Trong các thế kỉ X – XVI, những cộng đồng cư dân cổ vẫn liên tục hiện diện, xây dựng cuộc sống và là chủ thể của lịch sử trên địa bàn Bình Phước.. – Kể tên một số cộng đồng cư dân sinh s
Trang 2ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BÌNH PHƯỚC
TỈNH
TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG
LỚP 7
Trang 3BAN BIÊN SOẠN
Ban Chỉ đạo biên soạn tài liệu
Trang 4Các em học sinh thân mến!
Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Bình Phước được biên soạn nhằm giúp học
sinh nâng cao hiểu biết về văn hoá, lịch sử, địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp,… của tỉnh Từ đó góp phần rèn luyện những phẩm chất, năng lực được quy định trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, đồng thời bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, ý thức tìm hiểu và vận dụng những điều đã học nhằm gìn giữ, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá của quê hương Bình Phước
Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Bình Phước – Lớp 7 được biên soạn theo
các chủ đề, tương ứng với các mạch kiến thức trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 Mỗi chủ đề được thiết kế theo hướng mở, linh hoạt để có thể điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của từng địa phương và thực tiễn dạy học trong nhà trường, song vẫn bảo đảm mức độ yêu cầu chung của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018
Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Bình Phước – Lớp 7 không chỉ dùng để dạy
và học mà còn là tư liệu để học sinh trải nghiệm, khám phá những nét đẹp của vùng đất Bình Phước Trong quá trình biên soạn, mặc dù nhóm tác giả đã
cố gắng chắt lọc tư liệu để vừa giới thiệu những nét cơ bản về nội dung giáo dục địa phương, vừa đảm bảo tính khoa học, vừa sức với đối tượng học sinh lớp 7 nên khó tránh khỏi thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý từ quý thầy cô giáo, phụ huynh, các em học sinh,… để lần tái bản sau tài liệu được hoàn chỉnh hơn
Chúc các em có những trải nghiệm bổ ích cùng tài liệu
Trang 5Học sinh huy động kiến thức, kinh nghiệm cá nhân để tham gia hoạt động tạo hứng thú, dẫn dắt vào bài mới.
Yêu cầu về năng lực và phẩm chất mà học sinh cần đạt được sau khi học.
MỤC TIÊU
Học sinh thực hiện các hoạt động quan sát, thảo luận, tìm hiểu thông tin, nhằm phát hiện và chiếm lĩnh những điều mới.
HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU
Em có biết Nội dung mở rộng của bài học, cung cấp thêm những kiến thức
cho các em có điều kiện tiếp thu bài học tốt hơn.
Học sinh thực hành nghe bài hát.
Học sinh thực hành hát.
Trang 6trang
Lời nói đầu 03
Hướng dẫn sử dụng tài liệu 04
Lược đồ hành chính tỉnh Bình Phước 06
Chủ đề 1 Lịch sử Bình Phước từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI 07
Chủ đề 2. Đặc điểm khí hậu và thuỷ văn tỉnh Bình Phước 14
Chủ đề 3. Ca dao, dân ca Bình Phước 21
Chủ đề 4. Một số nghi lễ vòng đời tại tỉnh Bình Phước 28
Chủ đề 5 Vài nét về âm nhạc dân tộc S'tiêng ở Bình Phước 35
Chủ đề 6. Sản phẩm mĩ nghệ truyền thống của tỉnh Bình Phước 44
Chủ đề 7 Ẩm thực tỉnh Bình Phước 50
Giải thích thuật ngữ 56
Danh mục tác giả hình ảnh 57
Tài liệu tham khảo 58
Trang 7Đường tuần tra biên giới Đường tỉnh Hồ Sông, suối
Trang 8LỊCH SỬ BÌNH PHƯỚC
TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XVI
Chủ đề 1
Hình 1.1 Di tích vòng tròn đá Bãi Tiên (huyện Lộc Ninh)
– Trình bày được quá trình hình thành và phát triển của địa phương Bình Phước từ thế kỉ X đến thế kỉ thứ XVI.
– Nêu được những nét chính về tổ chức xã hội, kinh tế, văn hoá của Bình Phước trong giai đoạn này.
– Tự hào về lịch sử hình thành và phát triển của quê hương Bình Phước
từ thế kỉ X đến thế kỉ thứ XVI.
MỤC TIÊU
Trang 9Trong các thế kỉ X – XVI, những cộng đồng cư dân cổ vẫn liên tục hiện diện, xây dựng cuộc sống và là chủ thể của lịch sử trên địa bàn Bình Phước Tiến trình lịch sử Bình Phước giai đoạn này có gì nổi bật? Các cộng đồng cư dân cổ tồn tại, vận động và phát triển như thế nào? Đâu là những nét đặc trưng trong đời sống vật chất và tinh thần của họ?
I KHÁI QUÁT LỊCH SỬ VÙNG ĐẤT BÌNH PHƯỚC GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ
KỈ XVI
Dựa vào thông tin trong bài, em hãy:
– Trình bày quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Bình Phước
từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI.
– Kể tên một số cộng đồng cư dân sinh sống trên địa bàn Bình Phước giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI.
Trong suốt gần 10 thế kỉ (VII – XVI), các kết quả nghiên cứu cho thấy dấu
ấn của người Chân Lạp trên vùng đất Nam Bộ rất mờ nhạt Vùng đất Nam Bộ không được quản lí chặt chẽ và gần như không có sự quản lí hành chính của triều đình Chân Lạp Ngoại trừ vùng cư trú của các tộc người sinh sống lâu đời như S’tiêng, Chơ-ro, Mạ, ở Đông Nam Bộ ngày nay, hầu hết lãnh thổ Nam Bộ trở nên hoang vắng với rừng rậm bạt ngàn, sông rạch, đầm lầy mênh mông Vùng đất Nam Bộ nói chung và khu vực ngày nay là tỉnh Bình Phước nói riêng trên danh nghĩa thuộc Chân Lạp, nhưng “thuộc” một cách lỏng lẻo
Trong giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI, tại vùng đất Bình Phước ngày nay, đại bộ phận dân cư sinh sống thuộc cộng đồng những dân tộc thiểu số như S’tiêng, Mạ, Chơ-ro, Mnông, Trong đó, người S’tiêng là thành phần chủ yếu
KHỞI ĐỘNG
HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
Trang 101 Đời sống vật chất
Dựa vào thông tin trong bài, em hãy:
– Cho biết cư dân cổ trên địa bàn Bình Phước đã sinh sống bằng những nghề gì?
– Giải thích vì sao những nét sinh hoạt vật chất của cư dân Bình Phước giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI vẫn được duy trì đến các giai đoạn sau?
II ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT, TINH THẦN CỦA CƯ DÂN TRÊN VÙNG ĐẤT BÌNH PHƯỚC GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XVI
Các cộng đồng cư dân cổ trên địa bàn Bình Phước chủ yếu sinh sống theo hình thức tự cung tự cấp, khai thác các nguồn lợi tự nhiên Một số hoạt động kinh tế chính của họ là làm nương rẫy, khai thác sản vật núi rừng, đánh bắt cá trên sông, suối, chăn nuôi một số gia súc, gia cầm,
Nhu cầu khai thác nguồn lợi tự nhiên và phục vụ sinh hoạt đã thúc đẩy việc duy trì một số hoạt động chế tác các công cụ lao động, vũ khí và đồ dùng thủ công (rèn đúc kim loại, làm đồ gốm, đan lát, dệt vải,…)
Việc trao đổi giữa các cộng đồng cư dân đã diễn ra nhưng chưa được đẩy mạnh; dấu vết về các hoạt động này còn được bảo tồn qua các câu chuyện kể, lưu truyền từ đời này sang đời khác trong cộng đồng người S’tiêng
Trong hoàn cảnh đó, cộng đồng cư dân trên địa bàn Bình Phước đã tự
tổ chức quản lí đời sống xã hội Họ tiếp tục duy trì các hoạt động kinh tế vàphong tục, tập quán truyền thống
Hình 1.2 Nghề dệt vải và thổ cẩm truyền thống của đồng bào S'tiêng
Trang 11Em có biết
Hầu hết các nét sinh hoạt vật chất được cư dân cổ ở Bình Phước duy trì mãi về sau Đến thế kỉ XIX, sử sách nhà Nguyễn khi viết về cư dân bản địa (bấy giờ gọi là thổ dân, người Man) ở khu vực phía tây tỉnh Biên Hoà (gồm địa bàn Bình Phước hiện nay) vẫn cho biết:
“Người thổ dân thì không biết chữ, đốt rẫy làm ăn, gác sàn mà ở, không nhớ ngày tháng Khi gặt hái xong thì hội họp ăn uống, đánh trống, đánh chiêng, cùng nhau vui thích, gọi là Tết […] Người Man hình dáng đen, mặc vải hoa vàng, búi tóc, lỗ tai rộng chừng một tấc, xâu bằng trục
gỗ, quấn lưng bằng miếng vải, không có áo quần, ở nơi xa lánh”.
(Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Bản
dịch Viện Sử học, NXB Thuận Hoá, Huế, 2006)
Cư dân cư trú trong nhà sàn Việc búi tóc, đeo khuyên tai,… rất phổ biến Các tập quán sinh hoạt vật chất này được duy trì lâu dài trong cộng đồng người S’tiêng, Chơ-ro, Mnông,… đến tận ngày nay
Hình 1.3 Già làng bên ngôi nhà sàn truyền thống
2 Đời sống tinh thần
Dựa vào thông tin trong bài, em hãy:
– Cho biết đời sống tinh thần của cư dân cổ Bình Phước giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI có gì nổi bật?
– Tìm hiểu nội dung của một hay một số truyện cổ giới thiệu ở mục "Em
có biết" Theo em, các truyện cổ được lưu truyền có tác dụng thế nào đối với đời sống tinh thần của cư dân cổ Bình Phước trong các thế kỉ X – XVI?
Trang 12Sau những ngày lao động vất vả hay sau khi thu hoạch mùa màng, cư dân thường tổ chức lễ hội, vui chơi Họ cùng nhau ăn uống, nhảy múa, ca hát trong tiếng cồng chiêng, tiếng trống, rộn ràng
Cồng, chiêng có vị trí hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần của
cư dân, đặc biệt đối với người S'tiêng Cồng, chiêng là vật gia bảo, thể hiện
sự giàu có của từng gia đình, dòng tộc hay cộng đồng Cồng, chiêng gắn bó mật thiết với đời sống từng con người, từng cộng đồng; gắn bó với cả một dân tộc trong quá trình lao động sản xuất, săn bắn, chiến đấu, trong những ngày lễ hội
Cư dân trên địa bàn Bình Phước thời kì này phổ biến tín ngưỡng đa thần
Họ tôn thờ các yếu tố tự nhiên như rừng, núi, đất, nước, Mặt Trời, Mặt Trăng, Một số di tích và tín ngưỡng liên quan đến các nhân vật có công với cộng đồng được gìn giữ và lưu truyền, trong đó có di tích Bãi Tiên (thuộc huyện Lộc Ninh ngày nay) gắn với truyền thuyết về già làng Rlem
Em có biết
Di tích Bãi Tiên
Di tích Bãi Tiên nằm trên địa phận xã Lộc An, huyện Lộc Ninh, được các nhà khoa học phát hiện vào cuối năm 2007 Di tích là một bãi đá ong nằm trên một triền đồi thấp, với các tảng đá ong có kích thước khác nhau phân bố trên diện tích khoảng một hécta Chính giữa của bãi đá là cụm đá ong được xếp thành vòng tròn, bên trong vòng tròn
đá ong là một vòng đá ong xếp theo hình vuông Sau khi di tích được phát hiện, các nghiên cứu bước đầu cho thấy đây là công trình có sự sắp đặt của bàn tay con người, là loại hình di tích khá đặc biệt, lần đầu tiên khảo cổ học phát hiện.
Hình 1.4 Biểu diễn cồng của đồng bào S'tiêng
Trang 13Hình 1.5 Di tích Bãi Tiên (huyện Lộc Ninh)
Di tích Bãi Tiên gắn với truyền thuyết
về ông Rlem đã có từ rất lâu đời, phản ánh
nhiều mặt về lịch sử, văn hoá, tín ngưỡng
cổ truyền của cộng đồng dân tộc S’tiêng
sinh sống trong khu vực huyện Lộc Ninh,
tỉnh Bình Phước.
Di tích Bãi Tiên được Chủ tịch Ủy
ban Nhân dân tỉnh Bình Phước quyết định
xếp hạng là di tích khảo cổ cấp tỉnh ngày
29/6/2018.
Một số loại hình văn học dân gian được lưu truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, sử thi, Sử thi "Krông
Kơ Laas đoạt hồn nàng Rơ Liêng Mas" là sử thi nổi tiếng của người S’tiêng.
Em có biết
Kết quả khảo sát bước đầu vào năm 2007 cho thấy vốn truyện cổ S’tiêng vừa rất phong phú về số lượng (131 truyện), vừa đa dạng về thể loại (thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần
kì, truyện cổ tích thế tục và truyện cười) Trong đó, thần thoại gồm các truyện: "Nguồn gốc của vũ trụ và muôn loài"; "Vì sao có lũ lụt"; "Nguồn gốc của sông suối"; "Nguồn gốc của các bàu nước"; "Nguồn gốc loài người";
"Nguồn gốc của tộc người S'tiêng" (3 dị bản); "Nguồn gốc của tổ tiên người S’tiêng"; "Sự tích cây lúa".
Truyền thuyết gồm các truyện: "Truyền thuyết về các dòng họ của người S’tiêng"; "Truyền thuyết về dòng họ Bratít"; "Sự tích hai dòng họ B’Yung Đrên và B’Yung Ro"; "Sự tích con suối M’Tươn"; "Sự tích con suối Văn Kha";
"Sự tích người S’tiêng ở nhà sàn"; "Sự tích người S’tiêng dựng nhà chòi trên rẫy"; "Sự tích cúng Bà Bóng"; "Sự tích con trai ở rể"; "Truyện ông Yô Yốt"; "Anh
em Tiêng – Tang"; "Chuyện anh hùng Kamengđăng",
Đời sống vật chất và tinh thần với các nội dung như trên đã góp phần gắn kết cộng đồng, tạo điều kiện để cư dân cổ ở Bình Phước trong giai đoạn
từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI tiếp tục tồn tại, phát triển và bảo lưu nhiều giá trị văn
hoá truyền thống đặc sắc trong các giai đoạn về sau
Trang 141 Lập bảng tóm tắt về quá trình lịch sử, đời sống vật chất, tinh thần của
cư dân trên địa bàn Bình Phước giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI
2 Nêu nhận xét của em về đời sống vật chất và đời sống tinh thần của
cư dân cổ trên địa bàn Bình Phước giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI
Học sinh có thể lựa chọn hoàn thành một trong hai nhiệm vụ sau:
1 Em hãy sưu tầm hình ảnh về lễ hội cồng chiêng của một dân tộc ở Bình Phước và giới thiệu cho thầy cô, các bạn trong lớp
2 Trong vai một hướng dẫn viên du lịch, em hãy giới thiệu với du khách
về lịch sử vùng đất Bình Phước trong giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI
Trang 15ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU VÀ THUỶ VĂN
– Nêu được một số hành động góp phần bảo vệ môi trường, hệ sinh thái của tỉnh Bình Phước
Trang 16Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, tỉnh Bình Phước chịu ảnh hưởng không nhỏ từ các yếu tố khí hậu và thuỷ văn Vậy các yếu tố này có đặc điểm gì? ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Bình Phước như thế nào?
I KHÍ HẬU
1 Đặc điểm của khí hậu
Dựa vào thông tin trong bài, em hãy:
– Nêu một số đặc điểm về khí hậu của tỉnh Bình Phước.
– Phân tích những ảnh hưởng của khí hậu đến quá trình phát triển kinh
tế – xã hội của tỉnh.
Tỉnh Bình Phước có khí hậu cận xích đạo gió mùa, có nền nhiệt độ cao,
ổn định, nóng quanh năm, ít bị ảnh hưởng của bão, thiên tai và phân thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) Thời điểm mùa mưa xuất hiện có thể sớm hoặc muộn hơn, tuỳ từng năm
KHỞI ĐỘNG
HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
Hình 2.2 Biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa tại trạm quan trắc Đồng Xoài năm 2020
Trang 17Nhiệt độ trung bình năm trên địa bàn tỉnh Bình Phước dao động trong khoảng 26 – 27,5oC, sự chênh lệch nhiệt độ trong năm không lớn (3 – 5oC), cao nhất vào tháng 3, 4, 5 và thấp nhất vào tháng 10, 12 Tổng số giờ nắng trong năm trung bình 2 400 – 2 700 giờ, thuận lợi cho các ngành kinh tế của tỉnh hoạt động quanh năm.
Lượng mưa trung bình trong nhiều năm của tỉnh Bình Phước đạt 2 050 –
2 350 mm Lượng nước trong mùa mưa chiếm khoảng 85 – 90% tổng lượng mưa cả năm và trong mùa khô chỉ chiếm khoảng 10 – 15% tổng lượng mưa cả năm Do đó, vào mùa khô, các sông, suối tại một số khu vực trên địa bàn tỉnh thường bị khô kiệt, gây thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất
Bình Phước là tỉnh chịu nhiều ảnh hưởng từ quá trình biến đổi khí hậu nên trong thời gian gần đây, thời điểm bắt đầu mùa mưa hoặc mùa khô có sự thay đổi, sớm hơn hoặc muộn hơn tuỳ vào từng năm, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân
2 Ảnh hưởng của khí hậu đến sự phát triển kinh tế – xã hội trong tỉnh
Bình Phước có khí hậu cận xích đạo gió mùa với điều kiện nhiệt, ẩm, ánh sáng dồi dào, thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới, nhất
là ngành trồng những loại cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê, tiêu, điều, tạo nguồn nguyên liệu phong phú để phát triển các ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu Khí hậu Bình Phước khá ổn định, ít có các hiện tượng thời tiết cực đoan, là điều kiện thuận lợi để các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ phát triển; thuận lợi cho hoạt động sinh hoạt và sản xuất của người dân Điều kiện về nhiệt độ, ánh sáng thuận lợi phát triển điện năng lượng mặt trời Khí hậu có những sắc thái riêng rất thích hợp để du khách nghỉ ngơi, an dưỡng, du lịch,…
Tuy nhiên, khí hậu cũng có một số yếu tố gây khó khăn cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người như: Mùa khô kéo dài dẫn đến hạn hán, thiếu nước; mưa lớn kéo dài dẫn đến xói mòn, sạt lở ở các vùng miền núi, ngập úng ở các vùng trũng, thấp Những cơn mưa trái mùa ảnh hưởng đến năng suất cây trồng,…
Trang 18II THUỶ VĂN
Dựa vào thông tin trong bài và những hiểu biết của bản thân, em hãy: – Trình bày đặc điểm thuỷ văn của tỉnh Bình Phước.
– Phân tích những ảnh hưởng của thuỷ văn đến sự phát triển kinh tế –
Bù Đăng và thị xã Phước Long Sông, suối hầu hết thuộc loại nhỏ
Hướng chảy chính của các sông là đông bắc – tây nam Ngoài ra có nhiều đoạn của sông, suối chảy theo hướng tây bắc – đông nam, bắc – nam, đông – tây,…
Chế độ nước phân hoá theo mùa: mùa nước lớn chiếm khoảng 80% tổng lượng nước cả năm, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, tương ứng với mùa mưa, nước lên cao nhất vào tháng 9, 10 Mùa nước cạn chiếm khoảng 20% tổng lượng nước cả năm, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, tương ứng với mùa khô, cạn nhất là vào tháng 1, 2, 3 Tuy nhiên, mùa nước lớn và mùa
nước cạn đều đến chậm hơn so với mùa mưa và mùa khô từ 15 – 30 ngày.
Các sông có tổng lượng nước chảy cả năm không nhiều, hàm lượng phù sa nhỏ và có sự phân hoá theo mùa, tập trung chủ yếu vào mùa lũ
b) Một số sông lớn trong tỉnh
– Sông Bé: Có chiều dài 350 km, bắt nguồn từ vùng núi phía tây của khu
vực nam Tây Nguyên ở độ cao 650 – 900 m, chảy qua trung tâm của tỉnh Bình
Phước (là một phần ranh giới tự nhiên giữa huyện Bù Gia Mập và Bù Đốp; Bù Gia Mập và Lộc Ninh; Phú Riềng và Lộc Ninh, Hớn Quản; thị xã Chơn Thành và huyện Đồng Phú, thành phố Đồng Xoài), tới tỉnh Bình Dương rồi đổ vào sông Đồng Nai ở phía dưới chân đập Trị An Thượng lưu của sông Bé còn có tên khác là sông Đắk Glun Sông Bé có diện tích lưu vực khoảng 7 650 km2, đoạn chảy qua tỉnh Bình Phước dài khoảng 280 km, có diện tích lưu vực 4 778 km2 Sông Bé là một trong những phụ lưu quan trọng của hệ thống sông Đồng Nai,
có nhiều chi lưu là các sông nhỏ và suối Chế độ thuỷ văn của sông Bé phụ thuộc vào chế độ mưa theo mùa nên lưu lượng dòng chảy không đều Mùa mưa nước chảy xiết do lòng sông hẹp Mùa khô mực nước sông bị hạ thấp Từ
Trang 19khi công trình thủy điện Thác Mơ được xây dựng đã góp phần điều tiết dòng chảy trên sông Bé.
– Sông Đồng Nai: Có chiều dài 653 km, lưu vực rộng lớn với tổng diện
tích lưu vực phần trong nước khoảng 37 330 km2 Dòng chính của sông chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước và Thành phố Hồ Chí Minh Đoạn chảy qua tỉnh Bình Phước tại huyện Bù Đăng dài 60 km, có diện tích lưu vực 620 km2 Sông bắt nguồn từ cao nguyên Lang Biang do 2 nhánh sông Đa Dung và Đa Nhim hợp thành, bên cạnh đó còn được tiếp nước từ một phụ lưu khác là sông La Ngà Ở đoạn uốn khúc trước khi xuống đồng bằng, sông Đồng Nai tiếp nhận thêm nước của sông Bé rồi hội lưu với sông Sài Gòn tại Nhà Bè (Thành phố Hồ Chí Minh) Tại đây, sông chia ra nhiều nhánh nhỏ, chảy qua vùng rừng Sác (huyện Cần Giờ) rồi đổ ra biển Chế độ thuỷ văn của sông Đồng Nai cũng phụ thuộc vào chế độ mưa theo mùa
– Sông Sài Gòn: Là một phụ lưu của hệ thống sông Đồng Nai, dài 256 km,
diện tích lưu vực chung là 4 500 km2 Đoạn chảy qua tỉnh Bình Phước dài 65 km,
có diện tích lưu vực 1 112 km2 Sông bắt nguồn từ vùng đồi có độ cao khoảng
150 m, nằm trên ranh giới của hai xã Lộc Hoà và Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, rồi chảy qua giữa địa phận xã Lộc Tấn, tiếp đến là ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bình Phước với tỉnh Tây Ninh, qua hồ Dầu Tiếng, chảy tiếp qua tỉnh Bình Dương, là ranh giới giữa tỉnh Bình Dương với Thành phố Hồ Chí Minh, hợp với sông Đồng Nai, đổ ra biển Chế độ dòng chảy trên sông Sài Gòn đoạn qua Bình Phước chịu ảnh hưởng chế độ mưa hàng năm Sau khi hồ Dầu Tiếng vận hành, chế
độ dòng chảy của sông Sài Gòn chịu ảnh hưởng của lũ xả từ hồ Dầu Tiếng
2 Hồ, đầm và nước ngầm
a) Hồ, đầm
Trang 20Bình Phước có nhiều hồ, bàu, đầm Hầu hết các hồ tự nhiên đều có diện tích nhỏ, một số hồ nhân tạo có diện tích khá lớn là hồ Thác Mơ (110 km2), hồ Srok Phu Miêng (16,42 km2), hồ Cần Đơn (36 km2), hồ Phước Hoà (20,77 km2) Ngoài ra còn có một số hồ khác đáng kể như hồ Suối Giai, hồ Suối Lam, hồ Suối Cam,…
Phía bắc tỉnh (ở các huyện Bù Gia Mập, Bù Đăng) có địa hình cao, nhiều sông, suối nên có nhiều hồ nhân tạo Phía nam tỉnh (ở thị xã Chơn Thành, huyện Đồng Phú, thành phố Đồng Xoài) có địa hình thấp hơn, có nhiều bàu, đầm,
b) Nước ngầm
Qua khảo sát, thăm dò và khai thác cho thấy nguồn nước ngầm của Bình Phước khá phong phú, nhất là các huyện phía nam, tây nam của tỉnh Tại khu vực này, nguồn nước ngầm có chất lượng tốt, dễ khai thác, đặc biệt là dạng nước ngầm có áp (tự phun) Trong khi đó, tại các huyện phía bắc của tỉnh, nguồn nước ngầm ở sâu dưới lớp đất bazan, lưu lượng kém, độ sâu mực nước ngầm từ 50 đến 100 m, lưu lượng từ 3 đến 5 lít/giây
3 Ảnh hưởng của thuỷ văn đến sự phát triển kinh tế – xã hội
Giá trị kinh tế lớn nhất của sông, hồ ở Bình Phước là nguồn cung cấp thủy năng dồi dào để phát triển thuỷ điện (trừ thượng nguồn sông Sài Gòn) Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã có 3 nhà máy thuỷ điện đi vào hoạt động (Nhà máy thuỷ điện Thác Mơ, Cần Đơn, Srok Phu Miêng) Ngoài ra còn có một số nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ đã đi vào hoạt động, có nhà máy đang xây dựng và còn nhiều dự án thuỷ điện, thuỷ lợi khác sẽ được triển khai trong tương lai
Hình 2.4 Hồ Thác Mơ (thị xã Phước Long)
Trang 21Cùng với các hồ thuỷ điện, các hồ khác và sông, suối là nguồn cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp; cung cấp nước cho các cơ sở sản xuất công nghiệp, các lĩnh vực sản xuất khác và sinh hoạt của người dân; thuận lợi phát triển giao thông vận tải đường thuỷ ở những nơi phù hợp và nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản Ngoài ra, trên các sông, hồ còn có nhiều thắng cảnh đẹp để phát triển du lịch (hồ Suối Lam và hồ Suối Giai ở huyện Đồng Phú,
hồ Suối Cam ở thành phố Đồng Xoài, thác Đứng ở huyện Bù Đăng,…)
Nước ngầm là nguồn bổ sung rất quan trọng cho sinh hoạt và sản xuất, nhất là vào mùa khô
Bên cạnh những yếu tố thuận lợi, thuỷ văn cũng có một số yếu tố gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của người dân như lũ lụt trong mùa mưa, nước cạn trong mùa khô
Khi khai thác các giá trị của sông, hồ, nước ngầm cần chú ý bảo vệ tài nguyên và môi trường, kiểm soát chặt chẽ chất thải, nhất là vấn đề xả thải ở các khu công nghiệp, trang trại chăn nuôi Xây dựng các nhà máy thuỷ điện cần đảm bảo nguồn nước cho sông, suối khi ngăn đập, bảo vệ tài nguyên rừng; khi sử dụng phải chú ý đến vấn đề xả lũ, tránh hiện tượng lũ cục bộ ở vùng trung và hạ lưu Cần có kế hoạch khai thác, sử dụng phù hợp hơn nguồn nước mặt và nước ngầm để hạn chế ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái
Nêu những thuận lợi và khó khăn về điều kiện khí hậu và thuỷ văn đối với
sự phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bình Phước
1 Cho biết đặc điểm khí hậu và thuỷ văn ở địa phương nơi em đang sinh sống đã giúp cho người dân phát triển những hoạt động sản xuất nào? Nếu
có thể, em hãy chụp hình để làm minh chứng
2 Bản thân em và gia đình có thể làm những gì để góp phần sử dụng hợp lí và bảo vệ tài nguyên nước?
Trang 22CA DAO, DÂN CA BÌNH PHƯỚC
Chủ đề 3
Hình 3.1 Đồng bào S'tiêng đang gặt lúa
– Nhận biết được một số nét đặc trưng về ca dao, dân ca Bình Phước
– Nhận biết được một số yếu tố nội dung (đề tài, chủ đề, ý nghĩa,… nghệ thuật (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ,…) của một số văn ca dao, dân
Trang 231 Các nhóm thi đọc nhanh những câu ca dao, dân ca đã được học và đọc thêm.
2 Em có cảm nhận gì về một trong những bài ca dao, dân ca đó?
I MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ CA DAO, DÂN CA BÌNH PHƯỚC
“Ca dao, dân ca là những khái niệm tương đương, chỉ các thể loại trữ tình dân gian, kết hợp lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người Hiện nay người ta có phân biệt hai khái niệm dân ca và ca dao Dân ca là những sáng tác kết hợp lời và nhạc, tức là những câu hát dân gian trong diễn xướng Ca dao là lời thơ của dân ca.”(1)
Bình Phước là một trong những vùng đất mới ở phương Nam có lịch sử phát triển trên dưới 300 năm Cho nên văn học dân gian Bình Phước nói riêng cũng như văn học dân gian các tỉnh Nam Bộ nói chung là sản phẩm tinh thần lịch sử đặc thù của người dân nơi đây
Bình Phước có nhiều dân tộc sinh sống nhưng các dân tộc sinh sống lâu đời chủ yếu là dân tộc S’tiêng Ca dao, dân ca Bình Phước được các nhà nghiên cứu sưu tầm, xác định và nghiên cứu chủ yếu là các sáng tác của cộng đồng hai dân tộc này So với ca dao, dân ca Việt Nam nói chung, ca dao, dân ca Bình Phước nói riêng có nhiều điểm độc đáo và thú vị Đặc biệt, các bài ca dao, dân ca này gắn liền với cuộc sống, lao động, sinh hoạt của người dân các dân tộc sinh sống lâu đời ở Bình Phước
Hiện nay, dựa trên những văn bản sưu tầm được, có thể chia ca dao, dân ca Bình Phước thành một số loại sau đây: bài ca về tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước và tình yêu lao động; bài ca về tình cảm gia đình; bài ca
về tình yêu đôi lứa; bài ca về các mối quan hệ xã hội khác,…
1 Những bài ca về tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước, tình yêu lao động
Trong kho tàng ca dao, dân ca của các dân tộc thì những câu mang nội dung ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào về những cảnh
KHỞI ĐỘNG
HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
Trang 24đẹp của quê hương, hay sự trù phú về những sản vật của địa phương chiếm
vị trí hàng đầu Người S’tiêng, Khmer cũng mượn lời ca dao thể hiện lòng tự hào về nét đẹp văn hoá của dân tộc mình Đó là nghi thức mà người S’tiêng, Khmer không bao giờ được phép quên, như lễ cột tay, lễ mở hàng rào gai trong ngày cưới:
Khi nào làm lễ cột tay
Em đừng nhăn mặt, nhăn mày khó coi
Cô dâu thì phải vui tươi Đẹp lòng cha mẹ, người người đều khen
Tu hú con trắng, con đen Con cao, con thấp sánh duyên cũng kì
Em phải luôn luôn mỉm cười Còn anh một chín một mười với em.
(Dân ca Khmer)
Tương tự như các địa phương khác, Bình Phước cũng là vùng đất mới, hoang vu với nhiều rừng rậm, sông suối, đầm lầy hiểm trở nên cuộc sống người dân gặp rất nhiều khó khăn Chính vì vậy, người dân luôn phải cố gắng vượt qua những khó khăn, vất vả để có được những mùa lúa bội thu để cuộc sống gia đình thêm ấm no, hạnh phúc:
Dù vất vả với lao động
Một mùa nắng, hai mùa sương
Dân lao động không nản chí Ráng làm để mang về cho gia đình
Những mùa lúa bội thu Năm sau được nhiều hơn năm trước.
(Dân ca S’tiêng)
2 Những bài ca về tình cảm gia đình
Nội dung những câu ca dao về tình cảm gia đình của các dân tộc sinh sống lâu đời ở Bình Phước thể hiện tình cảm vợ chồng, tình cảm giữa cha, mẹ, con cái và các anh chị em trong gia đình Vợ chồng ăn ở sống đời với nhau nên phải cư xử sao cho khéo léo, tình nghĩa để có thể sống với nhau trọn đời
và là tấm gương cho con cháu noi theo:
Hồi nào mình ngủ, tui ngồi
Con muỗi bay qua tui đập, nhớ mấy hồi mình gian nan.
Hay đó là tình cảm của người mẹ dành cho con, mong con ngoan, ăn giỏi, “để lớn thành người khôn”, góp tài, góp công cho buôn sóc, cho đất nước:
Trang 25Kìa chim Pluc đang bay về nhánh đa
Gió mang theo thoáng hương rừng về đây Kìa mặt trời lặn sâu vào chiều hôm
Gà con đã biết ăn hạt lúa thơm Tiếng chim Kring đã theo bầy về đây Ngủ hời ngủ để lớn thành người khôn.
(Dân ca S’tiêng)
3 Những bài ca về tình yêu đôi lứa
Trong kho tàng ca dao, dân ca của người S’tiêng, Khmer có thể nói chủ
đề tình yêu đôi lứa được thể hiện phong phú nhất Tình yêu xuất phát trong lao động sản xuất, do hoạt động kinh tế của người S'tiêng, Khmer gắn với nền nông nghiệp và tình yêu của họ cũng giản dị như chính đời sống của họ Hình ảnh người con trai tìm gặp được người mình mong đợi và cô gái hiện ra như một cánh hoa dịu dàng hương sắc màu:
Môi cười trao duyên
Em vui hội buôn làng
Em tựa những cánh hoa Dịu dàng hương sắc màu.
Ôi, thôi, thật là xứng lắm.
4 Những bài ca về các mối quan hệ xã hội khác
Trong ca dao, dân ca của người S’tiêng, Khmer ngoài những câu có nội dung về tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước, tình yêu đôi lứa và tình cảm gia đình thì còn có mối quan hệ giữa con người với nhau, giữa con người với thiên nhiên,…
Hoạt động kinh tế của người S’tiêng, Khmer gắn bó với núi rừng, muôn thú nên trong lời ca tiếng hát của mình, họ dành vị trí tương đối lớn cho những loài vật cùng chung sống, gắn bó với mình:
Chim Môhôri, Môhôri!
Nín đi, nín đi, đừng khóc làm chi
Trang 26Mùa này cây chry không sai quả
Ta hãy chờ mùa sau, chim hỡi!
Đêm nay ta bên nhau Lời em hát anh say Chim muông ca nơi nơi Rừng hoa thắm đồi nương Mùa hội trai gái thiết tha trao lời Hẹn tình yêu mới nhớ nhau mong chờ.
(Dân ca S’tiêng)
Mặt Trời đã lên cao Sửa soạn ghe thuyền mau Anh nhổ sào, em hỡi.
Trang 273 Âm thanh tiếng gà gáy ở bài ca số 2 được nhắc đến vào thời gian nào? Ở thời gian ấy, người lao động đang chuẩn bị làm gì? Qua đó, em thấy
họ là người như thế nào?
4 Nêu đặc sắc nghệ thuật của 2 văn bản trên
Văn bản 2
Những câu hát về tình cảm gia đình
Thì phải nấu chín nồi cơm nuôi chồng.
(Dân ca S’tiêng)
2 Ngủ đi con, ngủ cho say
Lớn lên đi học góp tài góp công.
(Dân ca Khmer)
Cha mẹ đi rẫy rồi Chỉ còn mình chị thôi Chị ru cho em ngủ.
Trang 29MỘT SỐ NGHI LỄ VÒNG ĐỜI TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC
Chủ đề 4
Hình 4.1 Lễ vật cúng thôi nôi ngày nay
– Giới thiệu được những nghi lễ đặc trưng gắn với vòng đời của một số dân tộc cư trú lâu đời ở Bình Phước để thấy sự phong phú, đa dạng và
ý nghĩa của một số nghi lễ vòng đời tại địa phương
– Bồi đắp cho học sinh niềm tự hào về bản sắc văn hoá các dân tộc trên địa bàn tỉnh Bình Phước và có ý thức gìn giữ, phát huy bản sắc văn hoá địa phương
MỤC TIÊU
Trang 30Bình Phước là địa bàn cư trú lâu đời của nhiều cộng đồng dân tộc Mỗi dân tộc có những lễ, hội, tín ngưỡng, phong tục tập quán đặc trưng của dân tộc mình, nhất là những nghi lễ gắn với vòng đời lại càng mang tính đặc trưng hơn
Nghi lễ vòng đời mỗi tộc người trên địa bàn tỉnh Bình Phước còn được thể hiện qua những phong tục, tập tục văn hoá phong phú, đa dạng của tộc
Trang 31người đó trong cuộc sống hằng ngày, được truyền từ đời này sang đời khác góp phần giữ gìn những giá trị truyền thống tốt đẹp, củng cố tình cảm và mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, họ hàng, cộng đồng địa phương.
Đối với mỗi tộc người, nghi lễ vòng đời sẽ có tầm quan trọng khác nhau tuỳ thuộc vào quan niệm trong từng thời điểm cụ thể Quy mô tổ chức các nghi lễ vòng đời sẽ khác nhau tuỳ vào điều kiện kinh tế của gia chủ và mối quan hệ của họ với cộng đồng xung quanh Thời gian tổ chức các nghi lễ vòng đời của mỗi tộc người cũng sẽ khác nhau ở từng thời điểm cụ thể, có nghi lễ chỉ kéo dài một vài giờ nhưng cũng có những nghi lễ kéo dài hàng mấy năm mới kết thúc
Bên cạnh những nghi lễ, tập tục liên quan đến vòng đời góp phần giữ gìn những giá trị truyền thống tốt đẹp, củng cố tình cảm và mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, họ hàng, cộng đồng địa phương thì còn không
ít các lễ nghi rườm rà, lạc hậu, gây tốn kém và phiền toái cho gia chủ
II GIỚI THIỆU CỤ THỂ MỘT SỐ NGHI LỄ VÒNG ĐỜI CỦA MỘT SỐ DÂN TỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC
1 Chỉ ra những lễ vật cần chuẩn bị cho từng nghi lễ vòng đời của các dân tộc S’tiêng, Khmer, M’nông.
2 Nhận xét về sự đa dạng và ý nghĩa của các nghi lễ vòng đời trên.
Sau khi bày biện các món ăn ngon nhất dâng lên cúng thần linh và tổ tiên sẽ tiến hành “cột chỉ cổ tay” cho đứa trẻ đầy tháng Một bó dây chỉ bằng sợi vải dệt thổ cẩm và bát huyết gà được mang ra Các thành viên trong gia đình, họ tộc đến dự lễ lấy dây chỉ nhúng vào huyết gà rồi cột vào cổ tay đứa trẻ vừa đầy tháng và cùng chúc phúc cho gia đình, tặng cho đứa trẻ những vật dụng phù hợp với giới tính của chúng