TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN NGUYỄN THỊ THU THỦY PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU TẠI TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KH[.]
Trang 1NGUYỄN THỊ THU THỦY
PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU TẠI TỔNG
CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN THỊ THANH TÚ
HÀ NỘI - 2011
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP 4
1.1 Khái quát về trái phiếu doanh nghiệp 4
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm TPDN 4
1.1.2 Phân loại TPDN 9
1.2 Phát hành TPDN - Một phương thức huy động vốn nợ của Doanh nghiệp 11
1.2.1 Huy động vốn của Doanh nghiệp 11
1.2.2 Huy động vốn Chủ sở hữu 13
1.2.3 Huy động vốn nợ 17
1.3 Điều kiện phát hành trái phiếu Doanh nghiệp 29
1.3.1 Điều kiện thuộc về doanh nghiệp 31
1.3.2 Điều kiện ngoài doanh nghiệp 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU TẠI TCT HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 34
2.1 Khái quát về Tổng công ty Hàng không Việt Nam 34
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của TCT 34
2.1.2 Hoạt động kinh doanh của TCT HKVN 35
2.1.3 Cơ cấu bộ máy quản lý của TCT HKVN 36
2.1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của TCT HKVN 38
2.2 Thực trạng huy động vốn của TCT HKVN 42
2.2.1 Huy động Vốn chủ sở hữu 42
2.2.2 Huy động vốn nợ 47
2.2.3 Cơ cấu vốn của TCT HKVN 56
Trang 32.3.1 Nhu cầu đầu tư phát triển của TCT trong 5 năm qua 58
2.3.2 Sự cần thiết huy động vốn bằng phát hành trái phiếu của TCT HKVN 60
2.4 Nguyên nhân dẫn đến việc trái phiếu chưa được phát hành tại TCT HKVN 62
2.4.1 Nguyên nhân chủ quan 62
2.4.2 Nguyên nhân khách quan 63
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU TẠI TCT HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 66
3.1 Dự báo nhu cầu vốn của TCT HKVN 66
3.1.1 Định hướng phát triển của TCT HKVN đến năm 2020 66
3.1.2 Nhu cầu vốn cho TCT HKVN trong 5 năm tới 68
3.2 Các giải pháp và kiến nghị để phát hành trái phiếu thành công tại TCT HKVN 69
3.2.1 Giải pháp phát hành trái phiếu tại TCT HKVN 69
3.2.2 Một số kiến nghị 70
3.3 Đề án phát hành trái phiếu của TCT HKVN 73
3.3.1 Mục đích PHTP 73
3.3.2 Tính khả thi của việc phát hành trái phiếu tại TCT HKVN 74
3.3.3 Các bản chào sơ bộ của các ngân hàng về phương án phát hành trái phiếu của TCT HKVN 76
3.3.4 Định hướng lập phương án phát hành trái phiếu 78
3.3.5 Một số nội dung cơ bản trong Phương án phát hành trái phiếu 85
3.3.6 Quy trình phát hành trái phiếu 86
3.3.7 Kế hoạch thực hiện 87
3.3.8 Định hướng lựa chọn Tư vấn Phát hành 87
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 4TPDN : Trái phiếu doanh nghiệp
Trang 5Sơ đồ 2.1: Cấu tạo bộ máy tổ chức của TCTHKVN thời kỳ 2006-2010 37
Bảng 2.1: Kết quả vận tải hàng không trong giai đoạn 2006-2010 39
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động SXKD của TCT giai đoạn 2006-2010 40
Bảng 2.3: Cơ cấu vốn CSH của TCTHKVN giai đoạn 2006-2010 43
Bảng 2.4: Tình hình nợ của TCT trong giai đoạn 2006-2010 48
Bảng 2.5: Tình hình nợ dài hạn của TCT trong giai đoạn 2006-2010 49
Bảng 2.6: Cơ cấu vốn của TCT HKVN trong giai đoạn 2006-2010 57
Bảng 2.7: Quy mô vốn đầu tư theo từng danh mục đầu tư 2006-2010 59
Bảng 2.8: Tỷ trọng Nợ dài hạn/Tổng nguồn vốn của TCT năm 2006-2010 61
Bảng 3.1: Nhu cầu đầu tư của TCT trong giai đoạn 2011-2015 69
Biểu đồ 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của TCT giai đoạn 2006-2010 41
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu vốn chủ sở hữu của TCT HKVN giai đoạn 2006-2010 43
Trang 6NGUYỄN THỊ THU THỦY
PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU TẠI TỔNG
CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN THỊ THANH TÚ
HÀ NỘI - 2011
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Tổng công ty Hàng không Việt Nam (TCT HKVN) là một TCT nhà nước có quy mô lớn, được tổ chức và hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con Hiện nay, TCT đang phát triển và chuyển đổi mô hình với mục tiêu phấn đấu trở thành một TCT hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực hàng không tầm cỡ khu vực
Để phù hợp với hướng đi mới trong tương lai, đạt được mục tiêu đem lại cho TCT một hình ảnh và vị thế mới, vững mạnh hơn đòi hỏi bản thân doanh nghiệp phải có sự cố gắng nỗ lực, có chiến lược phát triển đúng đắn, chiến lược đầu tư hợp
lý và nhất là chiến lược về phát triển vốn đóng vai trò rất quan trọng Trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam có nhiều biến động phức tạp, khi
mà việc huy động vốn từ kênh huy động ngân hàng và phát hành cổ phiếu trở nên khó khăn, áp lực huy động vốn để phát triển các dự án đầu tư tại TCT ngày càng tăng thì việc tìm ra một kênh huy động vốn mới phù hợp để thay thế trở nên cấp thiết đối với hoạt động tài chính tại TCT Nhận thức được vấn đề đó, TCT đang nghiên cứu một số loại hình huy động vốn mới phù hợp với tình hình hiện tại của doanh nghiệp và của nền kinh tế hiện nay, và một trong những giải pháp vốn hữu hiệu nhất mà TCT đang xem xét đó là kênh huy động vốn từ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU
Trước tình hình đó, đề tài “Phát hành trái phiếu tại Tổng công ty Hàng
không Việt Nam” đã được lựa chọn để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, hệ thống hóa các vấn đề về Trái phiếu doanh nghiệp
và vấn đề phát hành trái phiếu của doanh nghiệp, phân tích thực trạng huy động vốn tại TCT HKVN và bước đầu phân tích vì sao kênh phát hành trái phiếu chưa được tiến hành tại doanh nghiệp trong thời gian qua Đưa ra những đánh giá về nguyên nhân và các giải pháp để kênh phát hành trái phiếu thành công tại TCT HKVN
Trang 8CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về trái phiếu doanh nghiệp
Trái phiếu doanh nghiệp là một loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp (DN) phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả cả gốc và lãi của DN phát hành đối với người sở hữu trái phiếu Thông tin về tỉ lệ lãi suất, mệnh giá, ngày đáo hạn,… được ghi trên mặt của tờ trái phiếu Trái phiếu có thể được mua bán trên thị trường chứng khoán
mà không phụ thuộc vào mệnh giá của nó, thị giá của trái phiếu được quyết định bởi lãi suất của trái phiếu, loại trái phiếu (trái phiếu chuyển đổi) và chủ thể phát hành trái phiếu
Phát hành TPDN là phương thức huy động vốn trực tiếp từ thị trường vốn không qua các định chế tài chính trung gian, nên chi phí thường rẻ hơn vay ngân hàng Trái phiếu doanh nghiệp có các đặc điểm cơ bản sau: Trái phiếu DN là loại chứng khoán nợ; Thời hạn lưu hành của trái phiếu DN được xác định trước; Trái phiếu DN là loại chứng khoán có thu nhập xác định trước; Giá trị danh nghĩa luôn thể hiện trên bề mặt của trái phiếu; Lãi trái phiếu doanh nghiệp được hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính Ngoài ra, TPDN còn có một số đặc điểm khác
Có các loại trái phiếu doanh nghiệp sau:
Trái phiếu có đảm bảo (trái phiếu thế chấp): là trái phiếu được đảm bảo bằng những tài sản thế chấp cụ thể, thường là bất động sản và các thiết bị
Trái phiếu không đảm bảo (trái phiếu tín chấp): là loại trái phiếu không được đảm bảo bằng tài sản mà được đảm bảo bằng tín chấp hay uy tín của doanh nghiệp
Trái phiếu có thể mua lại: cho phép người phát hành mua lại trái phiếu trước khi đáo hạn khi thấy cần thiết
Trái phiếu có thể bán lại: cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại trái phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn
Trái phiếu có thể chuyển đổi: cho phép người nắm giữ nó có thể chuyển
Trang 9đổi trái phiếu thành cổ phiếu thường, tức là thay đổi tư cách từ người chủ nợ trở
thành người chủ sở hữu của công ty…
1.2 Phát hành TPDN - Một phương thức huy động vốn nợ của Doanh nghiệp Vốn là điều kiện cần thiết, cơ bản để cho một doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, đổi mới công nghệ Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp đều chỉ có một nguồn tài chính trong giới hạn nhất định, bao gồm vốn tự có và vốn huy động từ các kênh khác nhau Thực tế là doanh nghiệp luôn trong tình trạng thiếu vốn cho các hoạt động sản xuất và các dự án đầu tư của mình
Để luôn hoạt động và phát triển, doanh nghiệp phải tiến hành huy động vốn từ các nguồn vốn khác nhau từ nguồn vốn chủ sở hữu đến nguồn vốn nợ
Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, là vốn do chủ doanh nghiệp tự bỏ vốn ra để đầu tư hoặc vốn cổ phần, lợi nhuận để lại của doanh nghiệp sau khi đã chia cho các cổ đông Đối với các doanh nghiệp nhà nước thì đó là nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp, nguồn vốn bổ sung từ lợi nhuận để lại sau khi đã nộp một phần vào ngân sách nhà nước, vốn cổ phần do nhà nước phát hành cổ phiếu, vốn liên doanh liên kết
Các hình thức huy động vốn chủ sở hữu chủ yếu là huy động từ: Vốn góp ban đầu; Lợi nhuận không chia; Phát hành cổ phiếu mới; Tham gia liên doanh liên kết Mỗi hình thức huy động đều có những ưu nhược điểm nhất định đối với doanh nghiệp Tùy theo đặc điểm của doanh nghiệp mà doanh nghiệp lựa chọn kênh huy động vốn phù hợp cho mình
Ngoài các hình thức huy động từ vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào các kênh huy động vốn nợ từ bên ngoài Các kênh huy động vốn nợ chiếm ưu thế bởi sự thuận tiện, linh hoạt và phù hợp với nhu cầu vốn lớn của doanh nghiệp Các hình thức huy động nợ chủ yếu là huy động từ: Tín dụng thương mại; Tín dụng ngân hàng; Tín dụng thuê mua; Phát hành trái phiếu
1.3 Điều kiện phát hành trái phiếu Doanh nghiệp
Theo Điều 17 Nghị định số 52/2006/NĐ-CP thì doanh nghiệp phát hành trái
Trang 10phiếu riêng lẻ khi có đủ các điều kiện sau: Là doanh nghiệp thuộc đối tượng: Công
ty cổ phần, công ty nhà nước trong thời gian chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam; Có thời gian hoạt động tối thiểu là 1 năm, kể từ ngày doanh nghiệp chính thức đi vào hoạt động; Có báo cáo tài chính của năm liền kề trước năm phát hành được kiểm toán; Kết quả hoạt động sản xuất – kinh doanh năm liền kề năm phát hành phải có lãi; Có phương
án phát hành trái phiếu được tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông qua
Tuy nhiên, để một doanh nghiệp tiến hành PHTP thì không những cần đáp ứng
đủ những điều kiện quy định trên, mà nó còn phụ thuộc vào những điều kiện khách quan và chủ quan khác mà doanh nghiệp nghiệp phải cân nhắc khi tiến hành lựa chọn kênh huy động vốn bằng PHTP Những điều kiện chủ quan ảnh hưởng tới doanh nghiệp khi PHTP phải kể đến là: Khả năng tài chính của tổ chức phát hành trái phiếu; Thời gian đáo hạn của trái phiếu; Vấn đề xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp; Minh bạch hóa thông tin của doanh nghiệp Những điều kiện khách quan gồm có: Vấn đề pháp lý của việc PHTP; Cung - cầu thị trường; Dự kiến về lạm phát (tỷ lệ lạm phát); Biến động tỷ suất thị trường (lãi suất thị trường trong tương lai)
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT HÀNH
TRÁI PHIẾU TẠI TCT HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
2.1 Khái quát về Tổng công ty Hàng không Việt Nam
Tổng công ty Hàng không Việt Nam – Tiền thân là Tổng cục Hàng không Dân dụng Việt Nam được thành lập từ năm 1976 trực thuộc Bộ Quốc Phòng Ngày 04 tháng 4 năm 2003, TCTHKVN là một TCT nhà nước, hoạt động theo mô hình Công
ty mẹ - Công ty con (CTM-CTC) Từ đó đến nay, TCT đã phát triển rất mạnh mẽ và trở thành một TCT Nhà nước lớn và dần tiến tới trở thành một Tập đoàn kinh doanh chủ đạo trong lĩnh vực hàng không
Trang 11TCT HKVN thực hiện kinh doanh dịch vụ, phục vụ về vận tải hàng không đối với hành khách, hàng hóa, bưu kiện trong và ngoài nước theo kế hoạch và chính sách phát triển ngành hàng không dân dụng của nhà nước, trong đó có việc xây dựng kế hoạch phát triển, đầu tư, xây dựng, tạo nguồn vốn, thuê và mua sắm tầu bay, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị, phụ tùng, xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, phụ tùng, nguyên nhiên liệu phục vụ hoạt động SXKD của TCT, liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo pháp luật và chính sách của Nhà nước
Bộ máy quản lý của TCT được đặt dưới sự chỉ đạo của HĐQT, Tổng Giám đốc và các phòng ban chức năng giúp việc HĐQT gồm có Chủ tịch và 06 ủy viên,
có quyền và trách nhiệm xây dựng đường lối, phương hướng cũng như kế hoạch SXKD của toàn TCT Giúp việc cho Tổng Giám đốc là 05 Phó Tổng giám đốc Các Phó Tổng giám đốc chịu trách nhiệm phụ trách các lĩnh vực: kỹ thuật, khai thác, thương mại dịch vụ, an toàn chất lượng và đào tạo huấn luyện Tổng công ty gồm
có 11 ban, ngành chia thành 3 khối là khối khai thác bay; khối thương mại dịch vụ
và khối kỹ thuật
Xét về kết quả hoạt động vận tải và kinh doanh của TCT trong giai đoạn
2006-2010 thì đã có một số kết quả như sau
- Về kết quả hoạt động vận tải HK: Vận chuyển hành khách và hàng hóa của TCT có bước tăng trưởng khá ấn tượng Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn này đạt 15,65% về vận chuyển hành khách và 11,84% vận chuyển hàng hóa
- Về kết quả hoạt động kinh doanh: Trong 5 năm qua, hoạt động SXKD của TCT về doanh thu và lợi nhuận vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng khá tốt với tốc độ tăng bình quân của doanh thu là 27,34%/năm và lợi nhuận thu được hàng năm bình quân là 575,37 tỷ đồng
Trang 12phát hành cổ phiếu…Tổng số vốn chủ sở hữu của TCT hiện nay (tính đến thời điểm ngày 31/12/2010) đạt 8.194 tỷ đồng, tăng 1.441 tỷ so với cùng kỳ năm 2009 Tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu bình quân trong 14 năm kể từ khi được giao vốn là 28,2%/năm
Mặt khác, do sự gia tăng nhu cầu đầu tư đã làm TCT thiếu hụt một lượng vốn lớn để đầu tư vào SXKD Do đó, TCT đã phải lựa chọn các phương án huy động nợ
từ các nguồn khác nhau để bổ sung vào sự thiếu hụt Các nguồn huy động bao gồm: Vay ngân hàng và từ các tổ chức tín dụng khác; Nguồn vốn tín dụng xuất khẩu; Vay
từ quỹ đầu tư phát triển của Chính phủ; Thuê máy bay; Thuê vận hành…Về tình hình nợ của TCT trong giai đoạn 2006-2010 có đặc điểm như sau:
- Nợ ngắn hạn của TCT có xu hướng tăng dần từ năm 2006-2010 Do đặc điểm kinh doanh của TCT, vốn lưu động ròng (tài sản ngắn hạn trừ nợ ngắn hạn) luôn trong trạng thái không cao hoặc có thể là âm
- Nợ dài hạn của TCT cũng gia tăng liên tục Nợ dài hạn của TCT trong giai đoạn 2006-2010 là khá lớn, tỷ trọng của nợ dài hạn so với Tổng nguồn vốn của TCT trong giai đoạn này xấp xỉ 50%, điều này cho thấy nhu cầu vốn dài hạn của TCT là rất lớn, và đang cần bổ sung thêm những kênh huy động vốn trung và dài hạn mới phù hợp với TCT hiện nay, trong đó có kênh huy động vốn từ kênh phát hành trái phiếu
2.3 Sự cần thiết huy động vốn bằng Phát hành trái phiếu của Tổng công
ty Hàng không Việt Nam
Trong thời gian qua, vốn đầu tư của Tổng công ty tăng giảm theo kế hoạch của mình, và theo xu hướng ngày càng tăng Trong giai đoạn 2006-2010, vốn đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị chiếm tỷ trọng lớn (chiếm hơn 85% tổng vốn đầu tư hàng năm) phản ánh mục đích đầu tư để hiện đại hóa đội máy bay cũng như công nghệ
hàng không, thiết bị mặt đất… của TCT trong những năm qua
Số lượng vốn đầu tư trong thời gian qua của TCT như vậy là rất lớn, và có xu hướng tăng lên hàng năm Nguồn vốn trung và dài hạn của TCT được xem là nòng
Trang 13cốt và thiết yếu do đặc thù kinh doanh đặc biệt Vốn trung và dài hạn của TCT trong những năm qua chủ yếu phục vụ nhu cầu đầu tư phát triển đội máy bay là những kênh huy động quen thuộc từ trước như: Vay từ quỹ đầu tư và phát triển của Chính phủ, Vay thương mại từ ngân hàng và TCTD, thuê vận hành, thuê tài chính (thuê máy bay)…Tuy nhiên, kênh huy động vốn bằng PHTP được đánh giá là khá hiệu quả nhưng TCT chưa sử dụng tới vì một số nguyên nhân khác nhau và được phân tích ở mục dưới đây
2.4 Nguyên nhân dẫn đến việc trái phiếu chưa được phát hành tại TCT HKVN Những nguyên nhân được cho là yếu tố chính để dẫn đến việc TCT chưa tiến hành PHTP thành công gồm có những nguyên nhân chủ quan từ phía doanh nghiệp và những nguyên nhân khách quan từ phía thị trường, chính phủ, và những bên có liên quan
Nguyên nhân xuất phát từ phía doanh nghiệp gồm có: Quan điểm của lãnh đạo TCT chưa thực sự quan tâm đến kênh PHTP; Vấn đề xếp hạng tín nhiệm chưa được thực hiện một cách hoàn chỉnh Còn nguyên nhân khách quan là do: Thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam chưa thực sự phát triển; Hành lang pháp lý để PHTP chưa nhất quán, chưa rõ ràng; Lãi suất trái phiếu khá cao; Sự thiếu minh bạch thông tin của thị trường trái phiếu
Mỗi nguyên nhân là một yếu tố để việc PHTP tại TCT HKVN bị trì hoãn và chưa đem lại kết quả Từ đây ta có thể rút ra được những hướng khắc phục và các giải pháp
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU TẠI TCT
HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
3.1 Dự báo nhu cầu vốn của TCT HKVN
Định hướng tới năm 2020, Tổng công ty HKVN đã có chiến lược phát triển thành tập đoàn kinh tế hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con, lấy kinh doanh vận tải hàng không làm nòng cốt
Còn cụ thể trong tương lai gần, giai đoạn từ 2011-2015, tổng nhu cầu đầu tư
Trang 14của TCT HKVN khoảng 2.665 triệu USD (tương đương 53.300 tỷ VNĐ) và 3.190
tỷ VNĐ Trong đó, nhu cầu để phát triển đội máy bay chiếm khoảng 2.490 triệu USD (chiếm gần 90% nhu cầu vốn của TCT bao gồm đầu tư để mua 26 máy bay A321, 1 máy bay A350, 4 máy bay B787-9)
3.2 Các giải pháp và kiến nghị để phát hành trái phiếu thành công tại TCT HKVN
Luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện quá trình PHTP thành công tại TCT HKVN như sau: TCT cần phải nâng cao nhận thức hơn nữa về vấn đề này
và cần coi trái phiếu như là một kênh huy động vốn thường xuyên; TCT cần phải đổi mới tư duy về quản lý DN và phải có chiến lược sử dụng vốn hiệu quả để tạo niềm tin cho nhà đầu tư; TCT cần tiến hành định hạng tín nhiệm để phát hành trái phiếu vì khi đầu tư vào trái phiếu nhà đầu tư chủ yếu dựa vào căn cứ về uy tín và chỉ số định hạng tín nhiệm của tổ chức phát hành; Cần thực hiện chính sách chuẩn hóa hệ thống thông tin và công khai hóa thông tin của doanh nghiệp
Mặt khác, Luận văn đưa ra kiến nghị với Nhà nước, các Bộ, Ngành và cơ quan chức năng có liên quan một số nội dung sau: Về phía Nhà nước cần có chính sách phát triển toàn diện thị trường trái phiếu chính phủ để định hướng cho thị trường trái phiếu DN; Các tổ chức trung gian tài chính và hỗ trợ thị trường phải nâng cao chất lượng nghiệp vụ, trong đó có việc tư vấn thu xếp phát hành trái phiếu trên thị trường sơ cấp và kinh doanh trái phiếu tạo thanh khoản trên thị trường thứ cấp; Xây dựng chiến lược phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam phù hợp với chiến lược phát triển thị trường vốn đến năm 2020; Chính sách đa dạng hóa các chủ thể phát
hành trái phiếu
3.3 Đề án phát hành trái phiếu của TCT HKVN
Về mục đích: TCT đã lên kế hoạch phát hành trái phiếu để đáp ứng một phần nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án mua mới máy bay ATR72, B787, đảm bảo một phần vốn cho dự án về cơ sở hạ tầng như xây mới Hangar hay các dự án bảo trì, sửa chữa khác theo nhu cầu của TCT
Xét về tính khả thi: Theo sự nghiên cứu ban đầu của TCT cho thấy, chi phí phát hành trái phiếu cũng chỉ tương đương với vốn vay thương mại mua máy bay tại
Trang 15cùng thời điểm Trong điều kiện kinh doanh của TCT được cải thiện và hệ số tín nhiệm của Việt Nam cũng tăng lên thì chi phí vốn sẽ thấp hơn và phương thức này
là khả thi
Hiện nay, TCT đã nhận được bản chào, thư quan tâm của các ngân hàng, các công ty chứng khoán bày tỏ quan tâm đến phương án phát hành trái phiếu của TCT như: Ngân hàng Deutsch Bank; Ngân hàng HSBC; Ngân hàng Citibank; Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV)…
Định hướng lập phương án phát hành trái phiếu cụ thể như sau:
Về hình thức phát hành: Tổng công ty dự kiến lựa chọn phương thức phát hành riêng lẻ
Về loại trái phiếu: TCT đã lựa chọn loại trái phiếu phát hành là TPDN không có khả năng chuyển đổi, không có bảo đảm thanh toán
Về quy mô phát hành: Tổng nhu cầu vốn cần huy động cho tất cả các dự án máy bay và một số dự án cơ sở hạ tầng sẽ vào khoảng 1.500 tỷ đồng
Về địa điểm chào bán trái phiếu: Tổng công ty lựa chọn PHTP đồng VNĐ ở thị trường nội địa cho các nhà đầu tư trong nước và ở nước ngoài
Về phương thức phát hành: Tổng công ty Hàng không Việt Nam sẽ lựa chọn một trung gian tài chính làm Tư vấn phát hành
Về phương thức thanh toán tiền lãi: Tổng công ty lựa chọn phương thức thanh toán lãi định kỳ 6 tháng/lần (20 kỳ) hoặc 1 năm/lần (10 kỳ)
Về thời gian phát hành: Tổng công ty dự kiến phát hành trái phiếu làm 2 đợt, đợt 1 phát hành 1.000 tỷ đồng vào Quý I năm 2012 và đợt 2 phát hành 500 tỷ đồng vào Quý I năm 2013
Về cơ sở xác định lãi suất trái phiếu: Lãi suất trái phiếu của Tổng công ty được tính toán dựa trên lãi suất chuẩn là lãi suất của trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm cộng với một tỷ lệ mức bù rủi ro
Trang 16từ năm 2006-2010; Đánh giá thực trạng huy động vốn tại TCT HKVN và đánh giá các nguyên nhân vì sao kênh huy động từ phát hành trái phiếu tại TCT, từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị để phát hành trái phiếu thành công tại TCT HKVN; và đưa ra đề
án phát hành trái phiếu sơ bộ tại TCT HKVN
Phát hành trái phiếu là một kênh huy động vốn khá mới mẻ đối với doanh nghiệp Việt Nam Đối với TCT HKVN thì vấn đề này đang được nghiên cứu và thử nghiệm Do nguồn tài liệu nghiên cứu về vấn đề mới mẻ này cũng như trình độ nghiên cứu còn nhiều hạn chế, những vấn đề trình bày trong Luận văn chắc hẳn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tác giả mong muốn nhận được những
ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, của đồng nghiệp và bạn đọc để Luận văn đạt chất lượng tốt hơn./
Trang 17NGUYỄN THỊ THU THỦY
PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU TẠI TỔNG
CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN THỊ THANH TÚ
HÀ NỘI - 2011
Trang 18MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu:
Hiện nay, nền kinh tế thế giới đang ngày càng hội nhập, thị trường liên tục có nhiều biến động Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển nhưng với một diễn biến khá phức tạp Thị trường có nhiều biến động vừa tạo thuận lợi cũng như gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp Trong một môi trường như vậy đòi hỏi Doanh nghiệp (DN) cũng phải biến đổi ngày một thích ứng với nó, và phải nhanh chóng để ứng phó với những khó khăn do thị trường tác động tới Đối với một doanh nghiệp Nhà nước lớn như Tổng công ty Hàng không Việt Nam (TCT HKVN), công việc đó lại còn khó khăn hơn rất nhiều Là một TCT nhà nước có quy mô lớn, để chèo lái DN vượt qua những khó khăn của thị trường như khủng hoảng tài chính, tình trạng lạm phát gia tăng…đòi hỏi DN phải có những chiến lược phát triển đúng đắn, chiến lược đầu tư hợp lý và nhất là chiến lược về phát triển vốn cho DN có thể được đánh giá là quan trọng bậc nhất Vietnam Airlines có mục tiêu phát triển là một Hãng hàng không dẫn đầu Việt Nam và có thương hiệu trên thế giới Với đặc thù kinh doanh và đầu tư riêng biệt đòi hỏi số vốn đầu tư lớn Nguồn vốn của VNA năm 2010 đạt 6-7 tỷ USD
và cứ trung bình sau 5 năm là số vốn tăng gấp đôi Với mục tiêu đó đòi hỏi việc huy động vốn trong ngắn hạn và dài hạn của TCT là rất cần thiết Và khi mà việc vay vốn ở các Ngân hàng thương mại cũng như việc phát hành cổ phiếu trở nên rất khó khăn thì việc huy động vốn bằng kênh phát hành trái phiếu trở nên rất khả thi và thích hợp với doanh nghiệp Nhận thức được tầm quan trọng của kênh huy động vốn này đối với việc phát triển đầu tư của TCT HKVN, tôi đã chọn nghiên cứu vấn
đề “Phát hành trái phiếu tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam” trong luận văn của mình với mong muốn được hiểu hơn về phương thức huy động vốn đặc thù này và tìm ra được những giải pháp thu hút vốn hữu hiệu qua việc phát hành trái phiếu cho TCT HKVN trong thời gian tới
Trang 192 Mục đắch nghiên cứu
Với lý thuyết kết hợp với phân tắch các số liệu thực tiễn và kế hoạch đầu tư tại TCT HKVN, đề tài này nhằm phân tắch, đánh giá những thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp khi tiến hành phát hành trái phiếu trong thời điểm hiện nay, phân tắch những điều kiện khi TCT phát hành trái phiếu Mục tiêu chắnh của
đề tài là đề cập đến một loại hình huy động mới tại TCT HKVN là phát hành trái phiếu doanh nghiệp, phân tắch vì sao việc phát hành trái phiếu chưa được thực hiện tại TCT Luận văn bước đầu đưa ra đề án phát hành trái phiếu tại TCT, đưa
ra một số giải pháp và kiến nghị để thực hiện thành công quá trình phát hành trái phiếu tại TCT HKVN
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề phát hành trái phiếu doanh nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: Phát hành trái phiếu tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam, phương án phát hành, điều kiện phát hành và những điều kiện TCT chưa đáp ứng được khi phát hành; giải pháp khắc phục để phát hành thành công trái phiếu tại TCT HKVN trong thời gian tới
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;
- Phương pháp thống kê: thu thập thông tin, tổng hợp và phân tắch số liệu;
- Phương pháp phân tắch các hoạt động kinh tế;
- Phương pháp dự báo, so sánh;
- Nghiên cứu tắnh huống,Ầ
5 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu tình huống cụ thể là phýõng án phát hành trái phiếu doanh nghiệp tại TCT HKVN, tác giả hy vọng luận vãn sẽ là cõ sở thực tiễn, là nguồn tham khảo để TCT có thể phát hành trái phiếu một cách hiệu quả hõn Bên cạnh đó, đây cũng sẽ là nguồn tham khảo cho các doanh nghiệp khác tại Việt Nam khi tiến hành phát hành trái phiếu trong thời gian tới
Trang 206 Tên đề tài và kết cấu của luận văn
- Tên đề tài luận văn:
“Phát hành trái phiếu tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam”
- Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu 3 chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về Phát hành trái phiếu của Doanh nghiệp
Chương II: Thực trạng huy động vốn và điều kiện phát hành trái phiếu của TCT HKVN
Chương III: Các giải pháp phát hành trái phiếu tại TCT HKVN
Trang 21CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CỦA
DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về trái phiếu doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm TPDN
1.1.1.1 Khái niệm TPDN
Trái phiếu doanh nghiệp là một loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp (DN) phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả cả gốc và lãi của DN phát hành đối với người sở hữu trái phiếu Thông tin về tỉ lệ lãi suất, mệnh giá, ngày đáo hạn,… được ghi trên mặt của tờ trái phiếu Trái phiếu có thể được mua bán trên thị trường chứng khoán
mà không phụ thuộc vào mệnh giá của nó, thị giá của trái phiếu được quyết định bởi lãi suất của trái phiếu, loại trái phiếu (trái phiếu chuyển đổi) và chủ thể phát hành trái phiếu
Phát hành TPDN là phương thức huy động vốn trực tiếp từ thị trường vốn không qua các định chế tài chính trung gian, nên chi phí thường rẻ hơn vay ngân hàng Trái phiếu doanh nghiệp được phát hành dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, tiền thu từ hoạt động phát hành trái phiếu, doanh nghiệp chỉ được sử dụng cho mục đích thực hiện các khoản đầu tư, cơ cấu lại các khoản vay trung và dài hạn hoặc tăng quy mô vốn hoạt động
Căn cứ vào mức độ uy tín của doanh nghiệp, hiệu quả của dự án đầu tư và tình hình thị trường tài chính – tiền tệ, doanh nghiệp phát hành trái phiếu quyết định lãi suất trái phiếu cho từng đợt phát hành
Với những doanh nghiệp lớn và có uy tín trên thị trường, khả năng tài chính tốt thì việc phát hành trái phiếu sẽ ít mạo hiểm hơn là các doanh nghiệp nhỏ Những công ty lớn có uy tín sẽ được công chúng và các nhà đầu tư chào đón trái phiếu hơn Càng uy tín thì càng nhiều người tìm mua trái phiếu, vì họ cho rằng công ty sẽ có khả năng chi trả khoản vay cùng lãi vay đúng hạn và có thể sinh nhiều lợi nhuận
Trang 22cho họ trong tương lai (đặc biệt là loại trái phiếu chuyển đổi, nắm giữ loại trái phiếu này nhà đầu tư có thể trở thành cổ đông của doanh nghiệp trong tương lai) Ngược lại, việc phát hành trái phiếu của các công ty nhỏ lẻ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn, những công ty này có thể được xếp hạng tín dụng ở mức thấp, vì thế mà để bù đắp phần rủi ro cho người sở hữu trái phiếu thì lãi suất của trái phiếu ở các công ty này phải cao hơn Việc phát hành trái phiếu có đạt hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào mệnh giá, lãi suất, kỳ hạn, thị trường, thời điểm phát hành…
Mệnh giá của trái phiếu càng cao thì khả năng việc sở hữu nó chỉ dành cho một số nhà đầu tư có khả năng về tài chính Tuy nhiên, phải bỏ ra một khoản tiền lớn để đầu tư vào một doanh nghiệp chưa đáng tin cậy thì rất khó, vì vậy mà việc phát hành trái phiếu có mệnh giá lớn có phần khó khăn, mệnh giá nhỏ giúp cho hầu hết các nhà đầu tư có thể nắm giữ trái phiếu đó một cách dễ dàng, ít rủi ro hơn Theo quy định của Chính phủ Việt Nam, mệnh giá trái phiếu tối thiểu là 100.000 VNĐ hoặc bội số của 100.000VNĐ Trong một đợt phát hành trái phiếu của tổ chức phát hành, trái phiếu có cùng kỳ hạn thì phải có cùng mệnh giá Thời hạn của trái phiếu phải từ một năm trở lên
Lãi suất trái phiếu: thể hiện chi phí của việc sử dụng vốn, lãi suất càng cao thì càng thu hút nhiều nhà đầu tư hơn Tuy nhiên lãi suất cao còn tiềm ẩn rủi ro lớn,
và dẫn đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn Lãi suất thấp không thu hút được nhà đầu tư, mức lãi suất tối thiểu của một trái phiếu cũng phải cao hơn tỉ lệ lạm phát dự kiến hoặc phải cao hơn lãi suất huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại
Đo lường lợi nhuận của trái phiếu bằng suất sinh lời: Suất sinh lời là con
số thể hiện lợi nhuận nhận được từ trái phiếu Công thức đơn giản nhất của suất sinh lời được tính như sau:
Suất sinh lời = tiền lãi định kỳ/giá trái phiếu
Khi mua trái phiếu với mệnh giá thì suất sinh lời bằng tỷ lệ lãi suất Khi giá trái phiếu thay đổi thì suất sinh lời cũng thay đổi theo Nếu bạn mua trái phiếu với
Trang 23lãi suất 10% mệnh giá $1000, suất sinh lời là 10% ($100/$1000) Nhưng nếu giá rớt xuống $800, thì suất sinh lời tăng lên 12.5% Điều này là do bạn đang nhận được cùng một 100 $ đảm bảo vào tài sản trị giá $ 800 ($ 100 / $ 800) Ngược lại, nếu trái phiếu tăng $ 1.200, suất sinh lời giảm 8,33% ($ 100 / $ 1.200)
Quan hệ giữa giá và suất sinh lời: Mối quan hệ của suất sinh lời và giá trái phiếu có thể được tóm tắt như sau: khi giá tăng, suất sinh lời giảm và ngược lại Theo cách nói kỹ thuật, giá và suất sinh lời có mối quan hệ tỷ lệ nghịch
Điều này gây ra một sự mâu thuẫn: làm thế nào để có được giá cao và suất sinh lời cao là tốt khi chúng không thể xảy ra đồng thời Câu trả lời dựa vào quan điểm của từng người Đứng về phía người mua trái phiếu thì sẽ muốn suất sinh lời cao Người mua muốn trả $800 cho trái phiếu $1000, suất sinh lời 12,5% Ngược lại, nếu đứng về phía người đang sở hữu trái phiếu, họ sẽ hy vọng giá trái phiếu tăng cao để có thể thu lợi nhuận bằng việc bán trái phiếu trong tương lai
Định giá trái phiếu: Giá trị trái phiếu được tính bằng tổng giá trị hiện tại của toàn bộ các khoản tiền người phát hành phải thanh toán cho người sở hữu trái phiếu, bao gồm tiền lãi định kỳ và tiền gốc trả tại ngày đáo hạn Để xác định được giá trái phiếu tại thời điểm hiện tại, cần thực hiện chiết khấu toàn bộ dòng tiền sẽ thanh toán cho người sở hữu trái phiếu trong tương lai với lãi suất hiện tại Lãi suất chiết khấu trái phiếu chính là lãi suất tới hạn của trái phiếu hay lãi suất vay vốn bình quân của thị trường
Thời điểm phát hành cũng tác động đến sức hấp dẫn trái phiếu đối với các nhà đầu tư Trong điều kiện nền kinh tế ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, thị trường chứng khoán ổn định, lãi suất huy động trên thị trường thấp, rất thích hợp cho việc phát hành trái phiếu Phát hàng trái phiếu cũng phải xem xét tham khảo mệnh giá, lãi suất, của các trái phiếu khác trên thị trường Việc phát hành trái phiếu ít khi bị cổ đông cá nhân phản đối, nhưng một số cổ đông lớn, đặc biệt các pháp nhân, băn khoăn Với những đơn vị không có nhu cầu cấp bách về nguồn vốn, việc sử dụng hiệu quả ngay lập tức một khoản vốn lớn huy động thêm không phải lúc nào cũng thực hiện được Mặt khác, tính thanh khoản của trái phiếu
Trang 24so với cổ phiếu kém hơn, việc chuyển nhượng giữa các trái chủ có thể sẽ không thuận lợi như mong muốn, nhất là với trái phiếu ghi danh Dù vậy, trái phiếu chuyển đổi vẫn được xem như một bước đệm thí điểm đáng tiến hành trong quá trình tăng năng lực tài chính của doanh nghiệp
Tuy nhiên, phát hành trái phiếu đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tăng nợ, tăng hệ số nợ (nợ dài hạn/vốn chủ sở hữu) nên khi doanh nghiệp đã có hệ số nợ cao thì việc phát hành trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh sẽ làm hệ số nợ càng tăng cao và ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đặc biệt là khả năng thanh toán lãi vay Dấu hiệu rủi ro tài chính đã xuất hiện khi doanh nghiệp sử dụng nợ Trong chính sách tài chính ở các nước phát triển,
hệ số nợ không nên vượt giới hạn nhất định, vì vậy để thận trọng về tài chính, các doanh nghiệp nên quyết định ở trong ngưỡng giới hạn sử dụng nợ khi phát hành trái phiếu ở doanh nghiệp
Nguồn tài trợ trái phiếu có đặc điểm: Chi phí trả lãi vay ổn định và rất thấp so với lợi tức cổ phiếu thường, bảo lãnh phát hành với chi phí thấp dễ bán, không phát sinh quyền quản lý kiểm soát công ty, lãi trái phiếu được hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính để xác định lợi nhuận trước thuế
Các trái phiếu được giao dịch trên hai thị trường sơ cấp và thứ cấp Thị trường
sơ cấp là nơi các trái phiếu được phát hành và phân phối lần đầu tiên cho các nhà đầu tư Thị trường thứ cấp là thị trường mua đi bán lại các loại trái phiếu đã được phát hành ở thị trường sơ cấp
Ở thị trường sơ cấp, trái phiếu phát hành ra công chúng được phân phối thông qua đại lý hoặc bảo lãnh phát hành Đại lý phát hành là các công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng nhận bán trái phiếu cho tổ chức phát hành trên cơ sở thỏa thuận hoặc thông qua tổ chức bảo lãnh phát hành chính Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh phát hành giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục xây dựng và đệ trình hồ sơ xin phép phát hành trước khi chào bán trái phiếu, nhận mua trái phiếu của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số trái phiếu còn lại chưa được phân phối hết
Trang 251.1.1.2 Đặc điểm của TPDN
TPDN có các đặc điểm chung là:
Thứ nhất: Trái phiếu DN là loại chứng khoán nợ
Phát hành trái phiếu là đi vay vốn Mua trái phiếu là cho người phát hành vay vốn và như vậy trái chủ là chủ nợ của người phát hành Là chủ nợ, người nắm giữ trái phiếu có quyền đòi các khoản thanh toán theo cam kết về khối lượng và thời hạn, song không có quyền tham gia vào những vấn đề của bên phát hành
Thứ hai: Thời hạn lưu hành của trái phiếu DN được xác định trước
Khác với cổ phiếu, trái phiếu là một loại chứng khoán mà thời hạn lưu hành được xác định trước
Thời hạn lưu hành của trái phiếu: là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày người phát hành hoàn trả tiền vốn lần cuối
Ngày mà khoản vốn gốc trái phiếu được thanh toán lần cuối được gọi là ngày đáo hạn của trái phiếu
Thời gian đáo hạn của trái phiếu quan trọng vì 3 lý do sau:
+ Thời gian đáo hạn cho biết khoảng thời gian mà người nắm giữ trái phiếu có thể mong đợi nhận được các khoản thanh toán lãi định kỳ, và cho biết số năm trước khi khoản vay gốc được hoàn trả toàn bộ
+ Lợi tức của một trái phiếu tuỳ thuộc vào thời hạn của nó
+ Giá của trái phiếu sẽ biến đổi qua quãng đời của nó khi lãi suất trên thị trường thay đổi - tính biến động của trái phiếu phụ thuộc vào thời gian đáo hạn của
nó Nếu các yếu tố khác không thay đổi, thời gian đáo hạn càng dài, tính biến động giá của trái phiếu càng lớn trước một sự thay đổi của lãi suất thị trường
Thứ ba: Trái phiếu DN là loại chứng khoán có thu nhập xác định trước Nếu như thu nhập chủ yếu của sở hữu cổ phiếu là cổ tức - phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của công ty, thì trái lại thu nhập chủ yếu của trái phiếu là tiền lãi - là khoản thu cố định, không phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của người chủ phát hành (trừ trái phiếu có lãi suất thả nổi)
Trang 26Thứ tư: Giá trị danh nghĩa luôn thể hiện trên bề mặt của trái phiếu
Giá trị danh nghĩa của trái phiếu luôn được ghi trên bề mặt của trái phiếu Giá trị này được coi là số vốn gốc Giá trị danh nghĩa của trái phiếu là căn cứ để xác định số lợi tức tiền vay mà người phát hành phải trả Giá trị danh nghĩa cũng thể hiện số tiền người phát hành phải hoàn trả khi trái phiếu đến hạn
Thứ năm: Lãi trái phiếu doanh nghiệp được hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính (TK 635) để xác định lợi nhuận trước thuế do đó doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được một khoản thuế TNDN
Ngoài ra, nếu doanh nghiệp có trái phiếu được niêm yết lần đầu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ được giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 2 năm kể
từ khi thực hiện việc niêm yết
Ngoài ra, TPDN còn có một số đặc điểm khác như sau:
- Người nắm giữ trái phiếu được trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn, song không được tham dự vào các quyết định của doanh nghiệp (tức là không có quyền
bỏ phiếu và tham gia vào các hoạt động quản lý của công ty)
- Tiền trả lãi cho trái chủ không phụ thuộc vào mức lợi nhuận của công ty Đây là một khoản tiền được xác định trước theo một công thức nhất định mà bên phát hành đã công bố cho các nhà đầu tư biết trước
- Trái phiếu đem lại cho trái chủ quyền ưu tiên phân chia tài sản khi công ty bị giải thể, hoặc phá sản (được ưu tiên hoàn trả trước khi hoàn vốn cho các sở hữu của công ty) Điều này khác với người nắm giữ cổ phiếu
Trang 27Trái phiếu không đảm bảo (trái phiếu tín chấp): là loại trái phiếu không được đảm bảo bằng tài sản mà được đảm bảo bằng tín chấp hay uy tín của doanh nghiệp Đây thường là các trái phiếu do các công ty và doanh nghiệp lớn phát hành Nếu doanh nghiệp bị phá sản, những trái chủ của trái phiếu này được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có bảo đảm, nhưng trước các cổ đông Các trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi cho phép các trái chủ được quyền chuyển trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành Tùy theo quy định, việc chuyển đổi có thể được tiến hành vào bất cứ thời điểm nào, hoặc chỉ vào những thời điểm cụ thể xác định
Ngoài những đặc điểm trên, mỗi đợt phát hành trái phiếu lại được gắn kèm theo những đặc tính riêng khác nữa nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một bên nào
đó, cụ thể là:
Trái phiếu có thể mua lại: cho phép người phát hành mua lại trái phiếu trước khi đáo hạn khi thấy cần thiết Đặc tính này có lợi cho người phát hành song lại bất lợi cho người đầu tư, nên loại trái phiếu này có thể có lãi suất cao hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn
Trái phiếu có thể bán lại: cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại trái phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn Quyền chủ động trong trường hợp này thuộc về nhà đầu tư, do đó lãi suất của trái phiếu này có thể thấp hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn
Trái phiếu có thể chuyển đổi: cho phép người nắm giữ nó có thể chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu thường, tức là thay đổi tư cách từ người chủ nợ trở thành người chủ sở hữu của công ty Loại trái phiếu này thuộc vào nhóm hàng hoá chứng khoán có thể chuyển đổi Đây là loại trái phiếu rất hấp dẫn, thường được nhiều công ty cổ phần áp dụng Điều kiện chuyển đổi gần giống với cổ phiếu ưu đãi có khả năng chuyển đổi, với chỉ số chuyển đổi và thời hạn chuyển đổi đã được xác định, đó đó chủ sở hữu chỉ được hưởng lợi tài chính khi giá cổ phiếu thường cao hơn trên thị trường
Trang 28Trái phiếu lãi suất chiết khấu: là trái phiếu lãi suất được trả ngay khi phát hành được khấu trừ vào vốn mua trái phiếu
Trái phiếu lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu mà lãi suất được điều chỉnh theo từng thời kỳ phù hợp với lãi suất thị trường
Trái phiếu có lãi suất cố định: là loại trái phiếu mà doanh nghiệp phải trả một mức lãi suất cố định được quy định ngay từ thời điểm phát hành
Trái phiếu kèm quyền mua cổ phiếu: là loại trái phiếu cho phép trái chủ được quyền mua thêm một số lượng cổ phiếu thường ở mức giá xác định và trong khoảng thời gian xác định
Trái phiếu thu nhập: là loại trái phiếu mà lợi tức được trả tùy thuộc vào lợi nhuận doanh nghiệp và không cao hơn lãi suất ghi trên trái phiếu Đây là loại trái phiếu lai tạp, gần giống với cổ phiếu ưu đãi không tích lũy
Ngoài ra, còn có rất nhiều loại trái phiếu doanh nghiệp khác tùy thuộc vào đặc điểm và việc phân loại dựa vào mệnh giá, tỷ suất lợi nhuận, thời gian đáo hạn và nhà phát hành…
1.2 Phát hành TPDN - Một phương thức huy động vốn nợ của Doanh nghiệp
1.2.1 Huy động vốn của Doanh nghiệp
Để tiến hành sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải có vốn Vốn là điều kiện cần thiết, cơ bản với mỗi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Vốn là điều kiện để các doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng các yếu tố đầu vào…giúp tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp để phát triển trên thị trường cần phải có một lượng vốn nhất định đủ lớn như là một tiền đề quyết định cho sự tồn tại và phát triển này Sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường và sự tiến bộ trong khoa học công nghệ là những nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó doanh nghiệp không có sự lựa chọn nào khác là phải hoàn thiện mình và phải ngày càng cải tiến chất lượng sản phẩm dịch vụ, và doanh nghiệp rất cần có vốn để thực hiện mục tiêu này
Trang 29Tuy nhiên, để đi đến quyết định đầu tư, doanh nghiệp không thể không tính đến khả năng tài chính của mình Mỗi doanh nghiệp chỉ có nguồn tài chính trong giới hạn nhất định, bao gồm vốn tự có và vốn từ các kênh huy động Doanh nghiệp không thể quyết định đầu tư ở những dự án vượt quá khả năng tài chính của mình Một thực tế hiện nay, các doanh nghiệp luôn trong tình trạng thiếu vốn nghiêm trọng Do đó, để đảm bảo nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải chủ động đi tìm các nguồn vốn bên ngoài Huy động đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn đề lớn
Để sử dụng và quản lý vốn hiệu quả, doanh nghiệp phải phân loại vốn Tùy theo loại hình doanh nghiệp và đặc điểm cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn phương thức phù hợp nhất cho doanh nghiệp mình Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại nguồn vốn của doanh nghiệp Phân loại theo nguồn hình thành thì Vốn doanh nghiệp được phân loại thành 2 loại chính là Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả Vốn chủ sở hữu là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong các công ty cổ phần Nếu chia nhỏ thì vốn chủ sở hữu bao gồm các bộ phận như: Vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia, vốn do phát hành cổ phiếu mới…Còn nợ phải trả là phần vốn không thuộc sở hữu của các chủ sở hữu doanh nghiệp bao gồm các khoản vốn chiếm dụng và nợ vay
Một doanh nghiệp muốn huy động vốn thì sẽ phải xem xét các phương thức huy động vốn Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp được đa dạng hóa Tùy theo điều kiện phát triển của thị trường tài chính ở quốc gia đó, tùy theo loại hình doanh nghiệp và đặc điểm hoạt động kinh doanh cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức tạo vốn và huy động vốn khác nhau Thông thường thì doanh nghiệp sẽ thường huy động vốn chủ sở hữu và huy động vốn nợ
Các hình thức huy động vốn chủ sở hữu chủ yếu là huy động từ:
- Vốn góp ban đầu
Trang 30- Lợi nhuận không chia
- Phát hành cổ phiếu mới
- Tham gia liên doanh liên kết
Các hình thức huy động nợ chủ yếu là huy động từ:
1.2.2.1 Vốn góp ban đầu
Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do cổ đông – chủ sở hữu góp Khi nói đến nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình thức sở hữu của doanh nghiệp đó Vì hình thức sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp
- Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của Nhà nước, chủ sở hữu doanh nghiệp Nhà nước là Nhà nước
- Đối với các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh ngiệp, chủ doanh nghiệp phải có số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp
Trang 31Chẳng hạn, đối với công ty cổ phần, vốn góp của các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ
- Trong các loại hình doanh nghiệp khác như công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nguồn vốn cũng tương tự như trên, tức là vốn có thể do chủ nhân bỏ ra, do các bên tham gia góp, các đối tác góp… 1.2.2.2 Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia
Nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận không chia là một bộ phận lợi nhuận được
sử dụng để tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quy mô vốn góp ban đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng Tuy nhiên, thông thường số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của doanh nghiệp Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn
Đối với Doanh nghiệp Nhà nước thì việc tái đầu tư không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh lời của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính sách tái đầu tư của Nhà nước
Đối với công ty cổ phần: Công ty để lại một phần lợi nhuận vào tái đầu tư, tức là không dùng số lãi đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không được nhận tiền lãi cổ phần nhưng bù lại, họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty Điều này một mặt, khuyến khích các cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, nhưng mặt khác
dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ trước mắt do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn
Vốn góp ban đầu và lợi nhuận không chia được gọi là hình thức tự tài trợ của doanh nghiệp Hình thức này có một số ýu nhýợc ðiểm sau:
a/ Ưu điểm
- Doanh nghiệp không bị phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài (Ngân hàng…)
- Tăng khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp
- Giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong các quan hệ tín dụng tại các ngân hàng, các tổ chức tín dụng hoặc với các cổ đông
Trang 32- Nguồn lợi nhuận để lại có tác động rất lớn đến nguồn vốn kinh doanh, tạo cơ hội cho công ty thu được lợi nhuận cao hơn trong các năm tiếp theo
b/ Nhược điểm
- Khi doanh nghiệp không trả cổ tức cho cổ đông mà giữ lại lợi nhuận có thể làm cho giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường giảm xuống, nó có ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp
1.2.2.3 Phát hành cổ phiếu mới
Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích sở hữu hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với vốn của tổ chức phát hành Doanh nghiệp có thể phát hành các loại cổ phiếu sau:
- Cổ phiếu thường: là loại cổ phiếu được phát hành bằng nguồn lợi nhuận
để lại hoặc các nguồn vốn chủ sở hữu hợp pháp khác của công ty cổ phần và không có sự ưu tiên đặc biệt nào trong việc chi trả cổ tức hay thanh lý tài sản khi công ty phá sản
- Cổ phiếu ưu đãi: là loại cổ phiếu được phát hành bằng nguồn lợi nhuận để lại hoặc các nguồn vốn chủ sở hữu hợp pháp khác của công ty cổ phần nhưng có sự ưu tiên đặc biệt trong việc chi trả cổ tức hay thanh lý tài sản khi công ty phá sản Khi phát hành cổ phiếu ưu đãi, doanh nghiệp vừa tăng được vốn chủ sở hữu nhưng lại không bị san sẻ quyền lãnh đạo, việc phá hành vẫn hấp dẫn người đầu tư bỉ tỷ lệ cổ tức được đảm bảo tương đối ổn định Thông thường cổ phiếu ưu đãi chỉ chiếm một
tỷ trọng nhỏ trong vốn cổ phần của công ty
1.2.2.4 Tham gia liên doanh liên kết
Bên cạnh những hình thức huy động vốn trong nước thì hình thức liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ với nhau và với các doanh nghiệp nước ngoài cũng được coi là phương thức hữu hiệu để giải quyết bài toán khó khăn về vốn hiện nay Phương thức này đặc biệt hiệu quả trong lĩnh vực đầu tư
có lượng vốn lớn: không chỉ tập trung được nguồn lực, tránh sự rủi ro mà còn thúc đẩy tiến độ các dự án
Trang 33Để huy động vốn qua hình thức liên doanh liên kết: Doanh nghiệp có thể huy động từ các doanh nghiệp trong nước để cùng góp vốn, cùng chịu trách nhiệm và cùng chia lợi nhuận đạt được và cùng liên kết sản xuất Doanh nghiệp cũng có thể tìm các tổ chức nước ngoài để liên doanh liên kết Tỷ lệ góp vốn của mỗi bên sẽ quyết định tới mức độ tham gia quản lý doanh nghiệp, tỷ lệ lợi nhuận được hưởng cũng như rủi ro mỗi bên tham gia liên doanh phải gánh chịu
Với các doanh nghiệp nhỏ, liên kết với nhau để tập trung nguồn lực, giải quyết vấn đề vốn trước mắt đang là giải pháp số một Việc liên doanh, liên kết này có thể được tiến hành theo hình thức công ty cổ phần Khi liên doanh được thành lập, việc quản lư sẽ chặt chẽ hơn, các doanh nghiệp có tính liên kết cao trong mọi hoạt động
và có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn Nhờ có vốn, các dự án sẽ được triển khai thực hiện một cách nhanh chóng dễ dàng, có lợi cho đôi bên Doanh nghiệp không những có thêm lợi nhuận mà còn được chia sẽ bớt rủi ro khi đầu tư Với các doanh nghiệp lớn hơn, việc liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài mạnh về vốn, về kinh nghiệm sẽ là một hướng đi tích cực Việc liên kết này
sẽ đưa lại nguồn vốn đang khát đồng thời bổ sung những kinh nghiệm, kiến thức quản lý cho các doanh nghiệp Tuy nhiên, đối tác nước ngoài thường có những phân tích, đánh giá rất kỹ về năng lực, quy mô, vị trí dự án, tiềm năng và tính thu hút của sản phẩm Cho nên phương thức này không áp dụng được với các doanh nghiệp nhỏ, yếu mà chỉ áp dụng với các doanh nghiệp lớn có tiềm lực
Doanh nghiệp liên doanh là hình thức doanh nghiệp thực sự đem lại nhiều lợi thế cho cả nhà đầu tư Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài Đối với các nhà đầu tư Việt Nam, khi tham gia doanh nghiệp liên doanh, ngoài việc tượng phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp, nhà đầu tư Việt Nam còn có điều kiện tiếp cận với công nghệ hiện đại, phong cách và trình độ quản lý kinh tế tiên tiến đối với bên nước ngoài, lợi thế được hưởng là được đảm bảo khả năng thành công cao hơn do môi trường kinh doanh, pháp lý hoàn toàn xa lạ nêu không có bên Việt Nam thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn Tuy nhiên, hình thức doanh nghiệp liên doanh cũng có sự bất lợi là
có sự ràng buộc chặt chẽ trong một pháp nhân chung giữa các bên hoàn toàn khác
Trang 34nhau không chỉ về ngôn ngữ mà còn về truyền thống, phong tục, tập quán, phong cách kinh doanh, do vậy có thể phát sinh những mâu thuẫn không dễ gì giải quyết
1.2.3 Huy động vốn nợ
1.2.3.1 Tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp hàng hóa Đến thời hạn đã thỏa thuận doanh nghiệp mua phải hoàn trả cả vốn gốc và lãi cho doanh nghiệp bán dưới hình thức tiền tệ
Mua bán chịu hàng hoá là hình thức tín dụng, vì:
- Người bán chuyển giao cho người mua để sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất định
- Đến thời hạn được thoả thuận, người mua hoàn lại vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ và cả phần lãi suất
Khi doanh nghiệp mua nguyên liệu, hàng hóa chưa phải trả tiền ngay là doanh nghiệp đã được nhà cung cấp cho vay nên hình thức này còn được gọi là tín dụng của nhà cung cấp
Để đảm bảo người mua chịu trả nợ đúng hạn, bên cạnh sự tin tưởng, người bán chịu còn đòi hỏi phải có một chứng cứ pháp lý, đó chính là tờ giấy chứng nhận quan
hệ mua bán chịu trên, tờ giấy chứng nhận này có thể do chủ nợ lập để đòi tiền, hoặc
do con nợ lập ðể cam kết trả tiền, nó ðýợc gọi là giấy nợ
Cõ sở pháp lý xác định quan hệ nợ nần của tín dụng thương mại là giấy nợ - một dạng đặc biệt của khế ước dân sự xác định trái quyền cho người bán và nghĩa
vụ phải thanh toán nợ của người mua giấy nợ trong quan hệ tín dụng thương mại được gọi là kỳ phiếu thương mại (thương phiếu), với 2 loại: hối phiếu và lệnh phiếu Hối phiếu là một thương phiếu do chủ nợ lập ra để ra lệnh cho người thiếu nợ trả một số tiền nhất định cho người hưởng thụ khi món nợ đáo hạn Người hưởng thụ
có thể là người phát hành, cũng có thể là thứ ba
Trang 35Lệnh phiếu là một thương phiếu do người thiếu nợ lập ra để cam kết trả một số tiền nợ nhất định khi đến hạn cho chủ nợ
Về hình thức, thương phiếu được chia ra ba loại:
- Thương phiếu vô danh, không ghi tên người thụ hưởng
- Thương phiếu ký danh; có ghi tên người thụ hưởng
- Thương phiếu định danh, có ghi tên như thương phiếu ký danh nhưng không chuyển nhượng cho người khác
Chi phí của tín dụng thương mại: Trong trường hợp giá mua chịu và giá mua trả tiền ngay có sự chênh lệch, thường là chênh lệch phải chịu giá cao hơn thì chi phí tín dụng thương mại là chênh lệch giữa giá bán chịu và giá trả tiền ngay Thông thường, các nhà cung cấp thường có kèm theo các điều kiện chiết khấu
để khuyến khích khách hàng sớm trả tiền Với những trường hợp này, chi phí của tín dụng thương mại là chi phí mà khi người mua không thanh toán được tiền trong thời hạn được hưởng chiết khấu Lúc này người mua đã mất khoản chiết khấu mà có thể coi là chi phí cơ hội mà doanh nghiệp phải trả để được sử dụng khoản tiền mua hàng trong thời gian kể từ sau ngày được hưởng chiết khấu Chi phí này ính cho 1 năm, có thể được tính như sau:
Trong đó: i - tỷ lệ chiết khấu
n – số ngày mua chịu
t – thời gian hưởng chiết khấu (ngày)
Trên thực tế, loại hình tín dụng này thường có thời hạn rất ngắn và thường có lãi suất ngầm ẩn cao hơn rất nhiều so với lãi suất có kỳ hạn tương đương của vốn vay từ ngân hàng thương mại Nguồn vốn tín dụng thương mại này có một số ưu và nhược điểm như sau:
a/ Ưu điểm
Trang 36- Tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh do doanh nghiệp sẽ vay trực tiếp bằng nguyên vật liệu và số lượng có thể thay đổi mỗi khi ký hợp đồng
- Giúp doanh nghiệp mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền
- Chủ động khi huy động vốn: chủ động về thời gian, số lượng, nhà cung ứng
- Huy động nhanh chóng dễ dàng
- Không phải chịu sự giám sát của ngân hàng cũng như các cơ quan nhà nước
- Ngoài ra, đối với doanh nghiệp làm chủ nợ: có thể vay ngân hàng thông qua hình thức chiết khấu thương phiếu (bán hoặc cầm cố)
b/ Nhược điểm
+ Tín dụng thương mại được cấp bằng hàng hoá nên doanh nghiệp cho vay chỉ
có thể cung cấp được cho một số doanh nghiệp nhất định - những doanh nghiệp cần đúng thứ hàng hoá đó để phục vụ sản xuất hoặc bán ra
+ Phạm vi hẹp, chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp, hơn nữa là chỉ thực hiện được giữa các doanh nghiệp quen biết, tín nhiệm lẫn nhau
+ Tín dụng thương mại do các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất kinh doanh cung cấp, vì vậy qui mô tín dụng chỉ được giới hạn trong khả năng vốn hàng hoá mà
họ có Nếu doanh nghiệp vay vốn có nhu cầu cao hơn thì doanh nghiệp cho vay không thể đáp ứng được
+ Điều kiện kinh doanh và chu kỳ sản xuất của các doanh nghiệp có thể không phù hợp nhau, do vậy khi thời gian mà doanh nghiệp cho vay muốn cung cấp không phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp cần đi vay thì tín dụng thương mại không thể xảy ra
+ Là loại tín dụng không có đảm bảo nên rủi ro dễ phát sinh
Trang 37Quan hệ tín dụng thuê mua được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa người đi thuê tài sản và người cho thuê Thỏa thuận thuê mua là một hợp đồng giữa hai hay nhiều bên, liên quan đến một hay nhiều tài sản Người cho thuê sẽ chuyển giao tài sản cho người đi thuê trong một khoảng thời gian nhất định Đổi lại người đi thuê phải trả một số tiền cho chủ tài sản tương ứng với quyền sử dụng
Có hai phương thức giao dịch chủ yếu là phương thức thuê vận hành và phương thức thuê tài chính
a/ Thuê tài chính
Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng giữa bên thuê và bên cho thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết
bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã thoả thuận Khi kết thúc thời hạn thuê bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản hoặc tiếp tục thuê
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, việc đổi mới công nghệ, máy móc thiết
bị ở các doanh nghiệp sản xuất là một đòi hỏi bức thiết trong bối cảnh hội nhập để nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như năng suất lao động, giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh trên thị trường Phần lớn các trang thiết bị của nhiều doanh nghiệp đã lạc hậu từ 2-3 thế hệ so với các nước tiên tiến Song vấn đề ở chỗ doanh nghiệp lấy vốn
ở đâu? Hiện nay lượng vốn dài hạn đầu tư cho các dự án này ở các doanh nghiệp Việt nam là hết sức khiêm tốn Kênh tài trợ quen thuộc vẫn là đi vay ở các ngân hàng thương mại Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp mới ra đời không có đủ tài sản đảm bảo cũng như uy tín thì việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng quả là khó khăn Trong những trường hợp như vậy, đi thuê tài chính có thể là một giải pháp tối ưu
Vậy thật ra thuê tài chính khác gì với thuê thông thường mà nó lại có khả năng
là một kênh tín dụng hữu hiệu cho doanh nghiệp Chúng ta biết rằng khi doanh
Trang 38nghiệp cần mua sắm trang thiết bị sản xuất có thể sử dụng hình thức thuê tài sản Nếu hợp đồng thuê tài sản gần như kéo dài suốt vòng đời hữu ích của nó và không thể hủy ngang hoặc chỉ được hủy ngang khi doanh nghiệp đã bồi thường thỏa đáng cho bên cho thuê thì gọi là thuê tài chính Ngược lại, thuê tài sản trong thời gian ngắn, và có thể hủy ngang tùy theo ý muốn chủ quan của doanh nghiệp đi thuê gọi
là thuê hoạt động (thuê thông thường)
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì một giao dịch được gọi là thuê tài chính phải thoả mãn một trong những điêu kiện:
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền
sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại;
- Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết
để khấu hao tài sản thuê;
- Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng
Do đó cho thuê tài chính thực ra là một hình thức cấp tín dụng Khi một hợp đồng thuê tài chính được ký kết, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được cấp một khoản vốn Khoản vốn này có được do doanh nghiệp không phải bỏ tiền ra mua tài sản mà vẫn có tài sản sử dụng lâu dài cho hoạt động sản xuất kinh doanh Vì đáng lẽ
ra, có thể doanh nghiệp đã phải đi vay một số vốn tương đương giá trị tài sản trong hợp đồng thuê trả cho công ty cho thuê tài chính bao gồm cả vốn gốc và lãi Các hình thức của thuê tài chính
Nếu máy móc, trang thiết bị do chính doanh nghiệp lựa chọn và thỏa thuận với công ty cho thuê để mua tài sản đúng nhãn hàng mình cần thì hình thức đó gọi là thuê trực tiếp Ngoài ra, thuê tài chính còn có một hình thức khá phổ biến trong lĩnh vực bất động sản nữa là hình thức bán và thuê lại (Sale and lease-back) Công
Trang 39ty cho thuê tài chính sẽ mua tài sản của doanh nghiệp, trả cho doanh nghiệp một khoản tiền mặt rồi cho doanh nghiệp thuê lại tài sản đó Thuê tài sản mua bằng vốn vay (Leverage leases) cũng là một hình thức thuê tài chính khác dễ bắt gặp Trong hình thức này có sự tham gia của 3 bên: bên ði thuê, bên cho thuê và nhà cho vay Ở ðây, nghĩa vụ của doanh nghiệp ði thuê không có gì thay đổi, chỉ khác là bên cho thuê đã sử dụng hợp đồng cho thuê để thế chấp cho nhà cho vay nhằm đảm bảo cho một khoản vay nào đó
Trên thế giới cho thuê tài chính đã xuất hiện từ rất sớm và phát triển mạnh mẽ
từ những năm 60 của thế kỷ trước Các sản phẩm cho thuê tài chính ngày càng đa dạng, từ máy fax, máy photocopy cho đến xe tải, máy bay, tàu thủy… Ở Việt Nam, hoạt động này có mặt từ năm 1995 sau quyết định số 149/QĐ - NH5 ngày 17/5/1995 của NHNNVN Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động cho thuê tài chính trong những năm gần đây bước đầu cho thấy được ưu điểm nổi trội của kênh tín dụng này đối với các doanh nghiệp Việt nam, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Lợi ích của doanh nghiệp
Thông thường đối với các khoản vốn vay trung và dài hạn, các ngân hàng thương mại luôn đòi hỏi tài sản đảm bảo (thế chấp hoặc cầm cố) và chỉ cho vay tối đa là 80% tổng chi phí thực hiện dự án, nhưng với kênh cho thuê tài chính, doanh nghiệp chẳng những không cần ký quỹ đảm bảo hay tài sản thế chấp mà còn có thể được tài trợ đến 100% vốn đầu tư Lãi suất hoàn toàn dựa trên sự thỏa thuận của 2 bên
Kênh tín dụng này cũng cho phép doanh nghiệp được hoàn toàn chủ động trong việc lựa chọn máy móc thiết bị, nhà cung cấp, cũng như mẫu mã chủng loại phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp mình
Ngoài ra nếu doanh nghiệp đã lỡ đầu tư mua tài sản mà thiếu vốn lưu động thì vẫn có thể bán lại cho công ty cho thuê tài chính và sau đó công ty sẽ cho doanh nghiệp thuê lại Như vậy doanh nghiệp vừa có vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh mà vẫn được sử dụng tài sản
Kết thúc thời hạn thuê, doanh nghiệp được quyền ưu tiên mua lại tài sản với giá trị danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm mua lại
Trang 40Bên cạnh đó một ưu điểm vô cùng quan trọng nữa của hình thức cho thuê tài chính đó là lợi ích được hưởng từ tấm chắn thuế Tài sản cho thuê tài chính vẫn thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê nên bên cho thuê được phép khấu hao tài sản đó, làm giảm thuế thu nhập phải nộp Mặt khác, bên đi thuê phải trả chi phí thuê, chi phí đó được khấu trừ trước thuế nên cũng làm giảm thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp Như vậy cả hai doanh nghiệp đều nhận được lợi ích từ tấm chắn thuế
Qua những nét phác họa cơ bản trên, kênh tín dụng cho thuê tài chính có thể là một sự lựa chọn tốt cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi có nhu cầu Một đôi điều doanh nghiệp cần biết khi tiếp cận với hình thức tín dụng này là :
b/ Thuê vận hành
Cho thuê vận hành (Cho thuê hoạt động) là hình thức cho thuê tài sản, theo đó Bên thuê sử dụng tài sản cho thuê của Bên cho thuê trong một thời gian nhất định và sẽ trả lại tài sản đó cho Bên cho thuê khi kết thúc thời hạn thuê tài sản Bên cho thuê giữ quyền sở hữu tài sản cho thuê và nhận tiền cho thuê theo hợp đồng cho thuê
Cho thuê vận hành còn được gọi là cho thuê hoạt động là dịch vụ mới mà NHNN Việt Nam đã cho phép các công ty cho thuê tài chính cung cấp Theo đó doanh nghiệp sẽ thuê tài sản của công ty cho thuê tài chính trong một thời gian nhất định và hết thời hạn sẽ chuyển trả về cho công ty cho thuê tài chính, không có hợp đồng mua bán giữa hai bên như cho thuê tài chính
Dịch vụ này được các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và những doanh nghiệp có thời gian hoạt động ngắn rất ưa chuộng Ở nước ngoài dịch vụ cho thuê vận hành phát triển song hành với dịch vụ cho thuê tài chính Tuy nhiên ở nước ta dịch vụ cho thuê vận hành vẫn chưa được phổ biến nhiều do bị vướng ở một quy định của nhà nước về cho thuê vận hành Với quy định hiện nay, hợp đồng cho thuê vận hành của các công ty cho thuê tài chính chịu sự quản lý của NHNN Việt Nam Trong tương lai khi NHNN Việt Nam sửa đổi các điều khoản, các luật đối với cho thuê tài chính thì có thể các công ty cho thuê tài chính sẽ thực hiện nghiệp vụ này một cách rộng rãi Về nguyên tắc, doanh nghiệp đang thuê tài chính chưa kết