1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch ccllct, môn quyền con người , quan điểm của đảng về quyền con người, quyền công dân

13 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền công dân
Chuyên ngành Lý luận và pháp luật về quyền con người
Thể loại Bài thu hoạch
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 33,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Quyền con người là thành tựu chung của cả loài người, là kết tinh của nền văn minh nhân loại. Lịch sử loài người cho thấy, tri thức về quyền con người có ý nghĩa quan tọng cho sự phát triển và tiến bộ của các xã hội cũng như là tiền đề cho sự phát triển đầy đủ về nhân cách và năng lực của mỗi cá nhân. Ở phạm vi rộng hơn, tri thức về quyền con người là tiền đề cho hòa bình và thịnh vượng của toàn nhân loại. Trong thời gian dài dân tộc Việt Nam bị nước ngoài đô hộ, phải gánh chịu những hy sinh to lớn để giành độc lập dân tộc và tự do của Tổ quốc. Bằng cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường qua nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng, quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình. Đây cũng chính là nguyên tắc có tính nền tảng về quyền tự quyết dân tộc đã được khẳng định trong Hiến chương Liên hiệp quốc và tại Điều 1 của cả 2 Công ước quốc tế cơ bản nhất của Liên hợp quốc về quyền con người: Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội, Văn hoá và Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị. Xuất phát từ chủ trương không ngừng phát triển quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã và đang xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm các quyền con người được tôn trọng và thực hiện một cách đầy đủ nhất. Quyền con người, một khi đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, sẽ trở thành ý chí chung của toàn xã hội, được xã hội tuân thủ và được pháp luật bảo vệ. Trên cơ sở kiến thức đã học và thực tiễn công tác em xin chọn nội dung “Quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền công dân” làm bài thu hoạch môn Lý luận và pháp luật về quyền con người.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Quyền con người là thành tựu chung của cả loài người, là kết tinh của nền văn minh nhân loại Lịch sử loài người cho thấy, tri thức về quyền con người có

ý nghĩa quan tọng cho sự phát triển và tiến bộ của các xã hội cũng như là tiền đề cho sự phát triển đầy đủ về nhân cách và năng lực của mỗi cá nhân Ở phạm vi rộng hơn, tri thức về quyền con người là tiền đề cho hòa bình và thịnh vượng của toàn nhân loại

Trong thời gian dài dân tộc Việt Nam bị nước ngoài đô hộ, phải gánh chịu những hy sinh to lớn để giành độc  lập dân tộc và tự do của Tổ quốc Bằng cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường qua nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng, quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình Đây cũng chính là nguyên tắc có tính nền tảng về quyền tự quyết dân tộc đã được khẳng định trong Hiến chương Liên hiệp quốc và tại Điều 1 của cả 2 Công ước quốc tế

cơ bản nhất của Liên hợp quốc về quyền con người: Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội, Văn hoá và Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị

 Xuất phát từ chủ trương không ngừng phát triển quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã và đang xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm các quyền con người được tôn trọng và thực hiện một cách đầy đủ nhất Quyền con người, một khi đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, sẽ trở thành

ý chí chung của toàn xã hội, được xã hội tuân thủ và được pháp luật bảo vệ

Trên cơ sở kiến thức đã học và thực tiễn công tác em xin chọn nội dung

“Quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền công dân” làm bài thu hoạch môn Lý luận và pháp luật về quyền con người

Trang 2

NỘI DUNG

1 Cơ sở hình thành quan điểm của Đảng về quyền con người

Với hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đất nước và con người Việt Nam luôn tự hào có một bề dày lịch sử của một dân tộc sẵn sàng hy sinh xương máu, kiên cường, bền bỉ đấu tranh để giành lại những quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của con người Đó là quyền được sống trong độc lập, tự do và quyền

tự quyết định vận mệnh của mình Vì lẽ đó, giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho người dân đã trở thành mục tiêu nhất quán và nền tảng hoạch định mọi quyết sách của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tư tưởng, đường lối của Đảng về quyền con người - nền tảng cho việc hoạch định chính sách bảo đảm quyền con người ở Việt Nam

Đường lối của Đảng về quyền con người có cội rễ sâu xa từ truyền thống lịch sử, văn hóa hàng nghìn năm của một dân tộc luôn nêu cao tinh thần hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình và các giá trị nhân văn, đồng thời phản ánh nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam - từng là nạn nhân của các cuộc chiến tranh xâm lược và bị tước đoạt những quyền và tự do cơ bản nhất

Đường lối ấy cũng được xây dựng từ một nền tảng lý luận vững chắc, trên

cơ sở tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, áp dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ khác nhau Con người và quyền con người luôn được chủ nghĩa Mác khẳng định và đề cao C Mác cho rằng “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” và vấn đề quyền con người phải được xem xét trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể Tiếp tục phát triển tư tưởng của C.Mác, V.I.Lênin đã có đóng góp nổi bật vào hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác về quyền con người, với tư tưởng về dân chủ và quyền dân tộc tự quyết Theo V.I.Lênin, “Chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải thực hiện chế

độ dân chủ hoàn toàn”; và “các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, được quyền tự quyết”

Kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lênin với chủ nghĩa yêu nước chân chính và thực tiễn cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người không giới hạn ở quyền cá nhân mà bao hàm cả quyền dân tộc Ngay

Trang 3

từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, người thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhân dân Việt Nam nêu tám yêu sách gửi Hội nghị Vécxây (6-1919), yêu cầu chính quyền Pháp trả lại những quyền tự do, dân chủ cơ bản cho người dân Việt Nam, trong đó có cải cách nền pháp lý Đông Dương, thay đổi chế

độ sắc lệnh bằng luật pháp, người dân Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền tự

do báo chí, tư tưởng, tự do lập hội, tự do cư trú ở nước ngoài, tự do học tập Đến

bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con

người đã có bước phát triển mang tính cách mạng Mở đầu với việc khẳng định những quyền cơ bản mà tạo hóa ban cho mỗi con người và khép lại bằng lời tuyên bố trịnh trọng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”5, bảnTuyên ngôn độc lập không chỉ là

tuyên bố về sự ra đời của một quốc gia có chủ quyền mà còn là tuyên ngôn nhân quyền của Nhà nước Việt Nam, trong đó thừa nhận các quyền cơ bản của con người; đồng thời, lần đầu tiên, quyền cá nhân được mở rộng thành quyền dân tộc;

và quyền con người, sự bình đẳng của mỗi cá nhân được xem xét trong mối quan

hệ biện chứng với quyền dân tộc, đó là quyền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, toàn vẹn lãnh thổ và quyền dân tộc tự quyết

Trên cơ sở truyền thống văn hóa và nền tảng lý luận Mác - Lênin, đồng thời xuất phát từ mục tiêu cách mạng Việt Nam, quan điểm của Đảng về quyền con người đã được hình thành, bổ sung, nâng cao và từng bước hoàn thiện qua các giai đoạn Từ những văn kiện đầu tiên, Đảng xác định rõ mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng là bảo đảm quyền con người cho người dân Việt Nam

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta thông qua tại Hội nghị hợp nhất thành

lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930, đã vạch ra đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó nhấn mạnh: đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng người lao động, giải phóng xã hội, để người cày có ruộng, người dân được

tự do tổ chức, nam nữ bình quyền Cho đến khi đất nước hoàn toàn độc lập, tổng kết lại 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, một trong bốn bài học kinh nghiệm được đúc kết tại Đại hội VI - đại hội đổi mới - là toàn Đảng phải quán triệt tư

tưởng “lấy dân làm gốc” Đây cũng là tư tưởng chủ đạo của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (6-1991), trong đó khẳng định

Trang 4

mục tiêu “xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân

dân, vì nhân dân” đồng thời “xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”.

Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12-7-1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng một lần nữa khẳng định quan điểm của Đảng ta về quyền con người được thể hiện một cách tập trung và toàn diện hơn, trong đó quyền con người được nhìn nhận là giá trị chung của nhân loại, là kết quả cuộc đấu tranh lâu dài của loài người; xem xét vấn đề này không thể tách rời phạm trù quyền dân tộc, chủ quyền quốc gia cũng như truyền thống văn hóa, lịch sử và trình độ phát triển của dân tộc Do đó, giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội Mặt khác, quyền không tách rời nghĩa vụ; dân chủ phải đi đôi với kỷ cương Với cách hiểu cơ bản về quyền con người như vậy, Đảng ta khẳng định, quyền con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội Và quan trọng hơn cả, vấn đề quyền con người xuất phát từ chính mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ và bao quát rộng rãi nhiều lĩnh vực Vì vậy, bảo vệ và phát huy quyền con người là trách nhiệm chung mà tất cả các cấp, các ngành và địa phương phải tích cực, chủ động thực hiện

2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về quyền con người

Quan điểm về quyền con người của Đảng và Nhà nước ta dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê- nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống văn hoá dân tộc và xem xét, chọn lọc những tiêu chuẩn về quyền con người được thế giới thừa nhận rộng rãi Kế thừa và phát huy giá trị của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống văn hoá dân tộc, quan điểm nhất quán

và xuyên suốt về quyền con người của Đảng và Nhà nước ta là giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Đảng

và Nhà nước ta khẳng định, con người và quyền con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng Việt Nam Mục tiêu của chúng ta là xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đóng góp vào cuộc đấu tranh chung vì mục tiêu hoà bình và tiến bộ xã hội của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới

Nội dung cơ bản của các quan điểm và chính sách đó là:

Trang 5

2.1 Nhân dân là chủ thể của quyền con người; bảo đảm quyền con người là mục tiêu, động lực của sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN. 

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”(1) Điều 2, Hiến pháp năm 2013 quy định “Nhà nước pháp quyền XHCN, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”(2); nhân dân là chủ nhân của đất nước, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Như vậy, nhân dân là chủ thể của quyền và việc bảo đảm quyền con người là mục tiêu, động lực của sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

2.2 Quyền con người vừa có tính phổ biến vừa có tính đặc thù; được

thể hiện ở tính nhân loại gắn với tính giai cấp và tính dân tộc

Trong quá trình hình thành và phát triển, quyền con người là sản phẩm của sự thống nhất của tính phổ biến và tính đặc thù Vì vậy, muốn nhận thức và giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tiễn cụ thể về quyền con người cần quán triệt quan điểm kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người Tính phổ biến của quyền con người là thuộc tính, theo đó quyền con người bao hàm những nguyên tắc, những quyền được áp dụng phổ biến ở khắp nơi, cho mọi đối tượng Còn tính đặc thù của quyền con người là thuộc tính, theo đó cho phép quyền con người ở mỗi quốc gia, mỗi lãnh thổ do trình độ phát triển kinh tế - xã hội và truyền thống dân tộc khác nhau

mà có những đặc trưng riêng, có mức độ thỏa mãn riêng phù hợp với điều kiện quốc gia, lãnh thổ đó

 Vì vậy, trong quá trình giải quyết thực tiễn về quyền con người nhất thiết phải tuân theo sự thống nhất giữa tính phổ biến và tính đặc thù đó, không thể đối lập tính phổ biến với tính đặc thù và ngược lại Tuyệt đối hóa cái riêng trong nhận thức về quyền con người sẽ không thể tiếp thu được những giá trị phổ biến vốn có trong lịch

sử và sẽ là yếu tố làm cản trở quá trình hòa nhập quốc tế về quyền con người Ngược lại, tuyệt đối hóa cái chung, không tính đến trình độ phát triển kinh tế và xã hội khác nhau ở mỗi quốc gia, dễ rơi vào tình trạng áp đặt, can thiệp thô bạo vào công việc nội

Trang 6

bộ của các quốc gia Trong bối cảnh thế giới hiện đại, quan điểm kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù còn là cơ sở phương pháp luận khoa học để nhận thức và giải quyết đúng các vấn đề cụ thể về quyền con người trong quan hệ quốc gia và quốc tế

Đó là quan điểm cơ bản vừa bảo đảm “hòa nhập” mà “không hòa tan” trên lĩnh vực nhân quyền

Con người sinh ra vốn dĩ đã có quyền, quyền đó tồn tại dưới dạng những nhu cầu bức thiết, những yêu sách hợp lý Nhưng, để trở thành quyền thực sự cần đến yếu

tố pháp luật thiết định Pháp luật, như chúng ta đều biết, là pháp luật của các chế độ chính trị khác nhau, nội dung của nó được ghi nhận trong khuôn khổ đảm bảo trước hết lợi ích của giai cấp thống trị xã hội Do vậy, quyền con người mang tính chất giai cấp sâu sắc Mặt khác, lịch sử nhân loại là một dòng chảy liên tục, có sự kế thừa lẫn nhau về tri thức và kinh nghiệm giữa các giai đoạn phát triển xã hội Quyền con người là một giá trị được tích lũy trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội, nó có được nội dung phong phú như ngày nay là thành quả đấu tranh lâu dài, bền bỉ của nhân loại Do vậy, đấu tranh bảo vệ quyền con người không chỉ thông qua cải tạo xã hội mà còn thông qua cải tạo tự nhiên, bảo vệ môi trường sống Chính trong cuộc đấu tranh phức tạp ấy, chúng ta có thể thấy sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính người trong mỗi con người và mỗi thế hệ người Đối với sự nghiệp cách mạng vô sản, ngay từ đầu, Các Mác cũng đã chỉ ra sự thống nhất đó, “giai cấp vô sản không tự giải phóng mình được nếu không giải phóng nhân loại” Và kết quả của sự giải phóng ấy tức là đem lại một hệ thống quyền mới mang tính giai cấp sâu sắc, đồng thời bản thân chúng cũng là những giá trị nhân loại, đó là quan điểm cần được quán triệt trong quá trình đổi mới ở nước ta

Quá trình hình thành, phát triển quyền con người có tính phổ biến toàn nhân loại, chứ không phải là “phát hiện” đặc thù của riêng phương Tây.  “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”

Con người thể hiện và khẳng định quyền của mình thông qua các mối quan

hệ xã hội cụ thể.Vì thế, quyền con người, một mặt, là giá trị phổ biến của nhân

Trang 7

loại, bao hàm những quyền và nguyên tắc được áp dụng phổ biến ở mọi nơi, mọi đối tượng Mặt khác, quyền con người còn mang tính đặc thù của mỗi giai cấp, dân tộc và quốc gia theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc điểm văn hoá và truyền thống dân tộc.  Do đó, nhất thiết không thể đối lập tính phổ biến với tính đặc thù của quyền con người và ngược lại Trong bối cảnh thế giới hiện đại, quan điểm kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù còn là cơ sở phương pháp luận khoa học để nhận thức và giải quyết đúng các vấn đề cụ thể về quyền con người trong quan hệ quốc gia và quốc tế Đây là phương châm cơ bản để bảo đảm “hội nhập”

mà “không hòa tan” trong lĩnh vực nhân quyền.  

2.3 Bảo đảm quyền con người theo phương châm thực hiện các giá trị nhân quyền phổ quát trên cơ sở chủ quyền quốc gia.

Quyền của các quốc gia, dân tộc trong việc lựa chọn chế độ chính trị, lựa chọn con đường phát triển và chủ quyền quốc gia là những quyền phổ biến được thừa nhận trong pháp luật quốc tế Việc thực hiện các giá trị phổ quát của quyền con người cơ bản diễn ra trong quá trình chuyển hóa hay “nội luật hóa” pháp luật quốc tế trong pháp luật quốc gia Ở nước ta, các giá trị phổ quát của quyền con người đã được thể chế hóa trong Hiến pháp

Quyền con người thống nhất với quyền dân tộc cơ bản, nhân quyền không được cao hơn chủ quyền Đây là nguyên tắc bất di, bất dịch, xuyên suốt Đảng ta cho rằng, sự nghiệp giải phóng con người, đưa lại các quyền tự do cá nhân gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, cải tạo xã hội cũ Bài học “nước mất - nhà tan” đã trở thành chân lý của dân tộc Việt Nam được đúc rút qua lịch sử trên 4000 năm dựng nước và giữ nước

Qua kinh nghiệm đấu tranh cách mạng, Đảng ta khẳng định rằng, chỉ ở một nước độc lập thực sự, chỉ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người mới được thực thi đầy đủ và có điều kiện để đảm bảo một cách chắc chắn Đấu tranh chống các thế lực thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc cũng là nhằm giành quyền tự do cho cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng, nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì Chủ quyền quốc gia hay quyền dân tộc tự quyết và quyền con người tuy

Trang 8

là những phạm trù khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết và thống nhất với nhau Thực thi quyền con người phải dựa trên cơ sở ưu tiên bảo vệ quyền dân tộc

tự quyết, chủ quyền quốc gia Nếu dân tộc không được độc lập, chủ quyền quốc gia không được xác lập thì không có quyền con người

Việc bảo đảm quyền con người theo phương châm trên giúp mỗi cá nhân được bảo đảm các quyền dân chủ, tự do cơ bản Bảo đảm quyền và nghĩa vụ cá nhân không được tách rời bảo đảm quyền và nghĩa vụ của cộng đồng Bảo đảm quyền con người phải trên cơ sở chủ quyền quốc gia, trên cơ sở các nguyên tắc

cơ bản của pháp luật nhân quyền quốc tế, như quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác,   để loại trừ mọi mưu toan lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” trên con đường phát triển đất nước

Mặt khác, các tiêu chí nhân quyền của Liên Hợp quốc trong nhiều trường hợp bị chi phối hoặc bị ảnh hưởng tiêu cực bởi tiêu chí nhân quyền của các nước phương Tây Vì thế, nhằm thực hiện các giá trị phổ quát của quyền con người trên cơ sở chủ quyền quốc gia, Việt Nam chủ động và tích cực đối thoại, hợp tác quốc tế trên lĩnh vực nhân quyền, vừa giúp bạn bè quốc tế hiểu hơn về thành tựu, quan điểm và giá trị nhân quyền của nước ta, vừa là cơ hội học hỏi kinh nghiệm của các nước trong việc chuyển hóa pháp luật quốc tế về nhân quyền vào pháp luật trong nước Từ đó góp phần bảo đảm tốt hơn các quyền con người ở Việt Nam, cũng như đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền trong khu vực và trên thế giới

2.4.Quyền con người không đồng nhất với quyền công dân, gồm cả

quyền tập thể và quyền cá nhân; quyền gắn liền với nghĩa vụ, giới hạn quyền

do luật định, trên cơ sở xác định rõ chủ thể quyền và chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn thừa nhận quyền con người là thuật ngữ độc lập so với thuật ngữ quyền công dân Dựa trên luận điểm “sửa sang thế đạo kinh dinh nhân quyền”của Nguyễn Ái Quốc, Nghị quyết Đại hội Quốc dân Tân Trào (16-8-1945) đã xác định phải: “Ban bố những quyền của dân, cho dân:

Trang 9

Nhân quyền, tài quyền (quyền sở hữu), dân quyền; quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ ”

Các Cương lĩnh của Đảng trong thời kỳ đổi mới, Hiến pháp năm 1992,

2013, các Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội luôn nhất quán phân định rõ quyền con người, quyền công dân

Để bảo đảm quyền con người trong thực tế, việc thể chế hóa chủ thể quyền

và chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền có ý nghĩa rất quan trọng Đường lối, chủ trương của Đảng, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam xác định và thể chế hóa nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân; đồng thời xác định và thể chế hóa quyền của người dân trong việc tham gia quản

lý nhà nước, nhằm ràng buộc nghĩa vụ của Nhà nước đối với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân Khoản 2, Điều 119, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định Đây là quy định có tính nguyên tắc nhằm thiết lập cơ chế bảo vệ Hiến pháp, trong đó có các quyền con người đã được hiến định một cách hiệu quả

2.5. Quyền con người gắn với các điều kiện phát triển kinh tế, xã hội

và văn hóa.

Quyền con người là nhu cầu vốn có của con người, nhưng trạng thái thực hiện và mức độ thỏa mãn lại phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và truyền thống dân tộc của mỗi quốc gia Quyền con người phụ thuộc vào trình

độ phát triển kinh tế, rằng: “Việc thực hiện quyền tự do của con người tùy thuộc vào lực lượng sản xuất và trong phạm vi cho phép của lực lượng sản xuất, chứ không phải tùy thuộc ở điều người ta mong muốn” (Các Mác) Tuy nhiên, việc thực hiện quyền con người tốt hay xấu, rộng hay hẹp còn phụ thuộc vào những yếu tố khác như bản chất của chế độ xã hội, vai trò của Nhà nước và các thể chế chính trị, ý thức dân chủ và sự trưởng thành của cá nhân và cộng đồng

Theo C.Mác, quyền “không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế

và sự phát triển văn hóa do chế độ kinh tế đó quyết định” Do đó, không thể thúc đẩy nhân quyền bằng mọi giá, mà phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã

hội, văn hóa và con người. Chỉ như vậy mới không làm tổn hại đến bản thân các

Trang 10

quyền con người Đây là tư tưởng chỉ đạo quan trọng trong giải quyết các vấn đề

về quyền con người, nhằm tránh tình trạng chủ quan, duy ý chí trong xây dựng pháp luật, cũng như tình trạng lạc hậu của pháp luật so với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa

“Quyền không thể cao hơn trình độ phát triển kinh tế” là định hướng quan trọng cho việc giải quyết đúng đắn vấn đề quyền con người trong đời sống hiện thực, vừa tránh được chủ quan duy ý chí trong xây dựng pháp luật vừa tránh được tình trạng lạc hậu của pháp luật so với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Trong thời kỳ quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, pháp luật Việt Nam đã quy định nhiều quyền, trong đó có cả quyền “đi học không mất tiền”, “chữa bệnh không mất tiền” Đó là những quy định đúng với bản chất của chế độ ta, nhưng do trình độ kinh tế thấp nên pháp luật đã không đi vào cuộc sống được

Về văn hóa, dân trí là điều quan trọng để xác lập và thực hiện quyền con người Điều này đòi hỏi con người có sự hiểu biết nhất định về dân chủ, pháp luật và

ý thức về quyền của công dân mới có thể đảm bảo thực hiện quyền trong thực tế Bởi quyền của con người là kết quả do đấu tranh mới giành được, chứ không thể là

sự ban ơn, bố thí của bất kỳ ai Như vậy, pháp luật quy định quyền con người, quyền công dân phải gắn và phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa của đất nước trong mỗi thời kỳ lịch sử, đồng thời quá trình xây dựng pháp luật về quyền con người, quyền công dân phải giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc Cụ thể, do truyền thống cộng đồng Việt mà Hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã quy định: Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những người công dân tốt Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ” (Điều 64) Đây là điều hiếm thấy trong hiến pháp của các nước phương Tây

Từ nhận thức nêu trên, chúng ta không chấp nhận sự áp đặt tiêu chuẩn nhân quyền của nước này cho nước khác và “dứt khoát bác bỏ mọi mưu toan lợi dụng

“dân chủ”, “nhân quyền” nhằm gây rối về chính trị, chống phá chế độ hoặc can thiệp vào nội bộ nước ta”

2.6 Quyền con người được bảo đảm bằng chế độ dân chủ và Nhà nước pháp quyền XHCN

Ngày đăng: 06/04/2023, 13:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(1) Đảng CSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
(2)  Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
 (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
(6) Đảng CSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.      Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
(3) Xem: Chỉ thị 12- CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, ngày 12-7- 1992 Khác
(4) Trung tâm Nghiên cứu quyền con người: Văn kiện quốc tế về quyền con người Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w