Nghiêncứu của Mitooka và cộng sự cho thấy số bệnh nhân có polyp đại trực tràngkhông có triệu chứng lâm sàng chiếm tỉ lệ trên 50% và phần lớn được pháthiện qua nội soi đại trực tràng [58]
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Bệnh nhân ngoại trú khám tại Bệnh viện Đại Học Y Dược TPHCM từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2015, được chẩn đoán hội chứng ruột kích thích theo tiêu chuẩn ROME III Sau đó, bệnh nhân đã thực hiện nội soi đại tràng và đồng ý tham gia vào nghiên cứu y học nhằm nâng cao hiểu biết và điều trị hội chứng ruột kích thích hiệu quả hơn.
Tiêu chuẩn ROME III định nghĩa rối loạn chức năng tiêu hóa với đặc điểm chính là đau bụng hoặc khó chịu vùng bụng tái phát ít nhất 3 ngày trong một tháng, diễn ra trong vòng 3 tháng gần đây Để chẩn đoán chính xác, bệnh nhân cần có ít nhất 2 trong 3 triệu chứng sau: đau bụng kéo dài, giảm hoặc tăng cảm giác đau, và sự thay đổi trong thói quen đi tiêu hoặc phân Tiêu chuẩn này giúp phân biệt hội chứng ruột kích thích với các bệnh tiêu hóa khác và cải thiện quá trình chẩn đoán.
- Giảm triệu chứng đau sau khi đi tiêu
- Thay đổi số lần đi tiêu khi khởi phát bệnh
Trong quá trình khởi phát bệnh, hình dạng phân thường thay đổi rõ rệt Tiêu chuẩn chẩn đoán yêu cầu các triệu chứng này đã xuất hiện trong vòng ít nhất 3 tháng gần nhất, với dấu hiệu bắt đầu xuất hiện ít nhất 6 tháng trước khi tiến hành chẩn đoán chính thức.
- Bệnh nhân có chống chỉ định nội soi đại tràng.
- Có tiền sử phẫu thuật đại tràng/ cắt polyp đại trực tràng.
- Bệnh nhân có bệnh tâm thần hoặc không có khả năng trả lời câu hỏi.
- Đại tràng bẩn, có khả năng sót tổn thương.
- Không soi đƣợc tới manh tràng.
- Không thực hiện đƣợc sinh thiết hoặc làm mất mẫu mô bệnh học.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả.
2.2.2 Cỡ mẫu: Cỡ mẫu nghiên cứu đƣợc tính theo công thức đã đƣợc Tổ chức Y tế Thế giới giới thiệu: n = Z 1 2 / 2 p ( 1 d 2 p ) trong đó: n: cỡ mẫu Z: hệ số tin cậy p: tỉ lệ ƣớc đoán của quần thể d: sai số cho phép của nghiên cứu Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn α = 0,05 và độ tin cậy 95% tương đương với Z 1 2 / 2 = 1,96 Chọn tỉ lệ ước đoán của quần thể là tỉ lệ polyp đại trực tràng ở bệnh nhân hội chứng ruột kích thích p = 0,146 (theo nghiên cứu của Chey WD và cộng sự tại Mỹ năm 2010), d= 0,05, áp dụng công thức tính cỡ mẫu ta có n = 191,6 Do đó, chọn cỡ mẫu có ít nhất 192 đối tƣợng nghiên cứu [34].
2.2.3 Chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện, thời gian từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2015.
CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH
2.3.1 Tiến trình thu thập số liệu:
Bệnh nhân ngoại trú đến khám tại Bệnh viện Đại Học Y Dược được nội soi đại tràng để đánh giá các vấn đề tiêu hóa Sau đó, bệnh nhân được phỏng vấn theo bộ câu hỏi chuẩn để chẩn đoán hội chứng ruột kích thích dựa trên tiêu chuẩn ROME III Quá trình này giúp xác định chính xác các triệu chứng và hỗ trợ đưa ra phương pháp điều trị phù hợp Việc sử dụng tiêu chuẩn ROME III trong chẩn đoán hội chứng ruột kích thích đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả chẩn đoán và chăm sóc bệnh nhân.
- Chọn bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn ROME III.
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn các bệnh nhân dựa trên bảng câu hỏi chuẩn về các yếu tố nguy cơ của polyp đại trực tràng (phụ lục 2: Bảng câu hỏi phỏng vấn) Việc này giúp xác định các yếu tố rủi ro quan trọng liên quan đến sự phát triển của polyp, góp phần nâng cao công tác chẩn đoán và phòng ngừa bệnh hiệu quả Phương pháp phỏng vấn theo bảng câu hỏi này đảm bảo tính chuẩn xác và khách quan trong việc thu thập dữ liệu từ các bệnh nhân.
- Bệnh nhân được nội soi đại tràng để đánh giá tổn thương.
Khi nội soi đại trực tràng phát hiện polyp, cần ghi nhận đầy đủ các đặc điểm như vị trí, số lượng và bề mặt của polyp theo các tiêu chí quy định Việc mô tả chính xác các đặc điểm này giúp đánh giá mức độ nguy hiểm và lập kế hoạch điều trị phù hợp Đặc biệt, việc xác định chính xác vị trí và kích thước của polyp đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán và phòng ngừa ung thư đại trực tràng.
- Tiến hành sinh thiết hay cắt polyp qua nội soi Về kết quả mô bệnh học, các mẫu sinh thiết đƣợc cố định bằng dung dịch formalin 10%, nhuộm
HE, PAS và đọc kết quả tại khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Đại học Y Dƣợc TPHCM.
Trong quá trình đánh giá kết quả sinh thiết nhiều polyp, chúng tôi tập trung ghi nhận kết quả mô bệnh học của polyp có nguy cơ ung thư cao nhất để đảm bảo chẩn đoán chính xác và hướng điều trị phù hợp.
- Tổng hợp và phân tích số liệu để đƣa ra kết luận.
- Nơi thực hiện nội soi: Khoa Nội soi, Bệnh viện Đại học Y Dƣợc TPHCM.
+ Hệ thống máy nội soi Olympus, ống soi đại tràng mềm Exera CF-160 (ống soi video), nguồn sáng, bộ xử lí và kềm sinh thiết.
+ Thòng lọng điện cắt polyp qua nội soi + Dung dịch formalin 10% để cố định bệnh phẩm.
+ Bơm tiêm nhựa, ống nhựa đựng bệnh phẩm.
Hình 2.1: Hệ thống máy nội soi A: Máy nội soi, B: Dây soi, C: Nguồn sáng.
2.3.3 Các bước tiến hành nội soi đại tràng
- Bệnh nhân trước khi nội soi được hỏi bệnh và khám lâm sàng
- Giải thích cho bệnh nhân biết mục đích nội soi và các bước cần làm để bệnh nhân an tâm hợp tác Cụ thể:
Để chuẩn bị cho nội soi, bệnh nhân cần nhịn ăn thức ăn giàu chất xơ ít nhất một ngày trước khi thực hiện thủ thuật Trong ngày trước nội soi buổi sáng, nếu cần uống thuốc, bệnh nhân sẽ uống 3 gói Fortrans pha với 3 lít nước trong vòng 3 giờ đồng hồ, bắt đầu từ chiều hôm trước Từ thời điểm bắt đầu uống thuốc đến khi hoàn tất nội soi vào ngày hôm sau, bệnh nhân chỉ được uống các loại thức uống không gây hạ đường huyết như nước đường hoặc nước dừa Ngoài ra, bệnh nhân tuyệt đối không được ăn uống ít nhất 2 giờ trước khi nội soi để đảm bảo quá trình diễn ra an toàn và hiệu quả Đối với nội soi buổi chiều, việc uống thuốc bắt đầu từ 4-5 giờ sáng hôm đó, thường bắt đầu từ khoảng 5 giờ sáng để đảm bảo vệ sinh ruột trước khi thủ thuật diễn ra.
+ Nếu có các chống chỉ định sau thì không cho bệnh nhân uống Fortrans, thay vào đó chuẩn bị bằng thụt tháo để làm sạch đại tràng:
• Tổng trạng suy yếu như tình trạng mất nước hay suy tim, suy thận nặng
• Táo bón 3 ngày chƣa đi tiêu
• Đau bụng có khối gò ở bụng, giảm đau khi trung tiện đƣợc
+ Bác sĩ thực hiện : bác sĩ tại khoa nội soi bệnh viện Đại Học Y Dƣợc.
Bệnh nhân nên nằm ngửa hoặc nghiêng trái để thuận tiện cho quá trình thăm khám hậu môn trực tràng Trước khi nội soi, cần thăm khám hậu môn trực tràng, bôi trơn máy và đưa ống soi qua hậu môn đã bơm hơi để quan sát rõ đường đi Tiến dần lên phía trên để quan sát toàn bộ niêm mạc, cuối cùng đưa ống soi đến manh tràng hoặc đoạn cuối hồi tràng Khi phát hiện polyp trong lòng đại trực tràng, cần bơm nước để làm sạch polyp và quan sát hình ảnh đại thể của polyp Cuối cùng, bác sĩ sẽ tiến hành sinh thiết hoặc cắt polyp qua nội soi để xác định chính xác và xử lý kịp thời.
Bệnh phẩm được bảo quản trong dung dịch formalin 10% nhằm giữ cấu trúc mô chính xác để phân tích Kết quả sinh thiết được đọc tại khoa Giải phẫu bệnh của Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, dựa trên tiêu chuẩn phân loại polyp của Tổ chức Y tế Thế giới (2000) để đảm bảo độ chính xác và phù hợp trong chẩn đoán.
ĐỊNH NGHĨA BIẾN SỐ
2.4.1 Các biến số liên quan lâm sàng:
- Tuổi: là biến số định lƣợng, tính theo năm sinh cho đến thời điểm nghiên cứu, sau đó đƣợc chia thành 2 nhóm (biến số thứ tự):
- Giới tính: là biến số nhị giá: nam hoặc nữ
Chỉ số khối cơ thể (BMI) là biến số định lượng, được tính bằng cân nặng chia cho bình phương chiều cao Theo Tổ chức Y tế Thế giới dành riêng cho người châu Á (Nguồn: www.who.int/bmi), BMI giúp phân loại mức độ béo phì và sức khỏe dựa trên các ngưỡng tiêu chuẩn đã được điều chỉnh phù hợp với đặc điểm dân số châu Á Việc hiểu rõ chỉ số BMI giúp đánh giá chính xác hơn tình trạng thể chất và hỗ trợ trong việc xây dựng các chương trình sức khỏe cộng đồng hiệu quả.
- Hút thuốc lá: là biến số nhị giá: không hút và từng hút/đang hút thuốc lá
+ Không hút thuốc lá là những người không hút thuốc lá tại thời điểm nghiên cứu gồm nhóm chƣa bao giờ hút thuốc lá trong cuộc đời.
+ Đang hút thuốc lá là hút bất kì loại thuốc nào hằng ngày hoặc thỉnh thoảng trong vòng ít nhất 12 tháng gần đây.
+ Từng hút thuốc lá là những người không hút thuốc lá tại thời điểm nghiên cứu gồm nhóm đã bỏ thuốc > 12 tháng [44].
Hội chứng ruột kích thích là một biến số định danh quan trọng trong nghiên cứu về rối loạn tiêu hóa Trong đó, chúng tôi phân chia các thể lâm sàng của hội chứng này dựa trên mức độ rối loạn đại tiện để hiểu rõ hơn về đặc điểm từng dạng bệnh Cụ thể, hội chứng ruột kích thích thể táo bón được xác định khi trong 3 tháng gần nhất, người bệnh gặp phải tình trạng đại tiện phân cứng, lổn nhổn nhiều lần, và hiếm khi hoặc không bao giờ thải phân bã, phân nhão hoặc phân lỏng như nước.
Hội chứng ruột kích thích thể tiêu chảy là tình trạng người bệnh đi ngoài phân bã, phân nhão hoặc phân lỏng như nước nhiều lần trong vòng 3 tháng Các triệu chứng này thường xuất hiện liên tục hoặc theo từng đợt, gây ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, người mắc hội chứng này hiếm khi hoặc không bao giờ đi đại tiện phân cứng, lổn nhổn, phản ánh đặc điểm chủ yếu của thể tiêu chảy Để chẩn đoán chính xác và xây dựng phương pháp điều trị phù hợp, người bệnh cần tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa.
Hội chứng ruột kích thích thể hỗn hợp gây ra các triệu chứng thay đổi mạnh mẽ về tiêu hóa, bao gồm phân cứng, lổn nhổn và phân bã, phân nhão hoặc phân lỏng như nước trong vòng ba tháng trở lại đây Người bệnh thường xuyên trải qua các lần đại tiện không đều đặn, thay đổi rõ rệt trong kiểu dáng và chất lượng phân Đây là dạng phổ biến của hội chứng ruột kích thích, đòi hỏi chẩn đoán chính xác và đề xuất điều trị phù hợp để giảm thiểu ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
Hội chứng ruột kích thích thể không xếp loại trong 3 tháng gần đây hiếm khi hoặc không gặp phải tình trạng đại tiện phân cứng, lổn nhổn Thay vào đó, bệnh nhân thường xuyên đi tiêu với phân bã, phân nhão hoặc phân lỏng như nước Triệu chứng này cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa các thể của hội chứng, đặc biệt là thể không xếp loại, với các biểu hiện tiêu hóa đa dạng Để chẩn đoán chính xác và quản lý hiệu quả, cần theo dõi các triệu chứng tiêu hóa và tình trạng phân trong khoảng thời gian dài Việc nhận biết sớm các dấu hiệu này giúp người bệnh có phương pháp điều trị phù hợp, giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống.
- Tiền sử gia đình liên hệ cấp 1 có người mắc ung thư đại trực tràng: là biến số nhị giá: có hoặc không.
- Các dấu hiệu báo động: là biến số nhị giá: có hoặc không [40], [45]
+ Sụt cân không chủ ý: giảm 3kg cân nặng trong vòng 3 tháng.
Tiền sử gia đình mắc ung thư đại trực tràng đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá nguy cơ bệnh Nếu tuổi hiện tại của bệnh nhân lớn hơn tuổi chẩn đoán ung thư của người thân hoặc trẻ hơn dưới 10 tuổi, điều này có thể là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ cao hơn Việc xác định tiền sử gia đình giúp xác định nhóm nguy cơ và hướng dẫn các chiến lược phòng ngừa phù hợp Do đó, việc nắm rõ lịch sử gia đình là bước quan trọng trong chẩn đoán và dự phòng ung thư đại trực tràng.
2.4.2 Đặc điểm polyp trên nội soi:
Phân bố polyp theo các đặc điểm nội soi sau đây :
- Theo vị trí xa nhất: là biến số định danh, là polyp phân bố xa nhất trên khung đại tràng tính từ bờ hậu môn.
- Theo số lƣợng: là biến số định danh
- Theo kích thước: là biến số định danh
- Theo đặc điểm bề mặt của polyp: là biến số định danh
+ Trơn láng: bề mặt polyp giống niêm mạc đại trực tràng
+ Sung huyết: bề mặt polyp sung huyết đỏ
+ Chồi sùi: bề mặt polyp giống hình bông cải
- Theo hình dạng cuống: là biến số định danh
2.4.3 Đặc điểm mô bệnh học của polyp
2.4.3.1 Tiêu chuẩn của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (2000) [70]:
• Polyp u tuyến ống: < 25% thành phần nhánh, có 20-25% các polyp u tuyến ống có thành phần dạng nhánh.
• Polyp u tuyến ống-nhánh: thành phần nhánh chiếm tỉ lệ 25-75%.
• Polyp u tuyến nhánh: > 75% cấu trúc nhánh.
+ Khối u không biểu mô (u mỡ, u cơ trơn, u mạch máu, u bạch mạch )
- Nhóm polyp không tân sinh
+ Polyp thiếu niên: gồm polyp thiếu niên đơn thuần, polyp thiếu niên có viêm, polyp thiếu niên có u tuyến
+ Polyp dạng lympho lành tính.
2.4.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ loạn sản [21]
Loạn sản là một rối loạn của sự tăng sinh tế bào gây ra các biến đổi về hình dạng, kích thước của tế bào và cách sắp xếp tổ chức của chúng trong mô Các tế bào loạn sản có kích thước không đều, nhân tăng sắc và tỷ lệ nhân trên bào tương cao, cùng với tỷ lệ phân bào tăng nhưng không xuất hiện sự phân chia bất thường Đặc biệt, sự định hướng sắp xếp của các lớp tế bào trong mô bị rối loạn rõ rệt Loạn sản được phân thành 3 mức độ khác nhau tùy theo mức độ tổn thương và biến đổi tế bào.
- Loạn sản nhẹ: các tế bào tuyến của polyp biệt hóa rõ và biến đổi rất ít, khu trú ở 1/3 dưới chiều dày biểu mô.
- Loạn sản vừa: khi các tế bào tuyến của polyp có những biến đổi nói trên chiếm đến 1/3 giữa của chiều dày biểu mô.
- Loạn sản nặng: khi các tế bào tuyến của polyp có những biến đổi nói trên chiếm đến 1/3 trên của chiều dày biểu mô.
Khi hình ảnh biến đổi đã chiếm toàn bộ chiều dày biểu mô, kể cả lớp bề mặt, thì tổn thương được gọi là ung thư tại chỗ, thể hiện giai đoạn tiền ung thư Loạn sản được xem là tổn thương tiền ung thư vì loạn sản nặng có khả năng chuyển thành ung thư nếu không được kiểm soát kịp thời Tuy nhiên, loạn sản còn có khả năng hồi phục vì biểu mô loạn sản ở mức độ nhẹ và vừa có thể trở lại bình thường khi các tác nhân kích thích được loại bỏ.
Polyp tân sinh nguy cơ cao và u tân sinh nguy cơ cao [35]
- Polyp tân sinh nguy cơ cao: thỏa 1 trong 3 tiêu chí gồm:
+ Polyp u tuyến ≥ 10mm+ Polyp có thành phần tuyến nhánh+ Polyp u tuyến loạn sản độ vừa-nặng trên giải phẫu bệnh.
PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
- Các số liệu trong nghiên cứu được mã hóa, lưu trữ và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0.
Trong phân tích dữ liệu mô tả, các biến số định tính thường được trình bày dưới dạng tỷ lệ phần trăm để thể hiện tỷ lệ của từng nhóm hoặc hạng mục trong tổng thể Trong khi đó, các biến số định lượng được mô tả bằng các thống kê như giá trị trung bình, giúp cung cấp cái nhìn tổng thể về xu hướng chung của dữ liệu, cùng với các giá trị cao nhất và thấp nhất để đánh giá phạm vi phân bố dữ liệu Việc sử dụng các phương pháp thống kê này giúp cung cấp cái nhìn toàn diện và chính xác về đặc điểm của dữ liệu, hỗ trợ quá trình ra quyết định và phân tích sâu hơn.
Trong phân tích thống kê, các biến số định tính được kiểm định bằng phép kiểm χ² hoặc phép kiểm Fisher để xác định mối liên hệ giữa các biến Khi so sánh hai tỷ lệ, thường sử dụng bảng 2 x 2, còn với ba nhóm trở lên, dùng bảng 2 x n để mở rộng phân tích Ngưỡng ý nghĩa thống kê thường được đặt tại p < 0,05 (phép kiểm hai đuôi) để đảm bảo kết quả có ý nghĩa khoa học cao.
- Sử dụng chương trình Excel 2007 để hỗ trợ cho chương trình SPSS16.0 khi vẽ các biểu đồ.
ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đã được Hội Đồng Nghiên Cứu Khoa Học của Trường Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt, chứng tỏ tính hợp pháp và chất lượng của dự án Đồng thời, nghiên cứu đảm bảo tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu y học, nhằm bảo vệ quyền lợi và an toàn của các đối tượng tham gia.
+ Các đối tƣợng nghiên cứu đƣợc giải thích cụ thể, rõ ràng mục đích và quy trình nghiên cứu, không làm tổn hại đến người bệnh.
+ Việc phỏng vấn diễn ra nhanh chóng, không ảnh hưởng đến tiến độ chẩn đoán và điều trị bệnh của bệnh nhân.
+ Bệnh nhân tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu và không phải chi trả hay làm thêm bất kì xét nghiệm nào.
Thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được bảo vệ tuyệt đối, đảm bảo giữ bí mật và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu này Các dữ liệu này không được phép sử dụng cho bất kỳ nghiên cứu hoặc mục đích nào khác ngoài phạm vi của dự án hiện tại, đảm bảo tính bảo mật và tôn trọng quyền riêng tư của đối tượng.
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ chọn mẫu
Bệnh nhân đƣợc chỉ định nội soi đại tràng
Phỏng vấn theo bảng câu hỏi soạn sẵn để chẩn đoán hội chứng ruột kích thích
Thỏa tiêu chuẩn Không thỏa tiêu chuẩn
Phỏng vấn theo bảng câu hỏi soạn sẵn Loại trừ
Nội soi Đại tràng bẩn hoặc soi không đến manh tràng
Loại trừ Đại tràng sạch và soi đến manh tràng
Ghi nhận kết quả nội soi
Sinh thiết hoặc cắt polyp Đánh giá giải phẫu bệnh
Tổng hợp và phân tích số liệu
QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Biểu đồ 3.1: Phân bố theo giới
Nhận xét: Về giới tính của đối tƣợng nghiên cứu, ta thấy nam giới chiếm
51,9% (204/393 trường hợp), nữ giới chiếm 48,1% (189/393 trường hợp).
Tỉ lệ nam/nữ là 1,08/1.
Biểu đô 3.2: Phân bố theo tuổi
Nhận xét: Tuổi trung bình của các đối tƣợng tại thời điểm nghiên cứu là 48,8 ± 11,9 Nhỏ nhất là 30 tuổi, lớn nhất là 88 tuổi.
Về nhóm tuổi cho thấy nhóm tuổi < 50 chiếm tỉ lệ cao hơn với 56,7% và nhóm tuổi ≥ 50 chiếm tỉ lệ 43,3%.
3.1.3 Đặc điểm về hút thuốc lá
Biểu đồ 3.3: Đặc điểm về hút thuốc lá
Dựa vào biểu đồ 3.3, nhóm không hút thuốc lá chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các nhóm về sức khỏe, với 64,1% (252/393 trường hợp), cho thấy đa số người không có thói quen hút thuốc Trong khi đó, nhóm từng hút thuốc và nhóm đang hút thuốc lá có tỷ lệ gần bằng nhau lần lượt là 18,6% (73/393 trường hợp) và 17,3% (68/393 trường hợp), phản ánh sự phân bố không đồng đều giữa các nhóm và tầm quan trọng của việc kiểm soát hút thuốc lá để cải thiện sức khỏe cộng đồng.
17,30% không hút từng hút đang hút
3.1.4 Đặc điểm về chỉ số khối cơ thể
Biểu đồ 3.4: Đặc điểm về chỉ số khối cơ thể
Nhận xét: Trong 4 nhóm tỉ lệ bệnh nhân có chỉ số khối cơ thể bình thường chiếm nhiều nhất 53,7%, tỉ lệ bệnh nhân béo phì là 14,8%.
3.1.5 Đặc điểm về thể hội chứng ruột kích thích
Biểu đồ 3.5: Đặc điểm về thể hội chứng ruột kích thích
Hội chứng ruột kích thích thể tiêu chảy chiếm tỷ lệ cao nhất trên lâm sàng, chiếm đến 49,4% (194/393 trường hợp), phản ánh mức độ phổ biến của dạng này trong các bệnh nhân Tiếp đến là hội chứng ruột kích thích thể hỗn hợp với tỷ lệ 43% (169/393 trường hợp), cho thấy sự đa dạng về biểu hiện của bệnh Trong khi đó, hội chứng ruột kích thích thể táo bón chiếm 6,6% (26/393 trường hợp), và dạng ít gặp nhất là thể không rõ ràng hoặc các thể ít phổ biến khác Các dữ liệu này giúp hiểu rõ hơn về tỷ lệ và phân bố các thể hội chứng ruột kích thích trong thực hành lâm sàng, góp phần định hướng chẩn đoán và điều trị phù hợp.
14,8% nhẹ cân bình thường thừa cân béo phì
1% tiêu chảy táo bón hỗn hợp không xếp loại hội chứng ruột kích thích thể không xếp loại chỉ có 4/393 trường hợp chiếm tỉ lệ 1%.
3.1.6 Đặc điểm về tiền sử gia đình
Trong tổng số 393 trường hợp, có 13 người (chiếm 3,3%) có tiền sử gia đình liên hệ cấp 1 ghi nhận người mắc ung thư đại trực tràng Đặc biệt, trong số này có một gia đình có đến 2 người cùng mắc ung thư đại trực tràng, cho thấy yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong nguy cơ mắc bệnh.
3.1.7 Đặc điểm về triệu chứng báo động
Biểu đồ 3.6: Đặc điểm về triệu chứng báo động
Nhận xét: Trong các đối tượng nghiên cứu, có 76/393 trường hợp có ít nhất 1 triệu chứng báo động chiếm 19,3%.Trong đó triệu chứng báo động chiếm cao nhất là nhóm có tiêu ra máu chiếm 11,2%, kế đến là nhóm sụt cân không chủ ý chiếm 5,9% Thấp nhất là 2 nhóm thiếu máu với 5 trường hợp (chiếm 1,3%) và nhóm có tuổi nhỏ hơn 10 tuổi so với tuổi của người thân lúc được chẩn đoán ung thư đại trực tràng với 4 trường hợp (chiếm 1%).
Tiêu ra máu Sụt cân không chủ ý thiếu máu Tiền sử ung thư đại trực tràng gia đình
ĐẶC ĐIỂM NỘI SOI VÀ GIẢI PHẪU BỆNH POLYP ĐẠI TRỰC TRÀNG
3.2.1 Đặc điểm chung của polyp đại trực tràng
Biểu đồ 3.7: Tỉ lệ polyp chung
Biểu đồ 3.7 cho thấy tỉ lệ polyp đại trực tràng trong cộng đồng là 11,2% (44/393 trường hợp), trong khi không có polyp là 88,8% (349/393 trường hợp) Như vậy, tỷ lệ mắc polyp đại trực tràng theo nghiên cứu của chúng tôi là 11,2%, là số liệu quan trọng giúp đánh giá gánh nặng bệnh lý này trong dân cư Kết quả này cung cấp thông tin cần thiết để thúc đẩy các biện pháp phòng ngừa và chẩn đoán sớm bệnh lý đại trực tràng.
3.2.1.2 Phân bố polyp theo vị trí giải phẫu
Biểu đồ 3.8: Phân bố polyp theo vị trí xa nhất
Trực tràng ĐT chậu hông ĐT xuống ĐT ngang ĐT lênManh tràng
Các polyp đại tràng thường phân bố chủ yếu tại vùng chậu hông, chiếm tới 36,4% trong tổng số các trường hợp, tiếp theo là polyp trực tràng với tỷ lệ 20,5% Polyp ở đại tràng ngang và đại tràng xuống có tỉ lệ gần như nhau Ít gặp hơn, các loại polyp nằm ở đại tràng lên và manh tràng chiếm lần lượt 9,1% và 2,3% trong tổng số trường hợp.
3.2.1.3 Phân bố polyp theo số lượng
Biểu đồ 3.9: Phân bố polyp theo số lượng
Trong phân tích số lượng polyp, đa số các trường hợp (84,1%) ghi nhận chỉ có 1 polyp, thể hiện tần suất cao nhất Nhóm có từ 2-3 polyp chiếm 11,4% tổng số trường hợp, còn nhóm 4-9 polyp xuất hiện ở 2 trường hợp, chiếm 4,5% Những dữ liệu này cho thấy đa số người bệnh có số lượng polyp ít, chủ yếu là một polyp, điều này quan trọng để hướng dẫn chẩn đoán và điều trị phù hợp.
3.2.1.4 Phân bố polyp theo kích thước
Biểu đồ 3.10: Phân bố polyp theo kích thước
Trong nghiên cứu của chúng tôi, phần lớn các polyp có kích thước dưới 5mm, chiếm tỷ lệ 42,2%, cho thấy kích thước này phổ biến nhất Các polyp có kích thước từ 10 đến 20mm chiếm tỷ lệ thấp nhất, đạt 26,7%, và không có trường hợp nào ghi nhận polyp lớn hơn 20mm.
3.2.1.5 Phân bố polyp theo hình dạng cuống
Biểu đồ 3.11: Phân bố polyp theo hình dạng cuống
Biểu đồ 3.11 cho thấy polyp không cuống là dạng gặp phổ biến nhất, chiếm khoảng 70% các trường hợp (31/44 trường hợp) Trong khi đó, polyp có cuống chiếm khoảng 18,1% và dạng bán cuống chiếm khoảng 11,4% Những dữ liệu này giúp nhận diện tỷ lệ các loại polyp khác nhau trong thực tiễn lâm sàng.
3.2.1.6 Phân bố polyp theo tuổi
Tuổi trung bình là 53, 1 ± 10, 8; tuổi thấp nhất là 30, cao nhất là 73.
3.2.1.7 Phân bố polyp theo giới tính
Polyp gặp nhiều ở nam hơn là nữ, tỉ lệ nam: nữ là 1,1 /1.
3.2.1.8 Phân bố theo kết quả giải phẫu bệnh
Biểu đồ 3.12: Phân bố theo kết quả giải phẫu bệnh
Nhận xét: Polyp tuyến ống chiếm tỉ lệ cao nhất 44%, kế đến là polyp tăng sản chiếm 22%.
3.2.1.9 Phân bố theo mức độ loạn sản và ung thư
Biểu đồ 3.13: Phân bố polyp theo mức độ loạn sản và ung thư
Nhận xét: Polyp không loạn sản chiếm nhiều nhất với tỷ lệ là 29,4%, polyp loạn sản nặng chiếm tỉ lệ thấp nhất là 7,8% Trong nghiên cứu của chúng tôi
U tuyến ống u tuyến nhánh u tuyến ống nhánh ung thư
Trong đó, có 9 trường hợp ung thư đại trực tràng được xác định qua hình ảnh nội soi và kết quả giải phẫu bệnh, chiếm tỷ lệ 18% Các ca bệnh được phân loại theo mức độ nặng nhẹ như sau: nhẹ, trung bình và nặng Ung thư đại trực tràng là bệnh lý nguy hiểm cần được chẩn đoán chính xác để có phương pháp điều trị phù hợp Việc phát hiện sớm giúp nâng cao khả năng điều trị thành công và giảm thiểu nguy cơ tử vong do ung thư.
3.2.2 Đặc điểm của nhóm polyp tân sinh
3.2.2.1 Tỉ lệ polyp tân sinh
Biểu đồ 3.14: Tỉ lệ polyp tân sinh
Nhận xét: Trong 44 trường hợp polyp đại trực tràng có tỉ lệ polyp tân sinh là 59,1% (26/44 trường hợp).
Biểu đồ 3.15: Phân bố polyp tân sinh theo tuổi
Tuổi trung bình 56,1 ± 9,2; tuổi thấp nhất là 30, cao nhất là 73 Nhóm tuổi ≥
50 chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều so với < 50 tuổi.
Polyp tân sinh Polyp không tân sinh
Polyp tân sinh nam chiếm tỉ lệ cao hơn nữ, tỉ lệ nam/ nữ =1,2 /1.
3.2.2.4 Phân bố polyp tân sinh theo vị trí
Biểu đồ 3.16: Phân bố polyp tân sinh theo vị trí
Polyp tân sinh có thể xuất hiện ở mọi vị trí trên khung đại tràng, tuy nhiên, tỷ lệ gặp nhiều nhất là ở đại tràng trái, bao gồm đại tràng xuống, đại tràng chậu hông và trực tràng, chiếm tới 73%.
3.2.2.5 Phân bố polyp tân sinh theo kích thước polyp làm giải phẫu bệnh
Bảng 3.1: Phân bố polyp tân sinh theo kích thước polyp làm giải phẫu bệnh
Kết quả giải phẫu bệnh
Kích thước polyp U tuyến ống U tuyến ống nhánh
Nhận xét: Polyp tân sinh có kích thước < 10 mm chiếm chủ yếu 20/26 trường hợp chiếm 77%.
Trực tràng ĐT chậu hông ĐT xuống ĐT ngang ĐT lênManh tràng
3.2.2.6 Phân bố polyp tân sinh theo hình dạng cuống
Bảng 3.2: Phân bố polyp tân sinh theo hình dạng cuống
Dạng cuống U tuyến ống U tuyến ống nhánh Tổng cộng
Nhận xét: Polyp tân sinh không có cuống chiếm ưu thế 18/26 trường hợp chiếm 69%.
3.2.2.7 Phân bố polyp tân sinh theo số lượng polyp
Bảng 3.3: Phân bố polyp tân sinh theo số lượng polyp
Nhận xét: Polyp tân sinh chủ yếu là polyp đơn độc 20/ 26 trường hợp chiếm 77%.
3.2.2.7 Kết quả giải phẫu bệnh của nhóm polyp tân sinh Bảng 3.4: Kết quả giải phẫu bệnh của nhóm polyp tân sinh
Mức độ loạn sản n % % (riêng từng nhóm)
Dựa trên phân tích, polyp tuyến ống loạn sản nhẹ chiếm ưu thế trong các trường hợp, trong khi đó, đối với polyp tuyến ống nhánh, mức độ loạn sản chủ yếu là trung bình và nặng Cần chú ý rằng, tỷ lệ loạn sản vừa và nặng tăng dần theo từng dạng, với polyp tuyến ống nhánh có tới 36,3% (8/22 trường hợp) loạn sản vừa và 13,6% (3/22 trường hợp) loạn sản nặng Ngược lại, polyp tuyến ống nhỏ có tỷ lệ loạn sản vừa là 75% và loạn sản nặng chỉ chiếm 25%, cho thấy sự gia tăng mức độ loạn sản khi đi từ các dạng nhỏ đến dạng phức tạp hơn.
3.2.3 Đặc điểm của nhóm polyp không tân sinh
Tuổi: tuổi trung bình là 49,1 ± 12,5 Tuổi lớn nhất là 67, nhỏ nhất là 32.
Tỉ lệ giới tính: nam/ nữ là 1,5/1.
3.2.3.2 Phân bố theo giải phẫu bệnh
Trong 15 trường hợp polyp không tân sinh, chúng tôi ghi nhận polyp viêm
4 trường hợp (26,7%), polyp tăng sản 11 trường hợp (73,3%).
3.2.4 Đặc điểm của nhóm polyp tân sinh nguy cơ cao
Tuổi trung bình là 54,5 ± 9,9 Tuổi lớn nhất là 73, nhỏ nhất là 30 Nhóm tuổi ≥ 50 nhiều gấp 3 lần nhóm tuổi < 50.
Tỉ lệ giới tính: nam/ nữ là 9/10= 0.9.
3.2.4.3 Tỉ lệ polyp tân sinh nguy cơ cao
Biểu đồ 3.17: Tỷ lệ polyp tân sinh nguy cơ cao
Nhận xét: Biểu đồ 3.17 cho thấy tỉ lệ polyp tân sinh nguy cơ cao trong tổng số 44 polyp được làm giải phẫu bệnh là 43,2% (19/44 trường hợp).
3.2.4.4 Phân bố polyp tân sinh nguy cơ cao theo vị trí
Biểu đồ 3.18: Phân bố polyp tân sinh nguy cơ cao theo vị trí
Trực tràng Đại tràng chậu hông Đại tràng xuống Đại tràng ngang Đại tràng lênManh tràng
Giống polyp tân sinh có nguy cơ cao có thể xuất hiện ở mọi vị trí trong đại tràng, trong đó vị trí phổ biến nhất là đại tràng trái, bao gồm đại tràng xuống, trực tràng và đại tràng chậu hông Đặc biệt, các polyp nằm tại vị trí đại tràng chậu hông chiếm tỷ lệ cao nhất với khoảng 31,6%, đòi hỏi sự chú ý trong việc chẩn đoán và theo dõi.
3.2.4.5 Phân bố polyp tân sinh nguy cơ cao theo kích thước polyp làm giải phẫu bệnh
Biểu đồ 3.19: Phân bố polyp tân sinh nguy cơ cao theo kích thước polyp làm giải phẫu bệnh
Polyp tân sinh nguy cơ cao thường gặp chủ yếu ở những polyp có kích thước từ 10-20 mm, chiếm tỷ lệ 42,1% Kích thước của polyp càng lớn thì nguy cơ tân sinh cao càng tăng, cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa kích thước polyp và khả năng phát triển thành ung thư Do đó, việc theo dõi và xử lý các polyp trong khoảng kích thước này là vô cùng quan trọng để phòng ngừa ung thư đại tràng.
3.2.4.6 Phân bố polyp tân sinh nguy cơ cao theo dạng cuống polyp
Biểu đồ 3.20: Phân bố polyp tân sinh nguy cơ cao theo dạng cuống polyp
Nhận xét: Polyp tân sinh nguy cơ cao phần lớn là không cuống chiếm
68,4%, bán cuống và có cuống chiếm tỉ lệ thấp.
3.2.4.7 Phân bố polyp tân sinh nguy cơ cao theo số lượng polyp
Biểu đồ 3.21: Phân bố polyp tân sinh nguy cơ cao theo số lượng polyp
Nhận xét: Polyp tân sinh nguy cơ cao phần lớn là polyp đơn độc chiếm 84,2%.
3.2.5 Tỉ lệ và phân bố ung thƣ đại trực tràng
3.2.5.1 Tỉ lệ ung thư đại trực tràng
Biểu đồ 3.22: Tỉ lệ ung thư đại trực tràng
Nhận xét: Tỉ lệ ung thƣ đại trực tràng trong nghiên cứu của chúng tôi là 2,3% (9/393 trường hợp).
3.2.5.2 Phân bố ung thư đại trực tràng theo vị trí
Biểu đô 3.23: Phân bố ung thư đại trực tràng theo vị trí
Nhận xét: Về vị trí của ung thư đại trực tràng, có 3/9 trường hợp u ở đại tràng lên (chiếm 33,33%), u ở đại tràng chậu hông 3/9 trường hợp (chiếm
33,33%) Còn lại là trực tràng, đại tràng xuống và đại tràng ngang mỗi vị trí 1 trường hợp.
3.2.5.3 Phân bố ung thư đại trực tràng theo giới tính
Bảng 3.5: Phân bố ung thư đại trực tràng theo giới tính
Giới tính Tần số Tỷ lệ
Nhận xét: tỉ lệ nam/ nữ = 0,8/1.
3.2.5.4 Phân bố ung thư đại trực tràng theo tuổi
Tuổi trung bình là 59,3±12,3, tuổi nhỏ nhất gặp là 36, lớn nhất là 77.
3.2.5.5 Đặc điểm ung thư đại trực tràng liên quan tới triệu chứng báo động và tiền sử gia đình
Tiền sử gia đình chỉ có 1/9 trường hợp có tiền sử gia đinh.
Triệu chứng báo động có 6/9 trường hợp có triệu chứng báo động chiếm 66,8%.
Trực tràng Đại tràng chậu hông Đại tràng xuống Đại tràng ngang Đại tràng lên
3.2.6 Tỉ lệ u tân sinh nguy cơ cao
Biểu đồ 3.24: Tỉ lệ u tân sinh nguy cơ cao
Biểu đồ 3.24 cho thấy tỷ lệ u tân sinh nguy cơ cao, bao gồm polyp tân sinh nguy cơ cao và ung thư, là 54% trong số các trường hợp Cụ thể, có 27 trên 50 trường hợp polyp và u được chẩn đoán qua giải phẫu bệnh có nguy cơ cao hoặc là ung thư Thông tin này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định chính xác các tổn thương để đảm bảo chẩn đoán và điều trị kịp thời.
MỐI LIÊN QUAN GIỮA POLYP TÂN SINH VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH NỘI SOI
3.3.1 Mối liên quan giữa polyp tân sinh và vị trí polyp làm giải phẫu bệnh
Bảng 3.6: Mối liên quan giữa polyp tân sinh và vị trí polyp làm giải phẫu bệnh
Polyp tân sinh Polyp không tân sinh fisher p
Nhận xét: Không có mối liên quan có ý nghĩa giữa polyp tân sinh và vị trí của polyp làm giải phẫu bệnh qua nội soi.
3.3.2 Mối liên quan giữa polyp tân sinh và số lƣợng polyp
Bảng 3.7: Mối liên quan giữa polyp tân sinh và số lượng polyp
Polyp tân sinh Polyp không tân sinh fisher p Đơn polyp 20
Nhận xét: Không có mối liên quan có nghĩa giữa polyp tân sinh và số lƣợng polyp qua hình ảnh nội soi.
3.3.3 Mối liên quan giữa polyp tân sinh và kích thước polyp làm giải phẫu bệnh
Bảng 3.8: Mối liên quan giữa polyp tân sinh và kích thước polyp làm giải phẫu bệnh
Polyp tân sinh Polyp không tân sinh fisher p
Nhận xét: Không có mối liên quan có nghĩa thống kê giữa polyp tân sinh và kích thước của polyp qua hình ảnh nội soi.
3.3.4 Mối liên quan giữa polyp tân sinh và dạng cuống polyp làm giải phẫu bệnh
Bảng 3.9: Mối liên quan giữa polyp tân sinh và dạng cuống polyp làm giải phẫu bệnh
Polyp tân sinh Polyp không tân sinh fisher p
Nhận xét: Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa polyp tân sinh và dạng cuống của polyp làm giải phẫu bệnh qua hình ảnh nội soi.
3.3.5 Mối liên quan giữa polyp tân sinh và tuổi
Bảng 3.10: Mối liên quan giữa polyp tân sinh và tuổi
Polyp tân sinh Polyp không tân sinh t p
Tuổi trung bình 56,1 ± 9,2 49,1 ± 12,5 1,872 0,074 Nhận xét: Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi trung bình của nhóm polyp tân sinh và polyp không tân sinh.
3.3.6 Mối liên quan giữa polyp tân sinh và giới tính:
Bảng 3.11: Mối liên quan giữa polyp tân sinh và giới tính
Polyp tân sinh Polyp không tân sinh χ 2 p
Nhận xét: Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa polyp tân sinh và giới tính bệnh nhân.
3.3.7 Mức độ loạn sản theo loại polyp
Bảng 3.12: Mức độ loạn sản theo loại polyp
U tuyến ống U tuyến ống nhánh n % n %
Nhận xét cho thấy đa số polyp u tuyến ống có loạn sản nhẹ chiếm 50%, trong khi loạn sản vừa chiếm 36,4% Trong nhóm polyp u tuyến ống nhánh, phần lớn là loạn sản vừa chiếm 75% Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa loại polyp và mức độ loạn sản, với giá trị Fisher = 3,467 và p = 0,113, định hướng rằng mức độ loạn sản không phụ thuộc rõ ràng vào loại polyp u tuyến ống.
MỐI LIÊN QUAN GIỮA POLYP TÂN SINH NGUY CƠ CAO VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH NỘI SOI
3.4.1 Mối liên quan giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và vị trí polyp làm giải phẫu bệnh
Bảng 3.13: Mối liên quan giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và vị trí polyp làm giải phẫu bệnh
Polyp tân sinh nguy cơ cao Nhóm polyp còn lại fisher p
Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và vị trí của polyp theo đánh giá qua hình ảnh nội soi Nghiên cứu cho thấy rằng vị trí của polyp không ảnh hưởng đáng kể đến nguy cơ tân sinh hoặc phân loại theo dạng giải phẫu bệnh Điều này giúp các bác sĩ tập trung vào các yếu tố khác khi đánh giá nguy cơ của bệnh nhân Kết quả này cung cấp thông tin quan trọng để nâng cao hiệu quả chẩn đoán và quản lý các trường hợp polyp đại tràng.
3.4.2 Mối liên quan giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và số lƣợng polyp
Bảng 3.14: Mối liên quan giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và số lượng polyp
Polyp tân sinh nguy cơ cao Nhóm polyp còn lại fisher p Đơn polyp 16
Nhận xét: Không có mối liên quan có nghĩa thống kê giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và số lƣợng polyp qua hình ảnh nội soi.
3.4.3 Mối liên quan giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và kích thước polyp làm giải phẫu bệnh
Bảng 3.15: Mối liên quan giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và kích thước polyp làm giải phẫu bệnh
Polyp tân sinh nguy cơ cao
Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và kích thước của polyp qua hình ảnh nội soi Kích thước của polyp càng lớn, khả năng cao hơn đề xuất nguy cơ tân sinh ác tính, giúp bác sĩ có thêm cơ sở để đánh giá và chuẩn bị phương pháp điều trị phù hợp Việc phát hiện sớm các polyp có kích thước lớn qua nội soi giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán và giảm thiểu rủi ro phát triển thành ung thư Do đó, việc theo dõi kích thước polyp qua hình ảnh nội soi đóng vai trò quan trọng trong đánh giá nguy cơ và quyết định hướng điều trị phù hợp.
3.4.4 Mối liên quan giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và dạng cuống polyp làm giải phẫu bệnh
Bảng 3.16: Mối liên quan giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và dạng cuống polyp làm giải phẫu bệnh
Polyp tân sinh nguy cơ cao
Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và dạng cuống của polyp dựa trên các kết quả giải phẫu bệnh qua hình ảnh nội soi, cho thấy không thể xác định nguy cơ cao của polyp chỉ dựa vào đặc điểm hình thái qua nội soi.
3.4.5 Mối liên quan giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và tuổi
Bảng 3.17: Mối liên quan giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và tuổi
Polyp tân sinh nguy cơ cao
Tuổi trung bình 54,5 ± 9,7 52,9 ± 11,6 0,476 0,636 Nhận xét: Không có mối liên quan có nghĩa thống kê giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và tuổi trung bình của bệnh nhân.
3.4.6 Mối liên quan giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và giới tính
Bảng 3.18: Mối liên quan giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và giới tính
Polyp tân sinh nguy cơ cao
Nhận xét: Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa polyp tân sinh nguy cơ cao và giới tính bệnh nhân.
BÀN LUẬN
ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU
4.1.1 Tuổi Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 48,8 ± 11,9, nhỏ nhất là 30 tuổi, lớn nhất là 88 tuổi, điều này phù hợp với nhận xét hội chứng ruột kích thích có thể gặp ở mọi lứa tuổi và do nghiên cứu của chúng tôi dân số lấy mẫu là tuổi ≥ 30 nên điều này lý giải vì sao tuổi nhỏ nhất gặp là 30 tuổi Trong nghiên cứu này nhóm tuổi < 50 chiếm tỉ lệ cao hơn với 58, 8%, điều này phù hợp với nhận xét trong y văn và các nghiên cứu ở nước ngoài
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nam giới chiếm cao hơn với 51,9%, trong khi nữ giới chỉ chiếm 48,1%, tương ứng tỷ lệ nam/nữ là 1,08/1 Điều này chưa phù hợp với các nghiên cứu y văn và các nghiên cứu trong và ngoài nước, khi thường thấy tỷ lệ hội chứng ruột kích thích cao hơn ở nữ giới [26], [48], [68], [81] Sự khác biệt này có thể được giải thích do cách chọn mẫu trong nghiên cứu của chúng tôi khác so với các nghiên cứu dịch tễ học cộng đồng. -**Sponsor**Trong nghiên cứu này, tỉ lệ nam giới (51,9%) cao hơn so với nữ giới (48,1%), một điều không phù hợp với y văn hiện tại, thường ghi nhận tỉ lệ mắc hội chứng ruột kích thích ở nữ giới cao hơn [Novakid Global ARABIC](https://pollinations.ai/redirect-nexad/7ebveGkw) Điều này có thể do phương pháp chọn mẫu khác biệt so với các nghiên cứu dịch tễ cộng đồng, ảnh hưởng đến kết quả về tỉ lệ giới tính mắc bệnh Việc hiểu rõ sự khác biệt này quan trọng để có cái nhìn toàn diện về hội chứng ruột kích thích Cần lưu ý khi diễn giải kết quả nghiên cứu này.
4.1.3 Đặc điểm về chỉ số khối cơ thể
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ người có chỉ số khối cơ thể bình thường là cao nhất với 53,7%, trong khi nhóm có chỉ số khối cơ thể béo phì chiếm 14,8% Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Kubo năm 2011 tại Nhật Bản, cho thấy tỷ lệ hội chứng ruột kích thích không cao hơn ở những người thừa cân béo phì.
4.1.4 Đặc điểm về dạng hội chứng ruột kích thích
Trong nghiên cứu của chúng tôi, thể tiêu chảy chiếm tỷ lệ cao nhất với 49,4%, tiếp theo là thể hỗn hợp chiếm 43%, trong khi thể táo bón và thể không xác định chiếm tỷ lệ thấp; điều này khác biệt so với các nghiên cứu quốc tế, nơi cho rằng mỗi thể chiếm khoảng 1/3 dân số, ngoài ra, hơn 75% bệnh nhân hội chứng ruột kích thích sẽ chuyển đổi sang thể khác ít nhất một lần trong vòng một năm.
ĐẶC ĐIỂM NỘI SOI VÀ GIẢI PHẪU BỆNH CỦA POLYP ĐẠI TRỰC TRÀNG
Tỉ lệ polyp đại trực tràng theo nghiên cứu của chúng tôi là 11,2% Phần trăm này thấp hơn so với kết quả của Chey và cộng sự tại Hoa Kỳ, cho thấy sự khác biệt trong tỷ lệ mắc bệnh ở các khu vực và dân số khác nhau Nghiên cứu giúp làm rõ tầm quan trọng của việc tầm soát sớm để phát hiện và loại bỏ polyp đại trực tràng, nhằm giảm nguy cơ chuyển thành ung thư Việc xác định chính xác tỷ lệ này góp phần nâng cao hiệu quả các chương trình phòng ngừa và điều trị bệnh lý đại trực tràng trên nhiều nhóm dân cư.
Nghiên cứu của Akhtar và cộng sự tại Hoa Kỳ cho thấy tỷ lệ tổn thương tân sinh đại trực tràng là 20,3%, cao hơn so với các nghiên cứu ở Malaysia (12,2%) của Hilmi và cộng sự, Đài Loan (3,7%) của Chang và cộng sự, và Trung Quốc (2,3%) của Tang và cộng sự Sự chênh lệch này có thể do khác biệt trong dân số mẫu nghiên cứu và các yếu tố môi trường, đặc biệt là chế độ ăn uống Các nghiên cứu tại Hoa Kỳ, nơi có chế độ ăn giàu chất béo và ít chất xơ, cho thấy yếu tố này là nguyên nhân chính tăng nguy cơ polyp đại trực tràng, góp phần giải thích tỷ lệ cao hơn trong các nghiên cứu này.
Hiện tại, chưa có nghiên cứu trong nước về polyp đại trực tràng trên bệnh nhân hội chứng ruột kích thích, vì vậy chúng tôi sẽ so sánh kết quả của mình với một số nghiên cứu nội địa đã được công bố về polyp đại trực tràng Các nghiên cứu này giúp làm rõ tỷ lệ mắc polyp trong nhóm bệnh nhân này, từ đó nâng cao hiểu biết và cải thiện phương pháp chẩn đoán và điều trị Việc so sánh kết quả của chúng tôi với các nghiên cứu trong nước là cần thiết để cập nhật dữ liệu y học địa phương và góp phần vào sự phát triển của lĩnh vực y học tiêu hóa.
Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 53,1 ± 10,8, với độ tuổi thấp nhất là 30 và cao nhất là 73 Nhóm người từ 50 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ cao hơn so với nhóm dưới 50 tuổi, điều này phù hợp với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy polyp đại trực tràng thường gặp ở nhóm tuổi cao [2], [5], [8], [15], [20], [61].
Theo tác giả Lê Minh Tuấn thì nhóm tuổi thường gặp là 45-74 chiếm 67,7% Tác giả Nguyễn Thị Chín cũng ghi nhận nhóm tuổi thường gặp là >
Trong nghiên cứu, độ tuổi trung bình của các tác giả là 54,1 ± 15,3, phù hợp với kết quả của chúng tôi Nghiên cứu của Quách Trọng Đức cũng ghi nhận tuổi trung bình là 53 ± 18, và đồng thời chỉ ra rằng nhóm bệnh nhân có polyp tân sinh có độ tuổi trung bình cao hơn so với nhóm không có polyp tân sinh, điều này có ý nghĩa lâm sàng quan trọng trong phân tích đặc điểm lâm sàng của các bệnh nhân.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm polyp tân sinh có tuổi trung bình là 56,1 ± 9,2, với độ tuổi thấp nhất là 30 và cao nhất là 73, trong khi nhóm polyp không tân sinh có tuổi trung bình là 49,1 ± 12,5, từ 32 đến 67 Sự khác biệt về tuổi giữa hai nhóm này không có ý nghĩa thống kê (p>0.05), cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tuổi trong các nhóm nghiên cứu. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách tối ưu hóa bài viết của mình cho SEO? Việc làm mới và viết lại nội dung có thể tốn rất nhiều thời gian Với [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/mx8lSZVc), bạn có thể tạo ra các bài viết chuẩn SEO dài 2.000 từ ngay lập tức, tiết kiệm đến hơn $2,500 mỗi tháng so với việc thuê người viết! Thật tuyệt vời nếu bạn muốn có một "đội ngũ" sáng tạo nội dung riêng mà không gặp rắc rối nào Chúng tôi nhận thấy trong nghiên cứu của mình, tuổi trung bình của nhóm polyp tân sinh là 56,1 ± 9,2, còn nhóm polyp không tân sinh là 49,1 ± 12,5, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0.05).
Mối quan hệ giữa polyp đại trực tràng, polyp tân sinh, polyp tân sinh nguy cơ cao và u tân sinh nguy cơ cao cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi ≥ 50 và < 50 Điều này cho thấy tuổi từ 50 trở lên là yếu tố nguy cơ chính, phù hợp với các nghiên cứu trong và ngoài nước về ung thư đại trực tràng.
Polyp đại trực tràng gặp nhiều hơn ở nam giới so với nữ giới, với tỷ lệ nam:nữ là 1,14:1; tỷ lệ này thấp hơn so với các nghiên cứu trước đó như của Lê Văn Tuấn (1,48:1), Đinh Đức Anh (1,92:1), Tống Văn Lược (2,09:1), Nguyễn Thị Chín (1,3:1), Đỗ Nguyệt Ánh (1,77:1), và Christos (1,83:1) Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đều thống nhất rằng polyp đại trực tràng thường gặp ở nam giới hơn nữ giới Tuy nhiên, phân tích mối quan hệ giữa giới tính và các loại polyp như polyp tân sinh, polyp tân sinh nguy cơ cao, và u tân sinh nguy cơ cao bằng phép kiểm Chi Square không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, có thể do số lượng polyp còn hạn chế trong nghiên cứu, nhưng cần chú ý rằng giới nam có nguy cơ mắc polyp đại trực tràng cao hơn nữ, đặc biệt trong nhóm bệnh nhân hội chứng ruột kích thích.
4.2.4 Đặc điểm về hình ảnh nội soi của polyp đại trực tràng 4.2.4.1 Phân bố polyp theo vị trí xa nhất
Trong nghiên cứu của chúng tôi, polyp đại tràng chậu hông là vị trí phổ biến nhất, chiếm 36,4% số trường hợp, tiếp theo là polyp trực tràng với tỉ lệ 20,5% Polyp đại tràng lên và manh tràng có tỷ lệ thấp nhất, lần lượt là 9,1% và 2,3%.
Bảng 4.1: Tỷ lệ vị trí thường gặp của polyp qua các nghiên cứu
Tác giả n Vị trí polyp thường gặp %
Poddar Ấn Độ (1998)[64] Trực tràng 85
Christos (2011)[31] 150 Trực tràng + Đại tràng chậu hông
Tống Văn Lƣợc (2002)[13] 102 Trực tràng 59,84
Nguyễn Thúy Oanh (2003)[15] 450 Trực tràng 37,5
Nguyễn Sào Trung (2005)[20] 172 Trực tràng 49,3
Quách Trọng Đức (2007) [8] 150 Trực tràng 42,4
Lê Minh Tuấn (2009) [22] 62 Trực tràng 46,8 Đỗ Nguyệt Ánh (2011) [2] 86 Đại tràng chậu hông 43
Nguyễn Thị Chín (2013)[5] 46 Trực tràng 45,6
(44 polyp) Đại tràng chậu hông 36,4
Chưa rõ kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy vị trí thường gặp nhất của polyp là ở đại tràng chậu hông, phù hợp với kết quả của Đỗ Nguyệt Ánh Tuy nhiên, đa số các tác giả trong và ngoài nước đều ghi nhận rằng polyp thường gặp nhất ở trực tràng và thứ đến là đại tràng chậu hông Các nghiên cứu khác cũng cho thấy polyp tại đại tràng trái nhiều hơn đại tràng phải, với vị trí phổ biến nhất là trực tràng hoặc đại tràng chậu hông, phản ánh xu hướng chung về phân bố của polyp đại tràng.
4.2.4.2 Phân bố polyp theo số lƣợng
Nghiên cứu của chúng tôi đa số các trường hợp là 1 polyp chiếm tỉ lệ 84,1%, tỉ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Đinh Đức Anh 80,8%,
Nghiên cứu của chúng tôi, cùng với các nghiên cứu trong nước khác, cho thấy tỷ lệ polyp đơn độc chiếm đa số, với các số liệu cụ thể như Nguyễn Sào Trung (79,1%), Lê Minh Tuấn (75,8%), Quách Trọng Đức và Tống Văn Lược (80,3%), cũng như Nguyễn Thị Chín (76,1%) [1], [5], [8], [13], [20], [22] Nhận định này phù hợp với kết quả của nghiên cứu của tác giả Christos [31], xác nhận rằng polyp đơn độc là dạng phổ biến nhất trong các trường hợp polyp đường tiêu hóa.
4.2.4.3 Phân bố polyp theo kích thước:
Trong nghiên cứu của chúng tôi polyp < 5 mm chiếm tỉ lệ cao nhất 42,2%, kế đến là polyp 5-9 mm chiếm tỉ lệ 31,1%, polyp 10-20 mm chiếm tỉ lệ thấp nhất 26,7%.
Bảng 4.2: Phân bố polyp theo kích thước của các nghiên cứu
Tỉ lệ polyp nhỏ hơn 10 mm chiếm đa số, phù hợp với các nghiên cứu trong nước và y văn Theo tác giả Van Rijn năm 2006, trong tổng số 465 bệnh nhân qua 6 nghiên cứu nội soi đại tràng, tỉ lệ bỏ sót polyp tuyến có kích thước ≥10 mm là 2,1%, 5-9 mm là 13%, 1-5 mm là 26%, và 22% đối với bất kỳ loại polyp nào Kết quả của chúng tôi cũng xác nhận rằng, polyp kích thước