1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa tại đồng bằng sông cửu long theo kịch bản biến đổi khí hậu

95 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận Văn Đánh Giá Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu Đến Sản Xuất Lúa Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long Theo Kịch Bản Biến Đổi Khí Hậu
Tác giả Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu, Vũ Văn Tuấn, Trần Việt Liễn, Nguyễn Duy Chinh
Người hướng dẫn PGS. TS Trần Thục
Trường học Viện Khoa Học Khí Tượng Thủy Văn Và Môi Trường
Chuyên ngành Biến Đổi Khí Hậu
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 5,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé cùng các nhà khoa học, các nhà quản lý về BĐKH thực hiện các mục tiêu trên, tác giả của Luận văn đã lựa chọn Đề tài “Đánh giá tác động của

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chúng ta đang sống ở một giai đoạn lịch sử mà cả thế giới đều đang nỗ lực tìm hiểu những tác động và các giải pháp hạn chế tác động của Biến đổi khí hậu tới cuộc sống con người Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về phát triển bền vững tại Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã nhận định rằng những hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu trực tiếp tác động đến sự sinh tồn của loài người, cụ thể đến: tài nguyên nước, năng lượng, sức khỏe con người, nông nghiệp - an ninh lương thực và đa dạng sinh học Năm lĩnh vực này lại có liên quan mật thiết với nhau Không một quốc gia nào trên thế giới có thể né tránh được hậu quả của BĐKH, trong đó có Việt Nam

Trên bản đồ thế giới, Việt Nam là một quốc gia cong cong hình chữ S nằm trên bao lơn của Biển Đông thông ra Thái Bình Dương, với hơn 75% dân số sống dọc theo 3260 km bờ biển Trong vòng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam đã tăng lên khoảng 0.7oC; mực nước biển đã tăng khoảng 20cm và ngày càng chịu sự tác động mạnh của hiện tượng El-nino, La-Nina Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới – WB (2007), Việt Nam là một trong năm nước sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng của BĐKH và nước biển dâng, trong đó vùng Đồng bằng Sông Hồng

và Sông Cửu Long sẽ bị chìm ngập nặng nhất Những biến đổi này thực sự đã, đang

và sẽ làm cho thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác như bão lũ, hạn hán

… xảy ra ngày càng tăng về cường độ, tần suất và mức độ khốc liệt Nó tác động đến tất cả các ngành, các khu vực và đe dọa sự phát triển bền vững của Việt Nam; đặc biệt là sẽ tác động mạnh mẽ đến nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi và

hạ tầng nông thôn - là các lĩnh vực có liên quan tới cuộc sống của 73% số dân của

cả nước, trong đó tập trung phần lớn người nghèo của Việt Nam, là đối tượng nhạy cảm và có tính tổn thương cao nhất đối với ảnh hưởng của BĐKH

Các nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam thực sự được bắt đầu từ những năm

Trang 2

1990 tại Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường của các chuyên gia khí tượng thủy văn Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu, Vũ Văn Tuấn, Trần Việt Liễn, Nguyễn Duy Chinh … và nhiều chuyên gia khác Hầu hết công trình nghiên cứu về BĐKH vào trước năm 2002 đã được tổng kết trong Thông báo Quốc gia lần thứ nhất của Việt Nam về BĐKH năm 2003 Thông báo quốc gia đầu tiên của Việt Nam cũng đã kiến nghị được nhiều phương án giảm phát thải khí nhà kính, góp phần giảm nhẹ BĐKH và bước đầu đã đưa ra được một bộ giải pháp thích ứng với BĐKH cho các ngành dễ bị tổn thương như: tài nguyên nước, nông nghiệp, thủy sản, năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, y tế và sức khỏe con người

Nhận thức rõ ảnh hưởng của BĐKH, Chính phủ Việt Nam đã sớm tham gia

và phê chuẩn Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH và Nghị định thư Kyoto Ngày 03 tháng 12 năm 2007, Chính phủ đã có Nghị quyết số 60/2007/NQ-

CP giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu PGS TS Trần Thục, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường được

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường giao nhiệm vụ Phó trưởng ban Chỉ đạo, Tổ trưởng Tổ Soạn thảo xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu Một trong những nội dung quan trọng của Chương trình là xây dựng và cập nhật các kịch bản biến đổi khí hậu Mục tiêu của việc xây dựng các kịch bản này là đưa ra những thông tin cơ bản về xu thế BĐKH, nước biển dâng tương lai cho Việt Nam tương ứng với các kịch bản khác nhau về phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu Tháng 6 năm 2009, dựa trên cơ sở các nghiên cứu đã có trong và ngoài nước, các ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý thuộc các Bộ ngành có liên quan; Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì xây dựng nên các kịch bản BĐKH nước biển dâng cho Việt Nam trong thế kỷ 21 theo kịch bản phát thải thấp, trung bình và cao

Mục tiêu của việc xây dựng các kịch bản trên là đưa ra những thông tin cơ bản về xu thế BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam trong tương lai tương ứng với

Trang 3

các kịch bản khác nhau về phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu (hay nói cách khác, các kịch bản được xây dựng dựa trên các tốc độ phát thải khí nhà kính khác nhau) Dựa trên cơ sở đó; các Bộ, ngành, địa phương đánh giá các tác động có thể có của BĐKH đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội, xây dựng và triển khai kế hoạch hành động nhằm thích ứng và giảm thiểu tác động tiềm tàng của BĐKH trong tương lai

Với mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé cùng các nhà khoa học, các nhà quản lý về BĐKH thực hiện các mục tiêu trên, tác giả của Luận văn đã lựa

chọn Đề tài “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tình hình sản xuất lúa tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long theo các kịch bản Biến đổi khí hậu” làm

công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ

Từ xưa đến nay, ĐBSCL được biết đến như một vựa lúa của cả nước, đóng góp hơn 50% sản lượng lúa gạo trong nước và gần 80% sản lượng xuất khẩu Do

đó, việc “đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tình hình sản xuất lúa gạo tại vùng ĐBSCL theo các kịch bản nước biển dâng” mà tác giả lựa chọn nghiên cứu làm đề tài luận văn thạc sĩ thực sự mang tính cấp bách và thiết yếu trong giai đoạn hiện nay

- Đánh giá thực trạng sản xuất lúa gạo tại vùng ĐBSCL trong giai đoạn hiện

Trang 4

nay Dựa trên cơ sở các kịch bản nước biển dâng, đánh giá tác động của nó tới tình hình sản xuất lúa gạo tại vùng ĐBSCL trong tương lai

- Đề xuất những giải pháp nhằm thích ứng và hạn chế những tác động của BĐKH theo các kịch bản nước biển dâng đến cuộc sống nói chung và tình hình sản xuất lúa gạo tại vùng ĐBSCL nói riêng

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích trên, nhiệm vụ mà đề tài phải thực hiện cụ thể như sau:

- Nghiên cứu các khái niệm, bản chất, nguyên nhân và biểu hiện của BĐKH trên thế giới và ở Việt Nam

- Nghiên cứu các kịch bản nước biển dâng đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng ở Việt Nam Sử dụng các kịch bản này để tính được diện tích đất trồng lúa bị ngập ở các tỉnh thuộc ĐBSCL Từ đó đánh giá sơ bộ thiệt hại năng suất lúa giảm do mất diện tích đất gây ra

- Đề xuất những giải pháp nhằm thích ứng và hạn chế những tác động của BĐKH đến cuộc sống nói chung và tình hình sản xuất lúa gạo tại vùng ĐBSCL nói riêng

4 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất lúa tại vùng ĐBSCL thông qua các kịch bản nước biển dâng

4.2 Giới hạn nghiên cứu

- Về mặt học thuật: Biến đổi khí hậu là một phạm trù rộng với rất nhiều biểu

hiện phức tạp ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội Trong luận văn này, lĩnh vực được chọn để đánh giá tác động là lĩnh vực trồng lúa Do tính phức tạp của vấn đề khi sự biến động các yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến sản xuất lúa

Trang 5

thường là những tổ hợp nên phương án phù hợp nhất để đánh giá tác động của chúng là dùng các mô hình Tuy nhiên, việc đánh giá này mang tính kỹ thuật và chuyên ngành cao, đòi hỏi bộ số liệu đủ lớn và chính xác, cũng như đòi hỏi phải có

sự đầu tư kinh phí nhiều Do đó, trong phạm vi của đề tài luận văn cao học này, tác giả chỉ đánh giá tác động của nước biển dâng tới sản xuất lúa theo hướng tiếp cận là tính toán một cách định lượng diện tích đất bị ngập theo các kịch bản nước biển dâng, từ đó tính toán được diện tích canh tác lúa bị mất và những thiệt hại kinh tế có thể xảy ra

- Về mặt không gian lãnh thổ: Vùng được chọn để đánh giá tác động là vùng

Đồng bằng Sông Cửu Long

- Về mặt thời gian: Các nguồn cơ sở dữ liệu được thống kê và trích dẫn từ

- Quan điểm kế thừa: dựa trên các nghiên cứu đã được thực hiện trong nước

và trên thế giới, tác giả tiếp tục đưa ra những đánh giá mới và ý tưởng giải pháp riêng áp dụng cho đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng một số phương pháp chủ yếu sau:

Trang 6

- Phương pháp Viễn thám và GIS: Sử dụng các dữ liệu vệ tinh để nhận biết

và đánh giá được sự biến đổi khí hậu; phân tích bản chất và dự báo những tác động

có thể có của nó tới các lĩnh vực khác nhau; tạo ra những nhận thức chung cho cộng đồng bằng cách xây dựng các loại bản đồ khả năng rủi ro

- Phương pháp chuyển giao giá trị: chuyển giá trị được định giá từ một nghiên cứu đã thực hiên ở một nơi nào đó (study site) đến một địa điểm khác (policy site) do cần có kết quả thông tin định giá mà lại bị hạn chế bởi thời gian và nguồn lực không thể thực hiện được việc định giá

- Phương pháp phân tích Chi phí – Lợi ích: Phân tích chi phí-lợi ích-CBA (Cost-Benefit Analysis) là công cụ kỹ thuật cho phép đưa ra một tính toán định lượng, quy đổi tất cả các chi phí (C: Cost) và lợi ích (B: Benefit) về một đơn vị đo lường thống nhất là giá trị tiền tệ giúp cho người ra quyết định dễ dàng lựa chọn phương án của mình trong quyết định chính sách công và đối với những chính sách liên quan đến biến đổi khí hậu

6 Kết cấu luận văn

Nội dung luận văn được kết cấu theo ba chương (không kể Phần mở đầu, Các bảng biểu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục)

Trang 7

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ

HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG 1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu và nước biển dâng

1.1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu

1.1.1.1 Khái niệm về biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu và là một thách thức lớn đối với môi trường toàn cầu BĐKH được hiểu như là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển ở hiện tại

và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo

Biểu hiện chủ yếu của biến đổi khí hậu là sự nóng lên trên toàn cầu mà nguyên nhân chính bắt nguồn từ sự phát thải quá mức vào khí quyển các chất có hiệu ứng nhà kính do hoạt động kinh tế và xã hội trên trái đất Kéo theo sự tăng lên của nhiệt độ toàn cầu là những biến động mạnh mẽ của lượng mưa và sự gia tăng các hiện tượng khí hậu, thời tiết cực đoan như lũ lụt, hạn hán, Hệ quả tiếp theo là nước biển dâng và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực ven biển, có thể làm ngập hoặc nhiễm mặn nhiều diện tích ruộng đất, làm mất dần rừng ngập mặn, gia tăng chi phí cho việc tu bổ các công trình cầu cảng, đô thị ven biển,

1.1.1.2 Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu

Cho đến nay, các nghiên cứu đều khẳng định rằng, biến đổi khí hậu là do hai nguyên nhân chính gây ra, đó là do những biến đổi trong sự vận động khách quan của tự nhiên và do tác động của con người

Tuy nhiên, phần lớn các nhà khoa học đều khẳng định rằng nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt động kinh tế - xã hội

Trang 8

của con người gây phát thải quá mức vào khí quyển cũng như sự gia tăng các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác tạo nên hiệu ứng nhà kính

Theo số liệu điều tra: tiêu thụ năng lượng do đốt các nhiên liệu hóa thạch đóng góp khoảng một nửa (46%) vào tiềm năng nóng lên toàn cầu; phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%; hoạt động nông nghiệp tạo ra khoảng 9% tổng số các khí thải gây ra lượng bức xạ cưỡng bức làm nóng lên toàn cầu Ngoài ra, các sản phẩm hóa học (CFC, Halon…) đóng góp 24%; các nguồn khác như chôn rác dưới đất, nhà máy xi măng…đóng góp 3% tiềm năng nóng lên toàn cầu Tổng hợp những tác động đa chiều trên là nguyên nhân chính dẫn đến BĐKH.1

1.1.1.3 Những biểu hiện của biến đổi khí hậu trên thế giới và ở Việt Nam

a/ Những biểu hiện BĐKH trên thế giới

Theo báo cáo của IPCC năm 2007, số liệu đã quan trắc được về BĐKH trên phạm vi toàn thế giới như sau:

* Nhiệt độ: + Từ năm 1906 – 2005: nhiệt độ tăng 0.740C

+ Từ năm 1956 – 2005: nhiệt độ tăng 0.640C

* Lượng mưa: + Từ năm 1900 -2005: tăng ở phía Đông châu Mỹ, Bắc

Âu, Bắc Á, Trung Á; giảm ở Sahel, Nam Phi, Nam Á

+ Lũ lụt và hạn hán gia tăng

* Lượng mưa: + Từ năm 1900 -2005: tăng ở phía Đông châu Mỹ, Bắc

Âu, Bắc Á, Trung Á; giảm ở Sahel, Nam Phi, Nam Á

Trang 9

Hình1.1: Diễn biến chuẩn sai nhiệt độ trung bình toàn cầu (Nguồn: IPCC/2007) b/ Những biểu hiện BĐKH tại Việt Nam

Ở Việt Nam, kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy biến đổi của các yếu tố khí hậu có những điểm đáng lưu ý sau:

- Nhiệt độ 2 : Trong 50 năm qua (1958 - 2007), nhiệt độ trung bình năm ở Việt

Nam tăng lên khoảng từ 0.50C đến 0.70C Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt

độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn ở các vùng khí hậu phía Nam Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961 – 2000) cao hơn của 3 thập kỷ trước đó (1931 – 1960) Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991- 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 – 1940 lần lượt là 0.8, 0.4, 0.60C Năm 2007 nhiệt độ trung bình năm

2

Nguồn: CTMTQG ứng phó với BĐKH, Bộ TNMT, 2008

Trang 10

của cả 3 nơi đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 – 1940 là 0.8 – 1.30C và cao hơn thập kỷ 1991 – 2000 là 0.4 – 0.50C (Hình 1.2)

- Lượng mưa 3 : Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung

bình năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1991 – 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống Lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa năm trong 50 năm qua (1958 – 2007) đã giảm khoảng 2%

- Không khí lạnh 4 : Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi

rõ rệt trong hai thập kỷ qua Tuy nhiên, các biểu hiện dị thường lại xuất hiện Điển hình là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 ở Bắc Bộ

- Bão 5 : Những năm gần đây, bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn

Quỹ đạo bão có dấu hiệu dịch chuyển dần về phía Nam và mùa bão có kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có đường đi dị thường hơn

- Mưa phùn 6 : Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần từ thập

kỷ 1981 – 1990 và chỉ còn một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây

Một trong những biểu hiện quan trọng khác của BĐKH ở Việt Nam được thể hiện là trong những năm gần đây, thiên tai có nguồn gốc khí tượng thuỷ văn xảy ra với tần suất gia tăng và cường độ ngày càng khốc liệt hơn, gây ra những thiệt hại về người và của là vô cùng to lớn Theo thống kê của Ủy ban Quốc gia phòng tránh lụt bão Trung ương, chỉ tính riêng năm 2007, thiên tai đã làm 435 người chết và mất tích; 7800 ngôi nhà bị sập đổ; 113.800 ha lúa bị hư hại, phá huỷ và hư hỏng nặng

Trang 11

1300 công trình đập, cầu, cống; làm sạt lở 1500 km đê với tổng thiệt hại ước tính khoảng 11.600 tỷ đồng, tương đương trên 1% GDP Đầu tháng 8/2008, mưa lũ và sạt lở ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã gây thiệt hại lớn về người và tài sản

Gần đây nhất vào cuối tháng 10, đầu tháng 11 năm 2008 đã xảy ra đợt mưa trên diện rộng thuộc 11 tỉnh, thành phía Bắc, làm 66 người chết và mất tích, gần 260.000 ha lúa, hoa màu và hơn 27.000 ha nuôi trồng thủy sản bị nhấn chìm với tổng thiệt hại ước tính là 5.300 tỷ đồng, trong đó, Thủ đô Hà Nội là nơi bị thiệt hại nặng nề nhất với 51.000 ha, Thái Bình: 25.000 ha, Hà Nam: 18.000 ha, Nghệ An: 21.000 ha Đây là đợt mưa lớn chưa từng có trong vòng 24 năm qua đối với khu vực

Hà Nội và gần 100 năm qua đối với khu vực Hà Đông và xảy ra vào thời kỳ cuối mùa mưa của khu vực Bắc Bộ, mà theo đánh giá dựa trên các tài liệu thống kê nhiều năm của các nhà khí tượng thủy văn Việt Nam thì thông thường gần như không có khả năng xảy ra các đợt mưa lớn Có thể nhận định, đợt mưa này cũng là một minh chứng cho biểu hiện ngày càng rõ nét của BĐKH ở Việt Nam

1.1.2 Tổng quan về nước biển dâng

1.1.2.1 Khái niệm về nước biển dâng

Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác

1.1.2.2 Những quan sát về mực nước biển dâng trên thế giới

Theo báo cáo của IPCC năm 2007, số liệu đã quan trắc được về mực nước biển dâng trên phạm vi toàn thế giới như sau:

+ Từ năm 1961 – 1992: tốc độ tăng của mực nước biển trung bình toàn cầu khoảng 1.8 ± 0.5 mm/năm Trong đó, đóng góp do giãn nở nhiệt khoảng 0.42 ± 0.12

Trang 12

mm/năm và tan băng khoảng 0.7± 0.50 mm/năm (Băng tuyết ở Nam Cực từ 1978 giảm 2.7% mỗi thập kỷ)

+ Từ 1993 – 2003: Theo số liệu đo đạc từ vệ tinh TOPEX/POSEIDON, tốc

độ tăng của mực nước biển trung bình toàn cầu là 3.1 ± 0.7mm/năm, nhanh hơn đáng kể so với thời kỳ 1961- 1992

Hình 1.2: Diễn biến của mực nước biển trung bình toàn cầu (Nguồn: IPCC/2007) 1.1.2.3 Những quan sát mực nước biển dâng tại Việt Nam

Số liệu quan trắc tại các trạm hải văn dọc ven biển Việt Nam cho thấy tốc độ

dâng lên của mực nước biển trung bình ở Việt Nam hiện nay là khoảng 3 mm/năm (Giai đoạn 1993 -2008), tương đương với tốc độ tăng trung bình trên thế giới Trong khoảng 20 năm qua, mực nước biển tại Trạm hải văn Hòn Dấu dâng lên khoảng 20

cm7

7

Nguồn: CTMTQG ứng phó với BĐKH, Bộ TNMT, 2008

Trang 13

1.2 Các kịch bản nước biển dâng tại Việt Nam

1.2.1 Khái niệm

Theo Ban liên Chính phủ về BĐKH (IPCC), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng là bức tranh toàn cảnh của khí hậu trong tương lai dựa trên một tập hợp các mối quan hệ khí hậu, được xây dựng để sử dụng trong nghiên cứu những hậu quả của BĐKH do con người gây ra và thường được dùng như là đầu vào cho các mô hình đánh giá tác động Các kết quả của IPCC đã được trình bày trong các báo cáo lần thứ nhất năm 1992 đến báo cáo lần thứ tư năm 2007 Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa KT-XH, GDP, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng

1.2.2 Mục tiêu

Mục tiêu của việc xây dựng các kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam là đưa ra những thông tin cơ bản về xu thế BĐKH, nước biển dâng của Việt Nam trong tương lai tương ứng với các kịch bản khác nhau về phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu dẫn đến các tốc độ phát thải nhà kính khác nhau Các kịch bản BĐKH, nước biển dâng sẽ là định hướng ban đầu để các Bộ, ngành, địa phương đánh giá tác động có thể có của BĐKH đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội; xây dựng và triển khai kế hoạch hành động nhằm thích ứng và giảm thiểu tác động tiềm tàng của BĐKH trong tương lai

1.2.3 Nội dung các kịch bản nước biển dâng tại Việt Nam

BĐKH hiện nay cũng như trong thế kỷ 21 phụ thuộc chủ yếu vào mức độ phát thải nhà kính, tức là phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, các kịch bản BĐKH được xây dựng trên các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu

Con người đã phát thải quá mức khí nhà kính vào khí quyển từ các hoạt động

Trang 14

khác nhau như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tài, phá rừng … Do đó, cơ

sở để xác định các kịch bản phát thải nhà kính là:

(1) Sự phát triển kinh tế ở quy mô toàn cầu,

(2) Dân số thế giới và mức độ tiêu dùng,

(3) Chuẩn mực cuộc sống và lối sống,

(4) Tiêu thụ năng lượng và tài nguyên năng lượng,

(5) Chuyển giao công nghệ,

(6) Thay đổi sử dụng đất …

Trong Báo cáo đặc biệt về các kịch bản phát thải khí nhà kính năm 2000,

IPCC đã đưa ra 40 kịch bản, phản ánh đa dạng khả năng phát thải khí nhà kính trong thế kỷ 21 Các kịch bản này được tổ hợp thành 4 kịch bản gốc là: A1, A2, B1

và B2 với các đặc điểm chính sau:

Hình 1.3: Biểu thị 4 kịch bản gốc về phát thải khí nhà kính (IPCC/2000)

Trang 15

- Kịch bản gốc A1: Kinh tế thế giới phát triển nhanh, dân số thế giới tăng đạt đỉnh vào năm 2050 và sau đó giảm dần; truyền bá nhanh chóng và hiệu quả các công nghệ mới, thế giới có sự tương đồng về thu nhập và cách sống, có sự tương đồng giữa các khu vực, giao lưu mạnh mẽ về văn hoá và xã hội toàn cầu

- Kịch bản gốc A2: Thế giới không đồng nhất, các quốc gia hoạt động độc lập, tự cung tự cấp, dân số tiếp tục tăng trong thế kỷ 21; kinh tế phát triển theo định hướng khu vực; thay đổi về công nghệ và tốc độ tăng trưởng kinh tế tính theo đầu người chậm (Kịch bản phát thải cao)

- Kịch bản gốc B1: Kinh tế phát triển nhanh giống như A1 nhưng có sự thay đổi nhanh chóng theo khuynh hướng kinh tế dịch vụ và thông tin, dân số tăng đạt đỉnh vào năm 2050 và sau đó giảm dần; giảm cường độ tiêu hao nguyên vật liệu, các công nghệ sạch và sử dụng hiệu quả tài nguyên được phát triển; chú trọng đến các giải pháp toàn cầu về ổn định kinh tế, xã hội và môi trường (Kịch bản phát thải thấp)

- Kịch bản gốc B2: Dân số tăng liên tục nhưng với tốc độ thấp hơn A2; chú trọng đến các giải pháp địa phương thay vì toàn cầu về ổn định kinh tế, xã hội và môi trường; mức độ phát triển kinh tế trung bình; thay đổi công nghệ chậm hơn và manh mún hơn so với A1 và B1 (Kịch bản phát thải trung bình)

Như vậy, IPCC khuyến cáo sử dụng các kịch bản phát thải được sắp xếp từ thấp đến cao là B1 (kịch bản thấp); B2 (kịch bản phát triển trung bình); A2, A1 (Kịch bản cao) Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào nhu cầu thực tiễn và khả năng tính toán của từng nước, IPCC cũng khuyến cáo lựa chọn các kịch bản phát thải phù hợp trong số đó để xây dựng kịch bản BĐKH Các nghiên cứu trong và ngoài nước về kịch bản BĐKH, nước biển dâng đã được phân tích và tham khảo để xây dựng kịch bản BĐKH cho Việt Nam, cụ thể như sau:

- Kịch bản BĐKH được xây dựng năm 1994 trong Báo cáo về biến đổi khí

Trang 16

hậu ở Châu Á do ngân hàng phát triển Châu Á tài trợ

- Kịch bản BĐKH trong Thông báo đầu tiên của Việt Nam cho công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (Viện KHKTTVMT,2003)

- Kịch bản BĐKH được xây dựng bằng phương pháp tổ hợp (phần mềm MAGICC/SCENGEN 4.1)và phương pháp chi tiết hoá (Downscaling) thống kê cho

Việt Nam và các khu vực nhỏ hơn (Viện KHTVMT,2006)

- Kịch bản BĐKH được xây dựng cho dự thảo Thông báo lần hai của Việt

Nam cho Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (Viện KHKTTVMT, 2007)

- Kịch bản BĐKH được xây dựng bằng phương pháp tổ hợp (phần mềm

MAGICC/SCENGEN 5.3) và phương pháp chi tiết hoá thống kê (Viện KHKTTVMT,2008)

- Kịch bản BĐKH cho khu vực Việt Nam được xây dựng bằng phương pháp

động lực (Viện KHKTTVMT, SEA START, trung tâm Hadley, 2008)

Các tiêu chí để lựa chọn phương pháp tính toán xây dựng kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam bao gồm:

(1) Mức độ tin cậy của kịch bản BĐKH toàn cầu

(2) Độ chi tiết của kịch bản BĐKH

Trang 17

Báo cáo lần thứ tư của IPCC ước tính, mực nước biển dâng khoảng 26 -59cm vào năm 2100, tuy nhiên không loại trừ khả năng tốc độ cao hơn

Nhiều nhà khoa học đã đánh giá rằng các tính toán của IPCC về thay đổi nhiệt độ toàn cầu là tương đối phù hợp với số liệu nhiệt độ thực đo Tuy nhiên, tính toán của IPCC về nước biển dâng là thấp hơn so với số liệu thực đo tại các trạm và bằng vệ tinh Nguyên nhân chính dẫn đến sự thiên thấp này là do các mô hình toán

mà IPCC sử dụng để phân tích đã chưa đánh giá đầy đủ các quá trình tan băng Một

số nghiên cứu gần đây cho rằng mực nước biển toán cầu có thể tăng 50 – 140cm vào năm 2100

Các kịch bản nước biển dâng cho Việt Nam được tính toán theo kịch bản phát thải thấp nhất (B1), kịch bản phát thải trung bình (B2) và kịch bản phát thải cao nhất (A1)

Kết quả tính toán theo các kịch bản phát thải thấp, trung bình và cao cho thấy vào giữa thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng thêm 28 - 33cm Đến cuối thế kỷ 21 mực nước biển dâng thêm từ 65 đến 100cm so với thời kỳ 1980 -1999 (Bảng 1.1)

Bảng 1.1 Mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980 – 1999

Trang 18

1.3 Cơ sở lý luận và thực tế đánh giá tác động của nước biển dâng tới sản xuất lúa

1.3.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận dùng để đánh giá tác động của nước biển dâng tới sản xuất lúa tại vùng ĐBSCL là một chuỗi các phương pháp đánh giá tác động môi trường như: Phương pháp Viễn thám và GIS, phương pháp chuyển giao giá trị, phương pháp phân tích lợi ích – chi phí…

1.3.1 1 Phương pháp Viễn thám và GIS

Ở Việt Nam, Viễn thám và GIS là một ngành khoa học còn khá mới mẻ và được ít người biết đến, chúng ta vẫn thường nghe rất nhiều người hỏi Viễn thám là

gì Ta có thể hiểu một cách đơn giản Viễn thám là một ngành khoa học quan trắc và thu thập dữ liệu, còn GIS là khoa học phân tích và xử lý số liệu Tuy chưa phổ biến nhưng phương pháp Viễn thám và GIS có rất nhiều ứng dụng trong việc thành lập

và hiện chỉnh bản đồ; đánh giá, giám sát tài nguyên môi trường, đặc biệt nhất là trong đánh giá các vấn đề liên quan đến thiên tai Thông tin viễn thám rất phù hợp trong việc tiếp cận, điều tra khu vực đang và sẽ bị ngập do lũ lụt, nước biển dâng Tính ưu việt của nó thể hiện ở việc thu thập thông tin trên một phạm vi rộng, dữ liệu truyền nhanh Do đó, trong bài luận văn này, tác giả đã sử dụng phương pháp Viễn thám và GIS để phân tích, đánh giá tác động của BĐKH đến sản xuất lúa theo các kịch bản nước biển dâng

Một cách cụ thể hơn, trong luận văn này, tác giả đã sử dụng bộ bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ ngập lụt có được do công nghệ Viễn thám cung cấp kết hợp với phần mềm xử lý số liệu ArcGis để tính ra được phần diện tích đất bị mất do nước biển dâng theo các kịch bản

Phương pháp Viễn thám và GIS rất hữu dụng trong việc xử lý thông tin trên một phạm vi rộng, tổng quát Tiềm năng ứng dụng của phương pháp này là rất lớn,

Trang 19

đòi hỏi có nhiều công trình nghiên cứu để có thể khai thác tối đa tính ưu việt của nó trong thực tế Tuy nhiên, phương pháp Viễn thám và GIS mới chỉ đưa ra được phần diện tích đất bị mất theo các kịch bản nước biển dâng Để tính toán được giá trị thiệt hại kinh tế, so sánh chi phí – lợi ích giữa giá trị thiệt hại đó với các biện pháp phòng tránh như xây dựng hệ thống đê, thuỷ lợi thì cần phải phối hợp với một số phương pháp kinh tế khác

1.3.1.2 Phương pháp phân tích lợi ích – chi phí

Trong việc đưa ra các chính sách công, người ra quyết định thường phải cân nhắc lựa chọn giữa cái giá phải trả cho thực hiện chính sách và lợi ích thu về từ chính sách đó mang lại Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự lựa chọn quyết định của các nhà ra chính sách gặp rất nhiều khó khăn vì những sự lựa chọn mang tính chất định tính hay trực quan, thiếu một tính toán có tính định lượng Phân tích chi phí-lợi ích-CBA (Cost-Benefit Analysis) là công cụ kỹ thuật cho phép đưa ra một tính toán định lượng, quy đổi tất cả các chi phí (C: Cost) và lợi ích (B: Benefit) về một đơn vị

đo lường thống nhất là giá trị tiền tệ giúp cho người ra quyết định dễ dàng lựa chọn phương án của mình trong quyết định chính sách công và đối với những chính sách liên quan đến biến đổi khí hậu Như vậy thông qua phân tích chi phí-lợi ích, một chính sách hay một hoạt động được thực hiện khi và chỉ khi lợi ích của chính sách hay hoạt động đó thu về lớn hơn so với chi phí bỏ ra Hay nói các khác, giá trị lợi nhuận thuần của dự án bằng lợi ích trừ đi chi phí phải lớn hơn 0 Trong trường hợp

có nhiều chính sách hay hoạt động phải lựa chọn trong hoàn cảnh nguồn lực có hạn thì chính sách hay hoạt động nào có lợi ích ròng lớn nhất sẽ được lựa chọn

Trong luận văn này, tác giả sẽ so sánh lợi ích- chi phí giữa hai phương án: đắp đê hay không đắp đê ở vùng ĐBSCL để ứng phó với biến đổi khí hậu Quá trình tính toán sẽ áp dụng một số công trình cơ bản sau để tính giá trị dòng tiền trong tương lai

Trang 20

FV = PV * (1+r)^n

Trong đó: FV: Giá trị tương lai của dòng tiền

PV: Giá trị hiện tại của dòng tiền đầu tư R: tỷ lệ chiết khấu

n: Số năm đầu tư

2 NFV = FB – FC

Trong đó: NFV: Giá trị tương lai thuần của dòng tiền

FB: Giá trị tương lai của dòng lợi ích FC: Giá trị tương lai của dòng lợi ích

Nếu NFV > 0: dự án có thể được chấp nhận Và ngược lại

1.3.1.3 Phương pháp chuyển giao giá trị

Phương pháp chuyển giao giá trị/lợi ích (Benefit/Value Transfer Method): là phương pháp thứ cấp được các nhà kinh tế sử dụng để định giá các giá trị môi trường Nội dung của phương pháp là chuyển giá trị được định giá từ một nghiên cứu đã thực hiên ở một nơi nào đó (study site) đến một địa điểm khác (policy site)

do cần có kết quả thông tin định giá mà lại bị hạn chế bởi thời gian và nguồn lực không thể thực hiện được việc định giá Có ba cách để thực hiện việc chuyển giao giá trị

- Chuyển giao giá trị WTP trung bình (lấy kết quả được định giá từ điểm nghiên cứu)

- Chuyển giao các giá trị WTP hiệu chỉnh (đã điều chỉnh kết quả định giá từ điểm nghiên cứu do sự khác nhau về thu nhập, giáo dục,…)

Trang 21

- Chuyển giao hàm số (lấy hàm số đã ước lượng được từ điểm nghiên cứu hoặc hàm số chung thu được từ kết quả ước lượng các hàm số của các điểm nghiên cứu khác nhau)

1.3.2 Cơ sở thực tế

1.3.2.1 Tầm quan trọng của cây lúa đối với đời sống xã hội

Trên thế giới, cây lúa được 250 triệu nông dân trồng, là lương thực chính của 1,3 tỉ người nghèo nhất trên thế giới, là sinh kế chủ yếu của nông dân Là nguồn cung cấp năng lượng lớn nhất cho con người, bình quân 130 - 200 kg gạo/ người/ năm tại các nước châu á , khoảng 10 kg/ người/ năm tại các nước châu Mỹ

* Sản phẩm chính của cây lúa

Sản phẩm chính của cây lúa là gạo làm lương thực Từ gạo có thể nấu cơm, chế biến thành các loại món ăn khác như bánh đa nem, phở, bánh đa,bánh chưng, bún, rượu Ngoài ra còn bánh rán, bánh tét, bánh giò và hàng chục loại thực phẩm khác từ gạo

* Sản phẩm phụ của cây lúa

- Tấm: sản xuất tinh bột, cồn, Axêtôn, phấn mịn và thuốc chữa bệnh

- Cám : Dùng để sản xuất thức ăn tổng hợp; sản xuất vitamin B1 để chữa bệnh tê phù, chế tạo sơn cao cấp hoặc làm nguyên liệu xà phòng

- Trấu: sản xuất nấm men làm thức ăn gia súc, vật liệu đóng lót hàng, vật liệu độn cho phân chuồng, hoặc làm chất đốt

- Rơm rạ: được sử dụng cho công nghệ sản suất giầy, các tông xây dựng, đồ gia dụng( thừng, chão, mũ, giầy dép), hoặc làm thức ăn cho gia súc, sản xuất nấm

Như vậy, ngoài hạt lúa là bộ phận chính làm lương thực, tất cả các bộ phận

Trang 22

khác của cây lúa đều được con người sử dụng phục vụ cho nhu cầu cần thiết, thậm chí bộ phận rễ lúa còn nằm trong đất sau khi thu hoạch cũng được cày bừa vùi lấp làm cho đất tơi xốp, được vi sinh vật phân giải thành nguồn dinh dưỡng bổ sung cho cây trồng vụ sau

1.3.2.2 Tác động của Biến đổi khí hậu tới sản xuất lúa

Các nhà khoa học, chuyên gia cho biết, sau năm 2020 biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến diện tích trồng lúa Vào mùa mưa lũ; BĐKH, nước biển dâng sẽ làm cho nhiều ha đất nông nghiệp bị ngập và bị nhiễm mặn không sản xuất được, trong đó phần lớn là đất trồng lúa Mưa nhiều gây hiện tượng lũ lụt, ngập úng ảnh hưởng nghiêm trọng tới diện tích canh tác nông nghiệp Diện tích đất trồng lúa

bị giảm sút sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất cây trồng Vào mùa hanh khô, BĐKH cũng gây ra hiện tượng nắng nóng kéo dài, khô hạn thiếu nước, tác động mạnh tới sản lượng và năng suất cây lúa

BĐKH và nước biển dâng có tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng

và sản lượng của cây lúa Thật vậy BĐKH có khả năng làm tăng tần số, cường độ, tính biến động và tính cực đoan của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, lốc, các thiên tai BĐKH làm thay đổi nhiệt độ và lượng mưa, gây ra những diễn biến bất thường về thời tiết như khô nóng hay hạn hán; lũ lụt hay ngập úng; rét đậm rét hại kéo dài; xâm nhập mặn; sâu bệnh Từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng, hình thành năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng Các ảnh hưởng cực đoan của BĐKH như lũ lụt, bão lốc không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới cây trồng trên đồng ruộng mà còn phá hủy các kho tàng sau thu hoạch, phá hủy các công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp, biến đổi tài nguyên nước tại các lưu vực sông, ảnh hưởng tới hệ thống cấp thoát nước tưới tiêu Khả năng hạn hán cũng sẽ tăng do thời tiết khô nóng xuất hiện nhiều hơn làm tăng nguy cơ sa mạc hóa đồng ruộng và tăng nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp Đặc biệt, BĐKH sẽ làm thay đổi điều kiện khí hậu nông nghiệp, thay đổi cơ cấu thời vụ, phá vỡ tập quán canh tác từ lâu đời

Trang 23

của nông dân Đó chính là những ảnh hưởng gián tiếp của BĐKH tới sản xuất lúa

Tóm lại, sản xuất nông nghiệp là một ngành phụ thuộc rất nhiều vào các yếu

tố tự nhiên như khí hậu, đất đai Do đó trong tương lai, rất cần có những nghiên cứu sâu và chuyên ngành về vấn đề này để giảm thiểu tác động của BĐKH, nước biển dâng tới sản xuất lúa gạo nói riêng và lĩnh vực nông nghiệp nói chung

1.4 Giảm thiểu tác động của BĐKH và nước biển dâng tới sản xuất lúa

Về mặt lý thuyết, để giảm thiểu tác động của BĐKH và nước biển dâng tới sản xuất lúa nói riêng và đời sống kinh tế - xã hội – văn hoá nói chung chúng

ta phải thực hiện các biện pháp để hạn chế thấp nhất diễn biến của BĐKH và nước biển dâng Như vậy, chúng ta phải ngăn chặn các nguyên nhân gây ra BĐKH, nước biển dâng (như phần trên đã nói) – tức là ngăn chặn các hoạt động phát thải quá mức gây nên hiệu ứng nhà kính Một số biện pháp được đưa ra và

áp dụng vào thực tế đó là: sử dụng nhiên liệu hoá thạch một cách hợp lý; nghiên cứu khai thác và sử dụng các loại nhiên liệu sạch thay thế như năng lượng mặt trời, sức gió; xây dựng những thành phố ít Cacbon; sử dụng phân bón hữu cơ trong nông nghiệp và lâm nghiệp; đắp đê biển, trồng rừng ngập mặn; thực hiện sản xuất sạch hơn; bảo vệ gìn giữ môi trường v v

Một sô biện pháp khác nhằm giảm thiêu tác động của BĐKH, nước biển dâng cũng rất quan trọng đó là: giáo dục nâng cao ý thức cộng đồng người dân

để mọi người dân đều có nhận thức đầy đủ về tính tất yếu phải ứng phó với BĐKH, nước biển dâng; nâng cao vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực sử dụng, khai thác và gìn giữ tài nguyên môi trường quốc gia; đào tạo nguồn nhân lực đủ trình độ khoa học và công nghệ; đẩy mạnh hợp tác và kêu gọi sự chia sẻ quốc tế về mặt tài chính, công nghệ kỹ thuật dể thực hiện các giải pháp ứng phó với BĐKH một cách hiệu quả nhất

Trang 24

CHƯƠNG II HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT LÚA Ở ĐỒNG BẰNG

SÔNG CỬU LONG 2.1 Giới thiệu chung về vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

2.1.1 Vị trí địa lý

Hình 2.1 – Sơ đồ vị trí địa lý vùng ĐBSCL Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất màu mỡ ở phía Tây Nam Việt Nam, do phù sa sông Cửu Long bồi đắp, còn gọi là miền Tây Nam Bộ, thường được người dân trìu mến gọi là miền Tây Vùng bao gồm 13 đơn vị hành chính trực thuộc trung ương là: tỉnh Long An, tỉnh Tiền Giang, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Vĩnh

Trang 25

Long, tỉnh Trà Vinh, tỉnh Hậu Giang, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Bến Tre, tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang, tỉnh Bạc Liêu, tỉnh Cà Mau và thành phố Cần Thơ

Khác với Đồng bằng sông Hồng là vùng đã được khai thác lâu đời, có lịch sử nông nghiệp hàng ngàn năm, ĐBSCL là vùng mới được khai thác khoảng 500 – 600 năm trở lại đây Diện tích toàn châu thổ là 40.604,7 km2 với bờ biển dài trên 700

km ĐBSCL nằm tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Vùng Đông Nam

Bộ (khu vực kinh tế năng động nhất Việt Nam) Phía Tây Bắc giáp Campuchia, ba mặt Đông, Nam và Tây có biển bao bọc Vị thế nằm trong khu vực có đường giao thông hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng, giữa Nam Á, Đông Á, Châu Úc

và rất gần các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philippin, Indonesia Đây là vị trí thuận lợi trong việc phát triển kinh tế biển, khai thác và nuôi trồng thủy sản phục vụ cho nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

2.1.2 Điều kiện tự nhiên, xã hội

- Về điều kiện tự nhiên: Địa hình ĐBSCL tương đối bằng phẳng, độ dốc không đáng kể, (1cm/km), bình độ cao nhất 5m Sông Cửu Long với hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, dài trên 120km, lưu vực rộng, không có đê nên lũ tương đối đều

và hàng năm vào mùa mưa gây ngập một vùng tương đối lớn, diện ngập khoảng 500.000 ha, nơi ngập sâu nhất đến 3-4m (An Giang), trung bình 1-2m (Đồng Tháp), vùng ven biển ngập ít hơn Lượng phù sa của sông Cửu Long tương đối lớn, 1000 triệu tấn/năm, lượng phù sa trong 1 m3 nước là 0.100 kg vào mùa khô (tháng 3-4) và 0.300 kg vào mùa lũ cao (tháng 9-10) Vì không có đê nên hàng năm phù sa bồi đắp hầu như toàn vùng châu thổ và lấn biển ở vùng đất mũi Cà Mau

- Về đất đai: Chủ yếu là phù sa sông Tiền và sông Hậu và các nhánh của chúng (khoảng trên 1.800.000 ha), đất phèn trên 1.100.000 ha, đất mặn 320.000 ha, đất than bùn…

Vùng đất phù sa, thành phần chủ yếu thường là sét, thành phần dinh dưỡng

Trang 26

phong phú nhưng thường thiếu lân Đất phèn ảnh hưởng chủ yếu của sunfat sắt, sunfat nhôm, độ pH thường thấp, phần lớn pH từ 4.5 -5, một số ít có pH 5-6 Ở Đồng Tháp Mười cá biệt có chỗ pH ≤ 3

Vùng đất mặn do ảnh hưởng của biển và thủy triều, đất than bùn chủ yếu ở vùng rừng U Minh, có nhiều chất hữu cơ, dày 30 cm, có nơi trên 3m, thường thiếu các nguyên tố phụ (minor elements)

Nói chung, đất trồng lúa ở vùng ĐBSCL có thành phần chủng loại phong phú, hàm lượng dinh dưỡng cao Tuy nhiên đối với các loại đất chua phèn, mặn cần

có biện pháp cải tạo sử dụng hợp lý để phát huy đầy đủ tiềm năm của chúng

- Về điều kiện xã hội: Vùng ĐBSCL bao gồm 13 đơn vị hành chính trực thuộc trung ương là: tỉnh Long An, tỉnh Tiền Giang, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Trà Vinh, tỉnh Hậu Giang, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Bến Tre, tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang, tỉnh Bạc Liêu, tỉnh Cà Mau và thành phố Cần Thơ Với diện tích khoảng 40.604,7 km2, ĐBSCL chiếm khoảng 12,3% diện tích cả nước Theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009, dân số vùng ĐBSCL là 17.524.000 người, chiếm khoảng 20,5% dân số cả nước (Bảng 2.1)

2.1.3 Tình hình thời tiết, khí hậu

ĐBSCL nằm trong vùng khí hậu cận xích đạo, ít có bão lớn xảy ra, nhiệt độ trung bình 270C, nhiệt độ tối thiểu trung bình 250C, nhiệt độ tối đa trung bình 330C, trung bình giờ chiếu sáng hàng năm là 2500 giờ, ít nhất là 2200 giờ, năng lượng bức

xạ mặt trời 450 calo/cm2/ ngày, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển cây lúa Do đó mùa vụ gieo trồng chỉ phụ thuộc chủ yếu vào chế độ mưa và lượng mưa Lượng mưa trung bình hàng năm 1500-2000 mm, nhưng phân bố không đều giữa các vùng trong đồng bằng Nơi có lượng mưa nhiều nhất là bán đảo Cà Mau,

và ít nhất là một phần của Gò Công, Bến Tre Một năm chia làm hai mùa: mùa mưa

từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 90% lượng mưa xảy ra

Trang 27

từ tháng Năm đến tháng Mười Mùa lũ sông Cửu Long bắt đầu vào tháng 6, cao vào trung tuần tháng 7, sau đó giảm xuống rồi lại lên vào tháng 9 -10 Mùa khô thường khô hơn vì không có thời kỳ mưa phùn ẩm ướt vào tháng 2 -3 như ở miền Bắc Độ

ẩm tương đối bình quân 81.8%, so với Huế là 89.1% và Hà Nội 84.5% Gió mùa Đông Nam hoặc Tây Nam, hầu như không chịu ảnh hưởng của bão

Bảng 2.1: Bảng thống kê diện tích, dân số vùng ĐBSCL

STT Tên tỉnh Diện tích (km2) Dân số (nghìn

người)

Mật độ (Ng/km2)

2.2 Tầm quan trọng của sản xuất lúa gạo tại vùng ĐBSCL đối với vấn đề

an ninh lương thực trong nước và quốc tế

Khái niệm về An ninh lương thực: Hội nghị lương thực thế giới 1974, khái

Trang 28

niệm an ninh lương thực được hiểu theo nghĩa hẹp là “sự sẵn có của nguồn cung lương thực thế giới ở mọi lúc nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong điều kiện biến đổi về sản xuất và giá cả lúa gạo”

Hội nghị lương thực thế giới năm 1996 đã mở rộng khái niệm an ninh lương thực theo chuỗi từ cấp độ cá nhân đến cấp độ toàn cầu và chuyển hóa từ lượng sang

chất “An ninh lương thực đạt được ở mỗi cá nhân, mỗi hộ, mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, và cấp độ toàn cầu cầu khi tất cả mọi người, ở mọi lúc, mọi nơi đều có đủ chất dinh dưỡng cho cuộc sống”

Có thể hiểu một cách khái quát rằng, an ninh lương thực chính là đủ lương thực cho xã hội để không ai bị đói, người làm ra lương thực không bị nghèo đi so với mặt bằng chung của xã hội

Liên hợp quốc cho hay, năm 2008, khoảng 1 tỷ 100 triệu người trên thế giới

bị đói, tăng hơn 100 triệu so với năm 2007 do cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu

Cơ quan lương thực Liên hợp quốc (FAO) cho rằng con số này lớn đến mức kỷ lục Giám đốc FAO nói rằng tỷ lệ người đói trên thế giới chiếm khoảng 1/6 dân số toàn cầu đang là mối đe dọa nguy hiểm cho an ninh và hòa bình trên thế giới Phần lớn người suy dinh dưỡng sống ở các nước đang phát triển Hơn một nửa số này khoảng

642 triệu người là cư dân vùng Á châu Thái Bình Dương

Một số nhà khoa học cho rằng từ “lương thực” theo nghĩa tiếng Việt chỉ những nông sản có chứa tinh bột, do đó nếu nói an ninh lương thực là chưa đủ bởi

vì theo nghĩa tiếng Anh “FOOD” có nghĩa bao hàm cả lương thực và thực phẩm (thịt, rau, đậu, trứng, quả, thủy sản) có giá trị dinh dưỡng cho con người và giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ lẫn nhau Trong phạm vi bài viết này, sẽ tập trung vào khái niệm an ninh lương thực lấy lúa gạo là đối tượng chủ yếu

Theo mạng thông tin khoa học công nghệ Việt Nam năm 2008, trên thế giới, năm 1980 đạt 1.565,7 triệu tấn, bình quân 352 kg/người, năm 1990 đạt 1.954,67

Trang 29

triệu tấn đạt 369 kg/người, năm 2007 đạt 2,125 triệu tấn Để giảm bớt phụ thuộc vào dầu mỏ, hiện có 41 nước trên thế giới khuyến khích sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học ethanol từ mía đường, ngô sắn làm cho sản lượng ngũ cốc trên thế giới năm 2007 đạt 2,1 tỷ tấn tăng 4,3% nhưng có đến 33 nước vẫn bị thiêú lương thực

Ở Việt Nam, sản xuất lúa gạo đã gắn liền với truyền thống lịch sử hang nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Cây lúa có vị trí rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và đời sống của người nơi đây Hiện nay, sản lượng lúa chiếm trên 90% sản lượng cây lương thực có hạt, liên quan đến việc làm và thu nhập của khoảng 80% số hộ nông dân Với dân số trên 80 triệu và 100% người Việt Nam sử dụng lúa gạo làm lương thực chính, lúa gạo cung cấp khoảng 60% năng lượng trong khẩu phần ăn của người dân Việt Nam Vì vậy cây lúa có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Việt Nam

2.3 Thực trạng tình hình sản xuất lúa gạo tại vùng ĐBSCL

So với Đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ thì ĐBSCL có những thuận lợi cơ bản về điều kiện tự nhiên, đất đai, thời tiết, khí hậu với sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng Do đó, từ lâu vùng ĐBSCL đã trở thành vựa lúa lớn nhất trong cả nước và là nơi cung cấp nguồn gạo chính cho xuất khẩu của Việt Nam Thực tế cho thấy, cây lúa có vị trí quan trọng đặc biệt ở ĐBSCL, đóng góp 50% sản lượng lúa cả nưóc và 80% gạo xuất khẩu Lúa trồng nhiều nhất ở các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Tiền Giang Lúa gắn liền với đời sống kinh tế và tinh thần của bà con vùng ĐBSCL, trở thành một biểu tượng sống động cho sự phồn thịnh ở nơi đây Chúng ta hãy điểm qua những gì cây lúa đã, đang và sẽ đem lại cho nền kinh tế nông nghiệp vùng ĐBSCL nói riêng và nền kinh tế sản xuất lúa gạo của Việt Nam nói chung

2.3.1 Các vụ lúa chính ở Đồng bằng Sông Cửu Long

Ở Đồng bằng Sông Cửu Long trước đây nói chung hàng năm chỉ làm một vụ lúa vào mùa mưa (vụ mùa) Vụ lúa này thường bắt đầu vào đầu mùa mưa (tháng 5-

Trang 30

6) và kết thúc vào cuối mùa mưa (cuối năm hoặc đầu năm sau) Phần lớn dung các giống địa phương dài ngày, thích nghi với nước sâu Tùy theo địa hình có mức nước ngập khác nhau mà hình thành các loại lúa khác nhau như: lúa cấy 1 lần, lúa cấy 2 lần (lúa giảm) và lúa nổi Ngoài ra ở một số vùng, nếu có bờ cao giữ nước, gieo được mạ sớm cũng có thể làm được 2 vụ trong năm

Từ sau ngày giải phóng miền Nam (1975) nhờ giải quyết vấn đề thủy lợi, đào kênh dẫn nước ngọt, sử dụng giống lúa ngắn ngày với kinh nghiệm thâm canh tăng

vụ lúa ở miền Bắc, những người dân ở ĐBSCL đã nghiên cứu, thí nghiệm và phát triển thêm những vụ lúa mới Đó là vụ lúa Thu phân, làm sớm trước khi vào mùa mưa ở những vùng bị ngập và vụ lúa Đông xuân làm trong mùa khô Những vụ lúa này đã được phát triển nhanh chóng, góp phần quan trọng vào việc tăng sản lượng lúa ở vùng ĐBSCL

2.3.1.1 Vụ mùa

Là vụ lúa cổ truyền, tùy theo chân đất cao –thấp mà hình thành 3 loại:

- Lúa cấy 1 lần: Tập trung ở phần dưới Châu thổ, từ hạ lưu sông Tiền xuống

Cà Mau là những chân ruộng cao, có bờ giữ nước, đất tốt Mạ được gieo vào tháng 6-7, dùng giống địa phương dài ngày có thời gian sinh trưởng khác nhau nên hình thành 3 vụ: vụ sớm, vụ lỡ và vụ muộn, có thời gian thu hoạch tương ứng vào tháng

10 -11 (vụ sớm), tháng 12 (vụ lỡ) và tháng 1-2 năm sau (vụ muộn) Những vụ lúa này thường làm trên đất phù sa tốt ở Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Kiên Giang…

- Lúa cấy 2 lần (lúa giảm): Tập trung ở các tỉnh Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Đồng Tháp Mạ được gieo vào tháng 6 Sau khoảng 40-55 ngày nhổ cấy lần đầu Sau đó khoảng 50-60 ngày nhổ cấy lần 2 Vụ này thường kết thúc vào tháng 2-

3 khi trời đã khô

- Lúa nổi (lúa sạ): Tập trung ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang…

Trang 31

có mức ngập sâu từ 1m trở lên, có nơi ngập đến 2-3 m trong mùa mưa Vào tháng

3-4 trước khi nước lên 2 tháng bắt đầu dọn ruộng, làm đất và gieo hạt Sau đó lúa ra hoa, phơi màu vào tháng 11-12, khi ruộng đã khô gặt vào tháng 2-3

2.3.1.2 Vụ Thu phân

Vụ thu phân là một vụ lúa mới, ngắn ngày, làm tranh thủ trước mùa mưa Vụ thường gieo mạ hoặc sạ vào 3-4, ra hoa giữa tháng 6-7, gặt vào giữa tháng 7 đến giữa tháng 8 Vụ thu phân có thể đưa vào vùng cấy một vụ mùa, cấy lúa giảm hoặc

sạ lúa nổi để tranh thủ tăng vụ hoặc tránh nước ngập sâu vì được gặt sớm trước khi nước lên

2.3.1.3 Vụ Đông xuân

Vụ Đông Xuân là vụ lúa mới, ngắn ngày, làm trong mùa khô, chính thức hình thành và phát triển mạnh từ sau ngày giải phóng miền Nam Vụ được bắt đầu vào cuối mùa mưa, tháng 11-12 Sau khi nước rút, tiến hành gieo mạ hoặc gieo thẳng (sạ) Sử dụng các giống cực ngắn, sinh trưởng trong vòng 100 -110 ngày Lúa

ra hoa trong tháng 2 hoặc đầu tháng 3, gặt cuối tháng 3 đầu tháng 4 Sau khi thu hoạch lúa đông xuân có thể làm tiếp vụ lúa thu phân

2.3.2 Thực trạng tình hình sản xuất lúa gạo tại vùng ĐBSCL

2.3.2.1 Diện tích đất trồng lúa tại vùng ĐBSCL

Theo Tổng cục thống kê, số liệu về diện tích đất trồng lúa ở ĐBSCL so với

cả nước từ năm 1995 đến sơ bộ năm 2008 như sau (Bảng 2.2) Trong vòng 5 năm từ năm 1995 -2000, diện tích gieo trồng lúa cả nước tăng từ 6.76 triệu ha lên 7.41 triệu

ha, trong đó vùng ĐBSCL có diện tích gieo trồng chiếm từ 47% đến 51% so với cả nước Từ năm 2000 – 2008, diện tích gieo trồng lúa cả nước có phần thu hẹp lại, nhưng tỷ trọng của vùng ĐBSCL lại có xu hướng tăng lên 52% Trong 13 tỉnh thành của vùng ĐBSCL, vùng Tứ giác Long Xuyên (gồm 3 tỉnh Kiên Giang, An Giang và

Trang 32

Cần Thơ ) và vùng Đồng Tháp Mười (gồm 3 tỉnh Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp) là có diện tích gieo trồng lúa lớn nhất

Biểu đồ 2.1: Diện tích gieo trồng lúa tại vùng ĐBSCL so với cả nước

Trang 33

Bảng 2.2 Diện tích gieo trồng lúa tại vùng ĐBSCL so với cả nước (Nguồn: Tổng cục Thống kê) Đơn vị: Nghìn ha

An Giang 391.8 417.2 415.0 429.2 462.9 464.4 459.1 477.2 503.9 523.0 529.7 503.5 520.3 564.5 Kiên Giang 380.3 449.6 439.7 505.9 521.3 541.0 550.6 575.9 563.0 570.3 595.8 595.1 582.9 609.2 Cần Thơ 401.8 405.8 389.4 433.7 466.6 413.4 441.1 456.6 453.4 229.9 232.0 222.8 207.9 218.6

Sóc Trăng 275.6 320.2 330.7 343.6 356.5 370.4 348.8 354.9 349.6 315.2 321.6 324.4 325.4 322.3 Bạc Liêu 130.0 139.8 152.0 170.7 205.9 217.3 178.1 169.8 150.4 137.3 141.3 144.1 149.9 155.0

Cà Mau 187.1 201.1 220.9 234.0 243.8 248.2 131.5 130.5 107.0 131.6 109.6 115.4 123.1 132.9

Trang 34

2.3.2.2 Sản lượng lúa tại vùng ĐBSCl

Với diện tích gieo trồng lúa chiếm hơn 50% so với cả nước, một điều dễ hiểu là tại sao vùng ĐBSCL hang năm đóng góp hơn 50% sản lượng lúa gạo trong cả nước và hơn 80% sản lượng lúa gạo xuất khẩu Trong 13 t ỉnh thuộc vùng ĐBSCL, Kiên Giang là tỉnh có diện tích gieo trồng lúa cao nhất, nhưng An Giang lại là tỉnh dẫn đầu trong việc đạt sản lượng lúa cao nhất Điều đó cho thấy năng suất gieo trồng tại An Giang cao nhất trong khu vực

Trang 35

Bảng 2.3 Sản lượng lúa tại vùng ĐBSCL so với cả nước (Nguồn: Tổng cục Thống kê) Đon vị: Nghìn tân

Trang 36

Bảng 2.4: Cơ cấu vụ lúa của vùng ĐBSCL (Nguồn: Tổng cục Thống kê)

Biểu đò 2.3: Cơ cấu vụ lúa

Trang 37

Nhìn vào biểu đồ cơ cấu vụ lúa tại vùng ĐBSCL ta thấy sản lượng lúa Đông xuân và Thu phân chiếm tỷ trọng rất cao, vượt xa sản lượng vụ mùa Như

đã phân tích ở trên, trong hai vụ Đông xuân và Thu phân, người dân vùng ĐBSCL chủ yếu sử dụng giống lúa cao sản, ngắn ngày, cho năng suất cao; thay thế dần giống lúa truyền thống của vụ mùa Điều này cho thấy một sự tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, thay đổi giống lúa thích hợp… nhằm tăng sản lượng, năng suất cây trồng

2.3.2.2 Năng suất lúa tại vùng ĐBSCl

Năng suất lúa được hiểu như là hiệu quả gieo trồng trên một đơn vị diện tích Năng suất được tính bằng cách chia sản lượng đạt được trên tổng diện tích gieo trồng Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, năng suất lúa trung bình của cả nước tăng từ 36,9 tạ/ha năm 1995 đến 52,2 tạ/ha năm 2008 Một điều đáng mừng là năng suất lúa tại vùng ĐBSCL luôn bằng hoặc cao hơn năng suất gieo trồng của

cả nước Trong năm 2008, năng suất lúa tại vùng ĐBSCL đạt mức cao nhất 53,6 tạ/ha và có triển vọng đạt cao hơn trong năm 2009, 2010 (Bảng 2.5)

Biểu đồ 2.4: Năng suất lúa của vùng ĐBSCL

Trang 38

Bảng 2.5 : Năng suất gieo trồng lúa vùng ĐBSCL so với cả nước (Nguồn: Tổng cục Thống kê) Đơn vị: Nghìn tấn/ha

Cà Mau 28.4 29.7 24.9 30.7 34.6 34.3 31.8 32.2 33.0 30.7 35.3 34.9 34.1 36.5

Trang 39

2.4 Hệ thống đê thuỷ lợi tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Ở Việt Nam, xây dựng đê điều từ lâu đã được xem như là một cách thức hiệu quả nhất để giảm thiểu ảnh hưởng của lũ lụt Cha ông chúng ta đã bắt đầu xây dựng đắp đê từ hàng ngàn năm về trước Kể từ năm 1994, Việt Nam đã xây dựng được khoảng 5.000 km đê sông và 2000 m đê biển Tuy nhiên, hầu hết hệ thống đê sông thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng ở phía Bắc Việt Nam Trong khi đó, ở miền Nam Việt Nam, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long hàng năm chịu rất nhiều trận lũ mà rất ít trong số đó có đê bảo vệ Trong các khu vực này, từ những năm đầu của thế kỷ 20; người ta đã xây dựng một hệ thống rộng lớn kênh thoát nước và trạm bơm để phục vụ cho nông nghiệp; bên cạnh đó còn có một hệ thống dày đặc kênh đa năng để điều hướng, thoát nước, thủy lợi, vận chuyển nước lũ, và một phần để loại trừ các nguồn nước nhiễm mặn và xả nước nhiễm phèn chua (Imamura, F &To, 1997) Ngoài ra, còn có 500 km bờ bao nhằm kiểm soát lũ lụt và ngăn xâm nhập mặn (Tinh, 1999) Chúng thường có chất lượng kém bởi hầu hết chúng được làm bằng đất bởi lực lượng lao động thủ công, không có công nghệ khoa học được áp dụng

Tuy nhiên, sau ảnh hưởng nghiêm trọng của cơn bão Linda năm 1997, việc kiểm soát lũ, trong đó bao gồm cả việc dự báo và cảnh báo để cải thiện hệ thống kênh rạch sông ngòi đã được giới thiệu tại vùng ĐBSCL Mỗi tỉnh trong vùng đã xây dựng cho mình một hệ thống đê bao quanh bờ biển:

- Tỉnh Tiền Giang có đê Gò Công dài 21 km

- Tỉnh Bến Tre có đê Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú; trong đó đê Bình Đại là tuyến đê dài nhất với 40 km

- Tỉnh Trà Vinh có đê Hiệp Thành dài 1,5 km

- Tỉnh Sóc Trăng có đê Long Phú dài 72 km

- Tỉnh Bạc Liêu có 56 km đê bao bọc, tuy nhiên những con đê này chỉ chịu được sức bão mạnh cấp 9

- Tỉnh Cà Mau có 150 km đê ở phía Tây và 260 km đê ở phía Đông

Trang 40

- Tỉnh Kiên Giang có 47 km đê và 23 cống ngăn mặn

Tuy nhiên, sau một thập niên trải qua những cơn bão nghiêm trọng và dưới áp lực kinh tế, chất lượng kỹ thuật của hệ thống đê biển ở ĐBSCL đã bị suy giảm Hệ thống đê ở bờ biển phía Tây tỉnh Cà Mau đã giảm từ 2.5 m xuống chỉ còn từ 0.7 – 2 m vì hiện tượng lún sụp, còn hệ thống đê ở Trà Vinh gần như là biến mất hoàn toàn Thực tế đã chứng minh cho chúng ta thấy những hệ thống đê rời rạc như trên sẽ không thể tồn tại trong một thời gian dài, đặc biệt khi nước biển dâng cao Đồng bằng Sông Cửu Long cần có một kế hoạch toàn diện để nâng cấp hệ thống đê nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu

Bởi vậy, Thủ tướng chính phủ nước Việt Nam đã ký Quyết định số 667/QĐ-Ttg ngày 27 tháng 5 năm 2009 phê duyệt chương trình củng cố và nâng cấp hệ thống đê điều từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang Nó dự kiến sẽ hợp nhất 618

km đê biển và 741 km đê sông theo cách không những tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi lại mà còn tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Hệ thống đê

sẽ được thiết kế rộng 6m ở phía trên, có ít nhất 500m rừng phòng hộ ở phía ngoài tiếp xúc với mép nước để ngăn chặn xói mòn và hoạt động như một rào chắn gió

ở các vùng cát Rừng phòng hộ có tác dụng trước hết là bảo vệ đê điều, sau đó là bảo vệ khu dân cư và các trang trại nuôi trồng thuỷ sản Thời gian thực hiện chương trình từ năm 2009 đến 2020, được chia làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: (2009-2012): chủ yếu trồng cây, đắp đất khép kín tuyến đê

từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang

- Giai đoạn2: (2013-2016): tiếp tục củng cố tuyến đê và đường giao thông

- Giai đoạn 3: từ 2017 đến 2020: xây dựng cầu, cống lớn, hoàn thiện hệ thống đê và hệ thống đường giao thông

Phụ lục 7 sẽ thể hiện danh mục đê tại vùng ĐBSCL theo Quyết định 667/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ Theo đó, tổng kinh phí đầu tư lên tới 11.074 tỷ VND Tiến độ giải ngân dự kiến theo các năm là: Năm 2009: 550 tỷ VND, Từ năm 2010 – 2012: 3.600 tỷ VND, từ năm 2013 – 2015: 4.100 tỷ VND,

từ năm 2016 – 2020: 3.374 tỷ VND

Ngày đăng: 05/04/2023, 22:11

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w