BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VĂN BÁ ĐỨC ANH ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC YẾU TỐ TIÊN LƢỢNG DÀY DÍNH MÀNG PHỔI SAU ĐIỀU TRỊ TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI DO LAO LUẬN VĂN TH
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu theo dõi dọc
Địa điểm nghiên cứu
Phòng khám Nội phổi và khoa Nội phổi, bệnh viện Chợ Rẫy
Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 09/2020 đến hết tháng 05/2021
Đối tƣợng nghiên cứu
Dân số mục tiêu: Bệnh nhân đƣợc chẩn đoán TDMP do lao tại phòng khám và khoa Nội phổi, Bệnh viện Chợ Rẫy.
Dân số nghiên cứu: Bệnh nhân đến tái khám tại phòng khám Nội phổi, Bệnh việnChợ Rẫy sau khi kết thúc 6 tháng điều trị TDMP do lao.
Tiêu chuẩn thu nhận
Bệnh nhân đủ 18 tuổi trở lên
Đƣợc chẩn đoán TDMP do lao khi đáp ứng một trong các tiêu chuẩn sau:
Soi tìm thấy AFB dương tính trong dịch màng phổi
Soi tìm thấy AFB dương tính trong đàm ở bệnh nhân có TDMP dịch tiết ưu thế Lympho bào không nghi ngờ bệnh lý khác
Xét nghiệm PCR lao dịch màng phổi dương tính
Giải phẫu bệnh mô sinh thiết màng phổi có bằng chứng lao: nang lao có hoại tử bã đậu.
Giải phẫu bệnh mô sinh thiết phế quản và sinh thiết hạch cho thấy có bằng chứng của lao ở bệnh nhân xuất hiện dịch tiết ưu thế lympho bào Điều này giúp chẩn đoán chính xác bệnh lao, đặc biệt khi hình ảnh lâm sàng không rõ ràng, và xác định phương pháp điều trị phù hợp Việc phân tích mô sinh thiết là bước quan trọng để phân biệt lao với các bệnh lý hô hấp khác có triệu chứng tương tự, đảm bảo chẩn đoán chính xác và hiệu quả trong điều trị.
ADA ≥ 40 IU/L ở bệnh nhân TDMP dịch tiết ƣu thế Lympho bào, không nghi ngờ bệnh lý khác và đáp ứng với điều trị thuốc chống lao [1].
Tham gia điều trị lao tại địa phương.
Đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân đã có dày dính màng phổi lúc chẩn đoán TDMP do lao
Bệnh nhân suy giảm miễn dịch (HIV, xạ trị, hóa trị)
Không điều trị hoặc điều trị lao không đủ thời gian theo phác đồ
Bệnh nhân không quay lại tái khám sau điều trị
Cỡ mẫu
Công thức tính cỡ mẫu:
Trong đó: α: xác suất sai lầm loại 1, α = 0,05
Z: trị số phân phối chuẩn, với α = 0,05 thì Z 1-α/2 = 1,96 n: cỡ mẫu p: tỉ lệ dày dính màng phổi sau điều trị TDMP do lao, p = 42,2% [25] d: sai số ƣớc lƣợng, d = 15%
n = 41,59 Nhƣ vậy cỡ mẫu cần cho nghiên cứu là tối thiểu 42 bệnh nhân.
Công cụ thu thập số liệu
Sử dụng bảng thu thập số liệu đã soạn sẵn
Bệnh nhân điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội phổi, nơi lấy thông tin trực tiếp từ bệnh nhân hoặc thân nhân để đảm bảo chính xác và đầy đủ dữ liệu Kết quả xét nghiệm được thực hiện tại phòng xét nghiệm của khoa nhằm hỗ trợ chẩn đoán và điều trị hiệu quả Khám bệnh được tổ chức mỗi cuối tuần, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân theo dõi tình trạng sức khỏe ổn định và cập nhật kết quả xét nghiệm mới nhất.
Bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Nội phổi được lấy thông tin trực tiếp từ chính bệnh nhân hoặc thân nhân để đảm bảo chính xác và đầy đủ Thông tin này được kết hợp với kết quả xét nghiệm từ bệnh án nội trú để xây dựng kế hoạch điều trị phù hợp và hiệu quả Các bước thu thập dữ liệu này đóng vai trò quan trọng trong quá trình chẩn đoán và theo dõi tình trạng sức khỏe của bệnh nhân nội trú khoa Nội phổi.
Các biến số và định nghĩa
Bệnh nhân được chẩn đoán mắc TDMP do lao tại phòng khám Nội phổi hoặc khoa Nội phổi - Bệnh viện Chợ Rẫy sẽ được mời tham gia nghiên cứu nếu đồng ý Quá trình này bao gồm hỏi bệnh sử, tiền sử và ghi nhận các thông số xét nghiệm máu, dịch màng phổi, cùng hình ảnh tổn thương trên phim Xquang ngực thẳng.
* Dữ kiện nhân trắc học
Thời gian từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên đến khi nhập viện
Tiền căn TDMP, tiền căn bệnh lao, bệnh lí đồng mắc
Các triệu chứng cơ năng trong quá trình diễn tiến bệnh:
* Dữ kiện cận lâm sàng
Xquang ngực hoặc chụp cắt lớp vi tính ngực:
Sinh hóa máu: Protein, LDH, Glucose.
Sinh hóa DMP: Protein, LDH, Glucose, ADA.
Tế bào DMP: tổng số tế bào, tỉ lệ: Neutrophil, Lymphocyte.
Vi sinh DMP: AFB, PCR lao, MGIT, GeneXpert MTB/RIF
Giải phẫu bệnh: Cellblock DMP, sinh thiết màng phổi.
Sau khi hoàn tất phác đồ điều trị 6 tháng tại địa phương, bệnh nhân trở lại phòng khám Nội phổi để tái khám Chúng tôi tiến hành đánh giá tình trạng tràn dịch màng phổi dựa trên hình ảnh X-quang ngực thẳng và siêu âm màng phổi để xác định chính xác có hay không sự hiện diện của dịch màng phổi.
Tiêu chuẩn thu thập số liệu và đánh giá dày dính màng phổi
Tiêu chuẩn thu thập số liệu
Bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định mắc TDMP do lao và trở lại tái khám sau khi hoàn thành điều trị lao theo phác đồ 6 tháng Trong quá trình tái khám, bệnh nhân sẽ được chỉ định chụp Xquang ngực thẳng và siêu âm để đánh giá tình trạng màng phổi Sau khi thực hiện các xét nghiệm hình ảnh, bệnh nhân sẽ được phân loại thành hai nhóm: nhóm có DDMP (Dịch màng phổi mủ do lao) và nhóm không có DDMP, giúp xác định phương hướng điều trị phù hợp.
Tiêu chuẩn đánh giá DDMP sau điều trị TDMP do lao
DDMP (Dày Màng Phổi) được định nghĩa là tình trạng dày lên khu trú hoặc lan tỏa của màng phổi nhiều hơn 3 mm và mất cân đối cử động của hai lá màng phổi, tuy nhiên, mốc 3 mm chỉ phản ánh bất thường hình ảnh Nhiều nghiên cứu cho thấy mức độ DDMP trên 10 mm mới ảnh hưởng đến chức năng hô hấp của bệnh nhân, do đó, trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi sử dụng ngưỡng dày màng phổi ≥ 10 mm dựa theo các tác giả Candela, De Pablo.
Đánh giá DDMP trên phim Xquang ngực được thực hiện bằng phương pháp chụp ở tư thế sau trước, trong đó các bác sĩ sẽ đánh giá màng phổi tại thành bên ngực ngang mức đường tiếp tuyến của vòm hoành Màng phổi dày xuất hiện dưới dạng dải tăng sáng nằm ngay sát thành ngực, giúp xác định các bất thường trong quá trình chẩn đoán.
Hình 2.1: Đánh giá dày màng phổi trên Xquang ngực thẳng
Đánh giá DDMP bằng siêu âm qua thành ngực:
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng máy siêu âm cầm tay Sonostar Wireless với đầu dò đôi Convex/Linear có tần số từ 3,5-5 MHz và 7,5-10 MHz để đánh giá chuyển động và đo kích thước màng phổi Thiết bị kết nối trực tiếp với điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng, giúp khảo sát nhanh chóng, chính xác và thuận tiện Các số đo kích thước màng phổi được ghi nhận theo đơn vị milimet, làm tròn đến hàng thập phân thứ hai để đảm bảo độ chính xác cao trong phân tích dữ liệu.
Kỹ thuật siêu âm màng phổi bao gồm việc bệnh nhân ngồi thẳng trên ghế, phô diễn toàn bộ lưng và ngực, với hai tay khoanh để trên điểm tựa phía trước, lưng hơi cong về phía sau để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình khảo sát Quá trình khảo sát được chia thành 14 vùng, phân theo các vùng ngực trước, bên và sau của bệnh nhân dựa trên phân chia của Laursen [63], nhằm đảm bảo độ chính xác và toàn diện trong chẩn đoán siêu âm màng phổi.
Hình 2.2: Phân chia 14 vùng khảo sát trên siêu âm màng phổi qua thành ngực
Nghiên cứu viên đặt đầu dò máy siêu âm theo từng khoang liên sườn trên các vùng khác nhau để đánh giá chuyển động của màng phổi tại vị trí khảo sát Màng phổi trên siêu âm thể hiện qua hai đường tăng âm trượt lên nhau theo từng chu kỳ hô hấp, gọi là dấu trượt màng phổi Sử dụng chức năng đo chiều dài tích hợp trên phần mềm của điện thoại thông minh để xác định kích thước của màng phổi Kết quả đo sẽ được người hướng dẫn đánh giá lại để đảm bảo độ chính xác và phân tích phù hợp.
Dày màng phổi: kích thước màng phổi đo được ≥ 10 mm [31], [35].
Dính màng phổi: mất dấu hiệu “trƣợt màng phổi” theo mỗi chu kì hô hấp của bệnh nhân [62].
Hình 2.3: Kết quả dày màng phổi trên siêu âm (dmm)
Bệnh nhân Cao Văn S 59 tuổi
Định nghĩa và cách xác định biến số
Tên biến Cách xác định Loại biến Giá trị biến
Biến số dịch tễ học
Tuổi Năm nghiên cứu – năm sinh dương lịch
Giới Giới sinh học Nhị giá 1.Nam
2.Nữ Nghề nghiệp Phỏng vấn bệnh nhân/thân nhân
3.Văn phòng 4.Nhân viên y tế 5.Nghỉ hưu
Tên biến Cách xác định Loại biến Giá trị biến
Biến số dịch tễ học Chỉ số khối cơ thể
(BMI) Đo cân nặng (kg) và chiều cao (mét) của bệnh nhân [75]
BMI (kg/m 2 ) = cân nặng/chiều cao 2
Hút thuốc lá Phỏng vấn bệnh nhân/thân nhân Tính số gói-nămSố gói hút/ngày x số năm hút thuốc.
Danh định 1.Không hút thuốc
2.Hút