1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị của thành phố hà nội

105 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị của thành phố Hà Nội
Tác giả Lê Huỳnh Mai
Người hướng dẫn TS. Lê Thu Hoa
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế - Quản lý môi trường
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I (6)
    • 1.1. RÁC THẢI ĐÔ THỊ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ - XÃ HỘI (6)
      • 1.1.1. Khái niệm về môi trường (6)
      • 1.1.2. Khái niệm rác thải đô thị (6)
      • 1.1.3. Nguyên nhân làm gia tăng phát sinh rác thải đô thị (7)
        • 1.1.3.1. Quá trình đô thị hóa nhanh (7)
        • 1.1.3.2. Quá trình công nghiệp hóa (11)
        • 1.1.3.3. Gia tăng tiêu dùng và thay đổi mô hình tiêu dùng (13)
      • 1.1.4. Tác động của rác thải đô thị đến môi trường tự nhiên (15)
        • 1.1.4.1. Ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị (15)
        • 1.1.4.2. Ảnh hưởng đến môi trường không khí (15)
        • 1.1.4.3. Ảnh hưởng đến môi trường nước (16)
        • 1.1.4.4. Ảnh hưởng đến môi trường đất (17)
      • 1.1.5. Tác động của rác thải đô thị đến phát triển kinh tế - xã hội (17)
        • 1.1.5.1. Tác động xấu đến phát triển các ngành và các lĩnh vực kinh tế (18)
        • 1.1.5.2. Tác động xấu đến xã hội (20)
    • 1.2. ĐẦU TƯ CHO BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC THU (21)
      • 1.2.1. Một số khái niệm liên quan (21)
        • 1.2.1.1. Khái niệm đầu tư (21)
        • 1.2.1.2. Khái niệm đầu tư cho bảo vệ môi trường (22)
        • 1.2.1.3. Vốn đầu tư và phân loại nguồn vốn đầu tư (22)
        • 1.2.1.4. Đầu tư bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị (24)
        • 1.2.1.5. Một số tiêu chí đánh giá đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị (27)
      • 1.2.2. Các yếu tố tác động đến đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực (29)
        • 1.2.2.4. Yếu tố chủ quan (29)
        • 1.2.2.4. Yếu tố khách quan (32)
    • 1.3. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ VÙNG LÃNH THỔ (33)
      • 1.3.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc (33)
      • 1.3.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản (34)
      • 1.3.3. Kinh nghiệm của Singapore (36)
      • 1.3.4. Kinh nghiệm của các quốc gia khác (38)
        • 1.3.4.1. Kinh nghiệm của Pháp (38)
        • 1.3.4.2. Kinh nghiệm của Đức (38)
        • 1.3.4.3. Kinh nghiệm của Bỉ (39)
      • 1.3.5. Bài học rút ra từ kinh nghiệm của các nước cho đầu tư bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị (40)
  • CHƯƠNG II (44)
    • 2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HÀ NỘI (44)
      • 2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên (44)
      • 2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (45)
      • 2.1.3. Về điều kiện văn hoá - xã hội (49)
      • 2.1.4. Phát triển đô thị (50)
    • 2.2. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CHO BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI ĐÔ THỊ Ở HÀ NỘI NHỮNG NĂM VỪA QUA (51)
      • 2.2.1. Thực trạng rác thải Hà Nội những năm vừa qua (51)
      • 2.2.2. Thực trạng đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị ở Hà Nội thời gian qua (55)
        • 2.2.2.1. Chủ trương của thành phố về thu gom và xử lý rác thải đô thị (55)
        • 2.2.2.2. Nguồn và số lượng vốn đầu tư (57)
      • 2.2.3. Đánh giá chung (66)
        • 2.2.3.2. Những hạn chế trong đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị ở Hà Nội (68)
        • 2.2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế (73)
  • CHƯƠNG III (75)
    • 3.1. CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP (75)
      • 3.1.1. Dự báo xu thế phát triển đô thị hóa ở Hà Nội đến năm 2010 và 2020 (75)
      • 3.1.2. Gia tăng dân số và phát sinh rác thải đô thị (77)
    • 3.2. Thực trạng đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị thời gian qua (80)
    • 3.2. ĐỊNH HƯỚNG ĐẦU TƯ CHO BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI ĐÔ THỊ CỦA HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2010 VÀ 2020 (81)
      • 3.2.1. Đầu tư cho công tác bảo vệ môi trương nói chung theo đúng tinh thần của Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định 34/2005/QĐ- (81)
      • 3.2.2. Ưu tiên đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến rác thải theo công nghệ hiện đại (82)
      • 3.2.3. Đầu tư tập trung, dứt điểm, không đầu tư dàn trải và kéo dài (0)
    • 3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG ĐẦU TƯ CHO BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI ĐÔ THỊ CỦA HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2010 VÀ ĐỊNH HƯỚNG 2020 (85)
      • 3.3.1. Xây dựng hệ thống các quy định về quản lý rác thải (85)
      • 3.3.2. Tăng mức đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị từ nguồn vốn ngân sách của Thành phố (86)
      • 3.3.3. Điều chỉnh phí thu gom rác thải (87)
      • 3.3.4. Tăng cường xã hội hóa đầu tư (88)
      • 3.3.5. Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài (88)
      • 3.3.6. Tăng cường quản lý, sử dụng các nguồn vốn đầu tư cho thu gom và xử lý rác thải đô thị (89)
  • KẾT LUẬN (90)

Nội dung

Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hiện nay, mỗi ngày thành phố Hà Nội có 3730 tấn chất thải rắn các loại, trong đó rác thải đô thị khoảng 2800 tấn, chất thải rắn công nghiệp

Trang 1

LÊ HUỲNH MAI

ĐẦU TƯ CHO BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI ĐÔ THỊ

CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ - QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ THU HOA

HÀ NỘI, NĂM 2007

Trang 2

MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thăng Long – Hà Nội đang chuẩn bị bước vào 1000 năm tuổi, năm 2010 Với bề dày lịch sử của mình, Hà Nội luôn không ngừng phát triển để thực sự trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật và giao thương lớn của đất nước

Nhưng cùng với sự phát triển nhanh của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá, tốc độ gia tăng dân số của Hà Nội những năm vừa qua cũng hết sức nhanh Theo niên giám thống kê Hà Nội, năm 1954 Hà Nội mới có 30 vạn dân thì đến năm 1990 con số đó là 2.051.900 người, và năm

2005 là 3.180.000 người Dân số tăng, kinh tế phát triển nhanh và mạnh, đời sống mọi mặt của người dân không ngừng được cải thiện Trong vòng quay của cuộc sống không ngừng phát triển đó, con người không chỉ tiêu thụ và sử dụng một số lượng lớn các nguyên liệu, sản phẩm từ thiên nhiên, từ sản xuất

để tồn tại, mà đồng thời cũng vứt thải lại cho thiên nhiên và môi trường sống các phế thải, rác thải Nền kinh tế - xã hội càng phát triển, dân số càng tăng nhanh thì phế thải và rác thải đô thị càng nhiều và ảnh hưởng trực tiếp trở lại đời sống của con người: gây ô nhiễm môi trường, gây bệnh tật, làm giảm sức khỏe cộng đồng, chiếm đất đai để chôn lấp, làm bãi thải, làm bãi rác, làm mất cảnh quan các khu dân cư đô thị.v.v… Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hiện nay, mỗi ngày thành phố Hà Nội có 3730 tấn chất thải rắn các loại, trong đó rác thải đô thị khoảng 2800 tấn, chất thải rắn công nghiệp phát sinh mỗi năm là hơn 164.250 tấn, chiếm tỷ lệ hơn 13% tổng lượng chất thải phát sinh của toàn thành phố Số lượng chất thải rắn đô thị mỗi năm Hà Nội cần thu gom và xử lý đến hơn 1 triệu tấn Xử lý khối lượng rác đô thị khổng lồ này nhằm bảo vệ cho môi trường Thủ đô luôn sạch, đẹp là một công

Trang 3

việc khó khăn đòi hỏi sự nỗ lực không chỉ của chính quyền Thành phố, mà còn cả của các doanh nghiệp và nhân dân Thủ đô

Có thể nói, chất thải nói chung và chất thải đô thị nói riêng là bộ phận tất yếu của mọi nền kinh tế, không riêng của Hà Nội Tuy nhiên, từ trước đến nay, việc thu gom và xử lý rác thải đô thị ở Hà Nội chủ yếu được đầu tư từ Ngân sách Thành phố Nhưng do nguồn thu của Thành phố hạn hẹp, nên lượng kinh phí đầu tư cho lĩnh vực này còn khá khiêm tốn Hiện Thành phố cũng đang tiến hành đẩy mạnh xã hội hoá lĩnh vực này, nhưng kết quả thực hiện chưa cao Chính vì thế, các phương tiện thu gom, xử lý rác thải đô thị của Hà Nội nói chung còn khá lạc hậu, điều kiện làm việc của những người lao động trong lĩnh vực này còn thấp kém Vấn đề ô nhiễm môi trường do rác thải đô thị gây ra vẫn còn là vấn đề hết sức đáng lo ngại của Hà Nội hiện nay

Vì vậy, việc mở rộng và tăng cường hơn nữa đầu tư cho xử lý rác thải đô thị ở

Hà Nội trong thời gian tới là một đòi hỏi hết sức cấp bách

Xuất phát từ đòi hỏi bức xúc đó, tác giả đã chọn vấn đề: “Đầu tư cho bảo

vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị của thành phố

Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

Luận văn nhằm vào 3 mục tiêu chủ yếu sau:

1 Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đầu

tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị

2 Đánh giá thực trạng đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị của Hà Nội những năm vừa qua

Trang 4

3 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm huy động nguồn lực tài chính

để đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị của Hà Nội đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: tình hình đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải tại Hà Nội

2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ giới hạn ở đầu tư cho thu gom và

xử lý rác thải đô thị (bao gồm rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp, không tính đến rác thải nguy hại) trên địa bàn Thành phố Hà Nội

3 Thời gian nghiên cứu: Tập trung chính là giai đoạn 2001 đến năm

2005

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài sử dụng các

phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

1 Phương pháp phân tích tổng hợp và kế thừa các kết quả nghiên cứu đã

có về quản lý chất thải rắn đô thị và đầu tư cho thu gom, xử lý rác thải đô thị

2 Điều tra, khảo sát thực tế tại một số đơn vị có liên quan đến đầu tư cho

xử lý rác thải và các đơn vị trực tiếp thu gom, xử lý rác thải đô thị của thành phố Hà Nội để thu thập số liệu

3 Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của các nhà khoa học, các nhà quản lý am hiểu sâu vấn đề mà luận văn nghiên cứu nhằm kiểm chứng lại các tính toán của tác giả trong luận văn và có định hướng chính xác cho vấn

đề nghiên cứu

Trang 5

V NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Luận văn có những đóng góp chủ yếu sau đây:

1 Góp phần hệ thống hoá và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến rác thải đô thị, nguyên nhân gia tăng rác thải đô thị và tác động của rác thải đô thị đối với môi trường, đến sự phát triển của kinh tế -

xã hội và sự cần thiết phải đầu tư để giải quyết vấn đề đó

2 Đánh giá thực trạng rác thải, việc thu gom ,xử lý rác thải nói chung và thực trạng đầu tư cho thu gom và xử lý rác thải ở Hà Nội thời gian qua nói riêng, trong đó trọng tâm là giai đoạn 2001-2005

3 Đề xuất các quan điểm, định hướng và các giải pháp chủ yếu, có cơ sở khoa học, có tính khả thi nhằm tăng cường đầu tư cho thu gom và xử lý rác thải đô thị trên địa bàn Thủ đô, làm cho môi trường của Hà Nội ngày càng tốt hơn

VI KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đầu tư cho bảo vệ môi

trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị

CHƯƠNG II: Thực trạng đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu

gom và xử lý rác thải đô thị ở Thủ đô Hà Nội thời gian qua

CHƯƠNG III: Những giải pháp chủ yếu đầu tư bảo vệ môi trường trong lĩnh

vực thu gom và xử lý rác thải đô thị ở Thủ đô Hà Nội đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020

Trang 6

1.1.1 Khái niệm về môi trường

Có khá nhiều định nghĩa về môi trường đang được sử dụng trong nghiên cứu, giảng dạy và quản lý của các quốc gia trên thế giới Tùy theo vấn đề nghiên cứu và cách nhìn nhận khác nhau mà có những định nghĩa khác nhau Tuy nhiên, trong luận văn của mình, tác giả sử dụng khái niệm do Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam đưa ra, theo đó:

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao

quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.( Điều 1)

1.1.2 Khái niệm rác thải đô thị

Theo đại từ điển Tiếng Việt1 thì: “Rác là những thứ vụn vặt, vứt bỏ ra,

làm bẩn các nền mặt”

Nghị định 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn cũng đã định nghĩa:

Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh

1 Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, được Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm

1998

Trang 7

doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại

- Rác thải sinh hoạt là các chất thải rắn thải ra từ các hoạt động phục vụ cuộc sống vật chất và tinh thần của con người như: chất thải từ các loại đồ ăn, các loại vỏ đựng nước uống, các phương tiện học tập, nghe nhìn, các đồ dùng sinh hoạt củ,hỏng,rác thải từ các chợ và các siêu thị v.v…

-Chất thải rắn công nghiệp là các chất thải rắn được thải ra từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và xây dựng như:gỗ,đất đá,xi măng,sắt vụn,các loại bao bì.v.v

Như vậy, có thể hiểu: rác thải đô thị là các chất thải rắn do các hoạt

động sản xuất công nghiệp và các hoạt động phục vụ cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân đô thị tạo ra

Cũng như ở các nước trên thế giới, ở Việt Nam, rác thải đô thị phát sinh

từ các hoạt động kinh doanh và sinh hoạt, chủ yếu từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, thương mại (chợ, siêu thị) và từ dân cư đô thị với thành phần hữu cơ

là chủ yếu Và theo quy luật chung, ở các đô thị lớn hơn, phát triển hơn và các khu công nghiệp tập trung hơn sẽ có lượng rác thải phát sinh cao hơn

1.1.3 Nguyên nhân làm gia tăng phát sinh rác thải đô thị

Có thể nói, các nguyên nhân chính làm gia tăng phát sinh rác thải đô thị

là do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hóa, do tăng dân số và do tiêu dùng ngày càng tăng gây nên

1.1.3.1 Quá trình đô thị hóa nhanh

Đô thị hoá được hiểu là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị, đồng thời phát triển hệ thống đô thị

Trang 8

hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá kết cấu hạ tầng và tăng qui mô cũng như mật độ dân số Đô thị hoá kéo theo việc mở rộng địa giới hành chính, mở rộng quy mô đô thị, quy mô dân số và nâng cao mức sống, mức tiêu thụ của người dân

Rác thải đô thị là một trong những hạn chế bắt nguồn từ việc gia tăng dân số đô thị, gia tăng sản xuất công nghiệp, dịch vụ tại các đô thị do quá trình đô thị hoá tạo ra Việt Nam cũng không nằm ngoài sự phát triển đó Hiện nay, tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên ở nước ta là khoảng 1,3%/năm Như vậy tính đến năm 2010, dân số Việt Nam sẽ có khoảng 89 triệu người Tăng dân số là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng lượng rác thải đô thị Đối với các đô thị có tốc độ đô thị hóa cao, thì dân số lại càng tăng mạnh

do có thêm tăng dân số cơ học Các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, ngoài dân số tăng do tỷ lệ tăng dân số tự nhiên thì chủ yếu dân số gia tăng do tăng dân số cơ học Thu nhập cao hơn, đời sống tốt hơn ở các khu đô thị đã là sức hút hấp dẫn đối với nhiều người dân nông thôn Rất nhiều người dân ở các vùng nông thôn đổ ra thành thị để tìm kiếm việc làm với mong muốn đổi đời đã gây nên một sức ép lớn về dân số đối với các đô thị Chính điều này làm cho lượng rác thải phát sinh ở những đô thị này rất lớn

Bên cạnh lượng rác thải đô thị tăng do gia tăng dân số của quá trình đô thị hóa, thì tốc độ phát triển các khu đô thị sẽ là động lực chính làm tăng lượng phát sinh chất thải Các khu đô thị hiện nay đang không ngừng mọc lên, không ngừng mở rộng địa giới Đi liền với nó là các hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển không ngừng đã làm phát sinh lượng rác thải đô thị lớn, Lượng rác thải phát sinh không chỉ từ các hộ gia đình, các khu chợ như ở nông thôn, mà còn phát sinh từ các siêu thị, cửa hàng, nhà hàng, khách sạn, văn phòng, công sở cùng với việc tăng thu nhập và sức mua của các đô thị

Trang 9

Điều đáng nói là, ở hầu hết các thành phố, trong chất thải rắn, thì chất thải rắn đô thị chiếm tới 60-70%, một số đô thị chiếm tới 90% Theo kết quả nghiên cứu năm 2005 của Bộ Xây dựng thì lượng chất thải rắn đô thị phát sinh tăng khá đều hàng năm, trung bình từ 10-16% mỗi năm

Trong nhiều năm tới (đến năm 2020), Việt Nam sẽ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sản xuất công nghiệp dự tính duy trì mức tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 12-15% Đi liền tất yếu với nó là quy

mô và tốc độ đô thị hoá cũng sẽ tăng tương ứng (dự báo tỷ lệ đô thị hóa sẽ tăng từ mức hiện tại là 27,12% năm 2007 lên 33% vào năm 2010, như vậy dân số đô thị sẽ tăng thêm khoảng 10 triệu người) Vì thế, mặc dù có những

cố gắng trong cải thiện tình trạng lạc hậu về công nghệ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, dù có những nổ lực trong việc đổi mới cách thức tiêu dùng của người dân, song lượng rác thải sẽ vẫn tiếp tục tăng Có thể ước đoán mức phát thải tính trên đầu người ở Việt Nam vẫn gia tăng trên 10%/năm Đã có dự báo cho rằng, nếu không có giải pháp hữu hiệu giảm thiểu chất thải đô thị trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, đô thị hoá ở Việt Nam, mức gia tăng chất thải ở Việt Nam đến năm 2010 có thể tăng thêm 50-60%2

Dự báo trên là hoàn toàn có cơ sở, vì mức phát thải trung bình mỗi ngày tính trên đầu người của Việt Nam hiện còn thấp (0,9-1,2 kg) so với nhiều nước khác trong khu vực như Bangkok (Thái Lan) là 1,6 kg/người/ngày, Singapore là 2kg/người/ngày, Hồng Kông là 2,3kg/người/ngày.v.v…

Thành phần chất thải rắn đô thị thường gồm: chất hữu cơ, cao su, nhựa, giấy, bìa các tông, giẻ vụn, kim loại, thuỷ tinh, gốm sứ, đất đá, gạch cát Tuy nhiên, tỷ lệ phần trăm các chất có trong rác thải đô thị không ổn định, nó biến động theo trình độ phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là sự phát triển của công nghiệp chế biến, và sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng của người dân

2

Nguồn: VEM 2004

Trang 10

ở từng dân tộc, từng địa bàn dân cư nhất định Tuy nhiên, tỷ lệ thành phần các chất hữu cơ thường chiếm từ 40-65% tổng lượng rác thải và thành phố càng lớn lượng rác thải đô thị tăng càng nhanh

Bảng 1.1:

Khối lƣợng chất thải rắn của một số đô thị Miền Bắc giai đoạn 2000-2004

Đơn vị tính: tấn/ngày Năm Hà Nội Hải Phòng Nam Định Thái

Trang 11

Hình 1.1

Khối lƣợng chất thải rắn của một số đô thị Miền Bắc giai đoạn 2000-2004

0 500 1000 1500 2000 2500 3000

Nguồn: Số liệu quan trắc hàng năm của TTKTMTDDT và KCN, Đại học Xây dựng Hà Nội,

và báo cáo của Bộ Xây dựng 2005

1.1.3.2 Quá trình công nghiệp hóa

Trong 20 năm đổi mới vừa qua, công nghiệp luôn là khu vực được chú trọng đầu tư và có tốc độ tăng trưởng cao nhất Tốc độ tăng trưởng của công nghiệp luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng của các ngành nông nghiệp,dịch vụ và tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế quốc dân Nói cách khác, công nghiệp luôn là ngành có đóng góp quyết định vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế quốc dân và vào quá trình chuyển từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại

Trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến năm 2005 trừ năm 1998 và năm

1999 (tốc độ tăng trưởng công nghiệp bị giảm sút do bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực), trong các năm còn lại, công nghiệp luôn đạt tốc độ tăng trưởng trên 10%/năm Trong đó năm 1994 đạt tới 14,46% So sánh theo các giai đoạn 5 năm, công nghiệp có tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm ngày càng cao Nếu trong giai đoạn 1976-1980, tốc độ

Trang 12

tăng trưởng công nghiệp bình quân chỉ đạt 0,6%/năm, thì giai đoạn

1986-1990 là 6,07%/năm, giai đoạn 1991-1995 là 13,69%/năm, giai đoạn

1996-2000 đạt 13%/năm, giai đoạn 2001-2005 đạt khoảng 15,7%/năm3

Tuy nhiên, việc phát triển công nghiệp cũng kéo theo một thực tế là làm

gia tăng lượng rác thải công nghiệp vào tổng lượng rác thải đô thị Ước tính

lượng phát sinh rác thải công nghiệp chiếm khoảng từ 20-25% tổng lượng rác

thải đô thị và đang ngày càng tăng tùy theo quy mô và cơ cấu công nghiệp của

từng tỉnh, thành phố Hiện tại chưa có số liệu thống kê chính thức về phát thải

công nghiệp Theo ước tính của chuyên gia Bộ Công nghiệp thì hàng năm trên

cả nước phát sinh khoảng 6-8 triệu tấn chất thải rắn công nghiệp (năm 2003 là

7,7 triệu tấn)

Ở nước ta, chất thải công nghiệp tập trung nhiều ở miền Nam, gần một

nửa lượng chất thải công nghiệp của cả nước phát sinh từ vùng Đông Nam

Bộ, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh Thành phố này phát sinh lượng rác

thải công nghiệp chiếm 31% tổng lượng rác thải công nghiệp của cả nước

Tiếp theo vùng đồng bằng Sông Cửu Long là vùng đồng bằng Sông Hồng và

Bắc Trung Bộ

Chất thải công nghiệp phát sinh từ các làng nghề ở vùng nông thôn chủ

yếu tập trung ở miền Bắc Các làng nghề là một yếu tố đặc trưng của Việt

Nam Đây là các làng ở vùng nông thôn với nguồn thu nhập phát sinh chủ yếu

từ các hoạt động nghề, đặc biệt là các nghề thủ công như sản xuất gốm, dệt

may, tái chế chất thải, chế biến thực phẩm và hàng thủ công mỹ nghệ Có

khoảng 1450 làng nghề phân bổ trên các vùng nông thôn của 64 tỉnh thành.,

mỗi năm phát thải cỡ 774.000 tấn chất thải công nghiệp không nguy hại 54%

3

Kinh tế Việt Nam 20 năm đổi mới, Nxb Đại học KTQD, 2006

Trang 13

lượng rác thải này phát sinh từ 03 tỉnh phía bắc: Hà Tây, Bắc Ninh và Hà Nội Còn khoảng 68% tổng lượng chất thải này phát sinh từ các tỉnh phía Bắc Chất thải rắn công nghiệp dự báo sẽ phát sinh và tăng nhanh trong môi trường phát triển kinh tế mạnh mẽ Theo dự báo, việc áp dụng các quy trình sản xuất sạch hơn và hiệu quả hơn sẽ tăng nhiều hơn ở khối các cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh sẽ làm giảm bớt tổng lượng chất thải rắn phát sinh

từ công nghiệp Tuy nhiên, số lượng các cơ sở công nghiệp ngày một nhiều nhất là việc tăng các cơ sở công nghiệp phát thải các chất thải công nghiệp nguy hại như các loại sản phẩm hóa chất và điện tử sẽ làm tăng lượng chất thải công nghiệp nguy hại

1.1.3.3 Gia tăng tiêu dùng và thay đổi mô hình tiêu dùng

Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, đời sống của người dân, đặc biệt là những người dân sống ở thành thị ngày càng được cải thiện Thu nhập tăng, đời sống dược cải thiện đồng nghĩa với việc gia tăng tiêu dùng và thay đổi mô hình tiêu dùng hàng ngày Ở Việt Nam có thể thấy thu nhập của người dân đã tăng hơn 2 lần so với 10 năm trước đây và tăng trung bình mỗi năm 5% trong giai đoạn 2000-2006 Khi thu nhập tăng, khuynh hướng chung của người dân là tăng mức tiêu dùng, do vậy trong giai đoạn 2000-2006, mức tiêu dùng chung của người dân cũng tăng khoảng 5% mỗi năm Con số này còn cao hơn nhiều ở các đô thị, nhất là các đô thị lớn bởi mức thu nhập của họ tăng cao hơn so với dân cư ở nông thôn

Tiêu dùng ngày càng tăng kéo theo sự gia tăng của rác thải sinh hoạt Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ngày càng tăng trong đó tỷ lệ rác thải

là các loại bao bì, nhựa dẻo tăng lên nhanh chóng do ngày càng có nhiều các sản phẩm hiện đại hơn và lượng rác thải này cũng chủ yếu phát sinh từ các đô thị, nơi tỷ lệ tiêu dùng chiếm phần lớn Các thành phố lớn ở Việt Nam là

Trang 14

nguồn phát sinh chính của chất thải sinh hoạt Các khu đô thị tuy có dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước nhưng lại phát sinh hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm, tương ứng với 50% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt của cả nước4

Ước tính mỗi người dân đô thị ở Việt Nam trung bình phát thải khoảng trên 1kg chất thải mỗi ngày (gấp đôi lượng phát thải của người dân ở các vùng nông thôn) Theo báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia năm 2005 thì vào năm 2002 ở nước ta lượng chất thải rắn sinh hoạt thải ra dao động từ 0,6-0,9 kg/người/ngày ở các đô thị lớn và từ 0,4-0,6 kg/người/ngày ở các đô thị nhỏ Đến năm 2004, tỷ lệ đó đã tăng lên tới 0,9-1,2 kg/người/ngày tại các thành phố lớn và từ 0,5-0,65 kg/người/ngày tại các đô thị nhỏ

Chất thải phát sinh từ các hộ gia đình và các khu kinh doanh ở vùng nông thôn và thành thị cũng có thành phần khác nhau Chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, các khu chợ và các khu kinh doanh ở vùng nông thôn chứa một tỷ lệ lớn các chất hữu cơ dễ phân hủy (chiếm 60-75%) Ở thành thị, chất thải sinh hoạt có thành phần chất hữu cơ dễ phân hủy thấp hơn (khoảng 50% tổng lượng chất thải sinh hoạt) Sự thay đổi về mô hình tiêu thụ là nguyên nhân chính dẫn đến làm tăng tỷ lệ phát sinh chất thải sinh hoạt khó hoặc không phân hủy như nhựa, thủy tinh, kim loại Các chất thải này đang là một trong những vấn đề hết sức đáng quan ngại trong việc thu gom và xử lý chất thải rắn đô thị, gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng môi trường

Việt Nam đang trong quá trình phát triển kinh tế, đô thị hóa và hiện đại hóa nhanh Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, dự báo đến năm 2010, tổng lượng chất thải phát sinh sẽ lên đến hơn 23 triệu tấn và thành phần chất thải sẽ thay đổi từ chỗ dễ phân hủy hơn sang ít phân hủy hơn và nguy hại hơn Ở các

đô thị lớn (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng) trong những năm qua, tốc độ gia tăng phát thải đáng kể, tới 8-10%/năm do những

4

Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia 2005

Trang 15

biến động về di dân (tăng cơ học), về tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá nhanh (mở rộng quy mô đô thị) và về mức sống, mức tiêu thụ tăng đáng kể

1.1.4 Tác động của rác thải đô thị đến môi trường tự nhiên

1.1.4.1 Ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị

Điều dễ thấy nhất và ai cũng có thể thấy được là chất thải đô thị nếu không được thu gom và xử lý kịp thời sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cảnh quan đô thị

Một thành phố có cảnh quan đẹp, không phải chỉ đẹp ở các cảnh quan thiên nhiên đẹp, các công trình kiến trúc đặc sắc, mà còn phải có các đường phố sạch sẽ Thành phố sẽ không còn đẹp khi khắp nơi tràn ngập rác Thử tưởng tượng, một thành phố như Hà Nội nếu không được thu gom và xử lý rác thải thì sẽ như thế nào? Không nói đến một tháng, mà chỉ trong vòng một tuần thôi, cả thành phố sẽ ngập trong rác bẩn

Trong thời đại ngày nay, khi loài người đang từng bước chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh trí tuệ, chúng ta thấy trên thế giới

có không ít những thành phố có cảnh quan đô thị hết sức sạch và đẹp, điển hình là Singapore Ở các thành phố đó, đi trên đường phố chúng ta khó nhìn thấy rác thải bị vứt ra đường, khó thấy người dân nào ăn quà bánh, hoa quả rồi vứt giấy hoặc vỏ tuỳ tiện ra phố Nhưng những hình ảnh nói trên còn phổ biến ở các đô thị của nước ta hiện nay

1.1.4.2 Ảnh hưởng đến môi trường không khí

Rác thải đô thị cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường không khí trên địa bàn nếu không được thu gom và xử lý kịp thời, đúng qui định

Như trên đã đề cập, trong thành phần của rác thải đô thị có tới 40-65% là các chất hữu cơ, đặc biệt là các loại lương thực và thực phẩm, những thứ rất

Trang 16

nhanh bị phân huỷ trong môi trường tự nhiên Chính vì vậy, rác thải đô thị nếu không được thu gom và xử lý kịp thời sẽ là một thảm hoạ về ô nhiễm không khí đối với thành phố Ít có mùi hôi thối nào trong tự nhiên lại khó chịu như mùi hôi thối của các loại lương thực, thực phẩm khi bị phân huỷ tự do Rác thải bị phân hủy gây một không khí ngột ngạt, khó chịu cho mọi người Bên cạnh đó, quá trình phân hủy của rác thải còn tạo ra một lượng không nhỏ các khí H2S, NH4SO2 Nếu lượng khí này vượt quá giới hạn cho phép sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Ngoài ra, trong quá trình thu gom và vận chuyển rác thải, các xe gom rác

và ô tô chuyên chở chưa được phủ bạt kín nên thường làm rơi vãi rác dọc đường vận chuyển, làm ô nhiễm môi trường không khí khi tại các khu vực này

1.1.4.3 Ảnh hưởng đến môi trường nước

Rác thải đô thị nếu không được thu gom, giải quyết kịp thời, đúng quy trình thì cũng sẽ có tác động rất xấu đến môi trường nước mặt và nước ngầm của thành phố và các khu vực lân cận

Rác thải đô thị nếu không được xử lý, sẽ bị phân huỷ rất nhanh Các chất hữu cơ trong rác, nhất là lương thực, thực phẩm có hàm lượng nước rất cao

Do đó quá trình phân huỷ rác cũng đồng thời là quá trình các loại nước bẩn chảy vào các cống rãnh Sau đó, nước bẩn từ cống rãnh đổ vào các ao hồ, sông của thành phố rồi thấm vào các nguồn nước mặt và nước ngầm trên địa bàn

Bên cạnh đó, một số lượng dân cư sống ven các sông, hồ lại thường tùy tiện đổ rác thẳng xuống sông, hồ, gây ô nhiễm nguồn nước mặt, làm tắc nghẽn các dòng chảy

Trang 17

Bốn mươi năm trước, các ao, hồ, sông ngòi của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh nước còn trong, tôm, cá còn bơi lội Giờ đây, các sông hồ đều nhiễm bẩn, bốc mùi hôi thối và không còn sinh vật gì có thể tồn tại được Nguồn nước bẩn này thông qua các cơn mưa lại mang sự ô nhiễm đến với nguồn nước của các địa bàn lân cận.Nước ao, hồ ,sông ngòi của hai thành phố này bị ô nhiễm, như trên đã nói, có một phần không nhỏ là do việc vứt rác thải bừa bãi của người dân xuống đó

1.1.4.4 Ảnh hưởng đến môi trường đất

Cùng với quá trình đô thị hóa là lượng rác thải đô thị tăng nhanh gây ảnh hưởng và làm ô nhiễm nguồn đất, nhất là các vùng đất được sử dụng làm nơi chôn lấp rác Những rác thải khó hoặc không có khả năng phân hủy khi chôn xuống đất sẽ gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái đất Đó là chưa kể ở nhiều nơi, rác được vứt một cách bừa bãi, hình thành nên các bãi rác tự nhiên, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường các khu vực này

Ở nước ta hiện nay, việc sử dụng than trong sinh hoạt hàng ngày còn rất phổ biến Than sau khi đun nấu sẽ tạo thành xỉ than và đây là một trong những tác nhân làm mất đi độ xốp của đất, gây ảnh hưởng xấu cho cây trồng

1.1.5 Tác động của rác thải đô thị đến phát triển kinh tế - xã hội

Bên cạnh việc ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người

và tự nhiên như đã nêu trên, rác thải đô thị cũng có tác động rất bất lợi đối với

sự phát triển kinh tế - xã hội, sự tác động này không phải chỉ riêng đối với các

đô thị, các vùng xung quanh, mà còn cả của quốc gia Điều này có thể nhận thấy ở các khía cạnh sau:

Trang 18

1.1.5.1 Tác động xấu đến phát triển các ngành và các lĩnh vực kinh tế

- Ngành chịu tác động nhiều từ rác thải trước hết là ngành nông nghiệp

Phần lớn các huyện ngoại thành của Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng v.v… sử dụng các nguồn nước thải của thành phố để phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cho việc nuôi cá và trồng rau Thế nhưng, như phần trên chúng tôi đã đề cập, do rác thải còn bị vứt bừa bãi xuống các ao, hồ, sông, ngòi, cũng như do nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý đã đổ vào đó, nên nguồn nước thải của các thành phố

bị ô nhiễm hết sức nặng nề Nước thải thành phố được những người nông dân ngoại thành dùng để tưới cho các loại cây trồng, đặc biệt là cho rau Rau được sản xuất như vậy hoàn toàn không phải là rau sạch, rau an toàn Cá cũng được người dân ngoại thành nuôi bằng nguồn nước thải từ các thành phố Khi người tiêu dùng chưa biết, các cơ quan bảo vệ sức khỏe và các phương tiện thông tin đại chúng chưa lên tiếng, thì các loại thực phẩm sản xuất không an toàn như vậy còn tiêu thụ được Nhưng khi người tiêu dùng đã hiểu rõ nguồn gốc của các loại thực phẩm đó, đã cảm nhận được tác hại của nó đối với sức khỏe của mình, họ sẽ tẩy chay, không sử dụng sản phẩm đó nữa Như vậy, đương nhiên ngành chịu thiệt hại đầu tiên là ngành sản xuất nông nghiệp, mà trực tiếp là người nông dân

Tuy nhiên, đó chỉ mới là tổn hại trước mắt Nếu về lâu dài, chúng ta không xử lý việc đổ rác thải và nước thải bừa bãi ra hệ thống thoát nước của các thành phố, thì toàn bộ diện tích mặt nước của các vùng ngoại thành sẽ không thể nuôi thủy sản được nữa Nhiều vùng đất sẽ không thể trồng rau được, vì các chất độc đã nhiễm vào đất lâu và nhiều, làm thoái hóa đất Các thành phố lớn có từ 1 triệu dân trở lên mà không có nguồn cung cấp thực

Trang 19

phẩm tại chỗ, phải nhập từ các địa phương khác, hoặc từ nước ngoài, thì sự tốn kém là không nhỏ

- Ngành thứ hai chịu tác động mạnh là ngành du lịch

Nước ta có nhiều vùng biển đẹp, có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng

và có nền văn hóa đa dạng, đặc sắc, thuận lợi cho việc phát triển mạnh ngành

du lịch Bởi vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta cũng đã khẳng định du lịch là thế mạnh của Việt Nam, cần phát triển nó thành ngành kinh tế mũi nhọn

Tuy nhiên, làm được điều đó không phải là chuyện dễ Để thu hút được khách du lịch, đặc biệt là để khách du lịch thực sự có thiện cảm với chúng ta,

họ đến một lần rồi lại muốn đến nữa, thì cảnh quan đẹp, văn hóa phong phú,

đa dạng, dịch vụ tốt v.v… thôi chưa đủ Khách du lịch còn cần đến một môi trường sạch và trong lành Thực tiễn phát triển du lịch của nhiều nước trên thế giới cũng như của nước ta thời gian qua đã cho thấy rõ điều này Rác thải làm mất đi vẻ đẹp đô thị, vẻ đẹp của các khu danh lam thắng cảnh, là môi trường phát sinh ra các loại dịch bệnh, làm giảm sức hút của ngành du lịch Khách du lịch đến Việt Nam sẽ hài lòng hơn nếu họ không chỉ được ngắm các danh lam thắng cảnh đẹp, được hiểu biết hơn về văn hóa Việt, mà còn được hưởng một bầu không khí trong lành, đường phố sạch đẹp không rác bẩn Theo báo cáo của Tổng cục Du Lịch (nay là Bộ Văn Hóa - Du Lịch và Thể Thao), thì trong hơn 3 triệu khách du lịch là người nước ngoài đến Việt Nam năm 2006, và 4 triệu năm 2007 có đến gần 70% không quay trở lại Tất nhiên, việc họ không quay trở lại do nhiều lý do khách quan và chủ quan mang lại, song từ cảm nhận chúng ta cũng thấy môi trường của chúng ta còn quá nhiều vấn đề, trong

đó có vấn đề rác thải Ở nhiều bãi biển, nhiều khu du lịch sinh thái, túi nilon,

vỏ đồ hộp, bao thuốc lá, vỏ trái cây sau khi dùng xong bị vứt bừa bãi, tạo ra

Trang 20

sự khó chịu cho không ít người Một nước giàu tiềm năng du lịch như nước ta

mà phấn đấu nhiều mới thu hút được 4 triệu khách du lịch là người nước ngoài Trong khi đó, Hungary là một nước nhỏ (diện tích bằng 1/3 và dân số bằng 1/8 nước ta) và họ lại không có biển, thế mà mỗi năm họ đón không dưới 20 triệu khách du lịch nước ngoài đến với đất nước họ Có nhiều yếu tố tác động đến sự yếu kém này của ngành du lịch, trong đó có sự tác động nhất định của cảnh quan môi trường

- Ngành thứ ba chịu tác động mạnh là ngành thương mại, dịch vụ

Chúng ta biết, các hoạt động thương mại, các loại hình dịch vụ thường tập trung ở các thành phố, các trung tâm công nghiệp, các nơi nghỉ dưỡng đông đúc Nếu hàng hóa và các loại dịch vụ ở những nơi này có chất lượng tốt, giá cả hợp lý, và đặc biệt lại có cảnh quan hấp dẫn, môi trường trong sạch, thì lượng khách đổ về mua sắm và hưởng thụ các loại dịch vụ sẽ ngày càng đông, còn ngược lại chắc chắn sẽ rất hạn chế

Tóm lại, có thể nói rác thải không được thu gom và xử lý sẽ có tác động xấu đến sự phát triển của nhiều ngành và lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Trên đây chỉ là 3 ngành có tính điển hình Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, tác động xấu của rác thải đến sự phát triển các ngành, các lĩnh vực của nền kinh

tế thường ít nhận biết được ngay, mà phải trải qua một thời gian nhất định Do

đó dễ gây ra tư tưởng xem thường trong việc xử lý, khắc phục

1.1.5.2 Tác động xấu đến xã hội

Ảnh hưởng lớn nhất của rác thải đô thị đến xã hội là ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân Có thể dễ dàng nhận thấy rác thải đô thị là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe người dân đô thị

Trang 21

Với các loại rác hữu cơ dễ phân hủy, trong quá trình phân hủy thường

gây ra các mùi hôi thối, làm ô nhiễm môi trường không khí Nước thải do các

loại rác này chảy ra, thấm vào đất, vào các mạch nước ngầm sẽ gây ô nhiễm

nguồn nước Sự ảnh hưởng đến môi trường không khí và nước do rác thải gây

ra sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân Đó là còn chưa nói đến

rác là môi trường chứa nhiều mầm bệnh và là nơi sống của các loại côn trùng

trung gian truyền bệnh nguy hiểm Quanh những điểm tập kết rác, người dân

thường bị mắc các bệnh ngoài da Hệ thống nước dùng cho dân ở những khu

vực này đa số đều bị ô nhiễm, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dân Với các loại rác là chai lọ, sắt thép… có thể gây ra các chấn thương cho

con người, trong khi với những rác là vỏ đựng hóa chất bảo vệ thực vật thì lại

có thể gây ngộ độc cho con người

Mầm bệnh phát sinh, lây lan cùng với những căn bệnh mới, lạ xuất hiện

đe dọa sức khỏe con người là do ô nhiễm môi trường rác thải, nước thải Giải

quyết được tình trạng ô nhiễm rác thải, nước thải ra môi trường sống xung

quanh sẽ giúp giảm thiểu các dịnh bệnh lây lan và tạo ra môi trường sinh thái

bền vững

1.2 ĐẦU TƯ CHO BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC THU

GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI ĐÔ THỊ

1.2.1 Một số khái niệm liên quan

1.2.1.1 Khái niệm đầu tư

- Đầu tư hiểu một cách đơn giản là sử dụng nguồn lực tài chính vào một

công việc gì đó với mong muốn thu lại được nhiều hơn so với số lượng đã bỏ

ra ban đầu

Trang 22

Đại từ điển Tiếng Việt5

trang 610 đã định nghĩa về đầu tư như sau: “Đầu

tư là bỏ vốn vào để sản xuất kinh doanh, để được hưởng phần lời lãi”

Thực ra không nên hiểu đầu tư một cách quá đơn giản như vậy, bởi lẽ ngày nay có những khoản đầu tư không mang lại lời lãi, song nó lại rất cần thiết cho cuộc sống của bản thân từng con người, cũng như cho cả cộng đồng, chẳng hạn: đầu tư cho giữ gìn bản sắc dân tộc, đầu tư cho bảo vệ sức khoẻ, bảo vệ sắc đẹp.v.v…

Vì thế, cần định nghĩa: “Đầu tư là quá trình sử dụng nguồn lực tài chính

nhằm duy trì tiềm lực sẵn có hoặc tạo ra tiềm lực lớn hơn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt đời sống 6 ”

1.2.1.2 Khái niệm đầu tư cho bảo vệ môi trường

Trên đây là khái niệm đầu tư nói chung, còn đầu tư cho bảo vệ môi

trường đô thị được hiểu là: tất cả các khoảng chi để hình thành tài sản của đô

thị và doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ môi trường nhằm thu gom, xử lý, kiểm soát, giảm thiểu, phòng ngừa hay loại bỏ ô nhiễm trong quá trình hoạt động của đô thị

Tuy nhiên, cần phải thấy rằng đầu tư cho bảo vệ môi trường không chỉ dưới dạng các tài sản hữu hình như nhà cửa, máy móc, thiết bị mà còn dưới dạng vô hình như phương pháp, qui trình, công nghệ v.v để giải quyết các vấn đề có liên quan đến môi trường và vảo vệ môi trường

1.2.1.3.Vốn đầu tư và phân loại nguồn vốn đầu tư

Theo nguồn hình thành và mục tiêu sử dụng, vốn đầu tư có thể được định

nghĩa là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,

là tiết kiệm của nhân dân và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào

Trang 23

sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội 7

Vốn là một trong 5 nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Nếu như trong nền kinh tế kém phát triển, sản xuất mang nặng tính tự nhiên, tự cấp, tự túc, nguồn lực lao động với trình độ thủ công và nguồn lực đất đai là các nguồn lực giữ vai trò hàng đầu, thì trong nền kinh tế thị trường với sự phát triển của công nghiệp - dịch vụ, bên cạnh nguồn lực lao động, đất đai, tài nguyên, nguồn lực vốn tài chính trở thành nguồn lực cơ bản nhất

Trong điều kiện ngày nay, khi mà hội nhập khu vực và thế giới đã trở thành một xu hướng mạnh mẽ, mang tính tất yếu của tất cả các nền kinh tế thì nguồn lực vốn tài chính của một quốc gia thường xuất phát từ hai nguồn gốc:

Nguồn vốn đầu tư trong nước:

- Vốn tích luỹ từ ngân sách

- Vốn tích luỹ của các doanh nghiệp

- Vốn tiết kiệm của dân cư

Thông thường, để phát triển kinh tế - xã hội, các quốc gia đều phải tìm mọi cách để huy động tối đa nguồn lực vốn tài chính có trong nước và coi đó

là yếu tố quyết định của sự phát triển

Nguồn vốn huy động từ nước ngoài:

- Vốn đầu tư gián tiếp: là vốn của chính phủ, các tổ chức quốc

tế, các tổ chức phi chính phủ được thực hiện dưới các hình thức khác nhau là viện trợ hoàn lại, viện trợ không hoàn lại, cho vay ưu đãi với thời gian dài và lãi suất thấp, kể cả vay theo hình thức thông thường Một hình thức phổ biến

7

PGS_PTS Nguyễn Ngọc Mai, Giáo trình Kinh tế đầu tư, NXB giáo dục, 1998

Trang 24

của đầu tư gián tiếp là viện trợ phát triển chính thức ODA của các nước công nghiệp phát triển

- Vốn đầu tư trực tiếp FDI: là vốn của các doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài đầu tư sang các nước khác và trực tiếp quản lý quá trình sử dụng và thu hồi vốn bỏ ra Với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước nhận đầu tư không phải lo trả nợ lại và có thể dễ dàng tiếp nhận được công nghệ của nước đến đầu tư

- Đối với nước ta còn có vốn do những người Việt Nam định cư

ở nước ngoài gửi về cho gia đình hoặc đầu tư cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh ở trong nước

Ngày nay, nguồn vốn nước ngoài giữ vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia, đặc biệt là trong việc tiếp thu các công nghệ mới, hiện đại để tạo ra sự phát triển đột biến cho nền kinh tế Tuy nhiên, nước nào cũng vậy, muốn phát triển nhanh và ổn định bao giờ cũng phải kết hợp hài hoà giữa nguồn lực trong nước và ngoài nước Mặt khác cần nhớ rằng, không phải tất cả các nguồn tiền và mọi nguồn vật chất khác đều là vốn, nó chỉ có thể trở thành vốn khi được đưa vào các hoạt động đầu tư

1.2.1.4 Đầu tư bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải

đô thị

Có nhiều nhận thức khác nhau về đầu tư bảo vệ môi trường trong lĩnh

vực thu gom và xử lý rác thải đô thị, tuy nhiên theo tác giả thì: “Đầu tư bảo

vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị là sử dụng nguồn vốn tài chính vào việc duy trì, phát triển và hiện đại hoá các cơ sở vật chất - kỹ thuật vào việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của lĩnh vực này, bảo đảm thu gom, vận chuyển và xử lý nhanh, xử lý hiệu quả toàn bộ lượng

Trang 25

rác thải do các đô thị thải ra trong ngày, làm cho môi trường đô thị ngày càng sạch hơn, đẹp hơn.”

Như vậy là việc đầu tư không chỉ cho khâu thu gom, mà còn cho cả vận chuyển và xử lý, không chỉ cho cơ sở vật chất - kỹ thuật mà còn cho con người hoạt động trong lĩnh vực này Đầu tư thiếu cho một khâu nào đó chắc chắn sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cả hệ thống

Tuy nhiên, cũng cần xác định rõ, mục tiêu chính của đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý chất thải đô thị không phải là hiệu quả về kinh tế (lợi nhuận) mà là hiệu quả về xã hội (thu gom và xử lý được bao nhiêu lượng rác thải đô thị để góp phần làm sạch môi trường)

Đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải

đô thị ở nước ta trong những năm sắp tới là một đòi hỏi hết sức bức xúc, đòi hỏi này bắt nguồn từ những lý do căn bản sau:

- Thứ nhất, nước ta đang tập trung đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá để đến năm 2020 về cơ bản biến nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Như vậy, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và cơ cấu dân cư cũng sẽ chuyển dịch hết sức nhanh chóng Dự kiến đến năm 2010 dân cư sống ở các đô thị của nước ta sẽ đạt khoảng 32-33% và đến năm 2020 có thể đạt đến 40-45%

Dân cư đô thị tăng nhanh, cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, nhu cầu các sản phẩm vật chất và tinh thần phục vụ cho đời sống của

họ cũng không ngừng tăng, lượng rác thải đô thị vì thế cũng sẽ tăng nhanh trong những năm sắp tới Giả thiết rằng đến năm 2010, nước ta có khoảng 88 triệu dân, trong đó 30% sống ở thành thị, tức 26 triệu người Tạm tính mỗi người một ngày thải ra 1kg rác, thì một năm lượng rác thải sinh hoạt của dân

cư đô thị sẽ là khoảng 9,5 triệu tấn Bên cạnh đó là lượng rác thải công nghiệp

Trang 26

tăng trung bình 10-16%/năm, thì đến năm 2010, lượng rác thải công nghiệp là khoảng 10.000 tấn Nhu cầu thu gom và xử lý rác thải đô thị vì vậy cũng tăng rất cao Đó là lý do quan trọng nhất đòi hỏi phải đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị những năm sắp tới

- Hai là, từ cuối năm 2006 nước ta đã chính thức trở thành thành viên của

tổ chức thương mại thế giới WTO Việc hội nhập với các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới, việc giao lưu mọi mặt giữa người dân nước ta với người dân các nước đã ngày càng thường xuyên hơn Để bạn bè quốc tế có thể đến với Việt Nam, yêu mến đất nước Việt Nam, tôn trọng nhân dân Việt Nam, đòi hỏi nước ta phải là một nước văn minh Văn minh trước hết thể hiện

ở sự sạch sẽ, trong đó bộ mặt của các đô thị là đại diện Muốn thế không có cách nào khác là phải xử lý thật tốt rác thải tại các đô thị

Cũng cần phải thấy rằng, bản thân mỗi người dân sống ở các đô thị cũng rất mong muốn có được một môi trường sạch sẽ, trong lành Yêu cầu có một môi trường đô thị sạch là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển đất nước

- Ba là, lượng rác thải đô thị tăng lên hết sức nhanh chóng, song thực tiễn cho chúng ta thấy, cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho việc thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải của các đô thị chúng ta hiện nay thì hết sức lạc hậu, chủ yếu là lao động thủ công Công việc này rất nặng nhọc và cũng có thể nói

là rất độc hại Khâu vận chuyển đa phần là các xe tự chế, công suất nhỏ, tính năng hạn chế, mức độ an toàn và bảo đảm vệ sinh còn thấp Khâu xử lý chủ yếu là chôn lấp, việc này thực ra cũng gây ô nhiễm môi trường rất nặng cho các địa phương có hố chôn, không ít nơi người dân sở tại đã biểu tình phản đối việc chôn rác này trên địa bàn của họ Rõ ràng đã đến lúc chúng ta phải hiện đại hoá cơ sở vật chất - kỹ thuật cho ngành thu gom và xử lý rác thải sinh

Trang 27

hoạt đô thị Muốn thế không có cách nào khác là phải đầu tư hơn nữa cho lĩnh vực này

Tóm lại, đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị là một đòi hỏi bức xúc và cũng rất khách quan của các đô thị hiện nay cũng như trong những năm tới

1.2.1.5 Một số tiêu chí đánh giá đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị

Để đánh giá toàn diện hoạt động đầu tư cần đánh giá được kết quả đầu tư

và hiệu quả đầu tư thông qua các chỉ tiêu Hiệu quả của đầu tư được xem xét

ở hai góc độ vi mô và vĩ mô Ở góc độ vi mô, hiệu quả là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra của dự án Ở góc độ vĩ mô là hiệu quả đối với nền kinh tế quốc dân, đáp ứng được nhiệm vụ kinh tế - xã hội, chính trị Tuy nhiên, thu gom và xử lý rác thải đô thị là một trong những lĩnh vực dịch vụ công cộng đòi hỏi đầu tư lớn nhưng khả năng thu hồi vốn thấp và khó sinh lời Đây là một trong những lĩnh vực đầu tư chỉ mang lại hiệu quả xã hội là chủ yếu còn hiệu quả kinh tế thì hầu như không có Hiện nay, ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, việc đánh giá được hiệu quả xã hội của đầu tư cho dịch vụ công cộng nói chung và cho thu gom và xử lý rác thải đô thị nói chung còn khó thực hiện do chưa có các tiêu chí đánh giá cụ thể và nguồn số liệu còn chưa đầy đủ Việc đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải chủ yếu được đánh giá qua một số tiêu chí sau:

- Tổng mức đầu tƣ cho thu gom và xử lý rác thải đô thị/GDP (hoặc

tổng mức đầu tư xã hội):

Ở các nước phát triển, đầu tư cho cải thiện môi trường thường chiếm 6% trong GDP, trong đó đầu tư cho thu gom và xử lý rác thải đô thị thường chiếm từ 0,5-0,7% GDP Như vậy đầu tư cho thu gom và xử lý rác thải chiếm

Trang 28

5-khoảng 10% ngân sách môi trường Tuy nhiên có những nước như Hy Lạp còn dành hẳn 50% ngân sách môi trường để thu gom chất thải rắn và xử lý chúng8

- Mức đầu tư bình quân/người:

Chỉ tiêu này được tính bằng tổng số vốn toàn xã hội đầu tư cho công tác thu gom và xử lý rác thải chia cho tổng số dân của vùng đó Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ mức quan tâm cao của cộng đồng dân cư và xã hội của vùng đối với công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải nói riêng và đến môi trường nói chung

- Chi phí đầu tư/tấn rác thải đô thị được thu gom và xử lý:

Mức chi phí này có thể đánh giá theo 2 khía cạnh khác nhau Thứ nhất là mức đầu tư cho 1 tấn rác thải đô thị được thu gom và xử lý.Ở đây cho thấy mức độ quan tâm của xã hội đến công việc này Mức đầu tư càng lớn thì chứng to mức độ quan tâm càng cao Tuy nhiên, khi có áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, nó còn cho thấy sự hiệu quả của đồng vốn được bỏ ra cho công việc này Chi phí thu gom và xử lý rác thấp nhưng xử lý được nhiều rác cho thấy sự hiệu quả của đồng vốn bỏ ra Hai khía cạnh này tưởng chừng như mâu thuẫn với nhau Tuy nhiên, nếu đánh giá nó dựa trên cả việc xem xét trình độ khoa học kỹ thuật và các tiêu chí như đã trình bày ở trên sẽ cho thấy một bức tranh toàn cảnh của đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và

xử lý rác thải đô thị

- Cơ cấu các thành phần tham gia đầu tư:

Đối với các nước đang phát triển, đầu tư cho lĩnh vực này chủ yếu bằng

nguồn ngân sách nhà nước (60-80%), các thành phần khác tham gia còn hạn chế Tuy nhiên, ở các nước phát triển, nguồn ngân sách nhà nước cho lĩnh vực

8

Nguyễn Thị Anh Hoa, Môi trường và việc quản lý chất thải rắn

Trang 29

này chỉ chiếm khoảng 20%, cộng đồng và các tổ chức xã hội khoảng 10-20%, còn lại là đóng góp của các doanh nghiệp

- Tỷ lệ thu gom rác thải đô thị:

tỷ lệ này cho thấy lượng rác được thu gom và xử lý chiếm bao nhiêu %

so với lượng rác thải ra Chỉ tiêu này góp phần đánh giá tính hiệu quả của đầu

tư cho thu gom và xử lý rác thải

1.2.2 Các yếu tố tác động đến đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị

Có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến đầu tư cho bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị ở nước ta, song đáng lưu ý nhất là những yếu tố sau đây:

1.2.2.4 Yếu tố chủ quan

Một là, vấn đề nhận thức

Trước hết là nhận thức của những người có thẩm quyền trong việc quyết định đầu tư Nếu những người có thẩm quyền nhận thức đúng tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, nhất là việc thu gom và xử lý rác thải ở các đô thị

để bảo vệ môi trường thì họ sẽ có sự đầu tư thỏa đáng cho công việc này Như chúng ta biết, để có thể thu gom và xử lý triệt để các loại rác thải đô thị (triệt

để ở đây được hiểu là vừa bảo đảm không gây tác hại gì cho môi trường, vừa

có thể tận dụng để tái chế ra các loại sản phẩm có ích phục vụ cho sản xuất và đời sống của con người), công việc đó phải được thực hiện trên cơ sở phương tiện và công nghệ hiện đại Muốn thế phải có sự đầu tư thỏa đáng (một nhà máy xử lý rác hiện đại loại 1000 tấn ngày cũng cần đầu tư khoảng 40-50 triệu USD)

Trang 30

Rõ ràng, chỉ có những người có thẩm quyền thực sự có trình độ, có tầm nhìn xa, trông rộng mới thấy được sự cần thiết và lợi ích nhiều mặt của việc đầu tư cho thu gom và xử lý rác thải đô thị theo hướng hiện đại, và giám quyết định đầu tư đúng mức cho công việc đó

Mặt khác là nhận thức của các doanh nghiệp và của người dân Nếu các doanh nghiệp và người dân cũng nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thu gom và xử lý rác thải đô thị đối với sự phát triển của đất nước nói chung, của bản thân họ nói riêng, thì họ cũng sẵn sàng cùng Nhà nước đầu tư cho công việc này

Hai là, vấn đề vốn đầu tƣ

Vốn đầu tư cần cho công việc này là không nhỏ và thường xuyên tăng lên (như trên đã nêu) Không có vốn thì việc đầu tư không thể thực hiện được Trong điều kiện Nhà nước còn nghèo và lại có quá nhiều khoản cần phải chi như hiện nay thì vấn đề đa dạng hoá nguồn vốn cho đầu tư bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị là điều cần được tính đến Việc

đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho thu gom và xử lý rác thải đô thị giờ đây không chỉ là cần thiết, mà chúng ta còn có khả năng thực hiện Sau 20 năm phát triển, giờ đây chúng ta đã có khoảng 250 ngàn doanh nghiệp dân doanh Trong số này nhiều doanh nghiệp có tiềm lực tài chính lớn, sẵn sàng tham gia đầu tư cho lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị Tiềm lực kinh

tế của người dân nước ta giờ đây cũng khác trước Nhiều người có tiền, sẵn sàng bỏ vốn ra tham gia đầu tư cùng nhà nước và doanh nghiệp để giải quyết vấn đề thu gom và xử lý rác thải đô thị Các nhà đầu tư nước ngoài, những người Việt Nam đang làm ăn và sinh sống ở nước ngoài cũng sẽ tham gia cùng chúng ta trong công việc đầy ý nghĩa này Vấn đề còn lại là Nhà nước

Trang 31

phải có cơ chế và chính sách sao cho hợp lý để có thể thu hút được nhiều nhất vốn đầu tư từ mọi nguồn có thể

Ba là, sử dụng vốn đầu tƣ có hiệu quả

Cho dù nguồn vốn đầu tư có nhiều nhưng nếu không được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả thì vấn đề thu gom và xử lý rác thải không thể được giải quyết một cách triệt để Sử dụng vốn đúng mục đích cần được hiểu là, vốn đó phải được đầu tư để xây dựng các nhà máy chế biến rác, để mua sắm các phương tiện thu gom và vận chuyển rác theo các tiêu chuẩn hiện đại mà thế giới đã đề ra và để đào tạo và bồi dưỡng đội ngủ lao động của ngành nhằm bảo đảm cho nó hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao Còn sử dụng vốn có hiệu quả cần phải được hiểu trên hai phương diện:

Trước hết là hiệu quả kinh tế: Việc đầu tư đã giúp thu gom hết các loại rác thải Trong đó, điều quan trọng là nhờ đầu tư vào các phương tiện thu gom hiện đại mà lượng lao động sống làm công việc này đã giảm một cách tối đa, giá thành thu gom một tấn rác thải đô thị đã được giảm một cách đáng kể Mặt khác, nhờ đầu tư vào nhà máy chế biến hiện đại, rác đã có thể tái chế ra nhiều mặt hàng có ích phục vụ cho sản xuất và đời sống của người dân Nhờ việc bán các sản phẩm tái chế này mà ngành có thể thu được một khoảng kinh phí đáng kể để duy tu, bảo dưỡng các thiết bị đã có, cũng như góp phần cải thiện đời sống cho người lao động

Tiếp đến là hiệu quả về mặt xã hội Nhờ rác được thu gom và xử lý tốt, môi trường trở nên trong sạch, sức khỏe của người dân được cải thiện, người dân vì thế càng gắn bó với Đảng và Nhà nước hơn

Trang 32

1.2.2.4 Yếu tố khách quan

Ngày nay, toàn cầu hóa là một xu thế phát triển khách quan không gì có thể cản lại được Toàn cầu hóa giúp các nước chậm phát triển và đang phát triển có điều kiện để tiếp cận với các nguồn vốn lớn của các nước phát triển, của các công ty đa quốc gia, cũng như có điều kiện để du nhập các công nghệ tiên tiến trên thế giới phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mình, trong đó có việc phát triển lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị Tuy nhiên, việc thu hút được tiền của và công nghệ tiền tiến của nước ngoài

để phục vụ cho việc giải quyết vấn đề thu gom và xử lý nước thải đô thị không phải là chuyện dễ làm, bởi lẻ:

- Các nhà đầu tư nước ngoài thường thích đầu tư vào những lĩnh vực có lợi nhuận cao, cho phép thu hồi vốn nhanh Trong khi đó thu gom và xử lý rác thải đô thị là lĩnh vực dịch vụ công cộng, đòi hỏi đầu tư lớn, song lợi nhuận mang lại dường như không đáng kể Vì vậy, đây không phải là lĩnh vực hấp dẫn đối với họ

- Thu hút vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến của nước ngoài trong điều kiện toàn cầu hóa là một quá trình cạnh tranh quyết liệt giữa các quốc gia Quốc gia nào có cơ chế và chính sách thông thoáng, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, quốc gia đó sẽ dành được nhiều nguồn vốn đầu tư và tiếp cận được với nhiều công nghệ tiên tiến Từ đó, các quốc gia sẽ tạo điều kiện cho đất nước mình tiến nhanh, theo kịp các nước phát triển Ngược lại, nước nào bảo thủ, trì trệ, không có cơ chế và chính sách thông thoáng, sẽ khó tiếp cận với các nguồn lực đó, và hậu quả là sẽ rơi vào con đường chậm phát triển, lạc hậu

Việt Nam trong 20 năm đổi mới vừa qua đã có nhiều cơ chế và chính sách cởi mở đối với các nhà đầu tư nước ngoài, nhờ đó Việt Nam đã thực sự

Trang 33

trở thành điểm đến hấp dẫn đối với họ Trong những năm sắp tới Việt Nam sẽ tập trung mọi nỗ lực đẩy nhanh nhịp độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, để đến năm 2020 về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Do

đó, Việt Nam lại càng cần có nhiều vốn và công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, trong đó có vốn và công nghệ phục vụ cho việc thu gom và xử lý rác thải đô thị Để làm được điều này rõ ràng Việt Nam cần tiếp tục đổi mới cơ chế và chính sách theo hướng thông thoáng hơn, hội nhập hơn

Tuy nhiên, để việc đầu tư cho thu gom và xử lý rác thải đạt kết quả tốt thì

ý thức của người dân và các doanh nghiệp trong việc tham gia bảo vệ môi trường đô thị cũng đóng một vai trò không nhỏ Nếu người dân không có ý thức, vứt rác bừa bãi, doanh nghiệp không có ý thức xử lý rác thải thì Nhà nước có đầu tư đến bao nhiêu cũng không thể nào thu gom, xử lý hết được Thực tiễn nhiều nơi ở nước ta thời gian qua đã cho thấy như vậy

1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ VÙNG LÃNH THỔ TRONG ĐẦU TƯ CHO BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC THU GOM VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI ĐÔ THỊ

1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Kể từ khi Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách và mở cửa năm

1978, hàng vạn xí nghiệp hương trấn ra đời và đã đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển nền kinh tế của Trung Quốc Song, sự phát triển nhanh chóng này đã có tác động rất lớn đến vấn đề môi trường, làm thay đổi hệ cân bằng sinh thái, chất thải công, nông nghiệp và chất thải sinh hoạt ở các đô thị, khí thải do giao thông vận tải không được xử lý, đã gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của toàn xã hội

Nhận thức được vấn đề này, ngay từ những năm 90 của thế kỷ XX, Chính phủ Trung Quốc đã ưu tiên đầu tư cho bảo vệ môi trường Bình quân

Trang 34

hàng năm, Chính phủ dành từ 1-1,3% GDP để bảo vệ môi trường, trong đó ưu tiên cho việc thu gom và xử lý rác thải đô thị Riêng thủ đô Bắc Kinh, thành phố Thượng Hải, dành từ 3-4% GDP, trong đó, phần kinh phí từ ngân sách chiếm 10-20%, các doanh nghiệp đóng góp 60-70%, cộng đồng và các tổ chức xã hội: 10-20%; Đồng thời, coi trọng áp dụng "Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường", có luật thuế môi trường, thu lệ phí đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng đồng bộ, phí thu gom và xử lý rác thải chất lượng cao để đầu tư lại cho công tác bảo vệ môi trường, trong đó có thu gom và xử lý rác thải đô thị, xây dựng quỹ môi trường địa phương Ngoài ra, để tạo nguồn vốn cho đầu tư bảo vệ môi trường, Chính phủ Trung Quốc đã tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế trên thế giới, chủ yếu trong 3 lĩnh vực: Thực hiện dự án khống chế ô nhiễm; Hoàn thiện các chính sách, văn bản pháp luật về môi trường qua kinh nghiệm của các nước; Giới thiệu các công nghệ

và các quỹ hỗ trợ thông qua nhiều kênh khác nhau Nhờ đó, đến nay, công tác thu gom và xử lý rác thải đô thị ở các thành phố lớn của Trung Quốc đã được cải thiện đáng kể, góp phần bảo vệ môi trường, duy trì sự phát triển kinh

tế - xã hội bền vững9

1.3.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Mỗi năm Nhật Bản thải ra khoảng 55-60 triệu tấn rác, nhưng chỉ khoảng 5% trong số đó phải đưa tới bãi chôn lấp (khoảng 2,25 triệu tấn), còn phần lớn được đưa đến các nhà máy để tái chế

Dọc 2 bên đường ở Nhật Bản, các thùng rác được đặt hai bên vệ đường Trên các thùng rác này có vẽ hình những loại rác được phép bỏ vào

đó Mỗi thùng rác có màu sắc riêng để người đi đường dễ phân biệt khi bỏ rác

9 Trần Ngọc Chính - Thứ trưởng Bộ Xây dựng_Hội thảo khoa học "Khai thác những lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, kinh tế-xã hội trong quá trình đô thị hoá và phát triển bền vững vùng Thủ đô Hà Nội”, tháng 10/2006

Trang 35

vào thùng Chẳng hạn, thùng rác để đựng chai nhựa, vỏ đồ hộp thì vẽ hình cái chai, vỏ đồ hộp ở ngoài, thùng rác rất sạch sẽ và người đi đường rất tự nguyện bỏ rác đúng loại vào thùng như là một thói quen sinh hoạt Hoàn toàn không thấy bóng dáng của một nhà quản lý môi trường hay người nhắc nhở nào

Tại các thành phố lớn như Tokyo, Osaka, Kobe.v.v tại mỗi quận ,chính quyền đầu tư xây dựng một nhà máy chế biến rác thải có công suất chế biến

từ 500-1000 tấn rác/ngày, với kinh phí từ 40-60 triệu USD/nhà máy

Ở thành phố nào rác thải cũng được phân loại triệt để đến mức nhỏ nhất Chẳng hạn, không chỉ phân loại rác hữu cơ và vô cơ, trong rác vô cơ người ta còn phân ra giấy, thủy tinh Việc thu gom rác ở Nhật Bản cũng không giống như ở Việt Nam Chất thải từ hộ gia đình thuộc trách nhiệm quản lý của nhà nước, còn chất thải từ các công ty, nhà máy cho tư nhân đấu thầu hoặc các công ty do chính quyền địa phương chỉ định Một điều mà Nhật Bản làm rất chặt chẽ trong việc quản lý rác thải công nghiệp là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phải tự chịu trách nhiệm về rác thải của mình

Và điều này được quy định bởi các luật về bảo vệ môi trường Ví dụ, Chính phủ Nhật Bản bắt buộc các công ty sản xuất các sản phẩm đồ dùng điện tử phải có trách nhiệm tái chế các sản phẩm hư cũ của mình; còn người tiêu dùng cũng phải có trách nhiệm chi trả vận chuyển và tái chế cho các sản phẩm điện tử do họ thải ra Vì thế, khi mua sản phẩm mới, nếu có đồ cũ, người tiêu dùng sẽ được công ty trả tiền cho khoản rác thải điện tử họ có Vì thế, hầu hết các công ty sản xuất đồ dùng điện tử như Sony, Toshiba của Nhật Bản đều có nhà máy tái chế riêng

Từ năm 1991, Chính phủ Nhật Bản chính thức khuyến khích tận dụng nguồn tài nguyên từ rác thải tái chế Trước đây, Kytakyushu của Nhật Bản là

Trang 36

thành phố chuyên về sản xuất sắt thép và hóa chất, bị ô nhiễm rất trầm trọng Năm 1997, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định biến nơi đây thành khu công nghiệp sinh thái rộng 200 ha Hiện nay, ở đây có 25 công ty tái chế chất thải đang hoạt động, chủ yếu tái chế các mặt hàng như bao bì, gỗ, đồ điện tử Nhà máy tái chế ô tô ở thành phố này cho ra đời khoảng 70 chiếc mỗi ngày

và 700.000 đồ điện tử/năm Không những khuyến khích các công ty tái chế, tái sử dụng các chất thải, nhà nước cũng khuyến khích người dân sử dụng rác như một nguyên liệu sản xuất, như việc khuyến khích người dân tự xử lý rác thải hữu cơ làm phân composit bón cho cây trồng, Chính phủ hỗ trợ người dân mua máy chế biến phân khoảng 30 USD/máy

Kytakyushu là thành phố miền Nam của Nhật Bản, cách Tokyo khoảng 1.000 km, là một thành phố nhỏ ở miền biển Hiện nay, diện tích đất lấn biển của Kytakyushu đã đạt được 200 ha Tuy nhiên, nguyên liệu dùng để lấn biển chính là chất thải rắn Được biết, những loại chất thải nào không thể tái chế, tái sử dụng và có hại cho môi trường sẽ được xử lý lại, qua thiêu đốt và qua

xử lý trung gian, sau đó được chở về Kytakyushu để dùng vào việc lấn biển Vùng đất lấn biển 200 ha này được cho là khá kiên cố để xây dựng thành phố công nghiệp sinh thái

1.3.3 Kinh nghiệm của Singapore

Singapore là một nước đã được đô thị hóa 100% nhưng Singapore cũng được coi là một trong những đô thị sạch nhất trên thế giới Để làm được việc này, Singapore đã chú trọng đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển và xử

lý rác thải, đồng thời xây dựng một hệ thống pháp luật nghiêm khắc làm tiền

đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn

Rác thải ở Singapore được thu gom và phân loại bằng túi nilon Các chất thải có thể tái chế được đưa về các nhà máy tái chế lại, còn các chất thải khác

Trang 37

được đưa về các nhà máy để thiêu hủy Ở Singapore có hai thành phần tham gia chính vào đầu tư cho thu gom và xử lý rác thải là :Tổ chức thuộc Bộ Khoa học công nghệ và môi trường và các công ty tư nhân Tổ chức thuộc Bộ khoa học công nghệ và môi trường chủ yếu thu gom rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và các công ty Còn hơn 300 công ty tư nhân của Singapore chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát, kiểm tra trực tiếp của Bộ Khoa học công nghệ và môi trường

Ngoài ra, các hộ dân và các công ty ở Singapore được khuyến khích tự thu gom và xử lý rác thải để có thể giảm được chi phí Bộ khoa học công nghệ

và môi trường quy định phí thu gom và vận chuyển rác thải cho các hộ dân và các công ty như sau:

- Đối với các hộ dân, thu gom rác trực tiếp tại nhà phải trả phí 17$/ tháng, thu gom rác gián tiếp tại các khu dân cư thì chỉ phải trả phí 7$/tháng

- Đối với các công ty thì trả phí thu gom theo dung tích thùng: 30$/ngày đối với thùng 170 lít, 70$/ngày đối với thùng 170-350 lít và 175$/ngày với thùng loại 1000 lít

Việc thu gom và vận chuyển rác ở Singapore được đầu tư trang bị các loại xe hiện đại, gọn nhẹ Singapore cũng có một công nghệ xử lý rác hiện đại

là đốt để tận dụng được năng lượng nhiệt từ công việc này Hiện Singapore có

5 nhà máy xử lý rác Trong quá trình đốt rác, khói, bụi được xử lý bằng hệ thống lọc trước khi ra ống khói

Trang 38

1.3.4 Kinh nghiệm của các quốc gia khác

1.3.4.1 Kinh nghiệm của Pháp

Tính từ năm 1960, sản lượng rác và các chất phế thải ở Pháp tăng lên 2,5 lần Bà Michele Pappalardo, chủ tịch Ademe (Cơ quan môi trường và quản lý năng lượng) Pháp cho biết trong 10 năm, chi phí thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt tăng lên gấp đôi Nguyên nhân dẫn đến lượng rác thải tăng 2,5 lần nhưng chi phí thu gom và xử lý chất thải chỉ tăng gấp đôi (chi phí đầu tư/1 đơn vị rác thải giảm) là do đạt được nhiều tiến bộ trong lĩnh vực này Hiện nay, cứ 10 người Pháp thì có 9 người theo chế độ thu gom rác có phân loại: rác được phân ra theo từng loại riêng: chất hữu cơ, thủy tinh, kim loại…, mỗi loại được đựng trong các bao đựng rác có màu sắc khác nhau; các lò đốt rác thì ít gây ô nhiễm hơn nhiều so với trước: năm 2003, mỗi nhà máy đốt rác thải

ra 100g dioxin so với 1,1 kg năm 1995

1.3.4.2 Kinh nghiệm của Đức

Ở Đức, tất cả các bang, các khu đô thị đều khuyến khích đầu tư hình thành các cơ quan, công ty khuyến cáo, tuyên truyền cho chương trình bảo vệ môi trường sống nói chung và đặc biệt là vấn đề thu gom, phân loại và xử lý rác thải đô thị nói riêng Ví dụ tại cơ quan tư vấn khuyến cáo cho nền “kinh tế rác thải” bang Tiroler có 5 cán bộ khuyến cáo, tuyên truyền Họ xây dựng những tài liệu, tư liệu giảng bài cho cộng đồng: 1) Sáng tạo ra những thùng tách rác với những màu sắc, ký hiệu rõ rệt, đẹp, hấp dẫn, dễ phân biệt; 2) Các loại rác phế thải được tách ra theo các sơ đồ, hình ảnh dây chuyền rất dễ hiểu,

dễ làm theo, từ phân loại rác thải giấy, thủy tinh, kim loại, chất dẻo nhân tạo, vải và đặc biệt là rác thải hữu cơ; 3) Hoạt động tuyên truyền, khuyến cáo còn được thể hiện bằng các áp phích tuyên truyền phong phú, hấp dẫn Những công việc này đã góp phần khuyến khích người dân tự giác trong việc phân

Trang 39

loại rác thải đô thị, giúp cho công việc thu gom và xử lý rác thải đơn giản và nhanh chóng hơn, cũng như giảm được chi phí trên mỗi tấn rác được thu gom

và xử lý

1.3.4.3 Kinh nghiệm của Bỉ

Tại Bỉ, công tác thu gom và xử lý rác thải lại được công ty tư nhân đầu tư

và chịu trách nhiệm, hình thành ngành công nghiệp thu gom và xử lý rác thải, Chính phủ chỉ kiểm tra và giám sát Sita Belgium là công ty quản lý và xử lý rác thải lớn nhất của Bỉ, thuộc Tập đoàn quốc tế Suez về năng lượng, môi trường và nước Phạm vi hoạt động của Sita Belgium rất rộng: thu và chọn lọc rác, tái sinh, xử lý rác hữu cơ, thu năng lượng từ rác xử lý, làm sạch môi trường đất, lọc nước, xử lý chất amiăng , nghĩa là làm trọn các khâu từ A đến

Z trong công nghiệp xử lý rác thải

Các nhà máy của Sita Belgium có mặt khắp các tỉnh thành của Bỉ, mỗi năm xử lý tới gần 2 triệu tấn rác Ở đây, để tiết kiệm chi phí đầu tư mà vẫn đạt được hiệu quả cao trong thu gom và xử lý rác, các gia đình ở Bỉ được khuyến khích phân loại rác tại nhà trước khi nhà máy của Sita Belgium thu gom và vận chuyển đến nơi xử lý

Theo lịch hàng tuần, các gia đình ở từng khu phố đem các túi rác đặt trước cổng vào lúc chiều tối thứ hai và thứ năm, chờ các xe chở rác đến thu mang đi Mỗi loại rác thải được quy định rõ ràng cho từng loại túi ni-lon: túi màu trắng đựng rác sinh hoạt thông thường, túi màu vàng đựng giấy báo, túi màu xanh lơ đựng vỏ chai nhựa, túi màu xanh lá cây đựng cây cỏ, còn đồ thủy tinh thì phải bỏ vào các thùng chứa chuyên dụng đặt tại cổng vào các siêu thị Rác được chọn lọc ngay từ đầu như thế sẽ giúp cho các nhà máy xử

lý rác làm việc có hiệu quả hơn, tiết kiệm được năng lượng và tận dựng được

Trang 40

nguyên liệu tái sinh Ở các khu vực mua bán, người ta khuyến khích sử dụng túi đựng bằng giấy tái sinh thay cho loại túi nilông khó tiêu hủy

Bên cạnh các biện pháp giảm khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính, Chương trình bảo vệ môi trường của Bỉ coi vấn đề quản lý và xử lý rác thải là một tiêu chí tiến tới phát triển bền vững Những chỉ tiêu được cân đong đo đếm tỷ mỉ,

ví dụ phấn đấu giảm lượng rác thải trung bình từ 300 kg/người/năm xuống

240 kg/người/năm Kế hoạch cho từng nhà máy xử lý rác sinh hoạt, rác công nghiệp, hay tái sinh các chất thải nhựa, sắt thép, máy móc điện tử và vốn đầu tư cho từng nhà máy cũng được hoạch định rất cụ thể

Nói tóm lại, việc xử lý rác một cách triệt để ở Bỉ, một trong những nước

đi đầu trong việc bảo vệ môi trưởng ở Châu Âu, không chỉ nhằm hạn chế tối

đa các nguồn gây ô nhiễm, mà còn là một để tiết kiệm các nguồn tài nguyên, gắn phát triển với cải thiện môi trường sống

1.3.5 Bài học rút ra từ kinh nghiệm của các nước cho đầu tư bảo vệ môi trường trong lĩnh vực thu gom và xử lý rác thải đô thị

Qua nghiên cứu thực trạng của một số nước và vùng lãnh thổ trong khu vực, cũng như trên thế giới, nổi lên một số kinh nghiệm đáng được quan tâm nghiên cứu sau đây:

Ngày đăng: 05/04/2023, 22:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w