1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch ccllct, môn ly luan dan toc, thực hiện chính sách dân tộc trong phát triển kinh tế xã hội ở việt nam giai đoạn 2016 2020

20 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Hiện Chính Sách Dân Tộc Trong Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Ở Việt Nam Giai Đoạn 2016 2020
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lý Luận Dân Tộc
Thể loại Bài Thu Hoạch
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 47,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định vấn đề dân tộc, đoàn kết các dân tộc, việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta. Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian qua đã đưa lại nhiều thành tựu rất quan trọng: kinh tế, văn hóa, xã hội..., khẳng định tính ưu việt của chế độ mới. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu này cũng còn bộc lộ những vấn đề chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra và sự mong đợi của các đồng bào dân tộc. Với quan điểm cách mạng là sáng tạo không ngừng, trong thời kỳ đổi mới, chính sách dân tộc của Đảng ta vừa bảo đảm tính nhất quán, vừa đổi mới trước yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế nhằm giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay và trong tương lai. Từ Đại hội IV đến Đại hội XII của Đảng, chính sách dân tộc được Đảng ta đề ra trên các vấn đề cốt lõi là: Vị trí của vấn đề dân tộc trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng; các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc; những vấn đề trọng yếu của chính sách dân tộc trong những điều kiện cụ thể. Trong suốt quá trình phát triển, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc là nhất quán theo nguyên tắc “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển”. Điều này, một mặt, thể hiện trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số; mặt khác, cho thấy việc giải quyết vấn đề dân tộc đang là sự đòi hỏi cấp thiết cần phải có những chỉ đạo kịp thời. Trong những năm qua, với sự quan tâm của Trung ương, các cấp, các ngành của tỉnh, cùng với sự nỗ lực cố gắng vươn lên của đồng bào các dân tộc đã góp phần làm thay đổi đáng kể bộ mặt vùng dân tộc và miền núi. Đời sống vật chất và tinh thần của bà con được cải thiện rõ rệt, kết cấu hạ tầng cơ sở đuợc tăng cường, lĩnh vực giáo dục và đào tạo đạt được nhiều kết quả tích cực; công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng được tốt hơn; bản sắc văn hóa các dân tộc được quan tâm, bảo tồn và phát triển; quốc phòng, an ninh trật tự được đảm bảo. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, kinh tế vùng dân tộc, miền núi phát triển còn chậm, khoảng cách chênh lệch còn lớn, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao; đa số người trong độ tuổi lao động chưa được đào tạo nghề; đội ngũ cán bộ y tế cơ sở và trang thiết bị y tế vừa thiếu, vừa yếu. Năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ cơ sở, cán bộ người dân tộc thiểu số ở một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu; an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội ở một số nơi còn tiềm ẩn yếu tố mất ổn định. Từ những nhận thức trên, em xin chọn đề tài: “Thực hiện chính sách dân tộc trong phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam giai đoạn 20162020” làm đề tài tiểu luận.

Trang 1

NỘI DUNG 5

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC5 1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc 5

1.2 Quan niệm về hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta 7

1.3 Đánh giá chung về thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc 11

1.4 Một số bài học kinh nghiệm 13

II GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM THỰC HIỆN TỐT CHÍNH SÁCH DÂN TỘC.14 2.1 Phương hướng, mục tiêu 14

2.2 Những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc 15

KẾT LUẬN 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 2

MỞ ĐẦU

Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng

ta luôn xác định vấn đề dân tộc, đoàn kết các dân tộc, việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian qua đã đưa lại nhiều thành tựu rất quan trọng: kinh tế, văn hóa, xã hội , khẳng định tính ưu việt của chế độ mới Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu này cũng còn bộc lộ những vấn đề chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra và sự mong đợi của các đồng bào dân tộc

Với quan điểm cách mạng là sáng tạo không ngừng, trong thời kỳ đổi mới, chính sách dân tộc của Đảng ta vừa bảo đảm tính nhất quán, vừa đổi mới trước yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế nhằm giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay và trong tương lai Từ Đại hội IV đến Đại hội XII của Đảng, chính sách dân tộc được Đảng ta đề ra trên các vấn đề cốt lõi là: Vị trí của vấn đề dân tộc trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng; các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc; những vấn đề trọng yếu của chính sách dân tộc trong những điều kiện cụ thể Trong suốt quá trình phát triển, quan điểm của Đảng và Nhà

nước ta về chính sách dân tộc là nhất quán theo nguyên tắc “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển” Điều này, một mặt, thể hiện

trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số; mặt khác, cho thấy việc giải quyết vấn đề dân tộc đang là sự đòi hỏi cấp thiết cần phải có những chỉ đạo kịp thời

Trong những năm qua, với sự quan tâm của Trung ương, các cấp, các ngành của tỉnh, cùng với sự nỗ lực cố gắng vươn lên của đồng bào các dân tộc đã góp phần làm thay đổi đáng kể bộ mặt vùng dân tộc và miền núi Đời sống vật chất

và tinh thần của bà con được cải thiện rõ rệt, kết cấu hạ tầng cơ sở đuợc tăng cường, lĩnh vực giáo dục và đào tạo đạt được nhiều kết quả tích cực; công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng được tốt hơn; bản sắc văn hóa các dân tộc được quan tâm, bảo tồn và phát triển; quốc phòng, an ninh trật tự được đảm bảo

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, kinh tế vùng dân tộc, miền núi phát triển còn chậm, khoảng cách chênh lệch còn lớn, tỷ lệ hộ nghèo

và cận nghèo còn cao; đa số người trong độ tuổi lao động chưa được đào tạo nghề; đội ngũ cán bộ y tế cơ sở và trang thiết bị y tế vừa thiếu, vừa yếu Năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ cơ sở, cán bộ người dân tộc thiểu số ở một số

Trang 3

địa phương chưa đáp ứng yêu cầu; an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội ở một số nơi còn tiềm ẩn yếu tố mất ổn định

Từ những nhận thức trên, em xin chọn đề tài: “Thực hiện chính sách dân tộc trong phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2016-2020” làm đề

tài tiểu luận

Trang 4

NỘI DUNG

THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc

1.1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc

a Khái niệm dân tộc

Dân tộc là một hình thức tổ chức cộng đồng người có tính chất ổn định được hình thành trong lịch sử, là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của lịch sử xã hội Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc

Khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất:

Thứ nhất, dân tộc là cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hoá đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa, phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó

Thứ hai, dân tộc là một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, sử dụng ngôn ngữ chung và

có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước

b Hai xu hướng phát triển của dân tộc và vấn đề dân tộc trong xây dựngchủ nghĩa xã hội:

Trang 5

Xu hướng thứ nhất: Khi mà các tộc người, cộng đồng dân cư có sự trưởng thành về ý thức dân tộc, ý thức về quyền sống của mình, thì các cộng đồng dân cư đó muốn tách ra thành lập các dân tộc độc lập Trên thực tế, xu hướng này đã biểu hiện thành phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc, thành lập các quốc gia dân tộc độc lập

Xu hướng thứ hai: Sự liên hiệp lại của các dân tộc trong một quốc gia, các dân tộc của nhiều quốc gia nhằm mở rộng, tăng cường quan hệ kinh tế, phá

bỏ ngăn cách về kinh tế giữa các dân tộc

Hai xu thế này vận động trong một thể thống nhất, mỗi nước vừa có nhu cầu độc lập, tự chủ… nhưng đồng thời vừa phải mở rộng quan hệ với bên ngoài, hòa nhập với cộng đồng quốc tế và ngày càng xích lại gần nhau trên các lĩnh vực Đây là hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc và ngày nay, nó đang có những biểu hiện rất phong phú và đa dạng

Trong thời đại ngày nay, các dân tộc có xu hướng xích lại gần nhau thành những liên minh trên cơ sở lợi ích chung nhất định của các dân tộc Hơn nữa sự liên minh đó còn tạo nên sức hút trên toàn cầu nhằm tập trung giải quyết những vấn đề chung của cả nhân loại như: phòng chống nguy cơ chiến tranh hạt nhân, chống ô nhiễm, bảo vệ môi trường sinh thái, phòng chống dịch bệnh, khủng bố

1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc

Kế thừa tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen và Lê Nin về dân tộc Trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc là nhất quán theo nguyên tắc “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển”

1.1.2.1 Bình đẳng giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội

- Bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc Các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp đều ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội Quyền bình đẳng giữa các dân tộc được bảo đảm bằng pháp luật

- Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, trước hết là quyền bình đẳng về chính trị, chống mọi biểu hiện chia rẽ kỳ thị dân tộc, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, tự ty dân tộc,… Quyền bình đẳng về kinh tế đảm bảo sự bình đẳng trong quan hệ lợi ích giữa các dân tộc Bình đẳng về văn hoá, xã hội đảm bảo

Trang 6

cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc, làm phong phú, đa dạng nền văn hoá Việt Nam

- Do phần lớn các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay có trình độ phát triển thấp, nên bên cạnh việc bảo đảm quyền bình đẳng toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội cần phải tạo điều kiện thuận lợi để cho đồng bào các dân tộc thiểu số có cơ hội phát triển bình đẳng với các dân tộc khác

1.1.2.2 Đoàn kết các dân tộc

- Các dân tộc Việt Nam đã cùng chung sống lâu đời, gắn bó máu thịt với nhau, no đói có nhau, vinh nhục bên nhau, đồng cam cộng khổ, sống chết một lòng cùng nhau dựng nước và giữ nước Truyền thống đoàn kết đó được gìn giữ

và phát triển trong suốt tiến trình hàng ngàn năm lịch sử, gắn kết các dân tộc chung sức xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất

- Đoàn kết dân tộc được xác định là một nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Đoàn kết dân tộc được quán triệt xuyên suốt trong các giai đoạn cách mạng Việt Nam Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc đang phát huy truyền thống đoàn kết tốt đẹp, cùng nhau xây dựng đất nước với mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và tiến bộ

1.1.2.3 Tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển

- Do lịch sử để lại, hiện nay giữa các dân tộc ở nước ta vẫn còn tình trạng phát triển không đều.Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển là một tất yếu khách quan trong một quốc gia đa dân tộc Đảng và Nhà nước ta đã coi trọng tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc là một nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội

- Các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế- xã hội cao hơn có trách nhiệm giúp đỡ các dân tộc có điều kiện phát triển kinh tế-xã hội khó khăn hơn Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau không phải chỉ giúp đỡ một chiều, ngược lại chính sự phát triển của dân tộc này là điều kiện để cho dân tộc khác phát triển

- Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển thể hiện trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc, nhằm thực hiện đầy đủ quyền bình đẳng và củng cố khối đoàn kết dân tộc

Trang 7

1.2 Quan niệm về hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta

1.2.1 Quan niệm về hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc

Hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc của Đảng là khái niệm được dùng

để chỉ toàn bộ những mục tiêu kết quả đạt được của quá trình tổ chức thực hiện chính sách dân tộc, được thể hiện thông qua các tiêu chí phản ánh, mức độ cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, trình độ phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, mức độ giải quyết các vấn đề xã hội; tóm lại là sự phát triển trên mọi mặt của xã hội cho đồng bào các dân tộc đặc biệt là dân tộc ít người

Hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc của Đảng phải được thể hiện qua các tiêu chí: Mức độ cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc; Hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc phải được thể hiện thông qua mức độ nâng cao trình độ dân trí; Hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc phải được thể hiện thông qua việc giải quyết các vấn đề xã hội: việc làm, chăm sóc sức khoẻ, môi trường

1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.

Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản lâu dài đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ chính trị trọng tâm thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị Tất cả các Bộ, ngành đều có trách nhiệm thực hiện chính sách dân tộc và công tác dân tộc Kết quả thực hiện chính sách, công tác dân tộc quyết định sự ổn định và phát triển bền vững đất nước Chúng ta thực hiện không tốt chính sách dân tộc là không ổn định và không ổn định thì không phát triển bền vững Ổn định chính trị xã hội phải trên nền tảng là lòng tin của nhân dân ủng hộ chủ chương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đoàn kết, nhất trí và đồng thuận

Ngoài ra, những chính sách đúng đắn của Đảng nhằm đảm bảo bình đẳng

và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc đã thúc đẩy mối quan hệ bền chặt giữa các dân tộc

1.2.3 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khóa IX; Kết luận số 57-KL/TW ngày 03/11/2011 của Chính phủ; Chỉ thị số

Trang 8

1971/2010/CT-TTg ngày 27/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh

đã tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp, các đơn vị doanh nghiệp trên địa bàn thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, xây dựng và triển khai kế hoạch, chỉ đạo điều hành, thực hiện các chương trình, dự án, chính sách của Đảng, Nhà nước; đảm bảo an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số; nêu cao và khơi dậy tinh thần đại đoàn kết trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Ban hành nhiều Nghị quyết, quyết định, chương trình công tác dân tộc tỉnh Ninh Bình để phát triển kinh tế - xã hội, ổn định sản xuất và đời sống các xóm, bản đặc biệt khó khăn có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống

Các cơ quan ban ngành của tỉnh tham mưu giúp UBND tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các chương trình, chính sách về các lĩnh vực như: giáo dục, đào tạo, y tế và chăm sóc sức khỏe, văn hóa, thể thao, du lịch, nông nghiệp và phát triển nông thôn, lao động thương binh xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nông thôn mới…

Nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác dân tộc, UBND tỉnh

đã chỉ đạo các ngành, các cấp nâng cao hiệu quả, hiệu lực điều hành, quản lý nhà nước về công tác dân tộc, chính sách dân tộc; tăng cường công tác phối hợp thực hiện giữa chính quyền với mặt trận tổ quốc và các đoàn thể; nhiều chương trình phối hợp triển khai, thực hiện chính sách dân tộc được các sở, ban, ngành, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể quan tâm ký kết và thực hiện; giải quyết kịp thời chế độ chính sách, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, thái độ phục vụ đối với đồng bào các dân tộc thiểu số Các chương trình, chính sách dân tộc đều được triển khai thực hiện đúng mục tiêu, đúng địa bàn, đúng đối tượng đem lại hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế- xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã chủ động tham gia xây dựng Đảng, chính quyền ở cơ sở, phối hợp với chính quyền giải quyết hiệu quả nhiều vụ việc góp phần giữ vững ổn định ở vùng dân tộc và miền núi Đồng thời, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng về cơ sở, đặc biệt

là vùng dân tộc và miền núi; tích cực tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên, nhân dân nâng cao nhận thức và thực hiện tốt các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc; nâng cao ý thức tự lực,

tự cường, tích cực tham gia phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo

Trang 9

1.2.4 Về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở vùng đồng bào DTTS được chăm lo củng cố và hoạt động có hiệu quả

Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng vùng DTTS được nâng lên, tập trung đổi mới nội dung sinh hoạt chi bộ, nâng cao chất lượng đảng viên gắn với thực hiện NQTW4 khóa IX “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Chỉ thị 03 của Bộ chính trị về “đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

Trang 10

Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số được coi trọng số cán bộ, công chức, viên chức cấp xã, cấp huyện là 601 người Trong 5 năm qua đã tổ chức 61 lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ

xã, thôn, bản Hiện có 31 người DTTS là cán bộ lãnh đạo, quản lý từ cấp phó trưởng phòng trở lên đang công tác trong các cơ quan đảng, chính quyền, MTTQ, đoàn thể cấp tỉnh

HĐND, UBND, MTTQ, các tổ chức chính trị xã hội vùng đồng bào DTTS đã tập trung vận động, hướng dẫn đồng bào ứng dụng KHKT vào sản xuất, thay đổi tập quán canh tác thông qua hoạt động khuyện nông, khuyến lâm, dạy nghề mới; tặng giống cây, con, hỗ trợ phân bón; xây dựng các mô hình phát triển kinnh tế… Toàn tỉnh hiện có hơn 80 trang trại do người DTTS làm chủ cho thu nhập bình quân từ 70 triệu đồng/năm trỏ lên như: Mô hình nuôi hươu, bò sinh sản, ong, thỏ Niudilan, trồng gấc, sắn cao sản… Qua đó phát huy nội lực, nâng cao ý thức tự giác vươn lên, tinh thần tương thân, tương ái của đồng bào DTTS, góp phần phát triển kinh tế- xã hội

Đội ngũ già làng, trưởng bản, người có uy tín trong vùng đồng bào DTTS

đã phát huy vai trò gương mẫu, tích cực tuyên truyền, vận động đồng bào tự giác thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; nhiều người đã thực sự trở thành trung tâm đoàn kết các dân tộc, là chỗ dựa quan trọng của cấp ủy, chính quyền trong xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở

1.2.5 Quốc phòng, an ninh vùng đồng bào DTTS được coi trọng

Lực lượng vũ trang trong tỉnh đã chủ động nắm, dự báo tình hình, triển khai các biện pháp nghiệp vụ quốc phòng, an ninh vùng đồng bào DTTS; kịp thời phát hiện, đấu tranh với các hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết, không để xảy ra các vụ bạo loạn chính trị, hoạt động kích động ly khai, móc nối, chỉ đạo, hậu thuẫn của các thế lực thù địch với đồng bào DTTS Tổ chức nhiều hoạt động như: Tập huấn kiến thức quốc phòng cho người có uy tín trong đồng bào DTTS; thực hiện phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” gắn với phong trào

“Tàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; phối hợp với lực lượng Quân

sự, Công an các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa thực hiện quy chế phối hợp đảm bảo

an ninh trật tự vùng giáp ranh giữa các tỉnh; xây dựng mô hình “Dòng họ không

có tội phạm và tệ nạn xã hội”

Ngày đăng: 06/04/2023, 14:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w