1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn tăng cường huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện quỳ hợp, tỉnh nghệ an đến năm 2020

109 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tăng cường huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện quỳ hợp, tỉnh nghệ an đến năm 2020
Tác giả Nguyễn Thị Minh Trang
Người hướng dẫn PGS. TS. Bùi Đức Tuân
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bùi Đức Tuân, cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Kinh tế phát triển và các Ban lãnh đạo HĐND - UBND huyện Quỳ Hợp, Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng Nông t

Trang 1

NGUYỄN THỊ MINH TRANG

TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN QUY HỢP, TỈNH NGHỆ AN ĐẾN NĂM 2020

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dần khoa học:

PGS TS BÙI ĐỨC TUÂN

Hà Nội- 2017

Trang 2

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật”

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Minh Trang

Trang 3

Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Viện sau đại học, trường Đại học Kinh tế quốc dân, tôi nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của

các thầy cô giáo trong trường Tôi xin cảm ơn giáo viên hướng dẫn PGS.TS Bùi Đức Tuân, cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Kinh tế phát triển và

các Ban lãnh đạo HĐND - UBND huyện Quỳ Hợp, Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới huyện Quỳ Hợp, Ban quản lý xây dựng Nông thôn mới ở các xã Châu Quang, Đồng Hợp, Minh Hợp; cùng các cán bộ thuộc Hội Nông dân, đoàn Thanh niên và người dân trong huyện đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Do kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế, thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn “không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, thầy cô giáo”

và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Minh Trang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

TÓM TẮT LUẬN VĂN

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 11

1.1 Tổng quan về xây dựng nông thôn mới 11

1.1.1 Quan niệm về xây dựng nông thôn mới 11

1.1.2 Chủ trương xây dựng nông thôn mới 11

1.2 Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 12

1.2.1 Các nguồn lực xây dựng nông thôn mới 12

1.2.2 Nội dung huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 13

1.2.3 Tiêu chí đánh giá huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 20

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới huy động nguồn lực cho xây nông thôn mới 21

1.3 Kinh nghiệm thực tiễn về huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 24

1.3.1 Kinh nghiệm của huyện Vĩnh Linh – tỉnh Quảng Trị 24

1.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Lạng Sơn 26

1.3.3 Kinh nghiệm của huyện Yên Mô – Tỉnh Ninh Bình 28

1.3.4 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho địa bàn huyện Quỳ Hợp tỉnh Nghệ An 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN 32

2.1 Giới thiệu chung về huyện Quỳ Hợp 32

2.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An 33

2.2.1 Công tác lập quy hoạch, xây dựng đề án xây dựng nông thôn mới 33

Trang 5

2.3 Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 37

2.3.1 Huy động nguồn lực tài chính 37

2.3.2 Huy động nguồn lực đất đai 50

2.3.3 Huy động nguồn nhân lực 51

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Quỳ Hợp 56

2.4.1 Ảnh hưởng của cơ chế, chính sách và năng lực ban quản lý chương trình xây dựng nông thôn mới 56

2.4.2 Ảnh hưởng của các yếu tố về phía cộng đồng 59

2.5 Đánh giá tình hình huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 63

2.5.1 Kết quả đạt được trong huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 63

2.5.2 Tồn tại và nguyên nhân trong huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới 69

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN QUỲ HỢP TỈNHNGHỆ AN ĐẾN NĂM 2020 73

3.1 Định hướng chung về huy đô ̣ng ngu ồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện Quỳ Hợp 73

3.1.1 Quan điểm 73

3.1.2 Mục tiêu 75

3.2 Các giải pháp nhằm huy động có hiệu quả nguồn lực xây dựng NTM tại huyện Quỳ Hợp trong thời gian tới 76

3.2.1 Phân cấp ro ̃ ràng và phân đi ̣nh hợp lý sự tham gia của các nguồn lực vào xây dựng nông thôn mới 76

3.2.2 Tối đa ho ́a các nguồn vốn ngân sách nhà nước cho xây dựng nông thôn mới 77

3.2.3 Tăng cươ ̀ ng huy đô ̣ng nguồn vốn từ cô ̣ng đồng và doanh nghiê ̣p cho xây dưng nông thôn mới 79

3.2.4 Các giải pháp khác 82

3.3 Kiến nghị 85

KẾT LUẬN 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả thực hiện các tiêu chí xây dựng NTM tại huyện

Quỳ Hợp 36

Bảng 2.3: Kế hoạch tài chính cho huyện Quỳ Hợp thực hiện chương trình xây

dựng NTM 38

trình xây dựng NTM 40 Bảng 2.5: Tỷ lệ vốn ngân sách huy động cho xây dựng CSHT tại huyện Quỳ Hợp

trong chương trình xây dựng NTM 41 Bảng 2.6: Kết quả huy động vốn ngân sách thực hiện các mô hình phát triển sản

Quỳ Hợp cho xây dựng NTM 44

Quỳ Hợp thuộc chương trình xây dựng NTM 45 Bảng 2.9: Kết quả huy động vốn từ các chương trình phối hợp và lồng ghép tại

huyện Quỳ Hợp cho xây dựng NTM 47

xây dựng NTM 52

cho xây dựng NTM 54 Bảng 2.15: Ảnh hưởng của nhóm các yếu tố về cơ chế, chính sách và năng lực ban

quản lý chương trình xây dựng NTM 56 Bảng 2.16: Ảnh hưởng của các yếu tố về phía cộng đồng đến huy động và sử dụng

nguồn lực cho xây dựng NTM 59 Bảng 2.17: Ảnh hưởng của thu nhập của người dân đến kết quả huy động vốn cho

xây dựng NTM 62

Trang 8

NGUYỄN THỊ MINH TRANG

TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN QUY HỢP, TỈNH NGHỆ AN ĐẾN NĂM 2020

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dần khoa học:

PGS TS BÙI ĐỨC TUÂN

Hà Nội- 2017

Trang 9

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Chương trình xây dựng nông thôn mới chương trình mục tiêu quốc gia nhằm thực hiện chủ trương “của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn, nông dân Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới là chủ trương quan trọng, hết sức đúng đắn, hợp lòng dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ Trong những năm qua, cả nước đã đồng tình, tích cực triển khai thực hiện Chương trình huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tích cực” Quỳ Hợp “là” một huyện miền núi thuộc tỉnh Nghệ An Từ năm 2011 đến nay, Quỳ Hợp đã triển khai và thực hiện xây dựng nông thôn mới ở hầu hết các xã trong huyện Tuy là một huyện giàu tài nguyên khoáng sản để phát triển kinh tế nhưng với đặc thù là một huyện miền núi nên việc thực hiện “xây dựng nông thôn mới gặp nhiều khó khăn, thách thức” Để thực hiện được mục tiêu xây dựng nông thôn mới theo Nghị quyết Trung ương

7 khóa X thì cần nguồn lực rất lớn Trong khi tại địa phương, nguồn thu “ngân sách nhà nướ c còn hạn chế, thu nhập, tích lũy người dân nông thôn thấp” Huy

động nguồn lực đ ảm bảo cân đối với yêu c ầu đầu tư phát triển nông thôn là

“một trong những yếu tố có tính quyết định” đến “thành công của Chương trình xây dựng nông thôn mới” Việc lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tăng cường huy

động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An đến năm 2020” là nhằm góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn “về huy

động nguồn lực xây dựng nông thôn m ới” và đưa ra một số giải pháp có thể huy động cao nhất nguồn lực hi ện có vào “xây dựng nông thôn đ ể phấn đấu đến năm 2020 trở thành” huyện đạt chuẩn quốc gia về nông thôn mới

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới ở cấp huyện Trong luận văn, tác giả đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp định tính thông qua tổng hợp,

so sánh, đối chiếu cụ thể từng chỉ tiêu, tiêu chí để phân tích, đánh giá tình

Trang 10

hình “thực hiện xây dựng nông thôn mới qua các năm kết hợp với” khảo sát cán bộ, doanh nghiệp, người dân? (xác định mức độ sẵn sàng, những vướng mắc trong “huy động nguồn lực phát triển nông thôn” mới) “để” từ đó rút ra các kết luận làm cơ sở đưa ra giải pháp cho việc nghiên cứu

Về bố cục: “Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục” các chữ viết tắt, bảng biểu và “tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương”:

“Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn” huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới

Chương 2: Thực “trạng huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện” Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An

Chương 3: “Một số giải pháp nhằm tăng cường huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện” Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An đến năm 2020

Trong chương đầu tiên, tác giả luận văn “trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về” huy động “nguồn lực xây dựng nông thôn mới” bao “gồm”: Khái niệm “nguồn” lực, huy động “nguồn” lực; nội “dung” huy động nguồn lực, “tiêu chí đánh giá, các yếu tố ảnh hưởng” đến huy động nguồn lực, những bài học kinh nghiệm thực tiễn rút ra về “huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới” cho địa bàn huyện Quỳ Hợp

Nguồn lực cho xây dựng NTM được hiểu là tập hợp các yếu tố mà chương trình xây dựng NTM sử dụng để “thực hiện các mục tiêu của chương trình” Nguồn lực “xây dựng NTM” bao gồm: nguồn “tài” lực ( nguồn lực tài chính), nguồn vật lực (nguồn lực vật chất), nguồn nhân lực

Huy động nguồn lực xây dựng NTM là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương thức để đạt được mục tiêu về “huy động nguồn lực xây dựng NTM Các nguồn lực xây dựng NTM” được “huy động từ nguồn: nguồn vốn ngân sách nhà nước, nguồn vốn” cộng đồng, nguồn vốn doanh nghiệp và kết hợp các nguồn vốn “đầu tư”

Trang 11

“Huy động nguồn lực xây dựng” NTM được đánh giá thông qua các tiêu chí như: Quy mô huy động nguồn lực, cơ cấu “huy động nguồn lực”, mức

độ “đáp ứng nhu cầu” vốn Các yếu tố ảnh hưởng đến “huy động nguồn lực” như: “cơ chế và chính sách”, trình độ nhận thức của người dân, năng lực của chính quyền địa phương, trình độ phát triển kinh tế của địa phương, “sự tham gia của người dân vào xây dựng nông thôn mới”

Từ thực tiễn triển khai Chương trình đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý giá, tạo tiền đề quan trọng để đẩy mạnh việc triển khai xây dựng NTM trong những năm tiếp theo:

- “Tuyên truyền:

+ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động thông qua tiếp xúc, gặp

gỡ, qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí tạo sự đồng thuận, nhất trí cao trong hệ thống chính trị, các doanh nghiệp và đặc biệt là nhân dân trong vùng dự án;

+ Xây dựng mối quan hệ thân thiện, thông thoáng và nhất quán trước sau với nhà đầu tư, doanh nghiệp vì mục tiêu phát triển của Quỳ Hợp, lợi nhuận của doanh nghiệp và lợi ích của cộng đồng Luôn đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá tŕnh triển khai thực hiện dự án;

+ Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quảng bá môi trường đầu tư của huyện thông qua các cơ quan báo chí và trang thông tin điện tử của Trung ương và của địa phương

- Phát triển cơ sở hạ tầng:

+ Ưu tiên bố trí vốn đầu tư hạ tầng hỗ trợ thu hút đầu tư;

+ Tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; sử dụng hình thức hợp tác nhà nước và tư nhân trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng

- Cải cách hành chính: Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy định liên

Trang 12

quan đến thủ tục đầu tư Xây dựng và triển khai thực hiện cơ chế một cửa liên thông trong xử lý hồ sơ của nhà đầu tư Thí điểm cấp giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh, đầu tư, đấu thầu qua mạng

- Phát triển nguồn nhân lực: Phát triển nguồn nhân lực cần chú ý các vấn

đề sau:

+ Đào tạo nghề gắn với đầu ra nhằm đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật cao của nhà đầu tư Phát triển hệ thống dạy nghề đa cấp (sơ cấp, trung cấp và cao đẳng nghề), chuyển từ dạy nghề trình độ thấp sang trình độ cao nhằm nâng cao chất lượng lao động, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động

+ Nghiên cứu dự báo nhu cầu lao động cả về số lượng, cơ cấu nghề để

có kế hoạch đào tạo phù hợp, đáp ứng nhu cầu lao động của các dự án

- Bảo đảm an ninh trật tự cho hoạt động của các doanh nghiệp, nhà đầu tư: Xem xét, xử lý nghiêm đối với các trường hợp có hành động kích động, gây rối, phá hoại đến hoạt động triển khai dự án và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nhà đầu tư Có biện pháp đủ mạnh để can thiệp kịp thời, có hiệu quả để dự án hoạt động bình thường, tạo tâm lý an tâm cho nhà đầu tư khi triển khai thực hiện dự án trên địa bàn huyện

- Nâng cao chất lượng các dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư: cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời cho nhà đầu tư như chỗ ở, các dịch vụ tài chính, ngân hàng,

- Nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư:

+ Nghiên cứu và có chính sách vận động thu hút các đối tác, nhà đầu tư trọng điểm, phù hợp với định hướng thu hút đầu t ư của huyện Gắn hoạt động xúc tiến đầu tư của huyện với chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia, các

bộ ngành Trung ương, các địa phương trong cùng khu vực;

+ Nâng cao chất lượng, nội dung tài liệu xúc tiến đầu tư;

+ Tiếp tục triển khai và mở rộng các chương trình hợp tác phát triển giữa Quỳ Hợp và các địa phương trong và ngoài nước;

Trang 13

+ Tăng cường tính chủ động phối hợp giữa các sở, ban, ngành và địa phương trong xúc tiến đầu tư;

+ Tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư

- Tổ chức tốt công tác quy hoạch, xây dựng cơ chế, chính sách để thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn lực: Đổi mới công tác triển khai quy hoạch,

kế hoạch và tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách; Làm tốt việc rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch, công bố rộng rãi quy hoạch; Thực hiện rà soát toàn bộ cơ chế, chính sách đã ban hành đề kịp thời bổ sung, sửa đổi hoặc xây dựng mới cho phù hợp với từng thời kỳ”

Chương tiếp theo, tác giả nêu ra thực trạng “huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện” Quỳ Hợp

Sau khi khái quát những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Quỳ Hợp, tác giả đi vào phân tích thực trạng huy động nguồn lực trên địa bàn huyện Quỳ Hợp và rút ra một số kết luận sau:

Qua quá trình huy động nguồn lực, được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và sự đầu tư từ ngân sách từ trung ương đến địa phương, xây dựng nông thôn mới tại huyện Quỳ Hợp có bước phát triển khá nhanh, cơ sở hạ tầng kinh

tế xã hội và dịch vụ nông nghiệp, nông thôn tiếp tục được chú trọng đầu tư và bước đầu phát huy tác dụng trong việc khai thác lợi thế của các vùng “nông thôn, phát triển sản xuất hàng hóa” Công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả tích cực, hàng vạn việc làm mới tạo ra đã làm giảm bớt sự căng thẳng bức xúc trong nông thôn, thu nhập và đời sống của dân cư ngày càng được nâng cao

Bên cạnh đó, huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới còn một số tồn tại cần nhanh chóng khắc phục:

- Thứ nhất, việc “triển khai thực hiện các nội dung” trọng tâm “về xây dựng” NTM ở nhiều xã còn hạn chế; một số mục tiêu, kế hoạch xây dựng

Trang 14

NTM đề ra, nhưng chưa đảm bảo nguồn lực, chưa có nhiều phương pháp huy động hay, sáng tạo trong tổ chức thực hiện

- Thứ hai, chưa có hướng dẫn về cơ chế lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình, dự án Mặc dù Quyết định số 800/QĐ-TTg nêu rõ một trong các hình thức huy động nguồn lực xây dựng NTM là “lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn” nhưng đến nay vẫn chưa có hướng dẫn về cơ chế lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình, dự án Nên việc thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án trong xây dựng NTM “trên địa bàn huyện còn” hạn chế, “gặp nhiều khó khăn”, vướng mắc

- Thứ ba, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số địa phương, đơn vị trong việc “thực hiện các” nội dung, “tiêu chí thuộc lĩnh vực” được phân công, phụ trách thiếu quyết liệt, cụ thể Chính quyền địa phương chưa chủ động và tích cực trong việc lập “kế hoạch, tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ” thuộc chương trình xây dựng NTM

- Thứ tư, người dân chưa hiểu đầy đủ, toàn diện về mục đích, nội dung

và vai trò của mình trong xây dựng “NTM Việc phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân ở nhiều địa phương chưa được quan tâm đúng mức”, kết quả chưa cao Một số mô hình chưa thực sự hiệu quả, việc nhân rộng mô hình còn hạn chế

- Thứ năm, nguồn vốn huy động từ xã hội hóa đối với Chương trình NTM chưa cao, “nguồn lực huy động từ dân cư”, doanh nghiệp “có” xu hướng tăng trong những năm đầu thực hiện nhưng sau đó giảm mạnh Trong những năm đầu thực hiện, đóng góp của dân cư chủ yếu ở việc hiến đất và tài sản trên đất, nhưng những năm sau đó huy động từ dân cư sẽ giảm tương đối

và chỉ tập trung ở hình thức đóng góp ngày công lao động và tiền mặt…

“Tâm lý trông chờ, ỷ lại” của địa phương “vào sự đầu tư” ngân sách “của Nhà nước” là yếu “tố ảnh hưởng” lớn “đến huy động” nguồn lực “cho xây dựng

Trang 15

NTM”

Chương ba, xuất phát từ đánh giá thực trạng trong chương 2, tác giả đã trình bày mục tiêu, phương hướng huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 và đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường “huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện” Quỳ Hợp đến năm 2020

Giải pháp thứ nhất là phân cấp rõ ràng và phân định hợp lý sự tham gia của cá nguồn lực vào xây dựng nông thôn mới Trong điều kiện nguồn lực có hạn, nhu cầu nguồn vốn lớn, cần phân cấp rõ ràng và phân định hợp lý sự tham gia của các nguồn huy động được vào xây dựng NTM, theo đó mỗi nguồn lực chỉ nên tập trung cho một số hạng mục công trình xây dựng NTM nhất định

Giải pháp thứ hai là tối đa hóa các nguồn vốn ngân sách nhà nước cho xây dựng NTM như: khai thác thế mạnh “phát triển kinh tế của mỗi địa phương” để gia tăng “nguồn thu” cho NSNN, tăng cường khai thác giá trị quỹ đất ở địa phương cho NSNN để cân đối thêm nguồn vốn đầu tư cho xây dựng NTM

Giải pháp thứ ba là “tăng cường huy động vốn từ” cộng đồng và “doanh nghiệp” cho “xây dựng nông thôn mới” Để “khai thác có hiệu quả” hơn nguồn vốn cộng đồng và doanh nghiệp, Huyện ủy Quỳ Hợp cần ban hành nghị quyết về

3 quan điểm “huy động nguồn lực xây dựng NTM Huyê ̣n” ủy cũng cần chỉ đạo

rõ ràng, cụ thể về vai trò, xác định địa chỉ đầu tư của từng loại nguồn lực Từ những chỉ đạo đó, chính quyền huyện có thể thực hiện một số biện pháp cụ thể sau: tổ chức thực hiện tốt các chính sách khuyến khích hiện có, nghiên cứu ban hành các chính sách khuyến khích mới, đẩy mạnh khuyến khích các hình thức hợp tác công tư trong đầu tư xây dựng NTM Bên cạnh đó, Quỳ Hợp cần “đổi mới, hoàn thiện chính sách thu hút nhà đầu tư theo hướng thông thoáng hấp dẫn hơn”

Ngoài ra tác giả còn đưa ra một số giải pháp khác như: “Tăng cường công tác” giáo dục, “tuyên truyền, nâng cao nhận thức về xây dựng nông thôn

Trang 16

mới”, tăng cường “sự tham gia của người dân” vào “chương trình xây dựng nông thôn mới, giải quyết” dứt điểm tình trạng nợ xây dựng cơ bản

Trong phần kết luận, tác giả khẳng định lại vai trò của “huy động nguồn lực trong xây dựng NTM” Chươngtrình “huy động nguồn lực để xây dựng” NTM là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng Chương trình góp phần vào sự phát triển ở địa phương nâng cao đời sống cho nhân dân Tuy nhiên, ngoài những thành tựu

đã đạt được thì vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập cần phải được giải quyết,

do đó luận văn đã đưa ra “một số giải pháp nhằm tăng cường huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới” của địa phương trong thời gian tới

Với đề tài “Tăng cường huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An đến năm 2020”, luận văn đã có một số đóng góp sau:

Một là hệ thống hóa và góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về

“huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện” Quỳ Hợp

Hai là phân tích thực trạng “huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện” Quỳ Hợp, chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng, những tồn tại và nguyên nhân

Ba là đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường “huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện” Quỳ Hợp đến năm 2020

Trang 17

Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

  

NGUYỄN THỊ MINH TRANG

TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN QUY HỢP, TỈNH NGHỆ AN ĐẾN NĂM 2020

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dần khoa học:

PGS TS BÙI ĐỨC TUÂN

Hà Nội- 2017

Trang 18

“ MỞ ĐẦU ”

“ 1 Tính cấp thiết của đề tài ”

Nông thôn nước ta có quá trình l ịch sử lâu đời, gắn liền với nghề trồng lúa Lịch sử quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước gắn với sản xuất nông nghiệp nên phần lớ n dân cư nước ta s ống quần tụ theo từng dòng họ và theo phạm vi làng, xã Cùng vớ i văn minh lúa nước, làng (bản, thôn, xóm…) đã trở thành nét văn hóa riêng của người Việt Nam từ ngàn năm Nông thôn nước ta luôn chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình dựng nước và gi ữ nước Trong các cuộc chiến tranh chống lại các cuộc xâm lược, nông thôn là nơi cung cấp người và của để đánh thắng giặc ngoại xâm Qua hàng ngàn năm phát triển, nông thôn là nơi hình thành và lưu giữ nhiều nét bản sắc văn hóa của dân tộc Ngày nay, nông thôn vừa là nơi cung cấp “lương thực thực phẩm cho” tiêu dùng “xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến”, nông “sản” hàng hóa cho “xuất” khẩu, nhân lực cho các hoạt động kinh tế và đời sống của

đô thị, vừa là nơi tiêu thụ hàng hóa do các nhà máy ở thành phố sản xuất ra

Chương trình xây dựng nông thôn mới chương trình mục tiêu quốc gia nhằm thực hiện chủ trương “của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn, nông dân” Huy động nguồn lực “xây dựng nông thôn mới là chủ trương quan trọng, hết sức đúng đắn, hợp lòng dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ Trong những năm qua, cả nước đã đồng tình, tích cực triển khai thực hiện Chương trình huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tích cực Nổi bật là nhận thức về Chương trình ngày càng được nâng lên trong các cấp ủy đảng, chính quyền, trong nhân dân; các

cơ chế chính sách được ban hành nhìn chung là kịp thời; bộ máy thực hiện Chương trình từ Trung Ương đến cơ sở được tổ chức đồng bộ, thống nhất; công tác quy hoạch và lập đề án xây dựng nông thôn mới, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo ở

Trang 19

địa bàn nông thôn có nhiều tiến bộ; nguồn lực đầu tư cho Chương trình ngày càng tăng lên; công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường; quyền làm chủ, vai trò làm chủ của nhân dân được nâng lên; hệ thống chính trị cơ sở được vững mạnh lên; an ninh trật tự ở nông thôn được đảm bảo”

Quỳ Hợp là một huyện miền núi thuộc tỉnh Nghệ An Từ năm 2011 đến nay, Quỳ Hợp đã triển khai và thực hiện xây dựng nông thôn mới ở hầu hết các xã trong huyện Tuy là một huyện giàu tài nguyên khoáng sản để phát triển kinh tế nhưng với đặc thù là một huyện miền núi nên việc thực hiện “xây dựng nông thôn mới gặp nhiều khó khăn, thách thức” Để thực hiện được mục tiêu xây dựng nông thôn mới theo Nghị quyết Trung ương 7 khóa X thì cần nguồn lực r ất lớn Trong khi tại địa phương, nguồn thu “ngân sách nhà nước còn hạn chế, thu nhập”, tích lũy người “dân nông thôn thấp” Huy động nguồn lực đ ảm bảo cân đối với yêu c ầu đầu tư phát triển nông thôn là “một trong những yếu tố có tính quyết định” đến “thành công của Chương trình xây dựng nông thôn mới” Việc lựa ch ọn nghiên cứu đề tài “Tăng cường huy động

nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An đến năm 2020” là nhằm góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn “về huy động

nguồn lực xây dựng nông thôn mới” và đưa ra một số giải pháp có thể huy động cao nhất nguồn lực hiện có vào “xây dựng nông thôn” để phấn đấu “đến năm 2020 trở thành” huyện đạt chuẩn quốc gia về nông thôn mới

2 Tổng quan nghiên cứu

Nông thôn Việt Nam là khu vực rộng lớn và đông dân nhất, đa dạng về thành phần tộc người, về văn hóa, là nơi bảo tồn, lưu giữ các phong tục, tập quán của cộng đồng, là nơi sản xuất quan trọng, làm ra các sản phẩm cần thiết cho cuộc sống con người Xây dựng nông thôn mới được Đảng và Nhà nước cho là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tại hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành TW

Trang 20

Đẳng cộng sản VN khóa 10 đã ban hành Nghị quyết về nông nghiệp, nông thôn và nông dân với mục tiêu xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp

lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, hệ thống chính trị ở nông thôn được tăng trưởng Theo “quyết định số 1600/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ được ban hành” vào tháng 08 năm 2016 về chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 có mục tiêu tổng quát xây dựng nông mới “để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân”; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế

và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông nghiệp với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng và an ninh, trật tự được giữ vững Từ khi

ra đời chủ trương nông thông mới đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này và đưa ra một số kinh nghiệm và bài học cho giai đoạn thực hiện “nông thôn mới” tiếp theo

“Vũ Văn Phúc (2012), trong cuốn sách” “ Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn” “đã” nêu “những vấn đề lý luận chung

về xây dựng nông thôn mới; Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng nông thôn mới; Những chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xây dựng nông thôn mới; Thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở các địa phương ở Việt Nam: những kết quả đạt được, những hạn chế và những vấn đề đặt ra trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới Trên cơ sở đó đề xuất các nội dung, giải pháp: Về công tác tuyên truyền; Về tổ chức sản xuất; Về phát triển kinh tế

Trang 21

nông thôn; Về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và xây dựng người nông dân mới chủ thể của nông thôn là hạt nhân để xây dựng nông thôn mới”

Đoàn Phạm Hà Trang (2012) với bài viết: “Xây dựng nông thôn mới: Vấn đề quy hoạch và huy động các nguồn tài chính” khẳng định “quy

hoạch xây dựng nông thôn mới nhất thiết phải được tính đến một cách tổng thể từ trên xuống, để quy hoạch của mỗi làng xã phải nằm trong chỉnh thể toàn quốc, khu vực, địa phương trong mối liên hệ với kinh tế, xã hội, môi trường, sinh thái, khí hậu, thổ nhưỡng, quốc phòng,… từ cấu trúc kiến trúc, cấu trúc dân cư, cấu trúc hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, hạ tầng xã hội, vừa phải

đa dạng, bền vững trong xu thế phát triển chung của đất nước Để thực hiện tốt chương trình, nguồn vốn sẽ được huy động bằng nhiều cách như: Nhà nước, nhân dân đóng góp, các nguồn tài trợ, sự hỗ trợ vốn từ các ngân hàng… với phương châm vẫn phải phát huy nội lực là chính Chính phủ cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ để thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước vào đầu tư khu vực nông nghiệp, nông thôn để thêm nguồn lực trực tiếp giải quyết các khâu chế biến, giải quyết việc làm cho nông dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới”

“Phạm Xuân (2013) trong bài”: “Xây dựng nông thôn mới: Những thuận – nghịch đặt ra tại Đắc Lắc” “đã đề cập đến một số vấn đề sau”:

“+ Những vấn đề đặt ra trong thực hiện các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới tại Đắc Lắc như: Tiêu chí giảm hộ nghèo còn 7% ở diện rộng; tiêu chí về hình thức tổ chức sản xuất; tiêu chí về giao thông nông thôn… là những khó khăn và một số tiêu chí đạt thấp trong xây dựng nông thôn mới

Do vậy tiến độ xây dựng nông thôn mới ở Đắc Lắc còn chậm, đang bộc lộ nhiều khó khăn vướng mắc đòi hỏi phải kịp thời tháo gỡ

+ Chủ động huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới: Tác giả bài viết cho rằng, ngoài vấn đề hỗ trợ trực tiếp từ chương trình mục tiêu

Trang 22

quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh cần linh động, sáng tạo và đa dạng hóa các nguồn vốn huy động triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới bằng lồng ghép nguồn vốn của các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; huy động các nguồn lực từ ngân sách của tỉnh, của huyện và xã Huy động vốn của các doanh nghiệp trên địa bàn đầu tư cho nông thôn mới… Công tác quy hoạch có vai trò quan trọng và phải đi trước một bước, tạo quỹ đất xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, công trình văn hóa, khu dân

cư, chú trọng đào tạo nghề cho lao động nông thôn… và tác giả khẳng định xây dựng nông thôn mới không phải là công việc một sớm, một chiều mà là quá trình lâu dài, thường xuyên, với mục đích cuối cùng là mang lại và bảo đảm thụ hưởng vật chất, tinh thần ngày càng cao và bền vững cho nhân dân”

“Tác giả Lê Hữu Nghĩa (2008)” trong bài: “ Xây dựng nông thôn mới

ở Việt Nam – những vấn đề đặt ra và giải pháp” đã nêu “thực trạng xây

dựng nông thôn mới trong thời kỳ đổi mới vừa qua, để thấy được những thành tựu và những yếu kém, bất cập Từ đó đề ra nhiệm vụ và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam đó là: Xây dựng và phát triển nông nghiệp hiện đại, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn phù hợp với đặc điểm từng vùng; Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn hiện đại, gắn với phát triển đô thị và đô thị hóa; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo việc làm ổn định, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn nhất là vùng khó khăn; Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn”

“Các tác giả Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng và cộng sự (2013) trong cuốn”: “Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam: Tầm nhìn mới, tổ chức quản lý mới, bước đi mới” đã “tiếp cận hệ thống, toàn diện và

cung cấp cách nhìn khá rộng mở cho việc đổi mới triệt để nhận thức về vai trò

Trang 23

của nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo

vệ môi trường sinh thái của đất nước trong hội nhập và phát triển Tập thể tác giả phác thảo những yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra cũng như gợi ý cách triển khai về tổ chức phát triển và xây dựng nông thôn mới như: Tổ chức xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển nông thôn; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với thị trường; Vận dụng mô hình sản xuất kinh doanh đa dạng

và tổ chức quản lý phù hợp; Khơi dậy nguồn lực phát triển mới thông qua ứng dụng khoa học, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực; Tổ chức nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, từ đó tạo động lực thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn đi lên Đồng thời cuốn sách cung cấp kỹ năng cần thiết về thực thi pháp luật, khả năng quản lý đối với cán bộ nông thôn nhằm tạo thuận lợi cho việc triển khai thắng lợi chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới”

Qua các đề tài nghiên cứu về vấn đề “xây dựng NTM như”: cuốn sách

“ Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả

Vũ Văn Phúc (2012), theo tác giả Đoàn Pha ̣m Hà Trang (2012) về vấn đề quy hoạch và huy động các nguồn tài chính trong công tác xây dựng NTM , theo

bài viết “X ây dựng nông thôn mới ở Viê ̣t Nam – những vấn đề đă ̣t ra và giải pháp” của “tác giả Lê Hữu Nghĩa ” (2008), “bài” viết“Xây dựng nông thôn mới: Những thuận – nghịch đặt ra tại Đắc Lắc” của tác giả Phạm Xuân năm 2013, cuốn: “Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam: Tầm nhìn mới, tổ chức quản lý mới, bước đi mới” của nhóm “tác giả Tô Xuân Dân ,

Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng và cộng sự” (2013) đã chỉ ra thực tra ̣ng về

“công tác huy đ ộng nguồn lực xây dựng NTM ta ̣i các ” đi ̣a phương ở Viê ̣t Nam “trong thời kỳ đổi mới để c ó thể thấy được những thành tựu và những ” hạn chế “trong triển khai thực hiê ̣n chương trình mu ̣c tiêu Quốc gia xây dựng

Trang 24

nông thôn mới” Từ “đó đề” ra “nhiê ̣m vu ̣ và giải pháp huy đ ộng nguồn lực” xây dựng NTM ở Viê ̣t Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Đánh giá được thực trạng của việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện Quỳ Hợp - tỉnh Nghệ An Từ “đó, đề xuất” được “một số giải pháp” chủ yếu “để” giải quyết tốt “việc huy động nguồn lực xây dựng NTM” “góp phần thực hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia” ở Quỳ Hợp

- “Đề xuất một số” quan điểm, giải “pháp nhằm đẩy mạnh huy động” nguồn lực “xây dựng nông thôn” mới “trên địa bàn” huyện Quỳ Hợp – “tỉnh Nghệ An đến năm 2020”

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề huy động nguồn lực nhằm xây dựng NTM ở cấp huyện

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về mặt nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề huy động nguồn lực (chủ yếu là nguồn lực tài chính) trong quá trình xây dựng NTM

Trang 25

huyện Quỳ Hợp - tỉnh Nghệ An

- Về mặt không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề “huy động nguồn lực xây dựng NTM tại” 3 xã điểm trên địa bàn huyện Quỳ Hợp - tỉnh Nghệ An là: Châu Quang, Đồng Hợp, Minh Hợp

- Về mặt thời gian: Nghiên cứu ba năm 2013, 2014, 2015 và đề xuất phương hướng giải pháp đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp tiếp cận

Sử dụng phương pháp định tính thông qua tổng hợp, so sánh, đối chiếu

cụ thể từng chỉ tiêu, tiêu chí để phân tích, đánh giá “tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới” qua “các” năm kết hợp với khảo sát cán bộ, doanh nghiệp, người dân? (xác định mức độ sẵn sàng, những vướng mắc trong “huy động nguồn lực phát triển nông thôn” mới)

5.2 Nguồn thông tin

5.2.1 Nguồn thông tin thứ cấp

- Các sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các báo cáo có liên quan, những báo cáo khoa học đã được công bố và mạng internet có nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu;

- Phòng Nông nghiệp, UBND huyện, xã; các bộ phận chức năng ở những xã thuộc điểm nghiên cứu; “Ban chỉ đạo chương trình xây dựng nông thôn mới ở các” xã được chọn làm điểm nghiên cứu;

- Các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp “trên địa bàn các sở ban ngành có liên quan trên địa bàn” huyện Quỳ Hợp - tỉnh Nghệ An

5.2.2 Nguồn thông tin sơ cấp

Các số liệu sơ cấp được tiến hành thu thập qua điều tra, phỏng vấn các cán bộ có liên quan đến “huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới

Trang 26

trên địa bàn huyện” Quỳ Hợp

Để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, các số liệu mới được thu thập từ nhiều nguồn và nhiều đối tượng khác nhau Các hình thức thu thập sử dụng trong nghiên cứu bao gồm: phỏng vấn trực tiếp bằng biểu phiếu điều tra, thảo luận nhóm, và hội thảo có sự tham gia của các nhóm đối tượng khác nhau

(1) Phiếu điều tra cán bộ thuộc “ Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới ”:

“- Số” lượng phiếu: 90 phiếu

- Nội dung điều tra: Lấy ý kiến đánh giá của cán bộ thuộc các “ban chỉ đạo/ban quản lý và tiểu ban” quản lý về “kết quả huy động nguồn lực” cho

“xây dựng nông thôn mới” thời gian qua “trên địa bàn huyện” Quỳ Hợp Từ

đó đánh giá về phương pháp huy động

(2) Phiếu điều tra nông dân:

- Số phiếu điều tra: 90 phiếu

- Nội dung điều tra: Lấy ý kiến đánh giá của người dân về những đóng góp của họ trong thời gian qua cho “chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn” Những “đóng” góp đó bao gồm tài sản đất đai, tiền, ngày công lao động và những đóng góp phi vật chất khác

(3) Phiếu điều tra cán bộ thuộc “ các tổ chức đoàn thể ” trên địa bàn:

“ Hội nông dân ”, đoàn thanh niên và các doanh nghiệp:

- Số phiếu điều tra: 60 phiếu

- Nội dung điều tra: “Lấy ý kiến” đánh “giá của các tổ chức đoàn thể” về kết quả những đóng góp của đoàn thể cho chương trình “xây dựng nông thôn mới” Sự tham gia “của các tổ chức đoàn thể trong” các hoạt động của chương trình xây dựng nông thôn mới

Ngoài ra, nghiên cứu còn tham khảo ý kiến của các nhà khoa học, các chuyên gia trong lĩnh vực “xây dựng nông thôn mới”, các cấp “lãnh đạo trên

Trang 27

địa bàn huyện Quỳ Hợp để” lấy ý kiến đánh giá, ý kiến tư vấn nhằm hoàn thiện và “nâng cao hiệu quả huy động nguồn” lực cho “xây dựng nông thôn mới tại” huyện Quỳ Hợp

Trước khi tiến hành điều tra chính thức, nghiên cứu đã tiến hành điều tra thử để xây dựng và hoàn thiện lại các nội dung trong biểu phiếu điều tra

(phiếu điều tra này sẽ được đính kèm trong phần phụ lục của luận văn)

6 Kết cấu luận văn

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới

Chương 2: Thực “trạng huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện” Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An

Chương 3: “Một số giải pháp nhằm tăng cường huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện” Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An đến năm 2020

Trang 28

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HUY ĐỘNG NGUỒN

LỰC “ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ”

“ 1.1 Tổng quan về xây dựng nông thôn mới ”

“Xây dựng” NTM “là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao”

“Xây dựng” NTM “là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội,

mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp”

“Xây dựng” NTM giúp cho “nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh”

1.1.2 Chủ trương xây dựng “ nông thôn mới ”

“Từ năm 2001 đến 2006, cả nước đã triển khai thí điểm Đề án xây dựng

mô hình” NTM “cấp xã theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hợp tác hoá, dân chủ hoá do Ban Kinh tế Trung ương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo”

“Theo Quyết định 2614/QĐ/BNN-HTX ngày 8-9-2006 của Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đã triển khai mô hình làng” NTM “theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, hợp tác hoá, dân chủ hoá tại trên 200

Trang 29

làng điểm ở các địa phương trong cả nước Qua các dự án ở Đồng Nai, Từ Sơn (Bắc Ninh), Quỳnh Lưu (Nghệ An), Cai Lậy (Tiền Giang)… có thể rút ra một số vấn đề như sau: Bước đầu có một số mô hình thí điểm đã phát huy nội lực trên cơ sở dựa vào sức dân, tranh thủ sự trợ giúp của Nhà nước và các nguồn lực bên ngoài; xây dựng nông thôn có kinh tế phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, đời sống nhân dân được nâng cao, kết cấu hạ tầng đồng bộ, dân chủ ở cơ sở được phát huy Ở các mô hình thí điểm, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao (từ năm 2000 - 2005, Từ Sơn đạt 16,4%; Quỳnh Lưu: 17,5%; Cai Lậy: 9,04%), thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, sinh hoạt dân chủ khởi sắc…

Tuy nhiên, ở các mô hình này cũng cho thấy nhiều thách thức đang đặt

ra, nổi bật là vấn đề ô nhiễm môi trường khu dân cư quanh các cụm công nghiệp làng nghề; thiếu việc làm, dư thừa lao động trong nông thôn; kết cấu hạ tầng còn yếu kém; sản xuất nông, lâm, thuỷ sản phát triển thiếu bền vững; tình trạng tranh mua, tranh bán xảy ra khá phổ biến gây thiệt hại đến chính nông dân; sản xuất phi nông nghiệp phát triển kém do thiếu mặt bằng sản xuất”

Từ “những” mô hình “thử nghiệm rất quan trọng và có ý nghĩa” đã dần hình thành nên “những tiêu chí, cấu trúc, khả năng áp dụng của mô hình” NTM “Với sự cố gắng của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, đến thời điểm này đã có 185 xã đạt chuẩn NTM và gần 600 xã đạt

từ 15-18 tiêu chí” của mô hình NTM Đây “là một khích lệ lớn đối với phong trào xây dựng NTM”

1.2 Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới

1.2.1 Các nguồn lực xây dựng nông thôn mới

1.2.1.1 Khái niệm nguồn lực xây dựng nông thôn mới

Nguồn lực được hiểu gồm tất cả những lợi thế, tiềm năng vật chất và phi vật chất để phục vụ cho một mục tiêu phát triển nhất định nào đó

Trang 30

Nguồn lực cho xây dựng NTM được hiểu là tập hợp các yếu tố mà chương trình xây dựng NTM sử dụng “để thực hiện các mục tiêu của chương trình”

1.2.1.2 Phân loại nguồn lực xây dựng NTM

* Nguồn tài lực (nguồn lực tài chính): là toàn bộ quá trình huy động

vốn được thể hiện dưới hình thức giá trị Mọi hoạt động đều cần phải có một nguồn lực tài chính nhất định “để thực hiện các mục tiêu của hoạt động đó”

* Nguồn vật lực (nguồn lực vật chất): gồm có tài nguyên thiên nhiên

(tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên thủy điện, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, …) và “cơ sở vật chất kỹ thuật đã tạo dựng” (nhà cửa, “công” trình công cộng, đường sá, hệ thống cung cấp và thoát nước,

hệ thống viễn thông và truyền thông, hệ thống xử lý chất thải…)

* Nguồn nhân lực: là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực,

kỹ năng nghề nghiệp …

1.2.2 Nội dung huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới

1.2.2.1 Khái niệm huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới

Huy động nguồn lực xây dựng NTM là quá trình xác định các mục

“tiêu và lựa chọn các phương thức để đạt được mục tiêu” về huy động nguồn lực xây dựng NTM

1.2.2.2 Nội dung huy động nguồn lực cho nông thôn mới

a Các nguồn lực xây dựng nông thôn mới huy động từ nguồn:

- Nguồn vốn ngân sách nhà nước:

Nguồn vốn ngân sách nhà nước cho xây dựng NTM là các khoản chi của “NSNN cho xây dựng NTM” “Vai trò của nguồn vốn NSNN” đối với việc “xây dựng NTM” thể hiện ở chỗ:

+ Nguồn vốn NSNN đảm bảo cung cấp nguồn lực tài chính để xây dựng NTM mang tính “xương sống” ở nông thôn

+ Nguồn vốn NSNN có vai trò tạo tiền đề, động lực để thu hút các

Trang 31

nguồn vốn ngoài NSNN vào xây dựng NTM ở nông thôn Cụ thể như khi Nhà nước rót vốn NSNN để làm đường giao thông, người dân sẽ có động lực hiến đất đai, góp sức lao động, doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ có động lực góp tài sản, tiền để cùng chung tay xây dựng Nhà nước đầu tư làm đường giao thông liên huyện, liên xã thênh thang rộng rãi, người dân, cộng đồng sẽ có động lực

để tự bỏ vốn đầu tư làm đường thôn, bản, xóm khang trang, sạch đẹp Như vậy, nguồn vốn NSNN đóng vai trò “vốn mối” “để thu hút các nguồn vốn khác vào xây dựng NTM”

“- Nguồn vốn cộng đồng: bao gồm vốn của dân cư, các nguồn vốn đóng góp tự nguyện và tài trợ của các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Vai trò của nguồn vốn” cộng đồng được thể hiện ở chỗ:

+ Nguồn vốn cộng đồng hợp lực cùng với nguồn vốn NSNN trong xây dựng NTM Việc xây dựng NTM cần lượng vốn rất lớn, việc chỉ dựa vào duy nhất nguồn vốn NSNN sẽ không thể đáp ứng đủ nhu cầu Do vậy, việc huy động được các nguồn vốn từ cộng đồng là rất quan trọng Nguồn vốn này sẽ được sử dụng để “xây dựng tiếp các công trình, hạng mục còn lại sau khi Nhà” nước đã bỏ vốn đầu tư các hạng mục chính yếu

+ Nguồn vốn cộng đồng “góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư xây dựng NTM ở nông thôn Hiệu quả sử dụng vốn này trong đầu tư xây dựng NTM có” xu hướng cao hơn nguồn vốn NSNN Sở dĩ như vậy bởi vì các nguồn vốn này có chủ thể rất rõ ràng, vì vậy công tác quản lý có điều kiện

để thực hiện chặt chẽ hơn các yêu cầu quản lý tài chính công như: công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình, sự tham gia, tính dự báo Các nguồn vốn này cũng thường được đầu tư cho các hạng mục gắn liền với lợi ích của “cộng đồng dân cư ở nông thôn Với các” lý do đó, hiệu quả sử dụng nguồn vốn này có xu hướng cao hơn Vì vậy, nếu càng gia tăng được tỷ lệ nguồn vốn này trong đầu

Trang 32

tư xây dựng NTM thì chương trình mục tiêu quốc gia càng có chất lượng

+ Việc khai thác nguồn vốn này góp phần làm tăng tính chủ động, tích cực của “cộng đồng dân cư nông thôn Xây dựng” NTM suy cho cùng hướng tới chủ thể là người dân nông thôn, là các hộ gia đình, các doanh nghiệp, các cộng đồng dân cư đang sinh sống ở khu vực nông thôn Do vậy, “việc huy động các nguồn vốn từ cộng đồng sẽ góp” phần tăng tính chủ động tích cực của những chủ thể thực sự của xây dựng NTM, từ đó tạo “sức mạnh tổng hợp

để thực hiện thành công” chương trình này

- Nguồn “vốn doanh nghiệp”:

Nguồn “vốn doanh nghiệp cho xây dựng NTM” bao gồm: “vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước” Nguồn vốn này “có” vai trò:

+ Cung cấp thêm một kênh huy động vốn dồi dào từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước

Các doanh nghiệp có thế coi là một đối tượng nhiều tiềm năng có thể hướng tới trong huy động vốn dựng NTM Các doanh nghiệp thực hiện hành vi kinh doanh trên thị trường để tìm kiếm lợi nhuận Trong đầu tư xây dựng NTM, nếu nhà nước “có cơ chế khuyến khích đầu tư có” thể làm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, các doanh nghiệp chắc chắn sẽ coi đây là một cơ hội tốt để kinh doanh và họ sẽ bỏ vốn “đầu tư xây dựng NTM Trong trường hợp không trực tiếp đầu tư”, các doanh nghiệp cũng luôn có ý tự giác tốt trong việc đóng góp nguồn lực cho các hoạt động đầu tư, xây dựng tại địa bàn mà họ đang sản xuất kinh doanh Do vậy, đây là một kênh huy động vốn quan trọng và nhiều tiềm năng để huy động

+ Góp phần làm giảm áp lực cho NSNN trong đầu tư xây dựng NTM Hiện nay, nhiều hạng mục đầu tư xây dựng có quy mô lớn trong nước đã được thực hiện theo cơ chế công tư kết hợp dưới nhiều hình thức cụ thể khác nhau Nhà nước đã có cơ chế để nhiều doanh nghiệp với tiềm lực mạnh bỏ vốn

Trang 33

đầu tư xây dựng các công trình với quy mô lớn và trực tiếp khai thác lợi nhuận

từ công trình sau xây dựng Cách làm này vừa làm giảm gánh nặng cho NSNN,

“vừa góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng” NTM Ví dụ như nguồn vốn doanh nghiệp cũng có thể được huy động cho các hạng mục CSHT chính yếu theo cơ chế công tư kết hợp chẳng hạn như: doanh nghiệp đầu tư xây dựng đường giao thông liên huyện, xây dựng trường học, trạm y tế và khai thác lợi nhuận theo phương thức xây dựng, kinh doanh, chuyển giao

- Kết hợp các nguồn vốn đầu tư:

Kết hợp các nguồn vốn “đầu tư trong xây dựng NTM là việc huy động đồng thời các nguồn vốn đầu tư trong xây dựng NTm Điều này là cần thiết vì nhu cầu vốn đầu tư xây dựng NTM rất lớn” Nếu chỉ dựa vào một nguồn thì

sẽ không “thể đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư” Mỗi nguồn vốn đầu tư có đặc điểm và vai trò nhất định Kết hợp các “nguồn vốn đầu tư một cách hợp

lý” sẽ phát huy được tối đa vai trò của từng nguồn vốn, tránh tình trạng chồng chéo trong huy động các nguồn vốn gây lãng phí, kém hiệu quả Mỗi nguồn vốn đầu tư có tiềm năng khai thác riêng Việc kết hợp “các nguồn vốn đầu tư

sẽ giúp khai thác” tối đa tiềm năng của từng nguồn vốn, tránh lãng phí tiềm năng vốn, tạo sức mạnh tổng hợp về vốn để đầu tư xây dựng NTM đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn

Để kết hợp một cách “hiệu quả các nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM”, trước hết cần xác định rõ vị trí, vai trò của từng nguồn trong xây dựng NRM Trên cơ sở đó thực hiện tổng hợp các phương thức, biện pháp để huy động tất

cả các nguồn vốn sao cho phát huy được tối đa tiềm năng và vai trò của từng nguồn vào xây dựng NTM

Ví dụ, sự kết hợp “hiệu quả của các nguồn vốn đầu tư” xây dựng CSHT

“giao thông” nông thôn đạt được khi cả 3 nguồn vốn NSNN, cộng đồng, doanh

Trang 34

nghiệp được phát huy tối đa cho nội dung này NSNN với vai trò của mình sẽ tập trung đầu tư cho các tuyến đường quốc lộ, liên huyện, liên xã Vốn cộng đồng sẽ tập trung “cho các tuyến đường liên thôn, đường làng, ngõ xóm” Vốn doanh nghiệp sẽ tập trung cho các tuyến đường có thu phí theo các hình thức hợp tác công tư nhằm thu lợi nhuận cho doanh nghiệp

b Cơ chế huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới

* Cơ chế huy động vốn ngân sách nhà nước

Cơ chế huy động vốn NSNN cho xây dựng NTM là cách thức làm tăng quy mô của NSNN, đồng thời là cách thức phân bổ vốn NSNN cho xây dựng NTM

Để tăng quy mô của NSNN cho xây dựng NTM, các cách thức chủ yếu là:

+ Hoàn thiện hệ thống chính sách, chế độ thuế, phí, lệ phí để góp phần nâng cao hiệu quả hệ thống thuế, phí, lệ phí theo hướng khuyến khích mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo ra nguồn thu ổn định lâu dài, vững chắc cho NSNN Đổi mới công tác hành chính theo hướng tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đối tượng thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN, áp dụng có hiệu quả cơ chế tự kê khai, tự nộp

+ Tích cực khai thác tính đặc thù của địa phương trong việc mở rộng nguồn thu cho NSNN Mỗi địa phương tùy thuộc vào đặc điểm riêng về tự nhiên, kinh tế, xã hội sẽ có thể có những lợi thế riêng trong khai thác nguồn thu NSNN tự chủ của địa phương Đó có thể là lợi thế về đất đai, tài nguyên, khoáng sản, du lịch, Nếu khai thác tốt các đặc trưng này có thể giúp địa phương tăng thêm được quy mô NSNN nói chung và NSNN cho xây dựng NTM nói riêng

+ “Tăng cường phân cấp thu NSNN cho địa phương, tạo sự chủ động cho cấp cơ sở trong việc” bố trí vốn NSNN xây dựng NTM Xây dựng NTM được thực hiện xuất phát từ cấp cơ sở Tuy nhiên, nguồn NSNN ở cấp cơ sở thường là

Trang 35

eo hẹp nên việc bố trí vốn NSNN cho xây dựng NTM cũng sẽ gặp khó khăn Vì vậy, muốn tăng quy mô NSNN cho xây dựng CSHT NTM cần hướng tới việc

“tăng cường phân cấp thu NSNN cho địa phương”, đặc biệt là “tăng cường phân cấp thu NSNN cho cấp cơ sở, tạo điều kiện” tăng nguồn thu NSNN để từ

đó cấp cơ sở có thể chủ động hơn trong việc bố trí NSNN cho XDNTM

Khi đã tạo ra được cơ chế làm tăng quy mô NSNN cho xây dựng NTM, cần xác lập cách thức phân bổ vốn từ NSNN cho xây dựng NTM Trong bối cảnh NSNN còn eo hẹp, cơ chế phân bổ vốn NSNN cho xây dựng NTM là tập trung phân bổ vốn NSNN cho những công trình quan trọng, thiết yếu trước, hạn chế việc phân bổ vốn dàn trải

* Cơ chế huy động nguồn vốn cộng đồng

Việc huy động vốn cộng đồng có thể áp dụng cơ chế huy động gián tiếp hoặc cơ chế huy động trực tiếp

- Cơ chế huy động gián tiếp: là thực hiện cơ chế vay (cơ chế tín dụng)

Cơ chế này được thực hiện thông qua phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu công trình, trái phiếu chính quyền địa phương Việc áp dụng cách thức này “phải tuân thủ theo những quy định của Nhà nước”, song điều quan

“trọng” là phải chú ý đến vấn đề xác lập lãi suất và phải tính toán đến khả năng trả nợ dựa vào khả năng của ngân sách hoặc “khả năng thu hồi vốn thông qua” hình thức “thu phí” sử “dụng công trình (giao thông, thủy lợi”…)

- Cơ chế huy “động” trực tiếp: là cơ chế huy động cộng đồng trực tiếp

bỏ vốn tham gia xây dựng NTM và được thể hiện như sau:

+ Công khai danh mục đầu tư và kế hoạch đầu tư: trước hết chính quyền phải xây dựng và công khai danh mục đầu tư phù hợp với lợi ích trực tiếp và năng lực tài chính của cộng đồng Tiếp đó là kế hoạch đầu tư cụ thể

Đó là căn cứ quan trọng để cộng đồng thấy được những lợi ích mà họ sẽ được

Trang 36

hưởng Khi họ nhìn thấy “những lợi ích trực tiếp mà họ được hưởng từ” một công trình thì chắc chắn việc huy động họ bỏ vốn trực tiếp vào công trình sẽ

dế dàng hơn Và các danh mục và kế hoạch đầu tư cần phải được công khai bởi sự công khai như một cam kết của chính quyền đối với cộng đồng về trách nhiệm thực thi, đảm bảo cho những lợi ích cụ thể mà họ sẽ đạt được

+ Thực hiện một cách động viên, khuyến khích: cách thức đầu tiên có thể thực hiện đó là các hoạt động tuyên truyền, vận động, tác động tới nhận thức của cộng đồng Cách thức thứ hai là động viên bắt buộc, tức là trong chương trình xây dựng NTM ngay từ chủ trương đã là một chương trình mà chủ thể chính là người nông dân – những người chủ ở nông thôn thì người dân và cộng đồng xã hội ở nông thôn phải là những người có trách nhiệm đóng góp công sức của mình cho chương trình trong đó có nghĩa vụ đóng góp tài lực, vật lực, nhân lực để xây dựng NTM

Bên cạnh đó, Nhà nước có thể áp dụng các cơ chế khuyến khích như:

hỗ trợ nguyên vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ thi công, động viên khen thưởng đối với cá tổ chức, gia đình, cá nhân tích cực Một cách thức nữa có thể thực hiện đó là tăng cường “sự tham gia của người dân” Đối với việc

“xây dựng NTM” trên địa bàn “cần” “sự tham gia đóng góp của cộng đồng”, việc huy động sẽ hiệu quả hơn nếu họ được trực tiếp “tham gia vào việc lập

kế hoạch”, lựa chọn phương án… xây dựng NTM đề phù hợp với tình hình địa phương

- Thực hiện công khai và trách nhiệm giải trình đối với các nguồn vốn

đã huy động

Việc huy động vốn không thể chỉ tính cho một công trình mà phải tính đến tổng thể cả quá trình lâu dài của “chương trình xây dựng NTM” Do vậy, muốn “tiếp tục huy động được” vốn góp ngoài NSNN cần phải thực hiện tốt yêu cầu công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với các nguồn vốn

Trang 37

đã được huy động

* Cơ chế huy động “vốn doanh nghiệp”

Việc “huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp” trong và ngoài nước trong xây dựng NTM hiện nay có thể thực hiện theo cách thức: Đầu tư theo hình thức các loại hợp đồng như BOT, BTO, BT, PPP Để việc huy động vốn doanh nghiệp vào xây dựng NTM đạt hiệu quả, vấn đề quan trọng là nhà nước phải có chính sách ưu đãi, chia sẻ hợp lý lợi ích và trách nhiệm đối với nhà đầu tư theo các cơ chế hợp đồng như trên

1.2.3 Tiêu chí đánh giá huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới

1.2.3.1 Quy mô huy động nguồn lực

Trong đó: %Vn: Cơ cấu nguồn lực n

Vn: Số vốn huy động được của nguồn lực n

∑V: Tổng số nguồn lực huy động được

- Ý nghĩa của chỉ tiêu: Chỉ tiêu này phản ánh cơ cấu từng nguồn lực trong tổng số nguồn lực huy động được cho xây dựng NTM trong một giai đoạn Chỉ tiêu này là cơ sở để đánh giá tổng hợp khả năng phối kết hợp các nguồn lực trong xây dựng NTM, thực hiện các điều chỉnh cần thiết trong việc huy động từng nguồn lực để tạo sự hài hòa hợp lý về cơ cấu, phát huy tối đa

Trang 38

các nguồn vốn tham gia xây dựng NTM

1.2.3.3 Mức độ đáp ứng nhu cầu vốn

- Cách tính chỉ tiêu: M = Vt/Vn (%)

M: Mức độ đáp ứng nhu cầu nguồn lực trong một giai đoạn

Vt: Nguồn lực huy động được trên thực tế

Vn: Nhu cầu nguồn lực trong giai đoạn

- Ý nghĩa của chỉ tiêu: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu nguồn lực cho NTM trong một giai đoạn Mức độ đáp ứng càng cao chứng tỏ việc huy động nguồn lực có hiệu quả Trong trường hợp ngược lại, chỉ tiêu này là

cơ sở để tiếp tục thực hiện các biện pháp để phối kết hợp tốt hơn các nguồn lực đáp ứng nhu cầu

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới “ huy động nguồn lực cho xây nông

1.2.4.1 Cơ chế và chính sách

Các cơ chế, chính sách của nhà nước tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện các hoạt động “huy động nguồn lực xây dựng NTM Trong huy động nguồn lực”, đó “là” hệ thống cơ chế, chính sách liên quan đến việc phân bổ, điều tiết nguồn vốn NSNN, các cơ chế, chính sách khuyến khích để huy động các nguồn vốn ngoài NSNN, các nguồn vốn của cộng đồng, doanh nghiệp vào xây dựng NTM, chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư Hệ thống cơ chế, chính sách càng đồng bộ, đầy đủ, có tính đến yếu tố đặc thù của chương trình xây dựng NTM sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thu hút nguồn lực xây dựng NTM Trong đó, “chính sách hỗ trợ về vốn của nhà nước đối với các” vùng còn

có nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội là vô cùng cần thiết Chính sách mở rộng phân cấp cho “các cấp chính quyền địa phương trong” phê duyệt và “thực hiện” các dự án sẽ góp phần phát huy được tính chủ động, năng động và sáng tạo của các địa phương, đồng thời cũng góp phần làm giảm gánh nặng cho

Trang 39

NSNN

Để đưa “các cơ chế, chính sách của nhà nước” vào cuộc sống, áp dụng

có hiệu quả trong thực tiễn và hợp lòng dân, các “cấp chính quyền địa phương” cần phải có “sự” điều chỉnh linh hoạt phù hợp với điều kiện kinh tế

- xã hội cụ thể của mỗi địa phương trong phát triển

1.2.4.2 Trình độ nhận thức của người dân

Trình độ nhận thức của người dân nông thôn nhìn chung là kém hơn thành thị do thiếu các điều kiện để tiếp cận thông tin, những hạn chế của hệ thống giáo dục tại nông thôn Nét văn hóa của nền văn minh nông nghiệp lúa nước có nhiều điểm tích cực nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế ảnh hưởng xấu tới xây dựng NTM cũng như việc sử dụng các giải pháp tài chính thực hiện chương trình, cụ thể: nhận thức của người dân nông thôn về chương trình xây dựng NTM nếu đầy đủ thì họ sẽ ý thức được rõ ràng “vai trò chủ thể của mình trong xây dựng NTM, từ đó sẽ chủ động”, tự giác trong việc đóng góp nguồn lực cho chương trình, việc huy động vốn đối với họ sẽ thuận lợi hơn Khi nhận thức của người dân nông thôn không đầy đủ, họ sẽ không hiểu xây dựng NTM

là gì, không ý thức được vai trò, trách nhiệm đầy đủ của mình mà chỉ coi đây là một chương trình của nhà nước, do nhà nước đầu tư, họ sẽ ỷ lại vào nhà nước

1.2.4.3 Năng lực của “ chính quyền địa phương ”

Năng lực của “chính quyền địa phương” có nội hàm rộng, tuy nhiên những yếu tố thuộc năng lực của chính quyền địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến việc “huy động nguồn lực xây dựng NTM” có thể kể đến bao gồm:

- Cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương “ nói chung và ” của BCĐ

“ xây dựng NTM ” ở địa phương “ nói riêng ”: các phòng, ban chức năng phải

phối hợp đồng bộ, thống nhất trong triển khai nhiệm vụ; bộ máy BCĐ xây dựng NTM phải có đầy đủ các thành phần liên quan, có sự phối hợp ăn ý, thống nhất,

có bộ phận thường trực để luôn luôn quan tâm, đôn đốc, giám sát thường xuyên

Trang 40

việc thực hiện chương trình;

- Trình độ “ của đội ngũ cán bộ làm công tác” quản lý “đầu tư, xây dựng”, tài chính của “chính quyền địa phương”

“ - Năng lực thực hiện ” công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương: Trách nhiệm công khai yêu cầu chính quyền địa

phương ở cơ sở phải công khai, minh bạch về tài chính đối với quá trình huy động nguồn lực xây dựng NTM Về trách nhiệm giải trình, “theo cách hiểu thông thường thì giải trình là giải thích, trình bày nhằm làm sáng rõ một vấn đề gì Trong tiếng Anh accountability (trách nhiệm giải trình) có nguồn gốc Latin là accomptare (giải thích) Trong hoạt động của bộ máy công quyền thì trách nhiệm giải trình là việc cán bộ, công chức nhà nước phải chịu trách nhiệm về hành động của mình Theo đó, cơ quan nhà nước; cán bộ, công chức nhà nước, phải có trách nhiệm thực thi công việc được giao đạt kết quả và phải chịu hậu quả khi chưa làm tròn trách nhiệm” Trách nhiệm giải trình được thực hiện theo 2 hướng: Một mặt, chính quyền cơ sở phải thực hiện trách nhiệm giải trình đối với cấp trên về quá trình huy động nguồn lực xây dựng NTM Mặt khác, chính quyền cơ sở phải thực hiện trách nhiệm giải trình đối với dân về việc thực hiện quá trình này Chỉ khi người dân và cộng đồng hiểu được chính quyền đang làm gì và làm như thế nào họ mới có thể quyết định việc có ủng hộ hay không những chủ trương, chính sách của chính quyền mà trong bối cảnh hiện nay, sự ủng hộ đó

là vô cùng quan trọng

1.2.4.4 Trình độ “ phát triển kinh tế của địa phương ”

“Nhân tố” này được thể hiện bằng các chỉ số cụ thể như: tăng trưởng GDP, tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, thu nhập bình quân đầu người… Các chỉ số này tích cực sẽ “phản ánh trình độ phát triển kinh tế” ở địa phương ở mức cao, người dân có mức sống tốt, đồng nghĩa với việc nguồn lực tài chính của địa phương cũng như trong

Ngày đăng: 05/04/2023, 21:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Ban chỉ đạo Chương trình MTQG xây dựng NTM” - UBND “huyện” Quỳ Hợp (2014, 2015), Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới năm 2014.2015, Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới năm 2014.2015
Tác giả: UBND “huyện” Quỳ Hợp
Năm: 2014, 2015
2. “Ban quản lý chương trình Xây dựng NTM” các xã (2014), “Đề án xây dựng nông thôn mới các xã, Quỳ Hợp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án xây dựng nông thôn mới các xã, Quỳ Hợp
Tác giả: Ban quản lý chương trình Xây dựng NTM các xã
Năm: 2014
5. “Phạm Xuân (2013), Xây dựng nông thôn mới: Những thuận – nghịch đặt ra tại” Đắc Lắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nông thôn mới: Những thuận – nghịch đặt ra tại
Tác giả: Phạm Xuân
Năm: 2013
6. “Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng và cộng sự (2013), Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam: Tầm nhìn mới, tổ chức quản lý mới, bước đi mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam: Tầm nhìn mới, tổ chức quản lý mới, bước đi mới
Tác giả: Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng
Năm: 2013
7. “Vũ Văn Phúc” (2012), “Xây dựng NTM những vấn đề lý luận và thực tiễn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng NTM những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Vũ Văn Phúc
Năm: 2012
8. Ủy ban nhân dân huyện Quỳ Hợp (2015), “Báo cáo Tiến độ triển khai Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới”, Huyện Quỳ Hợp giai đoạn 2011-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tiến độ triển khai Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới
Tác giả: Ủy ban nhân dân huyện Quỳ Hợp
Năm: 2015
9. Ủy ban nhân dân huyện Quỳ Hợp (2016), Báo cáo sở kết 5 năm triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, kế hoạch thực hiện Chương trình năm 2016, Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sở kết 5 năm triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, kế hoạch thực hiện Chương trình năm 2016
Tác giả: Ủy ban nhân dân huyện Quỳ Hợp
Năm: 2016
10. Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2013), “Đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2020, Nghệ” An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2020
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An
Nhà XB: Nghệ An
Năm: 2013
11. “Ủy ban nhân dân” huyện Quỳ Hợp (2014), Kế hoạch “ xây dựng nông thôn mới huyện Quỳ Hợp giai đoạn 2015 – 2020”, Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch “ xây dựng nông thôn mới huyện Quỳ Hợp giai đoạn 2015 – 2020”
Tác giả: Ủy ban nhân dân” huyện Quỳ Hợp
Nhà XB: Quỳ Hợp
Năm: 2014
12. Ủy ban nhân dân huyện Quỳ Hợp (2016), Tình hình “thực hiện các dự án trong chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới”, Quỳ Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình “thực hiện các dự án trong chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới”
Tác giả: Ủy ban nhân dân huyện Quỳ Hợp
Nhà XB: Quỳ Hợp
Năm: 2016
4. Là cán bộ của các tổ “chức đoàn thể”: “Hội Nông dân”“Hội phụ nữ”“Đoàn Thanh niên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: chức đoàn thể”: “Hội Nông dân” “Hội phụ nữ” “Đoàn Thanh niên
6. „Trình độ chuyên môn nghiệp vụ‟ : „Trung cấp‟„Cao đẳng‟„Đại học‟Sau „đại học‟ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ
7. „Trình độ lý luận chính trị‟: „Chưa qua bồi dưỡng‟„Trung cấp‟„Cao cấp‟ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trình độ lý luận chính trị
8. „Số năm công tác: ….......................... năm‟ Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w