Tần suất OSA, cách chọn mẫu, đặc điểm dân số và phương pháp chẩnđoán trong một số nghiên cứu về tần suất OSA trên bệnh nhân COPD ..... Trong các công cụ này,thang điểm STOP-BANG là một t
Trang 1ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
-oOo -TP HỒ CHÍ MINH - 2018
DƯƠNG DUY KHOA
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ NGƯNG THỞ KHI NGỦ DO TẮC NGHẼN
Ở BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MÃN TÍNH NGOẠI TRÚ
BẰNG THANG ĐIỂM STOP-BANG
Chuyên ngành: Nội khoa
Mã số: NT 62722050
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ THƯỢNG VŨ
Trang 2ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
-oOo -TP HỒ CHÍ MINH - 2018
DƯƠNG DUY KHOA
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ NGƯNG THỞ KHI NGỦ DO TẮC NGHẼN
Ở BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MÃN TÍNH NGOẠI TRÚ
Chuyên ngành: Nội khoa
Mã số: NT 62722050
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ THƯỢNG VŨ
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
DƯƠNG DUY KHOA
Trang 4M ỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC VIẾT TẮT i
DANH MỤC ĐỐI CHIẾU ANH-VIỆT ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ OSA 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.2 Dịch tễ học 5
1.1.3 Yếu tố nguy cơ 5
1.1.4 Sinh bệnh học 6
1.1.5 Biểu hiện lâm sàng 7
1.1.6 Chẩn đoán và đánh giá 8
1.1.7 Điều trị 9
1.1.8 Hậu quả và biến chứng của OSA 10
1.1.9 OSA và các bệnh đồng mắc 12
1.2 TỔNG QUAN VỀ VIỆC TẦM SOÁT OSA VÀ VỀ THANG ĐIỂM STOP-BANG 12
1.3 TỔNG QUAN VỀ COPD 16
1.3.1 Định nghĩa 16
1.3.2 Dịch tễ học 16
1.3.3 Chẩn đoán và đánh giá 16
Trang 51.3.4 Điều trị 18
1.3.5 COPD và các bệnh đồng mắc 19
1.4 TỔNG QUAN VỀ HỘI CHỨNG CHỒNG LẤP OSA-COPD 19
1.4.1 Dịch tễ học 19
1.4.2 Biến chứng và hậu quả 20
1.4.3 Chẩn đoán 21
1.4.4 Điều trị 21
1.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ OSA VÀ HỘI CHỨNG CHỒNG LẤP OSA-COPD TẠI VIỆT NAM 22
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 GIAI ĐOẠN 1: PHIÊN DỊCH VÀ KIỂM ĐỊNH PHIÊN BẢN TIẾNG VIỆT CỦA BẢNG CÂU HỎI STOP-BANG 25
2.1.1 Thiết kế nghiên cứu 25
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.4 Thu thập số liệu 26
2.1.5 Kế hoạch và lưu đồ nghiên cứu 28
2.2 GIAI ĐOẠN 2: XÁC ĐỊNH TỶ LỆ BỆNH NHÂN COPD NGOẠI TRÚ CÓ NGUY CƠ MẮC OSA BẰNG THANG ĐIỂM STOP-BANG 29
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 29
2.2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29
2.2.3 Đối tượng nghiên cứu 29
2.2.4 Thu thập số liệu 31
2.2.5 Kế hoạch và lưu đồ nghiên cứu 32
2.3 VẤN ĐỀ THỐNG KÊ 33
2.4 GIẢM THIỂU SAI LỆCH 34
2.4.1 Sai lệch chọn lựa 34
2.4.2 Sai lệch đo lường 34
2.5 VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 35
Trang 6CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 36
3.1 GIAI ĐOẠN 1: PHIÊN DỊCH VÀ KIỂM ĐỊNH PHIÊN BẢN TIẾNG VIỆT CỦA THANG ĐIỂM STOP-BANG 36
3.1.1 Phiên dịch và thích ứng bảng câu hỏi STOP-Bang 36
3.1.2 Đặc điểm dân số nghiên cứu 38
3.1.3 Kết quả của bảng câu hỏi SBVN 40
3.1.4 Kết quả đo đa ký giấc ngủ 43
3.1.5 Khả năng dự đoán OSA của bảng câu hỏi SBVN 44
3.2 GIAI ĐOẠN 2: XÁC ĐỊNH TỶ LỆ BỆNH NHÂN COPD NGOẠI TRÚ CÓ NGUY CƠ MẮC OSA BẰNG THANG ĐIỂM STOP-BANG 48
3.2.1 Đặc điểm dân số nghiên cứu 48
3.2.2 Đặc điểm COPD 50
3.2.3 Nguy cơ OSA theo bảng câu hỏi SBVN 53
3.2.4 Phân tích mối liên quan giữa điểm SBVN và bệnh đồng mắc, giữa SBVN và biến chứng của COPD 56
3.2.5 Phân tích mối liên quan giữa điểm SBVN và tiền căn đợt cấp COPD 57
3.2.6 Phân tích mối liên quan giữa điểm SBVN và chất lượng cuộc sống 58
3.2.7 Các phân tích dưới nhóm những bệnh nhân có kết quả hô hấp ký 60
CHƯƠNG 4: BIỆN LUẬN 66
4.1 GIAI ĐOẠN 1: PHIÊN DỊCH VÀ KIỂM ĐỊNH PHIÊN BẢN TIẾNG VIỆT CỦA THANG ĐIỂM STOP-BANG 66
4.1.1 Phiên dịch và thích ứng bảng câu hỏi STOP-Bang 66
4.1.2 Kiểm định bảng câu hỏi STOP-Bang phiên bản Việt Nam 68
4.2 GIAI ĐOẠN 2: XÁC ĐỊNH TỶ LỆ BỆNH NHÂN COPD NGOẠI TRÚ CÓ NGUY CƠ MẮC OSA BẰNG THANG ĐIỂM STOP-BANG 78
4.2.1 Đặc điểm dân số nghiên cứu 78
4.2.2 Nguy cơ OSA theo bảng câu hỏi SBVN 80
Trang 74.2.3 Phân tích mối liên quan giữa điểm SBVN và các
bệnh đồng mắc 84
4.2.4 Phân tích mối liên quan giữa điểm SBVN và biến chứng tâm phế mạn 85
4.2.5 Phân tích mối liên quan giữa điểm SBVN và đợt cấp COPD 85
4.2.6 Phân tích mối liên quan giữa điểm SBVN và chất lượng cuộc sống 86
4.2.7 Các phân tích dưới nhóm 89
4.2.8 Hạn chế của nghiên cứu 90
KẾT LUẬN 94
KIẾN NGHỊ 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH M ỤC VIẾT TẮT
phổi tắc nghẽn
Trang 9DANH M ỤC ĐỐI CHIẾU ANH-VIỆT
Obstructive sleep apnea Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽnSleep-disordered breathing Rối loạn hô hấp liên quan đến giấc ngủApnea-hypopnea index Chỉ số ngưng thở-giảm thở
Chronic Obstructive PulmonaryDisease
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Trang 10DANH M ỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân độ mức độ tắc nghẽn ở bệnh nhân COPD (GOLD 2018) 17
Bảng 1.2 Thang điểm mMRC để đánh giá mức độ khó thở 17
Bảng 2.1 Bảng liệt kê biến số được thu thập trong giai đoạn 1 27
Bảng 2.2 Bảng liệt kê biến số về COPD được thu thập trong giai đoạn 2 32
Bảng 3.1 Đặc điểm dân số học của mẫu nghiên cứu giai đoạn 1 (N= 40) 38
Bảng 3.2 Tỷ lệ các lý do tới khám trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 1 (N=40) 39
Bảng 3.3 Đặc điểm dịch tễ học, tiền căn bệnh lý, giai đoạn 1 (N= 40) 40
Bảng 3.4 Kết quả nhân trắc và huyết áp của bệnh nhân, giai đoạn 1 (N=40) 41 Bảng 3.5 Tỷ lệ trả lời dương tính của từng câu hỏi của bảng câu hỏi SBVN, giai đoạn 1 (N= 40) 42
Bảng 3.6 Kết quả mô hình hồi quy tuyến tính, biến phụ thuộc: Log(AHI), biến độc lập: SBVN (N=40) 45
Bảng 3.7 Kết quả mô hình hồi quy logistic, biến phụ thuộc: có hay không có OSA, biến độc lập: SBVN (N=40) 46
Bảng 3.8 Độ nhạy, độ đặc hiệu, AUC của các điểm cắt SBVN để dự đoán AHI≥5, AHI≥15 và AHI≥30, giai đoạn 1 (N=40) 47
Bảng 3.9 Đặc điểm dân số học của mẫu nghiên cứu giai đoạn 2 (N= 113) 49
Bảng 3.10 Đặc điểm dịch tễ học, giai đoạn 2 (N= 113) 49
Bảng 3.11 Tiền căn bệnh đồng mắc ở bệnh nhân COPD, giai đoạn 2 (N= 113) 50
Bảng 3.12 Điểm trung bình của thang điểm CAT, giai đoạn 2 (N=113) 51
Trang 11Bảng 3.13 Phân nhóm bệnh nhân COPD theo hướng dẫn GOLD 2018, giaiđoạn 2 (N=113) 52Bảng 3.14 Tỷ lệ biến chứng ở bệnh nhân COPD, giai đoạn 2 (N=113) 53Bảng 3.15 Kết quả nhân trắc và trị số huyết áp của bệnh nhân COPD, giai đoạn
2 (N=113) 54Bảng 3.16 Tỷ lệ trả lời dương tính của từng câu hỏi của bảng câu hỏi SBVN,giai đoạn 2 (N= 113) 55Bảng 3.17 Phân tích mối liên quan giữa SBVN và bệnh đồng mắc ở bệnh nhânCOPD (N=113) 57Bảng 3.18 Kết quả mô hình hồi quy logistic, biến phụ thuộc: có hay không cótâm phế mạn, biến độc lập: điểm SBVN (N=113) 57Bảng 3.19 Kết quả mô hình hồi quy logistic, biến phụ thuộc: nhiều nguy cơ đợtcấp, biến độc lập: SBVN (N=113) 58Bảng 3.20 Kết quả mô hình hồi quy logistic, biến phụ thuộc: có hay không cómMRC≥2, biến độc lập: điểm SBVN (N=113) 58Bảng 3.21 Kết quả mô hình hồi quy tuyến tính, biến phụ thuộc: điểm CAT, biếnđộc lập: điểm SBVN (N=113) 59Bảng 3.22 Phân tích nhị biến giữa biến có điểm CAT với một số yếu tố nguy
cơ tiềm năng bằng hồi quy tuyến tính (N=113) 59Bảng 3.23 Kết quả mô hình hồi quy, biến phụ thuộc: điểm CAT, biến độc lập:giới, tâm phế mạn, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, đái tháo đường tuýp 2 và điểmSBVN (N=113) 60Bảng 3.24 Kết quả mô hình hồi quy logistic, biến phụ thuộc: điểm CAT, biếnđộc lập: giới tính, điểm SBVN (N=113) 60Bảng 3.25 Đặc điểm dân số, dịch tễ học, tiền căn bệnh lý ở nhóm bệnh nhânCOPD có và không có kết quả hô hấp ký 61
Trang 12Bảng 3.26 Đặc điểm bệnh lý ở nhóm bệnh nhân COPD có và không có kết quả
hô hấp ký 62Bảng 3.27 Phân nhóm nguy cơ OSA ở nhóm bệnh nhân COPD có kết quả hôhấp ký 63Bảng 3.28 Đặc điểm dân số, dịch tễ học, tiền căn bệnh lý của bệnh nhân COPDphân theo nơi điều trị 64Bảng 3.29 Đặc điểm bệnh lý của bệnh nhân COPD phân theo nơi điều trị 65Bảng 3.30 Phân nhóm nguy cơ OSA của bệnh nhân COPD phân theo nơi điềutrị 65Bảng 4.1 Đặc điểm tuổi và giới trong nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới 69Bảng 4.2 Kết quả đa ký giấc ngủ trong nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới 71Bảng 4.3 AUC của bảng câu hỏi STOP-Bang qua các nghiên cứu 72Bảng 4.4 Độ nhạy và độ đặc hiểu (%) của bảng câu hỏi STOP-Bang với điểmcắt ≥3 và bảng câu hỏi Berlin trong các nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới 74Bảng 4.5 Độ nhạy và độ đặc hiểu của bảng câu hỏi STOP-Bang với điểm cắt
≥5 trong nghiên cứu của chúng tôi và của Chung và cs, 2012 75Bảng 4.6 Đặc điểm tuổi và giới của bệnh nhân COPD ngoại trú trong các nghiêncứu tại Việt Nam 79Bảng 4.7 Phân nhóm ABCD trong nghiên cứu bệnh nhân COPD tại Việt Nam 80Bảng 4.8 Tần suất OSA, cách chọn mẫu, đặc điểm dân số và phương pháp chẩnđoán trong một số nghiên cứu về tần suất OSA trên bệnh nhân COPD 81
Trang 13DANH M ỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Phân nhóm ABCD theo GOLD 2017 18
Sơ đồ 2.1 Lưu đồ nghiên cứu giai đoạn 1 (n=40) 29
Sơ đồ 2.2 Lưu đồ nghiên cứu giai đoạn 2 (n≥86 cho mỗi bệnh viện) 33
Sơ đồ 4.1 Sơ đồ phân nhóm nguy cơ OSA theo điểm SBVN 77
Sơ đồ 4.2 Các cơ chế tiềm năng trong mối quan hệ giữa điểm SBVN và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân COPD 89
DANH M ỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ phân bố của điểm SBVN, giai đoạn 1 (N=40) 43Biểu đồ 3.2 Phân bố kết quả AHI của bệnh nhân, giai đoạn 1 (N=40) 43
Biểu đồ 3.3 Phân bố chẩn đoán OSA theo mức độ, giai đoạn 1 (N=40) 44
Biểu đồ 3.4 Số bệnh nhân theo chẩn đoán OSA trong từng nhóm nguy cơ theo SBVN, giai đoạn 1 (N=40) 45
Biểu đồ 3.5 Đường cong ROC của SBVN để dự đoán OSA (AHI≥5) (N=40) 46
Biểu đồ 3.6 Số đợt cấp trong 12 tháng trước và số đợt cấp phải nhập viện trong 12 tháng trước của bệnh nhân COPD, giai đoạn 2 (N=113) 52
Biểu đồ 3.7 (a) Phân bố điểm SBVN ở bệnh nhân COPD; (b) Điểm SBVN theo phân nhóm COPD, giai đoạn 2 (N=113) 55
Biểu đồ 3.8 Phân nhóm nguy cơ theo thang điểm SBVN ở bệnh nhân COPD, giai đoạn 2 (N=113) 56
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) là một bệnh lý mạn tính phổ biến, trong
đó có sự tắc nghẽn từng lúc của đường thở trên, gây ra các rối loạn về hô hấp khingủ Bệnh thường đòi hỏi sự điều trị suốt đời [44] OSA là một bệnh lý quan trọngbởi bệnh nhân bị tăng nguy cơ giảm chức năng nhận thức - thần kinh và nhiều biếnchứng bệnh lý nội khoa, do vi thức giấc lặp lại thường xuyên kèm hoặc không kèmgiảm oxy máu trong khi ngủ kéo dài nhiều tháng nhiều năm [136] OSA mức độnặng nếu không được điều trị có liên quan tới gia tăng tần suất tử vong do mọinguyên nhân và tử vong do nguyên nhân tim mạch [104], [58] Một nghiên cứuvừa xuất bản năm 2018 đã cho thấy OSA rất phổ biến tại Việt Nam, tần suất OSA
là 8,5% trong dân số chung [139]
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một gánh nặng y tế lớn tại Việt Namcũng như trên toàn thế giới Tỷ lệ COPD trong dân số Việt Nam hơn 40 tuổi theomột thống kê năm 2011 là 4,2% [5] Mặc dù có nhiều tiến bộ trong việc điều trị,COPD vẫn là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 tại nước ta chỉ sau độtquỵ và bệnh mạch vành Gần đây, người ta quan tâm nhiều hơn tới việc điều trịtoàn diện COPD đồng thời với các bệnh đồng mắc khác, trong đó OSA đang ngàycàng được quan tâm [53]
Đồng mắc OSA trên bệnh nhân COPD được một số tác giả gọi là hội chứngchồng lấp OSA-COPD Hội chứng chồng lấp OSA-COPD là một vấn đề cần quantâm do chiếm một số lượng bệnh nhân đáng kể trong dân số Và đặc biệt quantrọng hơn, hội chứng chồng lấp OSA-COPD làm sụt giảm chất lượng cuộc sống,gia tăng tỷ lệ tật bệnh và tỷ lệ tử vong, cao hơn hẳn những bệnh nhân COPD [82],[96] Một nghiên cứu theo dõi dọc cho thấy bệnh nhân có hội chứng chồng lấpOSA-COPD không được điều trị CPAP có tỷ lệ tử vong cao hơn những bệnh nhânCOPD đơn thuần Những bệnh nhân có hội chứng chồng lấp OSA-COPD có điềutrị CPAP phù hợp có tỷ lệ tử vong tương đương nhóm bệnh nhân COPD đơn thuần
Trang 15Do đó, việc phát hiện và điều trị kịp thời OSA nếu có trên bệnh nhân COPD làcần thiết Điều này có thể giúp cải thiện được sức khỏe về nhiều mặt ở bệnh nhânCOPD, cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm biến chứng và giảm tử vong [115],[77] Hiện nay, tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán OSA vẫn là đa ký giấc ngủ, mộtphương tiện kĩ thuật cao, đắt tiền và chưa phổ biến, đặc biệt là trong bối cảnh cácnước đang phát triển như Việt Nam Nhiều cách tiếp cận chẩn đoán đã được đặt ranhằm giải quyết những khó khăn này Các bảng câu hỏi nhằm đánh giá nguy cơOSA có thể là một phương pháp tầm soát hữu ích ban đầu Trong các công cụ này,thang điểm STOP-BANG là một thang điểm được kiểm định rộng rãi nhất và thểhiện khả năng tiên đoán tố [34], [91], [32].
Hiện nay, tại Việt Nam có ít số liệu về tần suất bệnh nhân hội chứng chồng lấpOSA-COPD [8] Việc sử dụng một công cụ đơn giản và hiệu quả có thể là mộtgiải pháp hiệu quả để bước đầu sàng lọc, đánh giá sơ lược tỷ lệ bệnh nhân COPD
có nguy cơ đồng mắc OSA Việc sàng lọc bằng một công cụ đơn giản không tốnkém cũng giúp ưu tiên tài nguyên chẩn đoán và điều trị còn hạn hẹp cho nhữngbệnh nhân nguy cơ cao Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này để trả lời câuhỏi:
là bao nhiêu?
Trang 16M ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Ước lượng tỷ lệ bệnh nhân COPD ngoại trú có nguy cơ mắc OSA bằng thangđiểm STOP-Bang
Giai đoạn 1: Phiên dịch và kiểm định phiên bản tiếng Việt của thang điểm STOP-Bang
1 Phiên dịch và kiểm định phiên bản tiếng Việt của thang điểm Bang trên dân số Việt Nam có so sánh với kết quả đa ký giấc ngủ
STOP-Giai đoạn 2: Xác định tỷ lệ bệnh nhân COPD ngoại trú có nguy cơ mắc
1 Xác định tỷ lệ bệnh nhân COPD ngoại trú có nguy cơ mắc OSA bằngthang điểm STOP-Bang
2 Khảo sát mối liên quan giữa điểm STOP-Bang và tiền căn đợt cấp COPD
ở bệnh nhân COPD ngoại trú
3 Khảo sát mối liên quan giữa điểm STOP-Bang và chất lượng cuộc sốngđánh giá bằng điểm Bảng câu hỏi đánh giá tác động của COPD (CAT) ởbệnh nhân COPD ngoại trú
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 T ỔNG QUAN VỀ OSA
Hội chứng ngưng thở khi ngủ là một rối loạn đặc trưng bởi sự ngừng thở từnglúc khi ngủ trong thời gian từ mười giây trở lên, dẫn đến giảm nồng độ oxy trongmáu, sau đó động tác hô hấp hoạt động trở lại bình thường phối hợp với vi thứcgiấc Giảm thở tương tự như ngưng thở nhưng thay vì hoàn toàn ngưng thở trong
10 giây, giảm thở chỉ là giảm lưu lượng khí lưu thông 25 – 50% trong thời gian ítnhất mười giây và giảm độ bão hòa oxy ít nhất 4% hoặc vi thức giấc [125]
Độ nặng của hội chứng ngưng thở lúc ngủ được đánh giá qua chỉ số ngưng-giảmthở (AHI) AHI được định nghĩa là số biến cố hô hấp trở lên chủ yếu do tắc nghẽn(ngưng thở tắc nghẽn hay ngưng thở hỗn hợp, giảm thở, hay thức giấc liên quantới gắng sức hô hấp) trong một giờ ngủ (đối với đa ký giấc ngủ) hoặc thời gian ghinhận (đối với các xét nghiệm ngưng thở tại nhà)
Hội chứng ngưng thở khi ngủ có thể chia thành 3 loại: (1) Ngưng thở khi ngủ
do tắc nghẽn: thường gặp nhất, biểu hiện bằng sự ngừng luồng khí thở do tắc nghẽnđường hô hấp trên và các cử động ngực – bụng vẫn duy trì (2) Ngưng thở khi ngủtrung ương: ít gặp, biểu hiện sự ngừng luồng khí qua mũi, miệng và không có cửđộng ngực và bụng do trung tâm hô hấp không hoạt động (3) Ngưng thở khi ngủhỗn hợp: phối hợp với hai loại trên
OSA là một bệnh lý mạn tính thường gặp thường cần sự điều trị suốt đời [44].Các đặc điểm kinh điển ở người lớn bao gồm: ngưng thở, giảm thở, hay việc thứcgiấc do gắng sức hô hấp do nguyên nhân tắc nghẽn; các triệu chứng ban ngày gây
ra do giấc ngủ bị gián đoạn như buồn ngủ, mệt mỏi, hay kém tập trung; các dấuhiệu của rối loạn giấc ngủ, như ngáy, ngủ không, thở nấc sau một cơn ngưng thở
Trang 181.1.2 D ịch tễ học
OSA là bệnh lý rối loạn hô hấp khi ngủ thường gặp nhất Tần suất lưu hành thayđổi tùy thuộc vào cách chọn lựa chỉ số chẩn đoán OSA và cũng như sự tình hìnhcác yếu tố nguy cơ trong dân số Ước đoán tần suất lưu hành tại Bắc Mỹ vàokhoảng 20-30% nam giới và 10-15% nữ giới, nếu OSA được định nghĩa “rộng rãi”hơn dựa vào chỉ số AHI lớn hơn 5 sự kiện/giờ theo kết quả đa ký giấc ngủ [135],[101] Khi OSA được định nghĩa “chặt chẽ” hơn, chỉ số AHI≥5 cùng với một triệuchứng của rối loạn giấc ngủ (như là buồn ngủ vào ban ngày) hoặc khi chỉ sốAHI≥15, tần suất lưu hành ước đoán tại Hoa Kỳ vào khoảng 15% ở nam giới và5% ở nữ giới [101], [135], [39] Tần suất OSA ở Hoa kỳ được dự đoán sẽ tiếp tụcgia tăng do sự gia tăng của tần suất béo phì
Các yếu tố nguy cơ lâm sàng là lớn tuổi, giới tính nam, béo phì và đặc điểmhình thái học hàm mặt và bất thường mô mềm đường thở trên Các yếu tố nguy cơkhác cũng được tìm thấy nhưng với bằng chứng thấp hơn bao gồm hút thuốc lá,tắc nghẽn mũi, mãn kinh và tiền căn gia đình Tần suất OSA cũng gia tăng trongmột số tình trạng bệnh lý hoặc sinh lý như thai kỳ, bệnh thận mạn giai đoạn cuối,suy tim, bệnh phổi mạn tính, hội chứng stress sau chấn thương, và đột quỵ
niên 60 – 70 tuổi, sau đó tần suất giữ ổn định [135], [61], [120]
lệch này giảm xuống khi người phụ nữ bước vào độ tuổi mãn kinh [136], [120],[106] Cơ chế của ảnh hưởng của giới tính lên OSA vẫn đang được nghiên cứu
Béo phì Ở cả hai giới, tần suất OSA gia tăng theo chỉ số khối cơ thể (BMI) và
các chỉ số khác như chu vi vòng cổ, tỷ số eo/hông [136], [101]Trong một nghiêncứu hồi cứu với khoảng 700 người lớn, theo dõi trong 4 năm, mỗi 10% cân nặnggia tăng có liên quan tới tăng nguy cơ OSA lên 6 lần [102]
Trang 19B ất thường hàm mặt và đường thở trên Các bất thường hàm mặt và bất
thường mô mềm đường thở trên gia tăng khả năng mắc OSA [136] Nhưng đặcđiểm này đặc biệt có ý nghĩa trong dân số bệnh nhân gốc Á, những bệnh nhân màtần suất béo phì không cao [73] Một số đặc điểm hàm mặt và đường thở trên được
mô tả là tật hàm nhỏ, tật lùi hàm, bất thường kích thước xương hàm trên hay xươnghàm dưới ngắn, sàng hàm mặt rộng, quá phát cuống lưỡi, và phì đại hạnh nhân
tăng nguy cơ OSA lên gấp 2 lần so với nhóm chứng [136], mặc dù vậy việc điềutrị tắc nghẽn mũi có thể cải thiện OSA hoặc không Hút thuốc lá làm tăng nguy cơOSA hay ít nhất làm nặng thêm các triệu chứng của OSA Trong một nghiên cứu,người hút thuốc lá có nguy cơ OSA cao gấp 3 lần người chưa từng hút thuốc hoặc
đã cai thuốc [126] Phụ nữ mãn kinh tăng nguy cơ OSA so với phụ nữ chưa mãnkinh, bất kể tuổi và BMI [133], [25] Bệnh nhân OSA thường báo cáo tiền căn giađình có người thân có triệu chứng ngáy hoặc có tiền căn OSA Mặc dù có thể docác yếu tố hành vi dẫn tới béo phì, nguyên nhân di truyền có thể khiến một người
dễ phát triển OSA hơn thông qua các yếu tố nguy cơ ví dụ như đặc điểm hàm mặt[30] Một nghiên cứu cũng cho rằng khoảng 25% bệnh OSA là một bệnh lý ditruyền [107] Một số chất gây nghiện hay một số thuốc, bao gồm rượu,benzodiazepines, và thuốc an thần, có thể làm triệu chứng OSA nặng hơn, nhưngkhông được chứng minh là nguyên nhân gây OSA [81]
OSA đặc trưng bởi sự xẹp chức năng, lặp đi lặp lại của đường thở trên trongthời gian giấc ngủ, gây nên sự suy giảm đáng kể hay mất hẳn luồng khí thở trongkhi bệnh nhân còn gắng sức hô hấp Điều này dẫn đến sự rối loạn trao đổi khíkhông liên tục (tăng CO2 máu hay giảm oxy máu ngắt quãng) và sự phân mảnhgiấc ngủ Mặc dù sự xẹp đường thở trên có thể diễn ra trong cả hai giai đoạn giấcngủ cử động mắt nhanh (REM) hay giai đoạn giấc ngủ không REM, sự giảm trươnglực cơ cằm lưỡi trong giấc ngủ REM gia tăng nguy cơ tắc nghẽn đường thở trên
Trang 20Vì vậy, độ nặng của OSA có thể tăng rất cao trong giấc ngủ REM ở một số bệnhnhân [38], [132].
Độ nặng của OSA bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm giải phẫuđường hô hấp trên, ngưỡng thức giấc, trương lực cơ hô hấp đường thở trên, và khảnăng điều hòa của hệ điều hòa hô hấp Bên cạnh đó, cơ chế sinh lý nền tảng có thểthay đổi theo tuổi, cơ chế chủ yếu ở bệnh nhân trẻ hơn có thể do những thay đổi
về điều hòa thông khí và ở những bệnh nhân lớn tuổi hơn có thể do đường thở trên
dễ bị đè xẹp [43]
Ngáy và buồn ngủ ban ngày là lý do tới khám thường gặp nhất của OSA Mặcdầu cả hai triệu chứng này khá nhạy, chúng không đủ độ đặc hiệu để thành lậpchẩn đoán Trong một tổng quan hệ thống về độ chính xác của các dấu hiệu lâmsàng trong chẩn đoán OSA, dấu hiệu hữu ích nhất để nhận biết OSA là ngưng thở,nghẹt thở hay thở hổn hển trong giấc ngủ được nhìn thấy, có độ nhạy 54% và độđặc hiệu 84% [89] Phụ nữ có OSA thường tới khám với lý do mất ngủ và buồnngủ, và thay đổi tính khí thay vì ngáy to hay ngưng thở được nhìn thấy Ngoài racòn có thể tìm thấy một số dấu hiệu như ngủ không yên, có một giai đoạn ngủ yên
bị gián đoạn bởi giai đoạn ngáy to, mệt mỏi, giảm tập trung, đau ngực về đêm, tiểuđêm và nhức đầu vào buổi sáng
Khi thăm khám, các dấu hiệu thường gặp là béo phì, đường thở vùng hầu họnghẹp, vòng cổ lớn và tăng huyết áp [125]
Nhiều công thức tiên đoán lâm sàng và các thang điểm xác suất tiền nghiệm, sửdụng các triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng, đã được nghiên cứu và có vẻ hữu íchtrong việc tầm soát và giúp phân mức độ ưu tiên cho một số bệnh nhân nguy cơcao Các công cụ này sẽ được lược khảo trong mục 1.2
Trang 211.1.6 Ch ẩn đoán và đánh giá
Để chẩn đoán OSA, phương pháp đa ký giấc ngủ tại phòng nghiên cứu giấc ngủvẫn là tiêu chuẩn vàng Đa ký giấc ngủ ghi nhận 7 thông số: ECG (hay tần số tim),EEG, điện cơ hốc mắt, điện cơ cằm, SpO2, thông khí mũi và cử động lồng ngực.Ngoài ra, các xét nghiệm ngưng thở tại nhà cũng có thể được sử dụng ở một sốbệnh nhân được nghi ngờ có OSA và không có các bệnh nội khoa quan trọng khác(như suy tim hay bệnh phổi mạn tính) cần các kết quả chi tiết hơn liên quan tớigiấc ngủ (giai đoạn giấc ngủ, thức giấc, cử động chân và tay, theo dõi cơn cogiật…)
và các triệu chứng ban ngày hay ban đêm Ở người lớn, chẩn đoán OSA được địnhnghĩa như sau:
• Chỉ số AHI≥5 ở bệnh nhân có kèm theo một hoặc nhiều các triệu chứnghay dấu hiệu sau:
o Triệu chứng buồn ngủ, giấc ngủ không hiệu quả, mệt mỏi, haymất ngủ
o Thức giấc với cảm giác nghẹt thở, thở nghẹt hay thở hổn hển
o Ngáy thường xuyên, ngưng thở ngắt quãng, hay cả hai, đượcngười khác hay người ngủ cùng ghi nhận
o Tăng huyết áp, thay đổi tính khí, rối loạn chức năng nhận thức,bệnh mạch vành, đột quỵ, suy tim tắc nghẽn, rung nhĩ, hay đáitháo đường tuýp 2
• Chỉ số AHI≥15, có hay không có các triệu chứng hay bệnh lý đi kèm.Một số nghiên cứu định nghĩa OSA một cách “lỏng lẻo” hơn với AHI≥5 Một
số tác giả ưa thích dùng thuật ngữ rối loạn hô hấp liên quan giấc ngủ disordered breathing) để nói về tình trạng này [98] Như vậy, mọi trường hợp OSAđều là rối loạn hô hấp có liên quan giấc ngủ; nhưng chiều ngược lại thì không đúng
Trang 22(Sleep-Phân độ nặng Mức độ nặng được đánh giá bởi chỉ AHI, được tính bằng số sự
kiện hô hấp trong mỗi giờ ngủ Cụ thể như sau: AHI 5-14 OSA mức độ nhẹ,
15-29 mức độ trung bình và ≥30 mức độ nặng
ngủ quá mức ban ngày, bao gồm ngáy to không OSA, ngủ không đủ giấc hay rốiloạn nhịp thức ngủ, cử động chi chu kỳ trong giấc ngủ, ngưng thở trung ương, vàcác bệnh lý hô hấp nguyên phát khác, các bệnh lý này cũng có thể xuất hiện đồngthời trên một bệnh nhân Các chẩn đoán khác cần được xét đến ở bệnh nhân đếnkhám vì thức giấc đột ngột, cảm giác thở nghẹt hay thở hổn hển trong giấc ngủ làhít sặc, trào ngược dạ dày thực quản, và cơn hoảng loạn
Một số bệnh lý trong số các chẩn đoán phân biệt này có thể được nhận diện bởibệnh sử lâm sàng, để chẩn đoán xác định hay chẩn đoán loại trừ OSA đôi khi cần
đa ký giấc ngủ hay các xét nghiệm ngưng thở tại nhà
OSA là một bệnh lý mạn tính cần được điều trị lâu dài, và phối hợp nhiều chuyênkhoa [44] Chỉ định điều trị được đặt ra khi (1) AHI≥15 hoặc (2) AHI≥5 kèm vớicác triệu chứng ban ngày, ban đêm Mục tiêu điều trị là làm mất hay giảm các biến
cố ngưng thở - giảm thở và cải thiện giảm oxy máu trong lúc ngủ và từ đó cải thiệnchất lượng giấc ngủ và chức năng ban ngày Lợi ích của việc điều trị có thể được
mở rộng ra thông qua việc kiểm soát huyết áp tốt hơn, giảm tai nạn giao thông,giảm chi phí điều trị y tế và có thể giảm bệnh tật và tử vong do các bệnh lý timmạch [44], [77], [71]
Giảm cân [41], [31], [19], [49] và thờ áp lực dương đường thở liên tục (CPAP)[52], [45], [54] là các điều trị cho thấy cải thiện kết cục thông qua các thử nghiệmlâm sàng CPAP đem lại lợi ích nhiều nhất khi bệnh nhân sử dụng thiết bị thườngxuyên trong khi ngủ Việc sử dụng CPAP nên được đánh giá định kỳ bằng các tiêuchuẩn khách quan và được theo dõi sau đó lâu dài [112] Nhiều biện pháp có thể
Trang 23cải thiện sự tuân trị, bao gồm việc giảm các tác dụng phụ khi sử dụng thiết bị vàcác liệu pháp hành vi.
Các điều trị thay thế khác có bằng chứng hiệu quả ở một số bệnh nhân nhất địnhbao gồm dụng cụ hàm mặt, giải phẫu đường thở trên, và liệu pháp kích thích cơdưới lưỡi Một số các thiết bị khác có thể được dùng để điều trị ngáy và một sốtrường hợp OSA theo tư thế
Bệnh nhân OSA có nguy cơ chịu nhiều biến chứng khác nhau như giảm độ thứctỉnh vào ban ngày và giảm chất lượng cuộc sống, cho đến bị các biến chứng timmạch và tử vong, hay tăng nguy cơ nhập viện [58]
Vì giấc ngủ bị phân mảnh, bệnh nhân OSA thường có cảm giác buồn ngủ quámức vào ban ngày, giảm tập trung, và mệt mỏi, có thể dẫn đến rối loạn chức nănghoạt động ban ngày, rối loạn khả năngnặng nhận thức, làm nặng hơn các rối loạnnhận thức có sẵn hay làm tăng mắc lỗi trong lao động và sinh hoạt, có thể dẫn đếntai nạn [135], [130], [94] Điều này đặc biệt quan trọng ở những người hành nghềđòi hỏi sự thức tỉnh như tài xế phương tiện công cộng [51] Bệnh nhân nên đượckhuyến cáo tránh các hoạt động đòi hỏi sự thức tỉnh nếu cảm thấy buồn ngủ Điềutrị OSA thành công có thể cải thiện hoạt động lái xe và giảm tai nạn giao thông.Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng bệnh nhân OSA có nguy cơ trầm cảm cao gấphai lần nhóm chứng không OSA; đặc biệt một số nghiên cứu còn chỉ ra rằng nguy
cơ này còn cao hơn ở phụ nữ [29], [100], [17], [127] Ngoài ra một phân tích gộpcác nghiên cứu mô tả cho thấy có một mối liên hệ giữa OSA và rối loạn chức năngtình dục [74]
Bệnh lý tim mạch – Bệnh nhân OSA đặc biệt là mức độ trung bình – nặng.không được điều trị, có nguy cơ mắc nhiều bệnh lý tim mạch, bao gồm tăng huyết
áp, tăng áp động mạch phổi, bệnh mạch vành, rối loạn nhịp tim, suy tim, và độtquỵ [131], [72]
Trang 24Hội chứng chuyển hóa và đái tháo đường tuýp 2 – Bệnh nhân OSA có tần suấtbệnh đái tháo đường tuýp 2 cao hơn nhóm chứng Mối liên hệ này có thể được biểuhiện thông qua các yếu tố nguy cơ chung như béo phì [79], [108], tuy nhiên có mộtmối quan hệ độc lập giữa độ nặng OSA và đề kháng insulin, đái tháo đường tuýp
2 đã được báo cáo qua nhiều nghiên cứu cắt ngang mô tả [105], [64], [108] Nhiềunghiên cứu cũng chỉ ra rằng OSA là yếu tố nguy cơ cho đái tháo dường mới pháthiện hay các biến chứng của đái tháo đường như bệnh lý võng mạc do đái tháođường [26], [63], [18] Cơ chế sinh lý cho mối quan hệ này có thể là do stress oxyhóa gây ra bởi tình trạng giảm oxy máu ngắt quãng, thiếu ngủ hay phân mảnh giấcngủ, và hoạt hóa thần kinh giao cảm
Ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa, OSA liên quan tới sự gia tăng nồng độđường, nồng độ triglyceride, cũng như các marker viêm, độ cứng thành mạch vàtình trạng xơ vữa, cho thấy OSA có thể làm tăng thêm nữa các nguy cơ tim mạch
do béo phì và hội chứng chuyển hóa gây ra [42]
Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu – Sự giảm oxy mô ngắt quãng khi ngủ doOSA gây ra có thể làm gia tăng nguy cơ phát triển và độ nặng của bệnh gan nhiễm
mỡ không do rượu, độc lập với ảnh hưởng của béo phì [87], [88], [85], [122].Các biến chứng chu phẫu – Bệnh nhân OSA có nguy cơ cao hơn nhóm chứngcác biến chứng chu phẫu như giảm oxy máu hậu phẫu, suy hô hấp cấp, các biến cốtim mạch, và nhập khoa hồi sức [50]
Tử vong – Bệnh nhân OSA nặng không được điều trị có nguy cơ tử vong domọi nguyên nhân cao gấp 2-3 lần người không có OSA, độc lập với tác động củabéo phì và các bệnh lý tim mạch [104], [78], [131], [134], [86] Trái lại, bệnh nhânOSA mức độ nhẹ không được điều trị không tìm thấy gia tăng nguy cơ tử vong khi
so sánh với người không OSA [104], [78]
Về mặt kinh tế, bệnh nhân OSA sử dụng nhiều tài nguyên y tế hơn và có nhiềubệnh lý gây mất chức năng hơn so với những người không OSA Bên cạnh đó,những tác động lên chất lượng cuộc sống, chức năng hoạt động ban ngày, các biến
Trang 25chứng tim mạch có liên quan tới OSA gây nên một gánh nặng đáng kể cho nềnkinh tế [71], [15].
Các nghiên cứu mô tả tìm thấy tần suất OSA gia tăng ở những bệnh nhân cómột số bệnh lý nội khoa hay tình trạng sinh lý như: thai kỳ, suy tim sung huyết,bệnh thận mạn giai đoạn cuối, bệnh phổi mạn tính bao gồm hen, COPD và xơ phối
vô căn, to đầu chi, nhược giáp, hội chứng buồng trứng đa nang, và rối loạn stresssau chấn thương Trong số này, các phối hợp giữa OSA và suy tim, bệnh thận mạngiai đoạn cuối, hen và COPD nhận được nhiều quan tâm hơn [20]
STOP-BANG
Hầu hết các dấu hiệu và triệu chứng đều không đủ để xác định nguy cơ mắcOSA, và không một dấu hiệu lâm sàng riêng lẻ nào có đủ độ nhạy để chẩn đoánloại trừ và độ đặc hiệu để chẩn đoán xác định một cách hiệu quả [89]
Nhiều bộ công cụ đã được phát triển bằng cách kết hợp các dấu hiệu và triệuchứng thường gặp của OSA dễ dàng được thu nhận và diễn giải nhất là trong bốicảnh chăm sóc y tế ban đầu Các bộ câu hỏi được kiểm định rộng rãi nhất bao gồm:
• STOP-Bang - Thang điểm STOP-Bang là một bảng câu hỏi khảo sát
gồm các thông tin về ngáy, mệt mỏi, ngưng thở được nhìn thấy, tănghuyết áp, BMI, tuổi, chu vi vòng cổ, và giới tính Tổng điểm lớn hơnhoặc bằng 3 có độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 84 và 56% để chẩnđoán OSA dựa vào chỉ số AHI≥5, và độ nhạy và đặc hiệu 93 và 43% chochẩn đoán OSA trung bình – nặng, AHI≥15 [35]
– SACS là một bảng câu hỏi gồm 4 câu hỏi kết hợp dựa trên các thôngtin về chu vi vòng cổ, tăng huyết áp, ngáy và nghẹt thở hay thở hổn hển
Trang 26khi ngủ để tính một điểm số từ 0 đến 100 Điểm lớn hơn 15 tương đươngvới khả năng OSA từ 25 đến 50% với OSA định nghĩa là AHI>10 [47].
tới ngáy, ngủ không hiệu quả, buồn ngủ khi lái xe, ngưng thở khi ngủ,tăng huyết áp và BMI Kết quả chia bệnh nhân thành nguy cơ cao haynguy cơ thấp với OSA Điểm số nguy cơ cao có độ nhạy và độ đặc hiệulần lượt là 80 và 46% với AHI≥5, và 91 và 37% khi OSA được địnhnghĩa với AHI≥15 [92]
vi vòng cổ, BMI, ngáy, tuổi và giới Trong một phân tích kiểm định,điểm≥8 giúp nhận diện bệnh nhân có nguy cơ rối loạn hô hấp khi ngủvới diện tích dưới đường cong AUC 0,74 [80]
• Công c ụ tiên đoán ngưng thở đa biến (Multivariable apnea prediction
MVAP) – Công cụ này dựa trên một công thức bao gồm ba câu hỏi về
sự thường xuyên của các triệu chứng ngưng thở, kết hợp với BMI, tuổi
và giới; có độ nhạy 90,9% và độ đặc hiệu 64,4% ở những bệnh nhân cóbuồn ngủ ban ngày trong một nghiên cứu bối cảnh y tế ban đầu [56].Mặc dầu các công cụ này có giá trị nhất định để phát hiện OSA ở những bệnhnhân nhiều triệu chứng trong bối cảnh nguy cơ cao (như tại phòng khám y học giấcngủ, hay ở bệnh nhân tiền phẫu), chúng vẫn chưa được kiểm định đầy đủ ở dân sốchung các bệnh nhân không hoặc ít triệu chứng Ngoài ra, có một sự không đồngnhất về cách mà OSA được định nghĩa trong các nghiên cứu về các bộ câu hỏikhác nhau [34], [89] Hiện chưa có đủ bằng chứng để đưa ra khuyến cáo về việctầm soát OSA ở người trưởng thành không triệu chứng ở cộng [123] Hội Y HọcGiấc Ngủ Hoa Kỳ khuyến cáo không được dùng các bộ công cụ chẩn đoán lâmsàng, như bảng câu hỏi, thang điểm để chẩn đoán OSA mà không dựa trên kết quả
đa ký giấc ngủ hay các xét nghiệm ngưng thở tại nhà, khuyến cáo mức độ mạnh[62]
Trang 27Mặc dù vậy, các bộ câu hỏi có thể vẫn có một số vai trò nhất định Giá trị củacác bộ câu hỏi trong lĩnh vực gây mê hồi sức và chăm sóc chu phẫu có nhiều bằngchứng hơn [34] Đa ký giấc ngủ vẫn là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán OSA Tuynhiên, giá thành cao, không phải ở đâu cũng tiếp cận được và việc thực hiện tốnthời gian đã góp phần làm chậm chẩn đoán và điều trị OSA [46] Bên cạnh đó,nhiều bác sĩ lâm sàng còn gặp khó khăn trong việc nhận diện bệnh nhân có nguy
cơ OSA [109] Việc sử dụng một công cụ tầm soát đơn giản và chính xác sẽ giúpcho các bác sĩ, nhất là các bác sĩ đa khoa phát hiện sớm OSA trong dân số chung,cũng như các dân số bệnh nhân đặc biệt, và giúp việc sắp xếp và sử dụng hợp lý
đa ký giấc ngủ [113] Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các quốc giađang phát triển nơi mà nguồn lực còn khan hiếm [32]
Trong một nghiên cứu phân tích gộp, bộ câu hỏi STOP-Bang tỏ ra vượt trội hơn
so với các công cụ Bộ câu hỏi Berlin, Công cụ tầm soát ngưng thở khi ngủ, Bảngcâu hỏi STOP trong việc dự đoán OSA mức độ nhẹ, trung bình và nặng [5] Mặc
dù độ đặc hiệu thấp (42% cho OSA, 36% cho OSA vừa – nặng, 35% cho OSAnặng), STOP-Bang có độ nhạy cao nhất (88% cho OSA, 90% cho OSA vừa-nặng,
và 93% cho OSA nặng) so với các công cụ khác
Bảng câu hỏi STOP-Bang được phát triển lần đầu năm 2008 với bảng câu hỏiSTOP bao gồm 4 biến: ngáy, mệt mỏi, ngưng thở được nhìn thấy, và tăng huyết
áp Khi kết hợp bảng câu hỏi STOP với các biến số hình thái học bao gồm BMI vàchu vi vòng cổ, cùng với tuổi và giới, có một sự cải thiện về độ nhạy Mỗi thànhphần trong STOP-Bang được diễn đạt dưới dạng câu hỏi có/ không, và mỗi câuđược cho một điểm Tổng điểm lớn hơn hoặc bằng 3 được coi là dương tính vớiSTOP-Bang [37]
Trong một nghiên cứu khác cũng của nhóm tác giả trên dân số ngoại khoa, điểmSTOP-Bang càng cao được tìm thấy có liên quan tới mức độ nặng của OSA Cụthể, xác suất tiên đoán của OSA trung bình – nặng tăng từ 0,36 đến 0,60 khi điểm
Trang 28STOP-Bang tăng từ 3 đến 7 và 8 điểm Điểm STOP-Bang từ 5-8 điểm trong nghiêncứu này giúp nhận diện các bệnh nhân OSA trung bình – nặng [35] Cũng cầnnhắc lại rằng đây là nhóm bệnh nhân OSA có liên quan tới nguy cơ biến chứngbệnh và tử vong gia tăng [134], [33].
Trong các bài báo tiếp theo, nhóm tác giả đề nghị chia đối tượng khảo sát thành
ba nhóm nguy cơ dựa trên điểm STOP-Bang Cụ thể, nhóm nguy cơ thấp với điểm
từ 0-2, nhóm nguy cơ trung bình 3-4, nhóm nguy cơ cao 5-8 điểm Điểm Bang lớn hơn hoặc bằng 3 được xếp vào nhóm có nguy cơ OSA Điểm STOP-Bang lớn hơn hoặc bằng 5 làm tăng nguy cơ OSA trung bình – nặng [36], [34].Nhóm tác giả cũng phân tích nhóm nguy cơ trung bình dựa trên các cách kết hợpbiến khác nhau, cụ thể khi điểm số STOP từ 2 điểm trở lên phối hợp với giới tínhnam, BMI tăng, và vòng cổ lớn, cũng được xếp vào nhóm nguy cơ cao Theo nhómtác giả, cách tính điểm này giúp cải thiện độ đặc hiệu của công cụ
STOP-Do tính dễ sử dụng và giá trị chẩn đoán tốt thể hiện qua nhiều nghiên cứu kiểmđịnh khác nhau, bảng câu hỏi STOP-Bang đã được sử dụng rộng rãi trong nhiềubối cảnh và dân số khác nhau bao gồm bệnh nhân phẫu thuật, bệnh nhân phòngkhám giấc ngủ, và cả trong cộng đồng [91] Hiện tại, bảng câu hỏi STOP-Bang đãđược phiên dịch ra nhiều ngôn ngữ và kiểm định tại nhiều quốc gia khác nhau:Đan Mạch, Bồ Đào Nha, Arab, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư, tiếng Quảng Đông (HồngKông), Thái Lan [24], [16], [13], [57], [21], [110], [48]
Đây có thể được coi là bảng câu hỏi được kiểm định nhiều nhất ở dân số châu
Á Một nghiên cứu tổng quan tài liệu, khuyến cáo nên giữ nguyên điểm cắt BMI
35 vì các điểm cắt khác không cải thiện khả năng dự đoán của STOP-Bang mộtcách có ý nghĩa [32], [90] Hai nghiên cứu đã kiểm định bộ câu hỏi trên dân sốThái Lan và Singapore, và để nghị sử dụng điểm cắt BMI 30 [21], [95] Một nghiêncứu khác báo cáo độ chính xác của thang điểm STOP-Bang cũng tại Thái Lan và
đề nghị hiệu chỉnh điểm cắt BMI là 25 kg/m2 và chu vi vòng cổ 36 cm [99]
Trang 29s ự tiếp xúc với các phần tử và khí độc hại.
COPD là một vấn đề sức khỏe toàn cầu quan trọng và là nguyên nhân gây tàntật và tử vong hàng đầu trên thế giới Hiện tại, COPD là nguyên nhân tử vong đứnghàng thứ tư trên thế giới và dự báo sẽ trở thành nguyên nhân tử vong đứng hàngthứ ba vào năm 2020 [53] Hơn 3 triệu người tử vong vì COPD trong năm 2012trên thế giới Trong khi các nguyên nhân tử vong khác có xu hướng giảm đi, COPD
là nguyên nhân tử vong duy nhất ngày càng gia tăng Sự gia tăng của COPD đượccho là do các nguyên nhân bao gồm sự già hóa dân số, và tỷ lệ hút thuốc lá vẫncòn cao trên thế giới [53], [76] COPD ảnh hưởng khoảng 16% dân số Hoa Kỳ,tương đương khoảng 20 triệu người [76] Tại Việt Nam, tỷ lệ này là 4,2% theo mộtthống kê năm 2011 [5] Con số này được dự đoán sẽ tiếp tục gia tăng do tình hìnhgià hóa dân số tại Việt Nam [60] cũng như tỷ lệ hút thuốc lá vẫn còn cao, vàokhoảng 25% dân số [129]
Chẩn đoán COPD nên được xem xét và thực hiện đo hô hấp ký cho tất cả bệnhnhân nào có các triệu chứng như khó thở, ho mạn tính, hay ho có đàm mạn tính,đặc biệt khi người đó có tiền căn phơi nhiễm với thuốc lá hay các phần tử khí cóhại khác (bụi nghề nghiệp hay chất đốt sinh khối) COPD được chẩn đoán xác địnhkhi một bệnh nhân có triệu chứng phù hợp được tìm thấy có hiện tượng giới hạn
Trang 30luồng khí không đảo ngược khi đo hô hấp ký và không có chẩn đoán nào khác giảithích các triệu chứng và hiện tượng tắc nghẽn dòng khí Tiêu chuẩn hô hấp ký(FEV1 và tỷ lệ FEV1/FVC sau thuốc dãn phế quản) được dùng để chẩn đoánCOPD và đánh giá mức độ nặng của sự tắc nghẽn đường dẫn khí trong COPD.Bảng 1.1 Phân độ mức độ tắc nghẽn ở bệnh nhân COPD (GOLD 2018)
Tuy nhiên, người ta thấy rằng, ít có mối liên quan giữa mức độ nặng của FEV1
và triệu chứng cũng như chất lượng cuộc sống của bệnh nhân COPD Chính vì lý
do đó, bắt buộc chúng ta phải sử dụng các thang điểm đánh giá triệu chứng để phân
độ bệnh
Đánh giá triệu chứng Đặc điểm triệu chứng COPD là các triệu chứng khó thở,
ho, khạc đờm kéo dài và nặng dần Triệu chứng của bệnh nhân được đánh giá bằng
2 thang điểm mMRC (modified Medical Research Council) và thang điểm Bảngcâu hỏi đánh giá tác động của COPD (CAT)
Bảng 1.2 Thang điểm mMRC để đánh giá mức độ khó thở
Khó thở khi đi vội trên đường bằng hay đi lên dốc nhẹ 1
Đi bộ chậm hơn người cùng tuổi vì khó thở hoặc phải dừng lại để thởkhi đi cùng tốc độ của người cùng tuổi trên đường bằng 2Phải dừng lại để thở khi đi bộ khoảng 100m hay vài phút trên đường
Khó thở nhiều đến nỗi không thể ra khỏi nhà, khi thay quần áo 4Thang điểm CAT gồm 8 câu hỏi, cho bệnh nhân tự đánh giá mức độ từ nhẹ tớinặng, mỗi câu đánh giá có 6 mức độ, từ 0-5, tổng điểm từ 0-40 (Phụ lục) Nếu điểm
Trang 31CAT từ 10 điểm trở lên được xem là có nhiều triệu chứng Thang điểm CAT≥ đượcchứng minh là tương quan với thang điểm Đánh giá chất lượng cuộc sống SaintGeorge≥25.
Đánh giá đợt cấp Đợt cấp COPD được định nghĩa khi các triệu chứng về hô
hấp của bệnh nhân trở nên xấu hơn và vượt ra khỏi ngưỡng thay đổi hằng ngày dẫnđến bệnh nhân phải thay đổi thuốc Bệnh nhân sẽ có tiên lượng xấu và nguy cơ tửvong cao nếu có hơn 2 đợt cấp hoặc 1 đợt cấp do COPD phải nhập viện trong nămqua
Đánh giá tổng hợp theo phân nhóm ABCD Dựa vào 2 yếu tố trên: triệu chứng
và đợt cấp, COPD được phân làm 4 nhóm: Nhóm A ít triệu chứng, ít nguy cơ đợtcấp; nhóm B nhiều triệu chứng, ít nguy cơ đợt cấp; nhóm C ít triệu chứng, nhiềunguy cơ đợt cấp và nhóm D nhiều triệu chứng, nhiều nguy cơ đợt cấp
Sơ đồ 1.1 Phân nhóm ABCD theo GOLD 2017
Việc điều trị COPD bao gồm các biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc.Cai thuốc lá là biện pháp điều trị cơ bản, có hiệu quả kinh tế nhất và là biện phápduy nhất có thể giảm thiểu sự suy giảm chức năng hô hấp Bệnh nhân COPD nênđược tiêm vắc xin phòng cúm và phế cầu Tất cả các BN COPD đều có lợi từ việctập luyện và nên khuyến khích người bệnh duy trì hoạt động Các phương pháp
Trang 32phục hồi chức năng hô hấp đang ngày càng phổ biến hơn Điều trị thuốc phù hợpgiúp làm giảm triệu chứng COPD, giảm tần xuất và độ nặng các đợt cấp, cải thiệntình trạng sức khỏe chung và khả năng gắng sức Không có thuốc điều trị hiện tạinào có thể làm thay đổi tiến trình xấu đi của chức năng phổi Các nhóm thuốc điềutrị chính là thuốc dãn phế quản (cường beta 2, kháng cholinergic, theophyllin),corticoid, thuốc ức chế phosphodiesterase-4 Ngoài ra bệnh nhân COPD còn có thểđược chỉ định liệu pháp oxy dài hạn (long-term oxygen therapy), thông khí hỗ trợhoặc phẫu thuật giảm thể tích phổi.
Các đợt cấp là một phần của diễn tiến bệnh, việc quyết định nơi điều trị phụthuộc vào mức độ nặng của đợt cấp và một số yếu tố khác, đợt cấp nặng cần phảinhập viện Điều trị bao gồm thuốc dãn phế quản, corticosteroid đường toàn thân,xem xét sử dụng kháng sinh và các biện pháp hỗ trợ thông khí không xâm lấn hoặcxâm lấn
Trong các ấn bản gần đây, GOLD dành hẳn một chương để bàn luận về các bệnhđồng mắc ở bệnh nhân COPD Nhiều tác giả còn coi một số bệnh đồng mắc là biểuhiện ngoài phổi của bệnh lý COPD như bệnh lý cơ-xương, loãng xương, thiếu máu
và trầm cảm COPD cũng liên quan tới các bệnh lý tim mạch và nhiều bệnh lý áctính [gold 2018] Ngoài ra, trong các bệnh lý đồng mắc của COPD, người ta đangngày càng chú ý tới hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA), mối tươngtác giữa hai bệnh lý này được tìm thấy làm nặng nề hơn bệnh suất cũng như tửvong ở bệnh nhân COPD [53], [65], [82], [97]
Flenley (1983) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ hội chứng chồng lấp COPD để chỉ sự hiện diện đồng thời OSA và COPD [140] Do tần suất riêng củaCOPD hay OSA đều cao, ta có thể dự đoán có một số lượng lớn bệnh nhân có cả
Trang 33OSA-hai bệnh lý này Những nghiên cứu mô tả trước đây cho thấy tỷ lệ bệnh nhân OSArất cao trong bệnh nhân COPD và ngược lại Điều này làm nhiều tác giả cho rằng
có một mối tương quan giữa hai bệnh lý này khiến một bệnh nhân COPD dễ mắcOSA hơn và ngược lại Nhiều cơ chế đã được đưa ra nhằm giải thích mối tươngquan này Tuy nhiên, hai nghiên cứu lớn gần đây không tìm thấy mối tương quannày [23], [111] Hai nghiên cứu này cho rằng tỷ lệ OSA trên bệnh nhân COPDcũng tương tự dân số chung Trái lại, trong thời gian gần đây nhiều nghiên cứu đãbáo cáo tỷ lệ bệnh nhân đồng mắc OSA rất cao trong dân số bệnh nhân COPD[117], [118]
Mặc dù vậy, chỉ do xác suất ngẫu nhiên đơn thuần, một bệnh nhân COPD cónguy cơ mắc OSA vào khoảng 10% và ngược lại Do đó, số lượng bệnh nhân cóhội chứng chồng lấp OSA-COPD vẫn là một con số đáng quan tâm
Theo như một tổng quan tài liệu năm 2017, có mười nghiên cứu đã được thựchiện để báo cáo tỷ lệ hội chứng chồng lấp OSA-COPD trên bệnh nhân COPD (tổng
số người tham gia trong các nghiên cứu là 6.099) [115] Tỷ lệ hội chứng chồng lấpOSA-COPD rất thay đổi, từ 2,9% đến 65,9% Đa số các nghiên cứu đều thu thậpmẫu một cách liên tục Chẩn đoán OSA được xác định bằng đa ký giấc ngủ (tạiphòng lab giấc ngủ hay tại nhà) trong tám nghiên cứu, hai nghiên cứu còn lại chỉ
sử dụng bảng câu hỏi Berlin và thang buồn ngủ Epworth Sự khác biệt về tần suấtOSA trên bệnh nhân COPD trong các nghiên cứu này vẫn chưa hiểu rõ, điều này
có thể chủ yếu do sự khác biệt về mặt phương pháp và cách định nghĩa chẩn đoángiữa các nghiên cứu cũng như khác biệt về dân số nghiên cứu Cũng nên lưu ý,trong vòng 25 năm qua, cả OSA và COPD đều đã có những thay đổi lớn tronghướng dẫn chẩn đoán và thái độ điều trị Các thiết bị đa ký giấc ngủ, đa ký hô hấp
đã có những cải thiện về độ chính xác so với trước đây [82]
Đặc biệt, bệnh nhân có đồng thời COPD và OSA có nguy cơ tử vong và bệnhtật cao hơn so với chỉ riêng COPD hay OSA đơn thuần Hội chứng chồng lấp OSA-
Trang 34COPD làm nặng thêm tình trạng tăng thán, giảm oxy máu vào ban ngày và làm giatăng nguy cơ tăng áp phổi Bệnh nhân cũng bị tăng nguy cơ mắc các bệnh đồngmắc khác như các bệnh lý tim mạch, bệnh lý chuyển hóa Hội chứng chồng lấpOSA-COPD cũng làm gia tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân COPD Trong một nghiêncứu theo dõi trên 9 năm, tỷ lệ tử vong do toàn bộ nguyên nhân của nhóm bệnhnhân hội chứng chồng lấp OSA-COPD (không được điều trị CPAP) là 42,2% sovới nhóm bệnh nhân COPD đơn thuần 24,2% [77] Sau khi hiệu chỉnh với mức độnặng của COPD, đồng mắc OSA vẫn là một yếu tố nguy cơ tử vong Trong mộtnghiên cứu khác của Mermigskis, OSA trên bệnh nhân COPD làm sụt giảm chấtlượng cuộc sống so với bệnh nhân COPD không OSA [84].
Việc chẩn đoán chủ yếu dựa vào đa ký giấc ngủ Các tổ chức như Hiệp hội giấcngủ Hoa Kỳ khuyến cáo làm đa ký giấc ngủ trên bệnh nhân có bệnh lý tim phổiquan trọng như suy tim, COPD [62] Tuy nhiên, đa ký giấc ngủ không phổ biến vàđắt tiền ngay cả ở những nước đã phát triển Hiện tại, nhiều lưu đồ chẩn đoán mớiđang được phát triển và giá trị của các lưu đồ này đang được nghiên cứu, với xuhướng chuyển dần sang các thiết bị xét nghiệm giấc ngủ tại nhà [69] Các bảng câuhỏi có thể được tích hợp vào như một bước sàng lọc ban đầu [82], [59]
Về mặt điều trị, hội chứng chồng lấp OSA-COPD hầu hết không khác biệt nhiều
so với từng bệnh lý thành phần riêng rẽ Mục tiêu của việc điều trị là cung cấp đủoxy mô cho toàn bộ thời gian và cũng như phòng ngừa các rối loạn hô hấp liênquan giấc ngủ
mòn ở bệnh nhân COPD Đối với những bệnh nhân có hội chứng chồng lấp COPD với COPD mức độ nhẹ, có thể thử một chế độ ăn và tập luyện nhằm đạtđược cân nặng lý tưởng
Trang 35OSA-Oxy li ệu pháp dài hạn Sử dụng oxy dài hạn có bằng chứng cải thiện tử vong ở
những bệnh nhân COPD Trong một nghiên cứu, sử dụng oxy dài hạn làm gia tăngkhoảng thời gian của các biến cố tắc nghẽn khi ngủ của bệnh nhân vừa có COPDvừa có OSA, từ 25,7 giây lên 31,4 giây, làm gia tăng PCO2 cuối sự kiện ngưng thở
từ 52,8 mmHg lên 62,3 mmHg [5] Do đó việc điều trị bổ sung oxy đơn thuầnkhông nên được sử dụng ở bệnh nhân có hội chứng chồng lấp OSA-COPD
phòng ngừa tình trạng giảm oxy máu về đêm ở những bệnh nhân COPD Bằngchứng cho thấy thuốc giãn phế quản cholinergic ipratropium và tiotropium hữuích, cải thiện độ bão hòa oxy máu về đêm, cải thiện chất lượng giấc ngủ
CPAP CPAP hiện là điều trị tiêu chuẩn cho bệnh nhân OSA và cũng là điều trị
tiêu chuẩn được chấp nhận rộng rãi cho hội chứng chồng lấp OSA-COPD Tuynhiên, CPAP đơn thuần có thể không đủ để cải thiện tình trạng giảm oxy máu, cóthể cần bổ sung thêm oxy liệu pháp Trong một số trường hợp bệnh nhân có tìnhtrạng tăng thán khí nghiêm trọng, có thể cân nhắc sử dụng phương pháp thở áp lựcdương đường thở hai mức (BiPAP) [82], [97], [83]
L ẤP OSA-COPD TẠI VIỆT NAM
Ngành y học giấc ngủ là một ngành mới phát triển gần đây tại Việt Nam, vớinhững nghiên cứu đầu tiên được xuất bản vào những năm 2010 [7], [4] Tuy ngành
y học giấc ngủ đã đạt được nhiều tiến bộ, khả năng tiếp cận vẫn còn giới hạn tạimột số trung tâm chuyên khoa Hô hấp lớn Tại khu vực phía Nam Việt Nam vẫncòn giới hạn tại một số trung tâm chuyên khoa Hô hấp công lập và tư nhân.Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Bích Huyên và cs, của Lê Thượng Vũ và cs đãmiêu tả đặc điểm dân số học, yếu tố nguy cơ và biểu hiện lâm sàng của những bệnhnhân đến khám tại bệnh viện Chợ Rẫy (BVCR) vì than phiền liên quan đến giấcngủ Tỷ lệ bệnh nhân OSA trong những bệnh nhân này là 88,3-87,1% [7], [4] Mộttrong những điểm cần lưu ý là tỷ lệ bệnh nhân béo phì trong các nghiên cứu này
Trang 36thấp hơn so với kết quả thường thấy ở các nước phương Tây Nghiên cứu của Đặng
Vũ Thông và cs đã khẳng định lại hiệu quả điều trị của CPAP trên bệnh nhân OSAtại Việt Nam [1]
Nghiên cứu của Đậu Nguyễn Anh Thư và cs đã nghiên cứu về vai trò của Thangđiểm buồn ngủ Epworth, nghiên cứu của Trần Minh Huy và cs đã nghiên cứu vềvai trò của Bảng câu hỏi Berlin Cả hai tác giả đều tìm thấy kết quả không thỏamãn về vai trò của những công cụ này [2], [11] Một lần nữa, cả hai nghiên cứuđều khẳng định lại vai trò của chỉ số khối cơ thể (BMI), kích thước vòng cổ, vòngbụng trong tiên đoán OSA Bên cạnh những yếu tố kinh điển, nghiên cứu của VũHoài Nam tìm thấy đặc điểm hàm mặt biểu hiện qua góc ANB (A point–nasion–Bpoint angle) là một yếu tố nguy cơ cho OSA cho dân số Việt Nam [12]
Gần đây nhất, nghiên cứu Epsasie của Dương Quý Sỹ và cs đã công bố tần suấtOSA trong dân số chung người Việt Nam là 8,5% Tác giả nghiên cứu đã nhận xétrằng tần suất OSA mức độ trung bình-nặng (5,2% dân số) tại Việt Nam là rất đángquan tâm, thậm chí còn cao hơn ở một số nước khác [119], [93]
Có rất ít nghiên cứu về hội chứng chồng lấp OSA-COPD tại Việt Nam Mộtnghiên cứu được thực hiện sau đó tại BV Bạch Mai, Hà Nội nghiên cứu trên 60bệnh nhân COPD [8] Các bệnh nhân này hoàn thành thang điểm Epworth và được
đo đa ký giấc ngủ Tỷ lệ bệnh nhân có điểm Epworth ≥ 10 ở nhóm COPD có hộichứng ngưng thở và COPD không có hội chứng ngưng thở khi ngủ lần lượt là32,5% và 30%; cho thấy thang điểm Epworth có khả năng tiên đoán kém Tỷ lệhội chứng ngưng thở trên COPD: 66,7% Cũng theo nghiên cứu này, đồng mắcOSA trên bệnh nhân COPD làm gia tăng sự giảm oxy máu ban đêm và tăng ápđộng mạch phổi so với bệnh nhân COPD đơn thuần
Nhìn chung, OSA trên bệnh nhân COPD vẫn là một vấn đề mới, chưa đượcnghiên cứu đầy đủ tại Việt Nam Vai trò của việc điều trị đồng thời OSA và COPD
là cần thiết Vấn đề chẩn đoán OSA bằng đa ký giấc ngủ tồn tại nhiều khó khăn dođây là một xét nghiệm đắt tiền và không phổ biến Đòi hỏi cần có một công cụ đơn
Trang 37giản và hiệu quả đóng vai trò một phương tiện tầm soát ban đầu, giúp đánh giá sơlược tỷ lệ bệnh nhân COPD mắc OSA tại Việt Nam.
Trang 38CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 GIAI ĐOẠN 1: PHIÊN DỊCH VÀ KIỂM ĐỊNH PHIÊN BẢN
Cắt ngang mô tả tiến cứu
Địa điểm Phòng khám Thăm dò chức năng hô hấp, BV Đại Học Y Dược
TP.HCM (BVĐHYD)
hô hấp
phòng khám Thăm dò chức năng hô hấp, BVĐHYD
• Tuổi ≥ 18 tuổi
• Tới khám ngoại trú tại Phòng khám Thăm dò chức năng hô hấp hoặc bệnhnhân nội viện được hội chẩn Phòng khám Thăm dò chức năng hô hấp, BVĐHYD
• Nghi ngờ OSA
• Được tiến hành đo đa ký giấc ngủ
• Bệnh nhân lú lẫn, không giao tiếp được
Trang 39• Bệnh nhân có nguy cơ cao mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ trung ương:
o Bệnh nhân từng được chẩn đoán suy tim NYHA III-IV
o Bệnh nhân đang sử dụng thuốc opioid
• Bệnh nhân có kiểu hình bệnh lý di truyền: Hội chứng Down, Hội chứngTreacher-Collins
Lấy mẫu liên tục cho đến khi đủ mẫu các bệnh nhân nghi ngờ OSA, được đo đa
ký giấc ngủ tại phòng khám Thăm dò chức năng hô hấp, BV ĐHYD đồng ý thamgia nghiên cứu
Nghiên cứu thu nhận toàn bộ bệnh nhân được đo đa ký giấc ngủ tại BV ĐHYDđồng ý tham gia nghiên cứu từ ngày 01/10/2017 cho đến khi đủ mẫu Cỡ mẩu tốithiểu là 40 người
• Hỏi thông tin hành chính, bệnh sử, tiền căn và thăm khám lâm sàng trêntừng bệnh nhân
• Thang điểm STOP BANG dựa vào bảng câu hỏi Được thực hiện trên tất
cả bệnh nhân ở giai đoạn 1 và giai đoạn 2 của nghiên cứu Các bệnh nhân
đã được hỏi và khám nhân trắc sau khi khám bệnh
• Đa ký giấc ngủ là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán OSA, bao gồm 7 thôngsố: điện tâm đồ (hay tần số tim), điện não đồ, điện cơ hốc mắt, điện cơcằm, SpO2, thông khí mũi và cử động lồng ngực AHI ≥5 được dùng đểchẩn đoán OSA, kèm hoặc không kèm xét đến triệu chứng
• Mẫu thu thập số liệu
Trang 40• Thước dây đo vòng cổ, thước đo chiều cao, cân nặng được chuẩn hóa
• Máy đo huyết áp đồng hồ
• Bản sao kết quả đa ký giấc ngủ của bệnh nhân
Bảng 2.1 Bảng liệt kê biến số được thu thập trong giai đoạn 1
Đặc điểm dân số học
Đặc điểm dịch tễ học
Tiền căn gia đình có người thân trực
hệ có triệu chứng ngáy to
Nhị giá
Tiền căn gia đình có người thân trực
hệ có triệu chứng ngưng thở khi ngủđược nhìn thấy
Nhị giá
Tiền căn bệnh mạch vành Nhị giáTiền căn suy tim NYHA I-II Nhị giáTiền căn đái tháo đường Nhị giá
Đặc điểm nhân trắc học và huyết áp