USD;
265 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký đạt 15,5 ngàn tỷ đồng Đến nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng 100 doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu, trong đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 60 doanh nghiệp (chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu)
Thứ ba, hoạt động xúc tiến thương mại của tỉnh đã từng bước hình
thành và nhận được sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh Các hình thức xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp ngày càng đa dạng phong phú và chuyên nghiệp hơn, góp phần quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp khai thác và
mở rộng thị trường xuất khẩu
Thứ tư, việc đẩy mạnh đàm phán, ký kết các hiệp định, thoả thuận hợp
tác thương mại giữa Việt Nam với Chính phủ các nước, các khu vực thị trường cũng đã góp phần quan trọng giúp mở rộng nhiều thị trường, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất khẩu thâm nhập và khai thác các thị trường
Trang 35thuận lợi và hiệu quả hơn, từ đó mở thêm cơ hội xuất khẩu và gia tăng qui mô xuất khẩu Điển hình là việc ký kết Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳ cuối năm 2001 đã tạo ra bước đột phá quan trọng trong việc nâng cao giá trị hàng xuất khẩu của Việt Nam nói chung (trong đó có tỉnh Vĩnh Phúc) và vào thị trường Hoa Kỳ nói riêng (xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ đã tăng từ khoảng 1 tỷ USD năm 2001 lên hơn 2,4 tỷ USD năm 2002 và liên tục tăng cao, đạt 6,5 tỷ USD vào năm 2005)
Thứ năm, các doanh nghiệp xuất khẩu trên địa bàn tỉnh đã bắt đầu hoà
nhập vào môi trường kinh doanh của quốc gia, khu vực và quốc tế Họ nỗ lực tìm kiếm thị trường, khai thác tiềm năng của doanh nghiệp, tận dụng những
cơ hội thuận lợi từ chính sách của nhà nước để tăng kim ngạch xuất khẩu
* Những nguyên nhân khách quan:
Thứ nhất, sự phục hồi tăng trưởng của nền kinh tế thế giới trong giai
đoạn 2003-2006 làm tăng nhu cầu nhập khẩu hàng hoá của khu vực và quốc gia trên thế giới Trong bối cảnh năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu của Việt Nam chưa cao, cơ cấu hàng xuất khẩu chưa đa dạng thì đây thực sự là một cơ hội tốt để đẩy mạnh xuất khẩu và điều này có thể thấy khá rõ thông qua sự biến thiên của tốc độ tăng trưởng xuất khẩu Trong giai đoạn 2001-2002, khi tăng trưởng của nền kinh tế thế giới chững lại do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như sự kiện 11/09, đại dịch SARS, chiến tranh Irắc, Ápgannixtan tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt khoảng 7,4%/năm Bước sang giai đoạn 2003-2006 nền kinh tế thế giới đã bắt đầu tăng trưởng và phát triển sôi động trở lại, xuất khẩu của Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng bình quân 24,7%/năm
Thứ hai, giá cả nhiều loại hàng hoá trên thị trường thế giới tăng cao Sự
biến động về giá của các loại hàng hoá trên thị trường thế giới, đặc biệt là sự tăng lên trong giá xuất khẩu của một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong nhóm hàng nông sản và nhiên liệu, khoáng sản như gạo, hạt tiêu,
Trang 36cao su, dầu thô, than đá đã góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu cho hàng hoá của Việt Nam nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng
2.1.2 Những hạn chế và nguyên nhân
Mặc dù xuất khẩu của tỉnh Vĩnh Phúc đạt được những kết quả tương đối khả quan nhưng những hạn chế không phải là ít Các hạn chế lớn tập trung vào:
Thứ nhất, quy mô xuất khẩu vẫn còn quá nhỏ bé so với các tỉnh khác
trong cả nước Vĩnh Phúc không phải là một tỉnh có lợi thế về xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người đạt mức 313 USD/người là thấp so với các tỉnh có kim ngạch xuất khẩu lớn
Thứ hai, xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhưng chưa vững chắc và rất dễ
bị tổn thương bởi sự biến động giá cả trên thị trường thế giới (giá dầu, giá vàng, tỷ giá ) hay sự xuất hiện của các rào cản thương mại mới của nước ngoài
Thứ ba, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chưa hợp lý, thể hiện trên cả 3
phương diện: chủng loại hàng hoá xuất khẩu còn đơn điệu, chậm xuất hiện những mặt hàng xuất khẩu mới có đóng góp kim ngạch đáng kể; các mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng còn thấp, trong khi các mặt hàng công nghiệp như dệt may, da giày, điện tử và linh kiện máy tính chủ yếu vẫn còn mang tính chất gia công; quá trình chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng công nghiệp hóa diễn ra chậm và chưa có giải pháp cơ bản, triệt để
Về thực chất, cơ cấu hàng xuất khẩu thời gian qua chủ yếu chuyển dịch theo chiều rộng, chưa đi vào chiều sâu, xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế
so sánh sẵn có mà chưa khai thác được lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng các ngành công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu lớn
Thứ tư, khả năng chủ động nắm bắt những cơ hội thuận lợi để thâm
Trang 37nhập và khai thác các thị trường xuất khẩu còn nhiều hạn chế Chưa tận dụng triệt để lợi ích từ việc gia nhập WTO, các hiệp định thương mại song phương
và khu vực đã ký kết giữa Việt Nam và các đối tác để khai thác hết tiềm năng của các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc
Thứ năm, công tác của mạng lưới đại diện, đặc biệt về thương mại ở
nước ngoài còn nhiều yếu kém, chưa thực sự hỗ trợ tốt cho hoạt động xuất khẩu, các chương trình xúc tiến thương mại nhỏ lẻ, rời rạc, hiệu quả chưa cao
Thứ sáu, nhập siêu ở mức cao và chưa có giải pháp kiềm chế hiệu quả,
triệt để, đã ảnh hưởng tiêu cực đến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh
tế như cán cân thanh toán, dự trữ ngoại tệ, nguồn lực đầu tư
Thứ bảy, thị trường xuất khẩu tăng trưởng không đều, trong khi thị
trường ASEAN, EU, Hoa Kỳ tăng trưởng khá cao thì một số thị trường quan trọng khác tăng chậm hoặc giảm như Trung Quốc, Nhật Bản và Australia
* Nguyên nhân của những hạn chế:
• Những nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, đầu tư của tỉnh Vĩnh Phúc cho sản xuất hàng xuất khẩu nhìn
chung vẫn còn thấp, ảnh hưởng đến khả năng gia tăng qui mô sản xuất và xuất khẩu Bên cạnh đó, hiệu quả đầu tư chưa cao, đầu tư còn dàn trải, chưa có những dự án đầu tư quy mô lớn nhằm tập trung khai thác tiềm năng xuất khẩu, khiến cơ cấu sản xuất và xuất khẩu chậm được đổi theo hướng tích cực
Thứ hai, những lúng túng, bị động trong việc khai thác các thị trường
xuất khẩu thời gian qua xuất phát tự sự thiếu chuẩn bị của cả phía các cơ quan quản lý Nhà nước và các doanh nghiệp Các cơ quan quản lý Nhà nước chưa thực sự tốt công tác phổ biến, hướng dẫn và chuẩn bị điều kiện để đón những
cơ hội về thị trường xuất khẩu do các hiệp định, thoả thuận hợp tác thương mại đem lại, trong khi đó các doanh nghiệp lại mang nặng tư tưởng trông chờ vào những hướng dẫn, hỗ trợ của Nhà nước
Trang 38Thứ ba, năng lực dự báo, nhận biết các chính sách, thay đổi trên thị
trường quốc tế của các cơ quan quản lý, hoạch định chính sách còn hạn chế, trong khi khả năng thích ứng với bối cảnh mới của thị trường thế giới (rào cản thương mại và phi thương mại ngày càng gia tăng ) của các doanh nghiệp xuất khẩu còn yếu dẫn đến xuất khẩu một số mặt hàng gặp khó khăn (xe máy,
ô tô )
Thứ tư, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu của tỉnh lúng túng khi tham gia
vào môi trường kinh doanh quốc tế, chưa có sự chuẩn bị đầy đủ về vốn, nhân lực và sự am hiểu văn hoá, môi trường kinh doanh của từng bạn hàng dẫn đến sản phẩm không đa dạng, hợp với thị hiếu Đồng thời các doanh nghiệp xuất khẩu cũng rất yếu và thiếu sự hiểu biết trong khâu kí kết hợp đồng, một khâu rất quan trọng trong thanh toán quốc tế, dẫn đến thua thiệt trong việc đàm phán về giá cả, điều kiện thanh toán, điều kiện giao hàng… Tất cả những điều này đã gây ảnh hưởng cuối cùng tới doanh nghiệp là chi phí tăng lên, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không được nâng cao
• Những nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, Vĩnh Phúc không phải là tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi
cho xuất khẩu Xuất khẩu của tỉnh chủ yếu là hàng công nghiệp, các mặt hàng thuỷ sản không có, mặt hàng khoáng sản như than, dầu thô cũng không nằm trong danh mục các mặt hàng xuất khẩu của tỉnh
Thứ hai, do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhiều doanh nghiệp giảm
sản lượng và sản xuất cầm chừng, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI như Honda, Toyota… chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng Năm 2009, Công ty Honda
đã phải giảm số ca làm của công nhân (từ 2 ca/ngày xuống còn 1 – 1,5 ca/ngày) Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp FDI chỉ trông chờ vào các “công ty mẹ” đưa đơn đặt hàng Vì vậy, khi các “công ty mẹ” ở nước ngoài gặp khó thì các “công ty con” trên địa bàn tỉnh cũng nguy nan Về phía các doanh nghiệp
Trang 39tư nhân, mặc dù có hơn 2.000 doanh nghiệp nhưng đa phần các doanh nghiệp này là doanh nghiệp nhỏ và vừa, có số vốn thấp và hiệu quả sản xuất kinh doanh không cao
Thứ ba, cùng với xu thế hội nhập, ngày càng xuất hiện nhiều rào cản
thương mại mới tinh vi hơn (như chống bán phá giá, tiêu chuẩn xã hội, môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm ), gây khó khăn và tổn thất không nhỏ cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam
Thứ tư, làn sóng mới các hiệp định thương mại tự do song phương, đa
phương (FTA) giữa các nước đã đem đến nhiều bất lợi cho hàng xuất khẩu Việt Nam do bị phân biệt đối xử
2.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP CHỦ LỰC CỦA TỈNH VĨNH PHÚC
2.2.1 Nhóm ngành dệt may
Đứng đầu trong các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh Vĩnh Phúc là nhóm các sản phẩm may mặc, luôn chiếm tỷ trọng trên 40% Các công ty hoạt động trong lĩnh vực may mặc chủ yếu là các công ty có vốn đầu
tư nước ngoài từ Hàn Quốc, Đài Loan như: Công ty TNHH Vina Korea, Công
ty TNHH Jahwa Vina, Công ty TNHH MTV Pangrim Neotex, Công ty TNHH Daewoo Apprel và nổi trội trong các doanh nghiệp may mặc trong nước thì có Công ty TNHH sợi dệt Vĩnh Phúc Trong những năm qua, Ngành dệt may của tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được rất nhiều thành công trong việc giải quyết việc làm cho người lao động cũng như đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước, góp phần đưa nước ta trở thành một trong 10 quốc gia có ngành dệt may phát triển nhất thế giới
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của tỉnh Vĩnh Phúc không ngừng được gia tăng qua các năm Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này mới chỉ dừng ở 101 triệu USD; thì sang năm 2006 đạt 135 triệu USD và cho
Trang 40đến năm 2009 là 200 triệu USD Mục tiêu kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may Vĩnh Phúc đặt ra là 230 triệu USD trong năm 2010 và 9 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của tỉnh đã đạt 211 triệu USD, tăng 20% so với cùng kỳ năm ngoái
Hiện nay, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu dệt may lớn nhất của tỉnh Vĩnh Phúc, chiếm 57% thị phần xuất khẩu, thị trường EU chiếm 18%, Nhật Bản là 9% Xuất khẩu sang Nhật Bản và Đài Loan đang hồi phục Hoạt động
mở rộng thị trường sang khu vực Châu Phi và các nước Châu á khác cũng khá tốt Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang các thị trường này đều có mức tăng trưởng cao
Cho tới nay, khó khăn lớn nhất không chỉ của ngành dệt may Vĩnh Phúc mà còn là khó khăn chung của ngành dệt may nước ta là vẫn chưa chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào Nguyên phụ liệu (như bông, sợi và vải) phục vụ sản xuất và xuất khẩu phải nhập khẩu tới 90% Như vậy là rõ ràng sự tăng giảm của tỷ giá đều không ảnh hưởng nhiều tới kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may, vì khi tỷ giá tăng các doanh nghiệp này được lợi từ việc bán USD nhưng ngược lại phải bù lỗ cho việc tỷ giá tăng khi nhập khẩu nguyên liệu đầu vào Bên cạnh đó, hầu hết các doanh nghiệp dệt may là sản xuất gia công hàng xuất khẩu, các đơn hàng đã được lập sẵn từ rất lâu nên họ cũng không quan tâm đến sự biến động của tỷ giá có ảnh hưởng đến xuất khẩu hay không
Dưới đây là bảng tổng kết kết quả hoạt động xuất khẩu và tác động của
tỷ giá của hai công ty có thị phần xuất khẩu về hàng may mặc lớn nhất trong tỉnh, đó là Công ty TNHH DAEWOO APPREL Việt Namvà Công ty TNHH Vina Korea