1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Công nghê hóa học thực tập tài nhà máy dinh cố

51 384 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Nghệ Hóa Học Thực Tập Tại Nhà Máy Dinh Cố
Trường học Trường Đại Học Duyên Hải
Chuyên ngành Kỹ Thuật Hóa Học
Thể loại Thực tập tại nhà máy
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 320,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công nghệ hóa học thực tập tài nhà máy dinh cố

Trang 1

Thấy được nhu cầu cấp thiết về sử dụng năng lượng, nhà nước ta đã tiến hành xây dựng những nhà máy sản xuất năng lượng đáp ứng cho công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa Trong đó

ưu tiên xây dựng các nhà máy có khả năng tân dụng triệt để các nguồn nguyên liệu bị bỏ phí hoặc chưa sử dụng đúng cách, để tạo ra các nguồn năng lượng có giá trị kinh tế cao

Chính vì vậy, Nhà máy Xử Lý Khí Dinh Cố đươc thành lập nhằm tận dụng khí đốt bỏ của các mỏ khai thác dầu Và nhằm sản xuất ra các nguồn năng lượng đang có nhu cầu sử dụng, trị giá kinh

tế rất cao :

+ Khí hóa lỏng (LPG) : hỗn hợp hydrocacbon nhẹ chủ yếu là

propane, propene, butane và butene, có thể bảo quản và vận chuyển dưới dạng lỏng trong điều kiện áp suất trung bình ở nhiệt độ môi trường Hiện nay, LPG do Nhà máy xử lý khí DInh Cố sản xuất đáp ứng khoảng 30- 35% nhu cầu thị trường LPG Việt Nam LPG được xuất đi với số lượng lớn từ kho cảng Thị Vải và phân phối đến các khách hàng bằng tàu Nhu cầ sử dụng LPG ở Việt Nam gia tăng đáng kể trong những năm vừa qua Số liệu cho thấy mức tăng từ 5.000 tấn trong năm 1993 lên đến 790.000 tấn trong năm 2005 Dự báo nhu cầu trongnhững năm tới sẽ tiếp tục tăng ở cả hai lĩnh vực công nghiệp và dân dụng

+ Condensate là sản phẩm thu được sau quá trình chưng cất phân đoạn trong nhà máy xử lý khí Thành phần condensate bao gồm chủ yếu là Hydrocacbon C5

Trang 2

Hình 1: nhu cầu sử dụng LPG và condensate

+ Khí khô tự nhiên được sử dụng nhiều ở các quốc gia trên thế giới nhờ có những đặc tính ưu việt: là một loại nhiên liệu sạch, bảo vệ môi trường và tiện lợi Ngày nay, khí là một loại nhiên liệu được lựa chọn để sản xuất điện và được sử dụng rộng rãi ở các ngành công nghiệp khác (thực phẩm, dệt may, cơ khí, máy móc, vật liệu xây dựng, hóa chất)

Ở Việt Nam, khí khô được sử dụng chủ yếu để sản xuất điện Các yếu tố như công nghệ cao , bảo vệ môi trường, chi phí thấp đã giúp khí trở thành một loại nhiên liệu ngày càng quan trọng để sản xuất điện Khí còn là một nhiên liệu đầu vào quan trọng trong ngành công nghiệp hóa chất Hiện nay, PV GAS đang cung cấp cho các nhà máy điệnBà Rịa, Phú Mỹ 1, Phú Mỹ 2.1, Phú Mỹ 2.2, Phú Mỹ 3, Phú Mỹ 4, công ty sản xuất phân bón, thép, vật liệu xây dựng, gốm sứ, gạch, thủy tinh như công ty phân đạm và hóa dầu Dầu Khí, công ty Vedan, công ty Taicera, Trong những năm sắp tới, số lượng các khách hàng tiêu thụ khí sẽ không ngừng gia tăng và ngày càng đa dạng

Hình 2: sản lương khí khô

Trang 3

Với việc tân dụng các khí tự nhiên và các khí đồng hành để sản xuất ra các nguôn năng lượng có giá trị kinh tế và giá trị ứng dụng cao thì Nhà Máy Xử Lý Khí Dinh Cố có tiềm năng phát triển và mở rộng cao, nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước và góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa – hiên đại hóa đất nước.

PHẦN I :TỔNG QUAN VỀ NGÀNH KHÍ VIỆT NAM

I TIỀM NĂNG KHÍ VIỆT NAM

Nền tảng cơ bản để phát triển ngành công nghiệp khí ở nước

ta, phải kể đến là tiềm năng nguồn khí Việt Nam được thế giới nhìn nhận là một quốc gia dầu khí non trẻ trong cộng đồng các quốc gia dầu khí trên thế giới Con số ước tính về tiềm năng dầu khí

Việt Namlà 28 - 110 tỷ m3, rất là thấp so với kết quả thăm dò, tính toán hiện nay

Theo petroVietNam Gas : Tiềm năng nguồn khí Việt Nam ở bốn vùng trũng chính là sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Mã Lai - Thổ Chu có khả năng cung cấp khí trong vài thập kỉ tới

Trữ lượng thực tế(tỷ m3) Trữ lượng tiềm năng(tỷ m3)

Trang 4

đoạn một Sau khi lắp đặt thêm hệ thống máy nén vào giai đoạn hai thì sản lượng khí đồng hành tại mỏ Bạch Hổ được nâng lên 4,1 triệu

m3 khí ngày đêm, sau đó sản lượng khí vào bờ là 4,3 triệu m3 ngày đêm

Hiện nay lượng khí dẫn vào bờ để cung cấp cho nhà máy chế biến khí Dinh Cố và các nhà máy nhiệt điện phía Nam là 4,7 triệu tấn

m3 khí ngày đêm, lượng này được dẫn từ mỏ Bạch Hổ và mỏ Rạng Đông Trong thời gian tới lưu lượng khí được dẫn vào bờ cung cấp cho các nhà máy này là 5,7 triệu m3 khí ngày đêm

Vào năm 2003 khí từ các mỏ Nam Côn Sơn cung cấp cho nhà máy chế biến khí Nam Côn Sơn

Ngoài khu vực trên, ở thềm lục địa Miền Trung cũng đã phát hiện một số mỏ khí nhưng hàm lượng CO2 có trong mỏ quá cao đến 75% trong đó hàm lượng hyđrocacbon không đáng kể Vì vậy khi sử dụng thì không có hiệu quả kinh tế, nên các mỏ này không được khai thác

Trang 5

a/ Giai đoạn Ia (Fast Track ):

Công trình đã được dự kiến liên doanh một phần hoặc toàn bộ với đối tác nưóc ngoài Song song với quá trình tìm đối tác liên

doanh, chính phủ đã phê duyệt thiết kế tổng thể và cho phép triển khai công trình để sớm đưa khí vào bờ, với mục đích cung cấp cho nhà máy chế biến khí Dinh Cố và các nhà máy điện Bà Rịa, Phú Mỹ

và một số công trình hạng mục khác

Thiết bị tách khí cao áp trên giàn công nghệ trung tâm số 2 tại

mỏ Bạch Hổ Giàn ống đứng và các công trình phụ trợ tại mỏ Bạch

Hổ

Đường ống đường kính 16” dài 124 Km từ Bạch Hổ vào đến Bà Rịa

Trang 6

Trạm xử lý khí Dinh Cố

Trạm phân phối khí tại Bà Rịa

Trạm điều hành trung tâm tại Vũng Tàu

Các công trình tiêu thụ khí bao gồm các tổ hợp nhà máy điện Bà Rịa, Phú Mỹ cũng được triển khai xây dựng

b/Giai đoạn 2 (Fast Track Extevsion ):

Giai đoạn sớm đưa khí vào bờ được mở rộng với việc lắp đặc các hạng mục: Gìan nén nhỏ tại giàn công nghệ trung tâm số 2 tại

mỏ Bạch Hổ, hệ thống táchkhí sơ bộ

Các thiết bị trạm Dinh Cố, Bà Rịa được chuyển đổi phù hợp, lắp đặc

bổ sung

Đường ống dài khoảng 22 Km từ trạm Bà Rịa đến Phú Mỹ

Trạm phân phối khí Phú Mỹ với đây chuyền công nghệ số 1, công suất 1 triệu m3 khí /ngày đêm và 100% dự phòng được đưa vào hoạt động với phương án Bypass

Hiện nay đã hoàn thành công nghệ số 2 và cung cấp 3 triệu m3 khí ngày đêm cho nhà máy điện Phú Mỹ

c/Giai đoạn 3

Giàn nén trung tâm bắt đầu vận hành thương mại, cùng với việc lắp đặt cụm sử lý tạm thời ở ngoài khơi, nâng cấp hệ thống công nghệ giai đoạn trước và mởi rộng thêm

Hệ thống đã nâng công suất lên 3 triệu m3 khí ngày đêm với phương

án tiếp

nhận:

Nhà máy điện Bà Rịa : 0,4 - 1,4 triệu m3 ngày đêm

Nhà máy điện Phú Mỹ : 0,8 - 1,7 triệu m3 ngày đêm

Từ tháng 12/1998 giàn nén khí trung tâm bắt đầu vận hành ở chế độ

ba tổ máy nén cung cấp 4,1 triệu m3 ngày đêm cho nhà máy chế biến khí Dinh Cố

Hiện nay với sự hoàn tất các công nghệ và mở rộng thêm thì lượng khí vào bờ cung cấp cho nhà máy chế biến khí Dinh Cố là 4,7 triệu

m3 ngày đêm và trong thời gian tới thì lượng này được nâng lên là 5,7 triệu m3 ngày đêm

2 Xây dựng nhà máy chế biến khí Dinh Cố

Công việc xây dựng và vận hành nhà máy chế biến khí được phân ra theo từng giai đoạn sau :

Giai đoạn AMF : Sản phẩm của nhà máy bao gồm khí thương mại (chưa tách C3,C4 ) và condensat

Giai đoạn MF : Sản phẩm của nhà máy là khí thương mại (đã tách

C3,C4 ),

Trang 7

3 Dự án khí đốt Nam Côn Sơn

Các mỏ Lan Tây, Lan Đỏ là hai mỏ khí được BP phát hiện, thuộc khu vực bể

Nam Côn Sơn, cách Vũng Tàu 370 Km về phía Đông Nam Trữ

lượng hai mỏ này khoảng 58 tỷ m3 khí

Dự án khí đốt Nam Côn Sơn được các bên petroVN, Mobil, BHP, BP, Statoil xúc tiến làm dự án khả thi trị giá dự kiến 500 triệu USD.Việc khai thác khí sẽ được bắc đầu vào khoảng năm 2003, mỏ Lan Tây sẽ được khai thác trước, vì có trữ lượng lớn hơn và cho phép khai thác khí nhiều hơn Theo kế hoạch đó cũng đang xây dựng đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn, là đường ống dẫn khí hai pha dài nhất thế giới, có 26” và 30”, áp suất vận hành là 160 bar, khí sẽ được tách nước và làm khô tại giàn khai thác ngoài khơi Như vậy khí và khí ngưng tụ sẽ được đưa vào bờ tại Long Hải, sau đó được xử lý tại Dinh Cố

PHẦN II : GIỚI THIỆU VỀ NHÀ MÁY XỬ LÝ

KHÍ DINH CỐ

Với công ty mẹ - Tổng Công ty Khí (PV GAS) là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được thành lập trên cơ sở tổ chức lại

Trang 8

Công ty TNHH một thành viên Chế biến và Kinh doanh sản phẩm khí

và các đơn vị thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đang hoạt động vận chuyển, tàng trữ, chế biến và kinh doanh khí và sản phẩm khí Được thành lập vào Ngày 20 tháng 9 năm 1990

Tháng 01 năm 1994, PV GAS bắt đầu thực hiện dự án khí Bạch Hổ (Bạch Hổ GUP) với mục đích đưa khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ vào bờ để sử dụng Tháng 5 năm 1995, ngành công nghiệp khí chính thức ra đời với sự kiện PV GAS hoàn thành hệ thống

đường ống dẫn khí Bạch Hổ - Bà Rịa , đồng thời tiến hành xây dựng nhà máy chế biến khí Dinh Cố chấm dứt việc đốt bỏ ngoài khơi khí đồng hành của mỏ Bạch Hổ và bắt đầu cung cấp khí cho Nhà máy nhiệt điện Bà Rịa

Tháng 10 năm 1999, PV GAS vận hành Nhà máy xử lý khí Dinh Cố và Kho cảng Thị Vải, đánh dấu việc hoàn thành toàn bộ dự

án khí Bạch Hổ giúp PV GAS có khả năng cung cấp khí khô, LPG và Condensate cho thị trường nội địa Hiện nay Nhà máy xử lý khí Dinh

Cố sản xuất khoảng 1,5 tỷ m3 khí khô, 130.000 tấn Condensate, 350.000 tấn LPG/năm

I MỤCĐÍCH CỦA VIỆC XÂY DỰNG NHÀ MÁY

+ Xử lý, chế biến khí đồng hành thu gom được trong quá trình khai thác dầu tại mỏ Bạch Hổ

+ Cung cấp khí thương phẩm làm nhiên liệu cho các nhà máy điện

Bà Rịa, Phú Mỹ và làm nhiên liệu cho các ngành công nghiệp khác

Trang 9

+ Thu hồi các sản phẩm lỏng có giá trị kinh tế cao hơn so với khí đồng hành ban đầu:

• Cung cấp LPG cho thị trường trong nước và quốc tế

• Sản phẩm condensate ( xăng nhẹ ) cho xuất khẩu

• Cơ sở của các công nghệ được áp dụng tại nhà máy chỉ là những phương pháp biến đổi vật lý

Việc xây dựng nhà máy sẽ tận dụng được một lượng lớn khí đồng hành bị đốt lãng phí ở ngoài khơi và làm tăng hiệu quả kinh tế trong quá trình sử dụng nó Hơn nửa khí đồng hành là một nguồn năng lượng sạch để sử dụng, có giá thành rẽ và được xem là nhiên liệu lý tưởng để thay thế Than, Cũi, Dầu diezel

Như chúng ta đã biết axetylen là chất đầu ngành của ngành hóa chất từ axetylen có thể tổng hợp thành các hợp chất có giá trị kinh tế cao như: nhựa PVC, cao su, benzene, các hợp chất hữu cơ có giá trị ứng dụng hơn

Do đó việc tiến hành xây dựng khu sản xuất axetylen la rất khả

quan

IV SƠ LƯỢC VỀ NHÀ MÁY CHẾ BIẾN KHÍ DINH CỐ

Khí đồng hành được thu gom từ mỏ Bạch Hổ, được dẫn vào

bờ theo đường ống 16” và được xử lý tại nhà máy chế biến khí Dinh

Cố nhằm thu hồi LPG và hydrocacbon nặng hơn Phần khí khô được làm nhiên liệu cho nhà máy điện Phú Mỹ, Bà Rịa

Nhà máy được thiết kế với công nghệ Turbo Expander nhằm thu hồi

C3, C4 và condensat Các sản phẩm Lỏng, Khí sau khi ra khỏi nhà máy được dẫn theo 3 đường ống 6” đến kho cảng xuất LPG Thị Vải cách Dinh Cố 28 Km

Sự ưu tiên hàng đầu của nhà máy là duy trì dòng khí cung cấp cho nhà máy điện, thu hồi các sản phẩm Lỏng từ khí được ưu tiên ít hơn.+ Ưu tiên đối với việc cung cấp khí khô cho các nhà máy điện:

Trang 10

Trong trường hợp nhu cầu khí của các nhà máy điện cao hơn lượng khí cung cấp từ biển vào thì việc thu hồi các thành phần Lỏng sẽ được giảm tối thiểu nhằm bù đắp cho nhu cầu khí.

+ Ưu tiên cho các sản phẩm LPG:

Việc thu hồi LPG và Condensat ít được ưu tiên hơn ( ở đây ta xét về lưu lượng )

+ Ưu tiên cho sản xuất Dầu:

Trong trường hợp nhu cầu tiêu thụ khí của các nhà máy điện thấp hơn so với khí cung cấp từ ngoài biển, thì khí khô dư sau khi đã thu hồi Lỏng, rồi sẽ được đốt tại nhà máy

1 Các giai đoạn thiết kế nhà máy

Nhà máy chế biến khí Dinh Cố được thiết kế xây dựng theo 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn AMF

+ Giai đoạn MF

+ Giai đoạn GPP

Ba chế độ này được áp dụng vì thời gian đưa đề án vào sử dụng quá ngắn và một vài thiết bị như máy nén, tháp tách chưa được đặt hàng chế tạo, chưa lắp đặc kịp thời trong thời gian đầu

2 Điều kiện nguyên liệu vào

Áp suất : 109 bar

Nhiệt độ : 25,6oC

Lưu lượng : 4,7 triệu tấn m3 khí /ngày đêm

Hàm lượng nước : chứa nước ở điều khiển vận chuyển cấp cho nhà máy Hàm lượng nước này sẽ được khử bằng thiết bị khử nước trước khi vào nhà máy

Trang 11

PHẦN III : QUÁ TRÌNH CHẾ BIẾN KHÍ TẠI NHÀ MÁY XỬ

LÝ KHÍ DINH CỐ

Trang 12

I CÁC CHẾ ĐỘ HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ MÁY CHẾ BIẾN

KHÍ DINH CỐ

Để đảm bảo cho việc vận hành Nhà máyđược linh hoạt (đề phòng một số thiết bị chính của nhà máy bị sự cố), và hoạt động của nhà máy liên tục (khi thực hiên bảo dưỡng, sửa chữa các thiết bị ) không gây ảnh hưởng đến việc cung cấp khí cho các nhà máy điện, đạm,

do đó nhà máy đươc lắp đăt và hoạt động theo các chế độ chính:

- Chế độ AMF: Cụm thiết bị tối thiểu tuyệt đối

- Chế độ MF: Cụm thiết bị tối thiểu

- Chế độ GPP: Cụm thiết bị hoàn thiện

- Chế độ MGPP: chế độ GPP sửa đổi

Ngoài 4 chế độ trên trong quá trình vận hành nhà máy tùy theo tình trạng vận hành bảo dưỡng của thiết bị mà VHV có thể linh hoạt điểu chỉnh chế độ vận hành để đảm bảo tính an toàn và hiệu quả thu hồi lỏng tối đa

Nhà máy GPP được thiết kế dựa trên lưu lượng khí ẩm là 4,3 triệu m3/ ngày Với lưu lượng này, áp suất đầu vào của nhà máy

sẽ khoảng 109 barG và là thông số quan trọng quyết định hiệu suất làm việc của thiết bị bên trong nhà máy Năm 2001 cùng với việc đưa khí Rạng Đông vào xử lí, lưu lượng khí qua nhà máy đạt mức tối đa

khoảng 70-75 barG, cụm máy nén K-1011 đã được lắp đặt nhằm nâng áp suất khí đầu vào tới áp suất thiết kế 109 barG Từ sơ đồ công nghệ chính của nhà máy có 1 số thay đổi chính gồm:

- Khí đầu vào GPP được nâng áp từ 70-75 barG và nhiệt độ khí sau trạm khí K-1011 tăng lên khoảng 450 C cao hơn so thiết kế

- Áp suất bình tách V-03 giảm từ 75 barG xuống 45 barG để đạt 2 mục đích: (a) lượng khí ẩm vượt quá công suất vận hành của GPP được bypass qua V-101 để cấp thẳng cho các hộ tiêu thụ Lỏng được tách ở V-101 sẽ được đưa về V-03 để xử lí (b) lỏng tách được tại Scrubber trước K-1011 cũng được đưa về V-03 để đảm bảo

an toàn

Trong các chế độ vận hành nói trên, hai chế độ AMF, MF là các chế độ được thiết kế để vận hành trong giai đoạn lắp đặt, chạy thử Sau khi hoàn thành việc lắp đặt, các chế độ này rất ít khi được sử dụng mà sẽ thay đổi tuỳ theo điểu kiện của các thiết bị Để phù hợp với mục đích ban đầu, trong báo cáo này sẽ trình bày 2 chế độ này theo đúng thiết kế với các ghi chú về thay đổi hiện tại Còn lại báo cáosẽ tập trung cập nhật các thông số vận hành và công nghệ cho chế độ GPP và MGPP

Trang 13

Khí đầu ra của V-08 được đưa đến thiết bị hòa dòng EJ-01A/B/C

để giảm áp suất từ 109 bar xuống 47 bar Việc giảm áp này có tác dụng hút khí từ đỉnh tháp C-01 dòng ra là dòng hai pha có áp suất

47 bar và nhiệt độ 200C ở chế độ AMF phần đỉnh của tháp hoạt động như bình tách khí lỏng thông thường tháp C-05 tách phần lỏng

ngưng tụ do sự sụt áp của khí từ 109 bar xuống 47 bar khi qua 01A/B/C dòng khí ra từ đỉnh tháp C-05 được đưa ra đường khí

EJ-thương phẩm để cung cấp cho các nhà máy điện lỏng tại đáy C-05 được đưa vào đĩa thứ 1 của tháp C-01 chế độ AMF tháp C-01 có 2 dòng nhập liệu:

Trang 14

- dòng từ V-03 vào đĩa thứ 14 của tháp C-01.

- Dòng lỏng từ đáy của tháp C-05 vào đĩa trên cùng của tháp C-01

Áp suất hơi của condensate giảm đi và được điều chỉnh trong tháp C-01 nhằm mục đích: phù hợp cho việc chứa trong bồn chứa ngoài trời với ý nghĩa đó, trong chế độ AMF tháp C-01 hoạt động như tháp

ổn đỉnh condensate Trong đó, phần lớn hydrocacbon nhẹ hơn butan được tách ra khỏi condensate nhờ thiết bị gia nhiệt E-01AB đến

1940C khí ra ở đỉnh tháp có nhiệt độ 640C được trộn với khí nguyên liệu nhờ EJ-01A/B/C dòng condensate ở đáy tháp được trao đổi nhiệt tại E-04AB và được làm lạnh bằng không khí ở E-09 để giảm nhiệt độ xuống 450C trước khi ra đường ống dẫn condensate về kho cảng hoặc bồn chứa TK-21

1.2 Thiết bị nén của AMF

Đối với khí từ SC của chế độ AMF thì thiết bị tách nước bằng phương pháp hấp phụ ( V06A&B ) sẽ được bypass do quá trình

hydrat là không cần thiết Vì vậy, khí đưa đến máy nén EJ- A/B/C như một dòng động với áp suất giảm từ 109- 45 bar Mục đích chính của EJ là nén khí từ C01 từ 20 đến 45 bar Vì vậy cần phải giữ áp suất của tháp tách C2 ở 20 bar Thiết bị EJ bao gồm 3 ejector, năng suất tương ứng là 50%, 30%, 20% so với dòng Lỏng Đặc trưng

quan trọng của ejector là vùng hoạt động nhỏ Vì vậy không nên lắp đặc nối tiếp van điều áp trên đường bypass của ejector (PV-

0805 ) điều chỉnh lưu lượng tương ứng với 30% dòng tổng Việc diều khiển áp suất của tháp tách Êtan ở 20 bar bằng việc bypass dòng khí động khi EJ hoạt động hết công suất Khi EJ hoạt động không hết công suất thì khí thừa từ đỉnh tháp tách etan được đưa đi đốt thông qua van PV- 1303B Vì vậy hệ thống tách etan được đảm bảo nhờ việc điều khiển áp suất đỉnh

1.3 AMF Rectifier

Từ EJ, khí được khí được đưa đến đĩa trên cùng của C05 và trên cùng một đĩa khí từ V03 cũng được phun vào để tách Lỏng từ khí dưới nhiệt độ 20,7oC, P= 45 bar được duy trì bởi PIC- 1114 lắp đặc trên ống dẫn khí thương phẩm Phần đỉnh của Rectifier hoạt động như thiết bị phân tách Lỏng hơi Lượng Lỏng đi ra khởi đáy Rectifier được điều khiển bằng thiết bị điều khiển mức và đến đỉnh của tháp tách Etan

1.4 AMF Deethanizer

Ở chế độ này tháp tách Ethan có hai dòng nhập liệu : Một dòng Lỏng từ V03 và dòng kia từ đáy C05 Dòng later được nạp liệu ở đỉnh bao gồm 80% mol Lỏng và cung cấp cho dòng hồi lưu đỉnh của quá

Trang 15

trình chưng cất, dòng còn lại được đưa vào đĩa thứ 14 (đĩa thứ 20 thì

ở chế độ MF và GPP )

Áp suất hơi của condensat được giảm và điều chỉnh trong thiết bị này dưới áp suất khí quyển phù hợp với điều kiện lưu trữ Như vậy ở chế

độ AMF thì thiết bị Deethanizer như một thiết bị ổn định condensat

mà hầu hết các H-C nhẹ butan được tách ra khởi condensat nhờ thiết bị đun sôi lại E- 01A/B lên đến 194oC và khí đỉnh là 64oC sẽ được trộn lẫn với khí thương mại nhờ thiết bị EJ- 01A/B/C

1.5 điều khiển áp suất khí ở chế độ AMF

Áp suất khí ra được khống chế ở 45 bar nhờ van điều áp PV- 1114A trên đường ra ngay trước hệ thống khí thương phẩm Khí vào

ở áp suất 109 bar sau khi qua EJ thì áp suất còn lại là 45 bar (bằng

áp suất ra ) Khi khí vào nhỏ hơn 109 bar hoặc khí cung cấp từ ngoài khơi nhỏ hơn công suất nhà máy thì công suất của EJ co thể thừa, vì vậy áp suất của tháp Deethanizer có

thể lớn hơn 20 bar Trong trường hợp này một trong ba EJ phải được lựa chọn và dần áp suất đầu ra sẽ được điều chỉnh lên gần 109 bar

Vì vậy áp suất của tháp tách Etan có thể điều khiển đạt 20 bar Ngay khi việc lựa chọn công suất của EJ có thể không đủ thì lượng khí dư thì có tự động được đem đi đốt thông qua van PV- 1303B gắn trên đầu ra của dòng khí

2 QUI TRÌNH MF( thiết kế)

Đây là chế độ hoạt động trung gian của nhà máy Thiết bị của chế

độ này bao gồm toàn bộ các thiết bị của chế độ AMF ( trừ EJ-A/B/C)

và được bổ sung thêm các thiết bị chính sau:

- tháp ổn định condensate C-02

- các thiết bị trao đổi nhiệt: E-14, E-20

- Thiết bị hấp thụ V-06AB

- Máy nén K-01, K-04AB

Sơ đồ công nghệ chế độ MF có thể được mô tả như sau:

Dòng khí từ slug catcher được đưa đến bình tách lọc V-08, thiết bị này có chức năng: tách nước, hydrocacbon lỏng, dầu và lọc các hạt rắn, nhằm bảo vệ lớp chất hấp thụ trong V-06AB khỏi bị hỏng và giảm hoạt tính cũng như giảm tuổi thọ của chúng Sau khi được lại nước tại V-06AB dòng khí được đưa đồng thời đến hai thiết bị E-14

và E-20 để làm lạnh Dòng khí sau khi ra khỏi E-14 và E-20 là dòng hai pha (lỏng – khí) được đưa vào tháp C-05 để tách lỏng Khí ra từ đỉnh tháp C-05 được sử dụng như tác nhân làm lạnh bậc một cho dòng nguyên liệu tại E-14 được làm lạnh bậc hai tại van FV-1001

Trang 16

Dòng khí ra từ đỉnh C-05 sau khi trao đổi nhiệt qua E-14 nhiệt độ được tăng lên đủ điều kiện cung cấp cho nhà máy điện.

Hai tháp hấp thụ V-06AB được sử dụng luân phiên Khi tháp này làm việc thì tháp kia tái sinh Quá trình tái sinh xúc tác được thực hiện nhờ sự cung cấp nhiệt của dòng khí thương phẩm nâng nhiệt độ lên

2200C, dòng ra khỏi thiết bị V-06AB được làm mát tại E-15 và được tách lỏng ở V-07 trước khi ra đường khí thương phẩm

Sơ đồ dòng lỏng trong chế độ MF giống như chế độ AMF, ngoại trừ việc đưa khí từ V03 đến C-01 thay vì đến C-05 như chế độ AMF Ngoài ra trong chế độ MF, tháp C-02 được đưa vào vận hành để thu hồi Bupro Nhằm tận dụng Bupro và tách một phần metan, etan còn lại, dòng khí ra từ V-03 được đưa đến tháp C-01 để tách triệt để C2 Dòng lỏng ra khỏi V-03 được đưa đến tháp C-01 sau khi được gia nhiệt từ 200C đến 800C tại thiết bị E-04AB nhờ dòng lỏng ra từ tháp C-02 Tháp C-01 có 3 dòng nguyện liệu được đưa vào:

- Dòng khí đến từ V-03 vào giữa đĩa thứ 2 và 3 của tháp C-01

- Dòng lỏng từ V-03 vào đĩa thứ 20 của tháp C-01

- Dòng lỏng đến từ đáy C-05 vào đĩa trên cùng của tháp C-01

Tại đây các hydrocacbon nhẹ như C1,C2 được tách ra và đi lên đỉnh tháp, sau đó được nén từ 25 bar lên 47 bar nhờ máy nén K-01 trước khi dẫn vào đường khí thương phẩm

Phần lỏng ra từ đáy tháp C-01 được đến tháp C-02 Tháp C-02 làm việc ở áp suất 11 bar, nhiệt độ đỉnh 600C và nhiệt độ đáy 1540C tại đây C5+ được tách ra và đi ra ở đáy tháp, sau đó được dẫn qua thiết

bị trao đổi nhiệt E-04AB dòng lỏng này được đưa đến làm lạnh tại thiết bị quạt làm mát bằng không khí E-09 trước khi đưa ra đường ống hoặc bồn chứa condensate thương phẩm TK-21

Dòng hơi ra khỏi đỉnh tháp C-02 là LPG được ngưng tụ tại V-02, một phần được cho hồi lưu trở lại C-02 để đảm bảo sự hoạt động của tháp, phần còn lại theo đường ống dẫn sản phẩm LPG

2.1 Xử lý condensate trong MF

Việc xử lý Condensate trong chế độ hoạt động MF là dòng khí

từ bình tách 3 pha được chuyển đến tháp tách ethane, Condensater

từ bình tách nhanh được chuyển đến tháp tách ethane sau khi được gia nhiệt từ 20oC lên 80oC trong thiết bị trao đổi nhiệt E-04A/B với dòng nóng 155oC đi từ đáy tháp ổn định C-02 Mục đích chính của thiết bị trao đổi nhiệt dòng là tận dụng và thu hồi nhiệt và gia nhiệt cho dòng lạnh tránh hiện tượng tạo hydrate ở đầu ra của FV-1701, khi áp suất hoạt động giảm từ 75 barA xuống 29 barA, nhiệt độ hoạt

Trang 17

động có thể duy trì ở 61oC (cao hơn nhiệt độ tạo thành hydrate 14oC) trong điều kiện này.

2.2 Tháp tách etan trong chế độ hoạt động MF

Trong tháp tách ethane các hydrocacbon nhẹ như methane, ethane được tách ra khỏi dòng khí lỏng và đi lên đỉnh tháp.nhiệt độ đáy tháp C-01 được giữ ở 120oC thông qua các reboiler E-01A/B Hydrocacbon nhẹ được tách ra được nén từ 29barA lên 47barA bằng máy nén (K-01,Deethanizer OVH D compressor) và được trộn với khí thương phẩm K-01, Deethanizer OVHD compressor là máy nén kiểu pittông đơn cấp được dẫn động động cơ khí 766kw, có thiết bị tách lỏng đầu vào V-12 là bình tách thẳng đứng có đường kính 1200mm, cao 3000mm được lắp đặt trước máy nén để laoị bỏ tất cả các giọt còn lại trong dòng khí chất lỏng ở đáy của thiết bị tách lỏng được xả vào hệ thống xả kín thông qua thiết bị điều chỉnh mức LICA-1401

Chất lỏng từ đáy tháp ethane được chuyển đến tháp ổn định (C-02, Stabilier) để thu hổi Bupro (sản phẩm đỉnh) và Condensate (sản phẩm đáy )

- Các thiết bị trao đổi nhiệt: E-17, E-11

Sơ đồ công nghệ GPP có thể được mô tả như sau:

Khí ngoài giàn vào nhà máy được tiếp nhận đầu tiên tại Slug Catcher(SC-01/02), dòng lỏng ra có nhiệt độ 25,60C và áp suất 109 bar được đưa tới V-03 Dòng khí ra từ Slug catcher qua V-03 để tách nốt phần lỏng còn lại, lượng lỏng được tách ra này được đưa tới bình tách V-

03 để xử lý, còn dòng khí ra từ V-08 đi vào V-06A/B để tách tinh nước

Trong chế độ này thiết bị Turbo-Expander được đưa vào hoạt động thay thế E-20 trong chế độ MF, nên khoảng 2/3 lượng khí ra khỏi V-06A/B được chuyển tới phần giãn nở của thiết bị CC-01, tại

đó khí được giãn từ 109 bar xuống 33.5 bar và nhiệt độ cũng giảm xuống -180C, sau đó dòng này được đưa vào tháp tinh lọc C-05

Trang 18

Phần còn lại khoảng 1/3 dòng từ V-06A/B được đưa tới thiết bị trao đổi nhiệt E-14 để làm lạnh dòng khí từ 260C xuống -350C nhờ dòng khí lạnh ra từ đỉnh tháp C-05 có nhiệt độ -42,50C Sau đó, dòng này lại qua van giảm áp FV-1001 ( áp suất được giảm từ 109 bar xuống 47.5 bar, nhiệt độ cũng giảm xuống còn -620C) rồi được đưa vào tháp C-05 như một dòng hồi lưu ngoài đỉnh tháp.

Trong chế độ GPP, tháp C-05 làm việc ở áp suất 33.5 bar nhiệt

độ đỉnh -420C và nhiệt độ đáy -200C Khí ra khỏi đỉnh tháp C-05 có nhiệt độ -42.50C được sử dụng làm lạnh khí đầu vào thông qua thiết

bị trao đổi nhiệt trước khi nén ra dòng khí thương phẩm bằng phần nén của CC-01

Quá trình thu hồi lỏng của chế độ này có khác biệt so với chế

độ AMF và chế độ MF do sự có mặt của tháp C-04 và các máy nén K-02, K-03 Dòng khí ra từ đỉnh tháp C-01 được máy nén K-01 nén

từ 29 bar lên 47 bar rồi tiếp tục được làm lạnh trong thiết bị trao đổi nhiệt E-08 ( tác nhân lạnh là dòng lỏng ra từ V-03 có nhiệt độ 200C)

và vào tháp C-04 để tách nước và hydrocacbon nhẹ lẫn trong lỏng đến từ V-05

Tháp C-04 làm việc ở áp suất 47.5 bar, nhiệt độ đỉnh và đấy lần lượt là 44oC và 40oC khí sau khi ra khỏi thiết bị C-04 được nén đến

áp suất 75 bar nhờ máy nén K-02 rồi được làm lạnh tại thiết bị trao đổi nhiệt bằng không khí E-19 Dòng này được trộn lẫn với dòng khí

ra từ V-03, và được nén tới 109 bar bằng máy nén K-03, sau đó đó được làm lạnh và nhập vào dòng khí nguyên liệu trước khi vào V-08

Dòng lỏng ra từ tháp C-04 được đưa đến đĩa thứ 14 của tháp C-01 dòng lỏng ra từ tháp C-05 được đưa đến đĩa thứ nhất của tháp C-01 đóng vai trò như dòng hồi lưu ngoài ở đỉnh tháp

Trong chế độ này, tháp C-01 làm việc ở áp suất 29 bar, nhiệt

độ đỉnh là 14oC và nhiệt độ đáy là 109 oC Sản phẩm đáy của tháp

C-01 chủ yếu là C3+ được đưa đến tháp C-02 (áp suất việc của C-02 là

11 bar, nhiệt độ đỉnh 55oC và nhiệt độ đáy là 134 oC) để tách riêng condensate và bupro

Dòng ra từ đỉnh tháp C-02 là hỗn hợp bupro được tiến hành ngưng tụ hoàn toàn ở nhiệt độ 43 oC qua hệ thống quạt làm mát bằng không khí E-02, sau đó được đưa đến bình hồi lưu V-02 có dạng nằm ngang, một phần bupro được bơm trở lại tháp C-02 để hồi lưu bằng bơm P-01A/B, áp suất của bơm có thể bù đắp được sự chênh

áp suất làm việc của tháp C-02 (11 bar) và tháp C-03 (16 bar) Phần bupro còn lại được gia nhiệt đến 60 oC trong thiết bị gia nhiệt E-17 trước khi cáp cho tháp C-03 bằng chất lỏng nóng từ đáy tháp C-03

Trang 19

sản phẩm đáy của tháp C-03 chính là condensate thương phẩm được đưa ra bồn chứa hoặc dẫn ra đường ống vận chuyển condensate về kho cảng Thị vải.

Sản phẩm ra từ đỉnh tháp C-03 là hơi propan được ngưng tụ hoàn toàn ở nhiệt độ 46 oC trong thiết bị E-11 được lắp tại đỉnh C-03

có dạng làm mát bằng không khí và được đưa đến thiết bị chứa hồi lưu V-05 có dạng nằm ngang, sản phẩm propan lỏng này được bơm

ra khỏi V-05 bơm bằng các máy bơm, một phần propan thương phẩm được tách ra bằng thiết bị điều khiển mức và chúng được đưa đến đường ống dẫn propan hoặc để chứa propan V-21A Phần còn lại được đưa trở lại tháp C-03 như một dòng hồi lưu ngoài ở đỉnh tháp

Tại tháp C-03, thiết bị trao đổi nhiệt E-10 được lắp đặt để cấp nhiệt đun sôi lại bằng dầu nóng tới nhiệt độ 97 oC Nhiệt độ của nó được điều khiển bởi van TV-2123 đặt trên ống dẫn dầu nóng Butan còn lại đưa ra bồn chứa hoặc đưa đến kho ảng Thị Vải sau khi được giảm nhiệt độ đến 60oC bằng thiết bị trao đổi nhiệt E-17 và đến 45oC nhờ thiết bị trao đổi nhiệt

E-12

3.1 Loại nước và tái sinh (dehydration and regeneration)

Trong chế độ hoạt động này, dòng khí từ Slug catcher được chuyển đến bình tách V-08, và sau đó được đưa vào 1 trong 2 tháp hấp thụ song song (V-06 A/B) để loại bỏ nước chứa trong không khí Sau đó cho qua hệ thống lưới lọc F-01 A/B để loại bỏ các bụi bẩn, tạp chất cơ học bị cuốn theo và đưa vào hệ thống khí xử lý khí tương

tự như trong chế độ MF

3.2 Quá trình xử lý Condensate trong chế độ hoạt động GPP.

Quá trình xử lý dòng Condensate trong chế độ hoạt động GPP khác so với chế độ hoạt động MF và AMF bởi vì trong chế độ hoạt động GPP có thêm 2 thiết bị là Stripper và máy nén khí K-02/03 Dòng lỏng và khí từ bình tách 3 pha được chuyển lần lượt đến 2 thiết

bị này

Áp suất của bình tách C-03 được điều chỉnh ở 75 barA bằng van PV-2002 lắp đặt trên đường hồi lưu của máy nén hồi lưu cấp 2 K-03 Condensate từ bình tách V-03 thông qua thiết bị điều chỉnh dòng FV-1802 được liên kết với thiết bị điều chỉnh mức LIC-0302 (cascaded control) đi vào đĩa trên cùng của tháp C-04, mục đích của tháp làm sạch khí là loại nước khỏi condensate bằng dòng khí nóng (khí khô) Tháp làm sạch gồm 6 đĩa van, Condensate tiếp xúc trực tiếp với dòng khí nóng đi lên trong tháp, vì vậy nước trong

Trang 20

condensate sẽ được cuốn theo dòng khí Tháp C-04 hoạt động ở áp suất hoạt động là 47.5 barA được điều chỉnh bởi thiết bị điều chỉnh PICA – 1801, PICA – 1801 được lắp đặt để xả khí ra đuốc đốt tránh hiện tượng quá áp.

Dòng lỏng từ đáy của tháp C-04 thông qua van điều chỉnh dòng FV-1701 ( kết hợp với thiết bị điều chỉnh mức LICA-1821, cascaded control ) đưa vào đĩa thứ 14 hoặc 20 của tháp tách ethane sau khi được gia nhiệt từ 40oC lên 86oC trong thiết bị trao đổi nhiệt E-04, condensate Cross Exchanger bởi dòng nóng 154oC đi ra từ đáy tháp

ổn định C-02, Stabilizer Mục đích của thiết bị trao đổi nhiệt là tận dụng và thu hồi nhiệt

3.3 Quá trình tách tinh và làm lạnh sâu trong chế độ GPP

Một phần ba lượng khí đã được làm khô được chuyển đến thiết

bị trao đổi nhiệt E-14, Cold Gas/Gas Exchanger để làm lạnh sâu từ

28oC xuống -35oC bằng dòng khí lạnh từ đỉnh tháp tinh C-05, Rectifier có nhiệt độ -42.5oC Nhiệt độ của dòng khí ra khỏi thiết bị trao đổi nhiệt này là -36oC, đây là một thông số quan trọng trong quá trình xử lý khí, nếu nhiệt độ này thấp hơn giá trị đó, thì một lượng hydrocacbon lỏng có thể không được thu hồi, và nếu nhiệt độ này cao hơn giá trị đặc biệt đó, thì hydrate có thể hình thành trong đường ống, vì vậy nhiệt độ này được điều chỉnh bằng dòng lạnh qua E-14 thông qua bộ điều chỉnh nhiệt độ TICA-1009 Bộ điều chỉnh nhiệt độ TICA-1009 được lắp đặt trên đường ống đầu ra của dòng lạnh nhằm tránh hiện tượng nhiệt độ thấp hơn giá trị nhiệt độ thiết kế đường ống (-100oC) bằng cách giới hạn dòng khí lạnh chảy vòng (bypass) qua E-14

Áp suất của dòng khí đầu vào sau đó được giảm từ 109 barA xuống 33.5 barA thông qua van FV-1001 nhờ quá trình giãn nở đoạn nhiệt và nhiệt độ của nó giảm xuống -62oC Dòng lạnh này gồm 56% (tỷ lệ mole phần) là lỏng được đưa vào đĩa trên cùng của tháp tinh C-

05 như là dòng hồi lưu ngoài cho tháp

Hai phần ba lượng khí còn lại được đưa vào hệ thống giãn nở khí CC-01, Turbo Expander, tại hệ thống này khí được giãn từ

FV-0501B được lắp tên đường bypass qua CC-01 nhằm tránh quá áp cho hệ thống Nếu bộ phận giãn nở của CC-01 ngừng làm việc (SDV-1101 ở đầu vào phần giãn nở đóng lại trong vòng 0.5 giây), van bypass FV-0501 sẽ tự động mở, do vậy có thể tránh được hiện tượng dội áp đột ngột Dòng lạnh này sau đó được đưa vào đáy tháp tinh C-05

Trang 21

Trong tháp tách tinh C-05, khí chứa chủ yếu là methane, ethane được tách ra khỏi dòng lỏng chứa các cấu tử nặng hơn như propane, butane và các cấu tử nặng khác dưới áp suất hoạt động 33.5 barA, nhiệt độ đỉnh tháp là

-43oC và nhiệt độ đáy tháp là -20oC Phần trên của tháp tách tinh như

là bình tách khí/lỏng Cần nhấn mạnh thêm rằng trong các chế độ hoạt động AMF và MF, tháp tách tinh có tác dụng như 1 bình tách, nhưng trong chế độ hoạt động GPP nó có tác dụng như là 1 tháp chưng cất phân đoạn có vòng hồi lưu ngoài và không có thiết bị gia nhiệt bên ngoài (reboiler) Tháp C-05 có 12 van dạng đĩa

Áp suất hoạt động của tháp tinh trong chế độ hoạt động GPP là 35.5 barA thấp hơn so với chế độ hoạt động MF và AMF (47.5 barA)

Áp suất này không được duy trì bởi các thiết bị điều chỉnh áp suất mà phụ thuộc vào hiệu suất làm việc của Turbo-Exchanger/Compressor Dòng khí từ đỉnh tháp tách tinh có nhiệt độ -43oC được dùng

để làm lạnh sâu dòng khí nguyên liệu đi vào thiết bị trao đổi nhiệt

E-14, sau đó được nén bởi phần nén của CC-01 Một van anti-surge FV-111 được lắp đặt ở phần nén của CC-01 Trước khi khởi động máy nén, dòng khí thương phẩm đi theo ống bypass (qua van FV-1111), sau tự động thay đổi tới máy nén khi máy nén khởi động, nhờ van 1 chiều lắp đặt trên đường ống (check value Khi máy nén ngừng hoạt động dòng khí trỏ lại di chuyển theo dường ống bypass Khi dòng khí vào máy nén không đổi, van anti-surge FV-1111 sẻ mở ra

để giữ cho máy nén làm việc ở ngoài vùng Surge

Dòng khí sau khi được chuyển đến đường ống dẫn khí thương phẩm vào bộ đo dòng ME-13.bao gồm 2 bộ đo dòng SI-1150A/B, một làm, một để dự bị van điều áp PV-1114A được lắp đặt trên đường ống để điều chỉnh áp suất đầu ra của nhà máy là 47BarA Dòng lỏng

từ đáy tháp tách tinh thông qua thiết bị điều chỉnh dòng FIC-1201 cascaded với thiết bị điều chỉnh lỏng trong tháp tách tinh LIC-1201A được đưa vào đĩa của tháp trên cùng của tháp C-01 như là dòng hồi lưu ngoài

4 Chế độ GPP chuyển đổi

Là chế độ hiện nay nhà máy đang hoạt động

Chế độ GPP chuyển đổi được phát triển dựa trên chế độ GPP thiết kế nhằm mục đích tăng lưu lượng khí đầu vào nhà máy từ 4,7 triệu m3 (khí ẩm/ngày) lên 5,7 triệu m3/ngày (do từ cuối 2002 nhà máy tiếp nhận thêm khoảng 1 triệu m3/ngày từ mỏ Rạng Đông)

Trong chế độ GPP chuyển đổi ngoài các thiết bị trong chế độ GPP ban đầu có bổ sung thêm các thiết bị sau:

Trang 22

+ Bình tách khí –lỏng V-101

+ Trạm nén khí đầu vào gồm 4 máy nén K-101A/B/C/D với 3 máy hoạt động và 1 máy dự phòng

Khí vào nhà máy là khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ và mỏ Rạng Đông với lưu lượng 5,7 triệu m3/ngày Đầu tiên cũng được đưa vào

hệ thống Slug Catcher để tách condensate và nước trong điều kiện

áp suất 60-70 bars và nhiệt độ 23-28oC tuỳ theo nhiệt độ môi trường Hỗn hợp lỏng ra khỏi Slug Catcher được đưa vào thiết bị tách 3 pha V-03 làm việc ở nhiệt độ 20oC, áp suất 47 bars thấp hơn so với chế độ GPP thiết kế là 75 bars nhằm mục đích xử lý thêm lượng lỏng đến từ bình tách V-101 của dòng bypass

Hỗn hợp khí ra khỏi Slug Catcher được chia làm 2 dòng:

Dòng thứ nhất khoảng 0,8 triệu m3/ngày được đưa qua van giảm áp PV-106 giảm áp suất từ 60-70 bars xuống còn 54 bars và đi vào thiết bị tách lỏng V-101 để tách riêng lỏng và khí Lỏng đi ra tại đáy bình táchV-101 được đưa vào thiết bị tách 3 pha V-03 để tách sâu hơn, còn khí ra ở đỉnh bình tách V-101 được sử dụng như khí thương phẩm cung cấp cho các nhà máy điện bằng hệ thống ống dẫn có đường kính 16”

Dòng khí thứ hai là dòng khí chính với lưu lượng khoảng 4,9 triệu m3/ngày được đưa vào hệ thống 4 máy nén khí K-101A/B/C/D

để nén dòng khí từ áp suất 60-70 bars lên đến áp suất thiết kế là 109 bars với nhiệt độ 400C, dòng khí này được đưa vào thiết bị lọc V-08

để tách tinh lượng lỏng còn lại trong khí và bụi bẩn Dòng khí ra khỏi V-08 được đưa vào thiết bị V-06A/B để tách loại nước trong khí với mục đích tránh tạo thành hydrat trong quá trình làm lạnh khí, sau đó được đưa qua thiết bị lọc F-01A/B để tách lọc bụi bẩn có trong khí Phần lỏng ra khỏi thiết bị V-08 được đưa vào bình tách 3 pha V-03

áp, nhiệt độ của dòng khí sẽ giảm xuống tới -620C Lúc này dòng khí

sẽ chứa khoảng 56% mol lỏng và được đưa tới đĩa trên cùng của thiết bị tinh cất C-05 như một dòng hồi lưu ngoài

Trang 23

Phần thứ hai khoảng 2/3 sẽ được đua vào đầu thiết bị CC-01 để thực hiện việc giảm áp suất từ 109 bar xuốg tới 37 bars và nhiệt độ giảm xuống -120C Dòng khí lạnh này sau đó được đưa vào đáy của tháp tinh cất C-05.

Như vậy khí khô sau khi ra khỏi thiết bị lọc F-01A/B được tách

ra và đưa sang các thiết bị E-14 và CC-01 để giảm nhiệt độ sau đó mới đưa vào tháp tinh cất C-05 hoạt động ở áp suất 37 bars, nhiệt độ của đỉnh tháp và đáy tháp tương ứng là – 420C và -200C Tại đây, khí (chủ yếu là C1 và C2) được tách ra ở đỉnh tháp Thành phần pha lỏng (chủ yếu là propan và các cấu tử nặng hơn) được tách ra từ đáy tháp

Hỗn hợp khí đi ra từ đỉnh tháp tinh cất C-05 có thành phần chủ yếu là metan và etan, có nhiệt độ -420C được sử dụng làm tác nhân lạnh cho thiết bị trao đổi nhiệt E-14 và sau đó được nén tới áp suất

54 bars trong phần nén của thiết bị CC-01 Hỗn hợp khí đi ra từ thiết

bị này được đưa vào hệ thống đường ống 16” đến các nhà máy điện như là khí thương phẩm

Hỗn hợp lỏng đi ra từ đáy tháp tinh cất C-05 có thành phần là C3+, chủ yếu là propan được đưa vào đỉnh tháp C-01 như dòng hồi lưu ngoài

Tháp tách etan C-01 là một tháp đĩa dạng van hoạt động như một thiết bị chưng cất Trong chế độ GPP chuyển đổi tháp C-01 có 2 dòng nguyên liệu đi vào là dòng lỏng từ đáy tháp C-05 đi vào đĩa trên cùng và dòng lỏng từ đáy bình tách V-03 sau khi được gia nhiệt tại E-

04 được đưa vào đĩa thứ 20 Tháp C-01 có nhiệm vụ tách các

hydrocacbon nhẹ như metan và etan ra khỏi ra khỏi condensate, khi hoạt động tháp có áp suất 29 bars, nhiệt độ đỉnh 140C, nhiệt độ đáy tháp 1090C được duy trì nhờ thiết bị gia nhiệt E-01A/B Khí nhẹ ra khỏi đỉnh tháp C-01 được đưa vào bình tách V-12 để tách lỏng có có trong khí Sau đó được máy nén K-01 nén từ áp suất 27 bars đến áp suất 47 bars rồi đưa vào bình tách V-13 để tách các hạt lỏng tạo ra trong quá trình nén Dòng khí ra khỏi V-13 được nén tiếp đến áp suất

75 bars nhờ máy nén K-02, được làm mát nhờ thiết bị trao đổi nhiệt bằng không khí E-19 Dòng khí ra khỏi E-19 lại được máy nén K-03 nén đến áp suất thiết kế là 109 bars, làm mát tại thiết bị trao đổi nhiệt E-13 và cuối cùng quay trở lại bình tách V-08 như là nguyên liệu đầu vào

Hỗn hợp lỏng ra ở đáy C-01 có thành phần chủ yếu là C3+ được đưa vào bình ổn định V-15 sau đó được đưa vào đĩa thứ 11 của tháp C-02

Trang 24

Tháp ổn định C-02 là một thấp đĩa dạng van bao gồm 30 đĩa áp suất làm việc 11 bars, nhiệt độ đỉnh 430C, nhiệt độ đáy 1410C (được duy trì nhờ Reboiler E-03) Tháp C-02 có nhiệm vụ tách riêng hỗn hợp bupro ra khỏi condensate Hỗn hợp bupro ra khỏi đỉnh C-02 có nhiệt

độ 550C được làm mát đến 430C nhờ thiết bị làm lạnh bằng không khí E-02 sau đó được đưa sang bình ổn định V-02, một phần nhỏ bupro được hồi lưu lại đỉnh tháp C-01còn phần lớn được làm lạnh lần nữa tại E-12 sau đó được đưa vào bồn chứa để xuất xe bồn hoặc đưa về kho cảng Thị Vải

Condensate ra khỏi đáy tháp C-02 có nhiệt độ cao được tận dụng để gia nhiệt cho dòng lỏng ra từ đáy V-03 thông qua thiết bị trao đổi nhiệt E-04, đồng thời nhiệt độ của dòng condensate cũng giảm

xuống còn 600C, sau đó được làm mát tiếp đến 450C tại thiết bị làm lạnh bằng quạt E-09 cuối cùng được đưa vào bồn chứa hoặc dẫn về kho cảng Thị Vải

Thông số vận hành chính :

+ Các thông số áp suất

Thiết bị Mô tả Áp suất (kPaG)

PI-0101 Áp suất đầu vào nhà máy: 6000 – 7500

PI-8101 Áp suất đầu ra K-1011: 10900

FV-1001 Đầu vào (từ E-14): 10620

LV-0131 A/B Đầu vào (từ SC-01/02)

Đầu ra (trước khi vào V-03): 6500 – 7500

FV-1701 Đầu vào (từ E-04): 4600-4700

Trang 25

Đầu ra (đến V-21 A/B): 1800

Đầu ra (đến đường ống đi KCTV): 1200

FV-1501 Đầu vào (từ P-01 A/B): 1800

Thiết bị Mô tả Nhiệt độ (0C)

TI-0101 Nhiệt độ đầu vào nhà máy: 25.6

TI-8101 Nhiệt độ sau K-1011: 40.0 – 45.0

E-14 Đầu ra (đến FV-1001): -35/-37

Đầu ra (đến PV-1114A): 30

CC-01 Đầu ra phần giãn nở: -11/-15

Đầu vào phần nén: 30

Đầu ra phần nén: 60(phụ thuộc hiệu suất nén)

FV-1001 Đầu vào (từ E-14): -35/-37

Đầu ra (đến C-05): -60/-62

C-05 Đầu ra đỉnh: -42

Đầu ra đáy: -20

LV-0131 A/B Đầu vào (từ SC-01/02): 25.6

Đầu ra (trước khi vào V-03): 18-20

E-08 Đầu ra (đến FV-1802): 41

Đầu ra (đến C-04): 44

V-03 Đầu ra: 20 (được gia nhiệt bởi E-07)

FV-1802 Đầu vào (từ E-08): 41

Ngày đăng: 05/05/2014, 16:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh chế độ hoạt động của GPP chuyển đổi với các chế độ  khác - Công nghê hóa học thực tập tài nhà máy dinh cố
Bảng so sánh chế độ hoạt động của GPP chuyển đổi với các chế độ khác (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w