Mặc dù hiện nay có rất nhiềuhướng dẫn về dinh dưỡng cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và nuôi conbằng sữa mẹ, tuy nhiên, các hướng dẫn về chế độ dinh dưỡng trong thai kỳmột cách chi tiế
Trang 1PHÍA NAM BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, Năm 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
và kết quả trong luận án là trung thực và chƣa từng thực hiện tại bệnh viện đakhoa khu vực Phía Nam Bình Thuận
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2021
Tác giả luận văn
Đỗ Đình Trung
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm trong nghiên cứu 4
1.2 Dinh dưỡng trong thai kỳ 4
1.3 Tầm quan trọng của dinh dưỡng trong thai kỳ 5
1.4 Thang đo dinh dưỡng của Trung tâm Dinh dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh 14
1.5 Mối liên quan giữa dinh dưỡng và kết cục thai kỳ 17
1.6 Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 21
1.7 Đặc điểm nơi thực hiện nghiên cứu 25
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang 28
2.2 Đối tượng nghiên cứu 28
2.3 Cỡ mẫu: 28
2.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.5 Phương pháp chọn mẫu 29
2.6 Phương pháp tiến hành 30
2.7 Biến số nghiên cứu 34
2.8 Xử lý và phân tích số liệu 42
2.9 Vấn đề y đức trong nghiên cứu 43
Trang 5CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
3.1 Tỷ lệ thai phụ có nguy cơ về dinh dưỡng ở thai phụ đến sinh tại bệnh viện đa khoa khu vực Phía Nam Bình Thuận 45
3.2 Tỷ lệ thai phụ có nguy cơ dinh dưỡng 49
3.3 Đặc điểm kết cục thai kỳ 50
3.4 Một số yếu tố liên quan đến nguy cơ dinh dưỡng ở thai phụ đến sinh tại bệnh viện đa khoa khu vực Phía Nam Bình Thuận 55
CHƯƠNG 4BÀN LUẬN 62
4.1 Ý nghĩa và tính mới của đề tài 62
4.2 Bàn luận về phương pháp nghiên cứu và công cụ nghiên cứu 63
4.3 Tỷ lệ thai phụ có nguy cơ về dinh dưỡng tại bệnh viện đa khoa khu vực Phía Nam Bình Thuận 65
4.4 Một số yếu tố liên quan đến nguy cơ dinh dưỡng ở thai phụ đến sinh tại bệnh viện đa khoa khu vực Phía Nam Bình Thuận 69
4.5 Hạn chế của đề tài 78
KẾT LUẬN 79
KIẾN NGHỊ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: Phiếu khảo sát thông tin
PHỤ LỤC 2: Bảng thông tin dành cho người tham gia nghiên cứu và chấp thuận tham gia nghiên cứu
PHỤ LỤC 3: Danh sách thai phụ tham gia nghiên cứu
PHỤ LỤC 4: Quyết định công nhận tên đề tài và người hướng dẫn học viên chuyên khoa cấp II
PHỤ LỤC 5: Giấy chấp thuận của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh của Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
PHỤ LỤC 6: Quyết định thành lập Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp chuyên khoa cấp II của học viên
Trang 6PHỤ LỤC 7: Bản nhận xét của Phản biện 1, Phản biện 2PHỤ LỤC 8: Kết luận của Hội đồng chấm luận văn
PHỤ LỤC 9: Giấy xác nhận đã hoàn thành sửa chữa luận văn
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
DHA
DASH
Docosa Hexaenoic AcidDietary Approaches to Stop Hypertension
OR
RR
Odds ratioRelative Risk
BẢNG ĐỐI CHIẾU ANH – VIỆT
Dietary Approaches to Stop
Hypertension
Chế độ ăn cho người cao huyết áp
Odds ratio
Relative Risk
Chỉ số chênhRủi ro tương đối
United Nations International
Children's Emergency Fund
Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Nhu cầu khuyến cáo cung cấp năng lƣợng (kcal/ngày) 5
Bảng 2.1: Các biến số về thông tin chung 34
Bảng 2.2: Các biến số về thông tin dinh dƣỡng trong lần mang thai này 35
Bảng 2.3: Các biến số về thông tin của thai phụ khi kết thúc thai kỳ 38
Bảng 2.4: Các biến số về thông tin của trẻ khi kết thúc thai kỳ 40
Bảng 2.5: Tiêu chí đánh giá dinh dƣỡng trong thai kỳ 42
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học – xã hội 45
Bảng 3.2: Tiền căn bệnh mãn tính 46
Bảng 3.3: Tiền căn sản khoa 46
Bảng 3.4: Đặc điểm dinh dƣỡng trong lần mang thai này 47
Bảng 3.5: Bệnh lý kèm theo liên quan đến dinh dƣỡng 48
Bảng 3.6: Diễn biến thai kỳ 50
Bảng 3.7: Đặc điểm của mẹ sau sinh 51
Bảng 3.8: Đặc điểm kết thúc thai kỳ của trẻ 52
Bảng 3.9: Tình trạng của trẻ sau sinh 53
Bảng 3.10: Mối liên quan giữa dinh dƣỡng trong thời kỳ mang thai của thai phụ và đặc điểm nhân khẩu học – xã hội 55
Bảng 3.11: Mối liên quan giữa đặc điểm dinh dƣỡng trong thai kỳ và tiền căn bệnh 56
Bảng 3.12: Mối liên quan giữa dinh dƣỡng trong thời kỳ mang thai của thai phụ và tiền căn sản khoa 57
Bảng 3.13: Mối liên quan giữa dinh dƣỡng của thai phụ trong thai kỳ và kết cục thai kỳ 58
Bảng 3.14: Mối liên quan giữa dinh dƣỡng và kết cục thai kỳ của mẹ 59
Bảng 3.15: Mối liên quan giữa dinh dƣỡng của thai phụ trong thai kỳ và tình trạng của trẻ đƣợc sinh ra 59
Trang 10Bảng 3.16: Mô hình hồi quy đa biến Logistic 60
Bảng 4.1: So sánh đặc điểm BMI giữa các nghiên cứu 66
Bảng 4.2: Tỷ lệ tăng cân theo đúng khuyến nghị 67
Bảng 4.3: So sánh độ tuổi giữa các nghiên cứu 70
Bảng 4.4: So sánh tuổi thai giữa các nghiên cứu 71
Bảng 4.5: So sánh các biến chứng sau sinh 73
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Dinh dưỡng của thai phụ trong thai kỳ 49
Biểu đồ 3.2: Phân bố điểm nguy cơ dinh dưỡng 49
Biểu đồ 3.3: Kết cục thai kỳ của mẹ 52
Biểu đồ 3.4: Kết cục thai kỳ của con 54
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Biểu đồ cân nặng khuyến cáo trong thai kỳ 13
Sơ đồ 2.1: Quy trình thực hiện nghiên cứu 33
Sơ đồ 3.1: Tóm tắt kết quả nghiên cứu 44
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1.1: Phương pháp đo chu vi vòng cánh tay 11
Hình 1.2: Bệnh viện đa khoa khu vực Phía Nam Bình Thuận 26
Hình 1.3: Khoa Sản - Bệnh viện đa khoa khu vực Phía Nam Bình Thuận 27
Hình 2.1: Quá trình thu thập các chỉ số cân nặng, chiều cao và chu vi vòng cánh tay 31
Trang 12Dinh dưỡng trong thai kỳ đã trở thành một phần thiết yếu trong chươngtrình chăm sóc quốc gia về làm mẹ an toàn Mặc dù hiện nay có rất nhiềuhướng dẫn về dinh dưỡng cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và nuôi conbằng sữa mẹ, tuy nhiên, các hướng dẫn về chế độ dinh dưỡng trong thai kỳmột cách chi tiết vẫn còn tản mạn, thiếu đồng bộ và nhất quán, chưa tập trungvào các thực hành cụ thể, từ đó, dẫn tới khó khăn cho nhân viên y tế làm côngtác tư vấn dinh dưỡng, hạn chế việc chuyển tải thông tin đến thai phụ [5].Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Hoa và cộng sự năm 2014 xác định chỉ có47,9% phụ nữ mang thai chưa đạt mức tăng cân khuyến nghị của Viện Y học[12] Kết luận này đặt ra việc cần có nhiều nghiên cứu đánh giá tình trạng
Trang 13dinh dưỡng trong thai kỳ một cách cụ thể hơn cũng như xác định ảnh hưởngnhư thế nào đến kết cục thai kỳ.
Bệnh viện đa khoa khu vực Phía Nam Bình Thuận là một bệnh viện hạng
II, có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân huyện Đức Linh và nhân dânkhu vực xung quanh, địa bàn một huyện miền núi thuộc tỉnh Bình Thuận với
sự tập trung đông đồng bào dân tộc sinh sống Khoa sản của bệnh viện hằngngày tiếp nhận một số lượng lớn thai phụ đến khám (từ 30 – 50 lượtkhám/ngày) Trong số các thai phụ đến khám này, có từ 10-15% thai phụthuộc nhóm dinh dưỡng kém (nhẹ cân khi mang thai so với khuyến cáo của
Bộ Y tế) [5], tập trung nhiều ở nhóm thai phụ thuộc đồng bào dân tộc thiểu số
và các huyện vùng xa, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của cả thaiphụ và bé sau sinh Bối cảnh này đặt ra một thách thức cho công tác chăm sócsức khoẻ thai phụ nhằm nâng cao tình trạng dinh dưỡng của các thai phụ đếnkhám thai tại bệnh viện đa khoa khu vực Phía Nam tỉnh Bình Thuận Vớimong muốn cải thiện chương trình chăm sóc sức khoẻ thai phụ, dựa trên cáchướng dẫn chi tiết về tình trạng dinh dưỡng trong thai kỳ, chúng tôi tiến hành
Thành phố Hồ Chí Minh đối với thai phụ đến sinh tại bệnh viện đa khoa khu vực Phía Nam Bình Thuận ” Thông qua nghiên cứu, chúng tôi muốn đề ra các
giải pháp can thiệp sớm nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho thai phụtrong thời kỳ mang thai đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho thai nhi Câu hỏi
nghiên cứu được đặt ra: Tỷ lệ thai phụ dinh dưỡng kém là bao nhiêu theo
thang đo dinh dưỡng tại Trung tâm Dinh dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh và các yếu tố liên quan đến nguy cơ dinh dưỡng tại bệnh viện đa khoa khu vực phía Nam Bình Thuận ?.
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Xác định tỷ lệ thai phụ có nguy cơ về dinh dƣỡng ở thai phụ đến sinhtại bệnh viện đa khoa khu vực Phía Nam Bình Thuận
2 Liệt kê các yếu tố liên quan vấn đề có nguy cơ về dinh dƣỡng tại bệnhviện đa khoa khu vực Phía Nam Bình Thuận
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm trong nghiên cứu
Dinh dưỡng: là việc cung cấp các chất cần thiết (theo dạng thức ăn) cho
các tế bào và các cơ quan trong cơ thể để hỗ trợ sự sống Nó bao gồm cáchoạt động ăn uống, hấp thu, vận chuyển và sử dụng các chất dinh dưỡng, bàitiết các chất thải [69], [76]
Suy dinh dưỡng: là tình trạng liên quan đến sự thiếu hụt quá mức hoặc
mất cân bằng trong việc hấp thụ năng lượng và chất dinh dưỡng của một
Thừa cân béo phì: là một tình trạng liên quan đến sự tích lũy mỡ dư
thừa trong cơ thể đến mức có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe [42]
1.2 Dinh dưỡng trong thai kỳ
1.2.1 Nhu cầu dinh dưỡng trong thai kỳ
Khi phụ nữ có thai, cho con bú, nhu cầu về năng lượng và các chất dinhdưỡng cao hơn so với mức bình thường vì ngoài nhu cầu cho các hoạt độngcủa cơ thể còn thêm nhu cầu cho sự biến đổi về chuyển hóa, tích lũy mỡ, tăngcân, sự tăng về khối lượng của tử cung, vú, phát triển của thai nhi và tạo sữacho con bú Nếu chế độ ăn của thai phụ không hợp lý, thiếu về số lượng vàchất lượng sẽ là nguyên nhân của suy dinh dưỡng bào thai, sơ sinh nhẹ cân.Một số nghiên cứu còn cho thấy mối liên quan giữa chế độ dinh dưỡng trong
1000 ngày đầu đời và sự liên quan đến các bệnh mạn tính không lây [5], [10].Nhu cầu khuyến nghị năng lượng và các chất dinh dưỡng cho phụ nữ có thai
và cho con bú được tính dựa theo bảng nhu cầu khuyến nghị cho người ViệtNam năm 2016 [5], [10]
Nhu cầu khuyến cáo cung cấp năng lượng trong thời kì mang thai và chocon bú, hoạt động chuyển hóa của cơ thể tăng, khối lượng cơ thể tăng dẫn đến
Trang 16nhu cầu năng lượng của thai phụ khi có thai và cho con bú tăng lên so vớichưa mang thai Nếu năng lượng cung cấp không đủ trong một thời gian dài,thai phụ dễ bị thiếu năng lượng trường diễn, trẻ dễ có nguy cơ bị suy dinhdưỡng bào thai Ngược lại, cung cấp năng lượng vượt quá nhu cầu kéo dài sẽdẫn đến tích lũy năng lượng thừa dưới dạng mỡ, thai phụ tăng cân quá mứcdẫn đến nguy cơ đái tháo đường thai kỳ và trẻ sinh ra nặng cân hơn bìnhthường (trên 4.000 gam) Đối với phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú, nhucầu năng lượng khuyến nghị được tính dựa theo bảng nhu cầu năng lượngkhuyến nghị cho người Việt Nam năm 2016 [5]:
Bảng 1.1: Nhu cầu khuyến cáo cung cấp năng lượng (kcal/ngày)
lực nhẹ
Hoạt động thể lực trung bình
1.3 Tầm quan trọng của dinh dưỡng trong thai kỳ
1.3.1 Tầm quan trọng của dinh dưỡng trong thai kỳ
Dinh dưỡng của thai phụ trong thời kỳ mang thai có vai trò quan trọngđối với sự phát triển của thai nhi Dinh dưỡng của người mẹ rất quan trọng từtrước khi thụ thai (có thể 6 tháng trước khi thụ thai) cũng như trong suốt thai
kỳ và cho con bú Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng dinh dưỡng của người mẹ
sẽ có ảnh hưởng đến trẻ em bao gồm nguy cơ ung thư, bệnh tim mạch, tănghuyết áp và tiểu đường trong suốt cuộc đời
Trang 17Một lượng chất dinh dưỡng không đủ hoặc quá mức có thể gây dị tật thainhi hoặc các vấn đề y tế ở thai nhi như suy dinh dưỡng, rối loạn thần kinh và
dị tật bẩm sinh về kiểu hình Ước tính 24% trẻ sơ sinh trên toàn thế giới đượcsinh ra với trọng lượng thấp hơn tối ưu khi sinh do thiếu dinh dưỡng thíchhợp Thói quen cá nhân như sử dụng rượu, bia hoặc một lượng lớn caffeine(cafe, chất kích thích,…) có thể ảnh hưởng tiêu cực và không thể cải thiện đến
sự phát triển của em bé, xảy ra trong giai đoạn đầu của thai kỳ Tiêuthụ caffein khi mang thai có liên quan đến tăng nguy cơ sẩy thai [45], [32]
1.3.2 Mối liên quan giữa dinh dưỡng trong thai kỳ và kết thúc thai kỳ 1.3.2.1 Dinh dưỡng trong thai kỳ liên quan đến cân nặng khi sinh của trẻ
Chế độ dinh dưỡng của thai phụ trong thời gian mang thai là yếu tố liênquan rõ rệt nhất đến cân nặng của trẻ khi sinh Rất nhiều nghiên cứu đã khẳngđịnh rằng nếu thai phụ được cung cấp thức ăn đầy đủ và cân đối trong thờigian mang thai sẽ bảo đảm cho thai nhi tăng cân tốt, kể cả con của các thaiphụ suy dinh dưỡng Ngược lại, nếu thai phụ mang thai thiếu ăn sẽ tăng nguy
cơ sinh con non tháng, nhẹ cân [5]
Trẻ sinh non tháng, nhẹ cân khi lớn lên tăng nguy cơ mắc bệnh mạchvành, tăng huyết áp, tiểu đường, giảm dự trữ thận, giảm chức năng phổi, chậmdậy thì, dễ bị trầm cảm và tỷ lệ tử vong sẽ cao hơn Riêng đối với trẻ gái sinhnhẹ cân có nguy cơ suy dinh dưỡng khi trưởng thành, lại tiếp tục là một yếu
tố nguy cơ sinh con nhẹ cân cho thế hệ kế tiếp [5]
1.3.2.2 Dinh dưỡng trong thai kỳ liên quan đến một số dị tật bẩm sinh
Khi mang thai, đặc biệt là trong 3 tháng đầu nếu thai phụ dinh dưỡngkhông đủ sẽ bị giảm sức đề kháng, tăng nguy cơ mắc một số bệnh truyềnnhiễm có thể để lại các khuyết tật cho trẻ như tim bẩm sinh, sứt môi hở hàmếch…Thiếu acid folic là nguyên nhân chính gây dị tật ống thần kinh ở trẻ sơsinh Can thiệp bằng cách cung cấp đủ acid folic cho thai phụ trước và trong
Trang 18thời gian mang thai sẽ làm giảm được khoảng 50% khuyết tật này ở trẻ [5],[74].
1.3.2.3 Dinh dưỡng trong thai kỳ liên quan đến sự phát triển trí tuệ của trẻ
Ngay từ ngày thứ 18 của phôi đã có quá trình chuẩn bị sự hình thành củanão bộ và khi phôi được 3 tháng tuổi thì não bộ đã có đủ các thành phần Thờiđiểm 20 tuần tuổi là cột mốc quan trọng trong sự phát triển của thai nhi, khinão bộ thai nhi tăng mạnh về khối lượng và dần hoàn thiện về chức năng Từtuần thứ 20 đến khi chào đời, kích thước não bộ tăng gấp 6 lần và tế bào thầnkinh kết nối phức tạp hơn Sự trưởng thành của não bộ rất quan trọng cho khảnăng học hỏi và trí nhớ về sau Quá trình này cần rất nhiều dưỡng chất nhưacid folic, vitamin B6, B12, mangan, đồng, iod, vitamin D, cholin, sắt và kẽm[5]
Giai đoạn 3 tháng cuối thai kỳ là giai đoạn não bộ tăng trưởng và trưởngthành nhanh nhất Vì vậy, cần cung cấp đủ nhu cầu tăng lên về năng lượng vàcác chất dinh dưỡng cho thai phụ
Chế độ ăn của thai phụ đủ acid béo không no cần thiết, đủ DHA (DocosaHexaenoic Acid) sẽ giúp trẻ trí thông minh, thị giác tốt và có hệ tim mạchkhỏe mạnh Nghiên cứu ảnh hưởng của trẻ sinh nhẹ cân do thai phụ thiếu dinhdưỡng trong thai kỳ lên chỉ số IQ cho thấy với mỗi 1 kg nhẹ hơn khi sinh ra(so với anh/chị em sinh đôi), IQ ngôn ngữ về sau sẽ thấp hơn 13 điểm
Chất béo chuỗi dài DHA có vai trò rất quan trọng trong hình thành tế bàonão và thị giác, cụ thể là [5]:
- Tham gia hình thành tế bào não, DHA:
+ Là thành phần chủ yếu của các acid béo tham gia cấu tạo não
+ Cần thiết cho quá trình myelin hóa tế bào thần kinh
+ Tác động đến màng synapse
Trang 19– Bộ phận điều khiển sự phóng thích và tiếp nhận chất dẫn truyền thầnkinh, giúp sự truyền tín hiệu giữa các tế bào não hiệu quả hơn.
- Tham gia hình thành tế bào thị giác, DHA là:
+ Thành phần quan trọng cấu tạo tế bào võng mạc mắt
+ Thành phần chính trong các tế bào tiếp nhận hình ảnh [5]
1.3.3 Thang đánh giá tình trạng dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai 1.3.3.1 BMI trước mang thai
Phụ nữ có chỉ số BMI từ 18,5 - 24,9 được phân loại là có trọng lượng cơthể bình thường hoặc khỏe mạnh Ở nhóm này, có nguy cơ thấp nhất về kếtquả của thai kỳ Trẻ được sinh ra ít nguy cơ nhẹ cân Vì vậy, đối với các phụ
nữ có cân nặng bình thường trước khi mang thai nên tăng tổng cộng 11,5 kgđến 16 kg trong suốt thời gian mang thai, tức là khoảng 0,4 kg mỗi tuần trong
3 tháng giữa và 3 tháng cuối [43]
Để duy trì mức tăng cân ổn định, thai phụ nên tham gia các hoạt độngthể chất nhẹ Tham gia vào các hoạt động aerobic như đi bộ và bơi từ 3 đến 4lần một tuần thường là đủ Hoạt động thể chất mạnh mẽ không được khuyếnkhích vì việc mất quá nhiều calo gây ra không đủ để hỗ trợ sự phát triển củathai nhi [43]
Một chế độ ăn uống hợp lý cũng rất cần thiết để tăng cân lànhmạnh Quan niệm rằng "một người phụ nữ đang ăn cho hai người" thường dẫnđến việc thai phụ nghĩ rằng họ nên ăn gấp đôi Trong thực tế, chỉ cần một sựgia tăng nhỏ trọng lượng calo để cung cấp cho thai nhi, khoảng 350 calonhiều hơn trong 3 tháng giữa và thêm 450 calo trong 3 tháng cuối Ngoài ra,các lựa chọn lành mạnh nên được lưu ý để tránh tiêu thụ thực phẩm với nhiềucalori thừa này như các sản phẩm ngũ cốc nguyên hạt, trái cây và rau quảcũng như các chất thay thế sữa ít béo [43], [63]
Nghiên cứu của Jared M Campbell năm 2018 phân tích gộp chỉ có thểthực hiện việc tăng BMI của người mẹ ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả mang
Trang 20thai và sức khỏe trẻ em Các nghiên cứu trong tương lai phải bao gồm hoặcđiều chỉnh những đóng góp của người cha, vì giả định lâu nay rằng chỉ có cácyếu tố của người mẹ là có liên quan có thể đã gây nhầm lẫn đáng kể cho côngviệc trước đó [28].
Phụ nữ thiếu cân
Phụ nữ được xác định là thiếu cân nếu họ có chỉ số khối cơ thể (BodyMass Index: BMI) trước khi mang thai từ 18,5 trở xuống BMI trước khimang thai thấp làm tăng nguy cơ trẻ sơ sinh nhẹ cân, nhưng nguy cơ có thểđược cân bằng khi tăng cân trong thời kỳ mang thai thích hợp từ 12,5 kg đến
18 kg hoặc khoảng 0,5 kg mỗi tuần trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối [43].Phụ nữ thiếu cân thường có chế độ dinh dưỡng không đầy đủ, không đủ
để cung cấp cho cả bản thân và thai nhi Mặc dù tập thể dục và chế độ ănuống hợp lý đều cần thiết để duy trì mức tăng cân được khuyến nghị, sự cânbằng giữa duy trì năng lượng hợp lý thông qua vận động và dinh dưỡng trongthai kỳ là rất quan trọng Vì vậy, thai phụ thiếu cân nên tìm kiếm sự tư vấndinh dưỡng tốt nhất là phù hợp với bản thân họ [43]
thiếu máu và chỉ số BMI thấp ở phụ nữ mang thai ở Đông Maharashtra vàđánh giá xem BMI thấp có ảnh hưởng đến kết quả thai nghén hay không Hơn90% phụ nữ tham gia nghiên cứu bị thiếu máu, hơn một phần ba nhẹ cân(BMI < 18,5 kg/m2) và mắc cả hai tình trạng này Rủi ro thậm chí còn trở nênđáng kể hơn và gia tăng hơn nữa với tình trạng thiếu máu vừa hoặc nặng bất
kỳ lúc nào trong thai kỳ đối với thai chết lưu (RR: 1,4; KTC 95%: 1,2-1,8), tửvong sơ sinh (RR: 1,7; KTC 95%: 1,3-2,1) và trẻ sơ sinh nhẹ cân (RR: 1,3;KTC 95%: 1,2-1,4), nhẹ cân bất cứ lúc nào trong thai kỳ làm tăng nguy cơ tửvong sơ sinh (RR: 1,1; KTC 95%: 1-1,3) và trẻ sơ sinh nhẹ cân (RR: 1,2;KTC 95%: 1,2-1,3) Nguy cơ mắc thai chết lưu (RR: 1,5; KTC 95%: 1,2-1,8),
tử vong sơ sinh (RR: 1,7; KTC 95%: 1,3-2,3) và trẻ sơ sinh nhẹ cân (RR: 1,5;
Trang 21KTC 95%: 1,4-1.6) cao nhất khi tình trạng thiếu máu và nhẹ cân cùng tồn tại
ở những phụ nữ được đưa vào [64]
Phụ nữ thừa cân và béo phì
Phụ nữ có cân nặng trước khi mang thai được phân loại là thừa cân hoặcbéo phì, được xác định là có chỉ số BMI từ 25 trở lên Phụ nữ có BMI từ 25đến 29,9 thuộc nhóm thừa cân do đó nên tăng cân từ 7 kg đến 11,5 kg, tươngứng với khoảng 0,28 kg mỗi tuần trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối Trongkhi đó, phụ nữ có BMI từ 30 trở lên thuộc nhóm béo phì và chỉ nên tăng cân
từ 5 kg đến 9 kg, tương đương với khoảng 0,2 kg mỗi tuần trong 3 tháng giữa
và 3 tháng cuối [43]
Chế độ ăn uống, tập thể dục hoặc kết hợp cả hai đã được nghiên cứu và
nó làm giảm nguy cơ thừa cân 20% trong thai kỳ và giảm huyết áp cao [57]
Ăn uống lành mạnh kết hợp với tập thể dục có thể làm giảm nguy cơ sinh mổ,sinh con lớn và sinh con có vấn đề nghiêm trọng về hô hấp [43], [57]
1.3.3.2 Chu vi vòng cánh tay
Sự phát triển kém hoặc suy mòn các cơ là những biểu hiện chính của suydinh dưỡng thiếu protein- năng lượng, nhất là trẻ nhỏ, phụ nữ có thai Ở ngườilớn và người trưởng thành, khối lượng cơ lại tỷ lệ với sự tăng vận động củamột nhóm cơ nào đó Trong thực hành dinh dưỡng, đánh giá khối lượng cơthường được thông qua vòng đo trực tiếp các chi [4], [70] Nghiên cứu của
AE Ricalde, chu vi giữa cánh tay của bà mẹ (MUAC) và cân nặng trước khi
0,399; r = 0,378) Hồi quy đa biến cho thấy tuổi thai, chu vi cánh tay của mẹ
và cân nặng trước khi mang thai tiếp tục là những yếu tố dự báo đáng kể vềcân nặng khi sinh Mặt khác, chỉ có tuổi thai và tuổi mẹ có liên quan đếnchiều dài gót chân Tương tự MUAC có liên quan đáng kể với chiều dài gótchân (r = 0,306; P = 0,0030) [68]
Trang 22Hình 1.1: Phương pháp đo chu vi vòng cánh tay [70]
Kỹ thuật: vòng đo thường dùng nhất là vòng đo cánh tay trái, tư thế bỏthõng tự nhiên Dùng thước mềm, không chun giãn với độ chính xác 0,1 cm.Vòng đo đi qua điểm giữa cánh tay tính từ mỏm cùng xương vai đến mỏmtrên lồi cầu xương cánh tay Do vòng này ít thay đổi ở trẻ từ 12-60 tháng chonên không đòi hỏi biết tuổi chính xác ở lứa tuổi này [4], [70]
Xác định điểm giữa cánh tay, trước hết cần xác định mỏm cùng vai, sau
đó gập khủyu tay vuông góc, xác định mỏm trên lồi cầu xương cánh tay Đặt
vị trí số 0 của thước đo vào mỏm cùng xương vai, kéo thẳng thước đo đếnmỏm trên lồi cầu xương cánh tay, đánh dấu điểm giữa cánh tay Duỗi thẳngcánh tay của trẻ, vòng thước đo quanh điểm giữa cánh tay, mặt số của thước
đo hướng lên trên, áp sát thước đo vào cánh tay của trẻ, đảm bảo sao chothước đo có độ căng vừa phải không quá chật, hoặc quá lỏng, đọc kết quảchính xác đến 0,1 cm [4], [70]
Trang 231.3.3.3 Tốc độ tăng cân
Tốc độ tăng cân trong thai kỳ có liên quan chặt chẽ với các giai đoạn thai
kỳ Năng lượng bổ sung là cần thiết trong thai kỳ do sự mở rộng các mô củathai phụ và được lưu trữ để hỗ trợ sự phát triển của thai nhi
Trong 3 tháng đầu thai kỳ (giai đoạn phôi thai và giai đoạn phôi thaisớm), thai phụ trải qua quá trình tăng cân tối thiểu (khoảng 0,5-2 kg), trongkhi phôi chỉ nặng 6 gram
Trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối, thai nhi trải qua quá trình tăngtrưởng nhanh chóng và cân nặng tăng lên khoảng 3000 ~ 4000 gram Cũngtrong giai đoạn này, thai phụ trải qua phần lớn thời gian tăng cân trong thời kỳmang thai nhưng lượng tăng cân lại khác nhau rất nhiều Số lượng tăng cânphụ thuộc mạnh mẽ vào cân nặng trước khi mang thai của họ
Tóm lại, một trọng lượng bình thường được khuyến khích mạnh mẽ chothai phụ khi bước vào thời kỳ mang thai, vì nó thúc đẩy sức khỏe tổng thể củatrẻ sơ sinh Trọng lượng cơ thể của thai phụ được xác định bởi chỉ số khối cơthể (BMI) được định nghĩa là trọng lượng tính bằng kilôgam chia cho bìnhphương chiều cao tính bằng mét Trong khi mang thai, trọng lượng cơ thể nênđược quản lý trong phạm vi tăng cân thai kỳ được khuyến nghị vì nó đượcchứng minh là có tác động tích cực đến kết quả mang thai Tăng cân trongthai kỳ cũng nên được kiểm soát và trọng lượng khuyến nghị phụ thuộc vàotrọng lượng cơ thể trước khi mang thai Vì tổng mức tăng cân phụ thuộc vàotrọng lượng cơ thể trước khi mang thai, thai phụ thiếu cân nên trải qua quátrình tăng cân nhiều hơn để có kết quả thai kỳ khỏe mạnh, thai phụ thừa cânhoặc béo phì nên tăng cân ít hơn
Trang 24Sơ đồ 1.1:Biểu đồ cân nặng khuyến cáo trong thai kỳ [4]
1.3.3.4 Bệnh lý kèm theo liên quan đến dinh dưỡng
Cải thiện chăm sóc cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và khoảng thờigian sinh con để ngăn ngừa và điều trị tiền sản giật và sản giật là một bướccần thiết để đạt được các mục tiêu sức khỏe của các mục tiêu phát triển bềnvững (SDGs) Những nổ lực để ngăn ngừa và giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong
do những điều kiện này có thể giúp giải quyết sự bất bình đẳng sâu sắc trongsức khỏe thai phụ và chu sinh trên toàn cầu Để đạt được điều này, các nhàcung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nhà quản lý y tế, nhà hoạch định chínhsách và các bên liên quan khác cần có các khuyến nghị cập nhật và bằngchứng để hướng dẫn các chính sách và thực hành lâm sàng [79]
Trang 251.4 Thang đo dinh dưỡng của Trung tâm Dinh dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu sử dụng tiêu chuẩn đánh giá dựa trên thang đo dinh dưỡngcủa Trung tâm Dinh dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng dựa trên sự hỗtrợ của Unicef thực hiện, với 3 thang đo đánh giá tình trạng dinh dưỡng của 3đối tượng bao gồm:
- Phiếu đánh giá tình trạng dinh dưỡng (dùng cho người bệnh trên 18tuổi, không mang thai)
- Phiếu đánh giá tình trạng dinh dưỡng (dùng cho trẻ em nhập viện) [17]
- Phiếu đánh giá tình trạng dinh dưỡng (dùng cho phụ nữ mang thai)
Trang 26Nguồn: Phác đồ điều trị - Trung tâm Dinh dưỡng TP Hồ Chí Minh [17].
Trang 27Nguồn: Phác đồ điều trị - Trung tâm Dinh dưỡng TP Hồ Chí Minh [17].
Trang 281.5 Mối liên quan giữa dinh dưỡng và kết cục thai kỳ
Các vấn đề liên quan đến suy dinh dưỡng ở bà mẹ, đối với trường hợpcủa tổng quan này ám chỉ suy dinh dưỡng năng lượng protein, đã liên tục đặt
ra một thách thức to lớn ở các nước thu nhập thấp trước sự tiến bộ sâu rộngtrong tăng trưởng kinh tế toàn cầu [27], [38], [82] Suy dinh dưỡng ở bà mẹvẫn ở mức cao không thể chấp nhận được ở các khu vực ở Nam Trung Bộ vàĐông Nam Á và Châu Phi cận Sahara [27], [73] Theo số liệu năm 2018 của
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khu vực châu Phi, từ năm 2000 đến năm 2015,chín quốc gia ở châu Phi có tỷ lệ lưu hành trên 15% Tỷ lệ nhẹ cân của bà mẹvượt quá 20% ở Ethiopia, Madagascar và Senegal trong khi tỷ lệ thiếu cân ởphụ nữ thấp nhất ở Benin, Cameroon, Ghana, Lesotho, Rwanda, Swaziland vàTogo [41], [81]
Trên toàn cầu, nạn đói và suy dinh dưỡng làm giảm tổng sản phẩm quốcnội (GDP) của một quốc gia khoảng 1,4–2,1 nghìn tỷ đô la Mỹ mỗinăm Tương tự, suy dinh dưỡng gây thiệt hại từ 3% đến 16% GDP hàng nămcủa 54 quốc gia châu Phi và ít được đề cập đến như Ethiopia 16,5%, Malawi10,3%, Rwanda 11,5% và Burkina Faso 7,7% [82] Suy dinh dưỡng ở bà mẹcũng đóng một vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến kết quả sức khỏe
bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em [77] Bằng chứng mới cho thấy tầm quan trọngcủa dinh dưỡng bà mẹ trong 2 năm đầu đời của trẻ để phòng ngừa bệnh thấpcòi, béo phì và các bệnh không lây nhiễm ở tuổi trưởng thành [25],[77] Tương tự như vậy, dinh dưỡng kém của bà mẹ trước và trong khi mangthai có liên quan chặt chẽ đến việc tăng nguy cơ thiếu máu ở mẹ, tử vong vàcác kết quả bất lợi khi sinh như nhẹ cân (LBW) và sinh non (PTB) [29] mặc
dù giải thích cho điều này liên kết rất phức tạp [77]
Các mối quan tâm về dinh dưỡng trong thai kỳ ngày càng trở nên quantrọng vì các vấn đề về béo phì, dinh dưỡng kém và tăng cân không đúng cách
Trang 29trong thai kỳ đã được chứng minh là dẫn đến bệnh tật cho mẹ và trẻ sơ sinhtrong suốt thai kỳ Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy tác động của dinhdưỡng kém trong thai kỳ kéo dài hàng thập kỷ sau đối với người mẹ và concái [30].
1.5.1 Yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng khi mang thai
Nghiên cứu của Xuyang Chen năm 2016 tình trạng dinh dưỡng củangười mẹ khi mang thai sẽ ảnh hưởng đến kết quả của mẹ và con Nhiều phântích về mối quan hệ giữa chế độ ăn uống và kết quả thường dựa trên một hoặcmột vài loại thực phẩm hoặc chất dinh dưỡng Tuy nhiên, thực phẩm khôngđược tiêu thụ riêng lẻ và các mô hình ăn kiêng có thể được sử dụng để đánhgiá toàn bộ khẩu phần ăn được tiêu thụ Việc sử dụng phân tích mô hình chế
độ ăn uống để hiểu lượng dinh dưỡng và kết quả mang thai ngày càng trở nênphổ biến Nhiều nghiên cứu đã được công bố cho thấy mối liên quan giữa chế
độ ăn uống của sản phụ và kết quả mang thai Tổng quan này đã xem xét cácbài báo về mối quan hệ giữa các kiểu ăn uống của sản phụ và kết quả mangthai Là một yếu tố có thể thay đổi được, các chế độ ăn kiêng có thể áp dụngnhiều hơn cho các can thiệp sức khỏe lâm sàng và sức khỏe mang thai [33]
1.5.2 Yếu tố liên quan giữa dinh dưỡng trong thai kỳ và kết cục thai kỳ của mẹ
Yếu tố dinh dưỡng và môi trường làm thay đổi các con đường pháttriển trong quá trình tăng trưởng trước khi sinh, gây ra những thay đổi trongquá trình trao đổi chất sau sinh và các bệnh tật Nếu sự thích nghi trong tửcung không chính xác, điều này sẽ gây ra sự không phù hợp giữa lập trìnhtrước khi sinh và tuổi trưởng thành Việc hấp thụ đủ calo, protein, khoángchất, vitamin và axit béo chuỗi dài, đã được ghi nhận về mức độ liên quan củachúng đối với các chức năng và hành vi của não trẻ nhỏ Thai nhi thiếu dinhdưỡng hay suy dinh dưỡng gây chậm tăng trưởng và có tác động xấu đến sựphát triển và hoạt động sau này của các cơ quan Mang thai là giai đoạn đặc
Trang 30biệt dễ bị tổn thương khi thay đổi sở thích ăn uống và những biến chuyểntrong phản ứng cảm xúc đối với môi trường sống xung quanh Thai phụ béophì làm tăng nguy cơ phát triển các biến chứng chu sinh và tăng nguy cơ sinh
mổ, đồng thời tình trạng béo phì cũng là yếu tố khởi phát sự xuất hiện cácbệnh chuyển hóa Tập thể dục khi mang thai góp phần cải thiện sức khỏe tổngthể sau khi sinh Một số nghiên cứu cho thấy có sự liên quan của các vấn đề
về rối loạn giấc ngủ khi mang thai, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng đầy đủ và
sự phát triển của thai nhi Điều này khẳng định vai trò quan trọng của chuyểnhoá và chu trình sinh học đóng vai trò quan trọng trong các chương trình nângcao sức khỏe và dinh dưỡng sức khỏe phụ nữ mang thai Kiểm soát tốt hai yếu
tố này, giúp cải thiện sức khỏe của con cái và chi phí phát sinh khi chăm sócsức khỏe cho mẹ và bé khi nằm viện Đồng thời làm giảm nguy cơ phát triểncác biến chứng chu sinh và mổ lấy thai, có ý nghĩa lâu dài trong việc làmgiảm phát triển các bệnh chuyển hóa [55]
1.5.3 Yếu tố liên quan giữa dinh dưỡng trong thai kỳ và kết cục thai kỳ của con
Chế độ dinh dưỡng trước khi sinh rất quan trọng cho sự phát triển não bộcủa thai nhi Tuy nhiên, các mối liên quan của nó với các rối loạn phát triểnthần kinh ở trẻ sơ sinh vẫn chưa được hiểu rõ Nghiên cứu này nhằm mụcđích xem xét một cách có hệ thống các mối liên hệ giữa quan niệm và dinhdưỡng trước khi sinh với nguy cơ rối loạn phát triển thần kinh ở trẻ nhỏ [46].Kết quả nghiên cứu của VK Knudsen nghiên cứu khảo sát điều tra mốiliên quan có thể có giữa chế độ ăn của thai phụ trong thời kỳ mang thai và sự
định: kiểu đầu tiên được đặc trưng bởi thịt đỏ và thịt đã qua chế biến, sữanhiều chất béo, và kiểu thứ hai được đặc trưng bởi ăn nhiều rau, trái cây, thịtgia cầm và cá Thai phụ được phân thành ba nhóm theo chế độ ăn uống củahọ: nhóm thứ nhất ăn nhiều thực phẩm thuộc kiểu ăn kiêng thứ nhất và được
Trang 31xếp vào “chế độ ăn phương Tây”, nhóm thứ hai ưa thích thức ăn của kiểu thứhai và được xếp vào nhóm “Ý thức sức khỏe”; và nhóm thứ ba ăn thức ăn của
cả hai nhóm, và được xếp vào loại “Trung bình” Tỷ số chênh lệch của trẻ nhỏ
so với tuổi thai (có cân nặng lúc sinh dưới phân vị thứ 2,5 cho tuổi thai vàgiới tính) là 0,74 (KTC 95%: 0,64-0, 86) dành cho phụ nữ trong nhóm ý thức
về sức khỏe so với thai phụ trong nhóm ăn kiêng phương Tây Các phân tíchđược điều chỉnh theo lứa tuổi, mẹ hút thuốc, tuổi, chiều cao, cân nặng trướckhi mang thai và chiều cao của bố [44]
(n = 3143) Chế độ ăn uống được đánh giá ở tuổi thai 26 - 29 tuần bằng cách
sử dụng bảng câu hỏi tần suất thực phẩm và các mẫu được thu thập bằng cách
sử dụng phân tích yếu tố và chế độ ăn uống Mối liên hệ giữa các kiểu ănkiêng và sinh non được đánh giá bằng hồi quy logistic Nghiên cứu cho thấyviệc tuân thủ chế độ ăn cho người tăng huyết áp (DASH) nhiều hơn có liênquan đến tỷ lệ sinh non giảm so với những sản phụ không áp dụng (OR =0,59; KTC 95%: 0,40-0,85) Chất lượng chế độ ăn trong thời kỳ mang thai cóliên quan đến sinh non Do đó, tư vấn về chế độ ăn uống trước khi sinh vàkhuyến khích áp dụng sớm một chế độ ăn uống lành mạnh có thể cải thiện kếtquả mang thai [52]
Nghiên cứu của tác giả Min-Shan Lu năm 2018 về mối liên quan giữa
7352 thai phụ được đưa vào nghiên cứu đoàn hệ sinh ra ở Quảng Châu, mộtnghiên cứu tiềm năng ở Trung Quốc Kết quả nghiên cứu trong đó 351 (4,8%)sinh non Trong số những trường hợp sinh non, lần lượt là 16,2% sinh nonsớm và 83,8% là sinh non muộn So với những thai phụ thuộc kiểu “Rau”,những người thuộc kiểu “Sữa” có tỷ lệ sinh non nói chung cao hơn (4,8%)sinh non trong dân số OR: 1,59; KTC 95%: 1,11 - 2,29, p < 0,05), sinh nonsớm (OR hiệu chỉnh 1,73; KTC 95%: 1,14 - 2,62, p <0,05) và sinh non muộn
Trang 32(OR hiệu chỉnh 1,73; KTC 95%: 1,08 - 2,62, p <0,05), những loại “Ngũ cốc,trứng và súp Quảng Đông” và “Trái cây, các loại hạt”, chế độ ăn của thai phụvới việc uống sữa thường xuyên và ít ăn rau trong thời kỳ mang thai có thểlàm tăng tỷ lệ sinh non Các can thiệp trong tương lai nên điều tra xem việctăng lượng rau ăn vào có làm giảm sinh non hay không [49].
1.6 Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
1.6.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Một nghiên cứu của Yin J thực hiện năm 2019 tại Thành phố Altai của
Kazak thực hiện nghiên cứu về cải thiện hiệu quả can thiệp dinh dưỡng toàn
diện cho toàn bộ thai phụ, sản phụ cho con bú và trẻ sơ sinh của Kazak.Phương pháp ghi 24 giờ được thực hiện để khảo sát chế độ ăn uống, và kếtquả được sử dụng để phân tích cấu trúc chế độ ăn uống và mức độ dinh dưỡngcủa thai phụ mang thai, sản phụ cho con bú và trẻ sơ sinh Kết quả nghiên cứudinh dưỡng của thai phụ mang thai, sản phụ cho con bú và trẻ sơ sinh thấphơn trung bình so với mức khuyến nghị Ở những trẻ này được cho bú, tỷ lệchất lượng chế độ ăn ít được chấp nhận nhất là 42,1% và ở những trẻ kháckhông được cho bú, tỷ lệ này là 25% Sự can thiệp dinh dưỡng của toàn bộphụ nữ có thể cải thiện tình trạng dinh dưỡng của thai phụ mang thai, sản phụcho con bú và trẻ sơ sinh của Kazak [85]
Một nghiên cứu của Betemariam Gebre và các cộng sự tại Ethiopia vềcác yếu tố quyết định suy dinh dưỡng ở thai phụ mang thai và cho con bú.Khảo sát 900 thai phụ có thai và cho con bú đã được đánh giá cho suy dinh
dưỡng Sử dụng MUAC (Kỹ thuật đo chu vi vòng cánh tay) dưới 21 cm làm
tiêu chí, có tới 216 (24%) thai phụ được khảo sát bị suy dinh dưỡng Trongphân tích hồi quy đa biến logistic, những thai phụ không được chăm sóc tiềnsản trong khi mang thai có tỷ lệ chênh lệch cao hơn (tỷ lệ chênh lệch đượcđiều chỉnh (OR) = 1,83; KTC 95%: 1,10 - 3,02) bị suy dinh dưỡng (MUAC <
21 cm) so với thai phụ nhận được chăm sóc tiền sản Các bà nội trợ có tỷ lệ
Trang 33thấp hơn (OR = 0,59; KTC 95%: 0,37- 0,95) bị suy dinh dưỡng so với nhữngphụ nữ nông dân Thai phụ thuộc các gia đình có ít nhất một người khôngđược cho ăn bổ sung có mục tiêu (TSF) trong 6 tháng trước khi nghiên cứu có
tỷ lệ thấp hơn (OR = 0,38; KTC 95%: 0,23-0,62) bị suy dinh dưỡng cấp tính
so với những người sống trong các gia đình đã nhận TSF Suy dinh dưỡng làphổ biến ở thai phụ mang thai và cho con bú, bao gồm cả những người có cáccan thiệp liên tục Tham gia chăm sóc tiền sản, tình trạng nghề nghiệp củathai phụ và là thành viên của các gia đình được cho ăn bổ sung có mục tiêu(TSF) là những yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của thai phụ trongnghiên cứu này Điều này biểu thị sự cần thiết cho các giải pháp bền vững giảiquyết tỷ lệ suy dinh dưỡng cao ở phụ nữ mang thai và cho con bú Các biệnpháp can thiệp nhắm vào các phản ứng của hệ thống y tế như giáo dục dinhdưỡng toàn diện, hỗ trợ thông qua chăm sóc tiền sản và trao quyền cho thaiphụ được khuyến nghị [23]
Nghiên cứu của Zar HJ và nhóm cộng sự vào năm 2019 sức khỏe thai
phụ và kết quả sinh trong một nghiên cứu đoàn hệ tại Nam Phi Nghiên cứu khảo sát 1137 thai phụ đã sinh ra 1143 em bé sống Hầu hết các trường hợp
mang thai là không biến chứng nhưng một số bệnh lý liên quan tiểu đườngthai kỳ (1%), thiếu máu (22%) hoặc tiền sản giật (2%) xảy ra ở một số ít Hầuhết các hộ gia đình (87%) có thu nhập hàng tháng dưới 350 USD; chỉ có 27%thai phụ được tuyển dụng và tình trạng mất an toàn thực phẩm là phổ biến(37%) Hầu hết trẻ sơ sinh (80%) được sinh ra bằng cách sinh đường âmđạo; 17% là sinh non Tình trạng thực phẩm không an toàn, tình trạng kinh tế
xã hội và bệnh lý kèm theo trong thai kỳ như tăng huyết áp thai kỳ, tiền sảngiật, đái tháo đường thai kỳ có liên quan đến tuổi thai thấp hơn trong khi BMIcủa thai phụ khi nhập viện có liên quan đến tuổi thai cao hơn Thai nghénhoặc sử dụng rượu trong khi mang thai có liên quan đến cân nặng khi sinh vàchu vi đầu của trẻ sơ sinh BMI của thai phụ có liên quan với cân nặng khi
Trang 34sinh và bệnh đái tháo đường thai kỳ, có liên quan tích cực với cân nặng khisinh và chu vi vòng đầu trẻ sơ sinh [86].
Odisha, Ấn Độ Nghiên cứu khảo sát 418 phụ nữ mang thai được theo dõi chođến khi sinh, nghiên cứu khảo sát cân nặng của mẹ, tăng cân trong suốt thai
kỳ và thai nhi Phụ nữ có chỉ số khối cơ thể (BMI) trước khi mang thai nhẹcân là 16,2%, và tổng cộng 6,45% không tuân thủ các khuyến nghị tăng cânhiện tại Riêng phụ nữ thừa cân béo phì tăng cân nhiều hơn mức khuyếnnghị Trong một phân tích đa biến, đối tượng có nguy cơ về dinh dưỡng cómối liên quan với chỉ số BMI (p = 0,03), tổng lượng calo ăn vào (p < 0,001)
và lượng chất béo (p < 0,001), trong khi cân nặng khi sinh của trẻ sơ sinhtương quan với mức tăng cân và lượng chất béo đầy đủ (p < 0,001 ) [54].Nghiên cứu năm 2020 của Hui Yan Nghiên cứu kiểu chế độ ăn của bà
mẹ trong thời kỳ mang thai và đặc điểm phân bố cân nặng lúc sinh của trẻ vàmối liên quan giữa kiểu ăn và cân nặng sơ sinh ở Trung Quốc Dữ liệu đượclấy từ một chương trình cắt ngang có tên "Tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố nguy
cơ của dị tật bẩm sinh ở tỉnh Thiểm Tây" vào tháng 7 đến tháng 11 năm 2013.Tổng cộng có 15,980 người tham gia vào nghiên cứu này Bốn mô hình ănkiêng đã được xác định: "mô hình ăn chay", "mô hình cân bằng", "mô hìnhtruyền thống" và "mô hình chế biến" So với phụ nữ thuộc nhóm trung bình,phụ nữ thuộc nhóm hiếm hoi tuân thủ chế độ ăn chay cao nhất làm tăng nguy
cơ sinh con nhẹ cân ở khu vực nông thôn (OR = 1,61; KTC 95%: 1,06-2,93)
và vùng trung bình (OR = 1,75; KTC 95%: 1,18-2,62), và mô hình truyềnthống có tỷ lệ chênh lệch cân nặng khi sinh thấp hơn ở vùng trung bình (OR =1,55; KTC 95%: 1,05-3,75) Mô hình xử lý được phát hiện là yếu tố bảo vệcho sự xuất hiện của trẻ nhẹ cân ở nông thôn (OR = 0,98; KTC 95%: 0,43-0,99) nhưng lại là yếu tố nguy cơ trẻ nhẹ cân ở khu vực phía Nam (OR =8,83; KTC 95%: 1,22-15,16) Mô hình ăn chay và truyền thống có thể liên
Trang 35quan tích cực đến nguy cơ sinh con nhẹ cân cao hơn trong khi mô hình cânđối có thể giữ cho trọng lượng sơ sinh của con trong phạm vi thích hợp Tăngcường giáo dục sức khỏe về chế độ ăn cân đối và hướng dẫn dinh dưỡng cánhân trong thời kỳ mang thai, để cơ cấu khẩu phần trong thai kỳ hợp lý hơn,giảm tình trạng trẻ sơ sinh nhẹ cân bất lợi [83].
1.6.2 Một số nghiên cứu trên Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của hai tác giả Văn Quang Tân và Lê Thị Hợp thựchiện năm 2012 thực trạng dinh dưỡng của thai phụ và chiều dài cân nặng củatrẻ sơ sinh tại tỉnh Bình Dương năm 2012 Nghiên cứu thuần tập tiến cứu thựchiện trên 945 phụ nữ mang thai tại huyện Thuận An, Tân Uyên và thị xã ThủDầu Một tỉnh Bình Dương Kết quả nghiên cứu: tuổi trung bình của thai phụ
có thai là 28,3 có khoảng 6,4% thai phụ có chiều cao dưới 145 cm và 44,6%thai phụ có cân nặng dưới 45 kg Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân là 9,7% và 6,9% trẻ
năng lượng trường diễn thấp hơn cân nặng trung bình của con các thai phụ
lần, p < 0,05), sinh trẻ nhẹ cân (gấp 3,39 lần, p < 0,0001) và sinh trẻ có chiều
năng lượng trường diễn Các thai phụ bị thiếu máu, có chiều cao dưới 145
cm, nặng dưới 45 kg trước khi có thai, tăng cân dưới 9 kg trong thai kỳ, cânnặng dưới 45 kg trước khi sinh có nguy cơ sinh trẻ sơ sinh nhẹ cân và chiềudài sơ sinh ngắn cao hơn (p < 0,05) [18]
Tác giả Lê Thị Thanh Hoa và cộng sự thực hiện nghiên cứu năm 2014tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của phụ nữ mang thai huyệnDuy Tiên, tỉnh Hà Nam Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và mô tả một số yếu
tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ mang thai tại huyện DuyTiên, Hà Nam năm 2014 Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp
Trang 36định tính và định lượng Kết quả nghiên cứu: có 47,9% phụ nữ mang thaichưa đạt mức tăng cân khuyến nghị của Viện Y học (IOM) Có mối liên quangiữa BMI trước khi mang thai, mức đáp ứng năng lượng khẩu phần và mức
độ tăng cân của phụ nữ mang thai theo khuyến nghị của IOM Tình trạng dinhdưỡng của phụ nữ mang thai huyện Duy Tiên, Hà Nam còn thấp và có mốiliên quan chặt chẽ với BMI trước khi mang thai, khẩu phần dinh dưỡng thiếunăng lượng Kết quả nghiên cứu thể hiện tăng cân trung bình của các phụ nữmang thai ba tháng giữa và ba tháng cuối lần lượt là 3,9 ± 2,8 kg và 8,7 ± 4,5
kg chưa đạt mức tăng cân khuyến nghị Năng lượng và các chất dinh dưỡngtrong khẩu phần thực tế của các đối tượng nghiên cứu hầu hết chưa đạt nhucầu khuyến nghị về năng lượng và các chất dinh dưỡng, ngoại trừ protein.Tuy nhiên, khẩu phần thực tế đạt được tỷ lệ cân đối về các chất sinh nănglượng Tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ mang thai huyện Duy Tiên, HàNam tăng cân chưa đạt khuyến nghị đặc biệt là ở giai đoạn 3 tháng cuối Khẩuphần thực tế của các đối tượng còn thiếu về năng lượng, Lipid và hầu hết cácVitamin và khoáng chất [12]
1.7 Đặc điểm nơi thực hiện nghiên cứu
1.7.1 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu huyện Đức Linh - tỉnh Bình Thuận
Huyện Đức Linh nằm ở phía tây tỉnh Bình Thuận, cách thành phố PhanThiết 140 km về phía tây nam, có vị trí địa lý:
Huyện Đức Linh với diện tích: 534,912 km2 Dân số: 138.987người/33.339 hộ (số liệu thông kê đến tháng 11/2019)
Trang 37Cùng với những người dân tộc thiểu số (K’ho, Châu ro) sinh sống lâuđời tại địa phương, còn có đồng bào Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu sốKhơ me, Chăm, Mường, Nùng, Rục, Sán chỉ, Sán dìu, Tày Thái, Thổ, Hoađến từ các tỉnh hành khác.
Hình 1.2: Bệnh viện đa khoa khu vực Phía Nam Bình Thuận 1.7.2 Bệnh viện đa khoa khu vực Phía Nam Bình Thuận
Bệnh viện đa khoa khu vực Phía Nam Bình Thuận thành lập theo quyếtđịnh số 2565/QĐ-UBND ngày 03/10/2007 của Ủy ban Nhân dân tỉnh BìnhThuận Chỉ tiêu giường bệnh được nâng lên là 320 giường Cơ cấu tổ chức có
6 phòng nghiệp vụ, 12 khoa lâm sàng và 5 khoa cận lâm sàng Tổng số cán bộviên chức của bệnh viện là 450 người Tháng 04 năm 2008, UBND tỉnh BìnhThuận có quyết định xếp hạng bệnh viện đa khoa khu vực Phía Nam BìnhThuận từ đơn vị sự nghiệp y tế hạng III lên đơn vị sự nghiệp y tế hạng II [3]
Trang 38Trong đó khoa Phụ sản của bệnh viện có 7 bác sỹ bao gồm 5 bác sỹ sauđại học và 25 nữ hộ sinh Với đầy đủ trang thiết bị và cơ sở vật chất của mộtbệnh viện hạng II [2].
Hình 1.3: Khoa Sản - Bệnh viện đa khoa khu vực Phía Nam Bình Thuận
Trang 39CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang
2.2 Đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Dân số mục tiêu: phụ nữ mang thai đến sinh tại khoa sản bệnh viện đa
khoa khu vực Phía Nam Bình Thuận
2.2.2 Dân số nghiên cứu: phụ nữ mang thai có khám thai trong giai đoạn
mang thai và đến sinh tại khoa sản bệnh viện đa khoa khu vực Phía Nam BìnhThuận từ 01/12/2020 đến 30/06/2021
2.2.3 Dân số chọn mẫu:
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Phụ nữ từ 18 tuổi trở lên đến sinh tại khoa sản của bệnh viện
+ Có sổ khám thai ghi nhận khám đủ 3 tam cá nguyệt trong thai kỳ.+ Hiểu và giao tiếp tốt được bằng tiếng Việt
+ Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Khám thai không đủ cả 3 tam cá nguyệt trong thai kỳ tại bệnh viện+ Không chịu trách nhiệm về hành vi nhân sự như mắc bệnh tâm thần.+ Đa thai
Trang 40α là xác suất sai lầm loại I (chọn α = 0,05 ứng với độ tin cậy 95% thayvào ta được Z (1- α/2) = 1,96)
d là độ chính xác mong muốn d = 0,06
p là chỉ số ước lượng, trong nghiên cứu chọn p = 0,479 dựa trên nghiêncứu của tác giả Lê Thị Thanh Hoa và cộng sự năm 2014 tại huyện Duy Tiêntỉnh Hà Nam [12], đây là địa phương có tình hình dân số và điều kiện gầngiống với nghiên cứu của chúng tôi
Trong nghiên cứu cỡ mẫu được tính theo công thức trong nghiên cứu
mô tả cắt ngang: cỡ mẫu tối thiểu trong nghiên cứu n = 260
2.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: khoa sản
- Thời gian nghiên cứu dự kiến: từ 01/12/2020 – 30/06/2021
số ngẫu nhiên k = N tổng số thai phụ đến sinh tại bệnh viện trong 6 tháng)/n(cỡ mẫu), như vậy k = 1000/260 = 3,8 Vì vậy, để đảm bảo thu thập đủ cỡmẫu trong nghiên cứu, chúng tôi chọn hệ số ngẫu nhiên k = 3 trong thời gianthu thập số liệu trong 6 tháng như vậy cứ 3 thai phụ chọn một mẫu Cụ thể,dựa trên danh sách thai phụ đủ điều kiện tham gia nghiên cứu mẫu được chọn