1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu di cư nội địa trên địa bàn tỉnh nghệ an

84 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu di cư nội địa trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Trường học Trường Đại Học Nghệ An
Thể loại Luận văn
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngược lại, một số tỉnh, thành phố phát triển mạnh mẽ, là đầu tàu kinh tế của cả nước, tập trung nhiều doanh nghiệp hoạt động sản xuất, thị trường hàng hóa dịch vụ phát triển mạnh và do đ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Di cư luôn là vấn đề kinh tế xã hội có tác động đến mọi khu vực trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Đặc biệt trong bối cảnh tình hình thế giới hiện tại, di cư đang khiến các quốc gia đau đầu để giải quyết các vấn đề xung quanh, những hệ lụy tích cực và tiêu cực Di cư kéo theo nguồn cung lao động giảm đi ở nơi người di cư ra đi và tăng lên ở nơi họ chuyển đến Bên cạnh sự thay đổi lực lượng lao động chân tay, di cư còn kéo theo sự di chuyển của lượng chất xám, nhân lực trí tuệ từ khu vực này đến khu vực khác Di cư giúp cân bằng hoặc giảm cầu lao động tại khu vực có người di cư đến, làm giảm chi phí lao động và góp phần tăng lợi nhuận cho người sử dụng lao động Tuy nhiên, di cư cũng làm tăng các vấn đề xã hội như bất ổn về an ninh,

y tế, chính trị…Lợi ích và chi phí của hiện tượng di cư tại nơi di cư đi và nơi

di cư đến luôn ở trạng thái thiên lệch

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, hiện tượng di

cư đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là dòng người lao động di cư từ nông thôn đến thành thị, khu công nghiệp Di cư giữa các tỉnh thành thường bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là do sự chênh lệch trong mức độ phát triển kinh tế Một số tỉnh, thành phố do nhiều hạn chế về địa lý, giao thông,… kinh - tế phát triển chậm, chủ yếu tập trung ở lĩnh vực nông nghiệp, thu nhập do đó cũng thấp và không ổn định Ngược lại, một số tỉnh, thành phố phát triển mạnh mẽ, là đầu tàu kinh tế của cả nước, tập trung nhiều doanh nghiệp hoạt động sản xuất, thị trường hàng hóa dịch vụ phát triển mạnh và do đó, tạo ra nhiều việc làm cộng với mức thu nhập cao hơn; đi kèm với kinh tế, các dịch vụ về giáo dục, chăm sóc sức khỏe cũng phát triển tương ứng

Trang 2

“Còn đối với tỉnh Nghệ An, tuy là một tỉnh lớn cả về diện tích lẫn dân số, điều kiện tự nhiên thuận lợi, con người nơi đây nổi tiếng về tinh thần hiếu học

và có tính thông minh cần cù, nhưng vẫn chỉ là một tỉnh có khoảng cách chênh lệch về giàu nghèo khá lớn, chênh lệch được thể hiện rõ ở các khu vực kém phát triển và khu vực phát triển Điều đó dẫn đến xu hướng di cư ra các

đô thị lớn, cụ thể là thành phố Vinh và các thị xã Thái Hòa, Cửa Lò, Hoàng Mai – nơi có đủ mọi điều kiện thuận lợi như kinh tế phát triển, giao thông thuận lợi, công nghiệp phát triển, đời sống xã hội văn minh

Trước thực tế trên, một vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu nguyên do của di

cư tại tỉnh Nghệ An, những nhân tố nào quyết định việc di dân và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đó đối với những tình hình an sinh xã hội của tỉnh.Việc phát hiện và phân tích này sẽ giúp cho chính quyền của tỉnh Nghệ

An hiểu được bản chất của vấn đề di dân và tìm ra định hướng phù hợp cho chính sách phát triển góp phần thúc nâng cao chất lượng quản lý dân số và an sinh xã hội cho tỉnh Nghệ An.”

Chính vì vậy nên tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu di cƣ nội địa trên địa bàn tỉnh Nghệ An” để làm luận văn

2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Hiện nay đề tài liên quan đến di cư nội địa là một đề tài rất được quan tâm Tuy nhiên trong thời gian gần đây vẫn còn khá ít đề tài nghiên cứu được các nhà nghiên cứu trong nước nghiên cứu Trên thực tế cũng có một số các nghiên cứu trong nước được cụ thể hóa thành sách, đề tài, các công trình nghiên cứu khoa học,…tuy nhiên những nghiên cứu này đã hoàn thành từ lâu Các nghiên cứu chuyên sâu về chất lượng nói chung và chất lượng đào tạo nói riêng có thể kể đến như sau:

- Một số sách về thống kê như: Điều tra di cư nội địa quốc gia 2015: Các kết quả chủ yếu của Tổng cục thống kê và Quỹ dân số liên hợp quốc

Trang 3

(2016), Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ 2014: Di cư và đô thị hóa ở Việt Nam của Tổng cục thống kê và Quỹ dân số liên hợp quốc (2016)

- “Sách Di cư, tái định cư và biến đổi khí hậu tại Việt Nam của Liên Hợp

Quốc tại Việt Nam (2014) Công trình nghiên cứu này đã nêu ra được mối liên hệ giữa biến dổi khí hậu – di cư và tái định cư tại Việt Nam và các chính sách liên quan Mục tiêu của công trình là tổng hợp những bài học kinh nghiệm quan trọng về di cư và tái định cư liên quan tới thời tiết cực đoạn và đưa ra khuyến nghị về định hướng chính sách và các hành động chủ yếu nhằm tăng cường khả năng chống chịu ở các vùng di cư và tái định cư trong các năm và thập kỷ tới.”

- Tạp chí Khoa học “ Thực trạng và giải pháp cho vấn đề di cư ở tỉnh Hậu Giang ” của Trường Đại học Cần Thơ (2010) Công trình này đã nghiên

cứu những vấn đề liên quan đến thực trạng di cư lao động và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định di cư ở tỉnh Hậu Giang Công trình đã đề xuất giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực cho vấn đề di cư ở Hậu Giang

- Tạp chí Khoa học “Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút người lao động trở về địa phương làm việc nghiên cứu trường hợp tại thị trấn Trần Đề, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng” của Trường Đại học Cần Thơ (2014) Công trình đã trình bày kết quả khảo sát thực trạng của người lao động đi làm ngoài tỉnh và qua đó xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút người lao động trở về địa phương làm việc Từ đó công trình đã đưa ra gợi ý về mặt giải pháp góp phần tạo cơ hội việc làm cho người lao động trở về

- Luận án tiến sĩ: “ Di cư và ảnh hưởng của nó đến sự pháp triển kinh tế -

xã hội ở vùng Đông Nam Bộ ” (2011) của Trương Văn Tuấn, Trường đại học

sư phạm TP Hồ Chí Minh Luận án đã đánh giá được thực trạng di cư ở vùng Đông Nam Bộ, xác định rõ nguyên nhân và tác động của di cư đối với sự phát triển kinh tế xã hội của vùng Từ đó luận án đã đưa ra được những giải pháp

Trang 4

nhằm điều chỉnh những luồng di cư phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của vùng

- Luận án Tiến sĩ “ Chính sách việc làm cho lao động nông thông trong bối cảnh di dân – Nghiên cứu tại một số tỉnh Bắc Trung Bộ ” (2015) của

Nguyễn Hoài Nam, Đại học Kinh tế Quốc dân “Luận án quán triệt đặc điểm việc làm của lao động nông thôn trong bối cảnh di dân phần lớn là lao động già và trẻ em, thời gian lao động tăng lên, việc làm đa dạng hơn vào phân tích nội dung chính sách việc làm với năm bộ phận là: chính sách hỗ trợ học nghề; chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp; chính sách hỗ trợ đất đai sản xuất; chính sách hỗ trợ ứng dụng kỹ thuật sản xuất và chính sách tín dụng ưu đãi tạo việc làm Luận án chỉ ra điều kiện tự nhiên; luật pháp về chính sách việc làm; tổ chức quản lý và phối hợp thực hiện chính sách; nguồn lực thực hiện chính sách; khả năng nhận thức và tiếp cận chính sách là những nhân tố cơ bản tác động đến việc thực thi chính sách việc làm cho lao động nông thôn trong bối cảnh di dân.”

- Luận án tiến sĩ “Di cư mùa vụ nông thôn – đô thị và vai trò giới trong gia đình có người di cư ở nông thôn Hải Phòng hiện này” (2018) của Nguyễn Thị Phương Thảo, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Luận án nêu rõ được thực trạng di cư mùa vụ nông thôn – đô thị tại địa bàn nghiên cứu chỉ ra những ảnh hưởng của nói tới sự thay đổi vài trò giới trong gia đình người di

cư Luận án đã đề xuất những khuyến nghị đến việc quản lý di cư mùa vụ ở địa bàn nghiên cứu và nhận thức về bình đẳng giới trong điều kiện của các gia đình có người di cư

Như vậy, mặc dù có khá nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn

đề di cư nội địa tại các địa phương nói riêng và trên cả nước nói chung nhưng

đa số các công trình không còn quá mới và phù hợp với tình hình thực tế hiện tại Trên cơ sở đó, để nghiên cứu sâu về hiện tượng di cư nội địa tại tỉnh Nghệ

Trang 5

An cùng những nguyên nhân, tác động của di cư trên địa bàn, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu di cư nội địa trên địa bàn tỉnh Nghệ An” để thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát

“Thông qua việc nghiên cứu biến động và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến di cư nội địa ở Nghệ An, luận văn sẽ đề ra quan điểm về vấn đề di

cư trong tỉnh Nghệ An và từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị liên quan đến

chính sách về quản lý và định hướng vấn đề di cư nội địa tại tỉnh nhà

- Mục tiêu cụ thể

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận di cư nội địa

+ Đưa ra một bức tranh chi tiết về tình hình biến động di cư ở tỉnh Nghệ An + Phân tích các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến di cư nội địa của tỉnh Nghệ An như yếu tố dân số, văn hóa - xã hội

+ Đề xuất các giải pháp và kiến nghị chính sách về quản lý và định hướng vấn đề di cư cho tỉnh Nghệ An để từ đó nhằm nâng cao phát triển kinh

4.3 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những hộ gia đình có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Nghệ An có người di cư đến các địa phương khác trong nội tỉnh Nghệ An

Trang 6

5 Phương pháp nghiên cứu

5.2 Phương pháp thu thập số liệu

Phương pháp điều tra xã hội học:

- Số liệu sơ cấp

“+ Xác định cỡ mẫu: Do không xác định chính xác số lượng người di cư

ở tỉnh Nghệ An phân theo từng huyện, từng xã mà chủ yếu tuân theo dự đoán của chuyên gia Cho nên, đề tài chọn mẫu là 100 để đảm bảo đại diện cho tổng thể người di cử ở tỉnh Nghệ An

+ Phương pháp chọn mẫu: ngẫu nhiên thuận tiện và kết hợp với chọn mẫu tỷ lệ

+ Phỏng vấn trực tiếp 100 mẫu phỏng vấn hộ gia đình có người di cư đến những khu đô thi lớn theo sự giới thiệu của các cán bộ: Xã Hưng Lam, huyện Hưng Nguyên và xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Đàn Việc phỏng vấn và thu thập các thông tin về người di cư cũng như về hộ gia đình được thực hiện với chủ hộ Chỉ trong trường hợp chủ hộ không còn minh mẫn do tuổi cao sức yếu hoặc đã di cư hay đi vắng thì sẽ thay thế một thành viên trong gia đình biết rõ các thông tin về các thành viên khác và đặc điểm kinh tế - xã hội của

Trang 7

hộ gia đình Tương ứng với 100 hộ, mẫu phỏng vấn gồm 100 cá nhân đại diện khảo sát.”

Bảng 1: Phân phiếu khảo sát cho từng vùng

+ Phỏng vấn các cơ quan ban ngành gồm Sở Lao động - Thương binh

và Xã hội, UBND, đại diện xã Hưng Lam và đại diên xã Nghĩa Lâm

Phương pháp thống kê: Được sử dụng để đưa ra những đặc tính cơ bản

của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu nhằm cung cấp những thông tin nghiên cứu

Phương pháp Phân tích và tổng hợp số liệu: Phân tích số liệu nhằm

hiểu rõ bản chất của vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở số liệu đã phân tích sẽ được tổng hợp lại thành một hệ thống để thấy được mối quan hệ của chúng trong hệ thống đánh giá thực hiện công việc để từ đó hiểu rõ hơn vấn đề đang nghiên cứu trong luận văn này.”

Trang 8

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài “Lời mở đầu” và “Kết luận”, “Phụ lục”, “Danh mục tài liệu tham khảo” luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về di cư

Chương 2: Nghiên cứu biến động về di cư và các nhân tố ảnh hưởng

về di cư nội địa ở Nghệ An

Chương 3: Giải pháp các vấn đề liên quan đến di cư nội địa ở Nghệ An

Trang 9

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI CƯ

1.1 Khái niệm về di cư và một số khái niệm liên quan về di cư

1.1.1Định nghĩa di cư

“Di cư là một thuật ngữ mô tả quá trình di chuyển dân số hoặc là quá trình con người rời bỏ hoặc hội nhập vào một đơn vị hành chính - địa lý nhất định Tại những nước đang phát triển, các đô thị lớn luôn luôn là điểm thu hút các luồng di chuyển Ngược lại ở các nước phát triển người dân lại có xu hướng di chuyển đến các đô thị nhỏ vệ tinh xung quanh những đô thị lớn Hiện tượng di cư khiến sự tập trung dân số ở đô thị đặt ra những thách thức mới cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đặc biệt trong mối quan hệ với các nguồn lực tự nhiên, môi trường của các vùng miền đất nước

Theo nghĩa rộng, di cư là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong

một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Với khái niệm này di cư đồng nhất với sự di động dân cư

Theo nghĩa hẹp, di cư là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này

đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định (Liên Hiệp Quốc) Khái niệm này khẳng định mối liên hệ giữa sự di chuyển với việc thiết lập nơi cư trú mới

Đối với các nhà nghiên cứu, khái niệm di cư thường được định nghĩa không giống nhau

Theo Henry S Shryock Di cư là một hình thức di chuyển về địa lý hay không gian kèm theo sự thay đổi nơi ở thường xuyên giữa các đơn vị hành chính Theo ông những thay đổi nơi ở tạm thời, không mang tính lâu dài như thăm viếng, du lịch, buôn bán làm ăn, kể cả qua lại biên giới, không nên phân loại là di cư Theo tác giả, di cư còn phải gắn liền với sự thay đổi các quan hệ

xã hội của người di chuyển (xem Henry S Shryock: The Method and

Trang 10

Materials of Demography, Washington, 1980, tr.579).”

Còn theo Mangalam và Morgan (1968) cho rằng di cư là “sự di chuyển vĩnh viễn tương đối của người di cư ra khỏi tập đoàn đang sống từ một đơn vị địa lý khác”

Mặt khác, theo tác giả Paul Shaw thì “Di cư là hiện tượng di chuyển khỏi tập thể từ một địa điểm địa lý này đến một địa điểm địa lý khác, trên cơ sở quyết định của người di cư, dựa vào một loạt các giá trị trong hệ thống các mối quan hệ qua lại của người di cư”

Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau khi xem xét khái niệm di dân, có thể tóm tắt một số điểm chung được chấp nhận như sau:

“- Người di cư di chuyển ra khỏi một địa dư nào đó đến một nơi khác sinh sống Nơi đi và nơi đến phải được xác định là một vùng lãnh thổ hay một đơn vị hành chính (khoảng cách giữa hai địa điểm là độ dài di chuyển)

- Người di chuyển bao giờ cũng có những mục đích, họ đến một nơi nào

đó và định cư tại đó và định cư tại đó trong một khoảng thời gian để thực hiện mục đích đó Nơi xuất phát là đầu đi và nơi ở mới là đầu đến Tính chất thay đổi nơi cư trú này chính là điều kiện cần để xác định di cư

- Khoảng thời gian ở lại trong bao lâu là một trong những tiêu chí quan trọng để xác định di dân Thông thường, tuỳ theo mục đích nghiên cứu và loại hình di dân, thời gian đó có thể là một số năm, một số tháng, thậm chí là một

số tuần.Trong các cuộc điều tra dân số ở Việt Nam có nghiên cứu hai loại di

cư nội địa: Di cư trước thời điểm điều tra một năm và di cư diễn ra trước thời điểm điều tra 5 năm

- Có thể đưa thêm một số đặc điểm khác nữa khi xem xét di cư như sự thay đổi các hoạt động sống thường ngày, thay đổi các quan hệ xã hội Di cư gắn liền với sự thay đổi công việc, nơi làm việc, công việc nghề nghiệp…”

Trang 11

1.1.2 Một số khái niệm liên quan về di cư

Trong khái niệm về chuyển cư, người ta còn phân biệt hai yếu tố cấu thành quá trình này là xuất cư và nhập cư:

- Xuất cư, nhập cư

“+ Xuất cư là việc di chuyển nơi ở của người dân ra khỏi một đơn vị hành chính tạm thời hay vĩnh viễn Đây là hiện tượng phổ biến ở nhiều quốc gia do tình trạng mức sống thu nhập và lao động không đồng đều Xuất cư có ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội, nhân khẩu địa bàn nơi đến cũng như nơi đi

+ Nhập cư là sự di chuyển của người dân đến một khu vực hay một đơn

vị hành chính khác Quá trình này thường xuyên bị chi phối bởi nhiều nhân tố như kinh tế, chính trị…Cũng như xuất cư nhập cư có ảnh hưởng quan trọng đến địa bàn nơi đến và nơi đi

+ Sự chênh lệch giữa nhập cư và xuất cư gọi là di cư thuần Đối với một địa bàn, di cư thuần có thể mang giá trị là dương (nếu số người xuất cư ít hơn

số người nhập cư) hoặc là âm (nếu số người xuất cư nhiều hơn số người nhập cư).”

1.2 Phân loại di cƣ

Quá trình di cư luôn chịu tác động của yếu tố “nhân tố đẩy” và “nhân tố kéo” hay quá trình di cư xảy ra khi có sự khác biệt về đặc trưng giữa hai vùng: vùng đi và vùng đến Nhân tố đẩy là những yếu tố, điều kiện tự nhiên, kinh tế,

xã hội, chính trị, văn hóa ở nơi đi, ví dụ: do điều kiện sống khó khăn, thiếu việc làm, thiếu đất đai Đây là “nhân tố đẩy” Cùng với nó các nhân tố hút ở nơi đến như những điều kiện, yếu tố thuận lợi về tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa… và sự hấp dẫn về việc làm, cơ hội có thu nhập và mức sống cao ở nơi đến Đây là “nhân tố kéo” Sự kết hợp giữa nhân tố đẩy và nhân

tố kéo đã thúc đẩy quá trình di cư diễn ra

Trang 12

Việc phân loại lao động di cư là để có góc nhìn đa chiều, trên cơ sở đó

có thể đánh giá, nhìn nhận về lao động di cư dưới nhiều khía cạnh khác nhau phục vụ cho việc đánh giá thực trạng và hoạch định chính sách phù hợp

1.2.1 Phân loại dựa trên cấp hành chính và địa bàn di cư

“Dựa trên cấp hành chính và địa bàn di cư, có thể phân chia thành các dòng di cư được xác định dựa trên đặc điểm nông thôn hay thành thị của nơi thường trú tại thời điểm điều tra và nơi thường trú hiện tại của người di cư:

- Di cư từ khu vực nông thôn đến nông thôn: là hình thức di cư mà người

di cư di chuyển theo hướng từ khu vực nông thôn này đến khu vực nông thôn khác Đây là loại di cư diễn ra phổ biến tại các quốc gia lấy định hướng phát triển nông nghiệp làm trọng tâm của quá trình phát triển Ở Việt Nam, luồng

di cư này chủ yếu bao gồm loại di cư nội tỉnh và di chuyển vì lý do gia đình, hôn nhân nhiều hơn lý do việc làm vì thực tế ở Việt Nam sự khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội giữa các khu vực nông thôn chưa nhiều như giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn

- Di cư từ khu vực nông thôn đến thành thị: là hình thức di cư mà người

di cư di chuyển theo hướng từ khu vực nông thôn ra thành thị Luồng di cư thường chiếm tỷ trọng lớn trong 4 luồng di cư nội địa trong thời kỳ công nghiệp hóa, đô thị hóa theo chiều rộng Do thành thị là nơi đang phát triển mạnh, nhanh có cơ hội việc làm,thu nhập cao cũng như điều kiện học tập tốt

Ở Việt Nam từ năm 1986 đến cho đến nay, luồng di cư này ngày càng tăng về quy mô và cường độ Đây cũng là thời điểm bắt đầu công cuộc đổi mới, theo nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước và cũng là thời điểm đánh dấu quá trình công nghiệp hóa đất nước diễn ra mạnh mẽ Luồng di cư này bao gồm chủ yếu di cư ngoại tỉnh và nơi đến tập trung vào một số thành phố lớn, các khu công nghiệp - đô thị mới, tập trung Đặc biệt hai thành phố lớn

Hà Nội và Hồ Chí Minh và các tỉnh có nhịp độ công nghiệp hóa nhanh như

Trang 13

Bình Dương, Đồng Nai… đã đón một lượng lớn dân cư từ các vùng nông thôn tới cư trú.”

- Di cư từ khu vực thành thị đến thành thị: là hình thức mà người di cư

di chuyển theo hướng từ khu vực thành thị này đến khu vực thành thị khác Trong thực tế, khu vực thành thị cũng có nhiều loại khác nhau Thông thường, những đô thị càng lớn, càng hoàn thiện hơn, cơ sở hạ tầng càng tốt hơn, đầy

đủ hơn, các loại hình dịch vụ càng đa dạng hơn, càng đáp ứng được nhiều và đầy đủ hơn nhu cầu của con người, đồng thời nó còn là thị trường lao động cho những người có trình độ học vấn và chuyên môn cao Do đó,người dân vẫn có xu hướng di chuyển từ khu đô thị nhỏ về các khu đô thị lớn, có cơ sở

hạ tầng hoàn thiện hơn, tốt hơn Thông thường, đây là hình thức di cư chủ yếu của những nước đã có nền công nghiệp hóa phát triển mạnh Ở Việt Nam hiện nay luồng di cư này cũng đang có chiều hướng phát triển nhanh, với các hướng di chuyển chính: luồng di cư Bắc - Nam, từ các thành phố nhỏ, thị xã thị trấn về các thành phố lớn tại Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Bình Dương…

“- Di cư từ khu vực thành thị đến nông thôn: là hình thái mà người di cư

di chuyển theo hướng từ khu vực thành thị đến khu vực nông thôn Thông thường, luồng di cư này phát triển mạnh tại các nước phát triển, nhịp sống đô thị hóa căng thẳng, tất bật ồn ào Khi đó, người dân có xu hướng tìm về những vùng đất yên tĩnh, nhịp sống chậm hơn để tránh sự ồn ào của vùng đô thị Tuy nhiên, trong lịch sử, đã xuất hiện những dòng di cư thành thị - nông thôn với quy mô khá lớn ngay tại các nước đang phát triển do chính sách của nhà nước Ở nước ta, sau ngày miền Nam giải phóng, một bộ phận khá lớn dân cư ở khu vực đô thị của các tỉnh phía Nam trở về nông thôn tìm việc để giảm tải sức ép về việc làm, nhà ở và hạ tầng đô thị yếu kém theo sự vận động của chính quyền cách mạng làm cho số lượng dân đô thị giảm đi trong vài năm Trong giai đoạn hiện nay, luồng di cư thành thị - nông thôn thường gặp

Trang 14

ở những cá nhân hay những nhóm người hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về, những cán bộ đã làm việc ở các đô thị về nghỉ hưu tại nông thôn, học sinh - sinh viên trở về quê tìm việc làm sau khi học xong Tuy nhiên, hình thái di cư này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong 4 hình thái di cư và đại đa số đối tượng di cư

là những người hồi cư

Khi quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa bắt đầu thì sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế cũng diễn ra mạnh mẽ hơn, di cư nông thôn đến thành thị cũng ngày càng chiếm ưu thế hơn Kết quả cuộc Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ

2018 cho thấy, trong hơn 5,6 triệu người từ 5 tuổi trở lên di cư, thì có 29,0%

di cư từ nông thôn đến thành thị, 28,8% di cư từ nông thôn đến nông thôn, 30,1% là di cư từ thành thị đến thành thị, 12,1% là di cư từ thành thị đến nông thôn.”

Việc di cư theo khu vực nói trên cũng có sự khác nhau về tỷ lệ Xét theo

3 loại hình di cư: di cư đến, di cư quay về, di cư gián đoạn thì tỷ lệ người di

cư đến là cao nhất chiếm 16,0% dân số nhóm tu ổi 15-59, trong khi đó người

di cư quay về và di cư gián đoạn chiếm không đáng kể lần lượt với tỷ lệ là 0,8% và 0,4%

1.2.2 Phân loại dựa trên độ tuổi và giới tính của người di cư

“Theo kết quả Tổng điều tra dân số 2014, tuổi trung vị của người không

di cư năm 2014 là 30 tuổi, có nghĩa là một nửa dân số không di cư có độ tuổi

từ 30 trở xuống, còn tuổi trung vị của người di cư ít hơn khoảng 5 năm, hay nói cách khác có một nửa số người di cư có độ tuổi từ 25 trở xuống Kết quả phân tích số liệu Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2018 cung cấp thêm những bằng chứng khẳng định các phát hiện trước đây cho thấy người di cư thường là những người trẻ tuổi.”

Trang 15

Bảng 1.1: Tỷ lệ di cƣ theo vùng kinh tế - xã hội, thành thị/nông thôn, giới tính

Đơn vị tính: %

Nguồn: Điều tra di cư nội địa quốc gia năm 2018

“Kết quả Điều tra di cư nội địa quốc gia năm 2018 cho thấy, 17,3% dân

số ở độ tuổi 15-59 trong cả nước là người di cư Các cuộc điều tra di cư trước đây cho thấy nữ giới chiếm tỷ lệ di cư ngày càng cao (hiện tượng nữ hóa di cư) Kết quả Điều tra di cư nội địa quốc gia năm 2018 cũng không phải là ngoại lệ, với tỷ lệ di cư của nữ giới (17,7%) cao hơn so với nam giới (16,8%)

Xu hướng này tương tự ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng, trừ Trung du và miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long lại có xu hướng ngược lại, nghĩa là tỷ lệ di cư của nam cao hơn nữ Tỷ lệ nữ giới chiếm 52,4% tổng số di cư Hiện tượng nữ hóa di cư cũng thể hiện ở tỷ số giới tính của người di cư, 6 trong 9 nhóm tuổi của người di cư có tỷ số giới tính nhỏ hơn

100 mặc dù tỷ lệ này là không đồng đều theo nhóm tuổi, cao nhất là ở nhóm tuổi 35-39 (145 nam/100 nữ), tiếp đến là nhóm tuổi 45-49 (127 nam/100 nữ), thấp nhất là ở nhóm tuổi 55-59 (69 nam/100 nữ) Ở nhóm người không di cư, tỷ

số giới tính của những nhóm tuổi liền nhau khá tương đồng với đặc trưng chung

về tỷ số giới tính của toàn bộ dân số Các nhóm tuổi dưới 24, tỷ số giới tính lớn

Trang 16

hơn 100, ở các nhóm tuổi từ 25 trở lên tỷ số giới tính nhỏ hơn 100 Người di cư đến các vùng đa số là người trẻ (trên 60% người di cư có độ tuổi dưới 30), ngoại trừ thành phố Hồ Chí Minh (56,1%) Tỷ lệ người di cư ở độ tuổi dưới 30 ở Đồng bằng sông Hồng là 76,3%, Hà Nội 68,7%, các vùng còn lại khá tương đồng nhau

từ 60,5% đến 65,5% Sự tập trung người di cư ở nhóm độ tuổi trẻ đặt ra gánh nặng về giáo dục, y tế, giải quyết việc làm cho những khu vực di cư đến, đặc biệt

là khu vực có tỷ lệ người di cư trong nhóm tuổi trẻ lớn như vùng Đồng bằng sông Hồng và Hà Nội.” Ở tất cả các vùng, phân bố phần trăm người di cư ở độ tuổi từ 15-29 của nữ đều lớn hơn nam (ngoại trừ thành phố Hồ Chí Minh), điều này thể hiện rõ xu hướng “nữ hoá” trong di cư

1.2.3 Phân loại theo độ dài thời gian cư trú:

+ Di cư lâu dài: bao gồm các hình thức thay đổi nơi cư trú và nơi làm việc với mục đích định cư sinh sống ổn định lâu dài tại nơi ở mới Phần lớn người di cư dưới dạng này do nhiều động cơ công tác,người tìm cơ hội việc làm mới…Những đối tượng này không quay trở lại nơi sống cũ

“+ Di cư tạm thời: là loại hình diễn ra thường xuyên trong đó di dân mùa

vụ là trường hợp đặc biệt Sự vắng mặt tại nơi đi diễn ra không lâu và khả năng quay trở về của người di cư là chắc chắn Di cư tạm thời bao gồm các hình thức di chuyển làm việc theo mùa vụ, di dân con lắc, đi công tác dài ngày hoặc như trường hợp ra nước ngoài lao động, học tập một thời gian… +Di cư mùa vụ: loại hình nãy diễn ra chủ yếu trong các xã hội nông nghiệp mặc dù thật ngữ “mùa vụ” không nhất thiết hàm ý vụ mùa sản xuất nông nghiệp Di cư mùa vụ gắn với những hoạt động có tính mùa vụ như xây dựng, du lịch,làng nghề và thậm chí cả loại hình đi làm ăn xa

1.2.4 Phân loại theo đặc trưng di cư:

Chính sách ở nước ta quy định và phân chia di dân thành hai loại hình di dân tự phát và di dân có tổ chức

“+ Di cư có tổ chức: là hình thái di chuyển theo kế hoạch nhằm thực hiện

Trang 17

các chính sách hay chiến lược do Nhà nước, Chính phủ vạch ra, nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ngắn hạn hoặc dài hạn nào đó Những người di cư thường nhận được sự tài trợ về mặt tài chính hoặc vật chất Loại hình này thường được Chính phủ tổ chức một cách chặt chẽ, có sự chuẩn bị cơ sở vật chất ở nơi đến khá đầy đủ cho người di cư Người di cư cũng thường được cung cấp việc làm, ruộng đất… để đảm bảo cuộc sống.” + Di cư tự phát: là hình thái di cư không có sự tổ chức của nhà nước được xem xét là dạng di cư không có tổ chức, và hoàn toàn do người di cư quyết định (tất cả mọi chi phí, thủ tục trong quá trình di chuyển, quá trình định cư, tìm kiếm việc làm mưu sinh đều do người di cư tự lo lấy) Hình thái này được thừa nhận nhưng không được khuyến khích, hỗ trợ, và thậm chí không cho phép Người di cư chịu chi phí tái định cư và tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn nơi đến.”

Rất khó phân biệt rạch ròi giữa di cư có tổ chức và di cư tự phát, bởi vì nhiều gia đình và cá nhân lúc đầu thì đi theo các chương trình có tổ chức, nhưng sau khi đến nơi lại di chuyển tiếp và tự phát định cư ở các nơi khác

1.3 Các tiêu chí đánh giá tình trạng di cƣ

1.3.1 Qui mô dòng di cư

1.3.1.1 Đo lường người di cư

“Có hai phương pháp thường được sử dụng để đo lường số lượng di cư

Phương pháp gián tiếp là việc xác định số di cư dựa vào các chỉ tiêu dân số

như quy mô dân số, số sinh chết, tốc độ tăng quy mô dân số,…để tính toán ra

số lượng di cư Chẳng hạn, số lượng di cư thuần túy (chênh lệch đi và đến) của một địa phương trong một năm có thể xác định bằng cách lấy dân số tăng thêm so với đầu năm cộng với số sinh ra và trừ đi số chết trong năm Cách này sẽ chỉ cho biết được chênh lệch giữa số lượng luồng di cư đi và đến chứ

không cho biết thống kê đến là bao nhiêu và đi là bao nhiêu Phương pháp

Trang 18

trực tiếp cho phép xác định trực tiếp số lượng di cư của địa phương trong thời

gian nhất định Chẳng hạn tổng điều tra dân số sẽ cho biết chính xác ai là người di cư và số lượng là bao nhiêu trong khoảng cách thời gian của hai cuộc tổng điều tra Có thể sử dụng phương pháp thống kê cư trú hàng năm để xác định chính xác số người chuyển đi và đến địa phương Ví dụ, di cư quốc tế có thể thống kê tại các cửa khẩu về số lượng người xuất nhập cảnh trong thời gian nghiên cứu, hay thống kê thông qua đăng ký hộ tịch, hộ khẩu trong hệ thống quản lý các cấp Việc thống kê di cư nội địa theo hình thức này có thể chứa đựng những sai số lớn vì thực chất rất nhiều người có hộ khẩu hoặc đăng

ký thường trú tại một địa phương nhưng lại cư trú tại một địa phương khác Một phương pháp nữa trong nhóm phương pháp trực tiếp là điều tra chọn mẫu Các cuộc điều tra này sẽ cung cấp thông tin tương đối chi tiết về tình hình di cư của các địa phương, không những cung cấp những thông tin cho việc xác định di cư mà còn có những thông tin cần thiết để đánh giá được tác động của việc di cư tới các vấn đề kinh tế xã hội Một trong các điều tra có nhiều thông tin cho phép xác định di cư và tác động của di cư ở Việt Nam đó

là Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam

Để đo lường di cư người ta thường sử dụng một số chỉ tiêu sau đây:

Di cư thuần túy: Sự chênh lệch giữa số người đi và số người đến được gọi là

di cư thuần túy Khi số người đi nhiều hơn số người đến, cán cân di chuyển là

âm Còn di cư thuần túy là dương nếu số người đến nhiều hơn số người ra đi.”

NM = (I – O) = (Pt1 – Pt0) – (B – D) NM: di dân thuần túy

Pt1: tổng dân số ở thời điểm t1

Pt0: tổng dân số ở thời điểm t0

I và O: số lượng nhập cư và xuất cư giữa 2 thời điểm

B và D: tổng số sinh và chết giữa 2 thời điểm

Trang 19

Tỷ suất xuất cư: Đo lường tỷ lệ của xuất cư khỏi địa phương trên tổng dân số

của địa phương trong một thời gian nhất định

OR = * 100 %

P O

O: số người xuất cư khỏi địa bàn

P: dân số trung bình của địa bàn đó

Tỷ suất nhập cư: Đo lường tỷ lệ nhập cư vào một địa bàn trên tổng dân số của

địa bàn đó tronwg một khoảng thời gian nhất định

IR = * 100 %

P I

I: số người nhập cư vào địa bàn

P: dân số trung bình của địa bàn đó

“ Tỷ suất di dân thuần túy: Đo lường sự tác động của di dân đến dân số Sự

tương quan giữa xuất và nhập cư tại một địa bàn sẽ làm cho trị số của tỷ số này âm (nếu số người xuất cư lớn hơn số người nhập cư) hoặc dương (nếu số người nhập cư lớn hơn số người xuất cư)

NMR = * 100 %

P

O

I

Tổng tỷ suất di cư thuần túy: Trong trường hợp tỷ suất di cư thuần túy NMR

quá nhỏ do số lượng xuất cư xấp xỉ số lượng nhập cư thì người ta thường sử dụng tổng tỷ suất di cư để xem xét đánh giá

TR = * 100 %

p O

I

Trang 20

1.3.1.2 Loại hình di cư:

+ Người di cư đến: là những người đã chuyển từ một quận/huyện khác tới quận/huyện đang hiện tại sinh sống trong vòng 5 năm trước thời điểm điều tra, và hiện đã cư trú nơi điều tra từ 1 tháng trở lên hoặc đã cư trú ở nơi điều tra dưới 1 tháng nhưng có ý định ở từ 1 tháng trở lên;

+ Người di cư quay về là người trong vòng 5 năm trước thời điểm điều tra đã ròi nơi ở hiện tại để đến một quận/huyện khác để lao động/học tập ít nhất 1 tháng liên tục

+ Người di cư gián đoạn là người trong 12 tháng trước thời điểm điều tra rời khỏi nhà đi lao động kiếm tiền ở quận/huyện khác với tổng thời gian từ 1 tháng trở lên

1.3.1.3 Địa bàn di cư:

Địa bàn của người di cư chủ yếu là từ các huyện đến thị xã, thành phố trong tỉnh Nghệ An như thành phố Vinh hay các thị xã Cửa Lò, Hoàng Mai, Thái Hòa, từ các khu vực có nền kinh tế kém phát triển đến khu vực có kinh

tế phát triển, từ đô thị nhỏ đến đô thị lớn.”

1.3.2 Cơ cấu của người di cư

Đặc điểm của người di cư trong nghiên cứu liên quan tới các vấn đề thường gặp như:

+ Về giới tính

+ Độ tuổi di cư

+ Tình trạng hôn nhân của người di cư

+ Trình độ học vấn và công việc của người di cư

1.3.3 Tác động của người di cư

“Trong điều kiện bình thường người ta di cư vì các nguyên nhân kinh tế

và xã hội là chủ yếu Do đó, động cơ di dân đã và đang là vấn đề được các nhà nghiên cứu dân số và xã hội học quan tâm Di dân có tác động không nhỏ

Trang 21

lên sự phát triển kinh tế như:

- Lao động di cư góp phần phát triển kinh tế - xã hội làm tăng GDP và chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nơi đến đặc biệt là ở thành phố

- Lao động di cư là nguồn cung cấp nguồn nhân lực cho các công việc lao động giản đơn, đặc biệt ở các ngành nặng nhọc, thu nhập thấp và nguy hiểm mà người dân nơi đến, đặc biệt thành phố không làm

- Người di cư đóng góp việc thúc đẩy phát triển ngành nghề dịch vụ, làm cho các dịch vụ đến gần dân hơn, tiện lợi hơn (đưa gas, đưa gạo, đưa nước tinh khiết, đưa cơm hộp, rửa xe máy, ô tô )

- Lao động di cư còn tác động lên việc điều tiết giá cả lao động trên thị trường lao động Nếu không có người di cư đến, tại thành phố lớn nói chung, thiếu lao động làm việc trong các ngành xây dựng, may mặc… Người thành phố, sẽ yêu cầu giá cả cao hơn rất nhiều nếu họ chấp nhận làm những việc nêu trên Khác với người dân sở tại, người di cư có thể làm bất cứ việc gì không trái pháp luật bằng sức lao động của mình miễn là họ thấy có được thu nhập phù hợp

- Người di cư có công trong việc phát triển kinh tế gia đình ở địa phương nơi đi qua đó làm thay đổi bộ mặt làng quê ở nơi đi Tác động tích cực của người di cư đối với gia đình và địa phương nơi đi được đánh giá qua số tiền gửi về gia đình, sử dụng tiền gửi của gia đình vào phát triển kinh tế, giáo dục

và chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình và đầu tư phát triển kinh tế ở địa phương.”

- Người di cư góp phần phát triển kinh tế ở địa phương, họ còn góp phần phát triển kinh tế ở địa phương thông qua việc người di cư có thu nhập cao đầu tư về phát triển ngành nghề ở địa phương Nhiều người di cư đã học được kinh nghiệm sản xuất ở nơi đến, khi trở về quê họ mở ngành nghề mới thu hút lao động địa phương qua đó cải thiện đời sống cho người lao động ở quê nhà

Trang 22

“- Việc di cư đi một số lượng người trong hộ gia đình lại tạo nên điều kiện cho người ở lại có cơ hội việc làm như có thêm đất để trồng trọt, hay đối với những nhà không có người làm ruộng thì công việc làm thuê vào mùa vụ cũng đang trở nên phổ biến ở các nông thôn,

Tuy nhiên, việc di cư của người lao động không chỉ ảnh hưởng tới kinh

tế của địa phương mà còn kéo theo nhiều tác động liên quan tới công quản lý dân số và các vấn đề xã hội khác

1.3.3.1 Tác động tích cực

- Làm phong phú thêm đời sống văn hóa của đô thị

Nhập cư không chỉ đơn thuần là dịch chuyển lao động mà còn là quá trình giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng có đặc trưng văn hóa khác nhau, bởi vì người nhập cư đến từ nhiều địa phương khác nhau và mang theo những nét văn hóa riêng của vùng, miền, quê hương họ, những dòng văn hóa đó không xung đột mà hòa nhập vào nhau làm phong phú thêm đời sống văn hóa đô thị

Thực tế cho thấy, không chỉ người kinh ở các khu vực kém phát triển di

cư mà còn dân tộc Thái, Mông, Khơ Mú ở khu vực Miền núi Phía Tây như Tương Dương, Con Cuông, Kỳ Sơn di cư để tìm cơ hội việc làm hoặc có nhu cầu đi học để có một cuộc sống tốt hơn trong tương lai Điều này nằm trong chính sách ưu tiên học sinh người dân tộc của chính quyền tỉnh

Như vậy, thông qua quá trình nhập cư, người lao động có cơ hội giao lưu, tiếp thu các yếu tố văn hóa mới nhưng vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc, quê hương mình, những lớp người nhập cư vào thành phố không chỉ mang lại sức sống và sự năng động kinh tế - xã hội cho khu vực đô thị, nó còn góp phần tạo nên bức tranh đa dạng và sống động trong đời sống văn hóa của thị dân

- Góp phần mở rộng và phát triển không gian đô thị

Về mặt lịch sử, đô thị hóa đã từng gắn liền với sự tăng trưởng của nhân khẩu đô thị, sự tích tụ dân cư thành phố tăng lên và sự tăng lên này một phần

là nhờ vào lượng người nhập cư từ nông thôn vào thành phố Sự phát triển

Trang 23

mạnh mẽ các ngành kinh tế và đô thị hóa là nguyên nhân thúc đẩy người dân nhập cư vào các đô thị, chính cuộc sống cao hơn về vật chất lẫn tinh thần ở đô thị đã tạo ra một sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với cư dân nông thôn và ngược lại, quá trình nhập cư vào đô thị lại góp phần đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, làm tăng nhanh dân số đô thị, chính điều này tạo cơ hội để các đô thị mở rộng không gian nhằm giảm áp lực về mật độ dân số, giao thông, chợ búa… trong quá trình phát triển.”

1.3.3.2 Tác động tiêu cực:

- Gia tăng dân số cơ học nhanh, đặc biệt là ở những nơi đô thị hóa nhanh đã làm cho cơ sở hạ tầng trở lên quá tải Các điều kiện về cơ sở hạ tầng như nhà ở, trường học, bệnh viện, điện, nước, đường phố, vệ sinh môi trường

và các điều kiện khác hiện chưa thể đáp ứng được tốt so với số dân thực tế đang sống tại thành phố Người di cư chưa có thói quen bảo vệ môi trường, đặc biệt là những người đang sống ở nông thôn di chuyển ra các đô thị như bỏ rác vào sọt rác và không chú ý đến vệ sinh đường phố, tổ dân phố nơi họ đang thuê nhà trọ để sinh sống Vì vậy, họ làm ảnh hưởng xấu đến vệ sinh đường phố và môi trường đô thị

“- Một đặc điểm của người di cư, đặc biệt là người di cư làm việc ở khu vực phi chính thức là hay thay đổi chỗ làm việc và hay thay đổi chỗ ở Vì vậy, mặc dù luật cư trú ban hành đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người di

cư trong việc đăng ký tạm trú Nhưng số người không đăng ký tạm trú rất nhiều Điều này gây khó khăn cho công an trong việc quản lý trật tự trị an

- Số lượng người di cư đến các thành phố lớn, đặc biệt đa số họ là những người trình độ học vấn thấp, chưa qua đào tạo nghề nghiệp Vì vậy, rất nhiều người di cư không có công việc làm ổn đinh, thu nhập thấp Một thực tế

đã được công an tại các địa bàn nơi đến thừa nhận, thì người di cư ồ ạt đến các thành phố cũng góp phần làm tệ nạn trộm cắp gia tăng và đại đa số bộ phận trong số họ là những thanh niên thất nghiệp Người di cư vừa là người

Trang 24

gây ra các tệ nạn xã hội, nhưng họ cũng là nạn nhân của các tệ nạn xã hội

- Việc người di cư tìm việc làm một cách ồ ạt có thể tạo ra một số gánh nặng cho người ở lại Do đặc trưng chủ yếu của người di cư là những người trong độ tuổi lao động, nên ở lại nông thôn chỉ còn phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ và những người đã hết tuổi lao động, sức yếu không thể đi làm xa

1.4 Các nhân tố tác động đến di cư

Sự phát triển kinh tế không thể tách rời nhân tố lao động.Thị trường lao động sẽ trở nên mất cân bằng khi có một sự thay đổi mới về cơ cấu kinh tế vùng Giả sử ở một vùng A có sự mở rộng về kinh tế, phát triển thêm một số ngành sản xuất mới làm cho nhu cầu lao động tăng lên, đường cầu dịch chuyển sang phải đẩy giá thị trường lao động tăng lên Trong trường hợp ngược lại nếu ở một vùng khác (B) bị thu hẹp sản xuất của một số ngành kinh

tế làm cho nhu cầu lao động giảm xuống, đường cầu dịch chuyển vào trong sẽ kéo giá thị trường lao động giảm xuống Với giả thiết cung cầu lao động ở mỗi vùng không đổi, tình huống xảy ra là tạo ra sự mất cân bằng thị trường lao động giữa hai vùng.”

Hình 1.1: Thị trường lao động của vùng khi thay đổi cơ cấu của cầu

Ghi chú: DA2, DB2 tương ứng là đường cầu của thị trường lao động ở vùng A và vùng B sau khi có sự thay đổi phát triển kinh tế ở vùng không

Trang 25

giống nhau

Giải pháp lấy lại sự cân bằng giữa thị trường lao động ở các vùng là sự dịch chuyển lực lượng lao động từ vùng B sang vùng A

Hình 1.2: Điểm cân bằng mới của thị trường lao động

Ghi chú: SA3, SB3 tương ứng là đường cung của thị trường lao động ở vùng A và vùng B khi thị trường lao động quốc gia ở trạng thái cân bằng mới

“Xé về mặt lý thuyết, để cân bằng về lao động, thu nhập và sự phát triển kinh tế giữa các vùng thì có thể điều chỉnh lực lượng lao động bằng cách di dân Nhưng trong thực tế vấn đề di dân lại không đơn gian như vậy Phần lớn những người di cư trong nước là vì lý do kinh tế, bao gồm cả di cư tìm việc làm và cải thiện điều kiện sống Tuy nhiên cũng cần chú ý rằng động cơ di cư của cá nhân và hộ gia đình không mang tính một chiều mà thường lồng ghép với nhiều các yếu tố khác Có thể thấy những động cơ “kết hợp” này ở hầu hết các trường hợp di cư nội địa ở Việt Nam nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng Ví dụ di cư do sự thay đổi khí hậu có thể liên quan tới các yếu tố về kinh tế, trong trường hợp này các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng di chuyển do sinh kế của họ không còn phù hợp nữa, chẳng hạn đất ngập mặn nên công việc trồng trọt không còn phù hợp nữa Thậm chí với tiêu chí “động

Trang 26

cơ kinh tế” có thể xác định các yếu tố cụ thể, chẳng hạn như tăng thu nhập với vai trò là một chiến lược đối phó (trong trường hợp có rất ít hoặc không có chiến lược thay thế) nhằm tăng khả năng an ninh kinh tế hoặc tích lũy những

gì thực sự cần thiết

Để bao quát các nhân tố tác động tới quyết định di cư người dân, luận văn sẽ tập trung phân tích hai nhóm chính gồm: yếu tố lực đẩy - bắt nguồn từ nơi xuất cư và cá nhân người di cư và yếu tố lực hút - liên quan đến điều kinh

tế - xã hội của nơi đến

1.4.1 Yếu tố lực đẩy với người di cư

1.4.1.1 Yếu tố từ thị trường lao động nơi xuất cư

- Là những hạn chế của thị trường lao động nơi xuất cư Đặc biệt là thị trường lao động nông thôn, chủ yếu là công việc đồng áng vất vả nhưng thu nhập lại không cao Chính vì vậy người dân phải tìm đường sống tại một nơi khác giúp họ có thu nhập tốt hơn để cải thiện cuộc sống.”

- Ngoài ra trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa, việc sử dụng các ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp đã làm nâng cao năng xuất, tiếp kiệm dược chi phí, thời gian đặc biệt

là giải phóng sức lao động của người nông dân nông thôn Từ đó khối lượng công việc cũng giảm đi đáng kể dẫn đến nhiều lao động không có việc làm và

di cư là các tốt nhất để họ có thể cải thiện được nguồn thu nhập của mình

1.4.1.2 Yếu tố liên quan đến hoàn cảnh gia đình người di cư

“- Bao gồm các vấn đề liên quan đến hoàn cảnh giả đình như điều kinh tế khó khăn; gia đình đông người nhưng không có nhiều người có khả năng lao động; gia đình có người ốm đau, tàn tật không có khả năng lao động Trong các gia đình này, áp lực của người lao động chính là rất lớn Điều này đòi hỏi người lao động chính phải kiếm thêm thật nhiều thu nhập để cải thiện đời sống cho bản thân cũng như gia đình của mình

Trang 27

1.4.2 Yếu tố lực hút đối với người di cư

1.4.2.1 Cơ hội việc làm tại nơi đến

Di cư để tìm kiếm cơ hội việc làm, tạo thu nhập là lý do di cư phổ biến nhất nên cơ hội việc làm được coi là yếu tố hút quan trọng hàng đầu tại nơi

đến

Hiện tại khoảng cách về cơ hội việc làm và thu nhập giữa hai khu vực thành thị và nông thôn lại còn quá lớn, quá trình đô thị hóa nông thôn đã làm cho khu vực nông thôn bị thu hẹp cả về diện tích và việc làm cho khu vực này Chính điều này đã làm cho lao động ở khu vực nông thôn không có việc làm do mất đất sản xuất, trong khi đó cơ sở hạ tầng phát triển chậm so với tốc

độ đô thị hoá đã dẫn đến tình trạng thất nghiệp và tình trạng di cư lao ñộng

đến địa phương khác để tìm việc làm là điều tất yếu

Ở Nghệ An, tìm việc làm tại nơi ở mới là lý do chính khiến người dân di

cư nội tỉnh Những người dân ở vùng cao, nơi có địa hình hiểm trở đồng thời khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, thường có xu hướng xuống các vùng đồng bằng đặc biệt là thành phố hoặc các thị trấn huyên, những nơi họ có thể

dễ dàng tìm kiếm công ăn việc làm cải thiện cuộc sống cho gia đình.”

1.4.2.2 Thu nhập tại điểm đến cao hơn nơi xuất cư

Theo đó, người di cư thường có xu hướng di chuyển từ nơi có thu nhập bình quân thấp đến nơi có thu nhập bình quân cao hơn Đối với những khu vực có thu nhập bình quân thấp thì chỉ tiêu này sẽ tác động làm tăng xuất cư, hạn chế nhập cư; ngược lại đối với những khu vực có thu nhập bình quân cao thì sẽ thu hút nhập cư, làm giảm xuất cư Ở nông thôn, những khoản thu nhập của lao động kiếm được chủ yếu là sự đánh đổi rất lơn về sức lao động và thời gian lao động, trong khi đó ở thành thị họ dễ kiếm việc làm hơn, lại không

quá nặng nhọc đó là tâm lý của người lao động ở nông thôn khi dịch chuyển

“Hơn nữa, tốc độ phát triển kết cấu hạ tầng ở thành thị diễn ra mạnh mẽ

Trang 28

đã tạo ra cơ hội cho người lao động di cưu dễ tìm việc làm và tạo thu nhập hơn so với khu vực nông thôn Tất nhiên là khi lao động di cư họ phải bỏ ra những khoản chi phí như ăn, cở và các chi phí sinh hoạt khác nhưng họ vẫn ở lại thành thị để tiếp tục công việc của mình, điều quan trọng là họ có thể cải

thiện được về cả trình độ tay nghề và thu nhập của mình tốt hơn

1.4.2.3 Lực hút từ vốn xã hôi: bạn bè/ người thân

Yếu tố lực hút này chủ yếu là một dạng vốn xã hội, thông qua đó những người di cư, đang làm việc tại điểm đến, có thông tin và trong nhiều trường hợp, thuyết phục bạn bè, người thân cùng di cư Những người di cư thường vẫn giữ liên lạc với bạn bè và gia đình ở nơi người đó ra đi Sau một thời gian, nếu người di cư có được những điều kiện cơ bản thuận lợi đảm bảo được cuộc sống cho gia đình và người thân có ý định đoàn tụ gia đình hoặc lôi kéo bạn bè thì việc di cư hoàn toàn có thể xảy ra Đây là hiện tượng rất phổ biến

và cũng thường gắn với những người xuất phát từ những nơi kém phát triển

về kinh tế

1.4.3 Các yếu tố khác tác động đến di cư

Bên cạnh lực đẩy tại nơi đi và lực hút tại nơi đến thì còn có một vài yếu

tố trên thực tế qua nhiều nghiên cứu cho thấy sự thúc đẩy di cư bao gồm:

- Cơ sở hạ tầng kém phát triển trong khi mật độ dân số lại cao, không đáp ứng đủ nhu cầu cơ bản của con người như chăm sóc y tế, giáo dục, nhà ở, phương tiện đi lại tại nơi đi

- Điều kiện tự nhiên không thuận lợi ở nơi xuất cư như bão, lũ lụt, sạt lở đất gây nguy hiểm tới tính mạng bản thân cũng như gia đình;

- Trình độ học vấn: Ở nông thôn, vùng núi con em đến trường đi lại khó khăn hiểm trở nên đại đa số học sinh ở các vùng này chỉ học đến cấp 2, cấp 3

mà không có điều kiện học ở các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai của chính bản thân và con cái của

Trang 29

người di cư

- Độ tuổi: Mục đích quyết định của người di cư ra khỏi địa phương là tìm việc làm làm ổn định, hoặc nâng cao thu nhập, cho nên để có thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động thì đòi hỏi họ phải có sức khỏe, trẻ cộng với trình độ nhất định Phần lớn các nghiên cứu ở Việt Nam đều cho thấy rằng

độ tuổi có nhiều lao động di cư nhất là từ 20- 29 tuổi Điều này cũng có thể minh chứng bằng những mẫu thông báo tuyển dụng đều có giới hạn độ tuổi Hay các sinh viên đến tuổi 18 sẽ tìm đến các trường đại học, cao đẳng, trường dạy nghề ở các đô thị lớn để nâng cao kiến thức và tìm kiếm thêm nhiều cơ hội việc làm cho tương lai

Đối với nơi đến còn có một yếu tố quan trọng tác động thúc đẩy người di

cư là chính sách thu hút đầu tư của từng vùng Những vùng có chính sách tốt thường sẽ là điểm đến của các nhà đầu tư Điều này tạo ra công ăn việc làm cho người dân ở tại bản địa cũng như người nhập tư tới đây.”

Đồng thời trong quá trình nghiên cứu còn có một số nguyên nhân cản trong việc ra quyết định của người di cư như: Điều kiện nơi ở, đăng ký hộ tịch – hộ khẩu, giáo dục học hành và sinh hoạt văn hóa - thể thao và khả năng tiếp cận BHYT cùng các dịch vụ khám chữa bệnh Những nguyên nhân này là một

trong số các yếu tố tác động tới quyết định sự dịch chuyển của người di cư

Trang 30

CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG VỀ DI CƯ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VỀ DI CƯ NỘI ĐỊA Ở NGHỆ AN

“Phía Đông giáp biển, phía Tây giáp nước CHDCND Lào, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa

Nằm trong hành lang kinh tế Đông – Tây nối liền Myanmar – Thái Lan – Lào – Việt Nam theo Quốc lộ 7 đến cảng Cửa Lò Nghệ An có 1 thành phố, 3 thị xã và 17 huyện Trong đó, Thành phố Vinh là đô thị loại 1, là trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh và của cả khu vực Bắc Trung bộ

+ Địa hình:

Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối hướng nghiêng từ Tây – Bắc xuống Đông – Nam với ba vùng sinh thái rõ rệt: miền núi, trung du, đồng bằng ven biển Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành có nơi chỉ cao đến 0,2 m so với mặt nước biển (đó là xã Quỳnh Thanh huyện Quỳnh Lưu) Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh

+ Khí hậu:

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp

Trang 31

của gió mùa Tây – Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) Nhiệt độ trung bình hàng năm 23 – 24,20C Tổng lượng mưa trong năm là 1.200 – 2.000

mm Độ ẩm trung bình hàng năm 80-90% Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 1.460 giờ

Với đặc điểm tự nhiên ở tỉnh Nghệ An, ở các khu vực miền núi sẽ gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế hơn ở các vùng đồng bằng Điều này dẫn đến sự khác biệt trong chính sách ưu tiên phát triển giữa các vùng Thông thường chính quyền sẽ ưu tiên phát triển các vùng đồng bằng, nơi có đầy đủ

cơ sở hạ tầng cơ bản, các nhà đầu tư dễ tiếp cận và dễ phát triển các thêm nhiều ngành nghề ở khu vực đồng bằng hơn là đồi núi

- Dân cƣ:

Theo điều tra dân số năm 2019, dân số Nghệ An có 3.327.791 người Trên toàn tỉnh Nghệ An có nhiều dân tộc cùng sinh sống như người Thái, người Mường bên cạnh dân tộc chính là người Kinh Cùng thời điểm này Nghệ An có 37 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống Nghệ An là tỉnh có dân số đông thứ 4 cả nước nhưng có thể sẽ tụt xuống vị trí thứ 5 do tỉnh Đồng Nai đang có sự nhập cư cơ học rất cao, từ vị thí đông dân thứ 5 sẽ nhanh chóng vượt mặt Nghệ An để đứng thứ 4

Dân cư ở Nghệ An phân bố rất không đều, tại khu vực đồng bằng Diễn Châu, Nghi Lộc, Đô Lương, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Nam Đàn, Hưng Nguyên, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, thị xã Hoàng Mai có mật độ cao, trong khi các huyện miền núi phía Tây lại rất thưa thớt, tại Nghĩa Đàn, Thanh Chương, Quỳ Hợp, Anh Sơn, Tân Kỳ thì mật độ mức trung bình khá đông, ở những huyện này mật độ cao chỉ tập trung ở các khu vực thung lũng, các nơi

ở sâu trong núi thì rất thưa thớt, riêng các huyện miền Tây xa nhất xứ Nghệ như: Quỳ Châu, Con Cuông, Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong đều có mật

độ rất thấp, nguyên nhân là do địa hình hiểm trở, khí hậu khắt nghiệt, giao thông khó khăn Trong số các huyện đồng bằng ven biển thì Quỳnh Lưu là

Trang 32

đông dân nhất, còn ở miền núi thì Thanh Chương là có dân số lớn nhất Nguyên nhân của sự phân bố dân cư không đều là do điều kiện phát triển kinh

tế giữa các vùng không đồng đều Cơ hội việc làm cùng điều kiện sống của người dân ở các vùng trở nên khác biệt Dẫn đến sự dịch chuyển của người dân từ vùng có kinh tế kém phát triển sang vùng có kinh tế phát triển hơn.”

Bảng 2.1: Mật độ dân số toàn tỉnh Nghệ An năm 2018

Nguồn: Báo cáo Thống kê dân số tỉnh Nghệ An năm 2018

Trang 33

Khu kinh tế Đông Nam

Khu công nghiệp Bắc Vinh

Khu công nghiệp Nam Cấm

Khu công nghiệp Nghi Phú

Khu công nghiệp Hưng Đông

Khu công nghiệp Cửa Lò

Khu công nghiệp Hoàng Mai

Khu công nghiệp Đông Hồi

Khu công nghiệp Phủ Quỳ

Khu công nghiệp Tân Thắng

Khu công nghiệp Diễn Hồng – Diễn Châu

Các khu công nghiệp mở ra tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân, thu hút những người từ khu vực không có khu công nghiệp tới nơi có khu công nghiệp Dẫn đến sự phát triển của các dịch vụ kèm theo do nhu cầu dịch chuyển người lao động

- Về du lịch

Du lịch cùng là một ngành nghề đang tạo ra nhiều cơ hội cho người di cư tìm kiếm việc làm Ở tình Nghệ An, ngành du lịch đang trong giai đoạn từng bước khai phá và phát triển Đặc biệt là các khu du lịch có tiếng như:

Trang 34

Có bãi tắm Cửa Lò là khu nghỉ mát; Khu du lịch biển diễn Thành, huyện Diễn Châu – một bãi biển hoang sơ và lãng mạn; khu di tích Hồ Chí Minh, khu di tích đền Cuông Năm 2008, Khu du lịch Bãi Lữ được đưa vào khai thác

Nghệ An là xứ sở của những lễ hội cổ truyền diễn ra trên sông nước như

lễ hội Cầu Ngư, Rước hến, Đua thuyền Lễ hội làm sống lại những kỳ tích lịch sử được nâng lên thành huyền thoại, giàu chất sử thi, đậm đà tính nhân văn như lễ hội đền Cuông, lễ hội làng Vạn Lộc, làng Sen Miền núi có các lễ hội như Hang Bua, lễ hội Xàng Khan, lễ Mừng nhà mới, lễ Uống rượu cần

“Nghệ An còn lưu giữ được nhiều di tích văn hoá lịch sử, nhiều danh lam thắng cảnh, lễ hội văn hoá truyền thống – đó là những yếu tố thuận lợi giúp cho du lịch Nghệ An phát triển

Về du lịch biển, Nghệ An có 82 km bờ biển với nhiều bãi tắm đẹp hấp dẫn khách du lịch quốc tế như bãi biển Cửa Lò, Cửa Hội; Nghi Thiết, Bãi Lữ (Nghi Lộc), Quỳnh Bảng, Quỳnh Phương, Quỳnh Nghĩa (Quỳnh Lưu), Diễn Thành (Diễn Châu) Đồng thời Nghệ An rất có lợi thế phát triển du lịch văn hóa Hiện nay Nghệ An có trên 1 ngàn di tích lịch sử văn hóa, trong đó có gần

200 di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng, đặc biệt là Khu di tích Kim Liên, quê hương của Hồ Chí Minh, hàng năm đón xấp xỉ 2 triệu lượt nhân dân và

du khách đến tham quan nghiên cứu.”

Khu di tích lịch sử Kim Liên, cách trung tâm thành phố Vinh 12 km về phía Tây Nam, là khu di tích tưởng niệm Hồ Chí Minh tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn Nơi đây gắn với thời niên thiếu của Hồ Chí Minh và còn lưu giữ những kỷ niệm thuở nhỏ của cậu bé Nguyễn Sinh Cung, những dấu tích

và những kỷ vật của gia đình.”

Làng Sen, quê nội của Hồ Chí Minh, tên chữ là Kim Liên (bông sen vàng) Làng có nhiều hồ thả sen suốt hai bên đường làng Ngôi nhà của Hồ Chí Minh sống thuở nhỏ dựng bằng tre và gỗ, 5 gian, lợp tranh Trong nhà có

Trang 35

những đồ dùng giống như các gia đình nông dân: phản gỗ, chõng tre, cái võng gai, bàn thờ Nhà được dựng năm 1901 do công sức và tiền của dân làng góp lại làm tặng ông Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Hồ Chí Minh khi ông Sắc đỗ Phó Bảng đem lại vinh dự cho cả làng

“Cách làng Sen 2 km là làng Chùa (tên chữ là Hoàng Trù) – quê ngoại của Hồ Chí Minh – và cũng là nơi ông cất tiếng khóc chào đời, được mẹ nuôi dạy những năm ấu thơ

Khu du lịch thành phố Vinh nằm ở vị trí giao thông thuận tiện, có quốc

lộ 1a và tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy qua, có sân bay Vinh nằm cách trung tâm thành phố không xa Thành phố Vinh còn là đầu mối giao thông quan trọng giữa miền Bắc và miền Nam Khách đi du lịch theo tuyến quốc lộ 1A ngày càng tăng, lượng du khách đến với Nghệ An theo đó cũng tăng Thành phố Vinh từ lâu đã hấp dẫn du khách bởi một quần thể khu du lịch với những nét đặc trưng tiêu biểu của một đô thị xứ Nghệ Đến với thành phố Vinh, du khách có thể tham gia vào nhiều loại hình du lịch như: du lịch nghiên cứu, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng

Cách thành phố Vinh 120 km về phía Tây Nam, Vườn Quốc gia Pù Mát thuộc huyện Con Cuông, nằm trên sườn Đông của dải Trường Sơn, dọc theo biên giới Việt Lào Nơi đây có một số loài động vật, thực vật quý hiếm cần phải được bảo tồn nghiêm ngặt như: sao la, thỏ vằn, niệc cổ hung và một số loài thực vật như pơ mu, sa mu, sao hải nam Nơi đây đã được được UNESCO đưa vào danh sách các khu dự trữ sinh quyển thế giới với tên gọi Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An

Hiện nay, nhiều tổ chức bảo vệ môi trường thế giới cũng như trong nước, đang có các dự án để bảo tồn và phát triển vườn quốc gia Pù Mát, khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống tạo thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn

Khu du lịch Cửa Lò là điểm du lịch biển hấp dẫn với bãi cát trắng mịn chạy dài gần 10 km, thông ra Hòn Ngư, Hòn Mắt, Đảo Lan Châu e ấp ven bờ

Trang 36

như một nét chấm phá của bức tranh thuỷ mạc Tất cả đã tạo ra cho Cửa Lò có một sức hấp dẫn mạnh mẽ với du khách thập phương

Nghệ An còn là nơi có nhiều món ăn ngon, đặc sản nổi tiếng: cháo lươn Vinh, cơm lam, nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn, cam xã Đoài là những sản phẩm du lịch có sức cuốn hút khách du lịch quốc tế và trong nước Với nhiều lắm những danh lam thắng cảnh, hệ thống di tích, văn hoá phong phú về số lượng, độc đáo về nội dung, đa dạng về loại hình, Nghệ An đang là miền đất hứa, là địa chỉ du lịch hấp dẫn đối với du khách.”

- Về văn hóa, xã hội

Xứ Nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu cũ (bao gồm cả Nghệ An và

Hà Tĩnh) từ thời nhà Hậu Lê Hai tỉnh này cùng chung một vùng văn hóa gọi

là văn hóa Lam Hồng, có chung biểu tượng là núi Hồng – sông Lam Hai tỉnh này có cùng phương ngữ- tiếng Nghệ, cùng kho tàng văn hóa dân gian, cùng

ca câu hò ví dặm, cùng uống chung dòng nước sông Lam

2.1.3 Đặc điểm về hạ tầng giao thông và cơ sở hạ tầng

Giao thông thuận tiện và sự phát triển của cơ sở hạ tầng được chính quyền ưu tiên đầu tư ở các khu vực đồng bằng dẫn đến sự thu hút không nhỏ

sự chuyển dịch của người lao động đến địa phương khác

- Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông:

“Hệ thống giao thông tỉnh Nghệ An hội tụ đầy đủ các tuyến Đường bộ, cảng hàng không, đường biển, đường thuỷ nội địa, đường sắt và các cửa khẩu

Là đầu mối giao thông quan trọng của khu vực Bắc Trung Bộ, giao thương giữa hai miền Bắc Nam cả nước cũng như trong tuyến hành lang kinh tế Đông Tây Cụ thể:

+ Đường bộ: Có 8 tuyến quốc lộ đi qua địa bàn tỉnh Trong đó, có 3 tuyến dọc hướng Bắc Nam, 5 tuyến ngang hướng Đông Tây nối với Lào; có tuyến đường xuyên Á từ nước Lào qua cửa khẩu Thanh Thủy đến cảng Cửa

Lò và cảng Đông Hồi;

Trang 37

+ Đường biển: Cảng Cửa Lò nằm ở cửa ngõ tỉnh Nghệ An thuộc tuyến hành lang kinh tế Đông Tây nối Lào, Thái Lan và Myanmar với biển Đông theo QL 7 và QL 8, là cảng biển nhiều tiềm năng của tỉnh Nghệ An và các tỉnh Bắc Trung Bộ: Cách thành phố Vinh 15 km; 04 bến chính và 03 kho và bãi chứa hàng diện tích 9ha, công suất bốc xếp 13 triệu tấn/năm, tiếp nhận tàu 10.000 DWT; Đang triển khai xây dựng bến cảng số 5 và 6 đảm bảo tiếp nhận tàu có công suất đến 30.000 DWT

+ Đường không: có Sân bay Vinh hiện nay đang đươc quy hoạch là sân bay quốc tế có tốc độ tăng trưởng hành khách lớn nhất nước với trên 56%, đang được đầu tư xây dựng nhà ga mới với quy mô từ 2,5 đến 3 triệu hành khách/ năm Hiện có 1 đường bay quốc tế đi Viêng chăn (Lào) và 5 đường bay nội địa đến các thành phố lớn trong nước như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh,

Đà Nẵng, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt và sẽ tiếp tục mở thêm một số tuyến bay trong nước và quốc tế thời gian tới

+ Đường sắt: Với 94 km đường sắt Bắc – Nam Trong đó, Ga Vinh là ga hạng I, là ga hành khách và vận chuyển hàng hóa lớn thứ ba của cả nước + Cửa khẩu: Với 419 km đường biên giới trên bộ với nước CHDCND Lào (dài nhất cả nước), Nghệ An có 4 cửa khẩu đi sang Lào Trong đó, 1 cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn (Kỳ Sơn), 1 cửa khẩu Quốc gia Thanh Thủy (Thanh Chương) hiện đã được quy hoạch là cửa khẩu quốc tế và 2 cửa khẩu phụ: Thông Thụ (Quế Phong) và Cao Vều (Anh Sơn)

- Hạ tầng và các dịch vụ hỗ trợ đầu tƣ khác:

+ Hệ thống cấp điện: Điện lưới Quốc gia đã phủ hết 21 huyện, thành, thị trong tỉnh Nhiều công trình thủy điện đã và sẽ hoàn thành đi vào hoạt động như: Thủy điện Bản Vẽ, Khe Bố, Hủa Na, Bản Cốc, Nhạn Hạc và hàng chục nhà máy thủy điện vừa và nhỏ khác đảm bảo cung cấp điện ổn định cho sản xuất và sinh hoạt Cụm nhà máy nhiệt điện Đông Hồi công suất 2.400MW đã được Chính phủ phê duyệt quy hoạch, trong đó ngày 01/10/2015, đã động thổ

Trang 38

dự án Nhiệt điện Quỳnh Lập I công suất 1.200MW, do Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam làm chủ đầu tư với tổng mức đầu tư 2,2 tỷ USD, dự kiến hòa mạng lưới điện quốc gia vào năm 2020

+ Hệ thống cấp cấp nước: cung cấp đủ cho các cơ sở sản xuất công nghiệp và cơ bản cho sản xuất nông nghiệp nhờ hệ thống sông ngòi, hồ, đập sẵn có ở Nghệ An và lượng mưa hàng năm tương đối cao so với cả nước Hệ thống các nhà máy nước hiện có và các nhà máy đang tiếp tục được đầu tư xây dựng đảm bảo cung cấp đầy đủ nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất

+ Thông tin – Viễn thông: Cơ sở vật chất và mạng lưới Bưu chính viễn thông hiện đại, với đầy đủ các loại hình dịch vụ có thể đáp ứng nhanh chóng nhu cầu trao đổi thông tin, liên lạc trong nước và quốc tế Trên địa bàn hiện

có mặt hầu hết các mạng điện thoại cố định và di động, phủ sóng hết các huyện, thành, thị trong tỉnh Đến nay, 100% phường, xã có điện thoại, số thuê bao internet đạt 26,9/ 100 dân Năm 2012, Nghệ An được xếp thứ 3 trong 63 tỉnh thành của cả nước về chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin.”

+ Tài chính – Ngân hàng – Bảo hiểm: Nghệ An có hệ thống Ngân hàng

từ tỉnh tới các huyện, thành, thị Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có đầy đủ các ngân hàng và chi nhánh các ngân hàng thương mại lớn trong nước (hiện tại có

45 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng) Cùng với các Dịch vụ tài chính, bảo hiểm ngày càng hoàn thiện và đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư và các doanh nghiệp trên địa bàn

“+ Cơ sở y tế: Nghệ An có mạng lưới bệnh viện đồng bộ với trang thiết

bị hiện đại từ tuyến tỉnh, huyện, các phòng khám đa khoa khu vực và mạng lưới y tế xã, phường tương đối tốt Đáp ứng đầy đủ nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân và các nhà đầu tư Ở tuyến tỉnh có bệnh đa khoa Nghệ An quy

mô 700 giường, các bệnh viện chuyên sâu như: Đông Y, Ung Bướu, Sản Nhi, Mắt… và 8 bệnh viện tư nhân (trong đó có 2 bệnh viện quy mô 400 giường bệnh)

Trang 39

+ Siêu thị - Khách sạn – Nhà hàng: Có các siêu thị lớn tại TP Vinh như BigC, Metro, Intimex và nhiều trung tâm thương mại, mua sắm khác trên địa bàn toàn tỉnh; Hệ thống cơ sở khách sạn, nghỉ dưỡng với đầy đủ các dịch

vụ, tiện nghi Trong đó, có 1 khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao, 5 khách sạn 4 sao, cùng nhiều các khách sạn 3 sao, 2 sao

2.1.4 Tình hình phát triển kinh tế

Cơ cấu kinh tế Nghệ An đang trong quá trình dịch chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Tốc độ chuyển dịch còn chậm và hiệu quả chưa cao Trong 6,9% mức tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đã đóng góp 1,16 điểm %; khu vực công nghiệp – xây dựng đóng góp 2,65 điểm %; khu vực dịch vụ đóng góp 2,7 điểm % và thuế sản phẩm đóng góp 0,39 điểm %

Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng khá với mức tăng 4,64% (6 tháng 2016 tăng 4,22%), trong đó ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng hơn 81% của toàn khu vực tăng 3,72% do sản phẩm nông nghiệp vụ đông xuân được mùa, hầu hết sản lượng của các cây trồng chủ yếu đều tăng khá như thóc tăng 1,41%, rau tăng 1,91%, vừng tăng 15,42%, chuối tăng 3,79%, cam tăng 11,06%,… và ngành chăn nuôi phát triển bình thường, sản lượng xuất chuồng tăng, sản lượng sữa tăng khá (+19,77%), do đó giá trị tăng thêm của ngành nông nghiệp tăng khá cùng kỳ năm trước Cùng với 2 ngành lâm nghiệp và thủy sản đều có mức tăng cao, trong đó ngành lâm nghiệp tăng 8,83% do trong kỳ sản lượng lâm sản khai thác tăng cao so với cùng kỳ năm trước (+24,24%) và ngành thủy sản tăng 9,09% do sản lượng đánh bắt thủy sản tăng cao (+14,98%)

Khu vực công nghiệp – xây dựng giá trị tăng thêm tăng 10,06% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng của 6 tháng 2016 (8,87%), do trong kỳ mặc dù một số sản phẩm công suất đã đến mức tối đa như bia, đường, gạch nung

và sữa, phải chia sẻ thị trường (do nhà máy sữa Vinamilk Đà Nẵng đã đi vào

Trang 40

hoạt động), điện sản xuất thời tiết hạn hán nên một số thời gian không đủ nước

để chạy hết công suất, nhưng bù lại trong kỳ có thêm một số sản phẩm mới như Tôn Hoa Sen (Đông Hồi), xi măng Sông Lam 2 làm cho giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp tăng 8,52%; Ngành xây dựng phát triển khá do đó giá trị tăng thêm của ngành này đã tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước.”

Khu vực dịch vụ vẫn phát triển chậm so với cùng kỳ năm trước Tổng mức bán lẻ hàng hóa, luân chuyển hành khách và hàng hóa tăng khá; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng cao; ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn, nợ xấu giảm; viễn thông phát triển Trong đó giá trị tăng thêm của ngành bán buôn, bán lẻ tăng 5,26%; vận tải kho bãi tăng 8,55%; lưu trú và ăn uống tăng 21,34%; thông tin, truyền thông tăng 5,88%, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,36%

Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo khu vực

từ 2015 -2018

2015 2016 2017 2018 2015 2016 2017 2018 Nông – lâm –

thủy sản 4,14 3,85 3,90 3,53 28,8 27,0 26,5 26,0 Công nghiệp –

Xây dựng 5,34 8,72 10,95 11,58 33,6 33,0 32,5 32,0

Dịch vụ 10,2 6,21 6,89 6,71 37,6 40,0 41,0 42,0

Nguồn: Báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội năm 2015-2018

Những dẫu hiệu khả quan về phát triển kinh tế của tỉnh và sự phát triển của các ngành nghề làm cho người lao động có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, thay đổi đời sống trong tương lai

Ngày đăng: 05/04/2023, 21:52

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w