Đánh giá tác động của thu ngân sách nhà nước trong thời gian qua xu hướng thay đổi cơ chế thu ngân sách nhà nước khi việt nam gia nhập WTO
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH DOANH THƯƠNG MẠI
- -BÀI THẢO LUẬN
Đề tài: Đánh giá tác động của thu ngân sách Nhà nước trong
thời gian qua Xu hướng thay đổi cơ chế thu ngân sách Nhà
nước khi Việt Nam gia nhập WTO
Trang 4CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
Thời gian: Từ 7h00 đến 08h30 ngày 25 tháng 3 năm 2013
Địa điểm: Sân thư viện trường Đại học Thương Mại
Thành viên: tham gia đầy đủ
I Nội dung
+ Các thành viên tìm hiểu sơ qua về đề tài thảo luận
+ Các thành viên đóng góp ý kiến, xây dựng nội dung, bố cục bài thảo luận
+ Nhóm trưởng phân chia công việc cụ thể cho từng thành viên
II Đánh giá
Buổi họp nghiêm túc, các thành viên tích cực đóng góp ý kiến Nhóm đưa ra đượcnhiều phương án tối ưu Buổi họp đạt được kết quả tốt
Nhóm trưởng Thư ký
Trang 5CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
Thời gian: Từ 7h30 đến 08h30 ngày 8 tháng 4 năm 2013
Địa điểm: Sân thư viện trường Đại học Thương Mại
Thành viên: tham gia đầy đủ
I Nội dung
+ Nhóm tổng kết hoàn thành bản word
+ Hoàn thiện, chỉnh sửa lần cuối bản slide
+ Đánh giá tinh thần làm việc các thành viên
II Đánh giá
Các thành viên tham gia đóng góp ý kiến tích cực, sôi nổi, có tinh thần trách nhiệm.Buổi thảo luận đạt được kết quả tốt
Nhóm trưởng Thư ký
Trang 6DÀN Ý CHI TIẾT
Trang 7I LÝ THUYẾT CHUNG VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm, đặc trưng của thu NSNN
1.1 Khái niệm thu NSNN
Để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình, nhà nước đã đặt ra cáckhoản thu (các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng góp để hình thành nênquỹ tiền tệ của mình Thực chất, thu ngân sách nhà nước là việc nhà nước dùngquyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thànhquỹ ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước
Qua sự hình thành của các khoản thu NSNN, có thể hiểu “thu NSNN làviệc Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để huy động, tập trung 1 phầnnguồn tài chính quốc gia để hình thành quỹ tiền tệ cần thiết nhằm đáp ứng cácnhu cầu chi tiêu của Nhà nước”
1.2 Đặc trưng của thu NSNN
Thu NSNN có 2 đặc trưng cơ bản:
Thứ nhất, thu NSNN là một hình thức phân phối nguồn tài chính quốcgia giữa nhà nước với các chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực của Nhànước nhằm giải quyết hài hòa các mối quan hệ về lợi ích kinh tế Sự phân phốinày xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước cũng nhưyêu cầu thực hiện các chức năng của Nhà nước
Thứ hai, thu NSNN gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động củacác phạm trù giá trị khác như các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả,thu nhập, lãi suất, Trong đó, chỉ tiêu quan trọng nhất là tổng sản phẩm quốcnội GDP Sự vận động của các phạm trù giá trị này vừa tác động đến sự tănggiảm mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác dụng điều tiết của các công cụthu NSNN
Thứ ba, thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy độngvào Ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp chođối tượng nộp, tức là thu NSNN được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trảkhông trực tiếp là chủ yếu
Trang 82 Phân loại thu NSNN
2.1 Căn cứ vào nội dung kinh tế của các khoản thu
- Thuế: Đây là nguồn thu chủ yếu của Nhà nước, thường chiếm từ 80 –90% tổng ngân sách nhà nước Các sắc thuế khi phân loại theo hình thức thu sẽgồm hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu
+ Thuế trực thu: là thuế mà người, hoạt động, đồ vật chịu thuế và nộpthuế là một Ví dụ như một người nhập hàng hóa từ nước ngoài về và tiêu dùngluôn, hay như thuế TNDN hay TNCN, nhà đất
+ Thuế gián thu: là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế khôngcùng là một Chẳng hạn, chính quyền đánh thuế vào công ty (công ty nộp thuế)
và công ty lại chuyển thuế này vào chi phí tính vào giá hàng hóa và dịch vụ, dovậy đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng Ví dụ: thuế VAT, thuếtiêu thụ đặc biệt Một số loại thuế và sắc thuế phổ biến: thuế tiêu thụ, VAT,thuế thu nhập, thuế cổ tức, thuế môn bài, thuế tài sản, thuế chuyển nhượng,thuế thừa kế, thuế xuất nhập khẩu, thuế khoán
- Thu phí và lệ phí: Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưngmang tính đối giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi côngdân trả cho nhà nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp Sovới thuế, tính pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn nhiều Phí gắn liền với với vấn
đề thu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ côngcộng hữu hình Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cungcấp các dịch vụ hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân Các khoảnthu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước: thu từ lợi tức từ hoạt động góp vốnliên doanh, cổ phần của Nhà nước, thu hồi tiền cho vay (cả gốc và lãi) của Nhànước, thu hồi vốn đầu tư của Nhà nước tại các cơ sở kinh thế - bán hoặc đấugiá doanh nghiệp Nhà nước
- Thu từ hoạt động sự nghiệp: Các khoản thu có lãi và chênh lệch từ cáchoạt động của các cơ sở sự nghiệp có thu của nhà nước.Thu từ bán hoặc chothuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu nhà nước: Khoản thu này mang tính chất
Trang 9thu hồi vốn và có một phần mang tính chất phân phối lại, vừa có tính chất phânphối lại, vừa có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản quốc gia vừa tăngnguồn thu cho ngân sách nhà nước Các nguồn thu từ bán hoặc cho thuê tài sản,tài nguyên, thiên nhiên; thu về bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước.
- Thu từ phạt, tịch thu, tịch biên tài sản: Các khoản thu này cũng là mộtphần thu quan trọng của thu ngân sách nhà nước và được pháp luật quy định.Thu từ hoạt động hợp tác lao động với nước ngoài
2.2 Căn cứ vào tính chất phát sinh của các khoản thu
- Thu thường xuyên: là các khoản thu phát sinh thường xuyên cùng vớinhịp độ hoạt động của nền kinh tế, có tính chất bắt buộc như thuế, phí, lệ phívới nhiều hình thức cụ thể do luật định
- Thu không thường xuyên: là những khoản thu chỉ phát sinh vào thờiđiểm, vào những khoảng thời gian nhất định, không phát sinh liên tục như thu
từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, thu từ hoạt động sự nghiệp, thu tiền bánhoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước
2.3 Căn cứ vào tính chất cân đối NSNN
- Thu trong cân đối ngân sách nhà nước: là các khoản thu nằm trong hoạchđịnh của Nhà nước (gồm thuế, phí, lệ phí, lợi tức cổ phần của Nhà nước, thutiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước và các khoản thukhác) Đây là những khoản thu mang tính chất động viên không hoàn lại, tức làkhông có trách nhiệm hoàn trả trực tiếp
- Thu ngoài cân đối ngân sách nhà nước (thu bù đắp thiếu hụt ngân sáchnhà nước): là những khoản thu có được do Nhà nước đi vay từ các tổ chức dân
cư, các tổ chức kinh tế xã hội, vay từ nước ngoài – là các khoản thu mang tínhchất hoàn trả trực tiếp
Trang 103 Các yếu tố ảnh hưởng tới thu NSNN
Việc thu NSNN của mỗi quốc gia chịu tác động của nhiều yếu tố kinh tế,chính trị, xã hội Tuy nhiên, các yếu tố ảnh hưởng đến thu NSNN của mỗi nước có
sự khác nhau song đều bắt nguồn từ năm yếu tố cơ bản sau đây:
Thứ nhất, là thu nhập GDP bình quân đầu người Đây là chỉ tiêu phản ánh
trình độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêudùng và đầu tư của một nước; là yếu tố khách quan quyết định mức động viên củaNSNN
Thứ hai, là tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế Đây là chi tiêu
phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển kinh tế, tỷ suất này càng lớn thì khả năngtái tạo và mở rộng các nguồn thu nhập các lớn, từ đó khả năng huy động choNSNN càng lớn
Thứ ba, là khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên
dầu mỏ và khoáng sản Đây là yếu tố làm tăng thu NSNN, ảnh hưởng đến việcnăng cao tỉ suất thu Đối với các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào,phong phú thì việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu to lớncho NSNN Với cùng 1 điều kiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuấtkhẩu dầu mỏ và khoáng sản lớn thì tỷ lệ động viên vào NSNN cũng lớn hơn
Thứ tư, là mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước Yếu tố này lại
phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như quy mô tổ chức của bộ máy Nhà nước vàhiệu quả hoạt động của bộ máy đó Khi các nguồn tài trợ khác cho chi phí hoạtđộng của Nhà nước không tăng lên, việc tăng chi của Nhà nước sẽ đòi hỏi tỷ suấtthu của NSNN cũng phải tăng lên mới bù đắp được
Thứ năm, là sự ảnh hưởng của tổ chức bộ máy thu nộp Nó ảnh hưởng tới
chi phí và hiệu quả hoạt động của thu NSNN Nếu hệ thống tổ chức cơ quan thuế,hải quan, kho bạc Nhà nước gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống được thất thu dotrốn, lậu thuế thì đây sẽ là yếu tố tích cực làm giảm tỷ suất thu NSNN mà vẫn thỏamãn được các nhu cầu chi tiêu của NSNN
Trang 114 Nguyên tắc thiết lập hệ thống thu NSNN
4.1 Các nguyên tắc định hướng
Gồm 2 nguyên tắc:
- Nguyên tắc thu theo lợi ích: Việc thu NSNN phải căn cứ vào lợi ích màngười đóng góp có thể nhận được từ những hàng hóa và dịch vụ công cộng màNhà nước cung cấp
- Nguyên tắc thu theo khả năng: Theo nguyên tắc này việc thiết lập cácmức thu phải dựa nào khả năng thu nhập của người nộp Người có thu nhậpcao thì phải đóng thuế cao và ngược lại
Tuy nhiên, 2 nguyên tắc trên đều là nguyên tắc lý tưởng, bởi lẽ việc thihành đầu gặp phải các trở ngại Cho nên trong thực tế, người ta xem 2 nguyêntắc trên như là những định hướng cho việc thiết lập hệ thống thu NSNN
4.2 Các nguyên tắc thực hiện thực tế
- Nguyên tắc ổn định và lâu dài: Trong những điều kiện hoạt động nềnkinh tế bình thường thì phải ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế, không đượcgây xáo trộn lớn trong hệ thống thuế, đồng thời tỷ lệ động viên của NSNN phảithích hợp, đảm bảo kích thích nền kinh tế tăng trương, nuôi dưỡng và phát triểnnguồn thu Thực hiện nguyên tắc này có ý nghĩa tạo thuận lợi cho việc kếhoạch hóa ngân sách nhà nước và tạo điều kiện để kích thích người nộp thuếcải tiến đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh
- Nguyên tắc đảm bảo công bằng: Thiết lập hệ thống thuế phải có quanđiểm công bằng đối với mọi người chịu thuế, không phân biệt địa vị xã hội,thành phần kinh tế Do đó việc thiết kế hệ thống thuế chủ yếu dựa trên khảnăng thu nhập của người chịu thuế Để đảm bảo được nguyên tắc công bằngtrong thiết kế hệ thống thuế phải kết hợp sắc thuế trực thu với sắc thuế giánthu
- Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn: nguyên tắc này đòi hỏi trong thiết kế hệthống thuế các điều luật của các sắc thuế phải rõ ràng, cụ thể ở từng mức thuế,
cơ sở đánh thuế, phương pháp tính thuế Các từ ngữ được sử dụng của văn bản
Trang 12phải thông dụng, dễ hiểu không chứa đựng nhiều hàm ý để tất cả mọi ngườiđều hiểu được và chấp hành giống nhau Đảm bảo nguyên tắc này giúp choviệc tổ chức chấp hành luật thống nhất, tránh được tình trạng lách luật, trốn lậuthuế
- Nguyên tắc giản đơn: nguyên tắc này đòi hỏi trong các sắc thuế cần hạnchế số lượng thuế suất, xác định rõ mục tiêu chính, không đề ra quá nhiều mụctiêu trong một sắc thuế Có như vậy mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc triểnkhai luật thuế vào thực tiễn, tránh được những hiện tượng tiêu cực trong thuthuế
1 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu NSNN trong thời gian qua
1.1 Thu nhập GDP bình quân đầu người
GDP (Gross Domestic Product) tức tổng sản phẩm quốc nội là giátrị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trongphạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là mộtnăm) GDP phản ánh mức độ phát triển nền kinh tế và phản ánh khả năng tiếtkiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước Mức độ phát triển nền kinh tế hànghóa tiền tệ luôn là nhân tố quan trọng nhất đối với sự phát triển của mọi khâutài chính GDP bình quân đầu người là một yếu tố khách quan quyết định mứcđộng viên của NSNN Do đó, khi xác định mức độ động viên thu nhập vàoNSNN mà thoát ly chỉ tiêu này thì sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn
đề tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của nền kinh tế
Trang 13Từ bảng trên ta có thể thấy mức tăng trưởng GDP của Việt Nam nhữngnăm gần đây biến động nhưng không có biến đổi quá lớn qua các năm Có thểnói GDP đã phản ánh đúng thực trạng nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn2008-2012 đầy biến động Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển, nhu cầu chitiêu rất lớn do vậy khi GDP không có biến động lớn thì NSNN sẽ tăng liên tục
kể cả khi GDP suy giảm so với năm trước liền kề nhằm kích thích phát triểnkinh tế
1.2 Tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế
Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế là chỉ tiêu phản ánh hiệuquả của đầu tư phát triển nền kinh tế nói chung và hiệu quả của các doanhnghiệp nói riêng Tỷ suất lợi nhuận bình quân càng lớn sẽ phản ánh khả năngtái tạo và mở rộng các nguồn thu nhập trong nền kinh tế càng lớn, từ đó đưa tớikhả năng huy động cho NSNN Đây là yếu tố quyết định đến việc nâng cao
tỷ suất thu NSNN Do vậy, khi xác định tỷ suất thu Ngân sách cần căn cứ vào
tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế để đảm bảo việc huy động củaNgân sách Nhà nước không gây khó khăn về mặt tài chính cho các hoạt độngkinh tế Nền kinh tế càng phát triển thì tỷ suất lợi nhuận càng lớn làm chongồn tài chính càng lớn, dẫn tới nâng cao tỷ suất thu cho NSNN và ngược lại,khi kinh tế chậm phát triển, tỷ suất lợi nhuận thấp làm giảm nguồn thu choNSNN.
Bảng chỉ số giá tiêu dùng CPI và vốn đầu tư phát triển toàn xã hội
của Việt Nam giai đoạn 2008 - 2012
Tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế là một chỉ tiêu tài chính khó
đo lường Tuy nhiên, do mục tiêu chính của đề tài nghiên cứu là tác động của
tỷ suất lợi nhuận bình quân tới thu NSNN nên chúng ta hoàn toàn có thể đánh
Trang 14giá ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận bình quân thông qua các yếu tố khác Từbảng trên chúng ta thấy được chỉ số giá tiêu dùng CPI và tổng vốn đầu tư pháttriển toàn xã hội của Việt Nam giai đoạn 2008-2012 Tạo nên tỷ suất lợi nhuậnbình quân có sự chi phối rất lớn của cấu trúc tư bản hữu cơ, tức vốn đầu tư vàocác bộ phận chi phí sản xuất bất biến và khả biến Trong giai đoạn 2008-2012vốn đầu tư toàn xã hội tăng đều và mạnh (trung bình mỗi năm tăng một trămngàn tỉ, ngoại trừ năm 2011 có sự giảm nhẹ), cho thấy quá trình đầu tư pháttriển của mọi nhóm ngành trong xã hội đều được mở rộng, tạo tiền đề cho sựtăng trưởng của tỷ suất lợi nhuận bình quân Bên cạnh đó chỉ số giá tiêu dùngcũng tăng qua các năm ở mức chấp nhận được, đây cũng là điều kiện để kíchthích tiêu dùng và các nhà đầu tư có chính sách về lãi suất hợp lý; CPI cũngcho thấy nỗ lực của Nhà nước trong hoạt động kiềm chế lạm phát Như vậy từhai chỉ tiêu trên có thể kết luận sự tồn tại của tăng trưởng tỷ suất lợi nhuận bìnhquân ảnh hưởng tích cực tới nguồn thu NSNN.
1.3 Tiềm năng tài nguyên
Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào,phong phú do vậy việc khai thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu
to lớn cho NSNN Theo thống kê hiện Việt Nam đang có hơn 5,000 mỏ đangkhai thác với khoảng 60 loại khoáng sản thuộc nhiều nhóm khác nhau: Nhómkhoáng sản nhiên liệu như dầu khí, than, nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắtnhư sắt, chromite, titan, manganese, nhóm khoáng sản kim loại màu nhưbauxite, thiếc, đồng, chì-kẽm, antimony, molypden, nhóm khoáng sản quý nhưvàng, đá quý, nhóm khoáng sản hóa chất công nghiệp như apatite, cao lanh, cátthủy tinh, nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng như đá vôi xi măng, đá xâydựng, đá ốp lát… đóng góp khoảng 11% GDP và 25% thu NSNN Trong đókhông thể không nhắc tới vai trò của dầu mỏ trong tạo nguồn thu cho NSNN
Thu NSNN (tỉ đồng) 430549 454786 588428 704276
Trang 15Thu từ dâu thô 89603 61137 69179 110205
Bảng giá trị đóng góp của nguồn thu dầu thô vào NSNN giai đoạn
2008 - 2011 1.4 Mức độ trang trải các khoản phí
Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, đi lên từ nên kinh tếnông nghiệp nên việc trang trải các khoản chi phí vào đầu tư các dự án có vaitrò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội là thiết yếu và phải chi liêntục qua các năm Điều này lý giải tại sao NSNN luôn ở trong tình trạng bội chi
và lý giải một phần sự gia tăng nguồn thu NSNN qua các năm để bù đắp lượngthiếu hụt trong NSNN
Bảng chi NSNN và cơ cấu chi NSNN của Việt Nam giai đoạn 2008-2011
Chi đầu tư phát triển của nhà nước luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổngchi đầu tư phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Chi đầu tư phát triển củanhà nước bao gồm: đầu tư xây dựng cơ bản, hỗ trợ phát triển kinh tế, đầu tưcác chương trình không mang tính chất đầu tư xây dựng cơ bản(chi cấp vốnban đầu, vốn bổ sung pháp định hoặc vốn điều lệ cho các doanh nghiệp nhànước thực hiện cổ phần hoá, chi trợ cấp, trợ giá cho các doanh nghiệp khi thựchiện nhiệm vụ công ích) Trong đó, đại bộ phận là đầu tư xây dựng cơ bản,chiếm gần 90% tổng chi đầu tư phát triển
Chi phát triển sự nghiệp bao gồm rất nhiều các khoản chi như chi chogiáo dục, y tế, khoa học công nghệ… Tất cả các khoản chi này đều tăng đềuqua các năm, đặc biệt chi cho giáo dục và y tế tăng mạnh trong những năm gầnđây, năm 2011 chi cho lĩnh vực giáo dục đào tạo là 120339 tỉ đồng chiếm 15%