1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kết quả chẩn đoán và xử trí nhóm triệu chứng sau đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi tại bệnh viện nhân dân gia định

117 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá kết quả chẩn đoán và xử trí nhóm triệu chứng sau đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi tại bệnh viện nhân dân gia định
Tác giả Nguyễn Xuân Toàn
Người hướng dẫn PGS. TS. Ngô Xuân Thái
Trường học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngoại - Tiết niệu
Thể loại Luận văn chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN (14)
    • 1.1. Giải phẫu học đáy chậu (14)
    • 1.2. Triệu chứng sau đi tiểu (18)
    • 1.3. Triệu chứng đường tiết niệu dưới ở nam giới (21)
    • 1.4. Điểm triệu chứng tuyến tiền liệt quốc tế (IPSS) (34)
    • 1.5. Tập cơ sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh môn điều trị triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu (38)
    • 1.6. Vật lý trị liệu tập cơ đáy chậu (sàn chậu) (39)
    • 1.7. Điều trị triệu chứng sau đi tiểu (42)
  • CHƯƠNG 2.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (45)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (45)
    • 2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (45)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (46)
    • 2.4. Quản lý và phân tích số liệu, khống chế sai số nghiên cứu (49)
    • 2.5. Vấn đề đạo đức nghiên cứu (50)
  • CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ (51)
    • 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu (51)
    • 3.2. Đặc điểm của các triệu chứng đường tiết niệu dưới (52)
    • 3.3. Đặc điểm của nhóm triệu chứng sau đi tiểu (56)
    • 3.4. Tương quan giữa nhóm triệu chứng sau đi tiểu và các nhóm triệu chứng đường tiết niệu dưới khác (63)
    • 3.5. Tương quan giữa triệu chứng đường tiểu dưới và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân (74)
    • 3.6. Sự cải thiện của triệu chứng sau đi tiểu khi tập sàn chậu và mát xa niệu đạo, tầng sinh môn (76)
  • CHƯƠNG 4.BÀN LUẬN (77)
    • 4.1. Bàn luận về đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu (77)
    • 4.2. Bàn luận về tình trạng mắc triệu chứng đường tiểu dưới (77)
    • 4.3. Bàn luận về đặc điểm triệu chứng sau đi tiểu (80)
    • 4.4. Bàn luận về tương quan giữa triệu chứng sau đi tiểu và các nhóm triệu chứng đường tiết niệu dưới (81)
    • 4.5. Mức độ phiền lòng về triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu (95)
    • 4.6. Bàn luận về điều trị triệu chứng sau đi tiểu khi tập sàn chậu và mát xa niệu đạo, tầng sinh môn (95)
  • KẾT LUẬN (99)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (102)
  • PHỤ LỤC (110)

Nội dung

Triệu chứng tiểu không hết có thể âm thầm và không đượcchú ý cho đến khi bệnh nhân có tổn thương thận hoặc bí tiểu phải nhập viện.Nhỏ giọt nước tiểu sau khi đi tiểu trước đây được xem nh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN XUÂN TOÀN

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ NHÓM TRIỆU CHỨNG SAU ĐI TIỂU Ở BỆNH NHÂN NAM GIỚI TRÊN 40 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN XUÂN TOÀN

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ NHÓM TRIỆU CHỨNG SAU ĐI TIỂU Ở BỆNH NHÂN NAM GIỚI TRÊN 40 TUỔI TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH

CHUYÊN NGÀNH: Ngoại - Tiết niệu

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGÔ XUÂN THÁI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các

số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trongbất kỳ công trình nào khác

TP Hồ Chí Minh, 17 tháng 11 năm 2020

Tác giả

NGUYỄN XUÂN TOÀN

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục chữ viết tắt

Bảng đối chiếu thuật ngữ anh – việt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

Danh mục các biểu đồ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN 4

1.1.Giải phẫu học đáy chậu 4

1.2.Triệu chứng sau đi tiểu 8

1.3.Triệu chứng đường tiết niệu dưới ở nam giới 11

1.4.Điểm triệu chứng tuyến tiền liệt quốc tế (IPSS) 24

1.5.Tập cơ sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh môn điều trị triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu 28

1.6.Vật lý trị liệu tập cơ đáy chậu (sàn chậu) 29

1.7.Điều trị triệu chứng sau đi tiểu 32

CHƯƠNG 2.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1.Đối tượng nghiên cứu 35

2.2.Địa điểm và thời gian nghiên cứu 35

2.3.Phương pháp nghiên cứu: 36

2.4.Quản lý và phân tích số liệu, khống chế sai số nghiên cứu 39

2.5.Vấn đề đạo đức nghiên cứu 40

CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ 41

3.1.Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu 41

Đặc điểm của các triệu chứng đường tiết niệu dưới 42

Trang 5

3.3.Đặc điểm của nhóm triệu chứng sau đi tiểu 46

3.4.Tương quan giữa nhóm triệu chứng sau đi tiểu và các nhóm triệu chứng đường tiết niệu dưới khác 53

3.5.Tương quan giữa triệu chứng đường tiểu dưới và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân 64

3.6.Sự cải thiện của triệu chứng sau đi tiểu khi tập sàn chậu và mát xa niệu đạo, tầng sinh môn 66

CHƯƠNG 4.BÀN LUẬN 67

4.1.Bàn luận về đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu 67

4.2.Bàn luận về tình trạng mắc triệu chứng đường tiểu dưới 67

4.3.Bàn luận về đặc điểm triệu chứng sau đi tiểu 70

4.4.Bàn luận về tương quan giữa triệu chứng sau đi tiểu và các nhóm triệu chứng đường tiết niệu dưới 71

4.5.Mức độ phiền lòng về triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu 85

4.6.Bàn luận về điều trị triệu chứng sau đi tiểu khi tập sàn chậu và mát xa niệu đạo, tầng sinh môn 85

KẾT LUẬN 89

KIẾN NGHỊ 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 100

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

BẢNG ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ ANH – VIỆT

American Urological

liệt

tínhInternational Continence

International Prostate

Điểm triệu chứng tuyến tiền liệtquốc tế

dưới

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1.Các nghiên cứu liên quan đến triệu chứng sau đi tiểu 8

Bảng 1.2.Các nghiên cứu về triệu chứng đường tiết niệu dưới 12

Bảng 1.3.Bảng điểm quốc tế về triệu chứng của TSLT-TTL (IPSS) 26

Bảng 2.1.Biến số nghiên cứu 37

Bảng 3.1.Phân bố đối tượng theo tuổi 41

Bảng 3.2.Tỉ lệ mắc triệu chứng đường tiết niệu dưới (IPSS) theo tuổi 42

Bảng 3.4.Tỉ lệ bệnh nhân có triệu chứng sau đi tiểu trong nhóm bệnh nhân có triệu chứng đường tiết niệu dưới (IPSS) theo tuổi 49

Bảng 3.5.Điểm triệu chứng tiểu không hết theo tuổi 50

Bảng 3.6.Điểm triệu chứng nhỏ giọt theo tuổi 51

Bảng 3.7.Điểm mức độ nhỏ giọt sau đi tiểu theo tuổi 52

Bảng 3.8.Tỉ lệ bệnh nhân có triệu chứng chứa đựng theo tuổi 56

Bảng 3.9.Tỉ lệ bệnh nhân có tiểu đêm ≥ 2 lần theo tuổi 57

Bảng 3.10.Tỉ lệ mắc triệu chứng tiểu rặn theo tuổi 60

Bảng 3.11.Điểm chất lượng cuộc sống theo độ nặng của triệu chứng đường tiết niệu dưới 65

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1.Giải phẫu học đáy chậu 6Hình 1.2 Các tạng chậu hông và đáy chậu ở nam 7Hình 1.3 Đáy chậu và hành niệu đạo ở mặt cắt đứng ngang 7

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Bảng 3.3.Tỉ lệ mắc triệu chứng đường tiết niệu dưới theo ICS 2002 theo tuổi

43

Biểu đồ 3.1.Phân bố bệnh nhân theo mức độ nặng của triệu chứng đường tiết niệu dưới 44

Biểu đồ 3.2.Độ nặng của triệu chứng đường tiết niệu dưới phân theo nhóm tuổi 45

Biểu đồ 3.3.Tỉ lệ mắc triệu chứng sau đi tiểu (n = 423) 46

Biểu đồ 3.4.Tỉ lệ mắc triệu chứng sau đi tiểu theo tuổi (n = 423) 47

Biểu đồ 3.5.Tỉ lệ bệnh nhân có triệu chứng sau đi tiểu trong nhóm bệnh nhân có triệu chứng đường tiết niệu dưới (IPSS) 48

Biểu đồ 3.6.Phân bố bệnh nhân theo triệu chứng đường tiết niệu dưới theo ICS 2002 53

Biểu đồ 3.7.Tỉ lệ mắc các triệu chứng chứa đựng 54

Biểu đồ 3.8.Tỉ lệ có các triệu chứng chứa đựng theo tuổi 55

Biểu đồ 3.9.Tỉ lệ mắc các triệu chứng tống xuất 58

Biểu đồ 3.10.Tỉ lệ mắc các triệu chứng tống xuất theo tuổi 59

Biểu đồ 3.11.Tỉ lệ các nhóm triệu chứng đường tiết niệu dưới theo ICS 2002 61

Biểu đồ 3.12.Tỉ lệ mắc các triệu chứng đường tiết niệu dưới theo ICS 2002 theo tuổi 62

Biểu đồ 3.13.Phân bố bệnh nhân theo số lần tiểu đêm 63

Biểu đồ 3.14.Mức độ hài lòng về chất lượng cuộc sống theo mức độ nặng của triệu chứng đường tiết niệu dưới 64

Trang 11

Theo định nghĩa của Hiệp hội tự chủ quốc tế (ICS), TCĐTND bao gồm

ba nhóm triệu chứng: chứa đựng, tống xuất, và nhóm triệu chứng sau khi đitiểu Đã có nhiều nghiên cứu về các triệu chứng của chứa đựng và tống xuấttrong TCĐTND Đối với các triệu chứng sau đi tiểu chưa được quan tâm đúngmức và ít đề cập trong các nghiên cứu trong và noài nước Nhóm triệu chứngsau khi đi tiểu bao gồm cảm giác tiểu không hết sau khi đi tiểu và tiểu nhỏ giọtsau khi đi tiểu

Triệu chứng tiểu không hết sau khi đi tiểu trước đây có khi được xếp vàonhóm chứa đựng hoặc tống xuất và được đánh giá qua câu hỏi đầu tiên trongbảng câu hỏi IPSS Triệu chứng tiểu không hết có thể âm thầm và không đượcchú ý cho đến khi bệnh nhân có tổn thương thận hoặc bí tiểu phải nhập viện.Nhỏ giọt nước tiểu sau khi đi tiểu trước đây được xem như là một tình trạngliên quan đến quá trình lão hóa, chiếm tỉ lệ thấp trong dân số và không đượcxem như là triệu chứng gây khó chịu cho người bệnh khi so với các triệu chứngđường tiết niệu dưới khác Bên cạnh đó, nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu ít được

đề cập đến trong các tiêu chuẩn chẩn đoán và lựa chọn phương pháp điều trị.Thang điểm IPSS không đánh giá triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau khi đi tiểu

Trang 12

Tuy nhiên, trong những nghiên cứu, báo cáo gần đây cho thấy kết quả tráingược với những giả thuyết truyền thống trước đây Hiện nay có nhiều nghiêncứu cho rằng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu là một trong những triệu chứngthường gặp và gây khó chịu nhất trong nhóm triệu chứng đường tiết niệu dưới

ở nam giới Mát xa niệu đạo tầng sinh môn sau khi đi tiểu và tập sàn chậu đượcxem là phương pháp điều trị triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu, ngoài

ra còn có nghiên cứu cho rằng thuốc ức chế men phosphodiesterase-5 có thểlàm giảm triệu chứng của nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu

Tần suất của nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu theo một số nghiên cứu: Nghiêncứu dịch tễ học dựa trên khảo sát trực tuyến trên 14000 nam giới trên 18 tuổi ở

3 quốc gia phương Tây có tần số là 29,7% Nghiên cứu của tác giả Ho Ly trên

1500 nam giới trên 18 tuổi ở Đông Nam Á có tần suất là 55% Nhiều nghiêncứu cho thấy nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu tăng dần tỉ lệ thuận với độ tuổi.Khi kinh tế phát triển, vấn đề lấy người bệnh làm trung tâm và cá thể hóađiều trị đang được quan tâm, dẫn đến việc tiếp cận một bệnh nhân có triệuchứng đường tiết niệu dưới cần phải quan tâm hơn vào từng nhóm triệu chứng,đặc biệt nhóm triệu chứng sau đi tiểu hiện nay ít được chú ý và nghiên cứu

nhiều Do đó, câu hỏi nghiên cứu đặt ra: “Tỉ lệ các triệu chứng sau khi đi tiểu của nam giới trên 40 tuổi có triệu chứng đường tiết niệu dưới là bao nhiêu?”.

Để trả lời cho câu hỏi trên nghiên cứu “Khảo sát các triệu chứng sau khi đi

tiểu của nam giới trên 40 tuổi có triệu chứng đường tiết niệu dưới tại Bệnh

viện nhân dân Gia Định” được tiến hành với mục tiêu tổng quát là “Khảo

sát các triệu chứng sau khi đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên 40 tuổi có triệu

chứng đường tiết niệu dưới” và các mục tiêu chuyên biệt:

Trang 13

1 Xác định tỉ lệ các triệu chứng sau khi đi tiểu ở bệnh nhân nam giới trên

40 tuổi có triệu chứng đường tiết niệu dưới.

2 Mô tả mối liên quan giữa nhóm triệu chứng sau đi tiểu và các nhóm triệu chứng chứa đựng, triệu chứng tống xuất qua thang điểm IPSS.

3 Mô tả mối liên quan giữa nhóm triệu chứng sau đi tiểu và chất lượng cuộc sống.

4 Đánh giá sự cải thiện của triệu chứng tiểu nhỏ giọt sau đi tiểu sau khi tập sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh môn.

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Giải phẫu học đáy chậu

Đáy chậu là thành dưới của ổ bụng [4], nếu nhìn từ dưới lên thấy có hình

tứ giác mà 4 đỉnh là:

− Trước là khớp mu

− Phía sau là xương cụt

− Hai bên là ụ ngồi

Các cạnh là:

− Ở trước là ngành ngồi mu

− Ở sau là dây chằng cùng ụ ngồi

Một đường thẳng nối liền hai ụ ngồi chia hình tứ giác trên làm hai phần:Phần trước gọi là tam giác niệu dục, phần sau gọi là tam giác hậu môn

1.1.1 Tam giác niệu dục (Đáy chậu trước):

Ở nam còn gọi là vùng niệu dục, có niệu đạo xuyên qua, từ nông vào sâugồm các lớp: da, mạc đáy chậu nông, khoang đáy chậu nông, mạc hoành niệudục dưới, khoang đáy chậu sâu, mạc hoành niệu dục trên và hoành chậu hông

− Mạc đáy chậu nông: là lớp mô dưới da vùng đáy chậu Mạc này gồm

hai lớp: lớp mỡ nông và lớp mạc ở sâu

− Khoang đáy chậu nông: giới hạn bởi Ở dưới là lớp mạc của mạc đáy

chậu nông Ở trên là hoành niệu dục dưới Trong ngăn đáy chậu nông

có gốc của các tạng cương của dương vật, các cơ ngang đáy chậu nông,

cơ ngồi hang, cơ hành xốp, cùng mạch máu và thần kinh đến các cơnày Các tạng cương được mô tả trong phần cơ quan sinh dục Cơ: cơ

Trang 15

chậu của thần kinh thẹn Chức năng: hai cơ ở hai bên co cùng lúc sẽ gâycác động tác: Làm cương dương vật, Tống những giọt nước tiểu haytinh dịch cuối cùng ra khỏi niệu đạo.

Tóm lại các cơ trong ngăn đáy chậu nông có nhiệm vụ chủ yếu là làmcương dương vật và duy trì sự cương của dương vật Thần kinh vận động các

cơ này là nhánh đáy chậu của thần kinh thẹn, mạch máu nuôi dưỡng là độngmạch đáy chậu, nhánh của động mạch thẹn trong

− Khoang đáy chậu sâu: Khoang đáy chậu sâu: cấu tạo chủ yếu bởi

hoành niệu dục mà mặt trên và dưới được che phủ bởi mạc hoành niệudục trên và dưới gồm có hai cơ:

− Cơ thắt niệu đạo: nguyên uỷ ở mặt trong ngành dưới xương mu, bám

tận ở đường giữa

Cơ ngang đáy chậu sâu: nguyên uỷ từ ngành xương ngồi, bám tận trung

tâm gân đáy chậu, trong cơ này có tuyến hành niệu đạo

Trung tâm gân đáy chậu

Nằm ở trung điểm đường nối hậu môn âm đạo, hầu hết các cơ đều bám ởđây được xem là chìa khoá để mở toang đáy chậu, đặc biệt quan trọng ở nữ giới

có nhiệm vụ nâng đỡ gián tiếp tử cung, hay bị tổn thương khi sinh

Trang 16

Hình 1.1 Giải phẫu học đáy chậu [4]

1 Cơ ngồi hang 2 Cơ hành xốp 3 Trung tâm gân đáy chậu 4 Cơngang đáy chậu nông 5 Cơ thắt ngoài hậu môn 6 Cơ nâng hậu môn

1.1.2 Tam giác hậu môn

Có một cơ là cơ thắt ngoài hậu môn gồm có ba phần:

− Phần sâu bọc xung quanh phần trên ống hậu môn

− Phần giữa đi từ xương cụt, bọc hai bên ống hậu môn để bám tận vàotrung tâm gân đáy chậu

− Phần dưới đi vòng quanh lỗ hậu môn

Trang 17

Hình 1.2 Các tạng chậu hông và đáy chậu ở nam [4]

Hình 1.3 Đáy chậu và hành niệu ở đạo mặt cắt đứng ngang [4]

Hố ngồi trực tràng: Trên một thiết đồ đứng dọc có hình tam giác Ðáy là

da, thành trong là cơ nâng hậu môn, thành ngoài là cơ bịt trong và mạc cơ bịttrong, phía sau thông với hố bên kia ở sau hậu môn, phía trước có một ngách

Trang 18

chen giữa hoành niệu dục và cơ nâng hậu môn Trong hố có chứa mạch máu,thần kinh trực tràng dưới, mỡ nên rất bị nhiểm trùng.

Hoành chậu hông: Là lớp sâu nhất có hai cơ là cơ nâng hậu môn và cơ

cụt

Cơ nâng hậu môn: Tạo nên một sàn cơ ở đáy chậu, qua đó có các lỗ

để cho niệu đạo, hậu môn, âm đạo ở nữ giới đi qua Người ta chia cơ nàythành 3 phần là phần mu trực tràng, phần mu cụt, phần chậu cụt

Cơ cụt: Có thể là cơ hoặc một tấm gân căng từ xương ngồi đến xương

cụt và xương cùng

1.2 Triệu chứng sau đi tiểu

1.2.1 Các nghiên cứu đã có về triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau khi đi

tiểu Bảng 1.1 Các nghiên cứu liên quan đến triệu chứng sau đi tiểu

Quốc gia

Canada

và 4 nước Châu Âu 2006

Boston, USA 2011

Trung Quốc 2015

Phần Lan 2012

US và Châu Âu 2009

Đông Nam Á 2018

TTLĐanmạch

hỏi

Độ tuổi >= 18 30-79 >= 18 30-80 >= 18 >= 18

Trang 19

1.2.2 Các triệu chứng sau khi đi tiểu

Định nghĩa: các triệu chứng mà bệnh nhân trải qua ngay lập tức sau khi

đi tiểu bao gồm cảm giác tiểu không hết và nhỏ giọt sau khi đi tiểu Mặc dùthuật ngữ ICS mới đã định nghĩa các triệu chứng sau khi đi tiểu, tuy nhiên cácnghiên cứu niệu học cho tới nay tập trung vào các nhóm triệu chứng tống xuấthoặc chứa đựng; triệu chứng sau khi đi tiểu dường như ít nhận được sự chú ý,bất chấp gánh nặng tiềm ẩn của nó tới chất lượng cuộc sống và ảnh hưởng đếnsức khỏe hàng ngày

Cảm giác tiểu không hết là một thuật ngữ tự thuật của bệnh nhân sau khi

đi tiểu Triệu chứng này trước đây đã được xem như là một triệu chứng củachứa đựng hoặc tống xuất trước khi nó được phân loại thành triệu chứng saukhi đi tiểu bởi báo cáo thuật ngữ ICS 2002

Nhỏ giọt sau khi đi tiểu là thuật ngữ được sử dụng khi người bệnh mất

nước tiểu không chủ ý sau khi họ kết thúc việc đi tiểu ngay lập tức, nước tiểudính vào quần áo sau khi rời khỏi nhà vệ sinh Triệu chứng này được xếp vàotriệu chứng tống xuất trước khi thuật ngữ ICS được báo cáo năm 2002

Trong suốt nghiên cứu của mình 2006, Irwin [5] báo cáo các triệu chứngsau đi tiểu được quan sát ở 16,9% nam giới Tỷ lệ hiện mắc của cảm giác tiểukhông hết là 13,5%, trong khi nhỏ giọt sau khi đi tiểu là 5,5% Tác giả Coyne(2009) [57] cũng báo cáo tỷ lệ hiện mắc của tiểu không hết và nhỏ giọt sau khi

đi tiểu trong cộng đồng nam giới Tỷ lệ hiện mắc của tiểu không hết đôi lúc ítnhất là 22,7% và thường thường là 5,4% Nhỏ giọt sau khi đi tiểu cũng thườngthấy ở nam giới: đôi lúc ít nhất là 29,7% và thường là 14,9%

Maserejian và cộng sự [56] gần đây đã thực hiện một cuộc điều tra dịch tễhọc tập trung vào các triệu chứng sau khi đi tiểu và ảnh hưởng của nó tới chấtlượng cuộc sống liên quan sức khỏe Dữ liệu thu được ở các cá nhân phỏng vấn

Trang 20

tại Cuộc khảo sát sức khỏe cộng đồng khu vực Boston, nghiên cứu mẫu dựatrên cộng đồng ngẫu nhiên của 2301 người Mỹ tuổi từ 30 đến 79 Tỷ lệ hiệnmắc chung các triệu chứng sau khi đi tiểu là 11,8% và tỷ lệ mắc tăng theo tuổi.Nhỏ giọt sau khi đi tiểu có mặt trong rất nhiều triệu chứng sau đi tiểu Sự cómặt của các triệu chứng sau đi tiểu, cá biệt là tiểu không hết, là dấu hiệu củaảnh hưởng thể chất, hoạt động hàng ngày bị ảnh hưởng, và tri giác bị rối loạnnhẹ.

Kết quả này thúc đẩy sự cần thiết trong đánh giá định kỳ các vấn đề saukhi đi tiểu ở những bệnh than phiền về triệu chứng tống xuất, luôn nhớ là nhữngbệnh nhân khai có cảm giác tiểu không hết có thể là những than phiền nhiềunhất trong các vấn đề đường niệu của họ Gotoh và cộng sự [10] cũng báo cáocác triệu chứng sau khi đi tiểu, đặc biệt là cảm giác tiểu không hết, gây ảnhhưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và độc lập với các triệu chứngtống xuất và chứa đựng

Hiện nay, chưa có các nghiên cứu làm sáng tỏ sinh lý bệnh của các triệuchứng sau đi tiểu Ở những bệnh nhân nam, mặc dù các bệnh lý của cơ quanniệu đạo, như là hẹp niệu đạo hoặc bệnh lý van niệu đạo, có thể liên quan tớinhỏ giọt sau khi đi tiểu hoặc tiểu không kiểm soát sau khi đi tiểu Nguyên nhângây ra các triệu chứng này thuộc về chức năng và khó xác định được trong hầuhết các trường hợp

Bader và cộng sự [11] đã tìm ra sinh lý bệnh của tiểu nhỏ giọt sau khi đitiểu ở những bệnh nhân đã cắt tuyến tiền liệt tận gốc, và báo cáo là quá trìnhtống xuất nước tiểu ở niệu đạo không hiệu quả Điều này dẫn đến làm rối loạntính nhạy cảm của niệu đạo màng-không phải niệu đạo hành Mặc dù các đốitượng trong nghiên cứu này là những bệnh nhân sau khi cắt tuyến tiền liệt, họcũng chú ý là quá trình tống xuất nước tiểu qua niệu đạo thường đã không còn

Trang 21

trước phẫu thuật Mặc dù sinh lý bệnh của quá trình tống xuất qua niệu đạokhông hiệu quả vẫn cần được làm sáng tỏ, thì tỷ lệ mới mắc của nhỏ giọt sau đitiểu tăng cùng với tuổi gợi ý là nó có liên quan tới những thay đổi sinh lý củaquá trình lão hóa.

Cảm giác tiểu không hết thường cùng xuất hiện với các triệu chứng tốngxuất [56], và mất chức năng tống xuất thì có liên hệ mật thiết với sự xuất hiệncủa các triệu chứng này Tuy nhiên, bệnh nhân thỉnh thoảng có cảm giác tiểukhông hết đi kèm với các triệu chứng chứa đựng như là tiểu gấp hay tiểu nhiềulần, và triệu chứng này cũng có thể liên quan với tăng nhạy cảm của bàngquang

1.3 Triệu chứng đường tiết niệu dưới ở nam giới

Triệu chứng đường tiết niệu dưới ở nam giới lớn tuổi từ lâu đã được biết

là có liên quan tới tuyến tiền liệt, và vẫn luôn được coi là do bế tắc do tuyếntiền liệt cho tới tận giai đoạn sau của thế kỷ 20 Thuật ngữ bế tắc do tuyến tiềnliệt được áp dụng cho hầu hết các triệu chứng có liên quan đến đi tiểu lắt nhắt

ở người già Thêm nữa, thuật ngữ tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt (BPH) hoặcBPH có biểu hiện lâm sàng được sử dụng để bao trùm các vấn đề như kíchthước tuyến tiền liệt, mô học lành tính tuyến tiền liệt, tất cả các triệu chứngchứa đựng hoặc tống xuất đều được nghĩ là có liên quan tới sinh lý bệnh củatuyến tiền liệt

Trang 22

1.3.1 Các nghiên cứu về triệu chứng đường tiết niệu dưới đã có

Bảng 1.2 Các nghiên cứu về triệu chứng đường tiết niệu dưới

Triệu chứng

Sweden 1992

Finland 1994

Scotland 1995

Japan 2002 – 2003

Sweden, Italy, UK, Germany

&

Canada 2006

Korea 2011

Sweden,

UK & USA 2007– 2008

TC chứa đựng Không Không Không Không 27 47 46

Tiểu đêm 13 56 12 17 21 10 29

Tiểu gấp 16 34 22 16 11 10 22

Tiểu nhiều Không 47 không 52 7 14 21

Tiểu không kiểm

Tiểu rặn Không không 3 không 7 10 8

Tiểu nhỏ giọt Không không 23 không 14 19 46

Trang 23

Trong đầu những năm 1990, người ta đã nhận ra được các triệu chứng bếtắc do tuyến tiền liệt không phải lúc nào cũng do tắc nghẽn cơ học Tắc nghẽnđường ra của bàng quang làm cản trở dòng chảy của nước tiểu và có thể gây bítiểu cấp tính, nhiễm khuẩn niệu, sỏi bàng quang, thận ứ nước, hoặc suy thận.Tắc nghẽn đường ra của bàng quang cũng có thể do rối loạn chức năng bàngquang ví dụ như tăng hoặc giảm hoạt động cơ chóp bàng quang, hoặc bàngquang tăng hoạt.

1.3.2 Mô tả dịch tễ

Phần lớn các nghiên cứu dịch tễ đánh giá TCĐTND ở nam giới được thiết

kế để báo cáo tỷ lệ phổ biến chứ không phải là tỷ lệ mắc phải các triệu chứngnày Hầu hết các nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi IPSS để đánh giá mức độphổ biến của 7 triệu chứng TCĐTND Trong khi các nghiên cứu này mô tảnhững bệnh nhân có các triệu chứng từ trung bình đến nặng (IPSS>7), nhưngchúng không làm nổi bật mức độ phổ biến triệu chứng TCĐTND của từng cánhân, nó cũng không đánh giá phổ rộng hơn của TCĐTND bao gồm tất cả cáctriệu chứng chứa đựng, tống xuất, và các triệu chứng sau đi tiểu

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, triệu chứng TCĐTND từ trung bình (IPSS8-19 điểm) đến nặng (IPSS >19 điểm) có khoảng phổ biến từ 16-52% [18],[19].Các nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng TCĐTND thường gặp ở nam giới và tỷ lệmắc tăng dần theo tuổi Rất nhiều nghiên cứu đã công bố tập trung đặc biệt vào

tỷ lệ tiểu không tự chủ ở nam giới [20] Xấp xỉ 11% nam giới trên 40 tuổi mắcchứng tiểu không tự chủ ở năm trước đó, và tỷ lệ hiện diện tiểu không tự chủhàng ngày có lúc cao hơn 9% ở nam trên 60 tuổi [20] Nhiều bảng câu hỏi đãước tính tỷ lệ mắc tiểu không tự chủ trong từ khoảng 5% trong độ tuổi từ 19-

44 tuổi đến 32% nam giới trên 80 tuổi [20] Có sự khác biệt giữa tỷ lệ mắcTCĐTND và tiểu không tự chủ giữa các quốc gia, tuy nhiên, những khác biệt

Trang 24

này là do thiết kế hoặc phương pháp nghiên cứu hơn là do sự khác nhau về địa

lý [20] [18]

Trong suốt nhiều năm trước đây, các nghiên cứu dựa trên quần thể đã báocáo cả tỷ lệ phổ biến của 7 triệu chứng ghi lại bởi thang điểm IPSS và danhsách đầy đủ hơn của các triệu chứng tống xuất, chứa đựng và các triệu chứngsau đi tiểu [12],[16] Các nghiên cứu này đã chỉ ra sự khác nhau về tỷ lệ phổbiến của dân số nam có ít nhất 01 triệu chứng TCĐTND là từ 47-89% (Bảng1) Nhìn chung thì, triệu chứng chứa đựng phổ biến nhất được báo cáo là tiểuđêm, và phổ biến nhất của triệu chứng tống xuất là nước tiểu nhỏ giọt tại chỗ.Các triệu chứng sau đi tiểu ít gặp hơn so với các triệu chứng tống xuất và chứađựng Mô hình này không khác nhau giữa các quốc gia [5] Một vài nghiên cứukhẳng định rằng có sự tăng lên rõ rệt về tỷ lệ phổ biến giữa các cá nhân tuổicao có TCĐTND trong tổng số nam giới có TCĐTND [5],[12],[15]

Các triệu chứng đường tiết niệu dưới thường xảy ra nhiều triệu chứng hơn

là một triệu chứng đơn độc [15],[21] Bàng quang tăng hoạt là một nhóm triệuchứng phổ biến Hiệp hội tự chủ quốc tế (ICS) định nghĩa Bàng quang tănghoạt (OAB) là một tình trạng tiểu gấp, tiểu nhiều lần và tiểu đêm, có kèm hoặckhông tiểu không tự chủ [21]

Có một vài lý do khó khăn để so sánh tỷ lệ phổ biến các triệu chứng củaTCĐTND Có bằng chứng cho thấy kết quả từ dữ liệu tự báo cáo của TCĐTND

có thể bị ảnh hưởng bởi phương pháp sử dụng bảng câu hỏi (ví dụ: khảo sát quamail, khảo sát qua điện thoại, hoặc phỏng vấn trực tiếp), dẫn tới sai sót trongviệc lấy mẫu hoặc đo lường do tính phản hồi và mức độ thấu hiểu câu hỏi khácnhau [22] Thêm nữa, sự đa dạng của các kết quả nghiên cứu có thể do các bảngcâu hỏi và định nghĩa TCĐTND được áp dụng trong suốt quá trình phân tích.IPSS, thang điểm được sử dụng phổ biến nhất, thiếu mất các câu hỏi về tiểu

Trang 25

không tự chủ và cơn đau, 2 triệu chứng thường ảnh hưởng tiêu cực tới chấtlượng cuộc sống của nam giới và làm cho họ tìm kiếm sự chăm sóc y tế [23].Các nghiên cứu dựa trên quần thể tự báo cáo về tỷ lệ phổ biến của TCĐTNDkhông phản ánh các chẩn đoán y khoa một cách cần thiết Chỉ có khoảng 50%các cá nhân khai các triệu chứng này là khó chịu và thậm chí tỷ lệ bệnh nhân

có triệu chứng khó chịu này tìm kiếm dịch vụ y tế còn thấp hơn

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến Triệu chứng đường tiết niệu dưới

1.3.3.1 Lão hóa và lối sống

Lão hóa là một yếu tố nguy cơ của tỷ lệ mắc TCĐTND và độ nặng của nó[24],[61] Trong khi TCĐTND đã được xem như là một phần bình thường củaquá trình lão hóa, Parsons cho rằng có nhiều yếu tố nguy cơ có thể thay đổitrong suốt quá trình lão quá có thể làm thay đổi thời điểm khởi phát TCĐTND[24] Một nghiên cứu 5 năm của Parson và cộng sự ở những người nam lớn hơnhoặc bằng 65 tuổi đã chỉ ra rằng tăng hoạt động thể chất có tác dụng chống lạiTCĐTND, trong khi béo phì ( định nghĩa khi BMI ≥ 30) làm tăng tỷ lệ mắcTCĐTND lên 41% [25] Penson và cộng sự cũng cho ra kết quả tương tự trongmột nghiên cứu đoàn hệ 5 năm ở Cộng đồng miền Bắc trẻ tuổi hơn một chút(40-79 tuổi) nhưng đa dạng về chủng tộc [25]

Cả hội chứng chuyển hóa (Tăng huyết áp, Béo phì, tăng lipid máu, và đềkháng Insulin) và các yếu tốt nguy cơ tim mạch (Tăng huyết áp, rối loạn lipidmáu, đái tháo đường và hút thuốc lá) cũng cho thấy mối liên quan vớiTCĐTND, mặc dù các kết quả đã bị trộn lẫn với nhau

Một nghiên cứu dọc theo dõi 4 năm đã khảo sát các yếu tố nguy cơ về lốisống và TCĐTND và đã chỉ ra rằng tiền căn bệnh lý mạch vành, trầm cảm vàuống rượu (7 ly hoặc nhiều hơn mỗi tuần) có liên quan đến TCĐTND mức độ

Trang 26

trung bình đến nặng Tuy nhiên, BMI, tăng huyết áp, chế độ ăn kiêng, và cáchoạt động thể dục không có liên quan tới TCĐTND [26].

1.3.3.2 Viêm

Quá trình viêm được cho là có liên quan đến cơ chế bệnh sinh củaTCĐTND, sự hiện diện của các dấu ấn viêm được sử dụng như là các yếu tốtnguy cơ khách quan của TCĐTND Choi và cộng sự đã chỉ ra có sự lớn hơnmột cách rõ rệt của nồng độ hsCRP của những bệnh nhân mắc TCĐTND từtrung bình đến nặng so với những bệnh nhân không hoặc chỉ có TCĐTND nhẹ.Tuy nhiên, trong các nghiên cứu của họ về giới nam từ các phòng khám niệu,Chang và cộng sự không tìm thấy bất kỳ sự liên hệ nào giữa hsCRP vàTCĐTND, mở ra một cuộc tranh luận về sự hữu ích của CRP [27],[28]

Khảo sát cắt ngang trên web ở giới nam trên 30 tuổi, Breyer và cộng sự

đã nhận thấy nhiễm HIV có tỷ lệ mắc TCĐTND cao hơn so với những ngườikhông nhiễm Tương tự vậy, nhiễm HIV có kèm AIDS có tỷ lệ mắc TCĐTNDtrung bình đến nặng cao hơn những người nhiễm HIV mà không kèm AIDS[28] Các tác giả cho rằng việc tăng nguy cơ mắc TCĐTND ở những bệnh nhânHIV có liên quan đến sự viêm mạn tính của đường tiết niệu, hệ miễn dịch bịsuy giảm, độc tính của các thuốc điều trị, và/hoặc do chính bản thân HIV

1.3.3.3 Nội tiết tố

Có rất ít nghiên cứu được thực hiện để đánh giá tác động của Testosteronevới TCĐTND[29] Chang và cộng sự đã khảo sát tác động của Testosteronetoàn bộ, tính toán Testosterone tự do, và sinh khả dụng của Testosterone, và đãtìm ra được sự xuất hiện của TCĐTND mức độ trung bình có liên quan đếnnồng độ thấp của Testosterone tự do và sinh khả dụng của Testosterone, màkhông phải là Testosterone toàn bộ [27] Trong cỡ mẫu lâm sàng về nam giới

Trang 27

khảo sát, và không có mối liên hệ giữa Testosterone toàn bộ và TCĐTND [30] Tác động của Testosterone lên TCĐTND cần nhiều nghiên cứu hơn.

1.3.3.4 Rối loạn cương

Có nhiều bằng chứng rõ ràng ủng hộ rối loạn cương và TCĐTND có liênquan với nhau [27] Tuy nhiên, không có bằng chứng ủng hộ việc rối loạncương là một yếu tố nguy cơ của TCĐTND hoặc TCĐTND sẽ dẫn tới rối loạncương Các hiểu biết về sinh lý bệnh cơ bản của 2 bệnh này đã được giả thuyếthóa, nhưng do phần lớn các nghiên cứu trong lĩnh vực này là cắt ngang, nênkhông có dấu hiệu gì để nói là bệnh này sẽ dẫn tới bệnh kia Tuy nhiên, nghiêncứu cắt dọc kéo dài 6,5 năm được thực hiện bởi Kok và cộng sự đã cung cấpmột vài dữ liệu tương quan nhân quả của TCĐTND và rối loạn cương, trong

đó rối loạn cương là một yếu tố quyết định rõ rệt của TCĐTND[31]

1.3.3.5 Di truyền

Vẫn còn thiếu các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của di truyền lênTCĐTND Trong các nghiên cứu cắt dọc, Kok và cộng sự đã chỉ ra rằng tronggia đình có người từng mắc ung thư tuyến tiền liệt là dấu dự đoán rõ rệt choTCĐTND mức độ trung bình đến nặng [31] Trong khi các nghiên cứu đoàn hệđôi cắt dọc của Wennberg về người dân Thụy Điển đưa ra một lời hứa hẹn trongtương lai, hầu hết các phân tích gần đây của nghiên cứu này đã lưu ý rằng cóquá ít nam giới mắc TCĐTND trong nghiên cứu của họ (20-46 tuổi) để đánhgiá ảnh hưởng của di truyền [31]

Trong một phân tích hơn 184000 nam giới, sự khác nhau về chủng tộc đãđược báo cáo trong giới nam có TCĐTND Người da đen và người gốc TâyBan Nha có tỷ lệ mắc TCĐTND mức độ trung bình cao hơn người da trắng,mặc dù chỉ có người gốc Tây Ban Nha là có nhiều yếu tố nguy cơ mắc mức độ

Trang 28

TCĐTND nặng hơn [32] Nam giới châu Á có nguy cơ mắc TCĐTND trungbình hoặc nặng thấp hơn nam da trắng.

1.3.4 Định nghĩa các triệu chứng

Thuật ngữ TCĐTND được sử dụng để mô tả sự phàn nàn của bệnh nhân

về đường tiết niệu mà không bao gồm nguyên nhân [33] Các triệu chứng đườngtiết niệu dưới được định nghĩa bởi Tiểu ban Tiêu chuẩn hóa của ICS vào năm

2002, và hiện nay các thuật ngữ này thường được sử dụng trong thực hành lâmsàng và nghiên cứu [34] Các triệu chứng đường tiết niệu dưới là triệu chứng

cơ năng, khai thác từ chủ quan của người bệnh và là nguyên nhân bệnh nhânđến khám tại chuyên khoa tiết niệu Các triệu chứng này thường là định tính vàkhai thác được trong lúc thăm khám

Nói chung, dựa vào các triệu chứng của đường tiết niệu dưới đơn thuầnkhông thể đưa ra một chẩn đoán rõ ràng, nhưng có thể giúp bác sĩ xác địnhđược các tình trạng bệnh lý khác, ví dụ nhiễm khuẩn niệu (UTI) hoặc thậm chí

cả bệnh tim mạch, đái tháo đường trong các trường hợp tiểu đêm nhiều lần Cácbác sĩ lâm sàng phải thăm khám thật kỹ để loại trừ các nguyên nhân gây raTCĐTND khác

Triệu chứng đường tiết niệu dưới được chia thành triệu chứng chứa đựng,tống xuất, triệu chứng sau khi đi tiểu

1.3.4.1 Triệu chứng chứa đựng

Các triệu chứng chứa đựng xảy ra trong pha chứa đựng của bàng quang

và bao gồm sự gia tăng về số lần đi tiểu vào ban ngày và ban đêm

− Tăng tần suất đi tiểu ban ngày: là những than phiền của bệnh nhân

khi họ đi tiểu quá nhiều lần trong ngày, tính từ lúc thức dậy cho đếnlúc đi ngủ

Trang 29

− Tiểu đêm: là những than phiền khi bệnh nhân phải thức dậy ban đêm

từ một lần trở lên để đi tiểu

− Tiểu gấp: Bệnh nhân than phiền có cảm giác mắc tiểu một cách đột

ngột, cần phải đi tiểu ngay và rất khó có thể nhịn được (còn tiểu cókiểm soát)

− Tiểu không kiểm soát: những than phiền về việc rò nước tiểu không

chủ ý Trong mỗi tình huống, tiểu không kiểm soát nên được mô tảvới nhiều chi tiết liên quan hơn ví dụ như kiểu, tần suất, mức độ, yếu

tố thúc đẩy, tác động xã hội, ảnh hưởng việc giữ vệ sinh và chất lượngcuộc sống của người bệnh, các biện pháp dùng để ngăn sự rỉ nướctiểu, và bệnh nhân có mong muốn tìm kiếm sự giúp đỡ y tế hay không

− Tiểu không kiểm soát khi gắng sức: là sự rỉ nước tiểu một cách

không kiểm soát được khi gắng sức, hắt xì hoặc ho

− Tiểu gấp không kiểm soát: là những than phiền về việc tiêu tiểu

không tự chủ theo sau cảm giác tiểu gấp

− Tiểu không kiểm soát hỗn hợp là những than phiền về việc tiêu tiểu

không tự chủ sau khi tiểu gấp và gắng sức, ho hoặc hắt hơi

− Đái dầm là bất kỳ trường hợp mất nước tiểu không chủ ý nào Nếu

dùng thuật ngữ này để biểu thị sự són tiểu khi đi ngủ, nó nên đượcphân biệt với tiểu đêm

− Đái dầm ban đêm là những than phiền mất nước tiểu vào ban đêm.

Nó là một triệu chứng quan trọng (có thể hiếm) ở nam giới lớn tuổi, cóthể nó là dấu chỉ điểm cho bí tiểu mạn tính áp lực cao

− Tiểu không kiểm soát liên tục là tình trạng rỉ nước tiểu liên tục, chỉ

phát hiện sau khi cắt bỏ tuyến tiền liệt

Trang 30

− Sự nhạy cảm của bàng quang được chia thành 4 nhóm

+ Bình thường Bệnh nhân cảm nhận được cảm giác bàng quang căng

đầy và tăng cảm giác cho tới lúc muốn đi tiểu

+ Tăng cảm giác Bệnh nhân cảm giác được bàng quang căng đầy

sớm nhất và sau đó dẫn đến cảm giác mắc tiểu

+ Giảm cảm giác Bệnh nhân cảm giác được bàng quang căng đầy,

nhưng không có cảm giác mắc tiểu và muốn đi tiểu

+ Mất cảm giác Bệnh nhân không có cảm giác bàng quang căng đầy

hoặc không mắc tiểu

1.3.4.2 Các triệu chứng tống xuất

Các triệu chứng xảy ra trong pha tống xuất nước tiểu của bàng quang

− Tia nước tiểu yếu: Được khai bởi người bệnh, khi so sánh với dòng

nước tiểu lúc trước hoặc với người bên cạnh

− Tiểu không thành dòng.

− Tiểu gián ngắt quãng: bệnh nhân mô tả dòng nước tiểu dừng và tiểu

lại, một hoặc nhiều lần, trong quá trình đi tiểu

− Tiểu ngập ngừng: bệnh nhân mô tả khó khăn khi đi tiểu, dẫn đến việc

bệnh nhân đứng lâu một lúc mới bắt đầu tia nước tiểu

− Rặn tiểu (Straining to void) tăng số lượng cơ hỗ trợ khi bắt đầu, duy

trì, hoặc làm mạnh dòng nước tiểu

− Tiểu nhỏ giọt: bệnh nhân mô tả là kéo dài phần cuối của quá trình đi

tiểu, dòng nước tiểu chậm lại hoặc nhỏ giọt

1.3.4.3 Triệu chứng sau đi tiểu

Trang 31

Các triệu chứng xảy ra ngay lập tức sau khi đi tiểu.

− Cảm giác tiểu không hết là một cảm giác bệnh nhân tự mô tả sau mỗi

lần đi tiểu

− Nhỏ giọt nước tiểu sau khi đi tiểu: mất nước tiểu một cách không

chủ ý ngay sau khi bệnh nhân đi tiểu xong, thường nhỏ giọt lên quần

áo sau khi rời khỏi nhà vệ sinh

1.3.5 Tỷ lệ hiện mắc của triệu chứng đường niệu dưới liên quan tới tuổi

Mặc dù TCĐTND ở nam giới thường gặp ở những người có tuổi, nhưngthỉnh thoảng cũng xuất hiện ở những người trẻ tuổi Trong một nghiên cứu tiếncứu, 85 nam giới trong độ tuổi từ 18 đến 45 tuổi, có TCĐTND, đã được xácđịnh nguyên nhân gây các triệu chứng này ở người trẻ tuổi Bằng các xétnghiệm không xâm lấn và các điểm triệu chứng có ích trong việc quyết địnhđánh giá bệnh nhân nào bằng niệu động học hình ảnh [35] Điểm AUA-SI: tổngcộng:19,3; tống xuất: 10,8; chứa đựng: 8,5

Theo như báo cáo này, TCĐTND ở nam trẻ vẫn còn rất nhiều nguyên nhânchưa giải thích được Niệu động học hình ảnh được cân nhắc là không giúp ích

gì ở những bệnh nhân có nghiên cứu bình thường hoặc không được chẩn đoánhoặc chỉ có cảm giác thôi thúc muốn đi tiểu, nhưng nó là một chẩn đoán cực kỳ

có ích ở nam giới có bất thường về dòng chảy nước tiểu hoặc có những điểm

số tống xuất cao

Tỷ lệ mắc TCĐTND gia tăng theo tuổi, nam giới >70 tuổi chiếm tỉ lệ caotrong số bệnh nhân có TCĐTND Tại Hà Lan, Pháp, Anh và Hàn Quốc, tỷ lệmắc TCĐTND ở nam và nữ được nghiên cứu dựa vào quần thể, khảo sát cắtngang [18] Tỉ lệ phần trăm nam giới có IPSS 8-35 điểm (trung bình tới nặng)lần lượt là 0,7% (Hà Lan), 19,2 % (Pháp), 25,1% (Anh), và 16,2% (Hàn Quốc)

Trang 32

Theo nhóm tuổi, thì tỷ lệ phần trăm triệu chứng từ trung bình tới nặng là 10,6%(40-49 tuổi), 19,0 (50-59 tuổi), 30,5% (60-69 tuổi), và 40,4% (70-79 tuổi).Tổng cộng tỷ lệ mắc TCĐTND là khá cao và không có sự khác biệt rõ rệt

về văn hóa Tỷ lệ mới mắc tăng theo tuổi, và mức độ nặng của TCĐTND cũngthường gặp ở người già Trong từng nhóm tuổi, không có khác biệt về văn hóachủ yếu nào trong tần suất mắc TCĐTND Tuy nhiên, trong một nghiên cứugiữa nam Nhật Bản và Hoa Kỳ, với mỗi 10 tuổi thì IPSS của Nhật Bản cao hơn,với sự khác biệt nhỏ về tỷ lệ gia tăng theo tuổi hoặc mức độ phiền lòng

Nhìn chung thì có 78% người >65 tuổi có một vài triệu chứng củaTCĐTND Các hoạt động hàng ngày có tác động tiêu cực tới triệu chứng đi tiểu

là 14,7% Chuyên biệt hơn, tác động lên sức khỏe tinh thần (10,2%), các hoạtđộng thể dục (7,1%), công việc/việc nhà (5,9%), và các hoạt động xã hội (4%).Trung bình triệu chứng có vấn đề là 2 Vấn đề chính và các triệu chứng nổi bật

là tiểu đêm (38,2%), tiểu nhiều lần trong ngày (19,3%), tiểu không kiểm soátkhi gắng sức (14,5%), tiểu gấp (10,4%), tiểu gấp không kiểm soát (9,8%), vàgiảm dòng nước tiểu (6,6%) Mặc dù TCĐTND có tác động tiêu cực, chỉ có18% bệnh nhân đi khám Tỷ lệ mắc TCĐTND cao hơn ở nam giới và dân sốgià Các phương pháp điều trị và quản lý thích hợp nên được thúc đẩy bằngcách tăng nhận thức trong cộng đồng về các vấn đề tiểu tiện

Các triệu chứng như tiểu ngập ngừng, dòng nước tiểu yếu hoặc ngắt quãng

có mối tương quan với nhau (Hệ số Spearman: 0,56-0,6) Có một sự tương quancao giữa điểm số IPSS cao và điểm số chất lượng cuộc sống thấp do nhữngphiền hà TCĐTND gây ra (r=0,70) Trong những đối tượng có triệu chứng,36% báo cáo có chất lượng cuộc sống thấp (khá tệ, rất tệ, kinh khủng) Chỉ 29%đối tượng có triệu chứng (IPSS>7) báo cáo là họ đã được chẩn đoán có vấn đềđường tiết niệu từ trước, và chỉ có 11% điều trị Ở Thụy Điển, một điều rõ ràng

Trang 33

là rất ít nam giới đi tìm sự giúp đỡ về mặt y tế cho các triệu chứng đường tiếtniệu Chỉ có 1/3 nam giới có triệu chứng được báo cáo là họ đã được chẩn đoán

có triệu chứng đường niệu trước đó Điều này nhấn mạnh nhu cầu về giáo dụccộng đồng và nhận thức của nhóm có tỷ lệ mắc TCĐTND cao trong cộng đồng

là cần thiết

1.3.6 Bảng điểm triệu chứng

Điểm triệu chứng được sử dụng ở TCĐTND nam giới vì rất nhiều mụcđích:

− Đánh giá độ nặng của triệu chứng

− Kiểm tra liên quan giữa các phương pháp điều trị lâm sàng/ kết quảxét nghiệm và điểm số từ triệu chứng và bảng câu hỏi QoL

− Dự đoán đáp ứng điều trị

− Đánh giá hiệu quả điều trị

Những điểm triệu chứng TCĐTND nam giới sau đây đang được đánh giá

và bàn luận:

− IPSS: các triệu chứng và QoL tác động bởi TCĐTND

− Điểm Danish về triệu chứng tuyến tiền liệt (DAN-PSS): các triệuchứng của TCĐTND và đường niệu

− Điểm triệu chứng OAB (OABSS): các triệu chứng OAB

− Điểm TCĐTND cốt lõi (CLSS): các triệu chứng TCĐTND

− Công cụ chấm điểm tiểu gấp, tiểu yếu, tiểu chưa hết và tiểu đêm.Hơn hai thập kỷ qua, điểm triệu chứng đã trở thành một phần đánh giáTCĐTND thường quy Điểm triệu chứng dùng để định lượng TCĐTND trong

Trang 34

thuật ngữ bao gồm tỷ lệ hiện mắc và mức độ nặng, để xác định mức độ ảnhhưởng của TCĐTND tới chất lượng cuộc sống (bao gồm cả quan hệ tình dục),

và để xác định hiệu quả của các phương pháp điều trị khác nhau

Điều quan trọng là điểm triệu chứng có ứng dụng rộng rãi ở các quốc gia

và ngôn ngữ khác nhau Lý tưởng hơn, điểm triệu chứng cũng giúp xác địnhthấu đáo căn nguyên gây bệnh của TCĐTND (ví dụ BOO, rối loạn co thắt cơchóp bàng quang); tuy nhiên, điều này cũng là khó khăn do các điều kiện khácnhau có thể tạo ra triệu chứng tương tự hay thậm chí giống hệt nhau

Có nhiều điểm triệu chứng khác nhau đã được đề xuất để đánh giá kiểu vàmức độ nặng của TCĐTND kết hợp với BPO Từng thang điểm có ưu và nhượcđiểm khác nhau, nhưng có thực tế là toàn thế giới sử dụng những thang điểmthế này để đánh giá các triệu chứng, điều trị bệnh nhân, và trao đổi các kết quảtrên phạm vi toàn cầu Những nỗ lực để phát triển những chỉ số mới và chínhxác hơn đang không ngừng cải thiện hiểu biết của chúng ta về TCĐTND và cáccăn nguyên gây ra nó

Mặc dù mỗi bảng được thiết kế cho mục đích giống nhau, nhưng chỉ có 6triệu chứng là phổ biến ở cả 3 bảng, bao gồm tiểu không hết, tiểu gấp, giảmdòng nước tiểu, tiểu nhiều lần và tiểu đêm

1.4 Điểm triệu chứng tuyến tiền liệt quốc tế (IPSS)

Thang điểm IPSS là công cụ được sử dụng phổ biến nhất để đánh giáTCĐTND khi nghi ngờ có BPO Vào năm 1992, Barry và cộng sự đã báo cáoAUA-SI là một bảng câu hỏi ngắn chính xác hữu ích trong chẩn đoán các triệuchứng tống xuất [36] Trước khi bảng điểm AUA-SI được công bố, nó đã đượcchấp nhận bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và đổi tên thành IPSS sau khithêm điểm riêng biệt về chất lượng sống

Trang 35

Điểm IPSS được phát triển để kiểm tra xem bệnh nhân có BPH nhận biếtđược triệu chứng của mình như thế nào và các triệu chứng ảnh hưởng tới đờisống họ ra làm sao Nó cũng được tạo ra như là một công cụ để các nhà lâmsàng thống nhất và sản sinh ra các phương pháp đánh giá các triệu chứng vàthúc đẩy so sánh các nghiên cứu lâm sàng với nhau.

Ban đầu, mục đích là phát triển các chỉ số ngắn, dễ thực hành, tự trả lời,

có độ nhạy lâm sàng với các đặc tính tâm lý học tuyệt vời để nắm bắt được mức

độ nặng của các triệu chứng liên quan tới BPH [36] Ủy ban (Ủy ban đo lườngAUA) duyệt lại các chỉ số đã công bố trước đó cũng như các chỉ số chưa đượccông bố từ các nghiên cứu điều trị được thiết kế để làm nhẹ bớt các triệu chứngBPO của các công ty dược phẩm, và phát triển một danh sách các câu hỏi baohàm tất cả các triệu chứng mà họ cảm thấy thích hợp Chỉ có những bệnh nhân

mà các điều tra viên thấy có triệu chứng BPH rõ ràng mới được ghi danh vàothử nghiệm đầu tiên của bảng câu hỏi Sau một nghiên cứu khách quan thứ 2

sử dụng bảng câu hỏi ngắn hơn và đã sửa đổi, trong đó có các câu hỏi liên quanđến sự phiền hà, Ủy ban đã quyết định có 7 câu hỏi, đánh giá từ thang điểm 0-5dựa trên mức độ nặng tăng dần

IPSS bao gồm 7 câu hỏi, là tiểu không hết, tiểu nhiều lần, tiểu ngắt quãng,tiểu gấp, tiểu yếu, tiểu chần chừ và tiểu đêm Mỗi câu hỏi trả lời theo thangđiểm từ 0 đến 5 (từ hoàn toàn không đến lúc nào cũng có) Chỉ số triệu chứng

là tổng điểm của 7 câu hỏi, và vì vậy khoảng điểm thay đổi từ 0-35 điểm Thêmnữa, một câu hỏi liên quan đến chất lượng sống của bệnh nhân TCĐTND đượctrả lời từ 0 (rất ít) đến 6 (kinh khủng) Một cách thống kê, các chỉ số đã đượcthể hiện một cách nhất quán, tin cậy cao, và có thể phân biệt chính xác bệnhnhân BPH từ nhóm đối chứng Các triệu chứng được phân loại thành nhẹ(AUA-SI <7 điểm), trung bình (AUA-SI 8-19 điểm), và nặng (AUA-SI 20

Trang 36

điểm) dựa trên ngưỡng nhạy cảm của bệnh nhân BPH và ngưỡng chuyên biệt

so với nhóm đối chứng

Đánh giá chất lượng sống (QoL) thực chất là câu hỏi thứ 8 của thang điểmIPSS, đánh giá sự ảnh hưởng của triệu chứng rối loạn tiểu tiện đến chất lượngsống, đo lường mức độ chịu đựng của bệnh nhân đối với triệu chứng của họhơn là chất lượng sống của họ

❖ Bảng điểm quốc tế về triệu chứng tuyến tiền liệt (IPSS)

Bảng 1.3 Bảng điểm quốc tế về triệu chứng của TSLT-TTL (IPSS)

Trong tháng qua, có bao

nhiêu lần ông nhận thấy

Hoàntoànkhông

Dưới 1trong

5 lân

Dướinửasốlần

Khoảngnửa sốlần

Hơnnửasốlần

Hầunhưmọi lúc

1 Cảm giác tiểu không

2 Phải đi tiểu lại dưới 2

7.Trung bình mỗi đêm

phải thức dậy đi tiểu mấy

lần

Trang 37

Kết quả:

− Từ 0 - 7 điểm: mức độ rối loạn nhẹ

− Từ 8 - 19 điểm: mức độ rối loạn trung bình

− Từ 20 - 35 điểm: mức độ rối loạn nặng

Điểm IPSS sau đó được sử dụng thường quy trong thực hành lâm sàng vàđược mở rộng sử dụng trong nghiên cứu để đánh giá tỷ lệ mắc TCĐTND vàtriệu chứng BPH, và cũng để đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trịTCĐTND/BPO khác nhau như dùng thuốc, xâm lấn tối thiểu hoặc phẫu thuật.Bảng điểm này có nhiều ưu điểm, như là để bệnh nhân tự khai (hiệu quả hơn,

ít tốn thời gian hơn, không có sai lệch do người phỏng vấn), nhạy cảm với sựthay đổi, và có thể dùng chung cho các quần thể và các nhóm kinh tế xã hộikhác nhau

Hạn chế của thang điểm IPSS là nó không xác định được là bệnh hoặc tìnhtrạng cụ thể nào IPSS là một công cụ hữu ích để đánh giá mức độ nặng củaTCĐTND nghĩ là do BPO, và dùng để đánh giá hiệu quả các phương pháp điềutrị (so với điểm ban đầu của từng bệnh nhân riêng lẻ), tuy vậy không phải làcông cụ để chẩn đoán BPO (129) TCĐTND là đa yếu tố và BOO, bất thườngcảm giác và vận động cơ chóp bàng quang, rối loạn khả năng co bóp cơ chópbàng quang, chức năng niệu đạo, thói quen, và lối sống là tất cả các nguyênnhân tiềm năng gây ra các triệu chứng giống hoặc tương tự

Một phê bình khác của thang điểm IPSS là nó không đánh giá triệu chứngtiểu gấp không kiểm soát, một trong những triệu chứng gây phiền hà nhất củaTCĐTND do BPO Tiểu gấp không kiểm soát là một triệu chứng quan trọng,đặc biệt nó liên quan đến kết quả điều trị BPO Tỷ lệ mắc triệu chứng này cũng

Trang 38

phổ biến trong nhóm nghiên cứu ICS-“BPH” và tỷ lệ này cao hơn ở những nam

có BOO hơn là nhóm không có [37]

− IPSS là công cụ hữu ích để đánh giá TCĐTND nghi do bế tắc và đánhgiá sự thay đổi so với mức nền sau khi điều trị Thang điểm IPSS nhạycảm với sự thay đổi, và sự thay đổi càng lớn thì mức độ phiền hả càng

tăng Mức độ chứng cứ độ 1.

− IPSS không phải là một tình trạng hoặc bệnh lý riêng biệt nào, và do

đó các triệu chứng khám thấy không nhất thiết phải liên quan tới bế

tắc do tuyến tiền liệt (tăng sinh, phì đại hay gây bế tắc) Mức độ

chứng cứ độ 1 1.5 Tập cơ sàn chậu và mát xa niệu đạo tầng sinh môn điều trị triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu

Xoa bóp niệu đạo tầng sinh môn và tập mạnh cơ sàn chậu được biết là làm giảmtriệu chứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu Cả hai phương pháp này có thể được

sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau Cân nhắc rằng sự suy yếu hoặc khônghoạt động của cơ sàn chậu có thể gây ra triệu chứng nhỏ giọt nước tiểu, có vẻhợp lý khi hai phương pháp điều trị này đã được sử dụng để làm giảm triệuchứng nhỏ giọt nước tiểu sau đi tiểu [38] Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu chứngminh được hiệu quả của các phương pháp này

Xoa bóp niệu đạo tầng sinh môn ngay sau khi đi tiểu là một kỹ thuật tự hỗ trợ

và là cách đơn giản nhất để giảm triệu chứng [39] Bệnh nhân được dạy đặt cácngón tay sau bìu của mình ngay sau khi đi tiểu và nhẹ nhàng xoa bóp lỗ niệuđạo theo hướng lên trên về phía dương vật Có thể phải lặp lại kỹ thuật nàynhiều lần, cho đến khi bệnh nhân chắc chắn rằng không còn cặn nước tiểu [40].Tương tự, kéo căng, ép chặt hoặc lắc dương vật có thể giúp thải hết nước tiểu

Trang 39

1.6 Vật lý trị liệu tập cơ đáy chậu (sàn chậu)

1.6.1 Đại cương

Tập cơ đáy chậu là tập luyện sự siết chặt và thư giãn lặp lại một cách chủđộng có chọn lọc các cơ vùng đáy chậu[2] Phục hồi chức năng cơ vùng đáychậu là một phương pháp quan trọng để kiểm soát rỉ tiểu

Bài tập làm mạnh cho các cơ vùng đáy chậu hay còn gọi là bài tập Kegel

có thể đem lại lợi ích cho cả nam giới và phụ nữ, đặc biệt với những ngườikhông kiểm soát được tiểu tiện Ở nữ giới bài tập Kegel hay được áp dụng hơnnhằm kiểm soát tốt hơn khi tăng áp lực trong ổ bụng ví dụ khi ho, hắt hơi, cười

và giúp phụ nữ lấy lại tự tin, nhất là sau khi sinh con Tuy nhiên, việc tập luyệnchương trình Kegel cần thực hiện một cách chính xác và đều đặn

1.6.2 Chỉ định

− Đau hoặc có cảm giác bị sa âm đạo

− Sa sinh dục mức độ nhẹ khi người bệnh ở tư thế tự nhiên

− Rỉ tiểu gắng sức, rỉ tiểu cấp

− Người bệnh đi tiểu nhiều lần

− Người bệnh đại tiện không tự chủ

Trang 40

3 Người bệnh: giải thích cho người bệnh hiểu và tích cực tham gia tậpluyện kiên trì theo chương trình tập

4 Hồ sơ bệnh án: bệnh án chẩn đoán, các xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán vàphiếu chỉ định của bác sỹ

1.6.5 Các bước tiến hành

Bước 1: Kiểm tra hồ sơ: kiểm tra lại hồ sơ bệnh án và các phiếu chỉ địnhBước 2: Kiểm tra người bệnh: kiểm tra người bệnh xem đúng chỉ địnhkhông

Bước 3: Thực hiện kỹ thuật Người bệnh có thể tiến hành bài tập ở bất kỳđâu, thời gian nào trong ngày, nhưng người bệnh thường tập trên ghế, trong nhà

vệ sinh hay trên giường Bài tập cơ đáy chậu chia làm hai phần: giai đoạn làmchậm và giai đoạn làm nhanh Sau khi người bệnh làm các động tác chậm tốt

sẽ chuyển sang giai đoạn làm nhanh

a Bài tập chậm cơ vùng đáy chậu với người hướng dẫn

− Siết chặt và kéo nhóm cơ vùng lưng lên, động tác này giúp người bệnh

có thể tự kiểm soát trung tiện được Lưu ý hướng dẫn người bệnh tránh

co thắt nhóm cơ vùng mông, đùi và nhóm cơ bụng trong khi tập độngtác này

− Tiếp theo, người bệnh sẽ siết chặt và kéo nhóm cơ quanh âm đạo vàniệu đạo, động tác này giúp cho người bệnh có thể tự ngừng đi tiểu Đểxác định đúng cơ, đưa ngón tay trỏ vào trong âm đạo cho đến khi cảmnhận được áp lực vào ngón tay khi người bệnh tập bài tập này Nếu chưa

rõ người bệnh cố nhịn tiểu hoặc nhịn tiểu giữa dòng để cảm nhận rõhơn

Ngày đăng: 06/04/2023, 19:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Y tế (2017), Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Phục hồi chức năng, NXB Y học, 206-209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Phục hồi chức năng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2017
4. Nguyễn Quang Quyền (2001), "Đáy chậu", Bài giảng giải phẫu học, NXB Y Học, 256-268.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng giải phẫu học
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền
Nhà XB: NXB Y Học
Năm: 2001
23. T. Fujimura (2012), "Assessment of lower urinary tract symptoms in men by international prostate symptom score and core lower urinary tract symptom score", BJU Int. 109(10), 1512-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessment of lower urinary tract symptoms in men by international prostate symptom score and core lower urinary tract symptom score
Tác giả: T. Fujimura
Năm: 2012
38.T. P. Stephenson D. J. Farrar (1977), "Urodynamic study of 15 patients with postmicturition dribble", Urology. 9(4), 404-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urology
Tác giả: T. P. Stephenson, D. J. Farrar
Năm: 1977
45.Jepsen JB Bruskewitz RC (2000), "Clinical manifestations and indications for treatment. In: Lepor H, editor. Prostatic diseases", 127–142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prostatic diseases
Tác giả: Jepsen JB, Bruskewitz RC
Nhà XB: Lepor H
Năm: 2000
50.H. C. Jeong (2019), "Development and validation of a symptom assessment tool for postmicturition dribble: A prospective, multicenter, observational study in Korea", PLoS One. 14(10), e0223734 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development and validation of a symptom assessment tool for postmicturition dribble: A prospective, multicenter, observational study in Korea
Tác giả: H. C. Jeong
Năm: 2019
52.Rowan ti. Walker (1989), "BLADDER CONTROL - A SIMPLE SELF- HELP GUIDE. Richard J. Millard", Australian and New Zealand Journal of Medicine. 19(1), 30-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BLADDER CONTROL - A SIMPLE SELF- HELP GUIDE
Tác giả: Rowan ti. Walker
Nhà XB: Australian and New Zealand Journal of Medicine
Năm: 1989
61.R. Y. Chung (2013), "Lower urinary tract symptoms (TCĐTND) as a risk factor for depressive symptoms in elderly men: results from a large prospective study in Southern Chinese men", PLoS One. 8(9), e76017 Link
1. Trần Lê Linh Phương và Huỳnh Đắc Nhất (2016), "Đặc điểm về triệu chứng, mức độ than phiền và độ hài lòng của nam giới có triệu chứng đường tiết niệu dưới (TCĐTND) tại BVĐHYD TPHCM", Y Học TP. Hồ Chí Minh 20(2) Khác
3. Nguyễn Vĩnh Lạc, Nguyễn Khoa Hùng, Lê Đình Khánh, Lê Đình Đạm, Nguyễn Xuân Mỹ, (2018), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và khảo sát nguyên nhân của các triệu chứng đường tiết niệu dưới", Y Học TP. Hồ Chí Minh 22(4) Khác
5. D. E. Irwin (2006), "Population-based survey of urinary incontinence, overactive bladder, and other lower urinary tract symptoms in five countries: results of the EPIC study", Eur Urol. 50(6), 1306-14;discussion 1314-5 Khác
6. J. Paterson, C. B. Pinnock V. R. Marshall (1997), "Pelvic floor exercises as a treatment for post-micturition dribble", Br J Urol. 79(6), 892-7 Khác
7. Y. Wang (2015), "Prevalence, risk factors and the bother of lower urinary tract symptoms in China: a population-based survey", Int Urogynecol J.26(6), 911-9 Khác
9. G. Dorey (2004), "Pelvic floor exercises for treating post-micturition dribble in men with erectile dysfunction: a randomized controlled trial", Urol Nurs. 24(6), 490-7, 512 Khác
10. M. Gotoh (2012), "Correlations among Lower Urinary Tract Symptoms, Bother, and Quality of Life in Patients with Benign Prostatic Hyperplasia and Associated Fluctuations with Tamsulosin Administration", Low Urin Tract Symptoms. 4(1), 45-50 Khác
11. P. Bader (2001), "Inefficient urethral milking secondary to urethral dysfunction as an additional risk factor for incontinence after radical prostatectomy", J Urol. 166(6), 2247-52 Khác
12. J. Koskimaki (1998), "Prevalence of lower urinary tract symptoms in Finnish men: a population-based study", Br J Urol. 81(3), 364-9 Khác
13. A. J. Lee (1998), "The natural history of untreated lower urinary tract symptoms in middle-aged and elderly men over a period of five years", Eur Urol. 34(4), 325-32 Khác
14. Y. Homma (2006), "Epidemiologic survey of lower urinary tract symptoms in Japan", Urology. 68(3), 560-4 Khác
15. D. E. Irwin (2009), "Prevalence, severity, and symptom bother of lower urinary tract symptoms among men in the EPIC study: impact of overactive bladder", Eur Urol. 56(1), 14-20 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm