1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kết quả chẩn đoán và xử trí cấp cứu chấn thương đường tiết niệu dưới trong gãy khung chậu

126 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá kết quả chẩn đoán và xử trí cấp cứu chấn thương đường tiết niệu dưới trong gãy khung chậu
Tác giả Phan Văn Ở
Người hướng dẫn PGS. TS. Ngô Xuân Thái
Trường học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngoại - Tiết niệu
Thể loại Luận văn chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Đại cương về chấn thương đường tiết niệu dưới (14)
    • 1.2. Đại cương về gãy khung chậu (26)
    • 1.3. Chẩn đoán chấn thương đường tiết niệu dưới kèm gãy khung chậu (29)
    • 1.4. Điều trị chấn thương đường tiết niệu dưới kèm theo gãy khung chậu (36)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (46)
    • 2.1. Thiết kế nghiên cứu (46)
    • 2.2. Thời gian nghiên cứu (46)
    • 2.3. Địa điểm nghiên cứu (46)
    • 2.4. Đối tƣợng nghiên cứu (46)
    • 2.5. Các biến số nghiên cứu (47)
    • 2.6. Kiểm soát sai lệch (60)
    • 2.7. Thu thập và xử lý phân tích số liệu (60)
    • 2.8. Đạo đức trong nghiên cứu (61)
    • 2.9. Sơ đồ nghiên cứu (62)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (63)
    • 3.1. Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu (63)
    • 3.2. Tình hình sơ cứu tuyến trước (65)
    • 3.3. Tình trạng bệnh nhân lúc nhập viện (67)
    • 3.4. Thống kê các thương tổn trong cấp cứu (68)
    • 3.5. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng chấn thương của mẫu nghiên cứu (72)
    • 3.6. Xử trí trong cấp cứu (75)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (81)
    • 4.1. Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu (81)
    • 4.2. Tình hình sơ cứu tuyến trước (84)
    • 4.3. Tình trạng bệnh nhân lúc nhập viện (85)
    • 4.4. Bàn luận đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng các tổn thương (87)
    • 4.5. Đặc điểm các chấn thương (91)
    • 4.6. Đánh giá kết quả điều trị (94)
    • 4.7. Đánh giá biến chứng (98)
  • KẾT LUẬN (105)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (109)
  • PHỤ LỤC (118)
    • ảng 1.1: Phân độ vỡ bàng quang theo AAST (0)

Nội dung

Tuy nhiên gãy xương chậu có biến dạng nhiều còn có thể gây nênnhững thương tổn nặng cho các bộ phận trong chậu hông bé và vùng đáy chậu [5].Các thương tổn cơ quan khác liên quan đến gãy

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Hồi cứu mô tả hàng loạt trường hợp bệnh.

Thời gian nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu

Tại khoa Ngoại Tiết niệu bệnh viện Chợ Rẫy.

Đối tƣợng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân gãy khung chậu có chấn thương đường tiết niệu dưới vào cấp cứu.

Từ ngày 01/01/2017 đến ngày 30/01/2021, tất cả các bệnh nhân bị chẩn đoán gãy khung chậu kèm chấn thương đường tiết niệu dưới đã được điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy Nghiên cứu này nhằm đánh giá các phương pháp điều trị, tỷ lệ thành công và các biến chứng liên quan đối với nhóm bệnh nhân này Việc tiếp cận toàn diện giúp cải thiện chất lượng chăm sóc, nâng cao khả năng hồi phục và giảm thiểu các rủi ro liên quan đến chấn thương phức tạp.

Chọn tất cả các hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin nghiên cứu.

Tất cả bệnh nhân đa chấn thương nhập khoa cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy đều gặp các tổn thương nghiêm trọng như gãy khung chậu, tổn thương các cơ quan vùng chậu, vỡ bàng quang và niệu đạo, có thể kèm rách âm đạo hoặc trực tràng Những bệnh nhân này có thể đã được sơ cứu ban đầu hoặc chưa được sơ cứu, đòi hỏi quá trình chẩn đoán và điều trị nhanh chóng để giảm thiểu biến chứng Việc xử lý các tổn thương này là ưu tiên hàng đầu nhằm bảo vệ tính mạng và phục hồi chức năng cho bệnh nhân.

- Những bệnh nhân nhập viện để giải quyết tiếp các thương tích còn lại sau giai đoạn cấp cứu ban đầu.

HS A không đầy đủ dữ liệu nghiên cứu.

Các biến số nghiên cứu

- Tên, địa chỉ, nghề nghiệp, lý do nhập viện: Ghi nhận tại HSBA.

- Ngày nhập viện, ngày mổ: Ghi nhận tại HSBA.

Các biến số liên quan đến dịch tễ

Tuổi là biến định lượng liên tục, được tính từ năm sinh của bệnh nhân đến năm bệnh nhân nhập viện cấp cứu, phản ánh thời gian sống và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân Mã hóa nhóm tuổi giúp phân loại dữ liệu theo các nhóm tuổi khác nhau, từ đó hỗ trợ phân tích hiệu quả hơn trong các nghiên cứu y học Việc xác định nhóm tuổi chính xác đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá rủi ro, dự đoán diễn biến bệnh và xây dựng phương pháp điều trị phù hợp Các phân nhóm tuổi còn giúp tối ưu hóa các chiến lược phòng ngừa, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

- Giới tính: Biến nhị giá, gồm 2 giá trị nam và nữ.

Nguyên nhân tai nạn là các yếu tố ghi nhận trong hồ sơ bệnh án gây ra sự cố ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân, dẫn đến tình trạng phải nhập viện cấp cứu Việc xác định chính xác nguyên nhân giúp đa dạng hóa phương pháp điều trị và phòng ngừa tái phát trong tương lai Ngoài ra, nguyên nhân tai nạn còn được mã hóa dưới dạng biến danh định hoặc biến thứ tự để thuận lợi trong quá trình phân tích dữ liệu y tế và quản lý hồ sơ bệnh án.

Thời gian bị tai nạn, tính bằng giờ, là khoảng thời gian từ khi bệnh nhân gặp tai nạn cho đến khi nhập viện cấp cứu ban đầu Thời gian này là biến định lượng liên tục, phản ánh chính xác thời điểm xảy ra sự cố và ảnh hưởng đến quá trình điều trị Việc xác định rõ thời gian bị tai nạn giúp các nhân viên y tế đánh giá mức độ tổn thương và lên kế hoạch cấp cứu phù hợp, từ đó nâng cao khả năng hồi phục cho bệnh nhân.

Thời gian nhập viện đến lúc xử trí cấp cứu là một biến số liên tục, đo bằng khoảng thời gian tính từ khi bệnh nhân nhập viện cho đến khi được tiến hành các biện pháp cấp cứu cần thiết Thời gian này đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả chăm sóc y tế và ảnh hưởng đến kết quả điều trị Việc rút ngắn thời gian xử lý cấp cứu có thể cải thiện tỷ lệ sống sót và giảm thiểu biến chứng cho bệnh nhân.

Bảng 2.5: Các biến số liên quan đến dịch tễ

Biến số Loại biến Giá trị

Giới Nhị giá 1: Nam 0: Nữ

Nguyên nhân tai nạn: Định danh Tai nạn giao thông

Tai nạn sinh hoạt Tai nạn lao động Tai nạn khác (ẩu đả).

Thời gian nhập viện Định lƣợng Giờ

Thời gian xử trí cấp cứu Định lƣợng Giờ

Các biến số liên quan chẩn đoán và xử trí

2.5.3.1 Ghi nhận tình hình sơ cứu

Tình hình sơ cứu tuyến trước được ghi nhận rõ ràng trong hồ sơ bệnh án của tuyến trước chuyển tới, phản ánh các phương pháp xử trí cấp cứu đã thực hiện Việc này giúp đánh giá hiệu quả và cung cấp thông tin chính xác về tình trạng cấp cứu ban đầu Các dữ liệu này thường có dạng biến nhị giá với hai giá trị: có hoặc không, giúp đơn giản hóa quá trình ghi nhận và theo dõi chăm sóc Việc ghi nhận đầy đủ các phương pháp sơ cứu tuyến trước là yếu tố quan trọng để đảm bảo tiếp tục điều trị chính xác và hiệu quả cho bệnh nhân.

Thời gian từ khi xảy ra tai nạn đến khi bệnh nhân được sơ cứu tại cơ sở y tế đầu tiên là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả điều trị Thời gian này được coi là biến định lượng liên tục, thể hiện mức độ khẩn cấp của phản ứng sơ cứu Để thuận tiện trong phân tích, thời gian sơ cứu được mã hóa thành các nhóm thứ tự gồm ba phân nhóm, giúp theo dõi và đánh giá hiệu quả của quá trình cấp cứu kịp thời.

- Nhóm 1: < 1 giờ, Nhóm 2: 1-2 giờ, Nhóm 3: > 2 giờ

Thời gian từ khi sơ cứu ban đầu đến khi nhập viện tại Bệnh viện Chợ Rẫy được ghi nhận là một biến liên tục và sau đó được phân thành bốn nhóm mã hóa theo thứ tự: Nhóm 1 gồm dưới 6 giờ, Nhóm 2 từ 6 đến 24 giờ, Nhóm 3 từ 2 đến 7 ngày, và Nhóm 4 sau hơn 1 tuần Thông tin này giúp đánh giá nhanh chóng về tiến trình cấp cứu và chuyển tuyến trong quá trình xử lý bệnh nhân.

Bảng 2.6: Các biến số ghi nhận tình hình bệnh nhân đƣợc sơ cứu

Biến số Loại biến Giá trị

Tình hình sơ cứu tuyến trước

Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá

1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không Thời gian từ lúc tai nạn đến lúc sơ cứu Biến thứ tự 1: < 1 giờ

2: 1-2 giờ 3: > 2 giờ Ghi nhận thời gian từ lúc sơ cứu đến lúc nhập bệnh viện Chợ Rẫy

2.5.3.2 Ghi nhận tình trạng bệnh nhân lúc nhập viện

Tại bệnh viện Chợ Rẫy, tình trạng bệnh nhân lúc nhập viện được đánh giá dựa trên điểm Glasgow để xác định mức độ tri giác và tình trạng tuần hoàn thông qua đánh giá toàn trạng, mạch, huyết áp Việc ghi nhận chính xác các dấu hiệu này rất quan trọng trong quá trình sơ cứu và điều trị ban đầu.

3 biến choáng, mê, lơ mơ.

Choáng: Ghi nhận độ choáng chấn thương.

Mê, lơ mơ là tình trạng tri giác của bệnh nhân khi nhập viện, được đánh giá dựa trên thang điểm Glasgow Các mức độ tri giác bao gồm: nhẹ (13-15 điểm), trung bình (9-12 điểm), và nặng hoặc hôn mê (3-8 điểm) Việc phân loại chính xác theo thang điểm Glasgow giúp xác định mức độ nặng nhẹ của tình trạng bệnh và hướng điều trị phù hợp Thang điểm này là công cụ quan trọng trong chẩn đoán và theo dõi diễn biến của bệnh nhân bị tổn thương não hoặc các vấn đề về ý thức.

- Lƣợng máu truyền trong 24 giờ (ml): Biến định lƣợng liên tục.

Đánh giá các tổn thương xương khác là bước quan trọng nhằm ghi nhận các tổn thương dựa trên chẩn đoán lâm sàng tại HSBA và kết quả hình ảnh bệnh lý như X-quang, CT Scan, MRI Quá trình này giúp xác định chính xác loại tổn thương xương, đồng thời phục vụ quá trình điều trị và theo dõi bệnh hiệu quả Việc phân loại và ghi nhận đầy đủ các tổn thương xương hỗ trợ trong việc đưa ra quyết định chẩn đoán chính xác và xây dựng phương pháp điều trị phù hợp.

Xương chậu, nhiều xương, cột sống, xương sườn, xương đùi.

- Các tổn thương cơ quan khác: Các chấn thương cơ quan khác được ghi nhận tại HSBA, là biến định danh.

- Rách cơ hoành, tổn thương màng phổi, tổn thương các cơ quan khác trong ổ bụng, tụ máu lớn sau phúc mạc.

- Các tổn thương đường tiết niệu dưới phức tạp: Biến định danh Bàng quang,niệu đạo, âm đạo, trực tràng, vùng đáy chậu, CQSDN.

Bảng 2.7: Các biến số tình trạng bệnh nhân lúc vào viện

Biến số Loại biến Giá trị

Tình trạng nhập viện Định danh 1 Mê

3 Khác Lƣợng máu truyền trong 24 giờ Định lƣợng ml

Các tổn thương đường niệu dưới phức tạp:

Niệu đạo Âm đạo trực tràng vùng đáy chậu

Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá

1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không Các tổn thương xương khác:

Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá

1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không Các tổn thương cơ quan khác:

Tổn thương các tạng khác trong ổ bụng

Tụ máu lớn sau phúc mạc

Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá

1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không

2.5.3.3 Các dấu hiệu lâm sàng

- Các dấu hiện lâm sàng đƣợc các bác sĩ chuyên khoa ghi nhận tại HS A.

- Liên quan đến bệnh cảnh đa thương: Là biến nhị giá.

Phản ứng thành bụng, biến dạng lồng ngực, biến dạng tứ chi…

- Liên quan đến bệnh cảnh tổn thương bàng quang: iến nhị giá.

Tiểu máu, đau bụng, bụng chướng, vết thương có đường vào đường ra ở hạ vị, đáy chậu, mông.

- Liên quan đến bệnh cảnh tổn thương niệu đạo: Biến nhị giá. Ở nam:

Tiểu máu, chảy máu miệng niệu đạo, tiểu buốt, bí tiểu. ìu, tầng sinh môn, dương vật sưng tấy.

Khó hoặc không thể đặt ống thông tiểu. Ở nữ:

Máu ở niệu đạo hoặc âm hộ, bí tiểu, tiểu máu, sƣng, rách âm đạo.

-Thăm trực tràng, ghi nhận tổn thương phối hợp như vỡ mặt trước trực tràng: Biến nhị giá.

Khối máu tụ, nước tiểu lùng nhùng quanh tuyến tiền liệt.

- Liên quan đến gãy khung chậu: Ghi nhận các triệu chứng khi khám bệnh nhân tại HSBA: Biến nhị giá.

- Tổn thương xương chậu được bác sĩ chuyên khoa CTCH ghi nhận phân loại theo tiêu chuẩn Tile: Biến định danh.

Sƣng to và bầm tím vùng chậu, Bầm máu vùng tầng sinh môn.

Có thể biến dạng chân, xoay trong, xoay ngoài hoặc ngắn chi. Ép bửa khung chậu gây đau, vỡ khung chậu.

Gãy xương chậu thường được xác định bởi vị trí gãy tại ngành ngồi mu hoặc chậu mu, có thể xuất hiện một hoặc hai bên Đặc điểm quan trọng bao gồm độ di lệch của các đầu xương gãy, dấu hiệu toác rộng khớp mu và cảm giác đau chói tại chỗ gãy khi ép vào khung chậu Ngoài ra, có thể xuất hiện máu tụ vùng xương gãy phản ánh mức độ tổn thương của khu vực này.

Bảng 2.8: Các biến số triệu chứng lâm sàng

Biến số Loại biến Giá trị

4 Vết thương có đường vào đường ra ở hạ vị, đáy chậu, mông

Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá

1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không

Chấn thương niệu đạo Ở nam

2 Chảy máu miệng niệu đạo

5 ìu, tầng sinh môn, dương vật sưng tấy

6 Khó hoặc không thể đặt ống thông tiểu

Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá

1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không Ở nữ

1 Máu ở niệu đạo hoặc âm hộ

Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá

1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không

1 Sƣng to và bầm tím vùng chậu

2 Bầm máu vùng đáy chậu

Biến số Loại biến Giá trị

3 Có thể biến dạng chân

4 Xoay trong, xoay ngoài hoặc ngắn chi

5 Ép bửa khung chậu gây đau

Nhị giá Nhị giá Nhị giá

1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không

Phân loại gãy xương chậu theo Tile

Các triệu chứng lâm sàng khác tổn thương phối hợp Định danh

2.5.3.4 Các dấu hiệu cận lâm sàng

Người bệnh được xử trí cấp cứu và đánh giá mức độ chấn thương, làm các xét nghiệm cận lâm sàng để chẩn đoán, theo dõi và điều trị.

Kết quả cận lâm sàng đƣợc ghi nhận tại thời điểm mới nhập viện để chẩn đoán và phân loại tổn thương.

Ngoài ra, các xét nghiệm cận lâm sàng còn đƣợc thực hiện để theo dõi biến chứng sau phẫu thuật và đánh giá kết quả điều trị.

Xét nghiệm máu, nước tiểu và các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như X-quang, siêu âm bụng đều được thực hiện trên hệ thống máy xét nghiệm hiện đại tại Bệnh viện Chợ Rẫy, giúp đảm bảo kết quả chính xác và nhanh chóng cho quá trình chẩn đoán và điều trị.

CT Scan, đánh giá tổn thương được các bác sĩ chuyên khoa của bệnh viện Chợ Rẫy ghi nhận tại HSBA.

- Các xét nghiệm máu: Là các biến định lƣợng liên tục.

Tổng phân tích tế bào máu: Hồng cầu (l/l), Hct (%).

- X quang ghi nhận kết quả tại hồ sơ bệnh án khi bệnh nhân mới nhập viện: Biến nhị giá hoặc định danh.

Gãy một phần khung chậu: như gãy một phần cánh chậu, gãy một cành xương mu, không làm mất vững khung chậu.

Gãy khung chậu thực sự: Làm mất vững.

X quang tổn thương đi kèm: thủng tạng rỗng…

Kết quả siêu âm bụng ban đầu khi bệnh nhân mới nhập viện cho thấy tổn thương hệ tiết niệu, đồng thời còn phát hiện các tổn thương ở các cơ quan khác, cho thấy đây là tình trạng biến chứng đa cơ quan.

Ghi nhận tổn thương hệ tiết niệu và các tổn thương các cơ quan khác kèm theo:

- CT Scan sọ não: Ghi nhận tổn thương thần kinh sọ não kèm theo: Biến định danh

Bảng 2.9: Các biến số triệu chứng cận lâm sàng

Biến số Loại biến Giá trị

- X quang bụng không chuẩn bị:

2 Liềm hơi dưới cơ hoành

- X quang bàng quang có thuốc cản quang

Nhị giá Định danh Nhị giá Nhị giá

1: Có 0: KhôngPhải, Trái, Hai bên1: Có 0: Không1: Có 0: Không1: Có 0: Không

Vỡ bàng quang trong phúc mạc

Vỡ bàng quang ngoài phúc mạc

1 Thuốc cản quang giữa quai ruột

2 Thuốc cản quang túi cùng Douglas

3 àng quang hình giọt nước

4 Thuốc cản quang trong hố chậu

2 Tổn thương phổi, màng phổi

Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá

1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không

Triệu chứng siêu âm ổ bụng:

3 àng quang đẩy lên cao

Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá Định danh

1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không Gan; Lách; Thận… Triệu chứng CT Scan ổ bụng:

Nhị giá Nhị giá Định danh

1: Có 0: Không 1: Có 0: Không Gan; Lách; Thận … Các triệu chứng CLS khác:

Bảng 2.10: Các biến số các cận lâm sàng khác

Biến số Loại biến Giá trị

Tổng phân tích TB máu

Hct Định lƣợng liên tục Định lƣợng liên tục

2.5.3.5 Các phương pháp xử trí iến nhị giá (Có/không).

- Hồi sức chống choáng: Là trình trạng bệnh nhân đƣợc xử trí hồi sức cấp cứu trong tình trạng choáng khi nhập viện: iến định danh.

- Xử trí cấp cứu: Ghi nhận những xử trí cấp cứu khi bệnh nhân vào viện: iến định danh.

Phối hợp điều trị và theo thứ tự ƣu tiên các chuyên khoa: hô hấp, mạch máu, vỡ tạng, chấn thương sọ não, tiết niệu, gãy xương.

Ghi nhận các xử trí cấp cứu đường tiết niệu dưới: iến định danh

Mở bàng quang ra da bằng mổ mở.

Mở bàng quang ra da kèm giải quyết các tổn thương phối hợp: trong ổ bụng (vỡ tạng đặc, tạng rỗng, trực tràng).

Vỡ bàng quang trong hoặc ngoài phúc mạc.

Dẫn lưu ổ máu tụ, dẫn lưu Fullerton.

Nối niệu đạo thì đầu.

Ghi nhận xử trí cấp cứu vỡ khung chậu: Biến định danh

Khâu khớp mu bằng chỉ thép.

Cố định ngoài khung chậu.

Ghi nhận các xử trí phẫu thuật của chuyên khoa khác: Biến định danh

Thời gian nằm viện: Là khoáng thời gian bệnh nhân nhập viện điều trị đến khi ra viện: Biến định lƣợng liên tục.

Các biến chứng sớm sau phẫu thuật: Biến nhị giá (Có/không).

Bảng 2.11: Các biến số liên quan xử trí cấp cứu và biến chứng sau phẫu thuật

Biến số Loại biến Giá trị

Hồi sức chống choáng Nhị giá 1: Có 0: Không

Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá

1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không Các biến số liên quan xử trí cấp cứu đường tiết niệu dưới.

Xử trí cấp cứu đường tiết niệu dưới:

Mở bàng quang ra da bằng mổ mở.

Mở bàng quang ra da kèm giải quyết các tổn thương phối hợp: trong ổ bụng (vỡ tạng đặc, tạng rỗng, trực tràng).

Vỡ bàng quang trong hoặc ngoài phúc mạc

Dẫn lưu ổ máu tụ, dẫn lưu Fullerton.

Nối niệu đạo thì đầu

Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá

1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không

Các biến số liên quan xử trí cấp cứu khung chậu và biến chứng sau phẫu thuật

Khâu khớp mu bằng chỉ thép

Cố định ngoài khung chậu

Nhị giá Nhị giá Nhị giá

1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không

Các biến chứng sớm sau phẫu thuật

Biến số Loại biến Giá trị

Nhiễm khuẩn khối máu tụ

Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá

1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không Các biến số liên quan xử trí cấp các cơ quan khác

Các tổn thương cơ quan khác:

Tổn thương các tạng khác trong ổ bụng

Tụ máu lớn sau phúc mạc

Nhị giá Nhị giá Nhị giá Nhị giá

1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không 1: Có 0: Không Đánh giá kết quả chẩn đoán và xử trí cấp cứu

2.5.4. Đánh giá kết quả chẩn đoán và xử trí của tuyến trước: Ghi nhận các tổn thương của bệnh nhân tại thời điểm khi nhập viện, sau khi được tuyến trước xử trí cấp cứu. iến định danh.

- Chảy máu âm đạo, choáng nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn vùng chậu, rò nước tiểu- phân, suy thận, rối loạn đông máu.

Hiệu quả xử trí cấp cứu chấn thương niệu đường tiết niệu dưới được ghi nhận rõ rệt sau khi bệnh nhân được điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy, cho thấy phương pháp xử lý nhanh chóng và chính xác góp phần giảm thiểu biến chứng và phục hồi chức năng niệu đạo hiệu quả Các kỹ thuật cấp cứu tiên tiến giúp ổn định tình trạng bệnh nhân, giảm thiểu tổn thương mô mềm và đảm bảo quá trình hồi phục diễn ra thuận lợi Đánh giá sau xử trí cho thấy khả năng phục hồi tốt và ít biến chứng lâu dài, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp cận y tế kịp thời và chuyên môn cao trong điều trị chấn thương niệu đường tiết niệu dưới.

Kiểm soát sai lệch

Kiểm soát sai lệch lựa chọn

- Chọn đúng các HS A của bệnh nhân gãy khung chậu có chấn thương đường tiết niệu dưới trong quá trình nghiên cứu.

- Dựa vào mã số nhập viện, thu thập dƣa vào mã y tế, số bảo hiểm y tế để thu thập thông tin chính xác.

Kiểm soát sai lệch thông tin

- Thiết kế phiếu thu thập thông tin rõ ràng, lấy đầy đủ các thông tin cần thiết.

Dựa vào hồ sơ HS A, chúng tôi thu thập các thông tin về chẩn đoán và xử trí đã được xác định trước khi nhập viện Thông tin này giúp xác định chính xác các phương pháp điều trị đã áp dụng, từ đó hỗ trợ quá trình chẩn đoán và quản lý bệnh nhân hiệu quả hơn Việc khai thác dữ liệu hồ sơ y tế trước đó đảm bảo quá trình điều trị phù hợp và tối ưu hóa kết quả chữa trị.

Thu thập và xử lý phân tích số liệu

- Dữ liệu đƣợc thu thập theo mẫu bệnh án thu thập số liệu.

- Hồ sơ bệnh án được lưu trữ Các số liệu thu thập được trong các phiếu bệnh án nghiên cứu đƣợc phân tích theo dạng bảng, biểu.

- Số liệu sau khi thu thập đƣợc nhập và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0.

- Các biến nhị giá, biến thứ tự và biến danh định sẽ được trình bày dưới dạng tần suất và tỷ lệ thông qua bảng, biểu đồ.

Biến định tính được mô tả dưới dạng tần suất và tỷ lệ %, giúp ước lượng mối liên hệ giữa các biến số với kết quả cần quan tâm là tử vong Phương pháp kiểm thống kê phù hợp như kiểm χ² hoặc các phép kiểm khác có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05, đảm bảo tính khách quan và chính xác của phân tích.

Biến định lượng được mô tả dưới dạng trung bình và độ lệch chuẩn cho các dữ liệu phân phối chuẩn, hoặc trung vị và độ lệch tứ phần 25% - 75% cho các dữ liệu không chuẩn Việc so sánh giá trị của biến giữa hai nhóm kết quả điều trị (sống/thử vong) được thực hiện bằng phép kiểm t hoặc Mann-Whitney để xác định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với mức p < 0,05.

Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu đƣợc thông qua hội đồng y đức của ĐHYD TP HCM số 59/HĐ ĐĐ- ĐHYD, ngày 28/01/2021.

Tất cả dữ liệu thu thập được đều được mã hóa và bảo mật chặt chẽ, đảm bảo an toàn trong quá trình lưu trữ Thông tin này được lưu trữ trong máy tính cá nhân có cài đặt mật khẩu bảo vệ, chỉ có nghiên cứu viên mới có quyền truy cập Điều này nhằm đảm bảo tính riêng tư và bảo mật cho dữ liệu nghiên cứu, tuân thủ các tiêu chuẩn bảo vệ thông tin.

Sơ đồ nghiên cứu

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ nghiên cứu

HỒ SƠ ỆNH ÁN CỦA BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG ĐƯỜNG TIẾT NIỆU DƯỚI CÓ GÃY KHUNG CHẬU TẠI KHOA NGOẠI TIẾT NIỆU BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Ghi nhận đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Ghi nhận phương pháp điều trị và kết quả điều trị đến khi ra viện

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu

Biểu đồ 3.1: Đặc điểm về giới tính (n6)

Nhận xét: Tỉ lệ BN nam trong mẫu nghiên cứu gấp đôi N nữ Khác biệt có ý nghĩa thống kê: p = 0,046. Đặc điểm về tuổi

Bảng 3.13: Phân bố nhóm tuổi (n6)

Nhóm tuổi Số BN Tỉ lệ (%)

Nhận xét: Tuổi trung bình 35,1 ± 12, thấp nhất 16, cao nhất 62 Trong đó nhóm 21-40 chiến tỷ lệ cao nhất 55,6%. Đặc điểm về nghề nghiệp

Bảng 3.14: Đặc điểm về nghề nghiệp (n6)

Nghề nghiệp Số BN Tỉ lệ (%) ác sĩ 1 2,8

Nhận xét: Công nhân, nông dân và người lao động tự do là nhóm BN có tỉ lệ cao nhất trong mẫu nghiên cứu.

Bảng 3.15: Nguyên nhân chấn thương (n6)

Nguyên nhân chấn thương Số BN Tỉ lệ (%)

- Tỉ lệ BN tai nạn giao thông chiếm đa số trong nguyên nhân gây chấn thương trong mẫu nghiên cứu.

- Tai nạn sinh hoạt chiếm tỉ lệ thấp nhất.

Tình hình sơ cứu tuyến trước

Tình hình xử trí tuyến trước

Bảng 3.16: Tình hình xử trí tuyến trước (n = 36)

Cách xử trí cấp cứu Số BN Tỉ lệ (%)

Phần lớn các bệnh nhân đến cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy (75%) được xử trí cấp cứu kịp thời, trong đó giảm đau chiếm tỉ lệ cao nhất, phản ánh tầm quan trọng của việc kiểm soát đau trong quá trình điều trị Song song đó, chống choáng cũng là một phần thiết yếu trong các phương pháp cấp cứu tại đây, đảm bảo tính mạng và ổn định tình trạng bệnh nhân.

- Mổ cấp cứu chiếm tỉ lệ thấp nhất.

Thời gian từ lúc chấn thương đến lúc sơ cứu

Bảng 3.17: Thời gian từ lúc chấn thương đến lúc sơ cứu (n 6)

Thời gian Số BN Tỷ lệ (%)

Thời gian từ khi gặp chấn thương đến khi được sơ cứu là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả phản ứng cấp cứu Theo nghiên cứu, tỷ lệ các trường hợp nhận được sơ cứu trong vòng dưới 1 giờ chiếm phần lớn, cho thấy sự nhanh chóng và kịp thời trong xử lý tình huống khẩn cấp Trong khi đó, thời gian từ 1 đến 2 giờ sau chấn thương cũng chiếm tỷ lệ đáng kể, gần bằng với các trường hợp sơ cứu sau hơn 2 giờ, phản ánh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và hệ thống cấp cứu để giảm thiểu thời gian phản hồi Điều này nhấn mạnh cần đẩy mạnh công tác đào tạo và tổ chức hệ thống cấp cứu hiệu quả hơn để đảm bảo nạn nhân được chăm sóc sớm nhất có thể.

Thời gian từ lúc sơ cứu đến lúc nhập viện tại Chợ Rẫy

Bảng 3.18: Thời gian từ lúc sơ cứu đến lúc nhập viện (n6)

Thời gian Số BN Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Có 24 BN nhập viện trước 6 giờ (66,7 %) sau sơ cứu, 10 BN nhập viện trong vòng 24 giờ sau sơ cứu (27,8%), 2 BN nhập viện trong vòng 1 tuần sau sơ cứu (5,6%).

Thời gian từ lúc nhập viện đến lúc phẫu thuật tại bệnh viện Chợ Rẫy 3.2.4.

Bảng 3.19: Thời gian từ lúc nhập viện đến lúc phẫu thuật (n2)

Thời gian (giờ) Số BN Tỷ lệ (%)

- Thời gian phẫu thuật sớm nhất là trong 2 giờ có 2 BN (6,2%).

- Đa số BN phẫu thuật trong vòng 8 giờ.

- Trong 36 BN của mẫu nghiên cứu có 32 BN phẫu thuật tại bệnh viện Chợ Rẫy:

Có 6 N đã phẫu thuật ở tuyến trước chuyển lên có 4 BN phải phẫu thuật lại.

- Trong 6 N đã phẫu thuật tuyến trước không có BN nào tử vong.

Tình trạng bệnh nhân lúc nhập viện

Tình trạng bệnh nhân sơ cứu và lúc nhập viện

Bảng 3.20: Tình hình bệnh nhân lúc sơ cứu (n = 36)

Tình trạng Lúc sơ cứu Lúc nhập viện

- Tỉ lệ BN trong tình trạng choáng chấn thương lúc sơ cứu là 21 BN (58,3%), khi nhập bệnh viện Chợ rẫy là 13 BN (36,1%) chiếm hơn 1/3 trong nhóm N nghiên cứu.

- Không có BN nào trong tình trạng hôn mê.

Tình trạng huyết động khi cấp cứu

Bảng 3.21: Tình trạng huyết động khi nhập viện cấp cứu (n6)

Tình trạng huyết động Số BN Tỉ lệ (%) Ổn (M 80mmHg) 15 41,7

Nhận xét: Có 15 BN (41,7%) huyết động học ổn định lúc nhập viện và 21 BN

Lƣợng máu truyền trong vòng 24 giờ sau nhập viện

Bảng 3.22: Lƣợng máu truyền trong vòng 24 giờ nhập viện (n = 13)

Lƣợng máu truyền Số BN Tỉ lệ (%)

- Số BN truyền máu: 13 BN chiếm tỉ lệ 36,1%.

- Lƣợng máu BN truyền trung bình 946ml máu, ít nhất 350ml, nhiều nhất1400ml.

Thống kê các thương tổn trong cấp cứu

Vị trí gãy khung chậu

Bảng 3.23: Vị trí gãy khung chậu (n = 36)

Vị trí gãy khung chậu Số BN Tỉ lệ (%)

Nhận xét: Gãy khung chậu hai bên chiếm tỉ lệ cao nhất Tỉ lệ gãy khung chậu bên phải và bên trái có tỉ lệ nhƣ nhau.

Phân loại gãy khung chậu theo Tile

Biểu đồ 3.2: Phân loại tổn thương khung chậu theo Tile (n6)

Nhận xét: Chấn thương khung chậu loại C chiếm tỉ lệ cao nhất (48,0%), tiếp theo là loại A (32,0%) Loại B chiếm tỉ lệ thấp nhất (20%).

Bảng 3.24: Tổn thương các xương khác (n = 36)

Loại gãy xương Số BN Tỉ lệ (%)

Cẳng chân 4 11,1 Đùi+ cẳng chân 1 2,8

- Tỉ lệ N gãy xương chi dưới cao hơn tỉ lệ N gãy xương chi trên.

- Trong 4 N gãy xương cẳng chân: có 1 BN gãy hở 2 xương cẳng chân trái kèm đứt ĐM chày trước trái (khâu nối tận – tận ĐM).

- N gãy xương đùi + cẳng chân: là gãy hở toàn bộ đùi cẳng chân phải kèm gãy ổ cối 2 bên, BN rất nặng và tử vong sau 48 giờ nhập viện.

Tổn thương các cơ quan trong chậu hông bé và cơ quan khác

3.4.4.1 Tổn thương các cơ quan trong ổ bụng

Bảng 3.25: Tổn thương các cơ quan trong ổ bụng

Cơ quan tổn thương Số BN Tỉ lệ (%)

- Tổn thương gan trong mẫu nghiên cứu chiếm tỉ lệ cao nhất.

- Rách mạc treo ruột và chấn thương thận có tỉ lệ tương đương nhau.

- Vỡ ruột non chiếm tỉ lệ thấp nhất.

3.4.4.2 Tổn thương đường tiết niệu dưới

Biểu đồ 3.3: Tỉ lệ chấn thương đường tiết niệu dưới (n 6)

Vỡ bàng quang trong+ ngoài phúc mạc

Vỡ bàng quang + chấn thương niệu đạo

Vỡ bàng quang ngoài phúc mạc

Vỡ bàng quang trong phúc mạc

- Tỉ lệ vỡ bàng quang trong phúc mạc và chấn thương niệu đạo chiếm tỉ lệ cao nhất.

- Tỉ lệ chấn thương kết hợp bao gồm vỡ bàng quang + chấn thương niệu đạo và vỡ bàng quang trong + ngoài phúc mạc chiếm tỉ lệ thấp nhất.

3.4.4.3 Tổn thương các cơ quan trong chậu hông bé

Biểu đồ 3.4: Tỉ lệ các cơ quan tổn thương trong chậu hông bé Nhận xét:

- Tổn thương vết thương vùng đáy chậu chiếm tỉ lệ cao nhất.

- Rách âm đạo và vết thương sinh dục ngoài chiếm tỉ lệ thấp nhất.

Tổn thương cơ quan khác

Bảng 3.26: Tổn thương các cơ quan khác (n 6)

Cơ quan chấn thương Số BN Tỉ lệ (%)

Chấn thương đầu, mặt, sọ não 4 11,1

Vết thương bàn tay 2 bên 1 2,8

Tắc ĐM chậu ngoài bên trái 1 2,8

- Chấn thương ngực, cột sống và đầu mặt sọ não có tỉ lệ tương đương nhau trong mẫu nghiên cứu.

- Một BN bị tắc ĐM chậu ngoài bên trái đã đoạn chi bên trái, BN tử vong sau

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng chấn thương của mẫu nghiên cứu

Bảng 3.27: Triệu chứng lâm sàng chấn thương đường tiết niệu dưới (n6)

Triệu chứng lâm sàng Số BN Tỉ lệ (%) Đau hạ vị 32 88,9 ầm trên xương mu 7 19,4 ầm máu vùng đáy chậu 9 25,0

Tiểu máu, miệng niệu đạo có máu, thông niệu đạo có máu 29 80,6

Khám trực tràng có máu 5 13,9

- Triệu chứng đau hạ vị và tiểu máu chiếm tỉ lệ cao nhất.

- Bầm máu vùng đáy chậu, bầm trên xương mu và khám trực tràng có máu gặp tỉ lệ thấp hơn.

- Phản ứng thành bụng là triệu chứng ít gặp hơn, chiếm tỉ lệ thấp nhất. Đặc điểm lâm sàng chấn thương khung chậu

Bảng 3.28: Triệu chứng lâm sàng chấn thương khung chậu (n6)

Triệu chứng lâm sàng Số BN Tỉ lệ (%) ầm trên xương mu 7 19,4 ầm máu vùng đáy chậu 9 25,0 Đau ép khi bửa khung chậu 24 68,6

Nhận xét: Dấu hiệu đau khi ép bửa khung chậu chiếm tỉ lệ cao nhất.

Triệu chứng xét nghiệm máu mẫu nghiên cứu

Bảng 3.29: Kết quả xét nghiệm công thức máu (n6)

Xét nghiệm máu Số BN Tỉ lệ (%)

Tỷ lệ mất máu ở mức độ nặng và trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại mất máu, cho thấy đây là những mức độ phổ biến nhất trong các trường hợp Ngoài ra, mất máu mức độ rất nặng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ là 2,8%, phản ánh sự hiếm gặp của các trường hợp mất máu nghiêm trọng nhất.

Triệu chứng chẩn đoán hình ảnh mẫu nghiên cứu

Bảng 3.30: Triệu chứng chẩn đoán hình ảnh (n6)

Cận lâm sàng Số BN Tỉ lệ (%)

Có dịch tự do trong ổ bụng 20 55,6

Có hơi tự do trong ổ bụng 6 16,7

X quang bàng quang (BQ) có thuốc cản quang

Vỡ BQ trong phúc mạc 7 43,7

Vỡ BQ ngoài phúc mạc 5 31,3

Vỡ BQ trong và ngoài phúc mạc 4 25,0

Trong các phương pháp chẩn đoán hình ảnh ổ bụng, tỉ lệ dịch tự do trong ổ bụng chiếm tỷ lệ cao nhất khi sử dụng Siêu âm và CT scan Tuy nhiên, tỷ lệ chẩn đoán chính xác hơi trong ổ bụng bằng Siêu âm lại thấp nhất, chỉ khoảng 2,8%, cho thấy sự khác biệt rõ rệt về độ nhạy của các phương pháp trong việc phát hiện dịch tự do trong ổ bụng.

- Tổn thương gan được phát hiện trên CT Scan ổ bụng đưng thứ nhì trong mẫu nghiên cứu.

- Có 16 BN chụp X quang BQ có thuốc cản quang phát hiện 7 BN (43,7%) vỡ

Trong nghiên cứu về tụ dịch ổ bụng, có 5 bệnh nhân bị vỡ ống mật chủ ngoài phúc mạc, trong khi đó, 4 bệnh nhân (25%) mắc vỡ ống mật chủ cả trong và ngoài phúc mạc Trong số này, có 3 bệnh nhân phù hợp với chẩn đoán sau mổ, còn 1 bệnh nhân chỉ bị vỡ ống mật chủ trong phúc mạc.

Xử trí trong cấp cứu

Các phẫu thuật thực hiện tại bệnh viện Chợ Rẫy 3.6.1.

Bảng 3.31: Các phẫu thuật thực hiện trong cấp cứu đường tiết niệu dưới tại bệnh viện Chợ Rẫy (n6)

Các phẫu thuật Số BN Tỉ lệ (%)

Khâu và mở Q ra da 17 47,2

Phẫu thuật khâu và mở bàng quang ra da là các phương pháp thực hiện phổ biến nhất trong điều trị Trong đó, phẫu thuật mở bàng quang ra da chiếm tỷ lệ cao thứ hai trong các dạng phẫu thuật được nghiên cứu Các thủ thuật này đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chức năng tiểu tiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

- Phương pháp nội soi ổ bụng khâu bàng quang vỡ 1 BN (2,8%).

- Phẫu thuật nội soi ổ bụng thất bại chuyển mổ hở 1 BN (2,8%): BN bị vỡ BQ trong phúc mạc kèm vết thương bẹn phải.

Phẫu thuật thực hiện lại ở tuyến dưới chỉ chiếm tỷ lệ 2,8% với N đã phẫu thuật tuyến dưới ngày thứ 8 do chẩn đoán rò hậu môn trực tràng, rõ ràng vỡ bàng quang trong phúc mạc và vỡ trực tràng Quá trình xử trí bao gồm mở bàng quang ra, thực hiện hậu môn nhân tạo tạm thời (HMNT), và dẫn lưu Fullerton để đảm bảo hồi phục hiệu quả.

Các phẫu thuật phối hợp thực hiện trong cấp cứu

Bảng 3.32: Các phẫu thuật phối hợp thực hiện trong cấp cứu (n = 36)

Loại phẫu thuật Số BN Tỉ lệ (%)

Mổ cắt lọc hoại tử đùi 1 2,8

Khâu vết thương bẹn bìu 2 5,6

Khâu vết thương đáy chậu 1 2,8

DSA tắc ĐM chậu trong 1 2,8

Khâu nối tận - tận ĐM chày trước 1 2,8 Đoạn chi do tắc ĐM chậu ngoài 1 2,8

- Tỉ lệ BN thực hiện phẫu thuật làm hậu môn nhân tạo chiếm tỉ lệ cao nhất 8

- Một BN làm lại HMNT do thoát vị, tụt HMNT của tuyến dưới chuyển lên.

- Một N đoạn chi do tắc ĐM chậu ngoài.

Các xử trí tổn thương xương chậu

Bảng 3.33: Các xử trí tổn thương xương chậu (n = 36)

Các xử trí Số BN Tỉ lệ (%)

Xuyên đinh lồi cầu đùi 1 2,8

Cố định khung chậu ngoài 16 44,4 iện pháp khác 29 80,6

Nhận xét: Cố định ngoài xương chậu là phương pháp xử lý xương chậu có tỉ lệ đứng thứ 2 trong mẫu nghiên cứu.

Biến chứng trong thời gian hậu phẫu

Bảng 3.34: Các biến chứng trong thời gian hậu phẫu (n6)

Biến chứng Số BN Tỉ lệ (%)

Nhiễm khuẩn huyết là biến chứng phổ biến nhất trong nghiên cứu, chiếm tỷ lệ cao nhất so với các biến chứng khác Tiếp đến là nhiễm khuẩn vùng chậu, đóng vai trò đáng kể trong các biến chứng hậu phẫu Trong khi đó, chảy máu vết mổ có tỷ lệ thấp nhất, cho thấy mức độ nghiêm trọng của các biến chứng này khá khác nhau.

Ngày điều trị nội trú

Bảng 3.35: Đặc điểm ngày điều trị nội trú (n6)

Trung vị Nhỏ nhất Lớn nhất Khoảng tứ vị

Nhận xét: Ngày điều trị trung vị là 6 ngày, 25% trường hợp có ngày điều trị nội trú dưới 3 ngày, 75% trường hợp có ngày điều trị nội trú dưới 9 ngày. Đánh giá kết quả điều trị

Biểu đồ 3.5: Đánh giá kết quả điều trị (n6)

- Tỉ lệ phẫu thuật thành công chiếm đa số 80,6%.

- Tỉ lệ tử vong của mẫu nghiên cứu 16,7%.

 Kết quả điều trị theo từng loại chấn thương

Bảng 3.36: Kết quả điều trị vỡ bàng quang (n#)

Kết quả điều trị vỡ bàng quang Số BN Tỉ lệ (%)

PT thành công, không biến chứng hậu phẫu 19 82,6

PT thành công nhƣng có biến chứng hậu phẫu hoặc PT lại 1 4,3

Bảng 3.37: Kết quả điều trị chấn thương niệu đạo (n=9)

Kết quả điều trị chấn thương niệu đạo Số BN Tỉ lệ (%)

PT thành công, không biến chứng hậu phẫu 7 77,8

Bảng 3.38: Kết quả điều trị phối hợp vỡ bàng quang và chấn thương niệu đạo (n=4)

Vỡ BQ + chấn thương niệu đạo Số BN Tỉ lệ (%)

PT thành công, không biến chứng hậu phẫu 3 75,0

Nhận xét: tỉ lệ tử vong do vỡ bàng quang+ chấn thương niệu đạo chiếm tỉ lệ cao nhất (25%).

Các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ tử vong

Bảng 3.38: Đánh giá sự ảnh hưởng yếu tố nhiễm khuẩn huyết và kết cục tử vong Kết quả điều trị

Nhận xét: Nguy cơ tử vong ở nhóm nhiễm khuẩn huyết cao hơn với tỷ số chênh OR = 148, KTC 95% 6.3 - 3471, p = 0.002 (kiểm định Wald), có ý nghĩa thống kê.

Bảng 3.39: Đánh giá yếu tố giữa lƣợng máu truyền và kết cục tử vong

Nhận xét: Lƣợng máu cần truyền cho bệnh nhân tăng, nghĩa là bệnh nhân mất máu nhiều hơn thì khả năng bệnh nhân tử vong cao hơn.

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu

Đặc điểm về giới tính

Chúng tôi khảo sát 36 N, trong đó nam 24 N (66,7%), nữ 12 BN (33,3%).

Trần Lê Linh Phương (2003) đã nghiên cứu trên 30 bệnh nhân chấn thương đường tiểu dưới phối hợp gãy khung chậu nặng, trong đó có 22 nam và 8 nữ, nhằm nâng cao hiểu biết về các biến chứng và phương pháp điều trị phù hợp Trong khi đó, Trịnh Hoàng Tín (2015) thực hiện nghiên cứu trên 62 bệnh nhân vỡ bàng quang kèm gãy khung chậu, gồm 48 nam và 14 nữ, giúp làm rõ các yếu tố nguy cơ và khả năng phục hồi sau chấn thương này Các nghiên cứu này đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện kỹ thuật chẩn đoán và xử lý các tổn thương liên quan đến đường tiết niệu dưới và gãy khung chậu.

Nghiên cứu của tác giả Andrich D E và cộng sự (2007) đã khảo sát 27 bệnh nhân bị chấn thương đường tiết niệu dưới đi kèm chấn thương khung chậu Trong số này, có 24 bệnh nhân nam và 3 bệnh nhân nữ mắc các chấn thương liên quan đến đường tiết niệu dưới, cho thấy tần suất cao hơn ở nam giới Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về tỷ lệ và đặc điểm của chấn thương tiết niệu dưới đi kèm chấn thương khung chậu, góp phần nâng cao nhận thức và hướng điều trị hiệu quả hơn.

Kết quả của chúng tôi tương tự như kết quả của tác giả T Pavelka (2010) trong

BN gãy khung chậu có chấn thương đường tiết niệu dưới, gặp ở nam (186/308) nhiều hơn nữ (122/308) [71].

Chấn thương đường tiết niệu dưới, đặc biệt là chấn thương niệu đạo, phổ biến hơn nhiều ở nam giới (25%) so với nữ giới (4,9%) do niệu đạo ngắn hơn và ít các điểm nối niệu đạo với mu hơn Trong các chấn thương bàng quang, không có sự khác biệt rõ rệt giữa nam và nữ Đặc điểm giới tính trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với tình hình chung tại Việt Nam và các nước khác, với tỷ lệ nam cao hơn nữ Tuy nhiên, tỷ lệ nam trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi cao hơn các nghiên cứu khác do sự khác biệt về đặc điểm bệnh nhân và địa lý, dẫn đến kết quả nghiên cứu có thể khác nhau.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của mẫu là 35,1 ± 12 tuổi, dao động từ 16 đến 62 tuổi Tác giả Trần Lê Linh Phương (2003) đã nghiên cứu trên 30 bệnh nhân chấn thương đường tiết niệu dưới liên quan đến gãy khung chậu, với độ tuổi trung bình là 27 ± 10 Ngoài ra, Trịnh Hoàng Tín (2015) thực hiện nghiên cứu trên 62 bệnh nhân (48 nam, 14 nữ), tuổi trung bình là 33,4 ± 11,8 tuổi, trong đó 85,5% nằm trong nhóm từ 20 đến 50 tuổi Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhóm tuổi 21-40 chiếm tỷ lệ cao nhất với 55,6%, tiếp theo là nhóm 41-60 tuổi chiếm 33%, và kết quả này tương tự như của tác giả Trần Văn Phú.

(2011) theo các nhóm tuổi tương ứng là 60,5%, và 29% [9].

Nghiên cứu của Yang Q (2020) trên 497 bệnh nhân chấn thương khung chậu, trong đó có chấn thương đường tiết niệu dưới, cho thấy tuổi trung bình là 32 ± 16,5 tuổi Trong khi đó, Rie Aihara (2002) khảo sát 372 bệnh nhân gãy khung chậu, có N bệnh nhân chấn thương đường tiết niệu dưới, với độ tuổi trung bình là 38,5 tuổi (từ 4 đến 92 tuổi) Costantini và cộng sự (2016) tổng hợp dữ liệu từ 1.339 bệnh nhân gãy khung chậu ghi nhận từ 11 trung tâm chấn thương cấp I, với tuổi trung bình là 47,1 ± 21,6 tuổi.

Hsieh C H và cộng sự (2002) đã nghiên cứu 51 trường hợp chấn thương bàng quang trong giai đoạn từ năm 1991 đến 2000, với tuổi trung bình là 31,4 tuổi Đặc điểm về tuổi của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi tương tự như các nghiên cứu trong và ngoài nước, cho thấy sự đồng nhất về phân bố độ tuổi của các bệnh nhân bị chấn thương bàng quang.

Trong mẫu nghiên cứu của tôi, tỷ lệ tai nạn giao thông chiếm đến 75%, cho thấy mức độ phổ biến cao trong các số liệu Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây, của tác giả Trần Văn Phú (2011) với 82,3% và Trần Lê Linh Phương (2003) lên đến 90%.

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ tai nạn lao động là 22,2%, cao hơn so với kết quả của tác giả Trần Lê Linh Phương Tai nạn sinh hoạt trong mẫu nghiên cứu chiếm tỷ lệ thấp nhất, phù hợp với các kết quả từ nghiên cứu của Trần Văn Phú (2011) và Trần Lê Linh Phương.

Va chạm xe cơ giới là nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến gãy xương chậu, chiếm tỷ lệ từ 68% đến 84% Các tổn thương này còn có nguy cơ cao gây chấn thương đường tiết niệu dưới gấp bốn lần so với nguyên nhân thứ hai là rơi từ độ cao, đạt tỷ lệ từ 6% đến 25%.

Dân số gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển làm tăng khả năng xảy ra tai nạn xe cộ, từ đó dẫn đến tỷ lệ chấn thương đường tiết niệu dưới cao hơn Theo nghiên cứu của Stein và cộng sự (2013), tai nạn xe cộ là nguyên nhân gần 36% các trường hợp hẹp niệu đạo tại Ấn Độ, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 15% trong các nhóm thuần tập từ Hoa Kỳ và Ý.

Theo thống kê của Cục An toàn Giao thông, số vụ tai nạn giao thông trong các năm trước cao hơn năm 2020 Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông là do các yếu tố khác, tuy nhiên tỷ lệ này thấp hơn so với các nghiên cứu khác, trong đó chấn thương đường tiết niệu dưới và gãy xương chậu chiếm đa số Sự giảm sút tỷ lệ nguyên nhân từ tai nạn giao thông phù hợp với xu hướng giảm chung của các vụ tai nạn trong thời gian gần đây. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách cải thiện bài viết và tuân thủ luật SEO? Với [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/r7uxpCwB), bạn có thể tạo ra các bài viết SEO-tối ưu hóa dài 2.000 từ một cách nhanh chóng Theo thống kê giao thông, số vụ tai nạn giảm so với năm 2020, và việc tái cấu trúc câu văn, đoạn văn sẽ giúp làm nổi bật thông tin này Hơn nữa, bạn sẽ tiết kiệm được hơn $2,500 mỗi tháng so với việc thuê người viết!

Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp

Bảng 4.40: Tình hình nghiên cứu về nghề nghiệp

Tác giả Công nhân Nông dân

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, công nhân chiếm tỷ lệ cao nhất, phản ánh đặc điểm nhân khẩu học đáng chú ý về nhóm đối tượng này Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó, như của tác giả Trần Văn Phú (2011), đã ghi nhận tỷ lệ công nhân cao trong cùng nhóm đối tượng tại Bệnh viện Chợ Rẫy.

Sự khác biệt trong các nghiên cứu về cơ cấu nghề nghiệp ở Việt Nam xuất phát từ thời điểm thực hiện nghiên cứu khác nhau, đồng thời phản ánh những biến đổi của xã hội và xu hướng phát triển nghề nghiệp theo thời gian Chính những thay đổi này đã dẫn tới sự điều chỉnh trong danh mục nghề nghiệp, phản ánh rõ nét sự phát triển và chuyển biến của nền kinh tế quốc gia trong giai đoạn hiện tại.

Tình hình sơ cứu tuyến trước

Tình hình xử trí tuyến trước

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ không xử trí từ tuyến dưới chuyển lên chỉ 25%, thấp hơn so với tỷ lệ 33,3% của tác giả Trần Lê Linh Phương (10/30) Ngoài ra, tỷ lệ mổ cấp cứu của chúng tôi đạt 16,7% (5/30), cũng thấp hơn so với tỷ lệ 30% của tác giả These findings indicate our approach may result in fewer unnecessary transfers and emergency surgeries, highlighting potential improvements in clinical decision-making and patient management.

Tỷ lệ của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Trần Văn Phú (2011; 7,3%) do thời điểm nghiên cứu khác nhau và mức độ tiến bộ y khoa trong điều trị tuyến dưới đã được cải thiện rõ rệt Sự khác biệt này phản ánh những tiến bộ y học hiện nay đã ảnh hưởng đến tỷ lệ thành công và phát triển của phương pháp điều trị Việc cập nhật số liệu theo thời gian giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về xu hướng và hiệu quả của các phương pháp điều trị tuyến dưới Các kết quả mới này cho thấy tiến bộ y khoa đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

Nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, năng lực cấp cứu chấn thương đã có nhiều cải thiện đáng kể, đặc biệt là ở tuyến trước Hệ thống chăm sóc chấn thương tại tuyến này ngày càng phát triển, với việc áp dụng các thang điểm đánh giá mức độ nặng của bệnh nhân chấn thương để nâng cao hiệu quả điều trị Những đổi mới này đã góp phần nâng cao chất lượng cấp cứu và cải thiện tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân chấn thương [17].

Sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi so với các tác giả khác có thể xuất phát từ tính không đồng nhất của các báo cáo tiền cứu và hồi cứu sẵn có Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng dữ liệu thống nhất và chính xác để đảm bảo độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu Các yếu tố biến đổi trong các báo cáo tiền cứu có thể ảnh hưởng đáng kể đến kết quả cuối cùng, gây ra sự chênh lệch giữa các nghiên cứu Do đó, cần có các phương pháp nghiên cứu chuẩn hóa để giảm thiểu tác động của tính không đồng nhất này.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ sử dụng kháng sinh từ tuyến trước đạt 52,8%, cao hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đó của tác giả Trần Lê Linh Phương (chỉ 30%) và tác giả Trần Văn Phú (50,6%), cho thấy xu hướng tăng đáng kể trong việc sử dụng kháng sinh từ tuyến trước trong thực hành lâm sàng hiện nay.

Tỷ lệ sử dụng kháng sinh của tuyến trước có sự khác biệt do các nghiên cứu tại các thời điểm khác nhau và hướng dẫn sử dụng kháng sinh cho bệnh nhân chấn thương đường tiết niệu dưới, chấn thương khung chậu khác nhau Ngoài ra, tình hình đề kháng kháng sinh khác nhau theo từng địa phương đã dẫn đến sự khác biệt trong cách sử dụng kháng sinh Theo WHO (2021), Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự gia tăng đề kháng kháng sinh trong những năm gần đây.

Thời gian từ lúc chấn thương đến lúc sơ cứu

Nghiên cứu của chúng tôi, thời gian từ lúc chấn thương đến lúc sơ cứu < 1 giờ có

Thời gian sơ cứu sau chấn thương ảnh hưởng lớn đến hiệu quả xử lý tình huống Khoảng thời gian từ khi bị tai nạn đến khi nhập viện và sơ cứu trong vòng dưới 1 giờ chiếm tỉ lệ cao nhất trong nghiên cứu, cho thấy tầm quan trọng của việc xử lý nhanh để giảm thiểu biến chứng Trong khi đó, thời gian từ 1 đến 2 giờ và trên 2 giờ có tỷ lệ gần như bằng nhau, cho thấy cần nâng cao ý thức và hệ thống cấp cứu để giảm thiểu thời gian chậm trễ trong phản ứng sơ cứu khẩn cấp.

Theo nghiên cứu của tác giả Trần Lê Linh Phương, có 83% bệnh nhân (25/30 người) nhận được sơ cứu trong vòng chưa tới 1 giờ sau chấn thương, cho thấy tầm quan trọng của việc xử trí nhanh để giảm thiểu biến chứng Chỉ có 3 bệnh nhân (10%) chờ từ 1 đến 2 giờ, trong khi 2 bệnh nhân (7%) phải đợi hơn 2 giờ mới nhận được sơ cứu Điều này nhấn mạnh vai trò của việc cấp cứu kịp thời trong nâng cao hiệu quả điều trị và giảm rủi ro cho bệnh nhân.

Kết quả về thời gian lúc sơ cứu đến lúc nhập viện của chúng tôi tương tự như kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Lê Linh Phương.

Thời gian từ lúc sơ cứu đến lúc nhập bệnh viện Chợ rẫy

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 66,7% các trường hợp nhập viện trong vòng 6 giờ sau sơ cứu, cho thấy tình trạng của bệnh nhân cần can thiệp nhanh chóng Ngoài ra, 27,8% các trường hợp nhập viện trong vòng 24 giờ sau sơ cứu, phản ánh mức độ nghiêm trọng của các trường hợp này Chỉ có 5,6% các bệnh nhân phải nhập viện trong vòng một tuần sau sơ cứu, cho thấy phần lớn các ca cần theo dõi và điều trị khẩn cấp trong thời gian ngắn Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của sơ cứu đúng kỹ thuật để giảm tỷ lệ nhập viện và nâng cao hiệu quả điều trị ban đầu.

Tác giả Trần Lê Linh Phương ghi nhận thời gian lúc sơ cứu đến lúc nhập viện 21

N (70%) dưới 6 giờ, 3 BN (10%) 6 - 24 giờ, 4 (13,3%) BN 2 - 7 ngày, 2 BN (6,7%) sau 1 tuần [10].

Kết quả về thời gian lúc sơ cứu đến lúc nhập viện của chúng tôi tương tự như kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Lê Linh Phương.

Tình trạng bệnh nhân lúc nhập viện

Tình hình sơ cứu lúc nhập viện tại Bệnh viện Chợ Rẫy

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ số bệnh nhân bị sốc chấn thương trong quá trình sơ cứu là 21 người, chiếm 58,3%, trong khi khi nhập viện giảm còn 13 người, chiếm 36,1% Tỷ lệ này thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây của tác giả Lê Trần Lê Linh Phương, với tỷ lệ sốc chấn thương lúc sơ cứu là 25 trên 30 bệnh nhân và lúc nhập viện là 24 trên 30 bệnh nhân [10] Điều này cho thấy mức độ ổn định của bệnh nhân sau sơ cứu và trong quá trình chuyển viện đang được cải thiện.

Costantini và cộng sự (2016) nghiên cứu ghi nhận tổng cộng 1.339 ca gãy xương chậu tại 11 trung tâm chấn thương cấp I, trong đó 57% bệnh nhân là nam, trung bình tuổi là 47,1 ± 21,6 tuổi Có 178 trường hợp (13,3%) nhập viện trong tình trạng choáng với chỉ số ISS trung bình là 28,2 ± 14,1, thấp hơn tỉ lệ choáng so với dữ liệu của chúng tôi [38].

Tác giả L Flancbaum và Cs (1988) khảo sát trên 29 BN vỡ bàng quang, tỉ lệ choáng là 68% [46] Choáng chiếm tỉ lệ cao hơn trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi.

Bàng quang là cơ quan chứa nhiều cơ, được bảo vệ bởi xương chậu phía trước và nằm ngoài phúc mạc ở người lớn, với phần bề mặt trên được che phủ bởi phúc mạc Vòm bàng quang là khu vực cơ động nhất nhưng cũng yếu nhất, dễ bị vỡ khi bàng quang đầy Trong các vụ chấn thương bàng quang, tổn thương phổ biến thường đi kèm gãy xương chậu (chiếm 93% - 97%), thường là các chấn thương nghiêm trọng.

Tỷ lệ choáng của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với các tác giả khác, do đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các trường hợp chấn thương đường niệu dưới, bao gồm cả các mức độ nặng và không nặng của gãy khung chậu.

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, có 13 bệnh nhân (36,1%) được truyền máu, với lượng máu truyền ít nhất là 350ml và nhiều nhất là 1400ml Đặc điểm về truyền máu trong nghiên cứu của chúng tôi, bao gồm tỷ lệ truyền máu và lượng máu truyền, thấp hơn so với công trình của tác giả Trần Lê Linh Phương, nơi tỷ lệ truyền máu đạt 100% và trung bình lượng máu truyền lên tới 2750 ± 1500ml.

Trịnh Hoàng Tín (2015) đã tiến hành nghiên cứu trên 63 bệnh nhân, trong đó có 29 bệnh nhân (46,8%) nhận truyền máu trong quá trình phẫu thuật Trung bình mỗi bệnh nhân nhận truyền khoảng 832 ± 378ml máu, với thể tích truyền từ 350 đến 2100ml Trong số này, 27 bệnh nhân mất từ 100 đến 500ml máu trong quá trình phẫu thuật.

15 BN truyền máu (55,5%) Tất cả các BN thể tích máu mất khi phẫu thuật trên 500ml đều có truyền máu [20].

Có thể giải thích do tình trạng choáng của nhóm BN chúng tôi thấp hơn, mức độ chấn thương khung chậu không nặng bằng.

Truyền máu là phương pháp hiệu quả để cải thiện tình trạng giảm thể tích máu, kết hợp với các biện pháp chăm sóc hỗ trợ như cố định bên ngoài, chụp mạch và thuyên tắc mạch, cùng với đóng gói vùng chậu trước phúc mạc để kiểm soát chảy máu Các nghiên cứu cho thấy gãy khung chậu nặng liên quan đến tần suất truyền máu cao hơn, với nhu cầu truyền máu thường diễn ra sau 24, 48 hoặc 72 giờ chấn thương.

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận lượng máu truyền thấp hơn so với nghiên cứu của Yang Q (2020) và các cộng sự, trong đó có 20,9% bệnh nhân gãy xương chậu được truyền máu Thể tích truyền máu trong 6 giờ đầu dao động từ 0 đến 10.000ml, trung bình khoảng 1.213,94ml với độ lệch chuẩn là 1.354,11ml Trong số các ca gãy xương chậu loại C, tần suất truyền máu đạt 59,0% và thể tích trung bình là 2.191,30ml, với sự khác biệt này phản ánh sự khác biệt về đối tượng nghiên cứu, địa lý và cơ chế chấn thương.

Nghiên cứu của T Sửderlund (2017) trên 102 bệnh nhân truyền máu khối lượng lớn cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong giữa nhóm truyền máu và nhóm không truyền máu Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi, với lượng máu trung bình truyền gần 1000ml, cũng không ghi nhận sự khác biệt về tỷ lệ tử vong giữa hai nhóm.

Bàn luận đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng các tổn thương

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá chẩn đoán vỡ bàng quang 4.4.1.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 23 bệnh nhân (63,9%) bị vỡ bàng quang đa phần kèm theo các triệu chứng lâm sàng nổi bật như tiểu máu chiếm tỷ lệ 80,6% và đau bụng hạ vị với tỷ lệ 88,9% Ngoài ra, có 4 bệnh nhân (11,1%) gặp phải vỡ bàng quang kết hợp chấn thương niệu đạo, trong đó các dấu hiệu như bầm trên xương mu thường được ghi nhận Các triệu chứng rõ rệt và tỉ lệ mắc cao của tiểu máu, đau bụng hạ vị giúp chẩn đoán chính xác và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp cho các bệnh nhân chấn thương tiết niệu.

BN (19,4%); phản ứng thành bụng 1 BN (2,8%).

Tác giả Hsieh C H và cộng sự (2002) nghiên cứu 51 BN vỡ bàng quang có chấn thương khung chậu, 49 BN có tiểu máu [52].

Trịnh Hoàng Tín (2015) đã nghiên cứu trên 62 bệnh nhân, trong đó có 98,1% (61 bệnh nhân) có triệu chứng tiểu máu hoặc có máu trong nước tiểu Đau vùng hạ vị là triệu chứng chính gặp ở 90,6% (58 bệnh nhân) của nhóm nghiên cứu Ngoài ra, có tới 30,3% bệnh nhân (20 người) xuất hiện bầm vùng đáy chậu, cho thấy các triệu chứng liên quan đến tổn thương cơ quan sinh dục dưới và vùng chậu.

AF Morey (2001) nghiên cứu trên 53 BN chấn thương bàng quang, (37 nam và

Trong nhóm nghiên cứu gồm 16 nữ, trung bình 37 tuổi, bị vỡ bàng quang, tất cả đều biểu hiện tiểu máu rõ ràng Ngoài ra, có 6 bệnh nhân (chiếm 11%) xuất hiện máu tại miệng niệu đạo, cho thấy các triệu chứng phổ biến liên quan đến chấn thương tiết niệu.

13 bệnh nhân đƣợc chụp Cystography chẩn đoán vỡ bàng quang.

Bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi đƣợc tiến hành làm xét nghiệm cận lâm sàng.

Siêu âm tổng quát phát hiện 4 bệnh nhân có dịch trong ổ bụng và 1 người có hơi trong ổ bụng, cho thấy khả năng chẩn đoán chính xác cao Độ nhạy và độ đặc hiệu của siêu âm tương đương với CT Scan, tuy nhiên kết quả phụ thuộc vào kỹ năng và kinh nghiệm của người thực hiện Do đó, siêu âm thường được sử dụng trong chẩn đoán vỡ bàng quang để phát hiện các tổn thương phối hợp, giúp đưa ra quyết định điều trị chính xác và nhanh chóng.

Trong số 36 bệnh nhân được chụp CT Scan, có 20 người (55,6%) phát hiện dịch trong ổ bụng, 6 người (16,7%) có khí trong ổ bụng, và 7 bệnh nhân (19,5%) ghi nhận tổn thương tạng phối hợp trên hình ảnh CT Ngoài ra, chụp cystography bàng quang đã được chứng minh là phương pháp hiệu quả, có độ chính xác tương đương với CT cystogram trong chẩn đoán tổn thương bàng quang.

Tanweer Karim (2010) cho biết, sử dụng siêu âm tại giường có nhỏ nước muối sinh lý có thể hỗ trợ chẩn đoán sớm vỡ bàng quang Tuy nhiên, độ tin cậy của phương pháp này phụ thuộc vào kinh nghiệm của bác sĩ siêu âm Các trung tâm có kinh nghiệm đã báo cáo độ nhạy đạt tới 90% và giá trị dự đoán dương là 100%, cho thấy hiệu quả cao trong chẩn đoán sớm vỡ bàng quang khi thực hiện đúng kỹ thuật.

Theo nghiên cứu của tác giả Trịnh Hoàng Tín (2015) trên 50 bệnh nhân chụp cystography, có đến 94% các trường hợp thoát thuốc cản quang ra ngoài phúc mạc cạnh bàng quang, trong khi chỉ có 6% thoát vào trong phúc mạc Điều này cho thấy tần suất thoát thuốc cản quang ra ngoài phúc mạc là khá cao, ảnh hưởng đáng kể đến kết quả chẩn đoán và xử lý các bệnh lý liên quan.

Peter V và Cs (2006) thực hiện chụp CT Scan thông thường cho 19 BN vỡ bàng quang, thấy độ nhạy và độ đặc hiệu của chụp cắt lớp vi tính CT Scan đối với vỡ bàng quang ở những N này đều là 100% A J Deck (2000) khảo sát trên 316 BN chụp CTScan bàng quang phát hiện vỡ bàng quang với độ nhạy tổng thể và độ đặc hiệu lần lƣợt là 95% và 100% Đối với vỡ trong phúc mạc độ nhạy là 78% và độ đặc hiệu là 99% [39].

Các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với các đặc điểm thường gặp trong vỡ bàng quang theo các tác giả trước đó, giúp nhận diện chính xác hơn tình trạng tổn thương và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

Bàn luận đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng chấn thương niệu đạo

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi có 9 BN (25%) chấn thương niệu đạo và 4

BN chấn thương niệu đạo kèm vỡ bàng quang (11,1%).

Triệu chứng lâm sàng: Trong đó 6 N tiểu máu, 5 BN bầm tím bộ phận sinh dục,

3 bệnh nhân khám trực tràng có máu.

Trong chấn thương do gãy khung chậu, việc khám trực tràng là cần thiết để phát hiện tổn thương trực tràng Đồng thời, đối với nữ giới, cần khám âm đạo để đánh giá mức độ tổn thương và đảm bảo chẩn đoán chính xác These assessments giúp đưa ra phương pháp điều trị phù hợp, hạn chế biến chứng và tối ưu hóa quá trình hồi phục.

Nghiên cứu của Carl Lückhoff và cộng sự (2011) trên 27 bệnh nhân chấn thương niệu đạo kèm gãy khung chậu cho thấy, chảy máu miệng niệu đạo có độ nhạy 37% với 10 bệnh nhân phát hiện dấu hiệu này Ngoài ra, tụ máu vùng đáy chậu xuất hiện ở 12 bệnh nhân, đạt độ nhạy 44,4% Các triệu chứng khác như gián đoạn cảm giác trên xương mu cũng được ghi nhận là những dấu hiệu lâm sàng quan trọng trong chẩn đoán chấn thương niệu đạo.

Các dấu hiệu lâm sàng cổ điển của chấn thương niệu đạo có thể không xuất hiện trong 29-76% các trường hợp, do đó việc đánh giá các yếu tố nguy cơ cao là rất cần thiết Chẩn đoán chấn thương niệu đạo sớm và điều trị kịp thời tình trạng chuyển lưu nước tiểu giúp phòng ngừa các biến chứng nghiêm trọng như nhiễm trùng huyết và hình thành áp xe sau mạch.

Các xét nghiệm cận lâm sàng bao gồm siêu âm, chụp CT Scan bụng và tổng phân tích nước tiểu để chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh nhân Đánh giá niệu đạo nên được thực hiện bằng chụp niệu đạo ngược dòng (RUG) sau giai đoạn cấp cứu khi bệnh nhân đã ổn định, nhằm đảm bảo chẩn đoán chính xác và lên kế hoạch điều trị phù hợp.

Bàn luận đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng chấn thương bàng quang và 4.4.3. niệu đạo

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 4 bệnh nhân bị chấn thương bàng quang và niệu đạo, tất cả đều xuất hiện các triệu chứng chính như tiểu máu, đau bụng dưới, bầm tím vùng sinh dục và ra máu qua niệu đạo Những triệu chứng này cho thấy mức độ nghiêm trọng của chấn thương tiết niệu, cần được chẩn đoán và điều trị kịp thời để giảm thiểu biến chứng Việc nhận biết các dấu hiệu như đau bụng dưới và máu khi đi tiểu vô cùng quan trọng trong quá trình đánh giá chấn thương hệ tiết niệu của bệnh nhân.

Theo phân tích của M Pereira (2014) dựa trên cơ sở dữ liệu trung tâm chấn thương cấp I từ năm 1990 đến 2012, tổn thương bàng quang xuyên thủng có mối liên hệ mật thiết với chấn thương trực tràng, với tỷ lệ lên tới 41,3%.

[73] Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự như kết quả nghiên cứu của các tác giả khác.

Bàn luận đặc điểm lâm sàng tổn thương phối hợp vùng đáy chậu

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 8 BN tổn thương vùng đáy chậu phối hợp, trong đó 4 N (11,1%) bầm máu vùng đáy chậu, 4 BN (11,1%) khám trực tràng có máu.

Đặc điểm các chấn thương

Đặc điểm chấn thương đường tiết niệu dưới

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 23 BN (63,9%) vỡ bàng quang, 4 BN (11,1%) vỡ bàng quang và chấn thương niệu đạo, 9 BN (25%) chấn thương niệu đạo.

Tác giả Trần Lê Linh Phương chấn thương sinh dục ngoài 6 BN (20%), vỡ bàng quang 13 BN (43,3%), vỡ bàng quang kèm niệu đạo 7 BN (23,3%) [10].

Tỉ lệ chấn thương niệu đạo trong gãy xương chậu được báo cáo khác nhau từ 5-25%

MA Lowe (1988) ghi nhận rằng tổn thương niệu đạo chiếm tỷ lệ cao nhất trong các chấn thương đường niệu tiết dưới, chiếm đến 67% các trường hợp Các tổn thương khác liên quan đến chấn thương chậu như máu ở miệng niệu đạo, tụ máu đáy chậu hoặc tuyến tiền liệt căng cứng chiếm khoảng 33%.

Tác giả Daniela E Andrich (2007) báo cáo trong 27 BN chấn thương đường tiết niệu dưới có gãy khung chậu, 6 BN rách bàng quang, 14 BN chấn thương niệu đạo,

Trong nghiên cứu của Hauschild và cộng sự (2008), có 386 trường hợp tổn thương phần mềm và tạng trong chấn thương khung chậu, trong đó tỷ lệ tổn thương ruột non chiếm 11,9% với 46 bệnh nhân Tổn thương phần mềm chiếm tỷ lệ 12,4%, với 48 bệnh nhân, trong khi các tạng khác bị tổn thương chiếm 13,7% Ngoài ra, có 53 bệnh nhân bị tụ máu phần mềm, chiếm 38% trong tổng số trường hợp Các dữ liệu này cho thấy mức độ phổ biến của các tổn thương liên quan đến chấn thương khung chậu, đặc biệt là tổn thương ruột non và tụ máu phần mềm.

Kết quả về đặc điểm chấn thương đường tiết niệu dưới của chúng tôi tương tự kết quả của một số tác giả khác.

Bàn luận đặc điểm chấn thương khung chậu

Bảng 4.41: Phân loại tổn thương khung chậu theo Tile

Tác giả Tile A Tile B Tile C

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi khác biệt so với tác giả Trần Lê Linh Phương do thời điểm thực hiện khác nhau, dẫn đến nguyên nhân gây chấn thương đã thay đổi đáng kể Sự khác biệt này ảnh hưởng đến tỷ lệ các loại chấn thương khung chậu, phản ánh sự biến đổi trong các yếu tố nguy cơ theo thời gian Những phát hiện mới này giúp làm rõ mối liên hệ giữa nguyên nhân chấn thương và tỷ lệ các loại chấn thương khung chậu trong các giai đoạn khác nhau.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ chấn thương khung chậu Tile C là 63,9% Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó của Yang Q và cộng sự (2020), khi đều tập trung vào bệnh nhân châu Á và thực hiện trong thời điểm nghiên cứu gần nhau, thể hiện đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân này.

Andrich D.E (2007) đã nghiên cứu trên 108 bệnh nhân bị gãy khung chậu, trong đó có 27 người gặp gãy khung chậu kèm chấn thương đường tiết niệu dưới Kết quả cho thấy, gãy khung chậu loại Tile C chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các trường hợp này, với 13 trên 27 bệnh nhân Nghiên cứu này giúp nắm rõ đặc điểm các loại gãy khung chậu và mối liên hệ với chấn thương đường tiết niệu dưới, hỗ trợ chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn.

Hauschild.O (2008) nghiên cứu trên BN gãy khung chậu từ năm 1998 đến năm

2000 thấy tỉ lệ chấn thương khung chậu theo phân loại Tile có tỉ lệ: Tile A 57,1%;

1008 BN, Tile B 23,3%; 410 BN, Tile C 19,7%; 348 BN [50].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về đặc điểm gãy khung chậu cho thấy sự khác biệt so với các nghiên cứu trong và ngoài nước, chủ yếu do thời điểm nghiên cứu và cơ chế chấn thương khác nhau Đặc điểm của các loại chấn thương xương cũng có sự đa dạng, ảnh hưởng đến quá trình điều trị và phục hồi của bệnh nhân Những yếu tố này cần được xem xét kỹ lưỡng để nâng cao hiệu quả chẩn đoán và quản lý gãy khung chậu.

Chấn thương khung chậu thường là một loại chấn thương nghiêm trọng, đi kèm với các tổn thương của các cơ quan khác trong vùng chậu Theo nghiên cứu của chúng tôi, có 8 trường hợp bị tổn thương khung chậu nặng kèm theo các chấn thương liên quan, cho thấy mức độ phức tạp và cần thiết phải xử lý kịp thời để giảm thiểu biến chứng.

N gãy xương (1 xương đùi, 7 trường hợp gãy xương cẳng chân và cẳng tay).

Trần Lê Linh Phương ghi nhận 12 trường hợp gãy xương khác nhau, gồm 4 xương đùi, 3 xương sườn, 1 xương cột sống và nhiều xương khác Tuy nhiên, đặc điểm gãy xương trong nghiên cứu của chúng tôi lại ít hơn so với kết quả của Trần Lê Linh Phương do đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các trường hợp gãy khung chậu nặng Ngoài ra, nghiên cứu còn chú trọng đến đặc điểm tổn thương các cơ quan trong chậu hông bé và các cơ quan liên quan khác.

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có 10 trường hợp chấn thương kèm theo gãy khung chậu, trong đó tổn thương đường tiết niệu dưới là phổ biến Các loại tổn thương gặp nhiều nhất bao gồm vỡ gan (6 bệnh nhân), chấn thương trực tràng (6 bệnh nhân), kèm theo các chấn thương khác như chấn thương ngực (3 bệnh nhân) và chấn thương thận (2 bệnh nhân) Những phát hiện này giúp hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa chấn thương khung chậu và các tổn thương kèm theo trong nhóm bệnh nhân của chúng tôi.

Kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Lê Linh Phương có 21 trường hợp tổn thương tạng khác kèm theo, trong đó 11 trường hợp tổn thương tạng trong ổ bụng [10].

Theo nghiên cứu của Marc A Bjurlin năm 2009, trên 31.380 ca gãy xương chậu, lách và gan là những cơ quan bụng thường xuyên gặp tổn thương nhất liên quan đến gãy khung chậu Các tác giả như Hauschild (2008) cũng đã chỉ ra tầm quan trọng của việc đánh giá các cơ quan nội tạng trong các trường hợp gãy xương chậu để đảm bảo chẩn đoán chính xác và xử lý kịp thời.

386 trường hợp tổn thương đường tiết niệu dưới trong chấn thương khung chậu, chấn thương bàng quang 36%, 146 N, chấn thương niệu đạo 18,9%; 73 BN [50].

Tỉ lệ chấn thương phối hợp với chấn thương đường tiết niệu dưới trong gãy khung chậu của chúng tôi tương tự như một số nghiên cứu khác.

Đánh giá kết quả điều trị

Ngày điều trị trung bình

Kết quả nghiên cứu cho thấy, ngày điều trị trung vị của bệnh nhân là 6 ngày, trong đó 25% trường hợp điều trị dưới 3 ngày và 75% trường hợp điều trị dưới 9 ngày, cung cấp thông tin quan trọng về thời gian điều trị trung bình và phân bố thời gian điều trị trong bệnh nhân.

Theo nghiên cứu của tác giả Trần Lê Linh Phương, có hơn 30 trường hợp chấn thương đường niệu dưới kèm gãy khung chậu phức tạp Thời gian điều trị trung bình cho các bệnh nhân này là 34 ± 18 ngày, cho thấy sự đa dạng trong quá trình hồi phục và cần có các phương pháp xử lý phù hợp để nâng cao hiệu quả điều trị.

Tác giả Trần Văn Phú nghiên cứu trên bệnh nhân chấn thương đường tiết niệu dưới có ngày điều trị trung bình của mẫu nghiên cứu là 17 ± 4 ngày [9].

Tác giả Trịnh Hoàng Tín nghiên cứu trên bệnh nhân vỡ bàng quang có ngày điều trị trung bình 12,2 ± 7,6 ngày [20].

Thời gian điều trị phụ thuộc vào mức độ nặng của bệnh nhân, các tổn thương đi kèm và tình trạng biến chứng hậu phẫu Trong nghiên cứu của chúng tôi, ngày điều trị của các ca bệnh ít hơn so với các tác giả khác do đặc điểm đối tượng nghiên cứu, mức độ tổn thương đường tiết niệu dưới, tổn thương khung chậu và các cơ quan phối hợp khác nhau Việc đánh giá điều trị chấn thương đường tiết niệu dưới cần dựa trên các yếu tố này để đưa ra phương pháp phù hợp và tối ưu hóa quá trình hồi phục của bệnh nhân.

 Đánh giá kết quả chấn thương bàng quang

Trong nghiên cứu của chúng tôi, các bệnh nhân bị chấn thương bàng quang và niệu đạo đều được quản lý bằng phương pháp khâu bàng quang vỡ và mở bàng quang qua da để đặt dẫn lưu Phương pháp điều trị này giúp phục hồi chức năng tiết niệu và giảm nguy cơ biến chứng nhiễm trùng sau chấn thương Việc xác định đúng loại chấn thương bàng quang là yếu tố quan trọng để lựa chọn phương pháp xử lý phù hợp, đảm bảo quá trình hồi phục diễn ra tốt nhất.

Chấn thương bàng quang trong phúc mạc là chỉ định tuyệt đối để sửa bàng quang nguyên phát ngay lập tức nhằm tránh các biến chứng nghiêm trọng như viêm phúc mạc toàn thể, áp xe ổ bụng, tắc ruột và nhiễm khuẩn huyết Các trường hợp này thường cần được xử trí phẫu thuật vì khó lành lại nếu chỉ dẫn lưu do rò rỉ nước tiểu vào khoang phúc mạc Ngoài ra, chấn thương xuyên thấu bàng quang cũng yêu cầu thăm khám kỹ lưỡng do khả năng cao có đồng thời tổn thương nội tạng khác và vỡ trong phúc mạc, đòi hỏi can thiệp phù hợp để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

Năm 1991, bác sĩ nội trú Nguyễn Văn Ân đã trình bày trong luận văn tốt nghiệp về 14 trường hợp tổn thương đường dưới phức tạp, góp phần nâng cao hiểu biết và hỗ trợ chẩn đoán, điều trị cấp cứu hiệu quả.

Vỡ bàng quang ngoài phúc mạc chiếm tỷ lệ 19,4% trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, trong khi vỡ bàng quang cả trong và ngoài phúc mạc chiếm 8,3% Tất cả các trường hợp này đều được xử lý bằng phẫu thuật khâu bàng quang và mở bàng quang ra da để dẫn lưu Kết quả sau phẫu thuật cho thấy các dẫn lưu hoạt động tốt, giúp giảm thiểu biến chứng và đảm bảo quá trình hồi phục hiệu quả Sau phẫu thuật và dẫn lưu, các bệnh nhân đã được quản lý chặt chẽ về chấn thương bàng quang, đạt được kết quả phục hồi tích cực.

Urry R J và cộng sự (2016) đã nghiên cứu trên 58 bệnh nhân bị chấn thương bàng quang, trong đó 60% (35 bệnh nhân) gặp vỡ bàng quang trong phúc mạc và được theo dõi bảo tồn Khoảng 22% (13 bệnh nhân) bị vỡ bàng quang ngoài phúc mạc, còn 14% (8 bệnh nhân) gặp cả vỡ bàng quang trong và ngoài phúc mạc, cùng với 4% (2 bệnh nhân) chấn thương cổ bàng quang Các bệnh nhân trong nhóm chấn thương bàng quang trong phúc mạc đều được phẫu thuật và dẫn lưu nước tiểu, trong khi nhóm vỡ ngoài phúc mạc chủ yếu được phẫu thuật hoặc đặt ống thông niệu đạo để theo dõi Phẫu thuật sửa chữa, đóng bàng quang lớp và đặt niệu đạo dẫn lưu là những phương pháp điều trị chính, giúp hầu hết các bệnh nhân (91%) được xử lý triệt để các chấn thương bởi các bác sĩ phẫu thuật.

Các chỉ định tuyệt đối để sửa chữa các chấn thương ngoài phúc mạc bao gồm các trường hợp đồng thời mắc các chấn thương như cổ bàng quang, trực tràng hoặc âm đạo Ngoài ra, cần can thiệp khi gặp gãy xương chậu hở, gãy xương chậu cần chỉnh sửa di lệch và cố định bằng kết xương bên trong Khi có các mảnh xương đâm vào bàng quang, cũng phải xem xét sửa chữa vỡ bàng quang phối hợp để đảm bảo sự phục hồi tối ưu cho bệnh nhân.

Theo nghiên cứu của BM Pereira (2014), có 113 bệnh nhân biểu hiện tổn thương bàng quang, trong đó 60% trường hợp chấn thương bàng quang trong phúc mạc được thực hiện phẫu thuật sửa chữa Ngoài ra, 87,6% các trường hợp chấn thương bàng quang ngoài phúc mạc được dẫn lưu nước tiểu qua thông niệu đạo để đảm bảo phục hồi chức năng.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ chấn thương bàng quang trong phúc mạc chiếm 36,1% Các bệnh nhân bị vỡ bàng quang trong phúc mạc được theo dõi kỹ lưỡng sau phẫu thuật và đều xuất viện mà không gặp phải biến chứng nào.

 Đánh giá kết quả điều trị chấn thương niệu đạo

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 25% bệnh nhân bị tổn thương niệu đạo, trong đó 11,1% gặp chấn thương niệu đạo kèm vỡ bàng quang Tất cả các bệnh nhân đều được thực hiện chuyển lưu nước tiểu bằng phương pháp mở thông bàng quang ra da để đảm bảo lưu thông nước tiểu hiệu quả và phòng ngừa biến chứng.

Chấn thương niệu đạo sau ở nam giới thường liên quan chủ yếu đến gãy khung chậu Việc thực hiện thăm dò ban đầu và sửa chữa nối ngay sau khi bị tổn thương có thể làm tăng nguy cơ hẹp niệu đạo, mất kiểm soát tiểu và bất lực Do đó, quản lý các chấn thương này cần thận trọng để giảm thiểu biến chứng và đảm bảo phục hồi chức năng tiết niệu tối ưu.

GD Webster (1983) khảo sát trên 38 BN, kết quả cho thấy 65% chấn thương niệu đạo dẫn đến đứt hoàn toàn trong khi 35% là rách không hoàn toàn [87].

Trong nghiên cứu của chúng tôi, các bệnh nhân bị chấn thương niệu đạo đã được chuyển lưu nước tiểu bằng phương pháp mở bàng quang ra da, mang lại hiệu quả kiểm soát đường tiểu sau khi phục hồi Các bệnh nhân đều duy trì kiểm soát tốt đường tiểu sau khi xuất viện, cho thấy phương pháp này là giải pháp hiệu quả trong điều trị chấn thương khung chậu Đánh giá kết quả điều trị cho thấy sự thành công trong việc đảm bảo chức năng tiết niệu của bệnh nhân sau thủ thuật.

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, đặt cố CĐN khung chậu là 16 BN (44,4%).

Xử trí ban đầu focus vào việc hồi sức và ổn định bệnh nhân nhằm phòng tránh xuất huyết đe dọa tính mạng liên quan đến chấn thương vùng chậu Đánh giá qua hình ảnh X quang và phân loại tổn thương vùng chậu là bước quan trọng để hướng dẫn điều trị ban đầu, tạm thời ổn định và lên kế hoạch phẫu thuật thích hợp Việc thu nhỏ và cố định vòng chậu sau và trước một cách chính xác giúp khôi phục sự ổn định, tạo điều kiện cho vận động và quá trình lành thương Kỹ thuật mở thường được sử dụng đặc biệt cho các chấn thương giao cảm mu và vòng trước, vòng sau lệch mà kỹ thuật kín hoặc gián tiếp không đạt được mức giảm phù hợp.

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, lƣợng máu truyền trung bình là 946 ml máu, ít nhất 350 ml, nhiều nhất 1400 ml

Giảm đau đƣợc sử dụng ở 100% BN khi vào cấp cứu Tỉ lệ bệnh nhân choáng khi nhập viện 10 BN (30,6%)

Sau cấp cứu, 6 bệnh nhân tử vong trong vòng 48 giờ 16 N đã cố định khung chậu ngoài

Đánh giá biến chứng

Tỉ lệ tử vong của mẫu nghiên cứu chúng tôi là 16,7%, cao hơn so với tỉ lệ 6,7% (2 bệnh nhân) trong nghiên cứu của tác giả Trần Lê Linh Phương Sự khác biệt này có thể do đặc điểm tổn thương của bệnh nhân trong các mẫu nghiên cứu khác nhau.

Theo nghiên cứu của Hiroyuki Yoshihara (2018), tỷ lệ tử vong khi nhập viện do gãy xương chậu không ổn định là 8,3%, với tỷ lệ cao hơn ở các trường hợp gãy hở (21,3%) so với gãy kín (7,2%), và tỷ lệ này duy trì ổn định theo thời gian (p = 0,089) Ngoài ra, tỷ lệ tử vong tại bệnh viện cao hơn ở một số nhóm bệnh nhân như bệnh nhân lớn tuổi và nam giới, cho thấy các yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến nguy cơ tử vong trong quá trình điều trị.

Theo nghiên cứu của Todd W Costantini (2016), trên 1.339 bệnh nhân gãy xương chậu, tỷ lệ tử vong khi nhập viện đạt 9% Bệnh nhân gặp phải gãy xương chậu trong tình trạng sốc có nguy cơ tử vong cao hơn đáng kể Điều này cho thấy rằng các trường hợp gãy xương chậu nặng cần được xử lý kịp thời để giảm nguy cơ tử vong và cải thiện tiên lượng bệnh nhân.

Theo một số tác giả, tỷ lệ tử vong chung do gãy xương chậu dao động từ 5 đến 16%, trong đó tỷ lệ gãy xương chậu không ổn định khoảng 8% Bệnh nhân bị sốc do gãy xương chậu có nguy cơ tử vong cao hơn, chủ yếu do các chấn thương nội tạng kèm theo Tuy nhiên, tử vong chỉ do gãy xương chậu chiếm khoảng 0,4 đến 0,8% các ca tử vong do chấn thương.

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi có 6 trường hợp tử vong, tất cả đều chuyển trực tiếp từ tuyến dưới đến Bệnh viện Chợ Rẫy mà chưa qua phẫu thuật Các trường hợp này cho thấy tầm quan trọng của việc chẩn đoán sớm và chuyển viện kịp thời để giảm thiểu tỷ lệ tử vong liên quan đến bệnh lý nghiêm trọng Việc theo dõi chặt chẽ quá trình chuyển tuyến và cải thiện hệ thống chuyển tuyến là yếu tố then chốt để nâng cao kết quả điều trị.

- 6 TH chấn thương chậu Tile C, trong đó 3 TH gãy hở khung chậu

- Và kèm một số chấn thương khác:

01 TH rách âm đạo và tầng sinh môn

01 TH chấn thương cột sống

01 TH gãy hở toàn bộ đùi cẳng chân phải

02 TH có vỡ trực tràng

01 TH tắc động mạch chậu ngoài trái phải đoạn chi trái kèm vết thương thành bụng

Tỉ lệ tử vong trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi so sánh với một số tác giả khác:

Bảng 4.42: Tỉ lệ tử vong so sánh trong nghiên cứu của một số tác giả

Tác giả, năm Quốc gia Đối tƣợng NC- PP NC Tỉ lệ TV

Fantus, Michele M Mellett và CS (2009) [29]

Hoa Kỳ Hồi cứu 31.380 bệnh nhân gãy xương chậu, trong đó có 1.444 bệnh nhân chấn thương niệu

TH bị gãy xương chậu hở và 22.236 (92,4%) TH bị gãy xương chậu kín

- 8,3% TH gãy xương chậu không ổn định

- 21,3% đối với gãy xương hở

- 7,2% đối với gãy xương kín Theodore Manson,

Hồi cứu 1248 TH bị gãy xương chậu trong thời gian 7 năm

Aggarwal, Vishal Kumar, và CS (2019) [49] Ấn Độ Hồi cứu 104 TH chấn thương khung chậu

Hồi cứu 1339 TH gãy khung chậu

Trần Lê Linh Phương Việt Nam Hồi cứu 30 TH chấn thương đường niệu dưới có gãy khung chậu

Hồi cứu 36 TH chấn thương khung chậu có tổn thương đường niệu dưới

Tỉ lệ tử vong trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi khác với các tác giả khác do đối tượng nghiên cứu đa dạng, gồm các biến như chấn thương khung chậu, tổn thương cơ qua phối hợp, đặc điểm tổn thương đường niệu dưới và tình trạng sốc khi nhập viện Khác biệt về khả năng tiếp cận cơ sở khám chữa bệnh trong hệ thống chấn thương của mỗi quốc gia ảnh hưởng đến khả năng chuyển đến cơ sở y tế cấp cứu phù hợp, từ đó tác động đến kết quả điều trị Ngoài ra, trình độ chuyên môn của các cơ sở y tế trong xử trí chấn thương cũng góp phần làm tăng sự khác biệt trong kết quả điều trị và tỷ lệ tử vong của bệnh nhân.

So sánh với tác giả Trần Lê Lĩnh Phương, mẫu nghiên cứu của chúng tôi là mẫu nhỏ, do đó không có ý nghĩa thống kê đáng kể Trong nghiên cứu của Trần Lê Lĩnh Phương, có 3 trường hợp tử vong với 2 trường xảy ra tại phòng cấp cứu; trong khi đó, mẫu của chúng tôi ghi nhận 6 trường hợp tử vong sau hồi sức cấp cứu và phẫu thuật Các trường hợp nhẹ trong nghiên cứu của chúng tôi đều được mổ cấp cứu ngay tại tuyến dưới, còn các trường hợp nặng hơn sau khi chẩn đoán và hồi sức mới chuyển lên phòng cấp cứu bệnh viện Chợ Rẫy, khiến thời gian xử lý kéo dài hơn và tăng tỷ lệ tử vong Những bệnh nhân nặng này cần được hồi sức, truyền máu và xử lý phẫu thuật cấp cứu để cầm máu trước khi chuyển đến các bệnh viện chuyên khoa.

Các yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ tử vong:

 Bàn luận về ảnh hưởng của tình trạng sốc và tỉ lệ tử vong

Sốc được xác định khi HA tâm thu < 90 mmHg trong lần khám bệnh đầu tiên, là dấu hiệu tiên lượng nặng của bệnh Nguyên nhân gây sốc chủ yếu bao gồm sốc giảm thể tích, sốc do đau hoặc tổn thương phối hợp, tất cả đều là những yếu tố chính dẫn đến tử vong nếu không được xử lý kịp thời.

6 giờ đầu do chấn thương Mất máu do chấn thương là nguyên nhân tử vong hàng đầu đối với thương vong do chấn thương từ 1 đến 46 tuổi [82]

Theo Lý Thành Phụng và Nguyễn Đức Khoan nghiên cứu trên 25 bệnh nhân vỡ bàng quang, có 10 bệnh nhân (40%) có sốc [8] Nghiên cứu Carroll và cộng sự

Nghiên cứu năm 1983 khảo sát 51 bệnh nhân bị chấn thương bàng quang, trong đó có 25 bệnh nhân gặp sốc, cho thấy tỷ lệ sốc ở nhóm này khá đáng chú ý Theo tác giả Trịnh Hoàng Tín (2015), trên 62 bệnh nhân vỡ bàng quang, có 30 bệnh nhân (48,4%) mắc sốc, phản ánh mức độ nghiêm trọng của tình trạng sốc trong các trường hợp chấn thương bàng quang Những số liệu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát sốc khi điều trị bệnh nhân chấn thương bàng quang để cải thiện prognosis.

Bruno Monteiro Tavares Pereira và cộng sự (2013) nghiên cứu trên 2575 bệnh nhân phẫu thuật mở bụng do chấn thương từ năm 1990 đến năm 2009, trong đó có

Trong số các bệnh nhân, có 111 trường hợp (4,3%) gặp phải vỡ bàng quang, với tỷ lệ tử vong là 10,8% Các yếu tố như điểm số chấn thương và gãy xương chậu ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ tử vong trong các trường hợp chấn thương bàng quang, đặc biệt là những trường hợp HATT thấp hơn 90mmHg (p = 0,0001).

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có 13 bệnh nhân mắc sốc, chiếm tỷ lệ 36,1%, phù hợp với các kết quả của các nghiên cứu trước đó Nghiên cứu cũng chỉ rõ rằng sốc là yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ tử vong, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện và xử lý sớm tình trạng sốc để giảm thiểu nguy cơ tử vong cho bệnh nhân.

 Bàn luận về tình trạng nhiễm khuẩn huyết và tình trạng tử vong

Vỡ bàng quang và chấn thương đường niệu dưới có thể gây rò rỉ nước tiểu vào ổ bụng và các tổ chức xung quanh, dẫn đến biến chứng nghiêm trọng nếu không được chẩn đoán kịp thời Việc chẩn đoán chậm chấn thương bàng quang có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng huyết, viêm phúc mạc, formed các abscess vùng tiểu khung và gây rò rỉ các điện giải qua phúc mạc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của bệnh nhân.

Trong nghiên cứu của Trịnh Hoàng Tín (2015) trên 41 bệnh nhân, phát hiện có 3 bệnh nhân (tỷ lệ 7,3%) mắc nhiễm khuẩn huyết, biểu hiện bằng sốt cao, lạnh run và xét nghiệm huyết đồ cho thấy bạch cầu máu tăng cao, cho thấy mức độ nghiêm trọng của tình trạng nhiễm trùng huyết.

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có 8 bệnh nhân (22,2%) mắc nhiễm khuẩn huyết, tỷ lệ cao hơn so với các nghiên cứu khác Nhiễm khuẩn huyết có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ tử vong, với giá trị p = 0,002, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa biến chứng này và nguy cơ tử vong sau phẫu thuật Đánh giá các biến chứng hậu phẫu là yếu tố quan trọng để cải thiện kết quả điều trị và giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân.

Biến chứng hậu phẫu trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi là 2 BN, chiếm 5,6% Các biến chứng này đã đƣợc kiểm soát và phẫu thuật lại 1 BN

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu dưới là một tình trạng phổ biến trong các trường hợp chấn thương Theo nghiên cứu của chúng tôi, có 19 bệnh nhân mắc nhiễm khuẩn, trong đó nhiễm khuẩn huyết chiếm tỉ lệ 22,2% với 8 bệnh nhân, còn nhiễm khuẩn vùng chậu chiếm 19,4% với 7 bệnh nhân.

Tác giả Trần Lê Linh Phương có 53%, 15 N bị nhiễm khuẩn, gồm nhiễm khuẩn chân đinh CĐN khung chậu, nhiễm khuẩn vết thương da, nhiễm trùng tiểu

Ngày đăng: 06/04/2023, 19:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Ân (1991), Góp phần bàn luận về tổn thương phức tạp đường niệu dưới trong các trường hợp gãy xương chậu nặng, Luận văn bác sĩ nội trú, Đại học Y dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần bàn luận về tổn thương phức tạp đường niệu dưới trong các trường hợp gãy xương chậu nặng
Tác giả: Nguyễn Văn Ân
Nhà XB: Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1991
2. Nguyễn Văn ền (1994), Điều Trị Hẹp Niệu Đạo Sau Bằng Phương Pháp Badenoch Cải Tiến, Luận án Phó Tiến Sĩ Khoa học Y Dƣợc, Đại Học Y Dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều Trị Hẹp Niệu Đạo Sau Bằng Phương Pháp Badenoch Cải Tiến
Tác giả: Nguyễn Văn ền
Nhà XB: Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1994
3. Bộ y tế cục quản lý khám chữa bệnh (2014), Tài Liệu Đào Tạo Cấp Cứu Cơ Bản, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài Liệu Đào Tạo Cấp Cứu Cơ Bản
Tác giả: Bộ y tế cục quản lý khám chữa bệnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2014
4. Trần Đức Hòe (1976), Lâm sàng, chẩn đoán, điều trị các thương tổn niệu đạo, Luận án phó Tiến sĩ y học, Học viện Quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sàng, chẩn đoán, điều trị các thương tổn niệu đạo
Tác giả: Trần Đức Hòe
Nhà XB: Học viện Quân Y
Năm: 1976
5. Trần Đức Hòe (2003), Chấn thương niệu đạo mới. Những kỹ thuật ngoại khoa trong Tiết Niệu, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chấn thương niệu đạo mới. Những kỹ thuật ngoại khoa trong Tiết Niệu
Tác giả: Trần Đức Hòe
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2003
6. Ngô Gia Hy (1983), Sinh lý và sinh lý bệnh niệu đạo, Nhà xuất bản y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý và sinh lý bệnh niệu đạo
Tác giả: Ngô Gia Hy
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 1983
8. Nguyễn Đức Khoan (1999), Phẫu thuật tái tạo sớm trong chấn thương vỡ niệu đạo sau, Luận án tốt nghiệp chuyên khoa cấp II chuyên ngành niệu khoa, Đại Học Y Dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phẫu thuật tái tạo sớm trong chấn thương vỡ niệu đạo sau
Tác giả: Nguyễn Đức Khoan
Nhà XB: Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
9. Trần Văn Phú (2011), Đánh giá kết quả xử trí cấp cứu chấn thương niệu đạo sau tại bệnh viện Chợ Rẫy, Luận văn chuyên khoa cấp II. Đại học Y dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả xử trí cấp cứu chấn thương niệu đạo sau tại bệnh viện Chợ Rẫy
Tác giả: Trần Văn Phú
Nhà XB: Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011
10. Trần Lê Linh Phương (2003), Điều trị chấn thương đường tiết niệu dưới phức tạp trong gãy khung chậu nặng, Luận án Tiến sĩ y học, Đại Học Y Dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị chấn thương đường tiết niệu dưới phức tạp trong gãy khung chậu nặng
Tác giả: Trần Lê Linh Phương
Nhà XB: Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
11. Nguyễn Quang Quyền (2008), Niệu đạo, Nhà xuất bản y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niệu đạo
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2008
12. Nguyễn Quang Quyền (2014), Giải phẫu chậu hông. Atlas of Human Anatomy, Nhà xuất bản Y Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫu chậu hông
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học
Năm: 2014
13. Trần Văn Sáng, Nguyễn Văn Ân, Dương Quang Vũ (1992), "Nhiễm trùng lan rộng khoang dưới phúc mạc trong chậu hông bé". Ngoại khoa, (22), tr.13-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiễm trùng lan rộng khoang dưới phúc mạc trong chậu hông bé
Tác giả: Trần Văn Sáng, Nguyễn Văn Ân, Dương Quang Vũ
Năm: 1992
14. Trần Văn Sáng (1996), Vỡ niệu đạo, Nhà xuất bản Mũi Cà Mau, Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vỡ niệu đạo
Tác giả: Trần Văn Sáng
Nhà XB: Nhà xuất bản Mũi Cà Mau
Năm: 1996
15. Trần Văn Sáng, Trần Ngọc Sinh (2011), Vỡ bàng quang-Vỡ niệu đạo, Bài giảng bệnh học niệu khoa : Tài liệu học tập cho đại học - cao học - nghiên cứu sinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vỡ bàng quang-Vỡ niệu đạo
Tác giả: Trần Văn Sáng, Trần Ngọc Sinh
Nhà XB: Bài giảng bệnh học niệu khoa : Tài liệu học tập cho đại học - cao học - nghiên cứu sinh
Năm: 2011
16. Trần Ngọc Sinh (2004), Sổ tay tiết niệu học lâm sàng, Nhà xuất bản y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay tiết niệu học lâm sàng
Tác giả: Trần Ngọc Sinh
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2004
17. Cao Thái Sơn (2010), " áo cáo chuyên đề nâng cao năng lực chăm sóc chấn thương ". Hội thảo chuyên đề - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áo cáo chuyên đề nâng cao năng lực chăm sóc chấn thương
Tác giả: Cao Thái Sơn
Năm: 2010
18. Võ Văn Thanh (2013), Đánh giá kết quả xử trí cấp cứu gãy khung chậu không vững, Luận văn bác sĩ chuyên khoa 2, Đại học Y dƣợc thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả xử trí cấp cứu gãy khung chậu không vững
Tác giả: Võ Văn Thanh
Nhà XB: Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2013
19. Nguyễn Vĩnh Thống (2008), Đánh giá kết quả điều trị gãy ổ cối, Luận án Tiến sĩ y học, Đại học y dƣợc thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả điều trị gãy ổ cối
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Thống
Năm: 2008
20. Trịnh Hoàng Tín (2015), Đánh giá kết quả chẩn đoán và xử trí phẫu thuật vỡ bàng quang ngoài phúc mạc, Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ y học, Đại học Y dƣợc TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả chẩn đoán và xử trí phẫu thuật vỡ bàng quang ngoài phúc mạc
Tác giả: Trịnh Hoàng Tín
Nhà XB: Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2015
22. Nguyễn Bửu Triều (1988), "Chấn thương và vết thương niệu đạo". Hội thảo tiết niệu Chuyên đề chấn thương, vết thương niệu đạo, tr. 2-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chấn thương và vết thương niệu đạo
Tác giả: Nguyễn Bửu Triều
Năm: 1988

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm