1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tỷ lệ biến cố chảy máu nặng và huyết khối trên bệnh nhân sử dụng aspirin liều thấp và thuốc kháng vitamin k sau thay van tim cơ học

92 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tỷ lệ biến cố chảy máu nặng và huyết khối trên bệnh nhân sử dụng aspirin liều thấp và thuốc kháng vitamin k sau thay van tim cơ học
Tác giả Nguyễn Vạn Phước
Người hướng dẫn PGS.TS.BS Hồ Huỳnh Quang Trí
Trường học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Nội khoa
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (16)
    • 1.1. Tổng quan về van cơ học (16)
      • 1.1.1. Các loại van cơ học (16)
      • 1.1.2. Van động mạch chủ cơ học (18)
      • 1.1.3. Van 2 lá cơ học (19)
      • 1.1.4. Chọn lựa phương pháp thay van và vật liệu nhân tạo (20)
    • 1.2. Điều trị nội khoa sau thay van tim cơ học (21)
    • 1.3. Biến chứng huyết khối (23)
      • 1.3.1. Huyết khối van (23)
      • 1.3.2. Thuyên tắc mạch (24)
    • 1.4. Biến chứng chảy máu nặng (28)
    • 1.5. Các công trình nghiên cứu liên quan (28)
      • 1.5.1. Trên thế giới (28)
      • 1.5.2. Tại Việt Nam (30)
    • 1.6. Các khuyến cáo hiện nay (31)
  • CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (34)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (0)
      • 2.1.1. Dân số nghiên cứu (34)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn chọn mẫu (34)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (35)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (35)
      • 2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu (35)
        • 2.2.2.1. Công thức tính cỡ mẫu cho một tỉ lệ (35)
        • 2.2.2.2. Chọn mẫu (35)
      • 2.2.3. Quy trình thu thập số liệu (38)
    • 2.3. Các biến số trong nghiên cứu và định nghĩa biến số (39)
      • 2.3.1. Biến số độc lập (39)
      • 2.3.2. Thời gian trong khoảng điều trị (Time in Therapeutic range - TTR): Biến định lượng (42)
      • 2.3.3. Biến số kết cục (43)
        • 2.3.3.1. Huyết khối (43)
        • 2.3.3.2. Chảy máu nặng (44)
    • 2.4. Phương pháp tiến hành nghiên cứu (45)
      • 2.4.1. Địa điểm và thời gian thu thập số liệu (45)
      • 2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu (45)
      • 2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu (45)
    • 2.5. Ảnh hưởng lên đối tượng nghiên cứu (46)
    • 2.6. Y đức trong nghiên cứu (47)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (48)
    • 3.1. Mô tả đặc điểm bệnh nhân trong nghiên cứu (48)
    • 3.2. Thời gian trong khoảng điều trị (51)
    • 3.3. Tỉ lệ huyết khối và chảy máu nặng (55)
      • 3.3.1. Tỉ lệ huyết khối (55)
      • 3.3.2. Tỉ lệ chảy máu nặng (60)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (65)
    • 4.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (65)
    • 4.2. Tình hình sử dụng thuốc kháng vitamin K (71)
      • 4.2.1. Thời gian INR nằm trong khoảng điều trị (71)
      • 4.2.2. Tương quan TTR với biến cố huyết khối và chảy máu nặng (0)
    • 4.3. Tỉ lệ biến cố huyết khối (74)
    • 4.4. Tỉ lệ biến cố chảy máu (76)
  • KẾT LUẬN (38)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (82)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ YTẾĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ---NGUYỄN VẠN PHƯỚC TỶ LỆ BIẾN CỐ CHẢY MÁU NẶNG VÀ HUYẾT KHỐI TRÊN BỆNH NHÂN SỬ DỤNG ASPIRIN LIỀU THẤP VÀ THUỐC KHÁNG V

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 2.2.2.1 Công thức tính cỡ mẫu cho một tỉ lệ: n = (DEFF *Np(1-p)]/ [(d 2 /Z 2 1-α/2*(N-1)+p*(1-p)) Trong đó: DEFF (design effect (for complex sample surveys)) = 1 cho mẫu ngẫu nhiên p = Tỉ lệ huyết khối ghi nhận khoảng 4.5% theo tác giả Laffort [45], 1.32% theo Meschengieser [65] p =Tỉ lệ xuất huyết ghi nhận khoảng 3.46% theo Ming – Feng Dong [29] n = 54

 Chúng tôi chọn 112 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu, thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu nêu trên

Sử dụng cơ sở dữ liệu bệnh nhân trên phần mềm quản lý bệnh nhân tại Viện Tim giúp ghi nhận chính xác các bệnh nhân đang sử dụng aspirin kết hợp với thuốc kháng vitamin K Việc theo dõi này đảm bảo công tác điều trị được phối hợp hiệu quả, giảm thiểu nguy cơ biến chứng do tương tác thuốc Hệ thống phần mềm còn hỗ trợ cập nhật thông tin nhanh chóng, giúp bác sĩ ra quyết định chính xác và phù hợp với từng tình trạng bệnh nhân Đây là bước quan trọng trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc và theo dõi bệnh nhân tại Viện Tim.

Ghi nhận những trường hợp bệnh nhân có theo dõi chức năng đông máu (INR) theo phác đồ Viện Tim [1]

Tiến hành tiếp cận hồ sơ.

Tại Viện Tim TP.HCM, quá trình điều chỉnh thuốc kháng vitamin K sau thay van tim cơ học được thực hiện dựa trên việc theo dõi chức năng đông máu của bệnh nhân Quá trình này tuân thủ hướng dẫn năm 2014 của Hiệp hội Huyết học Hoa Kỳ (American Society of Hematology), nhằm đảm bảo an toàn trong sử dụng thuốc chống huyết khối và xử lý các biến chứng chảy máu liên quan Việc điều chỉnh thuốc kháng vitamin K dựa trên các tiêu chí chặt chẽ giúp tối ưu hiệu quả điều trị và giảm thiểu nguy cơ các biến cố liên quan đến đông máu.

Biểu đồ 1: Hướng dẫn 2014 của Hiệp hội Huyết học Hoa Kỳ (American of Society of Hematology) về hướng dẫn sử dụng các thuốc chống

1.5 mà không tìm được nguyên nhân

Xét nghiệm INR trong 1 tuần

Xét nghiệm INR trong vòng 2 tuần

Xét nghiệm INR trong vòng 1 tuần

- Có thể dùng thêm vitamin

Xét nghiệm INR trong vòng 2 ngày

Xét nghiệmINR sau 1 ngày huyết khối và điều trị các biến chứng chảy máu có liên quan đến thuốc chống huyết khối ở người lớn

Năm 2010, Pháp đã ban hành hướng dẫn thực hành lâm sàng về quản lý bệnh nhân sử dụng thuốc kháng vitamin K trong các tình huống nguy hiểm như quá liều, nguy cơ chảy máu và chảy máu thực thể Hướng dẫn này cung cấp các phản ứng cần thiết để xử lý các ca cấp cứu liên quan đến thuốc kháng vitamin K, nhằm giữ an toàn cho bệnh nhân và giảm thiểu các biến chứng nghiêm trọng (Xem Bảng 2.1 để biết chi tiết hướng dẫn cụ thể)

Bảng 2.1 Hướng dẫn thực hành lâm sàng tại Pháp về quản lý các bệnh nhân đang dùng thuốc kháng vitamin K trong các trường hợp nguy hiểm

Không ngưng VKA Không dùng vitamin K

Không ngưng VKA Không dùng vitamin K

Ngưng VKA Uống vitamin K 2 mg

Xem xét việc dùng vitamin

K 1-2 mg đường uống, phụ thuộc vào chỉ định (vd, van tim cơ học)

Thảo luận với chuyên gia về điều trị VKA ngay lập tức hoặc nhập viện

2.2.3 Quy trình thu thập số liệu:

BN mang van tim cơ học được theo dõi tại Viện Tim TPHCM

Có tiêu chuẩn loại trử Thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu Loại bỏ

Kết luận Nhập và Phân tích số liệu

Ghi nhận các bệnh nhân có khoảng thời gian giữa 2 lần xét nghiệm INR < 60 ngày

Hồi cứu hồ sơ bệnh án

Sơ đồ 2.1 Quy trình thu thập số liệu

Các biến số trong nghiên cứu và định nghĩa biến số

2.3.1 Biến số độc lập: Đặc điểm bệnh nhân trước phẫu thuật van tim:

- Tuổi: o Biến định lượng o Cách tính: Năm hiện tại theo dõi - Năm sinh

- Giới: biến định tính, gồm 2 giá trị:

- Kiểu tổn thương van tim cần phẫu thuật: Biến định tính, gồm 3 giá trị:

Hở van Hẹp và hở van o Các kiểu tổn thương van tim cần phẫu thuật được định nghĩa theo Hướng dẫn điều trị bệnh nhân bệnh van tim của

ACC/AHA năm 2014 [62]: o Hẹp van động mạch chủ nặng:

 Vận tốc tối đa qua van động mạch chủ ≥ 4 m/s hoặc chênh áp trung bình ≥ 40 mmHg

 Diện tích mở van Động mạch chủ ≤ 1,0 cm 2 (hoặc diện tích mở van động mạch chủ hiệu chỉnh ≤ 0,6 cm 2 /m 2 ) o Hẹp van 2 lá nặng:

 Diện tích mở van 2 lá ≤ 1,5 cm 2

 Thời gian giảm nửa áp lực thì tâm trương ≥ 150 ms o Hở van động mạch chủ nặng:

 Chiều rộng dòng phụt ngược ≥ 65% đường kính buồng tống thất trái

 Chiều dài vùng hẹp nhất của dòng hở > 0,6 cm

 Thể tích dòng hở ≥ 60 mL/nhịp

 Diện tích dòng hở hữu hiệu (EROA) ≥ 0,3 cm 2 o Hở van 2 lá nặng:

 Diện tích dòng phụt ngược trung tâm > 40% diện tích nhĩ trái

 Chiều dài vùng hẹp nhất của dòng hở ≥ 0,7 cm

 Thể tích dòng hở ≥ 60 mL

 Diện tích dòng hở hữu hiệu ≥ 0,4 cm2

- Vị trí van cơ học: biến định tính, gồm 3 giá trị:

Van 2 lá Van động mạch chủ

Cả 2 van (van 2 lá và van động mạch chủ)

- Nhịp tim trước phẫu thuật: biến định tính, gồm 2 giá trị:

Nhịp xoang Rung hoặc cuồng nhĩ

- Đặc điểm siêu âm tim:

Chức năng tâm thu thất trái (LVEF): biến định tính, gồm 2 giá trị: >

35%, ≤ 35%. Đường kính nhĩ trái (LAD): biến định tính, gồm 2 giá trị: ≥ 50mm, 60 ngày.

Kiểm soát kháng đông được gọi là kém nếu TTR < 60% [69]

Adverse events are defined according to the 2008 guidelines on mortality and morbidity reporting established by the American Association for Thoracic Surgery (AATS) and the European Association for Cardio-Thoracic Surgery (EACTS) These standardized definitions ensure consistent reporting and assessment of complications related to heart valve interventions Implementing these guidelines enhances the accuracy of clinical outcomes analysis and supports improved patient safety in cardiac surgery procedures.

Các biến cố này bao gồm: huyết khối và chảy máu nặng

Huyết khối van là trạng thái xuất hiện huyết khối tại vị trí van không do nhiễm trùng, gây cản trở dòng máu qua van hoặc đủ lớn để cần điều trị Huyết khối này thường được phát hiện khi khám nghiệm tử thi hoặc trong quá trình phẫu thuật vì các lý do không liên quan đến van, và không phải do nguyên nhân liên quan đến nhiễm trùng.

Thuyên tắc mạch là các biến cố thuyên tắc không liên quan đến nhiễm trùng, thường xảy ra ngay sau thời gian chu phẫu Đây có thể biểu hiện bằng các biến cố thần kinh hoặc các dạng thuyên tắc khác ngoài não, gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của bệnh nhân.

Biến cố thần kinh là bất kỳ dạng thiếu hụt thần kinh trung ương nào, có thể mới, tạm thời hoặc vĩnh viễn, và có thể khu trú hoặc toàn diện, xuất hiện sau khi bệnh nhân tỉnh lại sau gây mê Đột quỵ là dạng biến cố thần kinh kéo dài trên 72 giờ hoặc vĩnh viễn, thường đi kèm các bất thường rõ ràng trên hình ảnh MRI hoặc CT scan Các bệnh nhân có triệu chứng ít, không điển hình hoặc thay đổi, khi được chẩn đoán bằng hình ảnh học chứng minh có biến cố thiếu máu cấp tính, được xem như đột quỵ kéo dài, đòi hỏi chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Cơn thoáng thiếu máu não (TIA) là tình trạng đặc trưng bởi các triệu chứng hồi phục hoàn toàn trong thời gian ngắn, thường dưới 24 giờ Tuy nhiên, khi các hình ảnh chẩn đoán hình ảnh cho thấy có tổn thương thần kinh trung ương cấp tính, như nhồi máu não kèm các triệu chứng thoáng qua, bệnh nhân sẽ được xem xét lại và phân loại vào nhóm đột quỵ kéo dài Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của các phương pháp chẩn đoán hình ảnh trong việc xác định chính xác tình trạng bệnh Nhận biết và phân loại đúng giúp tối ưu hóa chiến lược điều trị và phòng ngừa các biến chứng nặng hơn.

Các cơn hoặc các cơn lặp lại thoáng qua xảy ra trong một khoảng thời gian ngắn, còn gọi là bùng phát hoặc cụm, cần được ghi nhận là một biến cố để tính toán tỷ lệ biến cố chính xác Việc xác định các đợt bộc phát này giúp đánh giá đúng mức độ và tần suất của các biến cố trong phân tích dữ liệu y tế hoặc nghiên cứu dịch tễ học Các biến cố này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nguy cơ và xây dựng các chiến lược phòng ngừa hiệu quả.

Thuyên tắc mạch không liên quan đến não được xác nhận qua phẫu thuật hoặc bằng lâm sàng khi gây ra các triệu chứng hoặc dấu hiệu phản ánh tắc một phần hoặc hoàn toàn một động mạch ngoại biên Nhồi máu cơ tim trong quá trình phẫu thuật và sau phẫu thuật không được coi là thuyên tắc mạch trừ khi nguyên nhân là thuyên tắc mạch vành được xác định rõ qua phẫu thuật, tử thiết hoặc hình ảnh học lâm sàng Tác nhân thuyên tắc gồm những yếu tố không phải huyết khối, như xơ vữa động mạch hoặc u nhầy (myxoma), không được tính trong thống kê.

Biến cố chảy máu là bất kỳ giai đoạn chảy máu nặng bên trong hoặc bên ngoài gây ra tử vong, nhập viện, tổn thương vĩnh viễn như mất thị lực hoặc cần truyền máu Chảy máu nặng không dự đoán trước, liên quan đến chấn thương nhẹ, được coi là biến cố chảy máu, trong khi chảy máu liên quan đến chấn thương nặng hoặc phẫu thuật lớn thì không tính Các biến cố chảy máu được báo cáo trên tất cả các bệnh nhân, bất kể họ có đang sử dụng thuốc kháng đông hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu hay không, nhằm đảm bảo việc đánh giá toàn diện về nguy cơ chảy máu trong nghiên cứu.

Phương pháp tiến hành nghiên cứu

2.4.1 Địa điểm và thời gian thu thập số liệu:

Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân thay van tim tại Viện Tim TP.HCM trong giai đoạn từ tháng 7 năm 2017 đến tháng 3 năm 2020 theo quy trình thu thập số liệu chuẩn hóa (Sơ đồ 2.1) Quá trình này đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của thông tin y học nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và phân tích y tế Việc thu thập dữ liệu có hệ thống giúp đánh giá hiệu quả của ca phẫu thuật thay van tim, đồng thời tăng cường chất lượng chăm sóc sức khỏe bệnh nhân tại viện.

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu:

Ghi nhận các biến số vào phiếu thu thập

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu:

- Sử dụng phần mềm Epi-data 3.0 để nhập liệu và quản lý số liệu.

- Sử dụng phần mềm SPSS để phân tích và xử lí số liệu.

- Trình bày kết quả bằng bảng và biểu đồ theo phần mềm MicrosoftWord 2013, Microsoft Excel 2013, EndNote X9.

- Biến liên tục phân phối bình thường được trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn.

- Biến liên tục phân phối không bình thường được trình bày dưới dạng trung vị, nhỏ nhất – lớn nhất.

Tần suất các biến cố được biểu thị dưới dạng tần suất tuyến tính hóa (linearized rate), thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm mỗi bệnh nhân – năm Phương pháp này được tính bằng tổng số biến cố xảy ra trong suốt thời gian theo dõi chia cho tổng thời gian theo dõi của toàn bộ bệnh nhân Việc sử dụng tần suất tuyến tính hóa giúp đánh giá chính xác hơn về mức độ xảy ra các biến cố trong quá trình nghiên cứu.

- So sánh tỉ lệ bằng phép kiểm Pearson’s χ² hoặc phép chính xác

- Phân tích tìm yếu tố có liên quan đến biến cố huyết khối và chảy máu bằng mô hình hồi quy logistic đa biến.

- Vẽ biểu đồ tỉ lệ sống còn mà không bị biến cố bằng phương pháp đường cong Kapplan-Meier

- Trong tất cả các thuật toán ngưỡng có ý nghĩa thông kê được chọn là p < 0,05Phân tích thống kê được thực hiện trên SPSS 10.0

Ảnh hưởng lên đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu viên chỉ được phép sử dụng thông tin của đối tượng nghiên cứu phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích khác.

- Thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được bảo mật hoàn toàn.

Đây là một nghiên cứu mô tả loạt ca, trong đó các nhà nghiên cứu chỉ quan sát và ghi nhận đặc điểm của bệnh nhân Nghiên cứu này không gây ảnh hưởng hay can thiệp vào tình trạng của bệnh nhân, nhằm mục đích phân tích và mô tả các đặc điểm lâm sàng Phương pháp này giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm bệnh nhân mà không làm thay đổi quá trình hoặc kết quả điều trị.

Y đức trong nghiên cứu

- Đề tài được chấp thuận bởi Hội đồng Y đức trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu này là nghiên cứu cắt ngang mô tả, không can thiệp vào quá trình chăm sóc và điều trị của bệnh nhân Mục đích chính của nghiên cứu là nhằm phục vụ mục đích khoa học, cung cấp cái nhìn tổng thể về tình trạng của bệnh nhân mà không ảnh hưởng đến quá trình điều trị.

- Tất cả các thông tin của bệnh nhân đều được giữ bí mật Vì vậy, nghiên cứu không vi phạm đạo đức nghiên cứu y sinh học

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Mô tả đặc điểm bệnh nhân trong nghiên cứu

Từ tháng 07/2017 đến tháng 03/2020 chúng tôi tuyển được 112 bệnh nhân vào nghiên cứu Các đặc điểm trước phẫu thuật của bệnh nhân được trình bày sau đây:

Bảng 3.1: Đặc điểm trước phẫu thuật của bệnh nhân trong nghiên cứu: ĐẶC ĐIỂM n = 112 %

Tuổi (năm) (Trung bình, lớn nhất – nhỏ nhất) 53,2 (27 – 75)

Kiểu tổn thương van tim

Vị trí van cơ học

Cả 2 van (van 2 lá và van động mạch chủ) 38 33,9%

Rung hoặc cuồng nhĩ 73 65,2% Đặc điểm siêu âm tim

Tiền căn huyết khối trước đây

Huyết khối trong tâm nhĩ 3

Huyết khối trong tâm thất 1

Huyết khối động mạch ngoại biên 1

Huyết khối tại van cơ học gây tắc nghẽn 2

Bắc cầu động mạch vành 4 3,6%

Tạo hình van 3 lá (không vòng van) 18 16,1%

Tạo hình van 3 lá (có vòng van) 39 34,8%

Sữa chữa dị tật tim bẩm sinh 2 1,8%

Có 32 bệnh nhân là nam giới, chiếm tỉ lệ 28,6%.

Tuổi trung vị là 54 tuổi, bệnh nhân nhỏ tuổi nhất được thay van cơ học là 27 tuổi, lớn nhất là 75 tuổi.

Trong các trường hợp tổn thương van, bệnh lý phối hợp vừa hở van vừa hẹp van chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 50%, cần phải được phẫu thuật xử lý hiệu quả Tiếp theo là các bệnh lý gây tổn thương dẫn đến hẹp van, chiếm khoảng 33,9%, trong khi các trường hợp chỉ hở van chiếm tỷ lệ thấp hơn, khoảng 16,1% Điều này cho thấy, việc xác định chính xác loại tổn thương van là rất quan trọng để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp và đảm bảo kết quả tốt cho bệnh nhân.

Vị trí van cơ học phổ biến nhất là van 2 lá, chiếm tới 58,9% các trường hợp, trong khi đó van động mạch chủ chỉ có tỉ lệ 7,1% Ngoài ra, còn có khoảng 33,9% bệnh nhân cần thay đồng thời cả hai van, phản ánh tỷ lệ bệnh van tim phức tạp cao.

Trước phẫu thuật, phần lớn bệnh nhân ghi nhận bị rung hoặc cuồng nhĩ chiếm tỷ lệ 65,2% Đặc điểm siêu âm tim cho thấy chức năng tâm thu thất trái của hầu hết các bệnh nhân còn giữ ở mức giới hạn giữa đến bảo tồn, với LVEF trên 35%, chiếm 98,2% Chỉ có 2 trường hợp bệnh nhân cần phẫu thuật van tim khi EF thấp hơn mức này.

≤ 35% Đường kính nhĩ trái chưa dãn lớn ( 60%) khác biệt đáng kể so với nhóm kiểm soát TTR kém với p=0,045, cho thấy kiểm soát TTR tốt làm giảm nguy cơ huyết khối Trong khi đó, đối với biến cố chảy máu nặng, tỷ lệ mắc của nhóm kiểm soát TTR tốt là 11,54% với 3 trường hợp, còn nhóm kiểm soát TTR kém là 16,13% với 5 trường hợp, tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p=0,458 (OR 0,678; 95% CI 0,146 – 3,156), cho thấy kiểm soát TTR không ảnh hưởng rõ ràng đến nguy cơ chảy máu nặng.

Tỉ lệ huyết khối và chảy máu nặng

Chúng tôi tiến hành khảo sát trên 112 bệnh nhân trong tổng thời gian là 416,3 năm Thời gian theo dõi trung vị: 3,4 năm (41 tháng; min – max: 7 –

Chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 3.5: Tần suất biến cố huyết khối tuyến tính hóa (% / Bệnh nhân – năm) Tổng số năm theo dõi: 416.3 năm

Huyết khối van 4 0,96%/ BN-năm

Thuyên tắc mạch 3 0,72%/ BN-năm

Nhồi máu não Cơn thoáng thiếu máu não

Chúng tôi ghi nhận tỷ lệ huyết khối là khoảng 1,68%/BN-năm, trong đó huyết khối tại van chiếm 0,96%/BN–năm, với 4 trường hợp, trong đó 2 trường hợp điều trị tiêu sợi huyết thành công và 2 trường hợp cần phẫu thuật thay van nhân tạo Về biến cố thuyên tắc mạch, chúng tôi ghi nhận 3 trường hợp, tỷ lệ 0,72%/BN–năm, trong đó có 1 trường hợp nhồi máu não chiếm 33,3%, còn lại 66,7% là các cơn thoáng thiếu máu não, và chưa phát hiện các biến cố thuyên tắc mạch hệ thống khác trong nghiên cứu.

Chúng tôi thu thập các đặc điểm của bệnh nhân để xác định các yếu tố nguy cơ hình thành huyết khối theo nghiên cứu của Whitlock RP Các yếu tố này bao gồm tuổi tác, giới tính, tiền sử bệnh lý, mức độ hoạt động thể chất và các bệnh đi kèm như tiểu đường hoặc béo phì Việc phân tích các đặc điểm này giúp đánh giá chính xác nguy cơ huyết khối và thúc đẩy các biện pháp phòng ngừa hiệu quả Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định các yếu tố cá thể để giảm thiểu nguy cơ huyết khối trong cộng đồng y tế hiện nay.

[70], Torella M, Torella D [66], Acar J, Iung B [12], và Hering D, Peper C

[36] Do đó, chúng tôi tiến hành phân tích hồi qui logictis đơn biến để tìm mối liên quan yếu tố trên với biến cố huyết khối

Bảng 3.6: Phân tích hồi qui đơn biến tìm yếu tố liên quan biến cố huyết khối: ĐẶC ĐIỂM Số BN Số biến cố huyết khối

Bệnh van cần phẫu thuật 0,630

Vị trí van cơ học 0,272

Cả 2 van (van 2 lá và van động mạch chủ)

Rung hoặc cuồng nhĩ 73 6 Đặc điểm siêu âm tim

Chức năng tâm thu thất Trái (LVEF) ≤ 35%

2 0 0,883 Đường kính nhĩ trái (LAD) ≥ 50mm 44 5 0,108

Tiền căn huyết khối trước đây 0,722

Bắc cầu động mạch vành 4 1

Tạo hình van 3 lá (không vòng van) 18 1

Tạo hình van 3 lá (có vòng van) 39 3

Sữa chữa dị tật tim bẩm sinh 2 0

Chúng tôi ghi nhận không có đặc điểm nào trong mẫu nghiên cứu liên qua đến biến cố huyết khối.

Ngoài ra, chúng tôi dùng phương pháp Kaplan-Meier để ước tính tỉ lệ sống còn không bị biến cố huyết khối và lập được biểu đồ:

Hình 3.1 Tỉ lệ bệnh nhân còn sống không bị biến cố huyết khối:

Tỉ lệ sống còn không bị biến cố huyết khối: 137,6 ± 13,5 tháng

Chúng tôi nhận thấy tỷ lệ bệnh nhân gặp biến cố huyết khối tập trung chủ yếu trong 72 tháng đầu tiên sau chẩn đoán, nghĩa là trong sáu năm đầu tiên điều trị Các biến cố huyết khối xảy ra phân bố đều trong khoảng thời gian này, cho thấy tầm quan trọng của việc theo dõi và phòng ngừa trong giai đoạn đầu sau khi bệnh nhân được chẩn đoán Điều này nhấn mạnh vai trò của việc kiểm soát yếu tố nguy cơ huyết khối trong suốt thời gian này để giảm thiểu các biến cố nghiêm trọng.

Sau khoảng 72 tháng, chúng tôi nhận thấy các biến cố huyết khối rất ít xuất hiện.

3.3.2 Tỉ lệ chảy máu nặng

Tương tự, chúng tôi cũng xét đến tỉ lệ chảy máu nặng và ghi nhận được:

Bảng 3.7 Tần suất biến cố chảy máu nặng tuyến tính hóa (% / BN – năm) Tổng số năm theo dõi: 416.3 năm Số ca %/BN – năm

Chảy máu nặng 9 2,16 %/BN- năm

Chảy máu nặng cần nhập viện 6 1,54%/BN- năm

Chảy máu cần truyền máu 3 0,72%/BN- năm

Chảy máu gây tổn thương vĩnh viễn 0 0,0%/BN-năm

Tỉ lệ chảy máu nặng trong số bệnh nhân là khoảng 2,16% mỗi năm, trong đó có 6 trường hợp cần nhập viện điều trị, gồm 5 ca xuất huyết tiêu hóa trên và 1 ca xuất huyết não với di chứng yếu nửa người, chiếm 33,3% tổng số chảy máu nặng Ngoài ra, có 3 trường hợp chảy máu cần truyền máu, gồm 2 ca xuất huyết dưới da mức độ nặng và 1 ca rong kinh cần truyền máu.

Tiếp theo, chúng tôi phân tích hồi đi logictis đơn biến để tìm mối liên quan đến biến cố chảy máu nặng:

Bảng 3.8: Phân tích hồi qui đơn biến tìm yếu tố liên quan biến cố chảy máu nặng: ĐẶC ĐIỂM Số BN Số biến cố chảy máu p

Bệnh van cần phẫu thuật 0,

Vị trí van cơ học 0,

Cả 2 van (van 2 lá và van động mạch 38 2 chủ)

Rung hoặc cuồng nhĩ 73 6 Đặc điểm siêu âm tim

Chức năng tâm thu thất Trái (LVEF) ≤ 35%

0 Đường kính nhĩ trái (LAD) ≥ 50mm 44 5 0,

Tiền căn huyết khối trước đây 0,

Bắc cầu động mạch vành 4 0

Tạo hình van 3 lá (không vòng van) 18 2

Tạo hình van 3 lá (có vòng van) 39 5

Sữa chữa dị tật tim bẩm sinh 2 0

Chúng tôi không ghi nhận bất kỳ đặc điểm nào trong mẫu dân số nghiên cứu có liên quan đến tỷ lệ chảy máu nặng, do tất cả các chỉ số p đều lớn hơn 0,05, cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố này và kết quả chảy máu nặng.

Tương tự, chúng tôi cũng dùng phương pháp Kaplain-Meier để ước tính tỉ lệ bệnh nhân không chịu biến cố chảy máu nặng trong quá trình theo dõi:

Hình 3.2 Tỉ lệ bệnh nhân còn sống không bị biến cố chảy máu nặng :

Tỉ lệ bệnh nhân còn sống không bị biến số chảy máu nặng: 148,6 ± 4,3 tháng

Các biến cố chảy máu nặng chủ yếu xảy ra trong 48 tháng đầu tiên của nghiên cứu, với tần suất đều đặn và không tập trung vào một khoảng thời gian cụ thể nào, cho thấy nguy cơ chảy máu nặng diễn ra liên tục trong giai đoạn này.

Sau 48 tháng, các biến cố có xu hướng ít xuất hiện hơn

BÀN LUẬN

Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã thu thập dữ liệu từ 112 bệnh nhân sau phẫu thuật thay van cơ học, được chọn theo các tiêu chuẩn rõ ràng như sử dụng aspirin và thuốc kháng vitamin K, và theo dõi tại phòng khám của Viện Tim Kết quả khảo sát cho thấy các đặc điểm về tuổi của bệnh nhân đóng vai trò quan trọng trong quá trình theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của các bệnh nhân là 53,17 tuổi Trong đó, Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất được theo dõi ghi nhận được là

27 tuổi, bệnh nhân lớn tuổi nhất là 75 tuổi, trong đó 28,6% số bệnh nhân là người cao tuổi (≥ 60 tuổi).

Chúng tôi so sánh dữ liệu với số liệu của bệnh nhân tại Hoa Kỳ từ Dữ liệu mẫu quốc gia (NIS), do tổ chức nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khỏe (AHRQ) quản lý, ghi nhận hơn 358.372 bệnh nhân đã thay van nhân tạo (cả van cơ học và sinh học) Trung bình, độ tuổi của các bệnh nhân này là 67 tuổi, phản ánh xu hướng tuổi tác trong nhóm bệnh nhân cần can thiệp thay van tim.

76) [39], ta nhận thấy tuổi của bệnh nhân tại Hoa Kỳ có xu hướng cao hơn so với trong nghiên cứu của chúng tôi.

Tại châu Á, các nghiên cứu về van tim nhân tạo tại Trung Quốc cho thấy số lượng bệnh nhân lớn, trung bình tuổi từ khoảng 35 đến 48,8 tuổi Cụ thể, tác giả Ming-Feng Dong đã thống kê khoảng 1496 bệnh nhân với tuổi trung bình là 35 ± 8,5 tuổi, trong khi các nghiên cứu của Qiu-lin Chen và Li Dong cho kết quả trung bình tuổi là 48,8 ± 10,3 tuổi Những số liệu này cho thấy đặc điểm bệnh nhân cần can thiệp van tim nhân tạo tại khu vực châu Á thường trẻ hơn so với các vùng khác.

[24] Tại Nhật Bản, nghiên cứu của tác giả Yoshio Misawa [49] ghi nhận tuổi trung bình 60,8 ± 11,7 tuổi, còn của tác giả Akira Sezai là 66,5 ± 6,3 tuổi.

Các nghiên cứu về bệnh nhân thay van tim cơ học tại Việt Nam, như của Nguyễn Quốc Kính và Tạ Mạnh Cường (2011), cho thấy tuổi trung bình khoảng 46,7 ± 10 tuổi Trong khi đó, nghiên cứu của tác giả Phạm Gia Trung ghi nhận tuổi trung bình là 49,9 ± 9,9 tuổi Những thông tin này giúp hiểu rõ đặc điểm độ tuổi của bệnh nhân thay van tim cơ học tại Việt Nam, hỗ trợ trong việc tối ưu hóa quá trình chăm sóc và điều trị.

[10], Hồ Thị Thiên Nga là 45,8 ± 11,4 tuổi [4]

Trong so sánh với các nước phát triển như Hoa Kỳ, châu Âu và Nhật Bản, tuổi mắc bệnh van tim của bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng ta thấp hơn, nguyên nhân có thể do mô hình bệnh tật từng vùng khác biệt Tại các quốc gia châu Á, đặc biệt là Việt Nam và các nước Đông Nam Á, tỷ lệ bệnh van tim hậu thấp còn cao và có xu hướng khởi phát sớm, theo nghiên cứu của Eloi Marijon tại Campuchia [30] Trong khi đó, ở các nước phát triển, tổn thương van tim do thấp đã giảm đáng kể, và thay vào đó, tỷ lệ bệnh van do thoái hóa đang gia tăng, phản ánh quá trình lão hóa dân số tại những quốc gia này [52][42].

Bảng 4.1 Đặc điểm tuổi trong các nghiên cứu

Nghiên cứu Tuổi trung bình N

Qiu-lin Chen và Li Dong 48,8 ± 10,3 526

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của bệnh nhân là 53,17 tuổi (dao động từ 27 đến 75 tuổi), cho thấy đa số bệnh nhân nằm trong nhóm trung niên đến cao tuổi Phân bố giới tính của bệnh nhân thay van tim cho thấy tỷ lệ nữ chiếm đến 71,5%, trong khi nam chiếm 28,5%, phù hợp với kết quả của nghiên cứu của tác giả Tôn Thất Hoàng Hùng, với tỷ lệ nữ là 72,8% và nam là 27,9%.

[11], tác giả Huỳnh Thị Nhung 72,7% / 27,3% [6].

Tại một số nước đang phát triển khác, một nghiên cứu tại các quốc gia

Nghiên cứu của Bocchi EA và Guimarães G năm 2006 về 2.500 bệnh nhân chờ phẫu thuật van tim tại Nam Mỹ, chủ yếu tại Brazil, cho thấy tỉ lệ nữ giới chiếm đến 55% Trong số các bệnh van tim gặp phải, bệnh van tim hậu thấp chiếm đa số, khoảng 65%, phản ánh mức độ prevalence cao của bệnh này trong cộng đồng bệnh nhân.

Nghiên cứu của tác giả Vuyisile T Nkomo tại Hoa Kỳ đã ghi nhận rằng không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ mắc bệnh van tim giữa các giới tính sau khi đã hiệu chỉnh theo tuổi và nguyên nhân bệnh lý Cụ thể, tỷ lệ mắc bệnh van tim không thay đổi rõ rệt ở các nhóm tuổi khác nhau, như: 18-44 tuổi (45%), 45-54 tuổi (37%), 55-64 tuổi (33%), 65-74 tuổi (41%), và ≥75 tuổi (47%) Kết quả này cho thấy bệnh van tim ảnh hưởng đều đặnAcross các nhóm tuổi và giới tính.

2 lá (p = 0.74), hở van động mạch chủ (p = 0.92), riêng chỉ có hẹp van động mạch chủ là có xu hướng xuất hiện nhiều hơn ở bệnh nhân nam (p = 0.06).

Trong các nước đang phát triển, tỷ lệ phụ nữ cao hơn so với nam giới, điều này phù hợp với mức độ lưu hành của bệnh van tim hậu thấp cao hơn ở các quốc gia này Bệnh van tim hậu thấp thường xuất hiện nhiều hơn ở nữ giới, phản ánh xu hướng dịch tễ học đặc trưng của khu vực.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ các kiểu tổn thương van tim cần phẫu thuật biểu hiện rõ sự khác biệt so với các nghiên cứu quốc tế, với tỷ lệ hẹp van là 33,9%, hở van là 16,1%, và tổn thương kết hợp hẹp + hở là 50,0% Những số liệu này cho thấy mức độ phổ biến của các dạng tổn thương van tim tự nhiên và tầm quan trọng của phẫu thuật trong điều trị các bệnh lý này, phù hợp với các phát hiện của tác giả Hồ Huỳnh về phân bố các loại tổn thương van tim.

Quang Trí với tỉ lệ: 44,7 : 23,2% : 32,1% [2] [3], khá phù hợp với kết quả từ nghiên cứu của chúng tôi

Nghiên cứu của Vuyisile T Nkomo tại Hoa Kỳ ghi nhận tỷ lệ giữa hở van nguyên phát (van 2 lá và van động mạch chủ) và hẹp van nguyên phát (van 2 lá và van động mạch chủ) là 4.6, trong khi kết quả nghiên cứu của chúng tôi lại cho thấy tỷ lệ này đảo ngược, cụ thể là 0.47, phản ánh sự khác biệt trong phân suất bệnh lý van tim giữa các nghiên cứu.

Tỷ lệ bệnh van tim hậu thấp tại Việt Nam vẫn còn cao so với các nước phát triển, đặc biệt ở nhóm trẻ em 6-15 tuổi với tỷ lệ chỉ 0.24% và có vùng lên đến 0,72 – 0,94%, theo nghiên cứu của Viện Nhi Quốc gia Trong khi đó, các nước đang phát triển như Campuchia và Mozambique ghi nhận tỷ lệ bệnh van tim hậu thấp lần lượt là 2.2% – 2.7% và 2.4% – 4.1%, cao hơn nhiều so với mức 0.55% – 0.57% ở các nước phát triển theo thống kê của Carapetis JR Bệnh van tim hậu thấp là nguyên nhân chính gây hẹp van 2 lá, chiếm tới 79% các trường hợp hẹp van 2 lá theo nghiên cứu của Bernard Iung Điều này dẫn đến tỷ lệ tổn thương hẹp van, cũng như các tổn thương phối hợp hẹp và hở van, cao hơn ở các nước đang phát triển Đối với các tổn thương sau can thiệp van tim cần phẫu thuật lại, nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 7 ca hẹp van 2 lá tái phát, 2 ca hẹp van do vòng xơ và 2 ca thoái hóa van sinh học.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 66 ca cần thay van 2 lá cơ học, chiếm tỷ lệ 58.9%, trong đó van động mạch chủ cơ học được ghi nhận ở 8 ca, chiếm 7.1%, và cả hai van cùng thay (2 lá và động mạch chủ) chiếm 33.9% Kết quả này cho thấy vị trí van 2 lá thường được can thiệp nhiều hơn so với van động mạch chủ, phù hợp với các số liệu thống kê về tỷ lệ thay van tim từ các nghiên cứu sau mổ của các tác giả khác Tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Ngọc Phước ghi nhận trên 282 bệnh nhân tại Viện Tim mạch Việt Nam tỉ lệ: van 2 lá là 62.1%, van động mạch chủ 10.5%, và cả hai van là 27.5% Tác giả Phạm Gia Trung có số liệu lần lượt là 54.4%, 17.7%, và 27.9%, còn tác giả Huỳnh Thị Nhung ghi nhận tỷ lệ là 59.7% cho van 2 lá, 13% cho van động mạch chủ và 27.3% cho cả hai van.

Nghiên cứu của Guilherme S Ribeiro và Sara Y Tartof trên bệnh nhân người Brazil cho thấy tỷ lệ thay van hai lá chiếm 63%, cao hơn so với tỷ lệ thay van động mạch chủ là 25% Trong khi đó, nghiên cứu của Niloufar Samiei và Mohammad Reza Hakimi tại Iran trên 320 bệnh nhân sau phẫu thuật tim ghi nhận tỷ lệ thay van hai lá cơ học là 58.8%, van động mạch chủ cơ học là 22.5%, và cả hai van là 17.5% Những số liệu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của chúng tôi về tỷ lệ thay van tim.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 100% bệnh nhân thay van đều sử dụng loại van cơ học 2 cánh, một sản phẩm được giới thiệu lần đầu vào năm 1977 và hiện sở hữu hơn 1.3 triệu chiếc do hãng St Jude sản xuất Van 2 cánh phổ biến nhờ đặc điểm ít gây tắc nghẽn và chênh áp thấp hơn so với các loại van khác, nhờ vào thiết kế có đến 3 tiết diện van giúp giảm thiểu các vấn đề về dòng chảy Tại Viện Tim, các phẫu thuật viên luôn ưu tiên lựa chọn van 2 cánh vì các ưu điểm vượt trội này, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Tình hình sử dụng thuốc kháng vitamin K

4.2.1 Thời gian INR nằm trong khoảng điều trị:

Trước đây, các nghiên cứu trong nước như của Nguyễn Quốc Kính, Phạm Gia Trung, Huỳnh Thanh chủ yếu sử dụng phương pháp tính tỷ lệ số lần INR nằm trong khoảng trị liệu chia cho tổng số lần xét nghiệm INR để đánh giá kiểm soát kháng đông Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm lớn là không phản ánh chính xác thời gian INR duy trì trong phạm vi điều trị Ví dụ, nếu xét nghiệm INR cách nhau 14 ngày với các kết quả là 1,6 và 3,4, và mục tiêu INR là 2,0 – 3,0, thì tỷ lệ INR trong khoảng điều trị theo phương pháp cũ là 0% Trong khi đó, sử dụng phương pháp Rosendaal, ta có thể tính thời gian INR nằm trong phạm vi điều trị là 56%, tương đương 7,8 ngày, giúp đánh giá chính xác hơn tình trạng kiểm soát kháng đông của bệnh nhân Khi kết quả xét nghiệm INR đo vào ngày thứ 14 là 1,4, phương pháp cũ vẫn cho ra tỷ lệ 0%, còn phương pháp Rosendaal lại cho ra TTR là 53% và thời gian trong khoảng điều trị là 14,8 ngày, cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa hai phương pháp trong việc đánh giá kiểm soát kháng đông.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, các bệnh nhân có kiểm tra INR thường xuyên (hai lần INR cách nhau dưới 60 ngày) được lựa chọn để đảm bảo độ chính xác trong tính toán thời gian trong giới hạn điều trị (TTR) bằng công thức Rosendaal Đối với van hai lá cơ học, mức INR chuẩn từ 2,5 đến 3,5 và đối với van động mạch chủ cơ học từ 2,0 đến 3,0, kết quả cho thấy TTR trung bình là 46,6% Mặc dù còn thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu quốc tế như của Thomas D Christensen ghi nhận TTR đến 76,0%, hay của Laffort với 79,0%, kết quả này phản ánh sự cần thiết cải thiện kiểm soát kháng đông trong nhóm bệnh này Nhiều nghiên cứu khác về kiểm soát kháng đông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì INR trong giới hạn điều trị nhằm giảm thiểu nguy cơ biến chứng, đặc biệt trong các chỉ định như rung nhĩ, huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi, v.v.

Các nghiên cứu [55], [58] cho thấy tỷ lệ kiểm soát kháng đông tại Nhật Bản, châu Âu và Hoa Kỳ đạt từ 56% đến 74%, thể hiện kết quả ấn tượng Theo nghiên cứu của Ken Okumura về bệnh nhân sử dụng warfarin để điều trị rung nhĩ không do bệnh van tim, tỷ lệ kiểm soát đạt từ 53% đến 79% Ngoài ra, nghiên cứu của Koertkr, H tại châu Âu cho thấy việc bệnh nhân tự điều chỉnh INR tại nhà đạt tỷ lệ duy trì INR trong ngưỡng, dưới ngưỡng và trên ngưỡng lần lượt là 75%, 7% và 18%, giúp nâng cao tuân thủ điều trị và giảm số lần khám lại tại cơ sở y tế trong khi vẫn đảm bảo hiệu quả kiểm soát tình trạng đông máu.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ TTR cao hơn so với con số 41,96% của tác giả người Thái Lan Itthidet Kamthornthanakarn và Rungroj Krittayaphong, đồng thời phù hợp với kết quả nghiên cứu của Tôn Thất Hoàng Hùng về tình hình điều trị bằng thuốc kháng vitamin K sau thay van cơ học tại Việt Nam.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ số INR trung bình của các bệnh nhân là 3.08 ± 1.17, với 90,2% dùng ổn định với acenocoumarol và 9,8% dùng ổn định với warfarin; các trị số này tương đồng với các nghiên cứu trước đó, như tác giả Raja Parvez Akhtar đạt INR trung bình 2.6 ± 0.59, John Puskas là 2.50 ± 0.63, hoặc Koertke H ghi nhận là 2.40 (SD 0.50).

Kết quả phân tích hồi quy logistic đơn biến cho thấy không có mối liên quan đáng kể giữa các đặc điểm bệnh nhân, chẳng hạn như tuổi, và kết quả nghiên cứu.

Bệnh nhân trên 60 tuổi mắc các tổn thương van tim và bị ảnh hưởng bởi vị trí van cơ học cùng các phẫu thuật đi kèm, trong đó đặc điểm siêu âm tim đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát tốt INR trong khoảng mục tiêu Nghiên cứu này phù hợp với các kết quả tại Việt Nam do tác giả Tôn Thất Hoàng Hùng trình bày và các nghiên cứu toàn cầu của Eva Havers-Borgersen.

4.2.2 Mối liên quan TTR với biến cố huyết khối và chảy máu nặng

Nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân bị biến cố huyết khối trên nền tảng kiểm soát tốt TTR (>60) là 3,9%, thấp hơn nhiều so với 22,6% ở nhóm không kiểm soát tốt (OR 0,137; 95% CI 0,022 – 0,847; p = 0,045), đây là sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Eva Havers-Borgersen, khi bà kết luận rằng liệu pháp sử dụng thuốc kháng vitamin K với chất lượng thấp (TTR < 70%) sẽ làm tăng tỷ lệ huyết khối mà không ảnh hưởng đến tỉ lệ chảy máu Ngược lại, nghiên cứu của Bahram-Fariborz Farsad không ghi nhận mối liên quan giữa kiểm soát INR và cả biến cố huyết khối lẫn chảy máu, cho thấy sự đa dạng trong các kết quả nghiên cứu về kiểm soát INR và các biến cố liên quan.

Trong nghiên cứu của Hsi-Yu Yu và Chih-Ho Liu tại châu Á, có đến 70% bệnh nhân sau thay van tim cơ học có INR dưới ngưỡng điều trị (INR < 2.0), dẫn đến tỷ lệ biến cố huyết khối khoảng 2,04% mỗi bệnh nhân - năm Tỷ lệ này cao hơn nhiều so với kết quả của nghiên cứu của chúng tôi, với mức 1,68% mỗi bệnh nhân - năm.

Tại Việt Nam, chúng tôi chưa ghi nhận được nghiên cứu nào đánh giá sự liên quan giữa TTR và biến cố huyết khối và chảy máu nặng.

Tỉ lệ biến cố huyết khối

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ huyết khối trung bình là 1,68% trên mỗi bệnh nhân mỗi năm Đặc biệt, tại vị trí van động mạch chủ cơ học, tỷ lệ huyết khối van là 0% và thuyên tắc mạch là 0,24% trên mỗi bệnh nhân mỗi năm, phản ánh tình hình khá khả quan Khi so sánh với dữ liệu của PGS.TS.BS Hồ Huỳnh Quang Trí trong nghiên cứu kéo dài 10 năm về van động mạch chủ cơ học, kết quả tương đương với tỷ lệ huyết khối van là 0,06%/BN – năm và thuyên tắc mạch cũng đạt 0,06%/BN – năm, cho thấy tính ổn định và an toàn của phương pháp điều trị này.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ huyết khối van 2 lá cơ học là 0,96%/bệnh nhân – năm, thấp hơn so với tỉ lệ thuyên tắc mạch là 0,48%/bệnh nhân – năm So sánh với nghiên cứu của PGS.TS.BS Hồ Huỳnh Quang Trí, tỉ lệ huyết khối van là 0,63%/bệnh nhân – năm và thuyên tắc mạch là 0,34%/bệnh nhân – năm, cho thấy các kết quả này tương đương nhau Khi đối chiếu với các nghiên cứu quốc tế, chúng tôi nhận thấy các tỉ lệ này phù hợp với dữ liệu toàn cầu về biến cố huyết khối và thuyên tắc mạch trên van 2 lá cơ học.

Năm 1993, tác giả Alexander Turpie ghi nhận tỷ lệ biến cố huyết khối khoảng 4,3% mỗi năm ở những bệnh nhân dùng kết hợp aspirin và thuốc kháng vitamin K, cao hơn nhiều so với số liệu của chúng tôi Tuy nhiên, Turpie chỉ tập trung vào biến cố huyết khối động mạch hệ thống và bỏ qua huyết khối tại van, do đó số lượng biến cố thực sự theo định nghĩa của nghiên cứu chúng tôi sẽ không hoàn toàn phù hợp hoặc trùng khớp với các số liệu trong nghiên cứu của ông.

Nghiên cứu của Laffort năm 2000 ghi nhận tỷ lệ biến cố nặng là 4.1% mỗi năm và huyết khối nhẹ là 7.5% mỗi năm, cao hơn nhiều so với kết quả của chúng tôi Điều này do Laffort nhận thấy số lượng bệnh nhân huyết khối tại van không tắc nghẽn qua siêu âm tim qua thực quản định kỳ vào ngày thứ 8 và tháng thứ — nhiều hơn đáng kể so với nghiên cứu của chúng tôi.

5 của nghiên cứu (theo quy trình nghiên cứu đặt ra)

Một nghiên cứu của Susana S Meschengieser ghi nhận tỷ lệ biến cố huyết khối khoảng 1,32% mỗi bệnh nhân-năm Trong các nghiên cứu quốc tế, nghiên cứu này có định nghĩa về biến cố huyết khối gần nhất với tiêu chuẩn của chúng tôi, bao gồm các loại huyết khối van, đột quỵ và cơn thoáng thiếu máu não.

Tại châu Á, chỉ ghi nhận có Ming Feng Dong tiến hành nghiên cứu về sự kết hợp giữa thuốc kháng vitamin K và aspirin [29] Trong nghiên cứu năm

Trong năm 2011, tác giả ghi nhận tỷ lệ biến cố huyết khối tại van là 2,1% mỗi năm, cao hơn nhiều so với nghiên cứu của chúng tôi Tuy nhiên, tác giả chỉ tập trung vào các biến cố huyết khối liên quan đến van tim mà không xem xét các biến cố huyết khối khác như nhồi máu não, huyết khối động mạch ngoại biên hoặc cơn thoáng thiếu máu não.

Nghiên cứu của chúng tôi không ghi nhận mối tương quan giữa đặc điểm bệnh nhân và khả năng xảy ra các biến cố huyết khối Kết quả phù hợp với ba nghiên cứu trước đó, đều sử dụng các bảng phân loại đặc điểm bệnh nhân có tính đồng nhất cao, cho thấy không có yếu tố đặc thù ảnh hưởng đáng kể đến nguy cơ huyết khối trong các nhóm bệnh nhân này.

Các biến cố huyết khối xảy ra từ tháng 3 đến tháng 72 sau phẫu thuật, không tập trung vào một khoảng thời gian cụ thể nào trong giai đoạn theo dõi Sau tháng thứ 72, tần suất xuất hiện các biến cố huyết khối giảm đáng kể và rất hiếm gặp.

Bảng 4.2 Tỉ lệ biến cố huyết khối trong các nghiên cứu:

Nghiên cứu % /BN – năm theo dõi N

Hồ Huỳnh Quang Trí (chỉ van

0,63% (huyết khối van) 0,34% (thuyên tắc mạch)

Hồ Huỳnh Quang Trí (chỉ van động mạch chủ cơ học)

0,06% (huyết khối van) 0,06% (thuyên tắc mạch)

Ngày đăng: 06/04/2023, 19:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đỗ Quang Huân và cộng sự. (2020), "Phác đồ điều trị 2020 - Viện Tim Thành phố Hồ Chí Mình", (Phác đồ 64: Sử dụng thuốc chống huyết khối và xử trí biến chứng xuất huyết do thuốc chống huyết khối ở người lớn), pp. 548 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác đồ điều trị 2020 - Viện Tim Thành phố Hồ Chí Mình
Tác giả: Đỗ Quang Huân, và cộng sự
Năm: 2020
[2] Hồ Huỳnh Quang Trí và cộng sự. (2007), "Phẫu thuật thay van 2 lá nhân tạo tại Viện Tim: Tổng kết kinh nghiệm sau gần 10 năm", Y Học TP. Hồ Chí Minh. Tập 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y Học TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Hồ Huỳnh Quang Trí, cộng sự
Năm: 2007
[3] Hồ Huỳnh Quang Trí và cộng sự. (2007), "Phẫu thuật thay van động mạch chủ nhân tạo tại Viện Tim: Tổng kết kinh nghiệm sau gần 10 năm", Y Học TP. Hồ Chí Minh. Tập 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phẫu thuật thay van động mạch chủ nhân tạo tại Viện Tim: Tổng kết kinh nghiệm sau gần 10 năm
Tác giả: Hồ Huỳnh Quang Trí, cộng sự
Nhà XB: Y Học TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2007
[4] Hồ Thị Thiên Nga (2009), "Theo dõi điều trị kháng vitamin K ở bệnh nhân sau mổ thay van tim cơ học tại bệnh viện Việt Đức", Y học Việt Nam. 355 (số 2), pp. 76-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo dõi điều trị kháng vitamin K ở bệnhnhân sau mổ thay van tim cơ học tại bệnh viện Việt Đức
Tác giả: Hồ Thị Thiên Nga
Năm: 2009
[5] Huỳnh Thanh Kiều và cộng sự. (2015), "Khảo sát thời gian INR trong khoảng điều trị của bệnh nhân đang điều trị thuốc kháng vitamin K tại phòng khám bệnh viện Tâm Đức", Chuyên đề Tim mạch học. 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Tim mạch học
Tác giả: Huỳnh Thanh Kiều, và cộng sự
Năm: 2015
[6] Huỳnh Thị Nhung (2018), "Khảo sát biên độ dao động chỉ số INR trong ngày giữa warfarin và acenocoumarol ở bệnh nhân thay van tim cơ học", Luận văn Thạc Sỹ Y Học. Đại học Y Dƣợc TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát biên độ dao động chỉ số INRtrong ngày giữa warfarin và acenocoumarol ở bệnh nhân thay van timcơ học
Tác giả: Huỳnh Thị Nhung
Năm: 2018
[7] Nguyễn Ngọc Phước (2013), "Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị thuốc chống đông kháng vitamin K ở bệnh nhân thay van tim cơ học tại Viện Tim Mạch Viện Nam", Luận văn Thạc Sỹ Y Học. Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị thuốc chống đông kháng vitamin K ở bệnh nhân thay van tim cơ học tại Viện Tim Mạch Viện Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Phước
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2013
[8] Nguyễn Quốc Kính và cộng sự. (2011), "Đánh giá hiệu quả điều trị bằng thuốc chống đông kháng vitamin K ở bệnh nhân sau thay van tim cơ học", Y học Việt Nam. 2, pp. 44-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả điều trịbằng thuốc chống đông kháng vitamin K ở bệnh nhân sau thay van timcơ học
Tác giả: Nguyễn Quốc Kính và cộng sự
Năm: 2011
[9] Nguyễn Văn Phan (2006), "Nghiên cứu phương pháp sửa van của Carpentier trong bệnh hở van hai lá", Luận án Tiến Sĩ Y Học. Đại học Y Dƣợc TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án Tiến Sĩ Y Học
Tác giả: Nguyễn Văn Phan
Nhà XB: Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2006
[10] Phạm Gia Trung (2013), "Đánh giá thực trạng điều trị bằng thuốc chống đông kháng vitamin K ở bệnh nhân sau thay van tim cơ học tại Bệnh Viện Tim Hà Nội", Luận văn Thạc Sỹ Y Học. Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Thạc Sỹ Y Học
Tác giả: Phạm Gia Trung
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2013
[12] Acar J. et al. (1996), "AREVA: multicenter randomized comparison of low-dose versus standard-dose anticoagulation in patients with mechanical prosthetic heart valves", Circulation. 94 (9), pp. 2107- 2112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: AREVA: multicenter randomized comparison oflow-dose versus standard-dose anticoagulation in patients withmechanical prosthetic heart valves
Tác giả: Acar J. et al
Năm: 1996
[14] Akins C. W. et al. (2008), "Guidelines for reporting mortality and morbidity after cardiac valve interventions", Ann Thorac Surg. 85 (4), pp. 1490-1495 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidelines for reporting mortality andmorbidity after cardiac valve interventions
Tác giả: Akins C. W. et al
Năm: 2008
[15] Al-Atassi T. et al. (2012), "Cerebral microembolization after bioprosthetic aortic valve replacement: comparison of warfarin plus aspirin versus aspirin only", Circulation. 126 (11 Suppl 1), pp. S239- 244 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cerebral microembolization afterbioprosthetic aortic valve replacement: comparison of warfarin plusaspirin versus aspirin only
Tác giả: Al-Atassi T. et al
Năm: 2012
[16] Alexander Turpie M. G., Andreas Laupacis, Yves Latour, John Gunstensen, Fadi Basile, Marian Klimek, and Jack Hirsh (1993), "A Comparison of Aspirin with Placebo in Patients Treated with Warfarin after Heart-Valve Replacement", N Engl J Med Sách, tạp chí
Tiêu đề: AComparison of Aspirin with Placebo in Patients Treated with Warfarinafter Heart-Valve Replacement
Tác giả: Alexander Turpie M. G., Andreas Laupacis, Yves Latour, John Gunstensen, Fadi Basile, Marian Klimek, and Jack Hirsh
Năm: 1993
[18] Baumgartner H. et al. (2017), "2017 ESC/EACTS Guidelines for the management of valvular heart disease", Eur Heart J. 38 (36), pp. 2739- 2791 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2017 ESC/EACTS Guidelines for themanagement of valvular heart disease
Tác giả: Baumgartner H. et al
Năm: 2017
[19] Bocchi E. A. et al. (2009), "Cardiomyopathy, adult valve disease and heart failure in South America", Heart. 95 (3), pp. 181-189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cardiomyopathy, adult valve disease andheart failure in South America
Tác giả: Bocchi E. A. et al
Năm: 2009
[20] Butchart E. G. et al. (2005), "Recommendations for the management of patients after heart valve surgery", Eur Heart J. 26 (22), pp. 2463- 2471 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Recommendations for the management ofpatients after heart valve surgery
Tác giả: Butchart E. G. et al
Năm: 2005
[21] Cannegieter S. C. et al. (1994), "Thromboembolic and bleeding complications in patients with mechanical heart valve prostheses", Circulation. 89 (2), pp. 635-641 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thromboembolic and bleedingcomplications in patients with mechanical heart valve prostheses
Tác giả: Cannegieter S. C. et al
Năm: 1994
[27] Christensen T. D. et al. (2003), "Mechanical heart valve patients can manage oral anticoagulant therapy themselves", Eur J Cardiothorac Surg. 23 (3), pp. 292-298 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mechanical heart valve patients canmanage oral anticoagulant therapy themselves
Tác giả: Christensen T. D. et al
Năm: 2003
[61] Ribeiro G. S. et al. (2012), "Surgery for valvular heart disease: a population-based study in a Brazilian urban center", PLoS One. 7 (5), pp. e37855 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm