1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

121 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết
Tác giả Hoàng Tiến Nam
Người hướng dẫn TS.BS. Huỳnh Văn Ân
Trường học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Nội khoa
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (15)
    • 1.1 Nhiễm khuẩn huyết (15)
    • 1.2 Tổn thương thận cấp (28)
    • 1.3 Tổn thương thận cấp liên quan đến nhiễm khuẩn huyết (S-AKI) (33)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (43)
    • 2.1 Đối tượng nghiên cứu (43)
    • 2.2 Phương pháp nghiên cứu (43)
    • 2.3 Một số định nghĩa, tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu (48)
    • 2.4 Xử lý và phân tích số liệu (52)
    • 2.5 Sơ đồ nghiên cứu (53)
    • 2.6 Đạo đức trong nghiên cứu (54)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ (55)
    • 3.1 Đặc điểm chung dân số nghiên cứu (55)
    • 3.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, tỷ lệ mắc của các bệnh nhân tổn thương thận cấp liên quan đến nhiễm khuẩn huyết (64)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (79)
    • 4.1 Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu (79)
    • 4.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, tỷ lệ mắc của các bệnh nhân tổn thương thận cấp liên quan đến nhiễm khuẩn huyế (87)
    • 4.3 Kết cục của các bệnh nhân tổn thương thận cấp liên quan đến nhiễm khuẩn huyết (93)
    • 4.4 Đặc điểm các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết (95)
    • 4.5 Hạn chế của đề tài (99)
  • KẾT LUẬN (100)

Nội dung

LỜI CÁM ƠNTrong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu: "Đặt điểm lâm sàng, cận lâm sàng tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết", tôi đã gặp rất nhiều khó khăn, xong nhờ có sự

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành bắt đầu từ 01/12/2019 đến 30/6/2020 tại khoa Hồi sức tích cực - Chống độc bệnh viện Nhân dân Gia Định.

Bệnh nhân ≥ 18 tuổi nhập vào khoa Hồi sức tích cực - Chống độc bệnh viện Nhân dân Gia Định được chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết theo định nghĩa sepsis 3 năm 2016.

Bệnh nhân hoặc thân nhân bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.

Bệnh nhân có thời gian điều trị tại khoa hồi sức ít hơn 48 giờ.

Bệnh nhân có bệnh thận mạn hoặc có tổn thương thận cấp trước khi xuất hiện nhiễm khuẩn huyết

Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả, tiến cứu.

Tính theo công thức: Uớc lượng tỷ lệ của một dân số n = Z1-α/2 2 P (1-P) /d² n: Cỡ mẫu tối thiểu dựa vào công thức trênZ: Hằng số phân phối chuẩn

P: Trị số ước tính của tỷ lệ d: độ chính xác ( sai số cho phép) α : độ tin cậy của thống kê

Với Z1-α/2 = 1,96 , d= 10%, α= 0,05 Theo nghiên cứu của Bagshaw và cs, tỷ lệ bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết có tổn thương thận cấp là 42,1%, chúng tôi chọn p = 42,1%

Tất cả bệnh nhân NKH nhập khoa ICU thỏa tiêu chí nhận bệnh và không nằm trong tiêu chuẩn loại trừ được đưa vào nghiên cứu Tất cả các bệnh nhân này được theo dõi chức năng thận thông qua xét nghiệm ure, creatinine được lập lại mỗi 24 giờ, thể tích nước tiểu mỗi ngày thông qua sonde tiểu lưu và một số xét nghiệm khác.

Từ quá trình theo dõi, chúng tôi phân thành 2 nhóm bệnh nhân: NKH có TTTC hoặc NKH không TTTC và ghi nhận đến khi kết cục Chúng tôi so sánh 2 nhóm bệnh nhân này dựa trên các tiêu chí: Tỷ lệ tử vong, số ngày nằm viện, số ngày nằm ICU, số ngày thở máy, từ đó rút ra kết quả nghiên cứu.

Dữ liệu bệnh nhân được điền vào phiếu thu thập dữ liệu, ghi nhận lại quá trình điều trị và theo dõi từ ngày nhập viện, nhập khoa ICU đến khi xuất nặng, tử vong, xuất viện, hoặc chuyển viện Mỗi bệnh nhân có một phiếu thu thập số liệu riêng, bao gồm các thông tin:

Thông tin hành chính: Họ tên, tuổi, giới tính, cân nặng, chiều cao, BMI,địa chỉ, số nhập viện, chẩn đoán, ngày nhập viện, ngày nhập ICU, nơi chuyển đến ICU.

Tiền căn bản thân: Tim mạch (suy tim, tăng huyết áp, mạch não…), COPD, xơ gan, đái tháo đường, bệnh lý ác tính.

Vị trí nhiễm khuẩn ban đầu: Hô hấp, nhiễm khuẩn thận - tiết niệu, tiêu hóa, thần kinh, da hoặc cơ, không rõ.

Kết quả vi sinh: Cấy máu, cấy đàm, cấy mủ vết thương, cấy nước tiểu, cấy phân, cấy dịch não tủy.

Tính điểm SOFA, xác định tạng suy, số tạng suy tại thời điểm chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết.

Thuốc vận mạch: Loại thuốc vận mạch, thời gian, liều lượng.

Chức năng thận: Creatinin máu, ure máu, thể tích nước tiểu trong quá trình điều trị.

Phương thức lọc máu: Lọc máu liên tục (CRRT), ngắt quãng (IHD), lọc máu liên tục và ngắt quãng.

Kết quả điều trị, thời gian nằm viện, thời gian nằm ICU, thời gian thở máy.

2.2.4 Các biến số thu thập

- Tiền sử bệnh: Tim mạch, COPD, ung thư, xơ gan, đái tháo đường, bệnh lý khác.

- Vị trí nhiễm khuẩn ban đầu: Hô hấp, thận - tiết niệu, tiêu hóa, thần kinh, da và mô mềm, không rõ ổ nhiễm.

- Lý do nhập khoa ICU: Khó thở, mệt…

- Các thuốc sử dụng: Kháng sinh, vận mạch.

- Tổn thương thận cấp: Có/không (theo tiêu chuẩn KDIGO).

- Phân độ TTTC: Theo KDIGO tại thời điểm nhập viện và thời điểm đạt đỉnh TTTC.

- Thời điểm TTTC: Được tính từ khi bệnh nhân được chuẩn đoán nhiễm khuẩn huyết đến khi bệnh nhân xuất hiện tổn thương thận cấp.

- Thời điểm đạt đỉnh TTTC: Thời điểm mức độ TTTC đạt đỉnh theo tiêu chẩn KDIGO về creatinine hoặc nước tiểu, được tính từ khi bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết đến khi bệnh nhân đạt đỉnh tổn thương thận cấp.

- Hồi phục TTTC: Có/không.

- Thời điểm hồi phục TTTC: Được tính từ khi xuất hiện TTTC đến khi TTTC hồi phục.

- Phương thức thay thế thận: Có/không, nếu có: IHD/CRRT/ IHD + CRRT.

- Kết quả điều trị: Ổn/tử vong.

-Tử vong: Tử vong tại bệnh viện hoặc nặng xin về với tiên lượng tử vong.

- Tuổi (năm): Xác định bằng năm nhập viện trừ đi năm sinh.

- Cân nặng (kg): Cân nặng bệnh nhân được tính bằng kilogram.

- Chiều cao (cm): Chiều cao bệnh nhân được tính bằng centimet.

- Tổng điểm SOFA: Dựa vào đánh giá theo bảng điểm SOFA tại thời điểm nhiễm khuẩn huyết, điểm từ 0 đến 24.

- Thể tích nước tiểu 24 giờ (ml): Thể tích nước tiểu được ghi nhận từ 4 giờ sáng hôm nay đến 4 giờ sáng hôm sau.

- Creatinine: Xét nghiệm creatinin huyết thanh đo nồng độ creatinin trong mỏu Đơn vị àmol/l Giỏ trị bỡnh thường ở nữ: 44-88 àmol/l; nam: 62-106 àmol/l.

- Ure (mmol/l): Xét nghiệm ure huyết thanh đo nồng độ ure trong máu Đơn vị mmol/l Giá trị bình thường: 1,73-8,3 mmol/l.

- Tiểu cầu (giga/l): Xét nghiệm cho biết số lượng tiểu cầu có trong một đơn vị máu Đơn vị G/L Giá trị bình thưởng 150-400 G/L.

- Bilirubin toàn phần: Đơn vị àmol/l Giỏ trị bỡnh thường < 17 àmol/l.

- Glasgow: Thang điểm hôn mê, từ 3 - 15 điểm.

- PaO 2 : Đánh giá áp lực riêng phần khí O 2 trong máu động mạch Giá trị bình thường 80-120 mmHg.

- PaCO 2 : Đánh giá áp lực riêng phần khí CO 2 trong máu động mạch Giá trị bình thường 38-42 mmHg.

- Lactate máu: Đơn vị mmol/l Giá trị bình thường 0,5-2,2 mmol/l.

- Procalcitonin máu: Đơn vị ng/ml Giá trị bình thường < 0,1 ng/ml.

- CRP máu: Đơn vị mg/l Giá trị bình thường 0-5 mg/l.

- Thời gian điều trị tại khoa ICU (ngày): Được tính bằng ngày bệnh nhân chuyển khoa/ tử vong/ xuất viện tại khoa ICU trừ cho ngày bệnh nhân nhập khoa ICU.

- Thời gian nằm viện (ngày): Được tính bằng ngày bệnh nhân xuất viện/ tử vong trừ cho ngày bệnh nhân nhập viện.

- Thời gian thở máy (ngày): Là khoảng thời gian bệnh nhân được thở máy tính bằng ngày.

Một số định nghĩa, tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu

2.3.1 Nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn [71]

Nhiễm khuẩn huyết được định nghĩa là một rối loạn chức năng cơ quan đe dọa tính mạng do đáp ứng không được điều phối của cơ thể đối với nhiễm khuẩn Như vậy, bệnh nhân được chẩn đoán là nhiễm khuẩn huyết khi nghi ngờ nhiễm khuẩn và có bằng chứng suy đa cơ quan đánh giá qua điểm SOFA

≥ 2 so với điểm SOFA nền, ở bệnh nhân không có bệnh lý nền thì SOFA nền là 0 điểm.

Sốc nhiễm khuẩn được xem là một phân nhóm của nhiễm trùng huyết trong đó những bất thường về tuần hoàn và chuyển hóa tế bào đủ nặng để có thể làm tăng một cách đáng kể tỷ lệ tử vong Sốc nhiễm khuẩn được chuẩn đoán khi bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết có huyết áp động mạch trung bình 2 mmol/l. Đa số các thành viên của Ủy ban thống nhất rằng hạ huyết áp là khi huyết áp động mạch trung bình < 65mmHg Phần lớn các thành viên của Ủy ban cũng đồng ý rằng tăng nồng độ lactate huyết thanh phản ánh rối loạn chức năng tế bào mặc dù vẫn biết rằng có nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến nồng độ của lactate huyết thanh như cung cấp ôxy cho tổ chức không đủ, suy giảm hô hấp tế bào theo đường ái khí, gia tăng phân hủy glucose và giảm khả năng thanh thải của gan Tuy nhiên dù sao đi nữa thì tăng lactate huyết thanh vẫn phản ánh mức độ nặng của bệnh Tăng lactate đi kèm với tăng tỷ lệ tử vong.

Tiêu chí của “hồi sức bù dịch thỏa đáng” hoặc “cần phải sử dụng liệu pháp vận mạch” không thể xác định một cách rõ ràng do đánh giá này phụ thuộc vào từng thầy thuốc dựa trên những phương tiện theo dõi huyết động khác nhau cũng như đích hồi sức cũng khác nhau. Đo nồng độ lactate huyết thanh thường được sử dụng nhưng không phải nơi nào cũng có thể thực hiện, nhất là ở các nước đang phát triển. Nhưng dù sao thì tiêu chí lâm sàng để chẩn đoán SNK đã được phát triển dựa trên hạ huyết áp (HA động mạch trung bình < 65 mmHg) kèm với tăng nồng độ lactate huyết thanh > 2 mmol/l (18mg/dl) chứ không phải đơn độc một trong hai biến số này vì sự kết hợp này phản ánh được hai cấu phần trong SNK là (i) rối loạn chức năng tế bào và (ii) suy giảm chức năng tim mạch Sự kết hợp của cả hai yếu tố này đi kèm với tỷ lệ tử vong tăng cao.

Suy thận cấp (Acute renal failure) hay tổn thương thận cấp (Acute kidney injury) là hội chứng lâm sàng biểu hiện bởi sự giảm độ lọc cầu thận (vài ngày tới vài tuần), gây ứ đọng các sản phẩm đào thải do chuyển hóa nitơ (ure, creatinine), và gây ure huyết cao, rối loạn thể tích dịch ngoại bào, rối loạn nội mô gây rối loạn nước điện giải và thăng bằng kiềm toan Theo KDIGO 2012, tổn thương thận cấp được xác định khi có 1 trong các tiêu chuẩn sau:

- Tăng creatinine huyết thanh ≥ 0,3 mg% (26,5 umol/L) trong vòng 48 giờ

- Tăng creatinine huyết thanh ≥ 1,5 lần mức creatinine nền trong vòng 7 ngày

- Thể tích nước tiểu < 0,5 ml/kg/giờ kéo dài hơn 6 tiếng.

Phân độ tổn thương thận cấp theo KDIGO:

Tăng creatinine huyết thanh 1,5 - 2 lần so với creatinine nền hoặc tăng

≥ 0,3 mg/dl (26,5 umol/l), hoặc nước tiểu < 0,5 ml/kg/giờ kéo dài hơn 6 tiếng.

Tăng creatinine huyết thanh 2 - 3 lần so với creatinine nền, hoặc nước tiểu < 0,5 ml/kg/giờ kéo dài hơn 12 tiếng.

Tăng creatinine huyết thanh > 3 lần so với creatinine nền hoặc hoặc nếu creatinine huyết thanh ≥ 4 mg/dL (≥353 àmol/l) kốm tăng cấp > 0,5mg/dl, hoặc nước tiểu < 0,3 ml/kg/giờ kéo dài hơn 24 tiếng hoặc vô niệu kéo dài hơn 12 tiếng.

Giá trị nền của creatinin huyết thanh: Giá trị creatinine huyết thanh trong vòng 3 tháng trước nhập viện được coi như là giá trị creatinine huyết thanh nền Nếu bệnh nhân không được theo dõi creatinine huyết thanh trước nhập viện, thì creatinine nền được ước tính từ công thức MDRD, giả sử giới hạn dưới của độ lọc cầu thận bình thường là 75 ml/phút/1,73 m2 da.

Bệnh nhân hồi phục chức năng thận khi mức creatinin huyết thanh trở về trong vòng 25% so với mức creatinin nền và không đang được điều trị thay thế thận.

Bệnh nhân chưa hồi phục hoàn toàn chức năng thận khi mức creatinin huyết thanh vẫn còn duy trì≥25% so với nền hay vẫn còn được lọc máu.

2.3.3 Tổn thương thận cấp liên quan đến nhiễm khuẩn huyết [92]

Tổn thương thận cấp liên quan đến nhiễm khuẩn huyết (S-AKI) được định nghĩa là tổn thương thận cấp với sự hiện diện của nhiễm khuẩn huyết mà không có các yếu tố nào đóng góp quan trọng khác giải thích được tổn thương thận cấp hoặc đặc trưng bởi sự hiện diện đồng thời của cả nhiễm khuẩn huyết theo tiêu chuẩn Sepsis-3 và tổn thương thận cấp theo tiêu chuẩn KDIGO.

2.3.4 Các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đồng mắc

Các bệnh lý đã được chẩn đoán trước đây ( dưa trên sổ khám bệnh, đơn thuốc) hoặc mới chẩn đoán trong đợt nhập viện trước lúc tiến hành nghiên cứu được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án.

Tim mạch: Tăng huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ, rối lọa nhịp (rung nhĩ, cuồng nhĩ, nhịp nhanh trên thất, rối loạn nhịp chậm), suy tim, bệnh van tim. Đái tháo đường: Đái tháo đường type 1 hoặc type 2.

Ung thư: Bệnh ung thư được chẩn đoán nhưng chưa được điều trị, bệnh ung thư đang trong quá trình điều trị.

Tai biến mạch máu não: Nhồi máu não cũ, xuất huyết não cũ.

COPD: Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) là một bệnh phổ biến, có thể phòng ngừa và điều trị được, đặc trưng bởi các triệu chứng hô hấp dai dẳng và giới hạn luồng không khí do bất thường đường thở và / hoặc phế nang thường do tiếp xúc đáng kể với các hạt hoặc khí độc hại (GOLD 2019).

Xơ gan: Xơ gan là giai đoạn cuối của sẹo (xơ hóa) gan do nhiều dạng bệnh và tình trạng gan gây ra, chẳng hạn như viêm gan và nghiện rượu mãn tính.

Xử lý và phân tích số liệu

- Thống kê: Các số liệu thu nhập được nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng chương trình SPSS 16.0.

- Số liệu định lượng trình bày dưới dạng trung bình±độ lệch chuẩn hay trung vị (tứ phân vị).

- So sánh các trị số trung bình bằng phép kiểm T-test, ANOVA hoặc trung vị bằng Mann-Whitney, Kruskal- Wallis.

- Các biến số định tính được trình bày dưới dạng tỷ lệ %, phân tích đơn biến và đa biến bằng phép kiểm Chi square hay Fisher’s exact, tính nguy cơ tử vong tương đối OR.

- Kiểm định tính chuẩn với thống kê Shapiro-Wilk.

- Kiểm định Kruskal-Wallis được sử dụng để so sánh sự khác nhau về giá trị trung bình của một biến phụ thuộc theo hai hay nhiều nhóm của biến độc lập.

- Sai biệt p < 0,05 được xem như có ý nghĩa thống kê.

Sơ đồ nghiên cứu

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu

Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nhiễm khuẩn huyết theo Sepsis-3 Đủ tiêu chuẩn chọn mẫu

Theo dõi nước tiểu/24 giờ, xét nghiệm creatinine, ure/24 giờ

Không TTTC TTTC Mục tiêu

Các biện pháp điều trị và kết quả

Sống Tử vong Mục tiêu

Đạo đức trong nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu là nghiên cứu cắt ngang mô tả, nghiên cứu viên không làm chậm trể, cản trở công việc điều trị của bác sĩ lâm sàng.

Các thông tin thu thập trong nghiên cứu đều được giữ bí mật thông qua việc mã hóa trên máy tính, chỉ phục vụ cho nghiên cứu. Đồng thời, nghiên cứu của chúng tôi đã được thông qua hội đồng Y đức trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh ngày 12/12/2019 và hội đồng Y đức bệnh viện Nhân dân Gia Định ngày 1/12/2019.

KẾT QUẢ

Đặc điểm chung dân số nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm tuổi của dân số nghiên cứu

Nhận xét: Trong 102 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi:

Tuổi trung bình trong nhóm nghiên cứu là 67,6 ± 16,6 Tuổi nhỏ nhất là

Nhóm tuổi từ 61 đến 80 chiếm tỷ lệ cao nhất với tỷ lệ 35,2%, nhóm tuổi từ 41 đến 60 tuổi chiếm 32,4%; trên 80 tuổi chiếm 27,4%; thấp nhất là nhóm tuổi dưới 40 tuổi với tỷ lệ 4,9%.

Nhóm tuổi trên 41 tuổi chiếm tỷ lệ 95,1% Bệnh nhân trên 61 tuổi chiếm tỷ lệ 62,7% Chỉ có 5 bệnh nhân nhỏ hơn 40 tuổi chiếm tỷ lệ rất thấp khoảng 4,9%.

3.1.2 Đặc điểm giới tính, chiều cao, cân nặng, BMI và mô hình nhập khoa hồi sức của dân số nghiên cứu

Bảng 3.2 Đặc điểm giới tính, chiều cao, cân nặng, BMI và mô hình nhập khoa hồi sức của dân số nghiên cứu Đặc điểm chung Tần số (N2) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Trong 102 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi:

Tỷ lệ nam – nữ của dân số nghiên cứu khá cân bằng, tương ứng có 50 bệnh nhân nam giới chiếm 49,02% và 52 bệnh nhân nữ giới chiếm 50,98%. Đa số bệnh nhân nhập khoa ICU từ khoa cấp cứu với 65 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 63,7%, còn lại từ các khoa lâm sàng với 37 bệnh nhân chiếm 36,3%.

Bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết có chiều cao, cân nặng, BMI trung bình trong nghiên cứu chúng tôi lần lượt là 159,1 ± 7,4 cm, 55,5 ± 8,2 kg,21,9 ± 2,5 kg/m2.

Biểu đồ 3.1 Phân bố tiền sử bệnh của dân số nghiên cứu Nhận xét: Trong 102 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi:

Bệnh lý nền được ghi nhận nhiều nhất là bệnh lý về tim mạch với 59 bệnh nhân, chiếm 57,8%; tiếp đến là bệnh lý đái tháo đường với 46 bệnh nhân, chiếm 45,1%.

Bệnh lý nền như tai biến mạch máu não, COPD và xơ gan chiếm tỷ lệ ít hơn với tỷ lệ lần lượt là 7,8%, 6,9% và 4,9%.

3.1.4 Điểm SOFA và tạng suy của dân số nghiên cứu Điểm SOFA trung bình tại thời điểm chuẩn đoán NKH là 8,35 ± 3,34. Bệnh nhân có điểm SOFA thấp nhất là 2 điểm và cao nhất là 15 điểm. Bảng 3.3 Tạng suy của dân số nghiên cứu

Nhận xét: Trong 102 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi:

Hô hấp là tạng suy nhiều nhất với 84 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 82,4%; tiếp theo là thần kinh 68 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 66,7%; đứng thứ ba về tạng suy là tuần hoàn với 60 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 58,8%.

Các tạng suy còn lại chiếm tỷ lệ thấp hơn ở dân số nghiên cứu là thận, đông máu, gan với tỷ lệ lần lượt là 55,9%, 37,3%, 34,3%.

Bệnh nhân NKH có tỷ lệ tạng suy lớn hơn 50% ở các tạng hô hấp, thần kinh, tuần hoàn và thận.

3.1.5 Vị trí nhiễm khuẫn ban đầu của dân số nghiên cứu

Biểu đồ 3.2 Ngõ vào nhiễm khuẩn huyết Nhận xét: Trong 102 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi:

Vị trí nhiễm khuẩn ban đầu chiếm tỷ lệ cao nhất là ở hô hấp với 66 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 64,7%; tiếp đến là ở thận – tiết niệu với 17 bệnh nhân chiếm 16,7%; tiêu hóa và da – cơ lần lượt là 9 bệnh nhân với 8,8% và 8 bệnh nhân với 7,8%; thấp nhất là ở vị trí thần kinh và không rõ vị trí nhiễm khuẩn ban đầu cùng với 1 bệnh nhân chiếm 1%.

3.1.6 Đặc điểm vi sinh của dân số nghiên cứu

Bảng 3.4 Đặc điểm vi sinh của dân số nghiên cứu Đặc điểm vi sinh Kết quả vi sinh ổ nhiễm khuẩn ban đầu Tần số (N2, %)

Kết quả cấy máu Tần số (N2, %)

Nhận xét: Kết quả cấy vi sinh ổ nhiễm khuẩn nguyên phát có 35 bệnh nhân dương tính chiếm tỷ lệ 34,3% Vi khuẩn được tìm thấy nhiều nhất là Klebsiella Pneumoniae với 11 bệnh nhân chiếm 31,4% Kết quả cấy máu ở

102 bệnh nhân NKH có 33 bệnh nhân chiếm 32,4% dương tính.

3.1.7 Đặc điểm kháng sinh điều trị của dân số nghiên cứu

Bảng 3.5 Đặc điểm kháng sinh điều trị của dân số nghiên cứu

Số kháng sinh sử dụng

Nhận xét: Trong 102 bệnh nhân NKH, 64,7% bệnh nhân điều trị kết hợp 2 loại kháng sinh, 32 bệnh nhân chiếm 31,4% điều trị kết hợp 3 loại kháng sinh, chỉ có 4 bệnh nhân chiếm 3,9% điều trị bằng 1 loại kháng sinh.96,1% bệnh nhân NKH được điều trị từ 2 kháng sinh trở lên Loại kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là Imipenem chiếm 72,6% Levofloxacin vàCiprofloxacin sử dụng nhiều thứ nhì với cùng tỷ lệ 43,1%.

3.1.8 Đặc điểm điều trị của dân số nghiên cứu

Bảng 3.6 Đặc điểm điều trị của dân số nghiên cứu

Nội khí quản Tần số (N2) Tỷ lệ (%)

Thở máy Tần số (N2) Tỷ lệ (%)

Số ngày thở máy (ngày) 7,4 ± 6,7

Dịch truyền ngày đầu NKH (ml) 2631 ± 1503

Lọc máu Tần số (N2) Tỷ lệ (%)

Phương thức lọc máu Tần số (n3) Tỷ lệ (%)

Sử dụng thuốc vận mạch Tần số (N2) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Trong 102 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi:

92 bệnh nhân NKH với tỷ lệ 90,2% được đặt nội khí quản và thở máy, số ngày thở máy trung bình là 7,4 ± 6,7 ngày.

33 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 32,4% được lọc máu, tỷ lệ lọc máu bằngCRRT đơn độc chiếm 90,9%, CRRT + IHD chiếm 9,1%, không có bệnh nhân được lọc máu đơn độc bằng IHD.

3.1.9 Tỷ lệ tử vong của dân số nghiên cứu

Bảng 3.7 Tỷ lệ tử vong của dân số nghiên cứu

Kết quả điều trị Tần số (N2, %)

Nhận xét: Trong 102 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi:

74 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 72,6% tử vong; còn lại 28 bệnh nhân chiếm 27,4% ổn định sau quá trình điều trị.

3.1.10 Thời gian thở máy, thời gian nằm hồi sức, thời gian nằm viện của dân số nghiên cứu

Bảng 3.8 Thời gian thở máy, thời gian nằm hồi sức, thời gian nằm viện của dân số nghiên cứu

Số ngày thở máy (ngày) 5 (2;10,5)

Số ngày nằm ICU (ngày) 5,5 (3;11)

Số ngày nằm viện (ngày) 10 (4;15)

Nhận xét: Trong 102 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi:

Thời gian thở máy nhóm nghiên cứu có trung vị là 5 ngày, khoảng tứ phân vị 2 – 10,5 ngày, thời gian thở máy ngắn nhất 1 ngày, dài nhất 40 ngày.

Thời gian nằm ICU nhóm nghiên cứu có trung vị là 5,5 ngày, khoảng tứ phân vị 3 – 11 ngày, thời gian nằm ICU ngắn nhất 1 ngày, dài nhất 49 ngày.

Thời gian nằm viện nhóm nghiên cứu có trung vị là 10 ngày, khoảng tứ phân vị 4 – 15 ngày, thời gian nằm viện ngắn nhất 2 ngày, dài nhất 58 ngày.

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, tỷ lệ mắc của các bệnh nhân tổn thương thận cấp liên quan đến nhiễm khuẩn huyết

3.2.1 Tỷ lệ mắc, phân độ và hồi phục của tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Bảng 3.9 Tỷ lệ mắc, phân độ và hồi phục của tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Tổn thương thận cấp Tần số (N2, %)

KDIGO tại thời điểm chẩn đoán TTTC Tần số (ny, %) Độ 1 29 (36,6) Độ 2 25 (31,7) Độ 3 25 (31,7)

KDIGO tại thời điểm đạt đỉnh TTTC Tần số (ny, %) Độ 1 14 (17,7) Độ 2 25 (31,7) Độ 3 40 (50,6)

Thời điểm TTTC Tần số (ny, %)

Hồi phục TTTC Tần số (ny, %)

Trong 102 bệnh nhân NKH, có 79 bệnh nhân chiếm 77,4% có TTTC,

23 bệnh nhân không có TTTC chiếm tỷ lệ 22,6%.

Trong 79 bệnh nhân có TTTC, 56 bệnh nhân chiếm 70,9% TTTC tại thời điểm chẩn đoán NKH, 33 bệnh nhân TTTC hồi phục chức năng thận trong thời gian nằm viện chiếm tỷ lệ 41,8%.

Phân độ TTTC theo KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 tại thời điểm chẩn đoán TTTC với tỷ lệ lần lượt là: 36,6%, 31,7%, 31,7%, tại thời điểm đạt đỉnh TTTC với tỷ lệ lần lượt là: 17,7%, 31,7%, 50,6%.

3.2.2 Thời điểm xuất hiện tổn thương thận cấp

Biểu đồ 3.3 Thời điểm xuất hiện tổn thương thận cấpNhận xét: Trong 79 bệnh nhân TTTC trong nghiên cứu của chúng tôi:Thời gian phát hiện TTTC được tính từ khi bệnh nhân có NKH đến khi xuất hiện TTTC có trung vị là 0 ngày, khoảng tứ phân vị 0-1 ngày Thời gian phát hiện TTTC sớm nhất là 0 ngày, chậm nhất là 9 ngày.

3.2.3 Thời điểm đạt đỉnh tổn thương thận cấp

Biểu đồ 3.4 Thời điểm đạt đỉnh tổn thương thận cấp Nhận xét: Trong 79 bệnh nhân TTTC trong nghiên cứu của chúng tôi:

Thời điểm TTTC đạt đỉnh được tính từ bệnh nhân có NKH đến khiTTTC đạt đỉnh có trung vị là 1 ngày, khoảng tứ phân vị 0 – 5 ngày Thời gian tổn thương thận cấp đạt đỉnh sớm nhất là 0 ngày, chậm nhất là 9 ngày.

3.2.4 Đặc điểm chung tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Bảng 3.10 Đặc điểm chung tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết Đặc điểm Không TTTC

Nhận xét: Trong 79 bệnh nhân NKH có TTTC:

41 bệnh nhân là nam giới chiếm 51,9%, 38 bệnh nhân là nữ giới chiếm 48,1%, tuổi trung bình là 68,5 ± 15,7, BMI trung bình là 21,7 ± 2,6 kg/m2.

53 bệnh nhân nhập ICU từ khoa cấp cứu chiếm tỷ lệ 67% và 26 bệnh nhân nhập ICU từ các khoa lâm sàng chiếm tỷ lệ 33%.

Kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa giới tính, tuổi, khoa chuyển vào ICU, chỉ số BMI của bệnh nhân NKH với tình trạng TTTC (p>0,05).

3.2.5 Đặc điểm tiền sử bệnh của tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Bảng 3.11 Đặc điểm tiền sử bệnh của tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Tiền sử bệnh Không TTTC

Tai biến mạch máu não

Nhận xét: Trong 79 bệnh nhân NKH có TTTC:

2 bệnh nền có tỷ lệ cao nhất lần lượt là tim mạch, đái tháo đường với tỷ lệ tương ứng là 63,29%, 50,63%.

Nhóm bệnh nhân NKH có tiền sử bệnh lý tim mạch và đái tháo đường có tỷ lệ TTTC cao hơn nhóm bệnh nhân NKH không có tiền sử bệnh nền trên có ý nghĩa thống kê với số p lần lượt là 0,039 và 0,037.

Kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tiền sử bệnh ung thư, tai biến mạch máu não, COPD, xơ gan của bệnh nhân NKH với tình trạng TTTC (p>0,05).

3.2.6 Đặc điểm vị trí nhiễm khuẩn ban đầu của tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Bảng 3.12 Đặc điểm vị trí nhiễm khuẩn ban đầu của tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Vị trí nhiễm khuẩn ban đầu

Nhận xét: Trong 79 bệnh nhân NKH có TTTC:

Hô hấp là vị trí nhiễm khuẩn ban đầu cao nhất với 51 bệnh nhân chiếm 64,55%; tiếp theo là thận - tiết niệu với 15 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 18,98%; tiêu hóa đứng thứ ba với 7 bệnh nhân chiếm 8,86% Kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa vị trí nhiễm khuẩn ban đầu của bệnh nhân NKH với tình trạng TTTC (p>0,05). Điểm SOFA trung bình nhóm bệnh nhân NKH có TTTC là 8,7 ± 3,3, cao hơn nhóm NKH không TTTC với điểm SOFA trùng bình là 7,0 ± 3,3. Nghiên cứu tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa điểm SOFA trung bình với tình trạng TTTC ở bệnh nhân NKH với p là 0,036.

3.2.7 Đặc điểm điều trị của tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Bảng 3.13 Đặc điểm điều trị của tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Nhận xét: Trong 79 bệnh nhân NKH có TTTC:

47 bệnh nhân có sử dụng thuốc vận mạch chiếm tỷ lệ 59,49%, 29 bệnh nhân có lọc máu chiếm tỷ lệ 36,7%

3.3 Kết cục của các bệnh nhân tổn thương thận cấp liên quan đến nhiễm khuẩn huyết

3.3.1 Mối liên quan giữa tổn thương thận cấp với nguy cơ tử vong ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa tổn thương thận cấp với nguy cơ tử vong ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Kết quả điều trị Không TTTC

Nhận xét: Trong 79 bệnh nhân NKH có TTTC:

57 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 72,15% tử vong, 22 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 27,85% ổn định.

Kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng TTTC với nguy cơ tử vong ở bệnh nhân NKH với p là 0,868.

3.3.2 Mối liên quan giữa tổn thương thận cấp với thời gian nằm viện, thời gian nằm hồi sức ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa tổn thương thận cấp với thời gian nằm viện, thời gian nằm hồi sức ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Nhận xét: Trong 79 bệnh nhân NKH có TTTC:

Thời gian nằm viện và nằm ICU trung bình của bệnh nhân NKH có TTTC lần lượt là 10 ngày và 6 ngày, cao hơn so với bệnh nhân NKH không TTTC lần lượt là 8 ngày và 5 ngày.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa thời gian nằm viện và thời gian nằm ICU với tình trạng TTTC ở bệnh nhân NKH với p lần lượt là 0,631 và 0,265.

3.4 Đặc điểm các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

3.4.1 Đặc điểm chung các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Bảng 3.16 Đặc điểm chung các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết Đặc điểm

KDIGO thời điểm chẩn đoán TTTC (ny)

P Độ 1 (n), %) Độ 2 (n%, %) Độ 3 (n%, %) Giới tính

Nhận xét: Trong 79 bệnh nhân NKH có TTTC:

Tỷ lệ nam giới của bệnh nhân NKH có TTTC giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 lần lượt là 55,1%, 44%, 56% Bệnh nhân NKH có TTTC giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 có độ tuổi trung bình lần lượt là 69,8 ± 16,0, 67,9 ± 16,4, 67,7 ± 15,3.

Kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các đặc điểm như giới tính, tuổi, BMI, khoa chuyển vào ICU với các giai đoạn TTTC ở bệnh nhân NKH có TTTC (p>0,05).

3.4.2 Đặc điểm tiền sử bệnh các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Bảng 3.17 Đặc điểm tiền sử bệnh các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

KDIGO thời điểm chẩn đoán TTTC (ny) Độ 1 P (n), %) Độ 2 (n%, %) Độ 3 (n%, %) Tim mạch

Tai biến mạch máu não

Nhận xét: Trong 79 bệnh nhân NKH có TTTC:

Bệnh lý tim mạch và đái tháo đường là 2 bệnh nền phổ biến nhất ở bệnh nhân NKH có TTTC giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3.

Kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tiền sử bệnh với các giai đoạn TTTC ở bệnh nhân NKH có TTTC (p>0,05).

3.4.3 Đặc điểm vị trí nhiễm khuẩn ban đầu các giai đoạn tổn thương

Bảng 3.18 Đặc điểm vị trí nhiễm khuẩn ban đầu các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

KDIGO thời điểm chẩn đoán TTTC

Vị trí nhiễm khuẩn ban đầu

Nhận xét: Trong 79 bệnh nhân NKH có TTTC:

Hô hấp là vị trí nhiễm khuẩn ban đầu thường gặp nhất ở bệnh nhânNKH có TTTC các giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 Kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa vị trí nhiễm khuẩn ban đầu với giai đoạn TTTC ở bệnh nhân NKH có TTTC (p>0,05). Điểm SOFA trung bình ở bệnh nhân NKH có TTTC các giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 lần lượt là 7,4 ± 3,3, 8,8 ± 2,8, 10,2 ± 3,1. Nghiên cứu tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa điểm SOFA trung bình với giai đoạn TTTC với p là 0,005 Bệnh nhân NKH có mức độ TTTC càng cao thì có điểm SOFA trung bình càng lớn.

3.4.4 Đặc điểm điều trị các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Bảng 3.19 Đặc điểm điều trị các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

KDIGO thời điểm chẩn đoán TTTC

Sử dụng thuốc vận mạch

Tỷ lệ sử dụng thuốc vận mạch ở bệnh nhân NKH có TTTC các giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 lần lượt là 48,3%, 60,0%, 72,0% Bệnh nhân NKH có phân độ TTTC càng cao thì sử dụng thuốc vận mạch càng nhiều Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa việc sử dụng thuộc vận mạch với giai đoạn TTTC (p>0,05).

Bệnh nhân NKH có TTTC các giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 có tỷ lệ lọc máu lần lượt là 17,2%, 32%, 64% Nghiên cứu tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa việc lọc máu với giai đoạn TTTC với p là 0,002 Những bệnh nhân NKH có phân độ TTTC càng cao thì có tỷ lệ lọc máu càng lớn.

3.4.5 Tỷ lệ hồi phục các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Bảng 3.20 Tỷ lệ hồi phục các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

KDIGO thời điểm chẩn đoán TTTC (ny) Độ 1 P (n), %) Độ 2 (n%, %) Độ 3 (n%, %) Phục hồi TTTC

Thời gian phục hồi TTTC 3 (2;4) 3 (2;5) 4,5 (2,5;6,5) 0,262

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu

Nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 67,6 ± 16,6 Tuổi trung bình trong nghiên cứu tương đương với các nghiên cứu của Rodrigo và cộng sự với tuổi trung bình là 65 ± 16, Zang và cộng sự là 63,4 ± 12,9 tuổi, trên dân số chọn mẫu là bệnh nhân NKH.

Nghiên cứu của Phan Văn Phong có độ tuổi trung bình là 76,5 tuổi [3]. Theo Nguyễn Lý Minh Duy tại khoa Hồi sức bệnh viện Chợ Rẫy có tuổi trung bình là 54,77 [1] Tuổi trung bình trong nghiên cứu của tôi thấp hơn Phan Văn Phong, nhưng cao hơn Nguyễn Lý Minh Duy.

Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu là người cao tuổi với nhóm dân số > 60 tuổi chiếm 62,7%, bệnh nhân > 80 tuổi chiếm 27,4% Trong nghiên cứu có rất ít bệnh nhân < 40 tuổi với tỷ lệ 4,9% Bệnh nhân tuổi cao thường có nhiều bệnh mạn tính đi kèm, thời gian điều trị, thở máy kéo dài, nhiều đợt nhiễm khuẩn tái đi tái tại và sẽ dẫn đến tăng nguy cơ TTTC và tử vong.

Nghiên cứu của Medeiros và cộng sự trên những bệnh nhân NKH tại khoa cấp cứu cho thấy tuổi > 65 tuổi là yếu tố nguy cơ độc lập của TTTC [55].Nghiên cứu của Soto cũng cho thấy nhóm bệnh nhân > 65 tuổi tăng nguy cơTTTC 1,1 lần [72] Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu cao hơn 65, điều thấy giải thích vì sao nghiên cứu chúng tôi có tỷ lệ TTTC khá cao.

4.1.2 Đặc điểm giới tính, chiều cao, cân nặng, BMI và mô hình nhập khoa hồi sức của dân số nghiên cứu

Trong nghiên cứu, nam giới gồm 50 bệnh nhân, chiếm 49%; nữ giới gồm 52 bệnh nhân, chiếm 51%, tỷ lệ nam/nữ = 0,96 Tỷ lệ này tương tự như nghiên cứu trước tại khoa ICU bệnh viện Chợ Rẫy của Phạm Thị Ngọc Thảo với tỷ lệ nam/nữ là 1,01 [5] Tỷ lệ nam/nữ trong nghiên cứu Phan Văn Phong là 0,78, thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi Theo Rodrigo và cộng sự tỷ lệ giới tính nam/nữ là 2,2, cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu của chúng tôi [94].

Trong nghiên cứu, 63,7% bệnh nhân nhập ICU từ khoa Cấp cứu, 36,3% bệnh nhân nhập ICU từ các khoa Lâm sàng Theo Phan Văn Phong, tỷ lệ nhập ICU từ khoa Cấp cứu là 43,1%, còn lại được chuyển đến từ các khoa phòng khác [3] Nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc Thảo ghi nhận tỷ lệ nhập ICU từ khoa Cấp cứu là 43,1%, từ khoa Lâm sàng là 56,9% [5].

Trong nghiên cứu, tỷ lệ nhập ICU từ khoa Cấp cứu cao hơn các nghiên cứu trong và ngoài nước Điều này có lẻ do tại khoa Cấp cứu bệnh viện Nhân dân Gia Định, tất cả các bệnh nhân một khi đã được chẩn đoán NKH có chỉ định nhập ICU để điều trị.

Bệnh nhân trong nghiên cứu chúng tôi có trung bình chiều cao, cân nặng, BMI lần lượt là 159,1 ± 7,4 cm, 55,5 ± 8,2 kg, 21,9 ± 2,5 kg/m2.Theo Zhou và cộng sự, bệnh nhân NKHcó kết cục sống còn và tử vong cóBMI trung bình lần lượt là: 23.2 ± 2,9 kg/m2, 21.7 ± 2,5 kg/m2, khá tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi.

Bệnh nhân trong nghiên cứu có độ tuổi khá cao, do đó có rất nhiều bệnh lý nền đi kèm, chiếm tỷ lệ cao nhất là bệnh tim mạch chiếm 57,8%, đái tháo đường chiếm 45,1%, ung thư chiếm 15,7% Ngoài ra còn có các bệnh lý nền khác chiếm tỷ lệ ít hơn như tai biến mạch máu não với 7,8%, COPD chiếm 6,9%, xơ gan chiếm 4,9% Những bệnh nền mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường có ảnh hưởng lớn đến chức năng thận ở nhiều mức độ khác nhau, từ tiểu đạm vi thể đến đại thể Vì vậy, những bệnh nhân này có nguy cơ dễ bị TTTC hơn nếu có những yếu tố khác tác động thêm vào Nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh lý nền là yếu tố nguy cơ của TTTC Theo nghiên cứu của Soto, những bệnh nhân có bệnh nền tim mạch tăng nguy cơ TTTC lên 2,2 lần

[72] Nghiên cứu của Medeiros và cộng sự trên bệnh nhân NKH cho rằng đái tháo đường là nguy cơ độc lập của TTTC [55].

Tỷ lệ bệnh nền trong nghiên cứu khá tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Lý Minh Duy, tỷ lệ bệnh nền tim mạch và đái tháo đường cùng 35,29%, ung thư là 17,65% [1] Trong nghiên cứu của Pereira, bệnh lý nền gần tương đồng với nghiên cứu chúng tôi, tăng huyết áp chiếm tỷ lệ 46,5%, ung thư chiếm 23,9%, đái tháo đường chiếm 22,6%, COPD chiếm 8,3%, xơ gan chiếm 3,9% [62] Nghiên cứu của Rodrigo và công sự trên bệnh nhân NKH cho thấy 47,7% bệnh nhân có tăng huyết áp, 18,3% bệnh nhân có đái tháo đường, 14,8% bệnh nhân có COPD [94].

4.1.4 Điểm SOFA và tạng suy của dân số nghiên cứu Điểm SOFA tại thời điểm chẩn đoán NKH trong nghiên cứu có trị số trung bình là 8,35 ± 3,34 Khi so sánh với các nghiên cứu thực hiện tại khoaICU bệnh viện Chợ Rẫy và bệnh viện Nhân dân Gia Định, điểm SOFA trong nghiên cứu cao hơn Nguyễn Lý Minh Duy với điểm SOFA là 6,33 ± 2,31, thấp hơn Phạm Thị Ngọc Thảo, Huỳnh Quang Đại và Phan Văn Phong với điểm SOFA lần lượt là 10,60 ± 3,60, 10,42 ± 3,40, 9 ± 3 Nghiên cứu có điểm SOFA khá tương đồng với nghiên cứu của Rodrigo và cộng sự thực hiện trên bệnh nhânNKHvới điểm SOFA là 8,5 ± 2,9 [94].

Trong nghiên cứu, bệnh nhân NKH có ba tạng suy thường gặp nhất là hô hấp, thần kinh và tuần hoàn với tỷ lệ lần lượt là 82,4%, 66,7%, 58,8%. Trong khi đó, theo Phạm Thị Ngọc Thảo, ba tạng suy nhiều nhất ở bệnh nhân NKH là hô hấp, tuần hoàn, và thận với tỷ lệ lần lượt là 69,2%, 62,8%, 43,6%

[4] Hô hấp là tạng suy nhiều nhất ở bệnh nhân NKH là điểm tương đồng trong nghiên cứu của chúng tôi và Phạm Thị Ngọc Thảo.

4.1.5 Vị trí nhiễm khuẩn ban đầu của dân số nghiên cứu

Theo dòng thời gian, vị trí nhiễm khuẩn thường gặp nhất thay đổi đáng kể Trong những thập kỷ trước, vị trí nhiễm khuẩn thường gặp nhất là tiêu hóa, kế đến là tiết niệu và hô hấp Trong thời gian gần đây, hô hấp đã trở thành vị trí nhiễm khuẩn hàng đầu, tiếp theo nhiễm khuẩn tiêu hóa và tiết niệu Trong nghiên, nhiễm khuẩn hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất với tỷ lệ 64,7%; tiếp đến là ở tiết niệu với 16,7%; tiêu hóa và da – cơ lần lượt là 8,8% và 7,8%.

Nghiên cứu phù hợp với diễn tiến chung mô hình bệnh tật thế giới. Theo Phan Văn Phong nhiễm khuẩn hô hấp ở bệnh nhân NKH chiếm tỷ lệ 68,3%, tiêu hóa là 21,4%, tiết niệu là 3,1%, cũng gần tương tự với nghiên cứu của chúng tôi [3] Nghiên cứu của Phạm Lưu Nhất Hoàng ghi nhận tỷ lệ NKH từ đường hô hấp rất cao chiếm 87,85% [2] Theo Phạm Thị Ngọc Thảo, NKH từ đường hô hấp dưới là thường gặp nhất với tỷ lệ 61,5% [5] Trong một nghiên cứu của Emilio Rodrigo và cộng sự, NKH từ đường hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất 37,3%, tiếp theo là đường tiêu hóa 30,9%, không rõ ổ nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ 15,6% [94].

4.1.6 Đặc điểm vi sinh của dân số nghiên cứu

Trong nghiên cứu, 34,3% bệnh nhân NKH có kết quả nuôi cấy ổ nhiễm khuẩn ban đầu dương tính và 65,7% có kết quả âm tính Vi khuẩn được tìm thấy nhiều nhất là Klebsiella Pneumoniae với 31,4%, thứ nhì là Escherichia Coli với 25,7% Nghiên cứu của Phan Văn Phong năm 2017 trên đối tượng bệnh nhân NKH tại khoa ICU bệnh viện Nhân dân Gia Định, tỷ lệ cấy ổ nhiễm khuẩn ban đầu dương tính là 32,32%, tỷ lệ này khá ngang bằng so với nghiên cứu của chúng tôi [3] Tuy nhiên, theo Phan Văn Phong, vi khuẩn nuôi cấy ổ nhiễm khuẩn ban đầu được tìm thấy nhiều nhất là Acinetobacter Baumannii vời tỷ lệ là 36,06%, kế đến là Escherichia Coli chiếm 16,39%.

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, tỷ lệ mắc của các bệnh nhân tổn thương thận cấp liên quan đến nhiễm khuẩn huyế

4.2.1 Tỷ lệ mắc, phân độ và hồi phục của tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Tỷ lệ NKH có TTTC trong nghiên cứu của chúng tôi là khá cao chiếm 77,4% Tỷ lệ này cao hơn so với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước. Trong nghiên cứu của Uchino năm 2005 ở 1260 bệnh nhân, tỷ lệ TTTC ở bệnh nhân NKH là 47,5% [78] Phạm Thị Ngọc Thảo ghi nhận tỷ lệ TTTC ở

234 bệnh nhân NKH là 43,59% [4] Theo Zhang quan sát 84 bệnh nhân NKH ghi nhận tỷ lệ TTTC là 42,86% [88] Nghiên cứu Neyra ở 1535 bệnh nhân NKH báo cáo TTTC chiếm 64,4% [58] Trong nghiên cứu của Rangel-Frausto tỷ lệ TTTC trong NKH là 19%, NKH nặng là 23%, và SNK là 51% Theo Lopes quan sát 182 bệnh nhân ghi nhận tỷ lệ TTTC tăng từ 29% đến 50% khi phân loại NKH nặng và SNK Trong một nghiên cứu gần đây của Pereira ở 457 bệnh nhân NKH nặng và SNK tỷ lệ TTTC theo phân độ KDIGO là 87,5% [62] Trong nghiên cứu này, Pereira đã sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán TTTC là KDIGO giống như nghiên cứu của chúng tôi và cho kết quá TTTC là khá cao. Để lý giải cho tỷ lệ TTTC khá cao trong nghiên cứu của chúng tôi,chúng tôi nhận thấy một số nguyên nhân sau Thứ nhất, chính những tiêu chuẩn khác nhau sử dụng để định nghĩa TTTC là nguyên nhân dẫn đến sự đa dạng về tỷ lệ mắc giữa các nghiên cứu Có khoảng 35 định nghĩa và tiêu chuẩn đã sử dụng để chẩn đoán TTTC Thứ hai, theo Pereira đã chứng minh rằng sử dụng tiêu chuẩn KDIGO sẽ có tỷ lệ TTTC nhiều hơn tiêu chuẩn củaAKIN Thứ ba, những bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi nhập viện với tuổi trung bình cao hơn 65 tuổi, nhiều bệnh lý nền, điểm số SOFA cũng khá cao.

Bảng 4.1 Tỷ lệ tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết trong các nghiên cứu

Tác giả Năm Tỷ lệ (%)

Chúng tôi N = 102 2020 77,4 Ở bệnh nhân NKH có TTTC trong nghiên cứu chúng tôi, phân độ theo KDIGO tại thời điểm chẩn đoán TTTC, KDIGO 1 chiếm tỷ lệ 36,6%, KDIGO

2 chiếm tỷ lệ 31,7%, KDIGO 3 chiếm tỷ lệ 31,7% Theo Pereira, trong 457 bệnh nhân NKH có TTTC, 49,1% KDIGO 1, 31% KDIGO 2, 34,7% KDIGO

3, tỷ lệ này cũng khá tương đồng trong nghiên cứu của chúng tôi [62] Trong một nghiên cứu của Wang và cộng sự, phân độ TTTC ở bệnh nhân NKH theo KDIGO, KDIGO 1 chiếm 41,37%, KDIGO 2 chiếm 23,7%, KDIGO 3 chiếm 28,93% [95].

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 33/79 bệnh nhân hồi phục TTTC với tỷ lệ 41,8% Trong khi đó, theo Alobaidi và cộng sự, tỷ lệ hồi phục TTTC ở bệnh nhân NKH là rất cao chiếm tỷ lệ 95,7%, và thời gian để hồi phục hoàn toàn chức năng thận là 10,1 ± 8 ngày [89].

4.2.2 Thời gian xuất hiện tổn thương thận cấp

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số bệnh nhân TTTC thời điểm 24 giờ đầu tiên sau NKH với tỷ lệ 70,9% và 29,1% bệnh nhân TTTC sau thời điểm 24 giờ đầu NKH.

Thời gian từ lúc NKH đến khi phát hiện TTTC có trung vị là 0 ngày, thấp hơn nghiên cứu của Zhang có trung vị là 4 ngày [88] Trong một nghiên cứu gần đây của Malhotra [54] ở bệnh nhân ICU trên 2 trung tâm lớn là bệnh viện đại học California với N = 717 bệnh nhân và Mayo Clinic với N = 1303 bệnh nhân có thời gian trung vị xuất hiện TTTC lần lượt là 23,2 giờ (12,4 - 48,4) và 24,4 giờ (12,0 - 60,1) Ngoài ra, các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi đa phần được nhận từ tuyến trước, do vậy thời điểm lấy mẫu so với thời điểm bệnh nhân bắt đầu NKH khá muộn nên thời gian xuất hiện TTTC ngắn hơn so với nghiên cứu của Zhang [88].

4.2.3 Thời điểm đạt đỉnh tổn thương thận cấp

Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời điểm TTTC đạt đỉnh được tính từ bệnh nhân có NKH đến khi xuất hiện TTTC đạt đỉnh có trung vị là 1 ngày, khoảng tứ phân vị 0 – 5 ngày, thời gian TTTC đạt đỉnh sớm nhất là 0 ngày, chậm nhất là 9 ngày.

4.2.4 Đặc điểm chung bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết có tổn thương thận cấp

Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân NKH có TTTC có tuổi trung bình là 68,5 ± 15,7, bệnh nhân NKH không TTTC có tuổi trung bình là 64,6 ± 19,4 Bệnh nhân NKH có TTTC có tuổi trung bình lớn hơn NKH không TTTC, tuy nhiên sự khác biệt về tuổi giữa 2 nhóm này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,378, tương tự như nghiên cứu của Zhang [88] với p

= 0,09 Theo Pereira và cộng sự, tuổi trung bình của nhóm NKH có TTTC là

64,1 ± 16, trong khi đó tuổi trung bình nhóm NKH không TTTC là 64,1 ± 17,4, sự khác biệt cũng không có ý nghĩa thống kê tương tự như nghiên cứu của chúng tôi [62].

Nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ nam/nữ ở nhóm NKH có TTTC là 1,1, ở nhóm NKH không TTTC là 0,64, sự khác biệt về phân bố giới tính trong 2 nhóm NKH có TTTC và không TTTC không ý nghĩa thống kê với p = 0,281 tương tự nghiên cứu của Zhang [88] với p = 0,4 Trong nghiên cứu của Zhang, tỷ lệ nam/nữ ở nhóm NKH có TTTC và không TTTC lần lượt là 1,12 và 0,85. Một nghiên cứu khác của Pereira và cộng sự sự khác biệt về phân bố giới tính của cả 2 nhóm bệnh nhân NKH có TTTC và không TTTC không ý nghĩa thống kê với số p là 0,566 [62].

4.2.5 Đặc điểm tiền sử bệnh của bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết có tổn thương thận cấp

Trong nghiên cứu, ở nhóm bệnh nhân NKH có TTTC, 50,6% bệnh nhân có tiền sử đái tháo đường, so với 26% bệnh nhân NKH không TTTC có tiền sử đái tháo đường, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,037, tương tự nghiên cứu của Zhang với p = 0,04 [88] Trong nghiên cứu của Zhang, bệnh nhân NKH có TTTC và không TTTC có tiền sử đái tháo đường lần lượt là 41,7% và 20,8% Bệnh nhân bị đái tháo đường có thể đã có vi đạm niệu từ trước mặc dù độ lọc cầu thận vẫn bình thường Trong nghiên cứu của Yokoyama [85] năm 2009 cho thấy có đến 27 % bệnh nhân đái tháo đường có albumin niệu hoặc protein niệu dù cho độ lọc cầu thận ≥ 60 ml/phút/1,73 m2 da Do đó, bệnh nhân NKH có tiền căn đái tháo đường sẽ dễ bị TTTC hơn Từ đó có thể kết luận rằng, đái tháo đường là yếu tố nguy cơ của TTTC ở bệnh nhân NKH. Ở bệnh nhân NKH có TTTC trong nghiên cứu của chúng tôi, 63,3% bệnh nhân có tiền sử bệnh tim mạch, so với 39,1% bệnh nhân NKH không TTTC có tiền sử bệnh tim mạch Nghiên cứu tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tiền sử bệnh tim mạch với tình trạng TTTC ở bệnh nhân NKH với p=0,039 Nhóm bệnh nhân NKH có tiền sử bệnh tim mạch có tỷ lệ TTTC cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh nhân không có tiền sử bệnh tim mạch Theo Bagshaw và cộng sự, 11,8% bệnh nhân NKH không TTTC có tiền căn bệnh lý tim mạch, trong khi đó bệnh nhân NKH có TTTC tiền căn bệnh lý tim mạch là 15,1%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p 0,05) Tương tự như nghiên cứu của chúng tôi, Pereira và cộng sự cũng chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tiền sử bệnh mạch vành, COPD, xơ gan và bệnh mạn tính của bệnh nhân NKH với TTTC (p>0,05) [62].

4.2.6 Đặc điểm vị trí nhiễm khuẩn ban đầu của tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Trong nghiên cứu, ngõ vào nhiễm khuẩn nhiều nhất trên cả 2 nhóm NKH có TTTC và NKH không TTTC là từ đường hô hấp Kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa ngõ vào nhiễm khuẩn với tình trạng TTTC ở bệnh nhân NKH (p>0,05) Tương tự nghiên cứu của Zhang

[88] sự khác biệt về cơ quan khởi phát nhiễm khuẩn giữa 2 nhóm bệnh nhânNKH có TTTC và không TTTC không có ý nghĩa thống kê với p = 0,68 Tuy nghiên, trong nghiên cứu Marta Pereira và cộng sự có một điểm khác biệt so với chúng tôi Bệnh nhân NKH có tỷ lệ TTTC cao hơn nếu vị trí nhiễm khuẩn ban đầu là thận, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p là 0,003. Điểm SOFA trung bình ở bệnh nhân NKH có TTTC và không TTTC lần lượt là 7,0 ± 3,3 và 8,7 ± 3,3, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p 0,036 Nhóm bệnh nhân NKH có TTTC điểm SOFA cao hơn nhóm bệnh nhân NKH không TTTC Điều này tương tự với nghiên cứu của Zhang [88] với p = 0,02 Trong nghiên cứu Lee và cộng sự, điểm SOFA ở bệnh nhân NKH có TTTC là 11,5 ± 1,2 cao hơn có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 so với bệnh nhân NKH không TTTC với điểm SOFA là 4,4 ± 0,5 [91].

4.2.7 Đặc điểm điều trị của tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

60,86% bệnh nhân NKH không TTTC sử dụng thuốc vận mạch, so với 59,49% bệnh nhân NKH có TTTC dùng vận mạch, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,906 Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự như Emilio Rodrigo và cộng sự, sự khác biệt sử dụng thuốc vận mạch ở nhóm bệnh nhân NKH có TTTC và không TTTC không có ý nghĩa thống kê với số p = 0,214 [94] Tuy nhiên, Pereira và cộng sự có kết quả khác với chúng tôi

[62], sử dụng thuốc vận mạch khác biết có ý nghĩa thống kê giữa nhóm NKH có TTTC và không TTTC với số p < 0,001.

Trong nghiên cứu, bệnh nhân NKH có TTTC được loc máu chiếm tỷ lệ là 36,7%, bệnh nhân NKH không TTTC được lọc máu chiếm tỷ lệ là 17,39%.Trong nghiên cứu, bệnh nhân NKH có TTTC có tỷ lệ lọc máu lớn hơn NKH không TTTC (36,7% > 17,39%), nhưng chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với số p = 0,081 Tuy nhiên, nếu nghiên cứu của chúng tôi có cở mẫu lớn hơn, chắc có lẽ sự khác biệt này sẽ có ý nghĩa thống kê Trong nhóm bệnh nhân được lọc máu của chúng tôi, 91% bệnh nhân có lọc máu bằng CRRT, 9% bệnh nhân được lọc máu kết hợp CRRT và IHD.

Kết cục của các bệnh nhân tổn thương thận cấp liên quan đến nhiễm khuẩn huyết

4.3.1 Mối liên quan giữa tổn thương thận cấp với nguy cơ tử vong ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Trong nghiên cứu, tỷ lệ tử vong chung của bệnh nhân NKH là 72,6%, tỷ lệ tử vong của bệnh nhân NKH không TTTC là 73,9%, tỷ lệ tử vong của bệnh nhân NKH có TTTC là 72,2%, sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê với số p = 0,868.

Trong nghiên cứu của Nguyễn Lý Minh Duy, bệnh nhân NKH có TTTC có tỷ lệ tử vong lên đến 81,25 %, cao hơn có ý nghĩa thống kê với nhóm NKH không TTTC với số p < 0,0001 [1] Theo tác giả Pereira [62], tỷ lệ tử vong của nhóm NKH không TTTC là 17,5% và nhóm NKH có TTTC là 87,5%, sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê với p = 0,006 Theo Zhang và cộng sự, bệnh nhân NKH có TTTC tỷ lệ tử vong cao hơn gấp 2 lần nhóm bệnh nhân NKH không TTTC, và có tỷ lệ tử vong bệnh nhân NKH có TTTC là 50%.

Tỷ lệ tử vong của bệnh nhân NKH có TTTC trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn Zhang, và thấp hơn Nguyễn Lý Minh Duy và Pereira [1],

[62] Đa số nghiên cứu trong và ngoài nước tỷ lệ tử vong bệnh nhân NKH có TTTC lớn hơn 50%, là rất cao.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân NKH có TTTC có tỷ lệ lọc máu liên tục (CRRT) cao hơn NKH không TTTC Lọc máu liên tục giúp cải thiện chức năng thận, lọc hóa chất trung gian, giảm biến chứng do TTTC gây ra, đồng thời giảm tỷ lệ tử vong Có lẽ vì vậy, nghiên cứu chúng tôi tỷ lệ tử vong của nhóm bệnh nhân NKH có TTTC và không TTTC khác biệt chưa có ý nghĩa thông kê so với một số tác giả trong và ngoài nước.

4.3.2 Mối liên quan giữa tổn thương thận cấp với thời gian nằm viện, thời gian nằm hồi sức ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết Ở bệnh nhân NKH có TTTC, thời gian nằm hồi sức và thời gian nằm viện trung bình lần lượt là 6 ngày và 10 ngày Nhóm bệnh nhân NKH không TTTC, thời gian nằm hồi sức và thời gian nằm viện trung bình lần lượt là 5 ngày và 8 ngày Kết quả cho thấy thời gian nằm hồi sức và thời gian nằm viện của nhóm bệnh nhân NKH có TTTC dài hơn nhóm không TTTC Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê thời gian nằm hồi sức và thời gian nằm viện ở bệnh nhân NKH có TTTC và không TTTC với số p lần lượt là 0,265 và 0,631.

Theo tác giả Pereira [62], cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa thời gian nằm hồi sức và thời gian nằm viện của bệnh nhân NKH cóTTTC và không TTTC với số p là 0,881 và 0,625 Trong một nghiên cứu củaPeng và cộng sự, thời gian nằm hồi sức và nằm viện trung bình của nhóm bệnh nhân NKH có TTTC lần lượt là 8,53 ± 9.89 ngày, 15,78 ± 15,27 ngày,nhóm bệnh nhân NKH không TTTC lần lượt 8,46 ± 10,33 ngày, 18,03 ±

18,80 ngày [61] Nghiên cứu của Peng và cộng sự tương tự như nghiên cứu của chúng tôi, chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa thời gian nằm hồi sức và nằm viện của bệnh nhân NKH có TTTC và không TTTC với số p lần lượt 0,964 và 0,341 [61].

Bệnh nhân TTTC đi kèm với tỷ lệ tử vong cao do đó thời gian nằm hồi sức, thời gian nằm viện không phản ánh được độ nặng của bệnh và kết cục trên 2 nhóm bệnh nhân NKH có TTTC và không TTTC Nên chúng tôi đề nghị cải thiện nhược điểm trên bằng cách tính tỷ lệ phần trăm thời gian bệnh nhân nằm hồi sức trên tổng thời gian nằm viện của 2 nhóm và so sánh với nhau.

Đặc điểm các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

4.4.1 Đặc điểm chung các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết Ở bệnh nhân NKH có TTTC, KDIGO 1 chiếm tỷ lệ 36,7%, KDIGO 2 chiếm tỷ lệ 31,64%, KDIGO 3 chiếm tỷ lệ 31,64 Ở nhóm bệnh nhân KDIGO

1, KDIGO 2, KDIGO 3 tỷ lệ giới tính nam lần lượt là 55,17%, 44%, 56%. Nghiên cứu chúng tôi không tìm thấy sự khác biệt ý nghĩa thống kê của giới tính giữa các giai đoạn TTTC với số p = 0,632.

Trong một nghiên cứu của Peng và cộng sự cũng tương đồng như nghiên cứu của chúng tôi, không tim thấy sự khác biệt giới tính giữa các giai đoạn TTTC với số p = 0,98 [61] Trong nghiên cứu này, tỷ lệ nam giới ở các giai đoạn TTTC KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 lần lượt là 75%, 73,3%,72,2%, tỷ lệ nam giới cao hơn chúng tôi [61].

Tuổi trung bình trong nghiên cứu chúng tôi của các bệnh nhân NKH có TTTC các giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 lần lướt là: 69,8 ± 16,0, 67,9 ± 16,4, 67,7 ± 15,3, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê của tuổi giữa các giai đoạn TTTC với số p = 0,862.

Theo Peng và cộng sự, tuổi trung bình các bệnh nhân NKH có TTTC các giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 lần lướt là: 50,15 ± 10,39, 62,47 ± 18,21, 51,11 ± 14,17 [61] Kết quả nghiên cứu Peng cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống giữa tuổi và các giai đoạn TTTC với p = 0,021, điều này khác biệt so với nghiên cứu của chúng tôi [61].

4.4.2 Đặc điểm tiền sử bệnh các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Cả 3 nhóm TTTC ở bệnh nhân NKH đều có tiền sử bệnh nhiều nhất là bệnh tim mạch, thứ nhì là đái tháo đường, thứ ba là ung thư, thứ tự này giống với dân số chung Chúng tôi nhận thấy sự khác biệt về tiền sử của các giai đoạn TTTC là không có ý nghĩa thống kê với số p > 0,05 Nghiên cứu chúng tôi cũng tương đồng với Rodrigo và cộng sự, chưa tìm thấy sự khác biệt tiền sử và các giai đoạn TTTC với p > 0,05 [94] Tim mạch và đái tháo đường cũng là hai bệnh lý thường gặp nhất ở các giai đoạn TTTC ở bệnh nhân NKH trong nghiên cứu của Rodrigo và cộng sự [94].

4.4.3 Đặc điểm vị trí nhiễm khuẩn ban đầu các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Cả 3 nhóm TTTC ở bệnh nhân NKH đều có vị trí nhiễm khuẩn ban đầu nhiều nhất là hô hấp, thứ nhì là thận - tiết niệu, thứ ba là tiêu hóa, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với số p > 0,05 Nghiên cứu chúng tôi khá tương đồng với Rodrigo và cộng sự, chưa tìm thấy sự khác biệt về vị trí nhiễm khuẩn ban đầu và các giai đoạn TTTC với p = 0,122 [94], tuy nhiên thứ tự vị trí nhiễm khuẩn ban đầu có phần khác so với chúng tôi Theo Rodrigo và cộng sự, vị trí nhiễm khuẩn nhiều nhất ở các giai đoạn TTTC là hô hấp, tiếp theo là tiêu hóa, thứ ba là thận - tiết niệu [94]. Điểm SOFA trung bình của bệnh nhân NKH có TTTC ở các giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 lần lượt là: 7,4 ± 3,3, 8,8 ± 2,8, 10,2 ± 3,1. Nghiên cứu chúng tôi cho thấy, TTTC giai đoạn càng cao thì điểm SOFA càng lớn, và sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê với p = 0,005 Tuy nhiên trong nghiên của Rodrigo và cộng sự, chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa điểm SOFA và các giai đoạn TTTC với p = 0,952 [94].

4.4.4 Đặc điểm điều trị các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Trong nghiên cứu chúng tôi, các bệnh nhân NKH có TTTC phân độ KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 có tỷ lệ sử dụng thuốc vận mạch lần lượt là 48,27%, 60%, 72% Từ kết quả nghiên cứu, chúng ta nhận thấy bệnh nhân NKH có mức độ TTTC càng cao thì tỷ lệ sử dụng thuốc vận mạch càng lớn, tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với số p = 0,208.

Tương tự, trong nghiên cứu của Peng và cộng sự cũng không tìm thấy sự khác biệt giữa sử dụng thuốc vận mạch giữa các nhóm TTTC ở bệnh nhân NKH với p = 0,357 [61] Theo Peng và cộng sự, tỷ lệ sử dụng thuốc vận mạch của bệnh nhân NKH có TTTC các giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 lần lượt là 50%, 77,7%, 66,6% [61] Nghiên cứu của Rodrigo và cộng sự cũng tương tự chúng tôi, không có sự khác biệt điểm SOFA và các giai đoạn TTTC ở bệnh nhân NKH với p = 0,214 [94].

Tỷ lệ bệnh nhân NKH có TTTC các giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2,KDIGO 3 có lọc máu lần lượt là 17,24%, 32%, và 64% Tỷ lệ lọc máu càng cao khi phân độ TTTC giai đoạn càng lớn Tỷ lệ lọc máu KDIGO 2 gần gấp 2 lần KDIGO 1, KDIGO 3 gần gấp 2 lần KDIGO 2, sự khác biệt giữa lọc máu và các giai đoạn TTTC ở bệnh nhân NKH là có ý nghĩa thống kê với số p 0,002.

4.4.5 Tỷ lệ hồi phục các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Tỷ lệ hồi phục TTTC các giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 ở bệnh nhân NKH lần lượt là 34,4%, 44%, 48% Thời gian hồi phục TTTC của bệnh nhân có KDIGO 1, KDIGO 2 trung bình là 3 ngày, KDIGO 3 trung bình là 4,5 ngày Từ kết quả nghiên cứu, bệnh nhân có mức độ TTTC càng cao thì thời gian để hồi phục TTTC càng dài hơn Tuy nhiên, chúng tôi chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa giai đoạn KDIGO với kết quả phục hồi TTTC và thời gian phục hồi ở bệnh nhân NKH với số p lần lượt là 0,582 và 0,262.

Nghiên cứu của tác giả Peters và cộng sự có tỷ lệ hồi phục TTTC các giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết lần lượt là 36,2%, 33,8%, 29,8%, tỷ lệ này khá tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi [93].

4.4.6 Đặc điểm kết quả điều trị các giai đoạn tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết

Thời gian trung bình nằm hồi sức của bệnh nhân NKH có TTTC các giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 lần lượt là 5 ngày, 6 ngày, 6 ngày,thời gian trung bình nằm viện lần lượt là 5 ngày, 6 ngày, 6 ngày Trong một nghiên cứu của Peng và cộng sự, thời giam nằm hồi sức của các bệnh nhânNKH có TTTC các giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 lần lượt là 5,7 bệnh nhân NKH có TTTC giai đoạn càng cao thì thời gian nằm hồi sức càng dài, tuy nhiên có sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê với p = 0,057 [61]. Thêm vào đó, nghiên cứu Peng và cộng sự cũng không có sự khác biệt giữa thời gian nằm viện và các giai đoạn TTTC ở bệnh nhân NKH với p = 0,323

[61], tương tự như nghiên cứu chúng tôi.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân NKH có TTTC các giai đoạn KDIGO 1, KDIGO 2, KDIGO 3 có tỷ lệ tử vong lần lượt là 75, 86%,76%, 64%, so với 35%, 40%, 51,5% của Peng và cộng sự [61] Nghiên cứu của chúng tôi và nghiên cứu của Peng cùng chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ tử vong và các giai đoạn TTTC ở bệnh nhân NKH với p > 0,05.

Hạn chế của đề tài

Nhìn chung các kết quả nghiên cứu của chúng tôi khá phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác trên thế giới Tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi còn tồn tại một số hạn chế như sau:

- Cỡ mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn

- Thời gian theo dõi ngắn

- Nghiên cứu cắt ngang nên kết quả liên quan chỉ có ý nghĩa thống kê, chưa xác định mối liên hệ nhân quả.

- Đa số bệnh nhân nhập viện thiếu xét nghiệm creatinine nền, điều này làm khó khăn trong quá trình chuẩn đoán và phân độ tổn thương thận cấp trong nghiên cứu.

Ngày đăng: 06/04/2023, 19:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Lý Minh Duy, (2018), "Khảo sát giá trị của vi đạm niệu trong dự đoán tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết", Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 22(2) pp. 43-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát giá trị của vi đạm niệu trongdự đoán tổn thương thận cấp ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết
Tác giả: Nguyễn Lý Minh Duy
Năm: 2018
2. Phạm Lưu Nhất Hoàng, Đặng Vạn Phước, (2011), Giá trị ba thang điểm APACHE II, LODS và SOFA trong tiên lượng tử vong đối với hội chứng nhiễm trùng toàn thân nặng và choáng nhiễm trùng, Đại Học Y Dược tp Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ y học, pp. 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị ba thang điểmAPACHE II, LODS và SOFA trong tiên lượng tử vong đối với hộichứng nhiễm trùng toàn thân nặng và choáng nhiễm trùng
Tác giả: Phạm Lưu Nhất Hoàng, Đặng Vạn Phước
Năm: 2011
3. Phan Văn Phong, (2017), Vai trò tiên lượng của NT-proBNP trong nhiễm khuẩn huyết nặng và sốc nhiễm khuẩn, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, pp. 1-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò tiên lượng của NT-proBNP trongnhiễm khuẩn huyết nặng và sốc nhiễm khuẩn
Tác giả: Phan Văn Phong
Năm: 2017
4. Phạm Thị Ngọc Thảo (2010), "Đặc điểm bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết điều trị tại khoa Hồi Sức Cấp Cứu bệnh viện Chợ Rẫy", Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 14 (2) pp. 348- 353 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm bệnh nhân nhiễm khuẩn huyếtđiều trị tại khoa Hồi Sức Cấp Cứu bệnh viện Chợ Rẫy
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Thảo
Năm: 2010
5. Phạm Thị Ngọc Thảo, (2013), "Giá trị tiên lượng của các Cytokine TNF-α, IL-6, IL 10 ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng", Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 17 (2) pp. 7-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tiên lượng của các CytokineTNF-α, IL-6, IL 10 ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Thảo
Năm: 2013
6. Tôn Thanh Trà, (2014), "Đặc điểm bạch cầu, C- Reactive Protein (CRP), Procalcitonin, Lactate máu trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết/sốc nhiễm khuẩn tại khoa Cấp Cứu", Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 14 (2) pp. 348- 353 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm bạch cầu, C- Reactive Protein (CRP),Procalcitonin, Lactate máu trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết/sốcnhiễm khuẩn tại khoa Cấp Cứu
Tác giả: Tôn Thanh Trà
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w