29 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 3 Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHIẾN LƯỢC 4 ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 4 1 Căn cứ lý luận 4 1 1 Chủ nghĩa Mác Lênin 4 1 2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết 5 2 Căn cứ thực tiễn[.]
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU 3
Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHIẾN LƯỢC 4
ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 4
1 Căn cứ lý luận 4
1.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin 4
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết 5
2 Căn cứ thực tiễn 6
2.1 Thực tiễn cách mạng thế giới 6
Chương 2: 8
QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO VÀ PHÁT HUY KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 8
1 Tình hình khối đại đoàn kết dân tộc trước những năm đổi mới 8
2 Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về đại đoàn kết dân tộc 9
2.1 Nhận thức rõ vị trí đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới 9
2.2 Xác định các yếu tố quan trọng và điểm tương đồng mới để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc 12
2.3 Về trách nhiệm thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc 16
2.3.1 Đại đoàn kết là trách nhiệm của toàn dân tộc, là công việc của mỗi người dân 16
2.3.2 Đại đoàn kết là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị, 17
2.3.3 Đại đoàn kết phải được thực hiện từ cơ sở trong từng cộng đồng dân cư nhỏ như thôn, làng, bản, ấp, tổ dân phố 18
3 Kết quả và hạn chế trong việc thực hiện chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc 18
3.1 Kết quả 18
4 Một số kinh nghiệm và giải pháp rút ra trong quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc thời gian qua 25
KẾT LUẬN 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Dân tộc nào cũng có truyền thống đoàn kết để sinh tồn và phát triển.Song, truyền thống đoàn kết của dân tộc ta là truyền thống của một quốc gia đadân tộc, đa tôn giáo, sống xen kẽ, không phân biệt cưong vực lãnh thổ Đó lànhững cuộc chiến đấu liên miên không cân sức để chống chọi với thiên tai khắcnghiệt và đủ loại xâm lược hòng thôn tính lãnh thổ, nô dịch dân tộc ta Đó còn làmột giá trị văn hoá thuộc về bản sắc dân tộc Việt Nam, một dân tộc ngay từ khihình thành đã mang tính cộng đồng cao Nghiên cứu chiều sâu của đoàn kết dân
tộc, mới thấy rõ ý nghĩa sâu sắc mà “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” của Đảng đã tổng kết thành một trong năm bài học lớn của cách mạng nước ta Đó là: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế”.
Để đi đến thắng lợi to lớn ngày nay, cuộc đấu tranh của nhân dân ta đãphải trải qua những khó khăn, thử thách, những khúc quanh với những ấu trĩ, sailầm, khuyết điểm Hơn ai hết, dân tộc ta hiểu rõ giá trị của sự đoàn kết và quyếttâm làm tất cả những gì có thể làm được để củng cố khối đại đoàn kết toàn dântộc, kiên quyết chống lại những gì phá hoại hoặc làm xói mòn, làm suy yếu khối
đại đoàn kết này, vì lịch sử đã cho chúng ta bài học quý giá: “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết!”.
Truyền thống đoàn kết của dân tộc ta được nâng lên tầm cao mới trongthời đại Hồ Chí Minh, kết tinh thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàndân tộc Thực tiễn cách mạng nước ta ngót một thế kỷ qua đã chứng minh mộtcách hùng hồn sức sống mãnh liệt và sức mạnh vĩ đại không gì chiến thắng nổicủa tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết kết dân tộc và Đảng ta đã quán triệtsâu sắc tư tưởng đó thành sợi chỉ đó xuyên suốt trong đường lối cách mạng của
Đảng qua mọi thời kỳ Vì vậy, nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng
và phát huy khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới là một việc làm hết
sức cần thiết hiện nay, nhằm phát huy hơn nữa những giá trị tốt đẹp mà ta đãdành được để củng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc - cội nguồn bảo đảmthắng lợi của cách mạng nước ta
Trang 3Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHIẾN LƯỢC
ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Một số khái niệm:
Đoàn kết: Sách từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1994 đã đưa ra khái niệm “Đoàn kết” là: “Kết thành một khối thống nhất cùng hoạt động vì một mục đích chung và đại đoàn kết là đoàn kết rộng rãi”.
Khái niệm trên chính là sự cắt nghĩa phổ thông về một cụm từ Hán Việt
và mới chỉ đưa ra một cái vỏ thông tin của khái niệm chứ chưa có nội dung đầy
đủ Đó là trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài Nói chuyện tại Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên - Việt toàn quốc ngày 10-1-1955, Người đã đưa ra định nghĩa về đại đoàn kết như sau:
“Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, màđại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao độngkhác Đó là nền gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây.Nhưng đã có nền vững, gốc tốt còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác”
Đây là định nghĩa hết sức cụ thể và mộc mạc Tư tưởng đó hoàn toànđúng với nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, phù hợp với đặc điểm,truyền thống và thực tiễn của dân tộc Việt Nam
1 Căn cứ lý luận
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay đã lãnh đạo toàn dân
ta làm nên những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp cách mạng Những thắng lợi
đó cũng chính là thắng lợi của chiến lược đại đoàn kết của Đảng Nhờ đâu màĐảng có những chiến lược đoàn kết vững chắc và khoa học như vậy? Nhờ đâu
mà toàn dân tộc Việt Nam một lòng đi theo chiến đấu dưới lá cờ của Đảng? Phảichăng cội nguồn của nó là Đảng đã có một nền tảng, một cơ sở về đại đoàn kếttoàn dân tộc
1.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin
Trong thời đại cách mạng vô sản, chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyếtkhoa học và tiên tiến của thời đại, có sức hấp dẫn, chinh phục hàng triệu khối
óc, trái tim nhân loại Điểm nổi bật của học thuyết này là đã nhìn thấy sức mạnh
ở nhân dân lao động, coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân làngười sáng tạo ra lịch sử
Trang 4Từ đó, các ông kêu gọi sự đoàn kết tất cả các lực lượng của nhân dân laođộng Để đoàn kết được tất cả mọi lực lượng của nhân dân lao động, chủ nghĩaMác - Lênin đã chỉ ra rằng phải “lấy liên minh công nông làm nguyên tắc tối caocủa cách mạng vô sản” Trên cơ sở khối liên minh đó, đảng của giai cấp côngnhân phải tổ chức các hình thức để tập hợp đông đảo mọi tầng lớp nhân dân ởtrong mặt trận, đoàn thể.
Bên cạnh đó, các ông còn chỉ rõ mục đích của đoàn kết toàn dân tộc là đểthực hiện mục tiêu: giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng conngười; Sở dĩ tại sao phải đoàn kết dân tộc, đó là vì kẻ thù của giai cấp vô sản làlực lượng quốc tế Muốn đánh bại kẻ thù thì phải đoàn kết dân tộc và đoàn kếtquốc tế
“Chỉ có giai cấp vô sản mới kết nghĩa anh em thật sự dưới ngọn cờ dânchủ và chủ nghĩa cộng sản Vì: giai cấp vô sản tất cả các nước đều có chung lợiích, cùng chung một kẻ thù và cùng đứng trước một cuộc đấu tranh… chỉ cónhững người vô sản mới có khả năng xoá bỏ sự cách biệt giữa các dân tộc, chỉ
có giai cấp vô sản giác ngộ mới xây dựng được tình anh em giữa các dân tộckhác nhau”
Qua những luận điểm trên ta thấy rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ratính tất yếu, sự cần thiết, con đường và phương pháp đoàn kết,… Đó cũng chính
là nền tảng, cơ sở để hình thành các quan điểm chiến lược đoàn kết của cácĐảng Cộng sản trên toàn thế giới
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết
Đại đoàn kết là một tư tưởng lớn được hình thành và phát triển cùng với toàn
bộ quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn của chủ tịch Hồ Chí Minh
Trước hết, với Hồ Chí Minh, đoàn kết, đại đoàn kết, không phải là mộtthủ đoạn chính trị nhất thời mang tính chất sách lược mà là một vấn đề mangtính chiến lược có ý nghĩa sống còn lâu dài, quyết định thành bại của cách mạng
Thứ hai, đoàn kết, đại đoàn kết, trong nhận thức của Hồ Chí Minh, khôngđơn giản là phương pháp tập hợp, tổ chức lực lượng cách mạng, mà cao hơn, nóchính là một bộ phận hữu cơ, một tư tưởng xuyên suốt trong đường lối chiếnlược cách mạng Nó trở thành mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng
Trang 5Thứ ba, đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân Đoàn kết không chỉxuất phát từ sự cần thiết, từ ý muốn chủ quan của lực lượng lãnh đạo cách mạng
mà là nhu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, của quần chúng nhân dân
Trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, đoàn kết dân tộc là yêu cầuchung cao nhất, là bộ phận quan trọng nhất Đoàn kết dân tộc trên nền tảng liênminh công - nông - trí thức, xuất phát từ mục tiêu, vì nước vì dân Để tập hợpđược lực lượng nhân dân và để phát huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân cầnphải có một tổ chức đó chính là mặt trận dân tộc thống nhất Khi đoàn kết phảithật sự chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ
Đoàn kết, tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau: đoàn kết phải được xâydựng trên cơ sở đảm bảo những lợi ích tối cao của dân tộc và những quyền lợi
cơ bản của nhân dân lao động; phải dựa vào nhân dân để xây dựng khối đại đoànkết; phải đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo, để khối đại đoàn kếtlâu dài và bền vững - đây là nguyên tắc nhất quán của Hồ Chí Minh
2 Căn cứ thực tiễn.
2.1 Thực tiễn cách mạng thế giới.
Tất cả các dân tộc trên thế giới đều có truyền thống yêu nước và tinh thầnđoàn kết, dù rằng ở mỗi nước truyền thống đó được thể hiện không giống nhau.Lịch sử các cuộc cách mạng thế giới đã cho ta thấy rõ điều đó
Cách mạng tư sản Anh năm 1940 thắng lợi, một trong những nguyên nhâncủa sự thắng lợi đó là đã huy động được sức mạnh đoàn kết toàn dân, được nhândân ủng hộ, đã chém đầu vua Sac - lơ I, dành quyền về tay giai cấp tư sản
Tiếp đó là thắng lợi vang dội của cách mạng tư sản Pháp (1789 - 1794) đãcho ta những kinh nghiệm về đoàn kết dân tộc: hàng vạn những người nông dânbước chân lên đường hát vang khúc hành ca đi chống lại giai cấp phong kiến
Cũng như thế, sức mạnh đoàn kết dân tộc lại đưa đến thành công cho cáchmạng tư sản Mỹ (1764 - 1776); cách mạng tháng Mười Nga - cuộc cách mạng vôsản đầu tiên trên thế giới, đã cho chúng ta bài học liên minh công nông dưới sựlãnh đạo của Đảng nhờ sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc
Điểm qua những cuộc cách mạng tiêu biểu ấy cho thấy rằng: đoàn kết điliền với thắng lợi của cách mạng Từ đó, đã cho Đảng ta những kinh nghiệm quýbáu về đoàn kết dân tộc trong lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của mình
2.2 Thực tiễn Việt Nam
Trang 6Đất nước Việt Nam, một dải đất hẹp nằm trọn trong vành đai nhiệt đới giómùa, quay mặt ra biển Đông, lưng tựa vào Trường Sơn hùng vĩ Do điều kiệnđịa lý tự nhiên và vị trí quan trọng của mảnh đất này, những cư dân người Việt
từ thuở xa xưa vừa được hưởng sự ưu đãi của đất trời vừa phải đối mặt vớinhững thử thách khắc nghiệt của thiên tai, địch hoạ Lịch sử dựng nước và giữnước diễn ra trên mảnh đất này là sự nối tiếp hàng ngàn năm những cuộc đấutranh không mệt mỏi, chống hạn hán bão lụt, chống chiến tranh xâm lược củacác thế lực bên ngoài Từ trong cuộc đấu tranh trường kỳ đó, truyền thống đoànkết đã được hình thành, xây dựng và vun đắp qua nhiều thế hệ
Đến thời cận đại, trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược,nhiều phong trào yêu nước diễn ra rầm rộ và sôi nổi nhưng đều đi đến thất bại.Một trong những nguyên nhân thất bại là chưa đoàn kết rộng rãi các giai cấptrong cả nước
Tổng kết lịch sử, Đảng ta đã rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu trongđại đoàn kết dân tộc
Căn cứ vào những cơ sở lý luận và thực tiễn ngay từ khi ra đời đến khilãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng xâydựng, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc
Chương 2:
Trang 7QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO VÀ PHÁT HUY KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT
DÂN TỘC TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY.
1 Tình hình khối đại đoàn kết dân tộc trước những năm đổi mới.
Hơn 70 năm thực hiện chiến lược đại đoàn kết, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã tập hợp, phát huy sức mạnh dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác của quốc tế,đưa cách mạng nước ta từ thắng lợi này tới thắng lợi khác Mới 15 tuổi với 5000đảng viên mà Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tiến hành cách mạng tháng Támthành công Thắng lợi vĩ đại của hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống kẻ thùxâm lược là Pháp và Mỹ cùng các thế lực thù địch có sức mạnh hơn ta rất nhiềulần chính là nhờ Đảng và nhân dân ta đã thực hiện đường lối chiến tranh nhândân “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” như bàihọc dựng nước và giữ nước của cha ông để lại Đó chính là thắng lợi của đườnglối cách mạng đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, là thắng lợi của ý chíkiên cường, của lòng quả cảm và tinh thần đại đoàn kết của cả dân tộc Thắnglợi to lớn đó còn thể hiện sức mạnh đoàn kết quốc tế giữa nhân dân ta và nhândân các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhân dân các dân tộc tiến bộ, yêuchuộng hoà bình trên toàn thế giới
Tuy nhiên, bên cạnh những chiến công lừng lẫy ấy, Đảng ta cũng vấp phảimột số sai lầm gây ảnh hưởng lớn đến khối đại đoàn kết dân tộc: Đó là sai lầmtrong tập hợp lực lượng giai đoạn 1930 - 1931 với khẩu hiệu “trí - phú - địa -hào - đào tận gốc, trốc tận rễ’, quá đề cao vấn đề giai cấp coi nhẹ vấn đề dân tộc,quá rập khuôn máy móc vào chủ nghĩa Mác - Lênin ;thời kỳ 1945 - 1954: chúng
ta đã huy động quá sức dân, thực hiện cải cách ruộng đất ở vùng tự do quá sớm;thời kỳ 1950 - 1958: khi tiến hành cải tạo xã hội chũ nghĩa ở miền Bắc, chúng tatiến hành cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản ở thành thị, đã gây tang thương lớntrên khắp miền Bắc Đặc biệt, trong những năm đầu của thời kỳ mới (1976 -1985), dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giành được nhiều thắng lợiquan trọng, đồng thời cũng mắc những sai lầm, mà một trong những nguyênnhân sai lầm là do chúng ta chưa nghiên cứu, kế thừa, phát triển đúng đắn chiếnlược đại đoàn kết Hồ Chí Minh phù hợp với tình hình mới
Từ cuối những năm 70, đầu những năm đầu 80 của thế kỷ XX , nước tathật sự lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, tình hình thế giới và trongnước rất không thuận lợi cho ta Chúng ta phải đánh bại hai cuộc chiến tranhbiên giới; giúp đỡ nhân dân Cămpuchia thoát khỏi bọn diệt chủng PônPốt, xây
Trang 8dựng và giữ vững chính quyền cách mạng Chủ nghĩa đế quốc và những nước tưbản theo Mỹ thực hiện chính sách bao vây, cấm vận đối với nước ta, làm chokinh tế nước ta càng khó khăn hơn Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông
Âu lâm vào khủng hoảng, viện trợ kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa anh emđối với nước ta hầu như không còn nữa Trong nước lại xuất hiện tâm lý muốnđẩy nhanh quá trình khôi phục, phát triển đất nước để mau chóng bù đắp những
hy sinh, tổn thất trước đây Mặt khác, sau thắng Mỹ, tâm lý chủ quan tự chorằng chúng ta đủ sức làm tất cả đã xuất hiện khá phổ biến
Tất cả những yếu tố khách quan, chủ quan trong nước, ngoài nước nóitrên đã đẩy tới sự nôn nóng, duy ý chí Do vậy, các kế hoạch cải tạo xã hội chủnghĩa , xây dựng, phát triển kinh tế trên quy mô lớn đã được triển khai ồ ạt trênphạm vi cả nước, lợi ích của các giai cấp, tầng lớp không được tính toán đầy đủ
và kết hợp hợp lý Những việc làm ấy, trên thực tế, đã vi phạm các nguyên tắccủa chiến lược đại đoàn kết , ảnh hưởng lớn đến khối đoàn kết dân tộc, khối liênminh công nông bị lỏng lẻo, có nguy cơ rạn nứt; quần chúng giảm sút lòng tinđối với Đảng, Nhà nước
2 Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về đại đoàn kết dân tộc
Đứng trước tình thế của đất nước, với bản lĩnh của một Đảng đã được tôiluyện lâu dài trong thử thách, dạn dày kinh nghiệm, Đảng ta kịp thời khởi xướngcông cuộc đổi mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra đườnglối đổi mới toàn diện đất nước, đó thật sự là một mốc quan trọng, tạo ra mộtbước chuyển biến căn bản trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, trongviệc xây dựng và cũng cố khối đại đoàn kết dân tộc Đổi mới nhằm xác định lại
vị trí của nhân dân trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng, từ đó, mà xác định rõhơn vị trí của đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới; xác định các yếu tố cơbản, nhấn mạnh điểm tương đồng, chỉ rõ trách nhiệm và các hình thức, biệnpháp để thực hiện đại đoàn kết
2.1 Nhận thức rõ vị trí đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới
Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn quan tâm đến xây dựng khối đạiđoàn kết toàn dân tộc Đặc biệt, từ Đại hội VI đến nay, nhận thức của Đảng ta vềđại đoàn kết tòan dân tộc đã có bước phát triển mới
Đại hội VI của đảng đã chỉ ra bốn bài học lịch sử thấm đượm sâu sắc tinhthần đại đoàn kết dân tộc, trong đó nổi bật là hai bài học lớn: lấy dân làm gốc vàkết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, thực hiện đại đoàn kết
Trang 9quốc tế Từ đó, Đại hội khẳng định khẩu hiệu: dân biết, dân bàn, dân làm, dânkiểm tra Đồng thời, Đại hội đã nêu: trong bối cảnh quốc tế hiện nay, yếu tố dântộc trở thành một đặc điểm cực kỳ quan trọng.Từ đó Đảng ta đã xác định Đạiđoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh và là động lực chủ yếu của cách mạng, làđường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam
Thực hiện nghị quyết Đại hội VI, Hội nghị Trung ương 8 đã ra quyết định
8B (ngày 27-3-1990) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, nhấn mạnh quan điểm: cách mạng là sự
nghiệp của dân, do dân, vì dân, cần phát huy hơn nữa khả năng to lớn của nhândân Điều này có ý nghĩa quyết định to lớn ở thời điểm này khi mà Đảng đang
có nguy cơ xa rời quần chúng
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc đã được nâng lên tại Đại hội lần thứ VIIcủa Đảng (6 - 1991) Đại hội diễn ra trong bối cảnh hết sức đặc biệt: Chủ nghĩa
xã hội ở Liên Xô sụp đổ, kẻ thù hí hửng chống phá sự nghiệp cách mạng củachúng ta Đại hội đã chỉ ra những phương hướng rất mới, ghi một dấu mốc quantrọng về đoàn kết Trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ pháttriển mạnh mẽ, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng quan trọng trong quá trìnhphát triển lực lượng sản xuất, Đảng ta nhận thức rõ hơn vị trí, vai trò của các giaitầng trong xã hội, nhất là của tầng lớp tri thức, chủ trương mở rộng khối đại đoànkết Lần đầu tiên, trong cương lĩnh năm 1991, Đảng nêu lên khái niệm mới vềkhối liên minh công - nông - trí làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc.Đường lối đại đoàn kết dân tộc của Đại hội lần thứ VI của Đảng đã thể hiện cụthể trong nghị quyết bảy của Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng khoáVII Đây là một nghị quyết phản ánh tập trung nhất sự kế thừa và phát triển tưtưởng đại đoàn kết dân tộc của chủ tịch Hồ Chí Minh Trên cơ sở khẳng địnhquan điểm đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta trong lịch sửdựng nước và giữ nước, nghị quyết đã phân tích quá trình lịch sử và bối cảnhtình hình đất nước hiện nay, đề ra chủ trương phải tăng cường khối đại đoàn kếttoàn dân, củng cố và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, đưa khối đại đoàn kếttoàn dân lên tầm cao mới và chiều sâu mới Những phát triển mới trong quanđiểm, chủ trương về đại đoàn kết dân tộc đã tạo cơ sở để tăng cường đoàn kếtquốc tế, đề ra những định hướng đúng đắn để phát huy sức mạnh của khối đạiđoàn kết dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới
Trang 10Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, những quan điểm, chủ trương
về đại đoàn kết dân tộc càng được phát triển Đại hội lần thứ VIII của Đảng đãtiếp tục khẳng định vị trí của khối đại đoàn kết dân tộc đồng thời nêu lên:
“Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hìnhthành đường lối đổi mới của Đảng cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổimới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộcđổi mới đạt được những thành tựu hôm nay”
Những chủ trương về đại đoàn kết dân tộc đã thúc đẩy công cuộc đổi mới,trở thành động lực chủ yếu để phát triển đất nước Đây là một bước phát triểnmới quan trọng trong tư duy lý luận về động lực cách mạng của Đảng ta trongthời kỳ mới Điều đó được khẳng định tại Đại hội lần thứ IX và trở thành chủ đềcủa Đại hội này Đại hội không chỉ xác định đại đoàn kết là đường lối chiến lượcnhất quán mà còn một lần nữa nhấn mạnh: “Động lực chủ yếu để phát triển đấtnước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân vàtrí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội,phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế trong xã hội”.Như vậy, so với các động lực khác, đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực tổnghợp và là động lực to lớn nhất Nghị quyết hội nghị trung ương 7 khoá IX “Vềphát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh” đã coi đại đoàn kết toàn dân tộc “là nguồn sứcmạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợibền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, vì nó liên quan đến sựsống còn và phát triển của dân tộc Đây là một bước phát triển mới về tư duy đạiđoàn kết toàn dân tộc của Đảng ta
Tiếp tục đường lối được xác định trong các Đại hội trước, Đại hội X đãnhấn mạnh vấn đề phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xem đó là một trong bốnthành tố của chủ đề Đại hội: “phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tụcđổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sớm đưanước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”
Trong nội dung của Đại hội X có phần 6 nói về phát huy dân chủ, sức mạnhđại đoàn kết dân tộc, trong đó vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn tiếp tục đượckhẳng định đây là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh,
là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bềnvững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Trang 112.2 Xác định các yếu tố quan trọng và điểm tương đồng mới để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc
Đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng hoà bình, thực hiện kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa phải đi từ sự thống nhất về lợi ích Đặtđúng vị trí của yếu tố lợi ích không chỉ là sự đổi mới tư duy về đại đoàn kết toàndân tộc, mà còn về toàn bộ công cuộc cách mạng hiện nay
Các Mác đã từng nhấn mạnh vai trò của lợi ích trong việc thúc đẩy mọihành động của con người Lênin đã khẳng định: khi nói đến mối liên hệ giữaĐảng và nhân dân phải lưu ý mặt nội dung, tức lợi ích giữa Đảng và quầnchúng
Nước ta chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, nên yếu tố lợi ích dễ bịxem thường nhất là trong lĩnh vực chính trị Khác với các thời kỳ trước đây, lợiích cá nhân luôn đặt cuối cùng còn lợi ích tập thể là trên hết, khi nước ta bướcvào kinh tế thị trường, vấn đề lợi ích nổi lên như một yếu tố quan trọng hàngđầu Vì vậy, ngay trong báo cáo chính trị của Đại hội VI đã nêu rõ: “ Lợi íchchính đáng của quần chúng đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Trước mắt,tập trung sức giải quyết những vấn đề có thể giải quyết được, phù hợp với từngđối tượng” Đại hội còn chỉ rõ: phải xây dựng cơ cấu giai cấp xã hội mới, thựchiện đúng chính sách dân tộc, chính sách đoàn kết, tự do tín ngưỡng
Tư tưởng đại đoàn kết còn thể hiện đậm nét trong các phương hướng củachính sách kinh tế, xã hội, đối ngoại Nghị quyết trung ương 8B đã đề ra quanđiểm: Động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực củanhân dân và kết hợp hài hoà các lợi ích, thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ côngdân Như vậy, yếu tố quan trọng đầu tiên có tính quyết định bảo đảm thực hiệnđại đoàn kết toàn dân tộc là phải bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội; chăm
lo lợi ích thiết thực chính đáng của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; kết hợphài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội Đường lối đổi mới khởiđầu cho một thời kỳ mới xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc theo tưtưởng Hồ Chí Minh là việc đổi mới tư duy kinh tế, đề ra chủ trương phát triểnkinh tế nhiều thành phần, coi trọng lợi ích chính đáng, hợp pháp của người laođộng, nhằm liên kết và khai thác mọi tiềm năng của các tầng lớp nhân dân trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đó là việc quan tâm nhiều hơn đến chính sách giai cấp ( bao gồm chính sách đối với mỗi giai cấp và chính sách xử lý mối quan hệ giữa các lợi ích của các giai cấp) và chính sách dân tộc, nhấn mạnh việc
Trang 12đặt con người vào vị trí trung tâm của chính sách kinh tế - xã hội, “ có kế hoạchchủ động xây dựng cơ cấu giai cấp của xã hội mới, cụ thể hoá và thực hiện đúngchính sách dân tộc và chính sách tự do tín ngưỡng” Đó là việc quan tâm đẩymạnh phát huy dân chủ trong xã hội, cũng cố liên minh công nông và khối đạiđoàn kết toàn dân tộc.
Trên cơ sở đó, Nghị quyết 7 của Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ươngĐảng khoá VII đã chủ trương đoàn kết mọi người trong đại gia đình các dân tộcViệt Nam, bao gồm các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo, người trong nước vàngười định cư ở nước ngoài, vì mục tiêu chung giữ vững độc lập, thống nhất,chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu sớm thoát khỏi nghèo nàn,lạc hậu, tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng, văn minh Đó chính làđiểm tương đồng để đoàn kết mọi người trong khối đại đoàn kết, đồng thời chấpnhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung, cùng nhau xoá bỏ địnhkiến, mặc cảm, hận thù, xây dựng tinh thần tin cậy, cởi mở cùng hướng về tươnglai của dân tộc Chương trình mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc còn nhấn mạnh thêm tinh thần đoàn kết không phân biệt quá khứ và ýthức hệ, chân thành đoàn kết hoà hợp thành một khối thống nhất Chủ trươngđoàn kết đó phù hợp với đặc điểm, tình hình đất nước, thể hiện truyền thống baodung, nhân ái của dân tộc và đường lối chính nghĩa của Đảng, Nhà nước ta.Đường lối đó đã đi vào lòng người, được các tầng lớp nhân dân trong nước đồngtình ủng hộ
Chúng ta đã coi đại đoàn kết dân tộc là đường lối cơ bản của Đảng và Nhànước ta, là xuất phát điểm của mọi chủ trương chính sách, pháp luật trên các lĩnhvực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại nhằm đápứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của các giai tầng trong xã hội, gắn bóquyền lợi với trách nhiệm, lợi ích riêng của mỗi người với nghĩa vụ công dân,lấy lợi ích dân tộc làm trọng, tạo mọi điều kiện và môi trường thuận lợi nhằmtriệt để giải phóng sức sản xuất xã hội, khuyến khích mọi người, mọi thành phầnkinh tế, phát huy cao độ mọi nguồn lực và tài năng sáng tạo, ra sức phát triểnsản xuất kinh doanh, làm giàu hợp pháp, cần kiệm xây dựng đất nước, nâng caođời sống nhân dân
Đại hội VIII của Đảng tiếp tục khẳng định những quan điểm trên, đồngthời đề ra các chính sách cụ thể đối với các giai tầng, dân tộc trong nước, nhằmtạo ra những động lực mới thúc đẩy phong trào cách mạng của nhân dân, trong
Trang 13đó lần đầu tiên đề ra chủ trương bảo hộ sở hữu tài sản và vốn của các nhà doanhnghiệp tư nhân, khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất, tạo điều kiện thuận lợicho kinh doanh, thực hiện tốt các nghĩa vụ mà luật pháp đã quy định Trong tìnhhình mới, chúng ta cũng khẳng định chủ trương coi kiều bào ta ở nước ngoài làmột bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc, bảo hộ quyền lợi chínhđáng của kiều bào, giúp đỡ kiều bào trong cuộc sống và tạo điều kiện cho kiềubào gắn bó, đóng góp xây dựng quê hương.
Cùng với yếu tố lợi ích, thực hiện dân chủ và phát huy chủ nghĩa yêunước cũng là những yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kếttoàn dân tộc Chủ nghĩa yêu nước luôn luôn là động lực lớn của dân tộc ta trongquá trình lịch sử Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Dânchủ là dòng chảy trong lịch sử nhân loại, là khát vọng của muôn đời Nhân dân
ta rất coi trọng dân chủ Muốn đoàn kết thì phải dân chủ; dân chủ tăng cườngđoàn kết Tư duy về dân chủ của Đảng ta cũng có sự phát triển trong mối quan
hệ với tư duy đại đoàn kết toàn dân tộc khi nhấn mạnh việc kết hợp nguyên tắctập trung dân chủ với nguyên tắc hiệp thương dân chủ để làm phong phú thêmnền dân chủ ở nước ta
Ba yếu tố nói trên có sự sắp xếp khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử,làm cơ sở tạo ra điểm tương đồng để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc Trongcuộc đấu tranh với các thế lực ngoại xâm mạnh hơn mình nhiều lần và với thiênnhiên vô cùng khắc nghiệt, điểm tương đồng nằm ở chính sự tồn tại của cộngđồng là chủ nghĩa yêu nước và ý thức đoàn kết trong đấu tranh Trước đây tathường nói: yêu nước gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội Cách nói đó trong điềukiện mới - mà yêu cầu lớn nhất là tập hợp mọi lực lượng của dân tộc kể cảnhững người vẫn còn mặc cảm với chủ nghĩa xã hội - cần có sự thay đổi Dovậy, ngay từ đại hội VII, Đảng ta đã nêu lên khẩu hiệu mới: “Dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, văn minh”, đến Đại hội IX thì bổ sung từ “Dân chủ”thành “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” là mục tiêuchiến lược tổng thể của cách mạng nước ta trong thời kỳ mới Đó cũng chính làchủ nghĩa xã hội, nhưng được diễn đạt gần gũi, dễ hiểu hơn Đây là điểm tươngđồng để đại đoàn kết toàn dân tộc được Đảng ta chỉ rõ trong nghị quyết 07-NQ/TW ngày 17-01-1993 của Bộ Chính trị “Về đại đoàn kết toàn dân tộc vàtăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất”, “Phát huy truyền thống yêu nước, lòng
tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường, đoàn kết mọi người Việt Nam tán thành
Trang 14công cuộc đổi mới, nhằm mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất chủquyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu sớm thoát khỏi nghèo nàn lạchậu, tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Vớiđiểm tương đồng đó, Đảng ta đã tập hợp đoàn kết các tầng lớp nhân dân tiếnhành công cuộc đổi mới những năm cuối thế kỷ XX đạt nhiều thành tựu to lớn.Hiện nay, đi vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,Đảng ta đã xác định điểm tương đồng là: “Giữ vững độc lập, thống nhất của Tổquốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Điểmtương đồng ngày nay tổng quát hơn, dễ đạt được sự nhất trí hơn, cả với đồngbào trong nước và với kiều bào ta đang định cư ở nước ngoài Để tạo ra sự tươngđồng về quan điểm, thái độ, trong Nghị quyết trung ương 7 khoá IX “Về pháthuy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh”, vấn đề chống định kiến, phân biệt đối xử với ngườingoài Đảng được nêu lên một cách đậm nét: “Xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phânbiệt đối xử về quá kh, thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậylẫn nhau, cùng hướng tới tương lai” Đây là thực sự là một quan điểm rất mới, làthành quả của quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta: thay thuật ngữ “Đạiđoàn kết toàn dân” bằng thuật ngữ “Đại đoàn kết toàn dân tộc” với nội hàm đầy
đủ hơn, toàn diện hơn
Phần 2 và phần 3 của Nghị quyết về công tác dân tộc và công tác tôn giáo
đã cụ thể hoá tư tưởng của Đại hội IX Việc đoàn kết các dân tộc thiểu số đượcxác định trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng pháttriển Việc đoàn kết đồng bào theo đạo được khẳng định trên nguyên tắc coi tínngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồntại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nghiêmcấm sự phân biệt đối với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời cũngnghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc
Điểm tương đồng không phải là cái gì cứng nhắc, bất biến Trong diễnvăn bế mạc hội nghị Trung ương 7 (Phần 2) khoá IX, Tổng Bí thư Nông ĐứcMạnh nói: “Nếu hiểu một cách sâu sắc đó có nghĩa là chúng ta cần làm rất nhiều
để các điểm tương đồng ngày càng được phát huy và nhân lên, những điểm cònkhác nhau ngày càng giảm thiểu” Điều này trái ngược với ý kiến cho rằng càngtiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, các mâu thuẫn ngày càng gay gắt, quyếtliệt