Đối tượng và phạm vi nghiên cứu- Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghiên cứu chiến lược sản phẩm của các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu Việt nam trong điều kiện kinh
Trang 1BÔ GIÁỮ ĐỤC VÀ ĐÀO TẠO
H Ằ N Ộ I - 1 9 9 8
Trang 2B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Đ Ạ I HỌC K INH TẾ QUỐC DÂN
ooo
DƯƠNG TIẾN DŨNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM XÂY DựNG VÀ THỰC
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
L U Ậ N ÁN TH ẠC SỸ Q UẢN TR Ị KINH D O ANH
HÀ NÔI -1998
Trang 3KINH TẾ THỊ TRUỜNG Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS - PTS T ăn g V ăn Bền
T hạc sỹ N gu yễn Q uỳn h Chi
HÀ NÔI -1998
Trang 4MUC LUC
Trang
M Ộ T S Ố L Ý LUẬN Cơ BẢN VÊ X Â Y D Ụ N G VÀ T H ự C
H IỆ N C H IẾN LƯ Ợ C SẢ N PH A M c ủ a c á c d o a n h
n g h i ệ p CH Ế b i ế n k i n h d o a n h Đ ổ G ỗ X U Ấ T K H A U
T R O N G NỀN K IN H TÊ T H Ị TR Ư Ờ N G Ở V IỆ T N A M
1.1 Vai trò của xuất nhập khẩu nói chung và xu ất kh ẩu sản phẩm 3
đổ gỗ nói riêng tron g C hiến lược Phát triển K inh tế xã hội ở V iệt nam
1.2 Lý luận cơ bản về xây dựng chiến lược sản phẩm tron g các 5
doanh nghiệp ché biến kinh doanh đồ gỗ xu ất kh ẩu ở V iệt nam
1 2 1 K h á i n i ệ m v ề c h i ế n l ư ợ c s ả n p h ẩ m 5
1 2 2 V ị t r í c ủ a c h i ế n l ư ợ c s ả n p h ẩ m t r o n g q u i t r ì n h h o ạ t đ ộ n g k i n h d o a n h 5
c ủ a c á c d o a n h n g h i ệ p c h ế b i ế n k i n h d o a n h đ ồ g ỗ x u ấ t k h ẩ u
1 2 3 Q u i t r ì n h x â y d ự n g c h i ế n l ư ợ c s ả n p h ẩ m 6
1.3 N hững nội dung cơ bản của chiến lược sản p h ẩm của doanh 6
nghiệp ch ế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu.
Trang 52.2 Thực trạng thị trường và vấn đề nghiên cứu thị trường của các 27
doanh nghiệp chê biến kinh doanh đồ gỗ xu ất kh ẩu ở V iệt nam
2.3 Thực trạn g chiến lược sản phẩm của các doanh ngh iệp chê biến 33
kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu ở nước ta
2 3 6 Về công tác quản lý chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp chế 3 9
biến đồ gỗ xuất khẩu
2.4 T hực trạng vấn đề nguyên liệu của các doanh ngh iệp chê biến 40
kinh doan h đồ gỗ xuất khẩu
2.5 M ột số vấn đề về chính sách quản lý của nhà nước đối với lĩnh 42
vực chê biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu của nhà nước
2.6 N hững tồn tại và nguyên nhân hạn chê của việc xây dựng và 44
thực hiện chiến lược sản phẩm của các doanh ngh iệp chê biến kinh doanh đồ gỗ xu ất khẩu V iệt nam
Trang 6C H Ư Ơ N G 3:
M Ộ T SỐ G IẢ I P H Á P N H Ằ M H O À N T H IỆ N V IỆ C XÂY
D Ụ N G V À TH Ự C H IỆ N CÓ H IỆ U Q U Ả C H IẾ N Lược SẢN
Trang 73.3 M ột sô giải pháp nhằm hoàn thiện việc xây dựng và thực hiện có 54
hiệu quả chiến lược sản phẩm của các doanh n gh iệp chê biến kinh doanh đồ gỗ xu ất khẩu trong nền kinh tê thị trường ở V iệt nam
3 3 1 X â y d ự n g c h i ế n l ư ợ c s ả n p h ẩ m c ủ a c á c d o a n h n g h i ệ p c h ế b i ế n k i n h 5 4
d o a n h đ ồ g ỗ x u ấ t k h ẩ u
3 3 1 1 X á c đ ị n h m ụ c t i ê u c ủ a c h i ế n l ư ợ c s ả n p h ẩ m 5 4
3 3 1 2 C á c k i ể u c h i ế n l ư ợ c s ả n p h ẩ m 5 4
3 3 1 3 Những nội dung cơ bản của chiến lược sản phẩm 5 5
3 3 2 T ổ chức thực hiện chiến lược sản phẩm trong các doanh nghiệp chế 5 7
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghiên cứu chiến lược sản phẩm của các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu Việt nam trong điều kiện kinh tế thị trường.
- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu bao gồm các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chiến lược sản phẩm của các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ
gỗ xuất khẩu, có minh hoạ cụ thể qua một số doanh nghiệp tiêu biểu thuộc khu vực thành phố Hà nội và thành phố Hổ Chí Minh.
4 Đóng góp của luận án
- Hệ thống hoá các cơ sở lý luận về chiến lược sản phẩm của các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu trong nền kinh tế thị trường ở Việt nam.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược sản phẩm của các doanh nghiệp chế kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu trong nền kinh tế thị trường ở Việt nam.
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu trong đó chủ yếu là các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp thống
kê, tổng họp và phân tích kinh tế.
6 Kết cấu luận án
- Tên đề tài: "Một số giải pháp nhằm xây dựng và góp phần thực hiện có hiệu quả chiến lược sản phẩm của các doanh nghiệp chế biến kinh doanh
đồ gỗ xuất khẩu trong nền kinh tế thị trường ở Việt nam".
- Kết cấu: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương, 07 bảng, 01 hình và 65 trang.
Chương 1: Một sô' lý luận cơ bản về xây dựng và thực hiện chiến lược sản phẩm của các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu trong nên kinh tê'thị trường ở Việt nam.
Chương 2: Thực trạng chiến lược sản phẩm của các doanh nghiệp chê biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu.
Chương 3: Một sô'giải pháp nhằm hoàn thiện việc xây dựng và thực hiện cố hiệu quả chiến lược sản phẩm của các doanh nghiệp chê biến kinh doanh đồ
gỗ xuất khẩu trong nền kinh tê'thị trường ở Việt nam.
Trang 10CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ LÝ LUẬN C ơ BẢN VỂ XÂY DỤNG VÀ TH ựC HIỆN CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHÊ BIẾN KINH DOANH ĐỔ GỖ XUÂT KHAU t r o n g n e n k i n h t ê t h ị t r ư ờ n g
so sánh Trong đó, việc giao lưu kinh tế đối ngoại và các hoạt động xuất nhập khẩu có tính sống còn vì nó góp phần mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng của một nước, thu hút đầu tư, hợp tác về kinh tế và khoa học công nghệ, cũng như mang lại ngoại tệ phục vụ cho sự cất cánh và phát triển của mỗi quốc gia Việc phát triển xuất nhập khẩu còn giúp cho việc tập trung phát triển các thế mạnh của một đất nước Có thể coi thương mại quốc tế như một trong những nguồn tài nguyên tiềm tàng chưa được khai thác của các nước đang phát triển (cùng các nguồn lực khác như nguồn tài nguyên, nguồn lao động, vị trí địa lý ) chưa sử dụng hết nhằm phát triển kinh tế của đất nước.
Đối với Việt nam, việc mở rộng thương mại quốc tế và các hoạt động xuất nhập khẩu là vận dụng một trong những bài học kinh nghiệm quý báu rút
ra từ thực tiễn trong những năm qua Chính vì vậy, tại các Đại hội V II, V III của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội đến năm 2000, Đảng và Nhà nước luôn nhấn mạnh: “Nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế trong chặng đường đầu tiên cũng như sự phát triển khoa học,
kỹ thuật và công nghiệp hoá XH CN của nước ta tiến hành nhanh hay chậm, điều đó phụ thuộc một phần quan trọng vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Xuất phát từ nền kinh tế kém phát triển, các nguồn lực tiềm năng là tài nguyên thiên nhiên và lao động, các nguồn lực về vốn, công nghệ, thị trường và khả năng quản lý còn hết sức thiếu thốn và nghèo nàn Chiến lược “hướng vào xuất khẩu” về thực chất là giải pháp “mở cửa nền kinh
tế nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, kết hợp chúng vói những tiềm năng bên trong về lao động và tài nguyên thiên nhiên để tạo ra sự tăng trưởng mạnh cho đất nước, góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch với các nước giầu”.
Nhưng không phải mọi sản phẩm làm ra đều có thể xuất khẩu và tiêu
Trang 11thụ trên thị trường nước ngoài được Việc xác định xuất khẩu cái gì? xuất khẩu đi đâu? phải dựa trên các nguyên tắc phân tích lợi thế so sánh một cách biện chứng và sâu sắc Trong thực tế giao lưu kinh tế thế giói đã cho thấy: trong từng giai đoạn, đất nước nào cũng có những lợi thế và tồn tại những khó khăn về một hay một số chủng loại hàng hóa nào đó Điều quan trọng nhất là phải luôn nắm vững để khai thác triệt để mọi tiềm năng và lợi thế của đất nước, khắc phục được những khó khăn, nhằm thu được lợi ích cao nhất và chủ động tham gia vào thị trường thế giới cũng như khu vực.
Với Việt nam, từ một nước nghèo đi lên, trong bước hội nhập ban đầu hiện nay, ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu là một ngành có nhiều lợi thế về hàm lượng tài nguyên thiên nhiên và hàm lượng lao động cao để xuất khẩu Cụ thể là: Công nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu thu hút tương đối nhiều công nhân, đặc biệt là các làng nghề truyền thống của Việt Nam với kỹ năng tinh xảo, phát huy bản sắc dân tộc, vốn đầu tư ban đầu cho một cơ sở chế biến đồ gỗ xuất khẩu không lớn như các ngành khác, hiệu quả kinh tế khá cao, đồng thời khả năng thu hồi vốn nhanh Đó là những đặc điểm rất phù họp với đặc thù của Việt nam Mặt khác, ngành chế biến đồ gỗ của nước ta đã có
từ lâu đời, có truyền thống và kinh nghiệm mang tính cổ truyền Hiện nay ngành đang được chuyển đổi từ sản xuất mang tính thủ công làng nghề sang sản xuất có định hướng tập trung và tạo lập một nền sản xuất ổn định đáp ứng các đơn hàng vừa có chất lượng cao, vừa có khối lượng lớn.
Trong thời gian qua, ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu đã thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước, đóng góp đáng kể vào cán cân ngoại thương, đổng thòi góp phần không nhỏ vào việc tăng nhanh thu hút đầu tư nước ngoài, cụ thể qua bảng sau:
Bảng 1: Giá trị hàng lâm sản xuất khẩu
Đơn vị: triệu USD
Nguồn: Số liệu thống kê 1997
Để đạt được điều đó, trong khuôn khổ của sản xuất hàng hóa, với sự cạnh tranh ngày càng gia tăng mạnh mẽ trên thị trường đồ gỗ xuất khẩu, vấn
đề có tính chất sống còn hiện nay của các doanh nghiệp chế biến kinh doanh
đồ gỗ xuất khẩu Việt nam là phải tạo ra được sức cạnh tranh mạnh mẽ cho sản phẩm của mình trên thương trường quốc tế Tất cả điều đó phụ thuộc rất lớn
Trang 12vào việc xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược sản phẩm của mỗi doanh nghiệp.
1.2 Lý luận cơ bản về xây dựng chiến lược sản phẩm trong các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu ở Việt nam
1 2 1 K h á i n iệ m v ề c h iế n lư ợ c s ả n p h ẩ m
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ chiến lược Một cách đơn giản nhất, chiến lược được hiểu là xu hướng hay kế hoạch nhằm kết hợp những mục tiêu, chính sách chính và những chương trình hành động của tổ chức thành một thể thống nhất.
Đối với một doanh nghiệp thường có ba cấp độ chiến lược , đó là:
- Chiến lược Công ty: đề cập tới toàn thể Công ty nhằm giúp Công ty lựa chọn chính xác lĩnh vực kinh doanh và thị trường trong tiến trình phát triển.
- Chiến lược chức năng: Là các chiến lược chức năng như Marketing, Tài chính, Quản lý nguồn nhân lực được kết họp để tạo thế cạnh tranh cho chiến lược sản phẩm.
- Chiến lược sản phẩm (chiến lược kinh doanh): còn được gọi là chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường bởi vì doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường thực chất là ở từng sản phẩm Chiến lược cạnh tranh đối với mỗi sản phẩm phải trả lời những hỏi như mục tiêu cần đạt được là gì? Lợi thế cạnh tranh cần có để đạt mục tiêu đó là gì? Các đối thủ cạnh tranh chính
là ai? Điểm nóng của chiến lược sản phẩm là xác định và phát triển lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
1 2 2 V ị t r í c ủ a c h iế n lư ợ c s ả n p h ẩ m t r o n g q u i tr ìn h h o ạ t đ ộ n g k in h d o a n h
c ủ a c á c d o a n h n g h i ệ p c h ế b i ế n k in h d o a n h đ ồ g ỗ x u ấ t k h â u
Chiến lược sản phẩm là khâu then chốt trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ Nó là vũ khí sắc bén có tính chất chìa khoá cho sự thành công của quá trình cạnh tranh gay gắt trên thị trường đồ gỗ nội địa, khu vực và thế giới Chỉ khi thực hiện tốt chiến lược sản phẩm thì các chính sách giá cả, phân phối, khuyếch trương mới
có điều kiện triển khai đạt hiệu quả cao.
V í dụ: Một doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ đưa vào thị trường một kiểu giường tủ có chất lượng cao có giá trị sử dụng tốt, hiệu quả, mẫu mã mới, kiểu dáng hiện đại, đồ gỗ được xử lý ngâm tẩm tốt không bị biến dạng theo điều kiện thời tiết của khí hậu khắc nghiệt và nó nhanh chóng được thị trường chấp nhận, ưa chuộng từ đó doanh nghiệp có thể dễ dàng đưa nó vào kênh tiêu thụ (chính sách phân phối) có thể nâng giá bán mà khách hàng vẫn vui lòng mua (chính sách giá cả) cùng với những tuyên truyền quảng cáo của doanh nghiệp thực sự được mọi người chấp thuận, đi vào lòng người (chính
Trang 13sách khuy ếch trương).
Do vậy, đối với doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ chiến lược sản phẩm là một nội dung rất quan trọng có tính chất then chốt và đảm bảo cho các doanh nghiệp thực hiện được các mục tiêu kinh doanh đã đề ra Song mỗi doanh nghiệp tùy theo đặc điểm thị trường, tính chất của sản phẩm và đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp để xây dựng các nội dung chiến lược sản phẩm cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
1 2 3 Q u i t r ì n h x â y d ự n g c h i ế n lư ợ c s ả n p h ẩ m
Trong xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ không chỉ cần nhận biết mà còn phải chủ động tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược Trong đó phải hướng tới những "định hướng" trong tương lai, tới việc khai thác khả năng tiềm tàng
về công nghệ mới, lao động và sử dụng một hệ thống thông tin quản lý có hiệu quả cao Do vậy, việc xây dựng và thực hiện chiến lược sản phẩm của các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ cần được thực hiện theo trình tự sau:
1.3 Những nội dung cơ bản của chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp chê biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu
1 3 1 K h á i q u á t vê s ả n p h ẩ m đ ồ g ỗ
Sản phẩm đồ gỗ là những sản phẩm hữu hình lâu bền, thoả mãn được nhu cầu hay mong muốn của khách hàng và được chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý, mua sử dụng hay tiêu dùng.
Tuỳ theo đặc điểm mua hàng và mục đích sử dụng, sản phẩm đồ gỗ được phân loại như sau:
Theo đặc điểm mua hàng của người tiêu dùng, có thể chia thành:
- Sản phẩm đồ gỗ mua có lựa chọn là những hàng hoá mà người tiêu dùng trong quá trình lựa chọn và mua thường so sánh cân nhắc các chỉ tiêu công dụng, chất lượng, giá cả và kiểu dáng bên ngoài V í dụ như bàn ghế, tủ giường
- Sản phẩm đồ gỗ theo nhu cầu đặc biệt là những hàng hoá có công dụng đặc biệt mà người mua sẵn sàng bỏ thêm sức lực để tìm kiếm nó V í dụ các đồ gỗ là hàng thủ công mỹ nghệ, mang tính độc đáo, giầu bản sắc dân tộc.
Theo mục đích sử dụng, có thể chia thành:
- Sản phẩm đồ gỗ là hàng tiêu dùng thông thường.
- Sản phẩm đồ gỗ là hàng tư liệu sản xuất (nguyên liệu, vật tư phụ) đối
Trang 14với các ngành khác như ván sàn trong công nghiệp xây dựng; ván xẻ, ván ép lạng trong công nghiệp chế biến gỗ; gỗ trụ mỏ trong công nghiệp khai thác mỏ
1 3 2 N g h i ê n c ứ u t h ị tr ư ờ n g đ ồ g ố x u ấ t k h ẩ u
Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hoá, ở đâu có sản xuất và lưư thông hàng hoá ờ đó có thị trường Thị trường bao gồm người mua, người bán, các mối quan hệ mua bán và dịch
vụ, dung lượng thị trường.
V iệc nghiên cứu thị trưòng để luôn nắm vững các yếu tố của thị trường, hiểu biết quy luật vận động của thị trường nhằm thích nghi với sự biến động
và thay đổi của thị trường là việc làm cần thiết đầu tiên khi xây dựng chiến lược sản phẩm đối với bất kỳ một doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu nào.
Quá trình nghiên cứu thị trường đồ gỗ xuất khẩu gồm các bước:
- Xác định những nhu cầu về thông tin,
- Thu thập thông tin,
- Xử lý thông tin và quyết định.
1 3 2 1 N h ữ n g n ộ i d u n g t h ô n g tin th ị tr ư ờ n g đ ồ g ổ x u ấ t k h ẩ u
Nghiên cứu măt hàng đồ gỗ xuất khẩu
Việc nhận biết mặt hàng đồ gỗ để xuất khẩu trước tiên phải dựa vào nhu cầu của tiêu dùng về qui cách chủng loại, kích cỡ, giá cả, thời vụ và các thị hiếu cũng như tập quán của từng thị trường khu vực Từ đó, sẽ tiến hành xem xét các khía cạnh giá trị, công dụng, các đặc tính kỹ thuật, qui cách phẩm chất, mẫu mã Nắm bắt được đầy đủ về giá cả hàng hoá, các mức giá cho từng điều kiện mua bán và phẩm chất hàng hoá, khả năng sản xuất và nguồn cung cấp chủ yếu của các công ty cạnh tranh, các hoạt động dịch vụ phục vụ cho hàng hoá như bảo hành, sửa chữa, hướng dẫn sử dụng
Nghiên cứu duns lươn ọ thi trường đồ sổ xuất khẩu và các nhân tố chủ yếu của môi trường kinh doanh liên quan đến măt hàng đồ s ỗ xuât khẩu
Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên phạm vi thị trường nhất định trong thời kỳ nhất định (thường là một năm) Nghiên cứu về dung lượng thị trường đồ gỗ xuất khẩu cần xác định nhu cầu thật của khách hàng, kể cả lượng dự trữ, xu hướng biến động của nhu cầu trong từng thời điểm, các vùng, các khu vực có nhu cầu lớn và đặc điểm nhu cầu của từng khu vực, đồng thời nắm bắt khả năng cung cấp của thị trường bao gồm việc xem xét đặc điểm, tính chất, khả năng của sản xuất hàng hoá
Trang 15thay thế, khả năng lựa chọn mua bán.
V iệc xác định dung lượng thị trường rất hữu ích cho việc doanh nghiệp
dự định thâm nhập vào thị trường xuất khẩu hoàn toàn mới Đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu Việt nam còn chưa vươn tới được nhiều thị trường đồ gồ có qui mô rất lớn và
ổn định như E U , Bắc M ỹ và những thị trường đã thâm nhập cũng ở mức độ rất hạn hẹp không đáng kể Do vậy, việc nghiên cứu nắm bắt được dung lượng tiềm năng của thị trường đồ gỗ thế giới và khu vực là cực kỳ quan trọng cho việc tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu Việt nam.
Dung lượng thị trường đồ gỗ xuất khẩu là không cố định, nó thay đổi tuỳ thuộc vào tác động tổng họp của nhiều nhân tố thuộc môi trường kinh doanh trong từng giai đoạn nhất định Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến việc xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu chủ yếu gồm:
nghiệp, theo vùng Đặc biệt phải hiểu rõ xu hướng của những đặc điểm khác nhau đó Bởi lẽ sản phẩm đồ gỗ thay đổi phụ thuộc rất lớn vào các đặc điểm
về thói quen sử dụng, văn hoá truyền thống và mẫu mã kiểu dáng sản phẩm
có gắn với lịch sử văn hoá địa phương.
cho đổ gỗ gia dụng và trang trí nội thất trong tổng thu nhập của dân cư, xu hướng thay đổi các tỷ lệ đó Đồ gỗ là nhu cầu thiết yếu của con người, khi đời sống càng sung túc thì yêu cầu về các sản phẩm đồ gỗ ngày càng tinh tế và phong phú Tỷ lệ chi tiêu cho việc trang trí đồ gỗ trong gia đình ngày càng tăng, yêu cầu về thẩm mỹ, kỹ thuật chế biến đối với các sản phẩm về đồ gỗ có
hệ số quan trọng cao, nhiều khi là yêu cầu chủ yếu trong các yêu cầu đối với sản phẩm đồ gỗ trong trang trí và đồ gỗ gia dụng.
phong tục tập quán lối sống, nguyên tắc và giá trị xã hội, các yếu tố về địa lý khí hậu Sản phẩm đồ gỗ không chỉ đơn thuần là vật dụng phổ thông mà còn làm đẹp, nhu cầu nâng địa vị, phẩm chất, đặc tính con người hay nói khác đi
nó liên quan đến yếu tố tinh thần của con người là giá trị văn hoá trong gia đình Nó phụ thuộc rất nhiều vào môi trường văn hoá xã hội Trong nghiên cứu thị trường đổ gỗ, cần tìm hiểu một cách cặn kẽ, cụ thể các đặc điểm đó cũng như dự đoán được xu hướng của nó để thiết kế sản xuất, đưa ra kịp thời các loại sản phẩm thích hợp với mỗi thị trường.
Trang 16sản phẩm của doanh nghiệp sang thị trường nước nào thì trước hết phải tìm hiểu quan hệ kinh tế giữa hai nước, sau đó cần nắm vững qui định, luật lệ của nước sở tại hay các tổ chức quốc tế có liên quan đến sản phẩm xuất khẩu của mình để tuân thủ theo những quy định đó, có như vậy mới bảo đảm cho quá trình xuất khẩu được thuận lợi không gây ra những trục trặc rủi ro đáng tiếc cho doanh nghiệp.
Tóm lại, những thông tin cơ bản về môi trường kinh doanh liên quan đến đồ gỗ xuất khẩu nêu trên là những cơ sở để có chiến lược sản phẩm thích ứng với thị trường đem lại hiệu quả cao cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Song các thông tin đó không phải là bất biến mà luôn biến động, thay đổi Điều quan trọng là nghiên cứu thị trường phải luôn nắm bắt kịp thòi cũng như dự báo trước được xu hướng biến chuyển của các thông tin đó.
1 3 2 2 T h u t h ậ p th ô n g tin
Hiện nay, trong nghiên cứu thị trường thường sử dụng hai phương pháp thu thập thông tin chính đó là: Nghiên cứu tài liệu (nghiên cứu văn phòng) và nghiên cứu hiện trường (nghiên cứu thực tế ).
Phương pháp nghiên cứu tài liêu
Đây là phương pháp phổ thông nhất về nghiên cứu thị trường vì nó không tốn kém, phù hợp với khả năng của những doanh nghiệp mới tham gia xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ vào thị trường thế giới như các doanh nghiệp của Việt nam Nhưng nó có những hạn chế là chậm, độ tin cậy không cao và thường bị lạc hậu so với thực tế Cho nên kết quả nghiên cứu tài liệu cần phải được bổ xung bằng nghiên cứu hiện trường.
Thông qua các nghiên cứu tài liệu, có thể thu thập được những số liệu cần thiết từ : Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Hải quan, Trung tâm Thương mại Quốc tế, Trung tâm Thông tin Thương mại Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Cục Phát triển Lâm nghiệp, Cục Chế biến và Ngành nghề nông thôn, Trung tâm Thông tin
Bộ NN & PTNT, Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (G A TT), Tổ chức Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc (UN TAC), Hội đổng Kinh
tế xã hội Châu Á và Thái bình dương (ES ), Cơ quan thống kê của Liên hợp quốc (UNSO), Hiệp định các nước trong khu vực A SIA N và các Hiệp hội Quốc tế khác.
Nguồn thông tin quan trọng thứ hai là các sách báo thương mại do các
tổ chức và cá nhân xuất bản Đáng chú ý là các án phẩm của các cơ quan sau đây: Niên giám thống kê X N K của các nước, Bản tin về các mặt hàng của các hãng và Trung tâm Thông tin chuyên ngành Bộ Thương mại, Bộ NN & PTNT
Trang 17và các hãng thông tấn trong và ngoài nước khác, các báo kinh tế, tài chính, các tạp chí nguyệt san ra hàng tháng, hàng kỳ của Việt Nam và của nước ngoài.
Nguồn tin được cung cấp từ những báo cáo của doanh nghiệp hoặc báo cáo của các chi nhánh, đại lý cho doanh nghiệp ở thị trường các nước, hoặc nguồn tin từ quan hệ với thương nhân nước ngoài (khách hàng nước ngoài) có quan hệ buôn bán với doanh nghiệp hoặc qua các mối quan hệ khác.
Số liệu thống kê là một trong những thông tin quan trọng nhất, được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu thị trường đặc biệt đối với phương pháp nghiên cứu tài liệu Đó là những số liệu thống kê về sản xuất tiêu thụ, xuất khẩu, nhập khẩu, dự trữ, giá cả, chất lượng, mẫu mã, cơ cấu, chủng loại về hàng đồ gỗ của thị trường đồ gỗ thế giói Nó giúp cho nghiên cứu thị trường
có cách nhìn bao quát về thị trường đồ gỗ và trang trí nội thất thế giới và xu hướng phát triển của nó để đề ra chiến lược sản phẩm thích ứng với thị trường, đem lại hiệu quả cao cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Phương pháy nghiên cứu hiên trường
Phương pháp nghiên cứu hiện trường là một phương pháp nghiên cứu quan trọng trong nghiên cứu thị trường, được tiến hành thông qua việc thu thập thông tin từ trực quan và các quan hệ giao tiếp với thương nhân và người tiêu dùng hàng xuất khẩu.
Nhân tố quan trọng quyết định sự cần thiết phải nghiên cứu thực tế tại một thị trường là tác dụng của chuyến đi đối với việc tăng doanh số bán ra và tăng lãi (hiệu quả) Một khi việc xác định thị trường đã hoàn thành thì việc lên
kế hoạch viếng thăm nghiên cứu thị trường có thể được bắt đầu.
Quá trình nghiên cứu hiện trường thường gồm các bước sau:
trường cần chu đáo tỷ mỉ và kỹ càng về mọi mặt như: Thời gian, lịch trình chuyên đi, các cuộc phỏng vấn, các mẫu hàng và tài liệu chào bán hàng cần thiết Để đảm bảo cho chuyến đi đạt được những hiệu quả như mong muốn.
là những sản phẩm được gắn liền với mỗi dân tộc, tập quán sử dụng, thói quen, thẩm mỹ và đặc biệt là tính đặc thù trong cách chọn lựa và bài trí theo kiểu đổng bộ, kích thước, mẫu mã đều có những nguyên tắc riêng biệt vì vậy khối lượng người tiêu dùng cần tìm hiểu là rất lớn, hơn nữa thị trường nước ngoài mà thòi gian của chuyến đi nghiên cứu là có hạn, nên người ta thường sử dụng phương pháp điều tra thăm dò.
Để tiến hành điều tra người ta có thể sử dụng phương pháp, công cụ,
Trang 18cách thức thu thập thông tin khác nhau: Quan sát, đặt câu hỏi thông qua bưu điện, điện thoại hay phỏng vấn trực tiếp (luôn kèm theo các mẫu mã hàng hoá,
đồ gỗ dưới dạng ảnh chụp hay sản phẩm trực tiếp) nhưng do tính đặc thù của sản phẩm đồ gỗ, yếu tố quyết định là thông qua các hợp đồng mua bán
mà đối tác đã từng nhập từ các thị trường khác nhau về để tiêu thụ và sử dụng.
Xét về tính phức tạp và mức độ chi phí, nghiên cứu hiện trường là một hoạt động rất tốn kém chi phí, vì vậy, trước hết cần phải xử lý sơ bộ các thông tin về thị trường đồ gỗ xuất khẩu đang quan tâm, chọn ra những thị trường có nhiều triển vọng nhất, phù hợp với khả năng của doanh nghiệp, sau đó căn cứ vào kết quả chọn lựa này để tiến hành nghiên cứu thị trường.
1 3 2 3 X ử l ý t h ô n g tin
Mục đích của giai đoạn này là trên cơ sở những thông tin đã được thu nhận về tình hình thị trường, doanh nghiệp cần xác định cho mình những thị trường mục tiêu và chuẩn bị cho việc xác lập nội dung cụ thể của chiến lược sản phẩm thích ứng với thị trường đó.
Lây mô hình giải thích thái đô của người tiêu dùng đối với sản phẩm đồ
s ổ của doanh nshiêy
V iệc giải thích thái độ chung của người tiêu dùng đối với sản phẩm đồ
gỗ của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng bởi vì thái độ của người tiêu dùng
là nhân tố tác động mạnh mẽ đến quyết định tiêu dùng, đặc biệt là trong điều kiện cạnh tranh Hơn nữa doanh nghiệp không chỉ xác định chính sách sản phẩm thích ứng vói thị trường mà thường xuyên hơn phải tác động và làm thay đổi thái độ của người tiêu dùng theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp (hướng dẫn tiêu dùng theo những sáng tạo phát triển sản phẩm mới của doanh nghiệp).
Người ta thường sử dụng mô hình đa tiêu chuẩn để đánh giá thái độ, ý thích của người tiêu dùng vói cùng một sản phẩm đồ gỗ do nhiều doanh nghiệp của nhiều nước cùng cung ứng trên thị trường bằng nhiều cách, để so sánh từ đó tìm ra những điểm mạnh, yếu của sản phẩm đồ gỗ của doanh nghiệp nhằm bổ xung hoặc hoàn thiện, thay thế bằng những sản phẩm đồ gỗ khác có nhiều khả năng ưu việt hơn khi doanh nghiệp đưa ra thị trường tiêu thụ chúng.
Lây bans so sánh thi trườns
Để lựa chọn thị trường mục tiêu người ta sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Nhưng thông thường nhất là phương pháp lập bảng so sánh, phương pháp này thường gồm hai bước:
Bước 1 - Giới hạn điều tra:
Trang 19Giới hạn thị trường điều tra nhằm thực hiện sự nghiên cứu tập trung tránh tràn lan, lãng phí thời gian, tiền của mà không đạt được kết quả mong muốn.
Bước 2 - So sánh thị trường:
Mục đích của bước này là trên cơ sở giới hạn một số thị trường, tiến hành so sánh phân loại thị trường để xác định những thị trường có triển vọng nhất phù hợp với doanh nghiệp nhất.
1 3 3 Q u y ế t đ ị n h v ề d a n h m ụ c s ả n p h ẩ m đ ồ g ỗ x u ấ t k h ẩ u
Một danh mục sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu là tập hợp tất cả những loại sản phẩm đồ gỗ và các đơn vị hàng hoá mà một doanh nghiệp chế biến kinh doanh đổ gỗ xuất khẩu có thể đưa ra để bán cho những người mua Danh mục sản phẩm của một doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu sẽ có chiểu rộng, chiều dài, chiều sâu và mật độ nhất định.
phẩm khác nhau.
chào bán mỗi sản phẩm trong từng loại hàng.
các loại sản phẩm khác nhau xét theo cách sử dụng cuối cùng, thiết bị sản xuất, kênh phân phối
Bốn chiều này của danh mục sản phẩm tạo nên những căn cứ để xác định chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp.
1.3.4 Quyết định về gắn nhãn hiệu
Nhãn hiệu là tên, thuật ngữ, kỷ hiệu, biểu tượng, kiểu dáng hoặc một
sự kết hợp những yếu tố đó nhằm xác nhận sản phẩm đồ gổ của doanh nghiệp, phân biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
Khi người tiêu dùng quyết định mua một sản phẩm đồ gỗ, người ta đã mua rất nhiều điều hơn là một sản phẩm cụ thể đơn thuần là bàn, ghế, giường hoặc tủ hay một món đồ gỗ trang trí nào đó mà họ mua cả sự tự biểu thị, tính độc đáo, trang nhã, sự thành đạt, địa vị và phẩm chất, tính dân tộc, khả năng hiểu biết về văn hoá, sự nhạy cảm về thẩm mỹ hay sự hoàn hảo về tính sử dụng Chính nhãn hiệu của sản phẩm sẽ định vị được các chủ đề của ước muốn và nhu cầu của con người cho các sản phẩm đồ gỗ thực thể Người tiêu dùng cảm nhận nhãn hiệu của hàng hoá như một phần thực chất của sản phẩm
và việc gắn nhãn có thể tăng thêm giá trị của sản phẩm, kể cả trong tình
Trang 20huống những nhãn hiệu khác được bán với giá thấp hơn Bởi vì, người mua chỉ quan tâm đến ý nghĩa lâu bên nhất của nhãn hiệu là giá trị, văn hoá và nhân cách của nó.
Các nhãn hiệu có sức mạnh và giá trị khác nhau trên thị trường Uy tín cao của nhãn hiệu sẽ đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp do giảm bớt được chi phí Marketing, vì mức độ biết đến và trung thành với nhãn hiệu rất cao Do vậy, việc gắn nhãn cho sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu là một vấn đề quan trọng của chiến lược sản phẩm, nhằm tạo uy tín cho sản phẩm của Doanh nghiệp trên thị trường thế giói.
Q u y ế t đ ịn h vê v iệ c g ắ n n h ã n
Quyết định đầu tiên là doanh nghiệp có cần phát triển tên nhãn cho sản phẩm của mình không Thực tế thị trường đã cho thấy là hàng hoá có gắn nhãn bán chạy hơn hàng hoá không nhãn hiệu mặc dù giá cao hơn Ngoài lý
do chất lượng bảo đảm chắc chắn hơn còn có lý do là những hàng hoá này được tuyên truyền quảng cáo tích cực hơn Nó gần như in sâu vào tiềm thức của người tiêu dùng vì vậy khi tiêu dùng họ thường ưu tiên những hàng hoá có nhãn mác và các địa chỉ giao dịch bảo hành bảo trì thường xuyên (các chính sách khuyến trương sản phẩm).
Q u y ế t đ ịn h v ề n g ư ờ i b ả o t r ợ n h ã n h iệ u
Các Doanh nghiệp có thể có những lựa chọn về người đứng tên nhãn hiệu Sản phẩm có thể tung ra thị trường thế giói dưới nhãn hiệu của nhà sản xuất hoặc thông qua các hợp đồng bán sản phẩm cho một trung gian (các nhà buôn, nhà nhập khẩu, đại lý ) Những nhãn hiệu này gọi là những nhãn hiệu thương mại.
Q u y ế t đ ịn h v ê tê n n h ã n
V iệc tìm nhãn hiệu cho sản phẩm của Doanh nghiệp là một việc hết sức cần thiết và nghiêm túc Các Doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu cần lưu ý những phẩm chất cần thiết khi có ý định gắn nhãn cho sản phẩm của Doanh nghiệp mình, đó là:
• Nói lên được ích lợi và chất lượng sản phẩm.
• Dễ đọc, dễ nhớ, dễ nhận, độc đáo.
• Dịch ra tiếng nước ngoài có ý nghĩa, dễ hiểu khi đưa tên dịch ra.
• Phải đem đăng ký để pháp luật bảo vệ, chống mọi sự làm giả, bắt chước và lợi dụng nhãn hiệu trong các kênh tiêu thụ sản phẩm kể cả sử dụng các hình thức bao gói.
1 3 5 Q u y ế t đ ịn h v ề b a o b ì
Các sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu khi đưa ra thị trường thường được bao gói Phương án bao gói sản phẩm đồ gỗ gồm ba lớp Lớp trong là lớp trực tiếp
Trang 21chứa đựng sản phẩm Lóp ngoài là vật liệu bảo vệ lóp trong và sẽ bỏ đi khi chuẩn bị sử dụng sản phẩm, thường được làm bằng carton để bảo vệ thêm Và cuối cùng là bao bì vận chuyển để bảo quản và vận chuyển hàng hoá.
Để việc thiết kế bao bì có hiệu quả, đòi hỏi các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu phải thông qua nhiều quyết định:
tuân thủ theo nguyên tắc nào và đóng vai trò như thế nào đối với sản phẩm đồ gỗ; chức năng chủ yếu của bao bì là gì
thước, hình dáng, vật liệu, mầu sắc
với những yêu cầu sử dụng trong điều kiện bình thường.
1.3.6 Phát triển sản phẩm mới
Quan niệm về sản phẩm mới đối với các sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu thông thường là mở rộng chủng loại, là cải tiến hay cách điệu một sản phẩm sẵn có, là sự thừa kế có cải tiến và phát triển trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng các đường nét, mẫu mã, kiến trúc, phong cách độc đáo nhằm tạo ra được các hình dáng, kích thước và những nét đặc trưng mới về thẩm mỹ, kiến trúc và phối hợp công nghệ chế biến gỗ tiên tiến đáp ứng nhu cầu thị hiếu nhạy cảm tinh tế và thay đổi cũng rất nhanh của thị trường đồ gỗ thế giới.
H ì n h th à n h ỷ tư ở n g s ả n p h ẩ m m ớ i
V iệc triển khai hàng hoá mới bắt đầu từ việc tìm kiếm những ý tưởng mới cho sản phẩm Mỗi Doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu thường phải khơi nguồn nhiều ý tưởng, để tìm được ý tưởng tốt nhất Không phải mọi ý tưởng đều dẫn đến việc làm ra các sản phẩm Những nghiên cứu cho thấy có rất nhiều ý tưởng bị loại bỏ trong các giai đoạn của quá trình triển khai.
Nguồn gốc của những ý tưởng sản phẩm mới rất phong phú đa dạng, các Doanh nghiệp cần khai thác và thúc đẩy các nguồn ý tưởng sau:
• Nguồn nội bộ: Sự trợ giúp từ những chuyên viên quản lý về sản xuất, marketing, bán hàng, tổ chức phát triển và những bộ phận khác trong và ngoài Doanh nghiệp có ý tưởng mới hoặc đưa ra các đề nghị Có thể tập hợp những ý tưởng đó lại thông qua bộ phận nghiên cứu thiết kế và phát triển sản phẩm mới của Doanh nghiệp.
• Khách hàng: có rất nhiều nguồn ý tưởng tuyệt vời để sáng tạo ra những sản phẩm mới xuất khẩu Doanh nghiệp có thể tiếp xúc trực tiếp đối với khách hàng để có được các ý tưởng gợi ý về sản phẩm mới.
Trang 22• Đối thủ cạnh tranh: Nghiên cứu và phân tích mặt hàng của đối thủ cạnh tranh trở thành một bộ phận thiết yếu của việc phân tích nghiên cứu thị trường trước và sau khi xâm nhập thị trường Doanh nghiệp có thể quan sát quảng cáo và nghiên cứu sản phẩm của đối thủ cạnh tranh để tìm ra các ý tưởng mới Từ đó hình thành ý định bắt chước và cải tiến sản phẩm đối với các mặt hàng hiện có tạo nên những sản phẩm mới phù hợp với thị trường mục tiêu.
• Xuất bản phẩm: thông qua các xuất bản phẩm như catalogue mẫu mốt trang trí nội thất, các tạp chí nghiên cứu nội thất và đồ gỗ gia dụng, các tranh ảnh, phim thương mại giới thiệu sản phẩm hàng hoá mới để nắm được thông tin mới nhất về các mẫu sản phẩm đồ gỗ, xu hướng phát triển
và tiến hành cách điệu, cải biến các mẫu mã đó, để kịp thời cho ra đời một dạng sản phẩm đồ gỗ hoàn chỉnh là việc làm có hiệu quả nhất.
• Các hội chợ thương mại, triển lãm: cũng là những nguồn phong phú cho những ý tưởng đồ gỗ xuất khẩu mới.
• Các chuyên gia và cố vấn về lĩnh vực phát triển sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu như các nghệ nhân, các hoạ sỹ, các kiến trúc sư, các nhà sản xuất đồ mộc truyền thống và ngay cả các hộ gia đình ở các làng nghề cổ truyền Đó là những người am hiểu, giàu sáng tạo và luôn nhạy cảm nắm bắt xu hướng phát triển mặt hàng đồ gỗ xuất khẩu để luôn có những ý tưởng độc đáo về sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu mới.
thật nhiều ý tưởng Mục đích cơ bản của việc sàng lọc là cố gắng giảm bớt các
ý tưởng sản phẩm mói xuống còn vài ý tưởng hấp dẫn và có tính thực tiễn.
chuyển thành quan niệm vì người tiêu dùng không mua ý tưởng sản phẩm, họ mua quan niệm sản phẩm Có một số câu hỏi cần đặt ra như: ai sẽ dùng sản phẩm đó? Cần tạo lợi ích chủ yếu nào cho sản phẩm? Sản phẩm sẽ được sử dụng vào những dịp nào?
V iệc thử nghiệm quan niệm được tiến hành với một nhóm khách hàng mục tiêu thích hợp Những quan niệm có thể được mô tả bằng lời hoặc trình bày bằng hình ảnh hay vật chất Doanh nghiệp phải tổng kết những câu trả lời của người được phỏng vấn để xét đoán xem quan niệm đó có sức hấp dẫn rộng lớn và mạnh mẽ đối với người tiêu dùng không Có thể so sánh đối chiếu các mức nhu cầu-ngăn cách và mức ý định mua với mức chuẩn của loại sản phẩm
để xem quann niệm đó sẽ thành công hay thất bại.
kế kỹ thuật để phát triển quan niệm thành sản phẩm vật chất Bộ phận nghiên
Trang 23cứu và phát triển sẽ phát triển một hay nhiều dạng mẫu vật chất của quan niệrn sản phẩm nhằm tìm ra một nguyên mẫu mà người tiêu dùng thấy rằng
nó hội tủ đầy đủ những thuộc tính then chốt được mô tả trong quan niệm sản phẩm, hoạt động an toàn trong điều kiện sử dụng bình thường và có thể sản xuất trong phạm vi chi phí sản xuất đã dự kiến.
năng và tâm lý của sản phẩm mẫu, các doanh nghiệp thường thử nghiệm trên thị trường để thu thập các thông tin có giá trị về người mua, các đại lý, tiềm năng của thị trường Các Doanh nghiệp hết sức quan tâm đến giai đoạn này
vì việc thu thập các thông tin phản hồi và xử lý chúng một cách chính xác là những điều kiện tiên quyết cho sự ra đời và tổn tại của một sản phẩm đồ gỗ khi mới được thai nghén và tung ra thị trường.
thị trường, sẽ được phân tích và đi đến sự khẳng định là doanh nghiệp có thể tiến hành đầu tư sản xuất sản phẩm đồ gỗ hàng loạt và tung sản phẩm mới ra thị trường tiêu thụ hay không.
Để đạt được mục tiêu đưa sản phẩm ra thị trường đồ gỗ thế giới, chiến lược sản phẩm đổ gỗ xuất khẩu cần nghiên cứu toàn bộ thời gian mà hàng hoá được tung ra thị trường cũng như các quyết định và chính sách hỗ trợ để đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu đó:
phẩm đồ gỗ xuất khẩu, đặc tính tiêu thụ sản phẩm mang tính mùa vụ rõ rệt nên thời điểm tiêu thụ sản phẩm phải gắn với đầu vụ tiêu thụ sản phẩm.
V í dụ: mùa xây dựng thường là cuối năm nên việc mua sắm các sản phẩm trang trí nội thất bao giờ cũng vào dịp cuối năm Nếu cuối năm nay mà nhà sản xuất không triển khai kịp thì việc phát hành sản phẩm vào dịp sang năm sẽ rất nguy hiểm vì sản phẩm có thể bị lạc mốt, không họp thị hiếu của người tiêu dùng.
thông thường toàn bộ thị trường của một nước, một quốc gia bao giờ cũng chỉ tập trung vào một số vùng nhất định, các đô thị lớn hay các vùng kinh
tế văn hoá phát triển Đôi khi Doanh nghiệp chỉ nên quan tâm đến những đoạn thị trường đặc biệt có tiềm năng lớn như: đồ gỗ trang trí nội thất cho các văn phòng Công ty lớn đòi hỏi rất lớn và mẫu mã phải thể hiện được sự
uy nghi, bền vững của người chủ sử dụng Nhưng cũng có khi chỉ quan tâm đến trang trí nội thất cho một gia đình có thu nhập loại trung bình khá nhưng lại đại diện cho một số đông những khách hàng có nhu cầu sử dụng ngay.
Trang 24• Quyết định những khách hàng triển vọng của thị trường mục tiêu:
Những khách hàng triển vọng hàng đầu đối với sản phẩm mới thưòng
có đặc điểm: là người chấp nhận sản phẩm sớm, sử dụng nhiều, hướng dẫn
Đối với các doanh nghiệp chế biến kinh đồ gỗ Việt Nam do điều kiện, khả năng, uy tín, tài chính còn quá eo hẹp thì việc xâm nhập thị trường và chiếm lĩnh thị trường tốt nhất là theo cách nhân đều dần và trải rộng dần có cân nhắc về hình thức và cách tiêu thụ.
Trên thị trường đồ gỗ xuất khẩu, chú trọng việc phát triển mặt hàng mới trong chiến lược sản phẩm là một yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp đổ gỗ xuất khẩu Phát triển mặt hàng mới, thị trường mới, muốn tránh khỏi những rủi ro và có cơ sở thành công cần phải nghiên cứu và có kế hoạch thực hiện tốt các giai đoạn của quá trình phát triển mặt hàng mới.
1 3 7 C h u k ỳ s ố n g c ủ a s ả n p h ẩ m
Nhạy cảm và hiểu biết kỹ lưỡng chu kỳ sống của các sản phẩm đồ gỗ
để thích nghi nhiều khi lại có vai trò quyết định cho sự thành bại của chiến lược sản phẩm của các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu Bởi lẽ các sản phẩm đồ gỗ là những sản phẩm có chu kỳ sống tương đối ngắn, thay đổi thường xuyên và đa dạng ở các thị trường xuất khẩu khác nhau.
Một chu kỳ sống của một sản phẩm đồ gỗ bao giờ cũng được gắn với một thị trường nhất định, bởi vì một sản phẩm đồ gỗ có thể mới ở thị trường Châu Á nhưng lại rất lạc hậu ở thị trường Châu Âu và ngược lại Nghĩa là thời gian và các giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm có thể rất khác nhau giữa các thị trưòng xuất khẩu khác nhau, cũng như giữa các loại sản phẩm có đặc tính sử dụng và mục đích trang trí khác nhau.
Nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm là phương pháp phổ biến nhất Mục đích của phân tích chu kỳ sống là tìm ra điểm hoà vốn, để bố trí hoạt động sao cho có lãi nhất, kéo dài những pha có lợi nhuận cao, rút ngắn những pha thua lỗ Trừ những hàng hoá mang tính thiết yếu hàng ngày như lương thực còn tất cả các hàng hoá khác đều phải có chu kỳ sống, đặc biệt là đổ gỗ
Trang 25hệ thống tiêu thụ Nếu thấy hiện tượng tiêu thụ giảm mạnh phải lập tức đặt vấn đề đình chỉ sản xuất ngay Bởi lẽ với sản phẩm đồ gỗ trang trí gia dụng, một khi đã không được thị trường chấp thuận thì không thể duy trì được một mức doanh thu nào đó, nên tốt nhất là phải đình chỉ sản xuất ngay lập tức Kể
cả khi phải bán hàng với giá rất thấp cũng không thể tiêu thụ nổi.
Do vậy, Doanh nghiệp phải dự đoán được khoảng thời gian lỗi thời của sản phẩm để khi nó bước vào giai đoạn suy thoái đã có sẵn những sản phẩm mới khác dự trữ, sẵn sàng thay thế nó, chặn đứng tình trạng suy thoái Điều quan trọng là không để xảy ra tình trạng bị động, lỗi thời của sản phẩm mà phải chủ động khắc phục hiện tượng lỗi thời của sản phẩm bằng cách luôn tạo
ra các sản phẩm đồ gỗ mói.
1.3.8 Vấn đê nghiên cứu sản phẩm cạnh tranh
Một trong những chìa khoá chính yếu quyết định cho thắng lợi của các Doanh nghiệp xuất khẩu nói chung và của Doanh nghiệp chế biến kinh doanh
đồ gỗ xuất khẩu nói riêng là phải biết được chính xác sản phẩm của Doanh nghiệp mình đáp ứng được nhu cầu của thị trường và người tiêu dùng đến mức
độ nào Do vậy, cần phải tiến hành phân tích, đánh giá khả năng thích ứng của sản phẩm với thị trường.
Việc nghiên cứu thích ứng của sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu với thị trường
đồ gỗ thế giới thường được tiến hành thông qua nghiên cứu sản phẩm cạnh tranh.
Để thành công trên thị trường thế giới, một thị trường luôn có sự cạnh tranh gay gắt và khốc liệt Các nhà hoạch định chiến lược sản phẩm của Doanh nghiệp phải chú ý nhiều đến việc phân tích, đánh giá các san phâm cạnh tranh qua đó thấy được khả năng chấp nhận thị trường của người tiêu dùng với sản phẩm cạnh tranh So sánh những ưu khuyết điểm của sản phẩm cạnh tranh với sản phẩm của Doanh nghiệp Từ đó thiết lập được một chiên lược sản phẩm, định vị được những sản phâm đồ gô có khả năng công hiên cho khách hàng sự thoả mãn cao hơn hẳn so với các sản phẩm cạnh tranh.
Nội dung nghiên cứu sản phẩm cạnh tranh phải bao gôm ban thân san phẩm, hình thức quảng cáo tiếp thị và giá cả Điều quan trọng nhất, cơ bản nhất là nghiên cứu phân tích bản thân sản phẩm cạnh tranh về tất cả các mặt: trình độ kỹ thuật, công nghệ sản xuất sản phẩm đồ gỗ cũng như chất lượng sản phẩm (lưu ý các khâu xử lý nguyên liệu phôi và lựa chọn nhóm gỗ cho sản phẩm phù hợp).
Ngày nay, đối với hầu hết các hàng hoá trên thế giới, việc quảng cáo cho sản phẩm bao gồm cả bao bì nhãn mác cho sản phẩm là một trong những
Trang 26nhân tố tích cực tạo nên sự thtoh^ k X < h ể
úèùdùng cùa Doanh nghiệp Nghiên nó Đặc biệt là vắn đề
S a ỵ & tó n g ư b i bto h L g , kênh^l to p & đi kèm VỚI no Dạ w
X “ < 2 ^ ch0 d* * “ giảng ) dun trang trí nội thất ở các nước công
° D 0\ ™ v t " f L c ầ ? - ‘t an ?"ri s * * " có ý nghĩa hết sức quan
nghiệp phát triển, do nhu cầu Z X g ch d ch oự cạnh tranh về chắt lượng s trọng nên sự cạnh tran 1 ve gia n quá trinh canh tranh G iá cả
s s ^ l u ô n la v u k h iq u to rọng tton *h~ ẽ ” ẩ^ phâ
cao, giá cả hợp
ly-'■ J- ' í : r“ s ríí”Quản lý chắt lượng sa p a a eu c h í biéh kinh doanh dổ gỗ
khi ; ^ ị utiỉ c h ĨT ư Ĩg S S t o cùa s t X X X 1 h í h ả
-các tính chất thoả mãn những yêu c^ ê“ủa“^ g nùóc va cũng tùỳ theo công
hôi và điêu kiện địa lý, tài nguyên g ua t g n cầu vé chắt luọng đối
ềỉ?°55f yĩ ấs X X ST* ỉvới chúng Nhìn chung yê âu oi vm cac ^ “ “ đầu ẵ ín xử lý ngtot tẩm,
chắt lượng cao về tất cả các mặt, từ nguyên lieu ban au cn a sản
k " g a công, t ò dáng màu mã và cudi cùng là
phẩm trước khi đưa vào sử dụng và '“ h“ ác lựa chọn loại nguyên liệu,
vạt Uto và riêng M sản P ^ t X Í X c ỉ Trong thiết kế và sản
công phu và đàm bảo các qu^tnnh k ỹ ^ u ^ h ^ he T r o n ^ m
H S t X X g X X ' D t h S h S s h d t o g m h ch n p h âia
Trang 27thời hạn sử dụng hữu ích được nhiều nhất và hợp lý nhất.
Ngoài yếu tố độ bền sử dụng, khả năng giữ nguyên hình dáng cũng ảnh hưởng đến thời hạn sử dụng và tính tiện lợi trong sử dụng.
theo tính năng còn có một chức năng nữa là làm đẹp cho gia đình, nên yêu cầu thẩm mỹ là yêu cầu rất quan trọng Đặc biệt đối với các sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu, yêu cầu thẩm mỹ đòi hỏi rất cao Trong nhiều trường hợp, nó lại là yêu cầu cơ bản nhất đối với sản phẩm.
Yêu cầu thẩm mỹ đối với sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu phải luôn phù hợp với thị hiếu, tập quán, quan niệm cũng như trình độ văn hoá, kinh tế xã hội của thị trường từng nước Yêu cầu thẩm mỹ của sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu phải được thực hiện trong thiết kế kiểu mới, trong lựa chọn vật liệu, màu sắc, trong gia công sản xuất và phải trang trí sản phẩm sao cho phù hợp với đối tượng tiêu dùng của từng nước.
Yêu cầu về thẩm mỹ đối với các sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu là yêu cầu rất quan trọng và ngày càng đòi hỏi cao hơn, tinh tê hơn cho phù hợp vói đời sống kinh tế, văn hoá xã hội đang phát triển Nhưng yêu cầu thẩm mỹ không thể tách rời các yêu cầu về độ bền, sự tiện dụng, phù hợp với nền văn hoá dân tộc.
Trên cơ sở các yêu cầu chung đó đối với chất lượng sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu, người ta lượng hoá thành các chỉ tiêu chất lượng cụ thể để tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu Thực tế việc kiểm tra chất lượng sản phẩm đổ gỗ xuất khẩu chủ yếu làm thoả mãn những tiêu chuẩn qui định của thị trường nhập khẩu Nếu các chỉ tiêu sản phẩm đồ
gỗ thường ở trình độ cao, việc kiểm tra phải hết sức nghiêm ngặt và chặt chẽ
để đảm bảo sản phẩm xuất khẩu đạt tiêu chuẩn qui định, giữ được uy tín cho Doanh nghiệp, tạo cơ sở đứng vững và mở rộng thị trường cũng như mang lại hiệu quả cao cho Doanh nghiệp.
sản phẩm theo yêu cầu thị trường các nước là một vấn đề có ý nghĩa sống còn
Do vậy, công tác quản lý chất lượng sản phẩm được xem như một nội dung quan trọng hàng đầu trong chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp.
Trang 28CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CHIÊN L ư ợ c SẢN PHAM c ủ a c á c d o a n h
NGHIỆP CHẾ BIẾN KINH DOANH Đ ổ G ỗ XUẤT KHAU v i ệ t n a m
2.1 Tổng quan về các doanh nghiệp chê biến kinh doanh đồ gỗ ở Việt nam
Để có cơ sở xây dựng chiến lược sản phẩm đúng đắn cho các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu ở Việt nam, việc xem xét đánh giá một cách tổng quan về thực trạng ngành chế biến gỗ ở Việt Nam là một việc làm rất cần thiết.
2.1.1 Thực trạng về cơ cấu và phân bô sản xuất của ngành công nghiệp chê biến gỗ xuất khẩu
Với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta Cơ cấu của các thành phần kinh tế thuộc ngành chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu đã có những chuyển biến rất rõ rệt Các thành phần kinh tế cùng tồn tại đan xen lẫn nhau, tác động qua lại với nhau Tính đến nay số lượng và cơ cấu doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế đã cho thấy tính phong phú của nó Trong
đó, vốn kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước so với vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân và vốn đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tỷ lệ tương đối đồng đều nhau Điều này chứng tỏ đối với nền công nghiệp chế biến đồ gỗ đã tạo được sức hấp dẫn nhất định cho việc đầu tư của
tư nhân và các doanh nhân nước ngoài.
T h ư c t r a n g c ỏ n z n g h i ệ p c h ế b iê n s ỗ ở n ư ớ c ta
Tính đến cuối năm 1996, ngành công nghiệp chế biến gỗ ở nước ta đã hình thành một mạng lưới toàn quốc gồm 874 doanh nghiêp trong đó doanh nghiệp nhà nước có 371 đơn vị, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có 473 đơn
vị, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài : 52 đơn vị.
Sau khi chính phủ ra chỉ thị 90/CT ngày 19/3/1992 về việc thực hiện những biên pháp cấp bách chăn đứng nạn phá rừng, chuyên hướng sang khai thác và chế biến từ nguyên liệu gỗ rừng trồng, các doanh nghiệp đã cố gắng đầu tư chiều sâu, nhập thêm thiết bị công nghệ mới để tinh chế nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm Nhưng nhìn chung công nghiệp chế biến gỗ vẫn còn ở trình độ thấp so với thế giới và có các đặc điểm sau:
• Sản xuất theo quy mô nhỏ và phân tán với tổng công suất khoảng 1.500.000 m3 gỗ tròn/năm.
• Nguyên liệu chủ yếu là gỗ rừng tự nhiên, tỷ lệ thành phầm rất thấp, bình
Trang 29quân hơn 3m3 gỗ quy tròn /lm 3 thành phẩm đồ mộc, chưa tận dụng được các phế phẩm phế liệu Sản phẩm của công nghiệp chế biến gỗ là gỗ xẻ và
đồ mộc các loại từ gỗ nguyên liệu chiếm tỷ lệ 68,52%; các loại sản phẩm khác, dăm mảnh 14,58%; đổ gỗ mỹ nghệ 3,58%, ván nhân tạo chỉ tương đương 11,32% v ề xuất khẩu các sản phẩm tính ra lượng quy tròn trong các năm 1993-1995 mỗi năm có khoảng 400.000 m3 quy tròn trị giá 100 triệu USD Mức tiêu thụ sản phẩm gỗ tính theo đầu người còn rất thấp chỉ đạt khoảng 0,01 m3 gỗ quy tròn/người năm.
• Các cơ sở sản xuất ván nhân tạo rất ít (khoảng 10%) Thiết bị chế biến gỗ phần lớn đã nhập trên 20 năm đều rất cũ và rất lạc hậu dẫn tới năng suất chất lượng thấp so với sản phẩm cùng loại nhập từ nước ngoài.
• Thiết bị mộc tinh chế cũng rất ít (khoảng 20%), một số doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền đồng bộ còn lại nhập máy lẻ hoặc máy đã qua sử dụng nên rất mất cân đối.
• Có khoảng 1200 doanh nghiệp chế biến nhỏ thuộc ngành nghề địa phương bao gồm cả hợp tác xã và các hộ gia đình làm hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống.
• Tổng số lao động của các cơ sở chế biến lâm sản vào khoảng 120.000 người Trong đó :
+ Các doanh nghiệp vừa và lớn 55.000 lao động
+ Các doanh nghiệp nhỏ thủ công mỹ nghệ 65.000 lao động
• Tổng giá trị thiết bị là 2.090 tỷ đồng, trong đó:
+ Các doanh nghiệp vừa : 1.500 tỷ đồng
+ Sản phẩm đồ gỗ cao cấp và đồ gỗ thủ công mỹ nghệ các loại.
+ Ván nhân tạo và sản phẩm từ ván nhân tạo các loại.
+ Sản phẩm dăm mảnh từ gỗ rừng trồng để sản xuất giấy và bột giấy + Sản phẩm từ song mây tre nứa.
+ Sản phẩm kết hợp từ song mây tre nứa với các loại vật liệu khác Gần đây do việc sản lượng khai thác rừng tự nhiên trong nước giảm, các doanh nghiệp có xu hướng nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ Cămpuchia, Lào và một số nước trong khu vực với khối lượng tương đương khoảng 400.000 m3
gỗ quy tròn/ năm, hầu hết để phục vụ cho việc chế biến sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu.
Trang 30Trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi xin phép tập trung trình bày trong giới hạn các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ trên địa bàn thành phố Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh.
2.1.2 Thực trạng về năng lực chê biến gỗ xuất khẩu của các doanh nghiệp Hà Nội và Thành phô Hồ Chí Minh
Thành phố Hà nội và TP Hồ Chí Minh là hai trung tâm kinh tế lớn nhất đất nước, do vậy các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu tập trung tại hai trung tâm này không chỉ đông hơn về số lượng, hiện đại hơn về công nghệ, có đội ngũ lao động có trình độ lành nghề cao mà còn chiếm một
tỷ trọng rất lớn trong doanh thu xuất khẩu các sản phẩm đồ gỗ của ngành công nghiệp chế biến đồ gỗ.
Các Doanh nghiệp TNHH có 28 đơn vị nằm trên địa bàn Hà Nội.
- Tổng vốn đầu tư là 120 tỷ trong đó 70% là vốn cố định, 30% là vốn lưu động.
- Tổng hạn mức gỗ cấp cho các doanh nghiệp Hà Nội vào khoảng 80.000 m3 /năm, đầu năm 97 chỉ còn 20.000 m3 Hạn mức chế biến gỗ được cấp chủ yếu cho khối các doanh nghiệp nhà nước thuộc Hà nội và Trung ương đóng trên địa bàn Hà nội Doanh nghiệp nhà nước chiếm 82% còn doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn chỉ đạt 18%.
-Kim ngạch sản xuất hàng xuất khẩu năm 95 đạt 22.000.000 USD, đến năm 97 đạt 7,5 triệu USD
- Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Đài Loan Sau đó phía Đài Loan tái chế và xuất sang các nước khác.
- Số lao động trung bình tham gia sản xuất đồ gỗ xuất khẩu kể cả ngành nghề thủ công mỹ nghệ vào khoảng 10.000 người trong đó 80% được đào tạo
cơ bản và 20% là lao động mùa vụ thuê mướn có việc làm không ổn định.
Đ ố i v ớ i k h u v ư c th à n h p h ô H ồ C h í M in h
- Hiện tại, thành phố Hồ Chí Minh có 82 doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu, trong đó: Doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý có 25 đơn vị Doanh nghiệp Nhà nước của các Bộ và Ngành đóng trên
Trang 31địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có 28 đơn vị.
Doanh nghiệp TNHH có 29 đơn vị
- Tổng vốn đầu tư 720 tỷ trong đó 80% là vốn cố định, 20% là vốn lưu động.
- Tổng hạn mức gỗ cấp cho các doanh nghiệp thành phố Hồ Chí Minh vào khoảng 150.000 m3 nhưng đến năm 1997 chỉ còn 50.000 m3 Hạn mức chế biến gỗ 70% được cấp cho các doanh nghiệp Nhà nước Còn 30% được cấp cho các doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn khác.
- Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ
gỗ trên địa bàn TP Hồ Chí Minh năm 1995 đạt 42 triệu USD nhưng đến năm
Nhìn chung các công ty, xí nghiêp chê biến kinh doanh đồ gô xuất khẩu do Trung ương quản lý vẫn là nguồn chủ lực vì có vốn, có cơ sở vật chất, lực lượng lao động có kỹ thuật, có tay nghề cao và có uy tín lớn Do vậy, trong cơ cấu sở hữu ngành nghề hiện tại thì sở hữu tư nhân chưa có sức mạnh đáng kể, kể cả tương quan về giá trị tổng sản lượng, nộp ngân sách và đặc biệt
là tham gia chế biến hàng xuất khẩu.
V ề c á c d o a n h n g h i ệ p c h ê b iế n k in h d o a n h đ ồ 2 ỗ x u ấ t k h â u c ó vở n
đ ầ u t ư n ư ớ c n g o à i tr ê n đ i a b à n T P H à n ô i v à T P H ồ C h í M in h
Tính đến cuối năm 1996 đã có hơn 30 nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào ngành chế biến gỗ và lâm sản trong đó :
- Liên doanh có 16 dự án với tổng trị giá là 12 triệu USD
- 100% vốn nước ngoài có 8 dự án trị giá 35 triệu USD.
Số nước đầu tư gồm 6 nước, trong đó lớn nhất là Đài Loan có 7 dự án trị giá 18,7 triệu USD, Hàn Quốc có 5 dự án trị giá 7,8 triệu USD Ngoài ra còn hàng chuc dư án hợp đồng hợp tác kinh doanh sản xuất các loại sản phâm đô
gỗ trị giá hàng chục triệu đô la.
T h ư c t r a n g v ề n ă n z lư c v à c ô n g n g h ê c h ế b iế n k in h d o a n h đ ồ s ỗ
Về trang bị đổi mới công nghệ, khoảng 4 năm trở lại đây do chính sách
về xuất khẩu sản phẩm gỗ thay đổi, Nhà nước hạn chế việc xuất nguyên liệu
gỗ và những sản phẩm trá hình hoặc có công nghệ chế biến đơn giản nên đòi
Trang 32hỏi các doanh nghiệp phải đầu tư vào mua sắm các thiết bị, máy móc để chế biến các sản phẩm vừa phù hợp với chính sách nhà nước quy định vừa đáp ứng được tiêu chuẩn, chất lượng của hàng xuất khẩu.
Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do nguồn vốn có hạn, chính sách nhà nước không ổn định nên hiện trạng hệ thống máy móc của các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ còn rất lạc hậu, phần lớn là nhập thiết bị cũ ồ ạt, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ của giới chuyên môn nên hiệu quả không cao Mặt khác, trong nước khả năng nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ của kỹ thuật và công nghệ mới vào quá trình chế biến gỗ chưa được quan tâm đầu tư thích đáng, hoặc yếu kém và phân tán Do vậy, có thể nói hiện trạng ngành chế biến đồ gỗ xuất khẩu ở nước ta chưa có những thay đổi
cơ bản về chất, chưa có nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại đổng bộ Đánh giá một cách nghiêm túc thì doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn sản xuất chế biến đồ gỗ xuất khẩu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ không đạt yêu cầu cao, năng xuất và chất lượng còn rất thấp so với thế giói và kém xa so với các nước trong khu vực Trong khi đó, công nghiệp chế biến gỗ của thế giới đã phát triển rất xa so với Việt Nam về cả công nghệ, trang thiết bị, thị trường và ngay cả phương pháp quản lý Bởi vậy việc khắc phục những yếu kém của các doanh nghiệp chê biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu, vươn lên hội nhập nhanh chóng vào thị trường đồ gỗ thế giới và khu vực là hết sức cần thiết trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam.
2.2 Thực trạng thị trường và vấn đề nghiên cứu thị trường của các doanh nghiệp chê biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu ở Việt Nam
Trang 33Nguồn: Báo cáo thống kê 1997 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Với một số mặt hàng lâm sản chủ yếu là :
Bảng 4 : Một sô mặt hàng lâm sản chủ yếu.
Nguồn: Báo cáo thống kê 1997 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Ngoài xuất khẩu, các mặt hàng lâm sản còn phục vụ cho nhu cầu trong nước Dân số Việt Nam hiện nay đã tới 74,7 triệu người trong đó 20% dân cư sống tại thành thị tạo nên các vùng đông dân cư, với thu nhập ngày càng tăng
và thị hiếu người tiêu dùng theo phong cách Á Đông muốn hoà nhập cuộc sống vào thiên nhiên, thừa hưởng phong cách bài trí kiểu xa xưa làm tăng thêm khả năng tiêu dùng và trang trí nội thất bằng đồ gỗ Theo số liệu điều tra nghiên cứu thị trường thì người tiêu dùng thành thị thưòng giành khoảng 10% thu nhập để chi phí cho việc mua sắm các sản phẩm đồ gỗ Như vậy vói tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao (8% - 9% năm) và tỷ lệ tăng dân số cũng cao (2,5% năm) xu hướng đô thị hoá ngày càng nhanh, có thể nhận biết ngay thị trường
Trang 34hàng tiêu dùng đồ gỗ ở Việt Nam có tiềm năng lớn và nhiều hứa hẹn Sau đây
là dự báo nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm đồ gỗ đến năm 2000.
Bảng 5: Dự báo nhu cầu tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ trong nước.
74,7 290 15 217,5
76,6 315 16,1 253,6
78,5 340 17,3 294
80.5 370 18.6 344
82,5 400 20 400
ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước nên hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một số mặt hàng lâm sản và đồ trang trí nội thất cùng một số vật phẩm tiêu dùng khác nữa rất lớn.
Bảng 6: Trị giá và một sô mặt hàng lâm sản nhập khẩu chủ yếu của
xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại trên thế giói, trước những biến động chính trị sâu sắc của thị trường Liên Xô và Đông Âu, các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu đứng trước những khó khăn gay gắt, nhiều công ty, xí nghiệp đã phải giải thể, đóng cửa Trước bối cảnh đó, đê tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu của nước
ta, một mặt khôi phục thị trường truyền thống, mặt khác đã tìm cách vươn ra các thị trường mới, chủ yếu chuyển sang các nưóc phát triển và thị trường khu vực.
Tuy gặp nhiều khó khăn, song với chính sách kinh tế đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta từ đại hội Đảng lần thứ V I đã khẳng định "Đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc
tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi Củng cố tăng cường vị trí ở các thị trường quen thuộc và các bạn hàng truyền
Trang 35thống, tích cực thâm nhập, tạo chỗ đứng ở thị trường mói, phát triển quan hệ mới" đã tạo tiền đề rất cơ bản đối với hướng đi của các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu nói chung và chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu nói riêng trong thời kỳ này Thực chất bắt đầu từ năm 1990 các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu tồn tại được là nhờ các hợp đồng đơn lẻ của các doanh nghiệp nước ngoài với từng doanh nghiệp trong nước Năm 1991,
1992 chỉ trong thời gian ngắn các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu nước ta bước đầu đã tìm được thị trường mới phù hợp với điều kiện sản xuất, và nguồn vốn rất eo hẹp đó là các doanh nghiệp của Đài Loan, Hàn Quốc và một số công ty Nhật bản
Tính đến năm 1996 các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu nước ta đã có quan hệ thương mại với gần 40 nước trên thế giới Đặc biệt chúng ta đã từng bước thâm nhập được vào hai thị trường rộng lổm đầy hứa hẹn nhưng còn bỏ ngỏ là Trung Quốc lục địa và Mỹ.
Thị trường Bắc Mỹ và Mỹ, sau khi Mỹ bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, tuy chưa được hưởng quy chế tối hệ quốc (MFN) song hàng đồ gỗ Việt Nam cũng đã thâm nhập vào thị trường Mỹ, mặc dù kim ngạch buôn bán của loại sản phẩm này còn hết sức nhỏ bé song nó mở ra một triển vọng to lớn vì đây là thị trường rộng lớn dễ tính và có lợi nhuận cao (đặc biệt là loại mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống và các loại sản phẩm sơn mài).
Đối với thị trường Trung Quốc Trước năm 1993 không có thị trường thương mại lớn, chỉ có xuất khẩu tiểu ngạch của các tỉnh vùng biên giới, nhưng đến nay Trung Quốc đang là một thị trường rất lớn và ổn định, khả năng tiêu thụ sản phẩm rất dồi dào, yêu cầu công nghệ không cao, giá cả phù hợp, đặc biệt là các mẫu sản phẩm tiêu thụ rất gần gũi với việc phát triển ngành nghề thủ công truyền thống của nông thôn Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc trong những năm gần đây có tỷ lệ tăng trưởng rất cao từ 1 triệu USD (chủ yếu theo mậu dịch tiểu ngạch) năm 1993 đến năm 1996 tăng lên gần 20 triệu USD.
Tóm lại, bằng các chính sách, đường lối và các hoạt động kinh tế đối ngoại hết sức đúng đắn sáng suốt của Đảng ta, cộng vói sự nỗ lực cố gắng phấn đấu của các doanh nghiệp thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ đã có mức tăng trưởng rất nhanh và rất cao kể cả về lượng và về chất.
2 2 3 V ấ n đ ề n g h iê n c ứ u t h ị tr ư ờ n g c ủ a c á c d o a n h n g h i ệ p c h ế b iế n k in h
d o a n h đ ồ g ỗ x u ấ t k h ẩ u ở V iệ t N a m
Trước năm 1990 việc chế biến xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ hoàn toàn được thanh toán theo nghị định thư nên vấn đề nghiên cứu thị trường hầu như
Trang 36không được đặt ra đối với các doanh nghiệp chế biến đồ gô xuất khẩu trong giai đoạn này.
Từ năm 1990 trở lại đây việc tiếp cận, tìm kiếm thị trường xuất khẩu cho sản phẩm đồ gỗ được đặt ra hết sức nghiêm túc và quyết định tới sự thành công hay thất bại của các doanh nghiệp.
Năm 1991 giá trị sản phẩm gỗ xuất khẩu đạt kim ngạch rất cao 175 triệu USD, trong đó sản phẩm đồ gỗ tinh chế chỉ mới chiếm 1 triệu USD, rất thấp so với tổng kim ngạch xuất lâm sản nói chung, ở giai đoạn này các doanh nghiệp chủ yếu khai thác và thực hiện những hợp đồng xuất khẩu gỗ dưới dạng nguyên liệu và gỗ tròn Số lượng lớn, đơn giá thấp, chi phí cho việc lựa chọn, khai thác rất cao Trong tổng số gỗ được khai thác chính thức 2,7 triệu m3 và không chính thức khoảng 2 triệu m3 do địa phương tự khai thác thì mức kim ngạch 175 triệu USD là rất thấp Đơn giá lm 3 gỗ pomu năm 1991 chỉ bán được 400 USD (so với năm 1996 là 2000 USD) Khai thác 7m3 gỗ tròn mới xuất được lm 3 gỗ xẻ Đây cũng là những yếu kém trong công tác quản lý
từ khâu thu mua, chế biến cho đến Marketing của các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu Thị trường chiếm tỷ trọng cao trong việc xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ là Đài Loan, luôn chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu so với các nước khác.
Năm 1992 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ chỉ còn 140,8 triệu USD Tronơ đó đồ gỗ tinh chế đạt doanh thu 10 triệu USD gấp 10 lần năm 1991 Đơn gia cho lm 3 gỗ xuất khẩu cũng tăng hơn (vào khoảng 700 USD/lm 3 gỗ PoMu) hiệu quả của việc xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ cũng lớn hơn Trong giai đoạn này rất nhiều doanh nghiệp do không đủ năng lực chế biến các sản phâm
đồ gỗ đã rút lui ra khỏi thị trường chế biến đồ gỗ xuất khẩu Những doanh nghiệp còn lại đã tập trung đầu tư vào việc nâng cao năng lực chế biến lâm san đặc biệt là công nghệ chế biến Trong năm 1992 kim ngạch nhập khẩu các thiết bị máy móc chế biến gỗ đạt mức cao nhất Gần 90 doanh nghiệp cả Trung ương lẫn địa phương nhập khẩu các dây chuyền máy chế biến với tổng trị giá đạt gần 20 triệu USD.
Cùng với việc nâng cấp công nghệ đồng loạt để phù hợp với điều kiện sản xuất, nâng cao chất lượng đồ gỗ xuất khẩu, hiệu quả sử dụng gỗ của các doanh nghiệp chế biến đã được cải tiến rõ rệt Chỉ tiêu khai thác đạt khoảng 3,2 m3 gỗ tròn trên lm 3 thành phẩm cho hàng đồ gỗ xuất khẩu.
Thị trường xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ lúc này không phải chỉ có thị trường Đài Loan, Hàn Quốc mà đã xuất hiện các thị trường cao cấp khác như Nhật Bản, Tây Âu và đặc biệt là Mỹ.
Năm 1993 kim ngạch đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam đạt thấp nhất.
Trang 37Nguyên nhân chủ yếu là do Thủ tướng Chính phủ ký quyết định tạm ngừng việc khai thác gỗ rừng tự nhiên một cách tràn lan mà phải khai thác theo đúng quy trình, quy phạm do Bộ Lâm nghiệp, Cục Kiểm lâm quy định.
Vừa chuyển từ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường, các doanh chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu của Việt nam còn rất non kém và thiếu kinh nghiệm về thị trường, lại phải đương đầu với sự lọc lõi, đầy kinh nghiêm trên thương trường của của các thương nhân nước ngoài nên đã không tránh khỏi những vấp váp thua thiệt Các đơn đặt hàng mà các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ có được, phần lớn đều do các thương nhân vào Việt Nam, chủ động tiếp cận và ký hợp đồng Các doanh nghiệp Việt nam luôn ở thế bị động phục vụ thị trường, chứ chưa phải chủ động để thích ứng và làm thị trường Có nghĩa là các khách hàng tìm hiểu và biết rất rõ
vể các doanh nghiệp Việt nam, trong khi các doanh nghiệp Việt nam lại thiếu hiểu biêt về khách hàng và thị trường đang tiếp cận Đặc biệt là các đơn vị mới tham gia xuất nhập khẩu trực tiếp.
Ngoài ra còn phải kể đến trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc tổ chức cung cấp thông tin một cách có hệ thống Các thông tin chuyên ngành còn rất nhiều hạn chế, có thể nói là chưa làm được là bao và chưa có tính chất chính quy, có cơ sở pháp lý, đặc biệt là còn mang tính tự phát tuỳ tiện thiếu khoa học và nghèo nàn.
Các hoạt động trên thị trường quốc tế như thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị trường, khảo sát nghiên cứu thị trường có thể khẳng định chắc chắn các doanh nghiêp chưa tiến hành được và nếu có cũng không đáng kể Chỉ một vài doanh nghiệp lớn như V IN A FO R , H A FO PRO M EX, A F P E X (Thành phố Hồ Chí Minh) có thể có một vài lần khảo sát nhưng cũng chưa đến nơi đến chốn và thiếu bài bản V à cũng có thể mạnh dạn nói các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu cũng tổ chức đi khảo sát, nghiên cứu thị trường nhưng thưc chất là giải quyết chê đô chính sách cho cán bộ đi nươc ngoài chứ không phải thực hiện công việc của các chuyên gia.
Việc thiếu thông tin thị trường, bị các thương nhân nước ngoài khống chế ép giá hoặc dành mọi lợi thế về phía người mua là những thiệt hại rất lớn
về kinh tế cho các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam.
Nghiên cứu thị trường là yếu tố rất quan trọng trong kinh doanh, hậu quả của sự yếu kém trong công tác nghiên cứu thị trường là rất trầm trọng Song hầu hết các doanh nghiệp đều không có bộ phận chức năng nghiên cứu thị trường Vai trò của nó lu mờ hoặc bị sao nhãng, phần lớn đều tập trung nghiệp vụ này ở phòng xuất nhập khẩu mà chưa có một bộ phận có chức năng
Trang 38chuyên biệt Kinh phí và đầu tư vật chất cho công việc này còn hạn hẹp không đầy đủ Chính vì vậy các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ không có chuyên gia giỏi về lĩnh vưc này Rất hy vọng Bộ Nông nghiệp Phat tnên nông thôn và các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ nói riêng sẽ dành sự quan tâm đến lĩnh vực này nhằm khắc phục có hiệu quả những thua kém trong cạnh tranh với bên ngoài trên nhiều măt như xuất khâu, thu hút đâu tư, mơ rộng hợp tác, tranh thủ các nguồn tài trợ, thâm nhập sâu hơn nữa vào thị trường thế giói, khai thác thị trường mới.
2.3 Thực trạng chiến lược sản phẩm của các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu ở nước ta
Trong thời gian vừa qua, các doanh nghiệp chế biến kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu ở nước ta luôn phải đổi mới, thích nghi với nền kinh tế thị trường và những chính sách quản lý xuất khẩu hàng lâm sản cực kỳ khắt khe và không
ổn định Trước những diễn biến phức tạp và sự cạnh tranh gay gắt của thị trường đồ gỗ thế giới thì vấn đề xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam còn hết sức mới mẻ và thiếu kinh nghiệm V ì vậy việc tìm hiểu, đánh giá thực trạng chiến lược sản phẩm của các doanh nghiệp là một trong những nhiệm vụ hết sức cấp bách và quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi doanh nghiệp cũng như của ngành chế biến đồ gỗ xuất khẩu ở Việt Nam.
- Nhập khẩu gỗ từ các nước Cămpuchia, Lào, Myanma để chế biến các sản phẩm đồ gỗ phục vụ xuất khẩu Ngành Lâm nghiệp Việt Nam ước tính nhập khoảng 1 triệu m3 gỗ ưòn hàng năm.
- Phát triển sản xuất các sản phẩm ván nhân tạo, ván ép, ván ghép