1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH

20 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Đánh Giá Thực Trạng Năng Lực Cạnh Tranh Của Công Ty Tài Chính
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 308,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các Công ty tài chính trên thị trường CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 1 1 Các lý luận về cạnh tranh Cạnh tran.

Trang 1

Đánh giá năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các Công ty tài chính trên thị

trường

Trang 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ HIỆU

QUẢ HOẠT ĐỘNG 1.1 Các lý luận về cạnh tranh

Cạnh tranh có nguồn gốc latin: competere, nghĩa là tham gia đua tranh với nhau (Neufeldt, 1996) Cạnh tranh cũng có nghĩa là nổ lực hành động để thành công hơn, đạt kết quả tốt hơn người đang có hành động như mình Do đó, sự cạnh tranh (competition)

là sự kiện, trong đó, cá nhân hay tổ chức cạnh tranh nhau để đạt thành quả mà không phải mọi người đều giành được (Wehmeier, 2000)

Cạnh tranh, hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp.Tuy nhiên, bản chất cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ

để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh

(Michael Porter, 1996) Có nhiều lý thuyết kinh tế và quản trị về cạnh tranh, trong

đó hai khái niệm được đề cập đến nhiều nhất là năng lực cạnh tranh (competitiveness) và lợi thế cạnh tranh (competitive advantage) trong giải thích sự khác biệt về thành quả (performance) cạnh tranh giữa các thực thể kinh tế (quốc gia, ngành, công ty, hộ gia đình)

Nhìn chung khi xác định tính cạnh tranh của một doanh nghiệp hay một ngành công nghiệp cần xem xét đến tiềm năng sản xuất một hàng hóa hay dịch vụ ở một mức giá thỏa mãn hai điều kiện: (1) ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến, và (2) không

có trợ cấp

1.2 Năng lực cạnh tranh và các tiêu chí năng lực cạnh tranh

1.2.1 Khái niệm

Khi bàn về cạnh tranh, một vấn đề rất quan trọng càn phải làm rõ là “năng lực cạnh tranh” Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng

để thu lợi ngày càng cao hơn

Trang 3

Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường

Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra và có được các lợi thế cạnh tranh cho riêng mình Nhờ lợi thế, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh

Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất

cả những yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và có hạn chế về mặt khác Vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình có để đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của khách hàng Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, cộng nghệ, quản trị, hệ thống thông tin,…

Như vậy, có thể thấy, khái niệm năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ mô Một sản phẩm có thể năm nay được đánh giá là có năng lực cạnh tranh, nhưng năm sau, hoặc năm sau nữa lại không còn có khả năng cạnh tranh nếu không giữ được các yếu tố lợi thế

1.2.2 Các tiêu chí năng lực cạnh tranh

- Năng lực tài chính

Bên cạnh những yếu tố về con người, công ty cũng cần có một năng lực tài chính vững mạnh để tăng cường sức cạnh tranh của mình Năng lực về tài chính là cơ sở để công ty tài chính (TC) phát huy thế mạnh về con người, phát triển sản phẩm, mở rộng quy mô để chiếm lĩnh thị phần và nâng cao tính an toàn, hiệu quả trong hoạt động

Các tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty TC thông qua năng lực tài chính gồm có:

+ Quy mô nguồn vốn của công ty: đây là chỉ tiêu quan trọng để đo lường lợi thế

kinh tế theo quy mô của công ty Quy mô vốn lớn còn tạo khả năng cho công ty TC đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ

Trang 4

+ Khả năng sinh lời của công ty TC: thể hiện qua các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận

đạt được, tốc độ tăng trưởng qua các năm và kết quả kinh doanh theo cơ cấu của các loại hình dịch vụ của công ty TC

+ Chỉ tiêu an toàn trong hoạt động công ty TC: việc tuân thủ các quy định về an

toàn trong hoạt động tài chính có tính quyết định đến uy tín của công ty TC và khả năng thu hút khách hàng Vì sản phẩm của của công ty TC là dịch vụ về tài chính, tiền tệ nên tính an toàn đóng vai trò quan trọng trong quyết định lựa chọn công ty TC của khách hàng

- Năng lực nguồn nhân sự

Trong một công ty kinh doanh dịch vụ tài chính như công ty TC thì yếu tố con người có vai trò quan trọng trong việc thể hiện chất lượng của dịch vụ Đội ngũ nhân viên của công ty chính là người trực tiếp đem lại cho khách hàng những cảm nhận về công ty

và sản phẩm dịch vụ của công ty, đồng thời tạo niềm tin của khách hàng đối với công ty

TC Đó chính là những đòi hỏi quan trọng đối với đội ngũ nhân viên của công ty TC, từ

đó giúp công ty chiếm giữ thị phần cũng như tăng hiệu quả kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

Năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực của các công ty TC phải được xem xét trên cả hai khía cạnh số lượng và chất lượng lao động

+ Về số lượng lao động:

Để có thể mở rộng mạng lưới nhằm tăng thị phần và phục vụ tốt khách hàng, các công ty TC nhất định phải có lực lượng lao động đủ về số lượng Tuy nhiên, cũng cần so sánh chỉ tiêu này trong mối tương quan với hệ thống mạng lưới và hiệu quả kinh doanh

để nhìn nhận năng suất lao động của người lao động trong công ty TC

+ Về chất lượng lao động:

Chất lượng nguồn nhân lực trong ngân hàng thể hiện qua các tiêu chí:

Trình độ văn hóa của đội ngũ lao động: bao gồm trình độ học vấn và các kỹ năng

hỗ trợ như ngoại ngữ, tin học, khả năng giao tiếp, thuyết trình, ra quyết định, giải quyết vấn đề, Tiêu chí này khá quan trọng vì nó là nền tảng thể hiện khả năng của người lao động trong công ty có thể học hỏi, nắm bắt công việc để thực hiện tốt kỹ năng nghiệp vụ

Kỹ năng quản trị đối với nhà điều hành: trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ

năng thực hiện nghiệp vụ đối với nhân viên: đây là tiêu chí quan trọng quyết định đến chất lượng dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng Công ty TC cần một đội ngũ

Trang 5

những nhà điều hành giỏi để giúp bộ máy vận hành hiệu quả và một đội ngũ nhân viên với kỹ năng nghiệp vụ cao, có khả năng tư vấn cho khách hàng để tạo được lòng tin với khách hàng và ấn tượng tốt về công ty Đây là những yếu tố then chốt giúp công ty TC cạnh tranh giành khách hàng

Các chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc để thu hút và giữ chân người lao động có năng lực: thị trường tài chính càng phát triển thì cơ hội cho những chuyên viên

tài chính càng nhiều Vì tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong công ty TC, các công

ty TC không chỉ cạnh tranh nhau về sản phẩm mà còn phải cạnh tranh nhau cả về “chất xám”, những người tạo ra sản phẩm và đưa sản phẩm của công ty TC đến với khách hàng Các chính sách này thể hiện qua: cơ chế đào tạo, chế độ lương thưởng, các phúc lợi

mà người lao động được hưởng, các cơ chế khuyến khích sự thăng tiến, các chính sách hỗ trợ nghiệp vụ cho người lao động,

- Năng lực chất lượng dịch vụ

Như vậy, chất lượng dịch vụ có thể định nghĩa như là sự khác biệt giữa mong đợi của khách hàng và dịch vụ nhận biết được Nếu mong đợi của khách hàng lớn hơn sự thực hiện thì chất lượng nhận biết được kém thỏa mãn, khách hàng không hài lòng

Các nhà nghiên cứu khác như Cronin, Taylor, Spreng, Mackoy và Oliver khuyến cáo rằng chất lượng dịch vụ là tiền tố của sự hài lòng của khách hàng (Thongmasak, 2001) Cronin và Taylor (1992) đưa ra kết quả nghiên cứu khuyến cáo là chất lượng dịch

vụ là tiền tố của sự hài lòng của khách hàng và sự hài lòng của khách hàng ảnh hưởng có

ý nghĩa đến khuynh hướng mua hàng

- Năng lực cạnh tranh lãi suất

Lãi suất là giá phải trả cho việc sử dụng vốn Đối với công ty TC việc cạnh tranh lãi suất bao gồm cạnh tranh lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra Lãi suất đầu vào được thể hiện thông qua lãi suất huy động từ các chủ thể trong nền kinh tế, nếu công ty nào có lãi suất huy động cao thì dễ dàng cạnh tranh trong việc gia tăng nguồn vốn huy động Lãi suất đầu ra thể hiện qua phí tài trợ mà khách hàng phải trả cho công ty TC khi sử dụng dịch vụ TC

- Năng lực uy tín, thương hiệu

Năng lực uy tín, thương hiệu của công ty TC là kết quả của một quá trình hoạt động kinh doanh và nó được tổng hợp bởi nhiều yếu tố tạo thành giá trị thương hiệu Công ty có uy tín và giá thị trương hiệu cao sẽ có nhiều lợi thế cạnh tranh

Trang 6

Giá trị thương năng lực về uy tín của công ty TC: sản phẩm của công ty TC là dịch

vụ về tài chính, tiền tệ nên uy tín của công ty TC rất quan trọng trong việc thu hút, giữ chân khách hàng và phát triển sản phẩm Công ty TC không chỉ có các đối tác là khách hàng trong nước mà còn giao dịch với khách hàng nước ngoài nên một công ty TC có uy tín, được các tổ chức tài chính quốc tế xếp hạng tín nhiệm cao chính là một phương thức quảng bá hữu hiệu cho công ty

Giá trị thương hiệu của công ty TC: thương hiệu đang có dấu ấn ngày càng quan trọng trong tâm trí khách hàng, những người trực tiếp sử dụng sản phẩm dịch vụ của công

ty Với một thương hiệu mạnh, công ty TC có thể duy trì cũng như phát triển thị phần của mình một cách thuận lợi và vững chắc

- Năng lực công nghệ

Để việc phát triển sản phẩm dịch vụ và quản lý dữ liệu được thuận lợi, công ty TC cần áp dụng một hệ thống công nghệ thông tin để hỗ trợ Hệ thống công nghệ thông tin này thể hiện tính chuyên nghiệp, hiện đại của công ty TC Công nghệ thông tin trong công ty TC càng hiện đại thì sản phẩm dịch vụ của công ty càng có khả năng phát huy được sự đa dạng, nhanh chóng, an toàn và giúp công ty TC tiết kiệm được thời gian, nhân lực, tăng hiệu quả hoạt động và từ đó tăng tính cạnh tranh của công ty TC Năng lực về công nghệ của công ty TC được thể hiện qua:

+ Khả năng nối kết dữ liệu và cung cấp dịch vụ liên thông trong toàn bộ hệ thống của công ty: yếu tố này giúp công ty TC tăng cường tính thuận tiện, nhanh chóng cho sản

phẩm dịch vụ

+ Khả năng lưu trữ, quản lý và truy xuất dữ liệu khách hàng của công ty TC: khả

năng này giúp công ty TC thỏa mãn nhu cầu của khách hàng về việc cập nhật các giao dịch và bảo mật thông tin, ngoài ra còn giúp ngân hàng lập các báo cáo về tình hình hoạt động của công ty một cách nhanh chóng kịp thời, làm cơ sở để công ty đưa ra các quyết định kinh doanh hoặc lập các chiến lược kinh doanh hợp lý

1.3 Các lý luận về hiệu quả hoạt động

Để hiểu được khái niệm hiệu quả hoạt động cần xem xét đến hiệu quả kinh tế của một hiện tượng “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định”, nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ

ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó

Trang 7

Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế của một hiện tượng như trên ta có thể hiểu:

“Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình

độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao”

Như vậy, nếu hiểu hiệu quả theo mục đích thì hiệu quả hoạt động là chênh lệch giữa kết quả thu được và chi phí nguồn lực Hiệu quả hoạt động được nâng cao trong trường hợp kết quả tăng, chi phí giảm và cả trong trường hợp chi phí tăng nhưng tốc độ tăng kết quả nhanh hơn tốc độ tăng chi phí đã chi ra để đạt được kết quả đó

Trang 8

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH

TRANH CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH 2.1 Tổng quan về công ty tài chính

2.1.1 Khái niệm

Theo NĐ- CP số 79/2002 thì Công ty Tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo qui định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm

2.1.2 Các hoạt động của công ty tài chính

- Huy động vốn: Công ty Tài chính được huy động vốn từ các nguồn :

 Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo qui định Ngân hàng Nhà nước

 Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá khác

để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo qui định của pháp luật hiện hành

 Vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước, ngoài nước và các tổ chức tài chính quốc tế

 Tiếp nhận vốn uỷ thác của chính phủ, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước

- Hoạt động cho vay

- Công ty Tài chính được cho vay dưới các hình thức:

 Cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn

 Cho vay theo uỷ thác của chính phủ, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo qui định hiện hành và hợp đồng uỷ thác

 Cho vay tiêu dùng bằng hình thức cho vay mua trả góp

- Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác.

 Công ty Tài chính cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với các tổ chức và cá nhân

Trang 9

 Công ty Tài chính và các tổ chức tín dụng khác tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ khác cho nhau

- Bảo lãnh: Công ty Tài chính được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính tài

chính của mình đối với người nhận bảo lãnh

- Các hoạt động khác

 Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các Tỏ chức Tín dụng khác

 Đầu tư cho các dự án theo hợp đồng

 Tham gia thị trường tiền tệ

 Kinh doanh vàng

 Làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá cho các DN

 Nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng

 Cung ứng các dịch vụ tư vấn về ngân hàng, tài chính, tiền tệ, đầu tư cho khách hàng

 Cung ứng dịch vụ bảo quản hiện vật quí, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ

2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty tài chính trên thị trường

2.2.1 Tình hình thị trường tài chính tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, TTTC Việt Nam có bước phát triển vượt bậc, đóng vai trò quan trọng, chủ chốt đối với tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô Trong bối cảnh kinh tế và TTTC thế giới biến động khó lường, kinh tế Việt Nam năm

2018 đã đạt một số thành quả đáng ghi nhận Đó là, ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì, lạm phát được kiểm soát, tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại hối tăng cao, tăng trưởng kinh tế đạt mức cao nhờ vào nỗ lực cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh Trong đó, hệ thống tài chính Việt Nam được đánh giá phát triển khá lành mạnh và an toàn, bảo đảm tốt chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng và khu vực doanh nghiệp, đồng thời phục vụ hiệu quả tái cấu trúc nền kinh tế

Thị trường vốn thời gian qua đang dần gia tăng mức đóng góp vào cung ứng vốn cho nền kinh tế Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu so với GDP đã tăng từ 32%

Trang 10

năm 2015 lên 75%, vượt mục tiêu đề ra cho năm 2020 Quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp so với GDP tăng gần gấp hai lần, từ 3,4% năm 2015 lên 6,7% năm

2018 Quy mô thị trường trái phiếu Chính phủ so với GDP cũng tăng từ 16,1% lên 27,4% Thông qua thị trường vốn, công tác cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã thu về hàng trăm nghìn tỷ đồng cho ngân sách, góp phần nâng cao dự trữ ngoại hối, điển hình như tại Sabeco, Vinamilk… Đồng thời, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, chất lượng quản trị doanh nghiệp của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa được cải thiện đáng kể Đối với các doanh nghiệp tư nhân, thị trường vốn đã tạo nên kênh huy động vốn linh hoạt, trực tiếp, hiệu quả đối với các nguồn vốn trong xã hội và từ các nhà đầu tư nước ngoài, qua đó, giảm sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng Năm 2018, nền kinh tế thế giới có nhiều yếu tố tác động khó lường Các chính sách thuế, thương mại của Mỹ, Cục Dự trữ liên bang Mỹ và các ngân hàng trung ương lớn có xu hướng dần thắt chặt chính sách tiền tệ, các tác động

từ việc Anh rời EU… đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động thương mại và đầu tư, cũng như tới lãi suất và tỷ giá của thị trường các nước mới nổi châu Á, trong đó có Việt Nam

Thị trường tiền tệ ngày càng phát triển và đi vào ổn định, đáp ứng tốt cung ứng vốn cho nền kinh tế Trong 5 năm qua (2014-2018), tổng tín dụng tăng bình quân 17%/năm, thanh khoản hệ thống ngân hàng ổn định Vốn cung ứng từ hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) lan tỏa tới tất cả các thành phần kinh tế và ngành kinh tế, hỗ trợ hiệu quả cho tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô Vấn đề nợ xấu đã được giải quyết cơ bản, tỷ lệ nợ xấu giảm, nhất là sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD [4]

Bên cạnh những thành tựu đạt được, TTTC Việt Nam vẫn tồn tại sự mất cân đối giữa hai khu vực thị trường tiền tệ và thị trường vốn, theo đó hệ thống TCTD vẫn giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính Cung ứng vốn từ khu vực NH chiếm tỷ trọng chính trong tổng cung ứng vốn cho nền kinh tế Tổng tài sản của các TCTD chiếm 96% tổng tài sản toàn hệ thống tài chính Tỷ trọng tín dụng trên GDP hiện đã ở mức 1,34 lần, do đó cần được kiểm soát và có lộ trình giảm dần Thị trường cổ phiếu

dù cải thiện về quy mô nhưng nguồn vốn đi vào khu vực kinh tế thực thông qua việc

Ngày đăng: 06/04/2023, 18:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w