Cụ thể hơn luận văn sẽ nghiên cứu sự khác biệt giữa trình độ giáo dục và số năm đi học của lao động có tác động như thế nào tới năng suất của cá nhân người lao động.. Nhóm yếu tố liên qu
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình khoa học của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Quang Cảnh
Các số liệu và những kết luận nghiên cứu chính được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Học viên
Phạm Hoàng Hải
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin được gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Lê Quang Cảnh - người
đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp tôi giải quyết những vướng mắc trong quá trình nghiên cứu
Tôi cũng xin được cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và quý vị quan tâm
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả mọi người
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Học viên
Phạm Hoàng Hải
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT LUẬN VĂN
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA GIÁO DỤC TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG 4
1.1 Cơ sở lý thuyết về năng suất lao động 4
1.1.1 Khái niệm về năng suất lao động 4
1.1.2 Phân loại, đo lường năng suất lao động 5
1.1.3 Vai trò của năng suất lao động 7
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất lao động 9
1.2 Cơ sở lý thuyết về giáo dục 12
1.2.1 Định nghĩa về giáo dục 12
1.2.2 Các loại hình giáo dục 14
1.2.3 Vai trò của giáo dục 15
1.2.4 Đo lường giáo dục 16
1.3 Tổng quan các nghiên cứu về tác động của giáo dục tới năng suất lao động 19
1.3.1 Các nghiên cứu lý thuyết 19
1.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm 22
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Khung nghiên cứu 26
2.1.1 Quy trình nghiên cứu 26
Trang 42.1.2 Mô hình nghiên cứu 27
2.2 Mô tả các biến sử dụng trong mô hình 28
2.2.1 Các nhóm biến độc lập 28
2.2.2 Biến đo lường năng suất lao động 32
2.3 Phương pháp thu thập số liệu 32
2.4 Phương pháp phân tích số liệu 33
2.4.1 Phân tích thống kê mô tả 33
2.4.2 Phân tích hồi quy đa biến 33
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA GIÁO DỤC TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG 35
3.1 Thực trạng giáo dục đào tạo lao động ở Việt Nam hiện nay 35
3.1.1 Giới thiệu hệ thống giáo dục của Việt Nam 35
3.1.2 Một số vấn đề về giáo dục đào tạo lao động ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân 38
3.2 Phân tích thông kê mô tả 42
3.2.1 Mô tả mẫu nghiên cứu và các biến sử dụng trong mô hình 42
3.2.2 Giáo dục với năng suất lao động 45
3.3 Phân tích hồi quy đa biến 54
3.3.1 Mô hình hồi quy cơ sở 54
3.3.2 Kiểm định các khuyết tật của mô hình 57
3.3.3 Các mô hình hồi quy mở rộng 61
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH VÀ KHUYẾN NGHỊ 63
4.1 Những kết quả nghiên cứu chính 63
4.2 Những khuyến nghị về giáo dục để nâng cao năng suất lao động tại Việt Nam 64
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CSVC Cơ sở vật chất CSGD Cơ sở giáo dục GDĐH Giáo dục đại học GDĐT Giáo dục đào tạo GDTX Giáo dục thường xuyên HGĐ Hộ gia đình
KTXH Kinh tế xã hội KVGD Khu vực giáo dục KVSX Khu vực sản xuất LLLĐ Lực lượng lao động NSLĐ Năng suất lao động NSLĐCN Năng suất lao động cá nhân NSLĐXH Năng suất lao động xã hội TCTK Tổng cục Thống kê
TĐCĐ Trình độ cao đẳng TĐSC Trình độ sơ cấp TĐTC Trình độ trung cấp THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông TPKT Thành phần kinh tế VHLSS Điều tra mức sống hộ gia đình
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Thay đổi về năng suất lao động trong khu vực doanh nghiệp theo trình
độ, kỹ năng người lao động 24
Bảng 3.1: Tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo năm 2014 39
Bảng 3.2: Chi GDĐT bình quân 1 người đi học phân theo thành thị và nông thôn tại Việt Nam giai đoạn 2002 - 2014 41
Bảng 3.3: Mô tả thông kê các biến sử dụng trong mô hình 43
Bảng 3.4: Bằng cấp giáo dục cao nhất và năng suất lao động 46
Bảng 3.5: Bằng cấp giáo dục cao nhất của lao động theo giới tính 46
Bảng 3.6: NSLĐ bình quân theo bằng cấp giáo dục cao nhất và giới tính 47
Bảng 3.7: NSLĐ bình quân theo bằng cấp giáo dục cao nhất và ngành nghề 49
Bảng 3.8: NSLĐ bình quân theo bằng cấp giáo dục cao nhất và nơi sống 50
Bảng 3.9: NSLĐ bình quân theo bằng cấp giáo dục cao nhất và dân tộc 52
Bảng 3.10: Kết quả hồi quy tác động của giáo dục tới NSLĐ cá nhân 54
Bảng 3.11: Nhân tố phóng đại phương sai của 2 mô hình hồi quy 58
Bảng 3.12: Ma trận tương quan Pearson của các biến độc lập trong mô hình 1 59
Bảng 3.13: Ma trận tương quan Pearson của các biến độc lập trong mô hình 2 60
Bảng 3.14: Kết quả hồi quy các mô hình mở rộng 61
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Phân loại năng suất lao động 7
Hình 2.1: Quy trình nghiên cứu đề tài 26
Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu 28
Hình 3.1: Hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam 38
Hình 3.2: Tỷ lệ LĐ ở các trình độ giáo dục theo ngành nghề 48
Hình 3.3: Cơ cấu LĐ theo các trình độ giáo dục và khu vực sống 50
Hình 3.4: Cơ cấu LĐ theo trình độ GD và dân tộc 51
Hình 3.5: Số năm học của lao động và NSLĐ bình quân 53
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Kết quả hồi quy mô hình 1 với biến giáo dục là bằng cấp giáo dục cao nhất của LĐ 72Phụ lục 2: Kết quả hồi quy mô hình 2 với biến GD là số năm đi học của LĐ 73
Phụ lục 3: Kết quả hồi quy mô hình 3 bổ sung thêm biến tương tác giữa số năm đi học và giới tính của LĐ 74
Phụ lục 4: Kết quả hồi quy mô hình 4 bổ sung thêm biến tương tác giữa số năm đi học và ngành nghề của LĐ 75
Phụ lục 5: Kết quả hồi quy mô hình 5 bổ sung thêm biến tương tác giữa số năm đi học và nơi sống của LĐ 76
Phụ lục 6: Kết quả hồi quy mô hình 6 bổ sung thêm biến tương tác giữa số năm đi học và dân tộc của LĐ 77
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Năng suất lao động là chỉ tiêu quan trọng trong kinh tế, phản ánh năng lực và hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất Ở tầm vĩ mô, năng suất lao động là chỉ tiêu đầu tiên để xác định mức độ phát triển của một quốc gia, quốc gia nào có được NSLĐ cao đồng nghĩa với việc quốc gia đấy có khả năng cạnh tranh, thu nhập của người dân cao hơn so với các quốc gia có năng suất thấp hơn Ở cấp độ doanh nghiệp, muốn hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận, các doanh nghiệp phải tìm cách thức để cải thiện năng suất của mình Đối với mỗi cá nhân, đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng lao động sản xuất của từng người, qua đó tác động trực tiếp tới thu nhập và mức sống của người lao động
Có rất nhiều yếu tố tác động tới NSLĐ, trong đó một yếu tố đã được nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm quan tâm từ lâu đó chính là giáo dục Có thể xem giáo dục là một yếu tố sản xuất, đóng góp tới sự gia tăng năng suất lao động Nhờ có giáo dục, người lao động có thể mở rộng, nâng cao được các kiến thức, kỹ năng chuyên môn cho hoạt động kinh tế và có được tinh thần thái độ trách nhiệm cao trong công việc Ngoài ra, giáo dục còn giúp tăng khả năng sáng tạo của từng cá nhân và giúp việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất được
dễ dàng hơn Từ đó, ta có thể thấy được tác động to lớn của giáo dục tới năng suất của từng cá nhân lao động, nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ đang diễn ra trên toàn thế giới
Trải qua công cuộc đổi mới, từ một nước nghèo nàn lạc hậu, Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về KTXH như duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, mức sống người dân được cải thiện Tuy nhiên bên cạnh đó, một vấn đề lớn mà nước ta đang phải đối mặt đó là năng suất của người lao động còn thấp, trong khu vực Đông Nam Á, NSLĐ của Việt Nam chỉ cao hơn các nước Lào, Campuchia, Myanmar và còn kém xa so với các nước như Singapore, Thái Lan, Malaysia Một trong những nguyên nhân dẫn đến vấn đề này xuất phát từ việc giáo dục đào tạo lao động ở nước ta còn nhiều hạn chế, khiến cho trình độ của lực lượng lao động chưa cao Theo số liệu năm 2014 của TCTK, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của Việt Nam chỉ đạt 18,6%, điều này đã hạn chế khả năng cải thiện năng suất của người lao động Để giải quyết vấn đề này, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính sách, bao gồm cả giáo dục, tuy nhiên do nguồn lực có hạn nên hiệu quả của những chính sách này chưa được như kỳ
Trang 9vọng Do đó, đòi hỏi cần phải có những nghiên cứu cụ thể về tác động của giáo dục tới năng suất lao động tại Việt Nam, từ đó có những giải pháp về giáo dục phù hợp, hướng tới việc nâng cao năng suất của người lao động
Từ lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu tác động của giáo dục tới năng suất lao động ở Việt Nam” cho luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài là nghiên cứu tác động của giáo dục tới năng suất của người lao động ở Việt Nam Dựa trên kết quả nghiên cứu thu được, luận văn sẽ có những đề xuất nhằm nâng cao hơn nữa năng suất của người lao động
ở Việt Nam
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn sẽ trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
- Về lý thuyết, giáo dục có tác động như thế nào đến năng suất lao động?
- Đo lường giáo dục và NSLĐ như thế nào?
- Tác động của giáo dục tới năng suất của người lao động ở Việt Nam như thế nào? Chiều hướng, mức độ tác động như thế nào?
- Có thể đưa ra những khuyến nghị nào về giáo dục để giúp tăng năng suất
của người lao động ở Việt Nam?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các tác động của giáo dục tới năng suất lao động Cụ thể hơn luận văn sẽ nghiên cứu sự khác biệt giữa trình độ giáo dục và số năm đi học của lao động có tác động như thế nào tới năng suất của cá nhân người lao động
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề trên tại Việt Nam Số liệu được sử dụng để nghiên cứu đề tài chủ yếu lấy từ số liệu điều tra khảo sát mức sống
hộ gia đình VHLSS năm 2014 do TCTK tiến hành và các nguồn số liệu có liên quan khác được tổng hợp, công bố trong thời gian gần đây
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu trong KTXH, cụ thể phương pháp nghiên cứu được sử dụng để nghiên cứu đề tài gồm có:
Phương pháp nghiên cứu tại bàn
Phương pháp nghiên cứu định lượng
5 Kết cấu của luận văn
Nội dung chính của luận văn gồm có 4 chương:
Trang 10- Chương 1: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu tác động của giáo dục tới năng
suất lao động
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả thực nghiệm phân tích tác động của giáo dục tới năng
suất lao động
- Chương 4: Một số kết quả nghiên cứu chính và khuyến nghị
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA GIÁO DỤC TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
1.1 Cơ sở lý thuyết về năng suất lao động
1.1.1 Khái niệm về năng suất lao động
NSLĐ là một chỉ tiêu năng suất tính theo từng yếu tố đầu vào, phản ánh khả năng sản xuất tạo ra của cải hay hiệu suất của một lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, có thể được đo bằng lượng sản phẩm hoặc giá trị tạo ra trong một đơn vị thời gian nhất định hay được đo bằng lượng thời gian lao động cần thiết để sản xuất
- Theo phạm vi tính
- Theo ngành, TPKT
- Theo đơn vị tính
1.1.3 Vai trò của năng suất lao động
Đối với mỗi cá nhân lao động, năng suất lao động là nhân tố quyết định tiền lương và thu nhập của người lao động
Đối với các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, việc năng suất lao động thay đổi
có những ý nghĩa phản ánh hiệu quả sản xuất
Ở tầm vĩ mô, thông qua đo lường NSLĐ, ta có thể đánh giá được trình độ phát triển của quốc gia
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất lao động
Trang 11Trong phần này sẽ chỉ tập trung vào bốn nhóm yếu tố ảnh hưởng tới nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận văn gồm có nhóm các yếu tố liên quan tới giáo dục, đặc điểm cá nhân người lao động, hộ gia đình và thị trường lao động
1.1.4.1 Nhóm yếu tố liên quan tới giáo dục
Từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu về vai trò của giáo dục đối với năng suất lao động, những nghiên cứu này đều khẳng định giáo dục có tác động tích cực NSLĐ thông qua nghiên cứu và sử dụng các thước đo giáo dục như trình độ giáo dục, số năm đi học Mối quan hệ giữa nhóm yếu tố giáo dục và năng suất lao động và các nghiên cứu có liên quan sẽ được trình bày cụ thể hơn tại mục 1.2 và mục 1.3
1.1.4.2 Nhóm yếu tố liên quan tới đặc điểm cá nhân người lao động
Yếu tố tuổi: Theo nghiên cứu của Gelderblom & de Koning (2002), năng
suất cá nhân của lao động sẽ lớn nhất khi lao động ở độ tuổi 40-50 và giảm sau đấy
Yếu tố giới tính: lao động nữ thường có năng suất lao động thấp hơn so với
lao động nam (Fox, 2001), (Xie và Shauman,1998), (Ngân hàng Thế giới, Báo cáo Phát triển Thế giới 2012)
Yếu tố hôn nhân: Các nghiên cứu của Becker (1974), Korenman và Neumark
(1991) đã đưa ra kết luận là người lao động đã kết hôn sẽ có NSLĐ cao hơn so với lao động chưa kết hôn
Yếu tố ngành nghề: Năng suất lao động của mỗi ngành nghề sẽ có sự khác
biệt nhất định, lao động thuộc ngành nông nghiệp sẽ có NSLĐ thấp hơn so với lao động thuộc ngành dịch vụ và công nghiệp
Yếu tố khu vực sinh sống: Những lao động thuộc khu vực thành thị thường sẽ
có NSLĐ cao hơn so với khu vực nông thôn
Yếu tố dân tộc: Những lao động thuộc các dân tộc thiểu số thường sẽ có năng
suất lao động thấp hơn
1.1.4.3 Nhóm yếu tố liên quan tới hộ gia đình
Số người phụ thuộc trong gia đình: Nếu số người phụ thuộc trong gia đình càng
lớn làm cho năng suất lao động khó có thể cải thiện được, thậm chí trong một số trường hợp năng suất lao động còn có xu hướng giảm đi
Mức sống của HGĐ: Có thể được phản ánh thông qua tổng thu nhập của hộ
hay là số tài sản mà hộ sở hữu Mức sống của hộ có mối quan hệ thuận chiều tới người lao động
1.1.4.4 Nhóm yếu tố liên quan tới thị trường lao động
Trang 12Yếu tố tiền lương: Tiền lương và năng suất lao động có mối quan hệ tỷ lệ
thuận và phụ thuộc lẫn nhau (Lý thuyết tiền lương hiệu quả)
Môi trường lao động: Người lao động có thể có NSLĐ cao hơn trong một
môi trường có mức vốn con người cao, đây là do tác động của hiệu ứng ngoại sinh của vốn con người (Laroche và cộng sự, 1999)
1.2 Cơ sở lý thuyết về giáo dục
1.2.3 Vai trò của giáo dục
1.2.3.1 Vai trò kinh tế - sản xuất
1.2.3.2 Vai trò chính trị - xã hội
1.2.3.3 Vai trò tư tưởng - văn hóa
1.2.4 Đo lường giáo dục
1.2.4.1 Thang đo giáo dục trong các nghiên cứu quốc tế
- Tỷ lệ biết chữ, biết viết
- Tỷ lệ nhập học các cấp
- Số năm đi học
1.2.4.2 Thang đo giáo dục trong các nghiên cứu tại Việt Nam
Nhóm thang đo giáo dục cá nhân:
- Số giáo viên giảng dạy, học sinh từng cấp học
- Tỷ lệ học sinh đi học chung
- Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ
- Chi cho hoạt động sự nghiệp giáo dục và đào tạo
1.3 Tổng quan các nghiên cứu về tác động của giáo dục tới năng suất lao động
1.3.1 Các nghiên cứu lý thuyết
Trang 131.3.1.1 Mô hình tăng trưởng nội sinh của Lucas (1988)
1.3.1.2 Các nghiên cứu về vai trò của vốn con người
1.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm
1.3.2.1 Các nghiên cứu quốc tế
Báo cáo về “Vốn con người và năng suất” của Cơ quan Lao động và Năng suất Úc (2013) tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm về nâng cao năng suất lao động thông qua vốn con người tại Mỹ, các nước OECD và châu Đại Dương và chỉ
ra mối quan hệ thuận chiều giữa giáo dục với năng suất
Nghiên cứu của Hua (2005) về đo lường tác động của các bậc học giáo dục khác nhau tới nâng cao hiệu quả, cải tiến công nghệ và năng suất lao động tại Trung Quốc Thang đo giáo dục ở đây được sử dụng là tỷ lệ tốt nghiệp cấp tiểu học, cấp trung học và cấp đại học Nghiên cứu cho kết quả là giáo dục đại học có ảnh hưởng rất lớn tới nâng cao hiệu quả, cải tiến công nghệ và tăng NSLĐ
Nghiên cứu của Patricia (1999) sử dụng bộ số liệu khảo sát 200 doanh nghiệp sản xuất tại Ghana đưa ra kết luận lao động với trình độ giáo dục càng cao thì NSLĐ càng cao
1.3.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Báo cáo “Vietnam: Higher Education and Skills for Growth” của Ngân hàng Thế giới (2008) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa NSLĐ trong các ngành công nghiệp và trình độ giáo dục của lao động, sử dụng phương pháp hồi quy giản đơn với thang đo giáo dục là số năm đi học và tỷ lệ tốt nghiệp các cấp Nghiên cứu cho kết quả là có mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa số năm đi học và NS của LĐ
Báo cáo “Năng suất lao động của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” của Tổng cục Thống kê (2016) đã đưa ra đánh giá về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến NSLĐ của Việt Nam
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Khung nghiên cứu
2.1.1 Quy trình nghiên cứu
- Bước 1: Xác định đề tài, mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Bước 2: Xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu
- Bước 3: Thu thập dữ liệu
- Bước 4: Xử lý dữ liệu
- Bước 5: Phân tích dữ liệu thu được
Trang 14- Bước 6: Rút ra các kết luận và đưa ra các khuyến nghị
2.1.2 Mô hình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu được sử dụng trong luận văn gồm các nhóm biến sau:
- Nhóm biến giáo dục
- Nhóm biến đặc điểm LĐ
- Nhóm biến đặc điểm HGĐ
- Nhóm biến đặc điểm TTLĐ
- Biến đo lường NSLĐ
2.2 Mô tả các biến sử dụng trong mô hình
2.2.1 Các nhóm biến độc lập
2.2.1.1 Nhóm biến giáo dục
Nhóm biến này gồm những biến sau:
Biến bằng cấp giáo dục cao nhất: đây là biến định tính, phản ánh trình độ giáo dục cao nhất mà người lao động đã đạt được gồm có không đi học hoặc trình
độ tiểu học, trình độ THCS, trình độ THPT, trình độ cao đẳng trung cấp, trình độ đại học và sau đại học Để có thể tiến hành hồi quy trong STATA, biến này được xử
lý, chuyển thành các biến dạng không một
Biến số năm đi học (ký hiệu snhoc): Là biến định lượng, phản ánh số năm đã
đi học của người LĐ, đơn vị tính là năm
2.2.1.2 Nhóm biến đặc điểm của người lao động
Nhóm biến này gồm những biến sau:
Biến tuổi (ký hiệu tuoi): Là biến định lượng, phản ánh tuổi của người lao động tại thời điểm nghiên cứu năm 2014, đơn vị tính là tuổi
Biến giới tính (ký hiệu gtnam): Là biến định tính, phản ánh giới tính của LĐ Biến này nhận giá trị bằng 1 nếu LĐ có giới tính nam và nhận giá trị bằng 0 nếu LĐ
có giới tính nữ
Biến về hôn nhân: Là biến định tính, phản ánh tình trạng hôn nhân của người
LĐ, gồm có tình trạng độc thân, tình trạng đang kết hôn và tình trạng góa, ly thân và
ly hôn Để tiến hành hồi quy trong STATA, biến này được chuyển về các biến dạng không một
Biến về ngành nghề: Là biến định tính, phản ánh công việc người lao động đang làm thuộc ngành nghề nào tại thời điểm nghiên cứu gồm có nghề lao động làm công ăn lương; nghề SX hoặc DV về trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản (gọi tắt là SXDV nông nghiệp); nghề sản xuất kinh doanh dịch vụ khác Để tiến
Trang 15hành hồi quy trong STATA, biến này cần được chuyển về các biến dạng biến dạng không một
Biến khu vực sống (ký hiệu tt): Là biến định tính, phản ánh nơi sống của người lao động Biến này nhận giá trị bằng 0 nếu người lao động sống ở nông thôn
và nhận giá trị bằng 1 nếu người lao động sống ở thành thị
Biến dân tộc (ký hiệu dtkinh): Là biến định tính, phản ảnh người lao động thuộc dân tộc nào Biến này nhận giá trị bằng 1 nếu người lao động thuộc dân tộc Kinh và bằng 0 nếu người lao động thuộc các dân tộc khác
2.2.1.3 Nhóm biến đặc điểm hộ gia đình
Biến số người phụ thuộc (ký hiệu sonpt): Là biến định lượng, phản ánh số người không tham gia lao động tạo thu nhập trong hộ gia đình của người lao động
Biến tài sản của hộ gia đình (ký hiệu taisan): Là biến định lượng, phản ánh lượng giá trị TS hữu hình mà hộ gia đình của người lao động đang sở hữu tại thời điểm nghiên cứu Đơn vị tính: 1.000 đồng
2.2.1.4 Nhóm biến thị trường lao động
Nhóm biến này gồm các biến sau:
Biến tiền lương bình quân (ký hiệu luong): Là biến định lượng, phản ánh khoản tiền công bình quân theo tháng mà người LĐ làm công ăn lương nhận được ở tỉnh thành mà người lao động sống tại năm nghiên cứu, đơn vị tính: 1.000 đồng/tháng
Biến lượng lao động đã qua đào tạo (ký hiệu ldqdt): Là biến định lương, phản ánh lượng LĐ đã qua đào tạo ở tỉnh thành mà người lao động sống tại năm nghiên cứu, đơn vị tính: 1.000 người
2.2.2 Biến đo lường năng suất lao động
Thước đo được sử dụng trong luận văn là thu nhập BQ một tháng do LĐ trong hộ gia đình tạo ra, được tính theo công thức sau:
nsld = 𝑡ℎ𝑢𝑛 ℎ𝑎𝑝
𝑠𝑜𝑙𝑑trong đó, nsld là năng suất lao động cá nhân; thunhap là tổng thu nhập hộ gia đình của người LĐ tạo ra trong một năm và sold là số lượng lao động trong HGĐ Đơn
vị tính: 1.000 đồng/năm
2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu chính để nghiên cứu đề tài được lấy chủ yếu từ dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình 2014
Trang 16Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng thêm các số liệu thứ cấp khác về lao động, tiền lương và giáo dục khác đã được TCTK và các cơ quan hữu quan khác xử
lý, tổng hợp và công bố
2.4 Phương pháp phân tích số liệu
2.4.1 Phân tích thống kê mô tả
Lập bảng tần số, tần suất, giá trị trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất của các biến Lập bảng so sánh chéo
Vẽ biểu đồ, đồ thị mô tả
2.4.2 Phân tích hồi quy đa biến
Mô tả hàm hồi quy đa biến:
ln(nsld) = α + βE +γX + θH + µM +u trong đó, ln(nsld) là biến phụ thuộc cần nghiên cứu; E là biến đo lường giáo dục của
cá nhân LĐ có thể là bằng cấp giáo dục cao nhất, số năm học; X là vector biến đặc điểm của cá nhân lao động gồm độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, ngành nghề, nơi sống, dân tộc của lao động; H là vector biến đặc điểm của hộ gia đình bao gồm
số người phụ thuộc và tài sản của hộ gia đình người lao động; và M là vector biến phản ánh thị trường lao động tại địa phương mà cá nhân làm việc gồm mức tiền lương bình quân và số lao động qua đào tạo tại tỉnh thành mà người lao động sống;
u là biến động ngẫu nhiên
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA GIÁO DỤC TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
3.1 Thực trạng giáo dục đào tạo lao động ở Việt Nam hiện nay
3.1.1 Giới thiệu hệ thống giáo dục của Việt Nam
Hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam hiện gồm có 2 loại hình giáo dục
là giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên
Trong đó, giáo dục chính quy lại được chia thành các bộ phận như sau:
Trang 17Nội dung phần này sẽ trình bày 3 vấn đề lớn về giáo dục đào tạo lao động ở Việt Nam hiện nay gồm:
- Mức giáo dục của các lao động còn thấp
- Cơ cấu đào tạo LĐ còn bất hợp lý
- Chênh lệch trình độ giáo dục của lao động giữa các khu vực, dân tộc 3.2 Phân tích thông kê mô tả
3.2.1 Mô tả mẫu nghiên cứu và các biến sử dụng trong mô hình
Từ mẫu điều tra ban đầu của VHLSS 2014, sau khi lọc ra những người đang
có việc làm và đủ 15 tuổi trở lên (là độ tuổi LĐ hợp pháp), thì mẫu nghiên cứu gồm
có 21.365 quan sát Sử dụng phần mềm STATA, luận văn rút ra được những đặc điểm cơ bản của mẫu nghiên cứu và các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu như giá trị trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất,
3.2.2 Giáo dục với năng suất lao động
Dựa vào việc sử dụng phần mềm tính toán, trong phần này luận văn sẽ trình bày về mối tương quan giữa năng suất lao động với bằng cấp giáo dục cao nhất và
số năm đi học của lao động, để từ đó rút ra được nhận xét chung về tác động của giáo dục tới năng suất của người lao động
3.3 Phân tích hồi quy đa biến
3.3.1 Mô hình hồi quy cơ sở
Trên cơ sở hàm hồi quy đa biến biểu diễn mối quan hệ giữa nhóm biến giáo dục, các nhóm biến kiểm soát khác tới biến phụ thuộc là NSLĐ đã đưa ra ở chương
2, luận văn tiến hành hồi quy 2 mô hình với mô hình 1 sử dụng biến đo lường giáo dục là các biến bằng cấp giáo dục cao nhất của lao động và mô hình 2 sử dụng biến
đo lường giáo dục là số năm đi học của LĐ
Kết quả hồi quy cho thấy dù được đo bằng biến nào đi nữa (bằng cấp giáo dục cao nhất hoặc số năm học) thì giáo dục đều có tác động tích cực tới năng suất của người lao động Việt Nam Kết quả này củng cố thêm dẫn chứng quan trọng cho việc khuyến khích mọi người và gia đình tham gia học tập và đầu tư cho giáo dục
3.3.2 Kiểm định các khuyết tật của mô hình
3.3.2.1 Kiểm định sự phù hợp của mô hình
Kết quả hồi quy cho thấy Prob (F-statistic) của cả 2 mô hình đều bằng 0 và
sẽ nhỏ hơn mức ý nghĩa α, ta bác bỏ H0, chấp nhận H1, tức là cả 2 mô hình có phù hợp Như vậy kết luận đưa ra là 2 mô hình hồi quy có phù hợp
3.3.2.2 Hiện tượng đa cộng tuyến
Trang 18Để kiểm tra mức độ đa cộng tuyến của 2 mô hình, luận văn sẽ sử dụng 2 phương pháp là nhân tố phóng đại phương sai (VIF) và ma trận tương quan Pearson Kết quả của 2 phương pháp này đều cho thầy mô hình có mức độ đa cộng tuyến không cao
3.3.3 Các mô hình hồi quy mở rộng
Để tìm hiểu sâu hơn tác động của giáo dục tới năng suất của người LĐ theo những đặc điểm của người LĐ, dựa trên mô hình hồi quy 2, tác giả sẽ bổ sung thêm một số các biến tương tác khác và tiến hành hồi quy các mô hình mới này, các biến tương tác được bổ sung gồm có snhoc×gtnam (phản ánh số năm đi học của LĐ nam); snhoc×ng2 và snhoc×ng3 (phản ánh số năm đi học của LĐ làm nghề SX DV nông nghiệp và của LĐ làm nghề SX DV khác); snhoc×tt (phản ánh số năm đi học của LĐ sống ở khu vực thành thị); snhoc×dtkinh (phản ánh số năm đi học của LĐ là người dân
tộc Kinh)
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH VÀ
KHUYẾN NGHỊ
4.1 Những kết quả nghiên cứu chính
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả cho thấy lao động có bằng cấp giáo dục cao hơn thì cũng có NSLĐ cao hơn Với số năm đi học, mối quan hệ thuận chiều giữa số năm đi học và năng suất lao động chưa được thể hiện rõ đối với những lao động chỉ có từ 0 - 10 năm đi học, mối quan hệ này chỉ được thể hiện với những lao động có từ 10 năm đi học trở lên và rõ nhất là khi lao động có số năm đi học từ 15 năm trở lên
Về phương pháp hồi quy đa biến OLS, luận văn đã tiến hành hồi quy 2 mô hình với biến giáo dục được sử dụng trong mô hình 1 là bằng cấp giáo dục cao nhất của lao động và mô hình 2 là số năm đi học của lao động Với mô hình 1 sử dụng biến đo lường giáo dục là bằng cấp giáo dục cao nhất của lao động, kết quả hồi quy cho thấy thấy lao động có bằng cấp giáo dục cao nhất càng cao thì sẽ có NSLĐ lớn hơn Với mô hình 2, kết quả hồi quy cho thấy nếu tăng số năm đi học của lao động thêm một năm với điều kiện các yếu tố khác không đổi thì năng suất lao động sẽ tăng 3,72%
Trên cơ sở mô hình hồi quy với biến giáo dục là số năm đi học của lao động, luận văn cũng đã tiến hành hôi quy các mô hình mở rộng với việc bổ sung thêm các biến tương tác giữa số năm đi học và giới tính, ngành nghề, nơi sống, dân tộc của
Trang 19lao động Kết quả hồi quy cho thấy xét theo yếu tố giới tính, không có sự khác biệt
về tăng năng suất khi tăng số năm đi học của cả 2 giới; theo yếu tố ngành nghề, tăng
số năm đi học của LĐ sẽ có tác động lớn nhất tới LĐ làm công ăn lương; theo yếu
tố nơi sống, tăng số năm đi học sẽ có tác động mạnh hơn tới NS của LĐ sống ở thành thị; và theo yếu tố dân tộc, tăng số năm đi học sẽ có tác động mạnh hơn tới
NS của LĐ là người dân tộc khác
4.2 Những khuyến nghị về giáo dục để nâng cao năng suất lao động tại Việt Nam
Trong phần này, luận văn sẽ đưa ra 5 khuyến nghị sau:
- Trước hết là nâng cao trình độ giáo dục của cá nhân người lao động
- Thứ hai, cần đầu tư hơn cho giáo dục lao động làm việc trong khu vực
còn có năng suát lao động thấp
- Thứ ba, khuyến khích đầu tư cho giáo dục cho lao động nữ
- Thứ tư, giảm chênh lệch về trình độ giáo dục giữa các khu vực và giữa
các dân tộc, giúp các lao động này tiếp cận với giáo dục dễ dàng hơn
- Thứ năm, tăng cường công tác giáo dục hướng nghiệp
KẾT LUẬN
Ảnh hưởng của giáo dục và năng suất lao động từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, các nghiên cứu đều đã đưa ra kết luận là giáo dục có sự tác động tích cực tới năng suất của người lao động Xuất phát từ mong muốn giúp tìm được giải pháp nâng cao năng suất của người LĐ, nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu nhằm làm rõ được tác động của giáo dục tới NSLĐ tại Việt Nam, làm cơ sở đề ra những khuyến nghị về giáo dục để nâng cao năng suất lao động
Dựa trên cơ sở lý thuyết của những nghiên cứu trước đây, tác giả đã đề xuất
mô hình nghiên cứu với 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng tới năng suất của người LĐ gồm: nhóm yếu tố giáo dục là nhóm yếu tố nghiên cứu chính và các nhóm yếu tố đặc điểm của người LĐ, hộ gia đình và thị trường lao động
Từ số liệu của VHLSS 2014 và những số liệu có liên quan khác, tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả và hồi quy đa biến, với biến đo lường giáo dục được sử dụng là bằng cấp giáo dục cao nhất và số năm đi học của lao động Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ thuận chiều giữa các biến giáo dục và năng suất lao động cá nhân, qua đó phản ánh giáo dục có ảnh hưởng tích cực đến năng suất lao động Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có một số tồn tại về giáo dục đã
Trang 20làm hạn chế năng suất của người lao động Từ đó, tác giả đã tìm nguyên nhân của những tồn tại này và đưa ra những khuyến nghị về giáo dục để có thế nâng cao NSLĐ tại Việt Nam
Do hạn chế về thời gian và nguồn số liệu, luận văn không tránh khỏi những hạn chế nhất định sau: Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới năng suất của người LĐ bên cạnh nhưng yếu tố kể trên, như yếu tố liên quan đến môi trường làm việc, hay ý thức của lao động nhưng do việc thu thập số liệu còn khó khăn nên trong luận văn chưa phân tích được tác động của những yếu tố này; các biến đo lường giáo dục được sử dụng trong luận văn mang tính số lượng nhiều hơn là chất lượng nên việc đánh giá tác động của giáo dục đến NSLĐ chưa thể nghiên cứu đi sâu hơn được vào chất lượng của từng bậc học giáo dục hiện nay ở Việt Nam có ảnh hưởng như thế nào đến NSLĐ; việc đo lường NSLĐ cá nhân bằng thước đo thu nhập bình quân do lao động trong hộ gia đình tạo ra có nhược điểm là đã san bằng sự chênh lệch năng suất giữa các lao động trong hộ nên việc đo lường năng suất sẽ có sai lệch
Một số hướng nghiên cứu tiếp theo có thể triển khai từ kết quả nghiên cứu của luận văn như có thể bổ sung thêm các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất của người
LĐ như yếu tố môi trường làm việc, ; về nhóm yếu tố giáo dục có thể bổ sung thêm các biến đo lường như người lao động có làm việc đúng chuyên ngành mình đào tạo không hay mức độ hài lòng với kết quả đào tạo của người lao động, ; lựa chọn thang đo năng suất lao động cá nhân tốt hơn
Trang 21LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Năng suất lao động là chỉ tiêu quan trọng trong kinh tế, phản ánh năng lực và hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất Ở tầm vĩ mô, năng suất lao động là chỉ tiêu đầu tiên để xác định mức độ phát triển của một quốc gia, quốc gia nào có được NSLĐ cao đồng nghĩa với việc quốc gia đấy có khả năng cạnh tranh, thu nhập của người dân cao hơn so với các quốc gia có năng suất thấp hơn Ở cấp độ doanh nghiệp, muốn hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận, các doanh nghiệp phải tìm cách thức để cải thiện năng suất của mình Đối với mỗi cá nhân, đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng lao động sản xuất của từng người, qua đó tác động trực tiếp tới thu nhập và mức sống của người lao động
Có rất nhiều yếu tố tác động tới NSLĐ, trong đó một yếu tố đã được nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm quan tâm từ lâu đó chính là giáo dục Có thể xem giáo dục là một yếu tố sản xuất, đóng góp tới sự gia tăng năng suất lao động Nhờ có giáo dục, người lao động có thể mở rộng, nâng cao được các kiến thức, kỹ năng chuyên môn cho hoạt động kinh tế và có được tinh thần thái độ trách nhiệm cao trong công việc Ngoài ra, giáo dục còn giúp tăng khả năng sáng tạo của từng cá nhân và giúp việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất được
dễ dàng hơn Từ đó, ta có thể thấy được tác động to lớn của giáo dục tới năng suất của từng cá nhân lao động, nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ đang diễn ra trên toàn thế giới
Trải qua công cuộc đổi mới, từ một nước nghèo nàn lạc hậu, Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc và đạt được nhiều thành tựu quan trọng về KTXH như duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, mức sống người dân được cải thiện Tuy nhiên bên cạnh đó, một vấn đề lớn mà nước ta đang phải đối mặt đó là năng suất của người lao động còn thấp, trong khu vực Đông Nam Á, NSLĐ của Việt Nam chỉ cao hơn các nước Lào, Campuchia, Myanmar và còn kém xa so với các nước như Singapore, Thái Lan, Malaysia Một trong những nguyên nhân dẫn đến vấn đề này xuất phát từ việc giáo dục đào tạo lao động ở nước ta còn nhiều hạn chế, khiến cho trình độ của lực lượng lao động chưa cao Theo số liệu năm 2014 của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của Việt Nam chỉ đạt 18,6%, điều này đã hạn chế khả năng cải thiện năng suất của người
Trang 22lao động Để giải quyết vấn đề này, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính sách, bao gồm cả giáo dục, tuy nhiên do nguồn lực có hạn nên hiệu quả của những chính sách này chưa được như kỳ vọng Do đó, đòi hỏi cần phải có những nghiên cứu cụ thể về tác động của giáo dục tới NSLĐ tại Việt Nam, từ đó có những giải pháp về giáo dục phù hợp, hướng tới việc nâng cao năng suất của người lao động
Từ lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu tác động của giáo dục tới năng suất lao động ở Việt Nam” cho luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài là nghiên cứu tác động của giáo dục tới năng suất của người lao động ở Việt Nam Dựa trên kết quả nghiên cứu thu được, luận văn sẽ có những đề xuất nhằm nâng cao hơn nữa năng suất của người lao động
ở Việt Nam
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn sẽ trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
- Về lý thuyết, giáo dục có tác động như thế nào đến năng suất lao động?
- Đo lường giáo dục và năng suất lao động như thế nào?
- Tác động của giáo dục tới năng suất của người lao động ở Việt Nam như thế nào? Chiều hướng, mức độ tác động như thế nào?
- Có thể đưa ra những khuyến nghị nào về giáo dục để giúp tăng năng suất
của người lao động ở Việt Nam?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các tác động của giáo dục tới năng suất lao động Cụ thể hơn luận văn sẽ nghiên cứu sự khác biệt giữa trình độ giáo dục và số năm đi học của lao động có ảnh hưởng như thế nào tới năng suất của
cá nhân người lao động
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề trên tại Việt Nam Số liệu được sử dụng để nghiên cứu đề tài chủ yếu lấy từ số liệu điều tra khảo sát mức sống
hộ gia đình VHLSS năm 2014 do Tổng cục Thống kê tiến hành và các nguồn số liệu
có liên quan khác được tổng hợp, công bố trong thời gian gần đây
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu trong kinh tế xã hội,
Trang 23cụ thể phương pháp nghiên cứu được sử dụng để nghiên cứu đề tài gồm có:
Phương pháp nghiên cứu tại bàn
Bằng việc tận dụng mạng lưới internet cùng với các tài liệu liên quan tới giáo dục, năng suất lao động và tác động của giáo dục tới NSLĐ, luận văn nghiên cứu sắp xếp tài liệu một cách có hệ thống để phân tích, mô tả các nội dung liên quan Việc nghiên cứu tại bàn giúp hiểu thêm về vấn đề nghiên cứu, tổng quan nghiên cứu, giúp xây dựng mô hình và hiểu thêm lý do đằng sau tác động của giáo dục tới năng suất của người lao động
Phương pháp nghiên cứu định lượng
Luận văn sẽ sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả và hồi quy đa biến để đạt được mục tiêu nghiên cứu Dựa trên số liệu thu thập được từ Điều tra khảo sát mức sống hộ gia đình ở Việt Nam tiến hành năm 2014 và các số liệu có liên quan khác, phương pháp phân tích thống kê mô tả và hồi quy đa biến được sử dụng nhằm mô tả về đối tượng nghiên cứu và đánh giá tác động từ các yếu tố giáo dục tới NSLĐ tại Việt Nam Kết quả thu được cho phép hiểu hơn tác động của giáo dục tới năng suất của người lao động Việt Nam, cung cấp các dẫn chứng thực nghiệm về mối quan hệ này
Nội dung cụ thể của những phương pháp nghiên cứu nói trên sẽ được trình bày cụ thể hơn tại chương 2 của luận văn
5 Kết cấu của luận văn
Nội dung chính của luận văn gồm có 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết nghiên cứu tác động của giáo dục tới năng
suất lao động
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả thực nghiệm phân tích tác động của giáo dục tới năng
suất lao động
- Chương 4: Một số kết quả nghiên cứu chính và khuyến nghị
Trang 24CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA GIÁO DỤC TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
1.1 Cơ sở lý thuyết về năng suất lao động
1.1.1 Khái niệm về năng suất lao động
Khái niệm năng suất Theo khái niệm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế (OECD), năng suất là “thước đo mức độ hiệu quả của các hoạt động tạo kết quả đầu ra (số lượng sản phẩm, giá trị) từ các yếu tố đầu vào (lao động, vốn, nguyên liệu,…), được xác định bằng tỷ số giữa sản lượng đầu ra với số lượng đầu vào” Có 2 nhóm chỉ tiêu năng suất như sau: năng suất tính theo từng yếu tố đầu vào và năng suất yếu tố tổng hợp Năng suất tính theo từng yếu tố đầu vào (Factor Productivity) là nhóm chỉ tiêu năng suất phản ảnh hiệu quả sản xuất tùy theo từng yếu tố đầu vào, bao gồm các loại NSLĐ, năng suất vốn, Năng suất yếu tố tổng hợp (Total Factor Productivity - TFP) phản ánh sự thay đổi sản lượng đầu ra trên một tập hợp yếu tố đầu vào được kết hợp với nhau trong quá trình sản xuất bao gồm cả các yếu tố như kiến thức kỹ năng lao động, kỹ năng quản lý, thiết bị công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Khái niệm lao động LĐ là một hoạt động của con người với mục đích
chuyển đổi các nguồn lực đầu vào thành sản phẩm cần thiết cho đời sống, vì vậy lao động có thể nói là một trong những hoạt động quan trọng nhất trong đời sống con người, người lao động là chủ thể của hoạt động lao động Một khái niệm có liên quan đến lao động là lực lượng lao động (LLLĐ) Theo khái niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), “LLLĐ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định (15 tuổi trở lên), thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm” Trong LLLĐ, lao động đang có việc làm là bộ phận chiếm tỷ lệ lớn nhất, được định nghĩa là “những người trên 15 tuổi mà trong một khoảng thời gian ngắn nhất định (thường là 1 tuần hoặc 7 ngày), có tham gia vào một hoạt động sản xuất ra hàng hóa hoặc cung cấp dịch
vụ để được trả lương hoặc một việc tự kinh doanh để kiếm lợi nhuận; hiểu theo
Trang 25cách khác, đó là những người làm việc ở một công việc được trả lương hoặc một
việc tự kinh doanh”
Từ hai khái niệm về năng suất và lao động nói trên, ta có thể rút ra được khái niệm về năng suất lao động, NSLĐ là một chỉ tiêu năng suất tính theo từng yếu tố đầu vào, phản ánh khả năng sản xuất tạo ra của cải hay hiệu suất của một LĐ cụ thể trong quá trình SX, có thể được đo bằng lượng sản phẩm hoặc giá trị tạo ra trong một đơn vị thời gian nhất định hay được đo bằng lượng thời gian lao động cần thiết
để sản xuất ra một đơn vị SP
1.1.2 Phân loại, đo lường năng suất lao động
Như định nghĩa nêu trên, NSLĐ được tính theo công chung như sau:
Năng suất lao động (NSLĐ) = Đầ𝑢 𝑟𝑎 (𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị ℎ𝑜ặ𝑐 𝑠ả𝑛 𝑙ượ𝑛𝑔 )
𝐿ượ𝑛𝑔 𝐿Đ ℎ𝑎𝑜 𝑝ℎíđầu ra ở đây được xác định bằng lượng sản phẩm hay lượng giá trị tạo ra; còn lượng lao động hao phí được đo bằng đơn vị như số lượng lao động hoặc thời gian lao động như giờ, ngày công,… Tuy nhiên, tùy theo cách phân loại mà NSLĐ có những cách tính cụ thể khác nhau
- Nếu phân loại theo phạm vi tính, năng suất lao động bao gồm năng suất
lao động cá nhân (NSLĐCN) và năng suất lao động xã hội (NSLĐXH)
NSLĐCN là loại năng suất lao động được tính trong phạm vi một đơn vị kinh tế như các doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình Công thức tính:
NSLĐCN = 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị ℎ𝑜ặ𝑐 𝑠ố 𝑠ả𝑛 𝑝ℎẩ𝑚 𝑑𝑜 Đ𝑉𝐾𝑇 𝑡ạ𝑜 𝑟𝑎
𝐿ượ𝑛𝑔 𝑙𝑎𝑜 độ𝑛𝑔 ℎ𝑎𝑜 𝑝ℎí 𝑐ủ𝑎 Đ𝑉𝐾𝑇NSLĐXH là loại năng suất lao động được tính ở phạm vi quốc gia Ở Việt Nam, theo cách tính được nêu trong Hệ thống chỉ tiêu thống kế quốc gia, NSLĐXH được tính bằng GDP bình quân trên một lao động trong thời kỳ tham chiếu, thường
là trong một năm Công thức tính:
NSLĐXH = 𝑇ố𝑛𝑔 𝑠ả𝑛 𝑝ℎâ𝑚 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑛ướ𝑐 (𝐺𝐷𝑃 )
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝑛𝑔 ườ𝑖 𝑙à𝑚 𝑣𝑖ệ𝑐 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢 â𝑛
Trang 26Trong đó, GDP được tính theo quy định trong Hệ thống tài khoản quốc gia, còn tổng số người đang làm việc tính theo khuyến nghị của ILO
- Nếu phân loại theo ngành, NSLĐ được chia thành NSLĐ ngành nông
lâm nghiệp thủy sản, ngành công nghiệp xây dựng và ngành dịch vụ Còn nếu phân loại theo thành phần kinh tế (TPKT), năng suất lao động bao gồm NSLĐ của TPKT Nhà nước, TPKT ngoài Nhà nước và TPKT có vốn đầu tư nước ngoài Công thức tính:
NSLĐ tính bằng hiện vật = 𝑇ố𝑛𝑔 𝑠ả𝑛 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑡ạ𝑜 𝑟𝑎
𝐿ượ𝑛𝑔 𝑙𝑎𝑜 độ𝑛𝑔 ℎ𝑎𝑜 𝑝ℎíNSLĐ tính bằng hiện vật chủ yếu được dùng ở tầm vi mô trong các doanh nghiệp, nhà máy sản xuất,…
NSLĐ tính bằng giá trị cho biết lượng giá trị mà một đơn vị lao động tạo ra trong một thời gian nhất định, tính bằng đơn vị như USD/người, triệu đồng/tháng,… Công thức tính:
NSLĐ tính bằng giá trị = 𝑇ố𝑛𝑔 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡ạ𝑜 𝑟𝑎
𝐿ượ𝑛𝑔 𝑙𝑎𝑜 độ𝑛𝑔 ℎ𝑎𝑜 𝑝ℎí
Trang 27Hình 1.1: Phân loại năng suất lao động
1.1.3 Vai trò của năng suất lao động
Năng suất lao động là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của hoạt động sản xuất, việc đo lường NSLĐ có ý nghĩa quan trọng ở cả tầm vi mô (đối với cá nhân lao động và doanh nghiệp, đơn vị sản xuất) và tầm vĩ mô (đối với quốc gia)
Đối với mỗi cá nhân lao động, năng suất lao động là nhân tố quyết định tiền lương và thu nhập của người LĐ NSLĐ là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả làm việc của
LĐ, trong khi đó tiền lương là khoản thu nhập mà người lao động nhận được theo hợp động cho công việc mình đang làm Do đó, bản chất mối quan hệ giữa năng suất và tiền lương là mối quan hệ giữa cái làm ra và cái được hưởng hay mở rộng ra
là giữa sản xuất và tiêu dùng Một lao động có NSLĐ cao thì sẽ có mức tiền lương cao, từ đó người lao động có thể đảm bảo và nâng cao được đời sống của bản thân
NSLĐ ngành dịch vụ NSLĐ của TPKT Nhà nước NSLĐ của TPKT ngoài NN
NSLĐ tính bằng hiện vật NSLĐ tính bằng giá trị NSLĐ cá nhân
NSLĐ TPKT có VĐT nước ngoài
Trang 28và gia đình, điều này có thế có tác động ngược trở lại là tăng năng suất của người lao động
Đối với các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất, việc năng suất lao động thay đổi
có những ý nghĩa phản ánh hiệu quả sản xuất Về phương diện kỹ thuật, “hiệu quả sản xuất được hiểu là với một quy trình sản xuất có thể tạo được mức sản lượng tối
đa từ công nghệ hiện có và trong điều kiện lượng đầu vào cố định” (Diewert và Lawrence, 1999) Do vậy, việc tăng hiệu quả sản xuất là sự hướng tới "thực hiện tốt nhất" hoặc hướng tới việc loại bỏ các phương thức kỹ thuật và cách thức tổ chức sản xuất không hiệu quả Thông qua theo dõi đánh giá NSLĐ của một đơn vị sản xuất, ta có thể biết được nguyên nhân hiệu quả sản xuất tăng lên là do các bộ phận trong hãng hoạt động có hiệu quả hơn hay là do tác động từ các yếu tố khác, hoặc ta
có thể đánh giá được chuẩn quy trình sản xuất, so sánh NSLĐ giữa những quy trình sản xuất cụ thể có thể giúp xác định được đâu là công đoạn hiệu quả hoặc thiếu hiệu quả Ngoài ra, sự thay đổi về NSLĐ còn phản ánh sự thay đổi về công nghệ sản xuất trong doanh nghiệp, đơn vị sản xuất Một trong những mục tiêu thường được nhắc đến khi đo lường NSLĐ là để theo dõi sự thay đổi về công nghệ Công nghệ được mô
tả là “những phương pháp hiện được biết đến của việc chuyển đổi những nguồn lực thành các đầu ra mong muốn của nền kinh tế" (Griliches, 1987) và có thể biểu hiện dưới dạng vô hình (như bản thiết kế mới, kết quả nghiên cứu khoa học, kỹ thuật tổ chức mới) hoặc hữu hình thông qua những sản phẩm mới (tiến bộ trong thiết kế và chất lượng)
Ở tầm vĩ mô, thông qua đo lường năng suất lao động, ta có thể đánh giá được trình độ phát triển của quốc gia Một quốc gia có năng suất lao động cao thì quốc gia đó sẽ có lợi thế về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị; ngoài ra, chất lượng cuộc sống người dân của quốc gia đó cũng được đảm bảo “Năng suất không phải tất cả mọi thứ, nhưng trong dài hạn nó gần như là tất cả mọi thứ Một quốc gia có thể cải thiện chất lượng cuộc sống người dân của mình gần như phụ thuộc hết vào việc quốc gia đó khả năng tăng được sản lượng đầu ra trên mỗi lao động” (Paul Krugman, 1994)
Trang 291.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất lao động
NSLĐ chịu tác động bởi nhiều yếu tố như trình độ, kinh nghiệm làm việc của người lao động, quy mô và tính hiệu quả của quá trình sản xuất, trình độ phát triển khoa học và ứng dụng công nghệ, các điều kiện tự nhiên xã hội,… Trong phần này
sẽ chỉ tập trung vào bốn nhóm yếu tố ảnh hưởng chính nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận văn gồm có nhóm các yếu tố liên quan tới giáo dục, đặc điểm cá nhân người LĐ, hộ gia đình và thị trường lao động
1.1.4.1 Nhóm yếu tố liên quan tới giáo dục
Giáo dục có tác động rất lớn tới năng suất lao động thông qua việc giáo dục đào tạo ra nguồn nhân lực cho hoạt động kinh tế, sản xuất Nhờ có giáo dục, người lao động sẽ có được những kiến thức, kỹ năng cần thiết để phục vụ cho công việc của mình Từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu về vai trò của giáo dục đối với năng suất lao động, những nghiên cứu này đều khẳng định giáo dục có tác động tích cực tới NSLĐ thông qua nghiên cứu và sử dụng các thước đo giáo dục như trình độ
GD, số năm đi học của LĐ Mối quan hệ giữa nhóm yếu tố giáo dục và năng suất lao động và các nghiên cứu có liên quan sẽ được trình bày cụ thể hơn tại mục 1.2 và mục 1.3
1.1.4.2 Nhóm yếu tố liên quan tới đặc điểm cá nhân người lao động
Bên cạnh nhóm yếu tố giáo dục, đây cũng là nhóm yếu tố quan trọng có tác động trực tiếp tới năng suất của người LĐ, những yếu tố này có thể là tuổi, giới tính, nghề nghiệp,… của người lao động
Yếu tố tuổi: NSLĐ có thể thay đổi tùy theo độ tuổi của người lao động Đối
với lao động còn trẻ, NSLĐ sẽ tăng dần theo độ tuổi của người lao động đến một ngưỡng nhất định do việc tích lũy kinh nghiệm làm việc và nâng cao các kiến thức nghề nghiệp nhất định Còn đối với những LĐ lớn tuổi, do khả năng tiếp thu và sức khỏe của người lao động bị suy giảm theo tuổi tác khiến cho hiệu quả của người lao động giảm, làm NSLĐ cũng giảm theo Theo nghiên cứu của Gelderblom & de
Trang 30Koning (2002), năng suất cá nhân của lao động sẽ lớn nhất khi lao động ở độ tuổi 40-50 và sẽ giảm đi sau đấy
Yếu tố giới tính: Giới tính là yếu tố đã được xem xét từ lâu khi nghiên cứu
năng suất của người LĐ, trong đó các nghiên cứu đã chỉ ra lao động nữ thường có năng suất lao động thấp hơn so với LĐ nam Nguyên nhân thường là do các hình thức bất bình đẳng giới (Fox, 2001), do nữ giới thường gặp nhiều bất lợi về tiền lương hoặc thăng tiến trong công việc (Xie và Shauman,1998), hay lao động nữ do còn phải lo các công việc gia đình nên có xu hướng chọn những công việc có thể tùy chỉnh được thời gian làm việc hay những việc mà họ có thể dễ dàng tham gia hoặc rút khỏi thị trường lao động, trong khi đây lại là những công việc có năng suất lao động thấp (Ngân hàng Thế giới, Báo cáo Phát triển Thế giới 2012)
Yếu tố hôn nhân: Các nghiên cứu của Becker (1974), Korenman và Neumark
(1991) đã đưa ra kết luận là người lao động đã kết hôn sẽ có NSLĐ cao hơn so với lao động chưa kết hôn Điều này được giải thích bởi lý do chính là người lao động
đã kết hôn có sự chia sẻ việc gia đình với người chồng hoặc vợ của mình, do đó, người lao động sẽ tập trung hơn vào chuyên môn công việc, dẫn đến sẽ có NSLĐ cao hơn, điều này thể hiện rõ nhất đối với lao động nam
Yếu tố ngành nghề: Năng suất lao động của mỗi ngành nghề sẽ có sự khác
biệt nhất định, lao động thuộc ngành nông nghiệp sẽ có NSLĐ thấp hơn so với lao động thuộc ngành dịch vụ và công nghiệp Vì ngành dịch vụ và công nghiệp là những ngành tập trung nhiều lao động có trình độ cao, tạo ra giá trị gia tăng lớn nên
sẽ có NSLĐ cao hơn so với ngành nông nghiệp
Yếu tố khu vực sinh sống: Những lao động thuộc khu vực thành thị thường sẽ
có NSLĐ cao hơn so với lao động ở nông thôn Nguyên nhân là lao động thuộc khu vực thành thị thường làm trong ngành công nghiệp và dịch vụ, là những ngành có NSLĐ cao, trong khi LĐ ở khu vực nông thôn thường chủ yếu làm trong ngành nông nghiệp, là ngành có NSLĐ thấp hơn
Yếu tố dân tộc: Những lao động thuộc các dân tộc thiểu số thường sẽ có
NSLĐ thấp hơn Nguyên nhân do những lao động này thường tập trung sống ở
Trang 31những nơi có điều kiện khó khăn về KTXH, không trải qua quá trình đào tạo đầy đủ nên sẽ thiếu những kỹ năng lao động chuyên sâu và chỉ có thể làm những nghề giản đơn, không quá phức tạp như nông nghiệp, thủ công truyền thống Do đó, những lao động là người thuộc các dân tộc thiểu số sẽ có NSLĐ thấp hơn so với mặt bằng chung xã hội
1.1.4.3 Nhóm yếu tố liên quan tới hộ gia đình
Hộ gia đình có ảnh hưởng tới năng suất lao động thông qua việc hộ gia đình
là nơi mà người lao động sinh sống, người lao động tạo ra thu nhập không chỉ để sử dụng cho bản thân mà còn để nuôi sống những thành viên khác trong hộ gia đình Nhóm yếu tố liên quan tới hộ gia đình xem xét ở đây gồm số người phụ thuộc và mức sống của hộ
Số người phụ thuộc trong gia đình: Hộ gia đình thường bao gồm những người
đang lao động và những người phụ thuộc trong gia đình Những người đang lao động
là những người hiện đang đi làm và đem lại thu nhập cho hộ còn những người phụ thuộc là những người trong hộ gia đình không có khả năng đem lại thu nhập cho hộ gồm những người làm nội trợ, hoặc chưa đủ tuổi lao động, hoặc không còn khả năng lao động Nếu số người phụ thuộc trong gia đình càng lớn, người lao động sẽ phải bỏ nhiều thu nhập mà mình kiếm được hơn để trang trải cuộc sống của hộ gia đình, điều này đồng nghĩa với việc phần thu nhập có thể được dùng để chi cho mục đích giáo dục,
y tế nhằm nâng cao khả năng chuyên môn, nâng cao sức khỏe của người lao động bị giảm đi, điều này sẽ làm cho năng suất lao động khó có thể cải thiện được, thậm chí trong một số trường hợp NSLĐ còn có xu hướng giảm đi
Mức sống của hộ gia đình: Có thể được phản ánh thông qua tổng thu nhập
của hộ hay là số tài sản mà hộ sở hữu Mức sống của hộ có mối quan hệ thuận chiều tới người lao động, vì khi mức sống của hộ càng cao thì người LĐ sẽ có khả năng tiếp cận các dịch vụ giáo dục, y tế,… tốt hơn, qua đó người lao động sẽ cải thiện được kiến thức, kỹ năng và thể lực của bản thân, từ đó nâng cao được NSLĐ
Trang 321.1.4.4 Nhóm yếu tố liên quan tới thị trường lao động
Thị trường lao động cũng có ảnh hưởng quan trọng tới NSLĐ, người LĐ khi tham gia vào thị trường LĐ cũng bị chi phối bởi các yếu tố trên thị trường như cung cầu, tiền lương
Yếu tố tiền lương: Tiền lương và NSLĐ có mối quan hệ tỷ lệ thuận và phụ
thuộc lẫn nhau Để giải thích tác động của tiền lương đến NSLĐ, các nhà kinh tế học thuộc trường phái tân cổ điển đã đưa ra lý thuyết tiền lương hiệu quả Lý thuyết này đã giải thích vì sao các người chủ doanh nghiệp thường có xu hướng trả tiền lương cho lao động ở mức cao hơn cân bằng của thị trường lao động để làm tăng năng suất của người LĐ, dựa trên những lý do sau: với tiền lương cao, người LĐ sẽ có chế độ dinh dưỡng tốt hơn và sẽ có sức khỏe tốt hơn; làm tăng nỗ lực của người lao động, ngăn ngừa sự lười biếng; giữ chân lao động giỏi để họ không sang doanh nghiệp khác, nâng cao chất lượng lao động của doanh nghiệp; giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuyển dụng mới
Môi trường lao động: Người LĐ có thể có NSLĐ cao hơn trong một môi
trường có mức vốn con người cao, đây là do tác động của hiệu ứng ngoại sinh của vốn con người (Laroche và cộng sự, 1999) Tác động này đã giải thích cho nguyên nhân hình thành và vai trò quan trọng của những trung tâm vốn con người cao như các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu đối với sự phát triển và tiến bộ của công nghệ và tăng trưởng kinh tế Do đó, khi tỷ lệ LĐ đã qua đào tạo trên thị trường lao động tăng sẽ có tác động lan tỏa, làm NSLĐ của mỗi cá nhân cũng sẽ tăng theo
1.2 Cơ sở lý thuyết về giáo dục
1.2.1 Định nghĩa về giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, đã tồn tại và phát triển cùng với lịch sử loài người Ban đầu, giáo dục được thực hiện một cách giản đơn, trực tiếp cuộc sống hàng ngày, khi xã hội ngày càng phát triển, các loại hình hoạt động XH được
mở rộng, lượng kiến thức kinh nghiệm mà con người tiếp thu được ngày càng nhiều thì giáo dục cũng phải có những thay đổi phù hợp, hình thành phương thức giáo dục
Trang 33gián tiếp thông qua trường lớp, được thực hiện một cách chuyên biệt, để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội
Từ trước đến nay, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về giáo dục Theo nghĩa Hán Việt, từ giáo dục gồm 2 chữ giáo (với ý nghĩa là dạy dỗ, chỉ bảo) và chữ dục (với ý nghĩa là chăm sóc, nuôi nấng); từ đó giáo dục có nghĩa là chỉ bảo, dạy dỗ, chăm sóc, giáo dục không chỉ diễn ta hành động dạy học, mà còn chứa đựng cả sự quan tâm chăm sóc trong đó Trong tiếng Anh, từ giáo dục là “education” có gốc từ Latin là từ “educere”, nghĩa là làm bộc lộ ra, khơi gợi những khả năng tiềm ẩn của mỗi con người, theo nghĩa này mục tiêu của GD là giúp con người vượt ra khỏi những giới hạn của bản thân và hướng tới sự hoàn thiện Chuyên gia giáo dục nổi tiếng người Mỹ Dewey (1944) đã định nghĩa về giáo dục như sau: “Giáo dục là quá trình học tập, hoặc tiếp thu những kiến thức, kỹ năng, giá trị, niềm tin và tập quán; các phương thức của giáo dục bao gồm thảo luận, giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu trực tiếp; giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của giáo viên hoặc dưới hình thức tự học” Theo quan điểm này, giáo dục là hình thức truyền đạt những kiến thức
để đảm bảo XH loài người tồn tại, phát triển
Giáo dục học đã đưa ra định nghĩa cụ thể và đầy đủ hơn về giáo dục GD về bản chất là quá trình truyền đạt những kinh nghiệm, kiến thức của thế hệ trước cho các thế hệ sau, còn về hoạt động, GD là quá trình tác động, trang bị cho các đối tượng giáo dục những kiến thức và hoàn thiện nhân cách con người Theo khái niệm của giáo dục học, giáo dục được chia làm bốn cấp độ từ rộng đến hẹp Ở cấp độ rộng nhất, GD là quá trình xã hội hoá con người, nhân cách con người của các cá nhân được hình thành dưới ảnh hưởng của tác động chủ quan và khách quan của hoàn cảnh xã hội Ở cấp độ thứ hai, GD có thể được hiểu là hoạt động có mục đích của xã hội, với sự tham gia của nhiều lực lượng giáo dục, tác động có hệ thống đến con người Ở cấp độ tiếp theo, GD là quá trình sư phạm, thông qua các phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong nhà trường tác động có kế hoạch tới người học nhằm giúp người học phát triển trí tuệ và hoàn thiện phẩm chất nhân
Trang 34cách Ở cấp độ hẹp nhất, giáo dục là quá trình bồi dưỡng, hình thành các phẩm chất
cụ thể, thông qua các hoạt động đời sống giao lưu
Các định nghĩa trên tuy có khác nhau về nội dung cụ thể, tuy nhiên có điểm chung đều coi giáo dục là hoạt động có mục tiêu hướng tới hoàn thiện bản thân con người thông qua việc truyền đạt kiến thức, hiểu biết của các thế hệ trước cho các thế
hệ sau GD đã trở thành một trong các yếu tố cơ bản để xã hội loài người có thể tồn tại và phát triển
có mục tiêu là trang bị cho người học những kiến thức, hiểu biết cơ bản về các lĩnh vực khoa học tự nhiên, xã hội, ngoài ra giáo dục trung học còn có nhiệm vụ hướng nghiệp để theo các bậc học cao hơn hoặc tham gia vào hoạt động lao động Giáo dục đại học là giai đoạn giáo dục không bắt buộc, diễn ra tại các trường đại học, học viện, cao đẳng; gồm các bậc học là cao đẳng, đại học và sau đại học, có mục tiêu chính là đào tạo ra những người có kỹ năng, kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực
cụ thể để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội GD nghề là loại hình giáo dục
có trọng tâm hướng vào việc đào tạo thực hành trực tiếp một nghề cụ thể tại các trường dạy nghề
Trang 35GD không chính quy là loại hình GD ít phổ biến hơn, người học có thể tăng cường những kiến thức, kỹ năng, mà không thông qua hệ thống trường lớp tiêu chuẩn, có thể diễn ra dưới nhiều hình thức như tự học, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm,…
1.2.3 Vai trò của giáo dục
Theo giáo dục học, giáo dục có 3 vai trò sau là vai trò kinh tế - sản xuất, vai trò chính trị - xã hội và vai trò tư tưởng - văn hóa
1.2.3.1 Vai trò kinh tế - sản xuất
Đây là vai trò quan trọng nhất của giáo dục Để xã hội có thể tồn tại và phát triển, những thế hệ đi trước cần truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm, tri thức để tham gia vào các hoạt động KTXH, điều này chỉ có thể thực hiện được thông qua giáo dục Giáo dục giúp đào tạo ra nguồn nhận lực có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt, có ý thức kỷ luật cao, do đó, có thể thấy, giáo dục không chỉ tạo
ra nguồn LĐ để thay thế cho lượng LĐ cũ bị mất đi, mà còn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, qua đó làm tăng NSLĐ, thúc đẩy KTXH phát triển Có thể thấy, giáo dục đã thực hiện chức năng tái sản xuất sức lao động của xã hội, tạo ra lực lượng sản xuất mới trực tiếp tham gia và quản lý xã hội với trình độ cao hơn
1.2.3.2 Vai trò chính trị - xã hội
Xã hội là một tổng thể bao gồm các yếu tố có liên quan đến nhau cấu thành nên như cộng đồng, dân tộc, tầng lớp xã hội,…, các yếu tố này đã được hình thành một cách khách quan, trong những điều kiện KTXH nhất định Giáo dục thực hiện vai trò chính trị - xã hội của mình qua việc tác động đến cấu trúc xã hội, tức là đến các yếu tố cấu thành của xã hội và góp phần hình thành mối quan hệ giữa các yếu tố
đó Ngoài ra, giáo dục là phương thức tuyên truyền hệ tư tưởng chính trị, đường lối chủ trương của chế độ chính trị, tầng lớp hay đảng cầm quyền đến tất cả các người dân trong xã hội, nhờ đó, người dân có thể có những hiểu biết nhất định về hệ thống
Trang 36chính trị, các chính sách pháp luật của nhà nước để có thể tham gia vào đời sống chính trị - xã hội
1.2.3.3 Vai trò tư tưởng - văn hóa
Về tư tưởng, giáo dục có vai trò quan trọng đến việc xây dựng hệ tư tưởng chi phối toàn XH, hình thành nên thế giới quan, ý thức, tình cảm và hành vi đạo đức của mỗi cá nhân sao cho phù hợp với các chuẩn mực XH
Về văn hóa, GD có vai trò truyền đạt kinh nghiệm lịch sử –xã hội của các thế
hệ, giúp nâng cao kiến thức, trình độ văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ cho mỗi cá nhân và cho toàn xã hội Một nước phát triển là một nước có nền kinh tế vững mạnh, khoa học công nghệ tiên tiến và trình độ dân trí cao, điều này có thể thực hiện được nhờ giáo dục, giáo dục đã góp phần xây dựng và nâng cao mặt bằng dân trí văn hóa chung của cả nước Không chỉ thực hiện vai trò truyền đạt nền văn hóa của thế hệ này cho thế hệ khác, giáo dục còn là phương thức cơ bản để bảo tồn và phát triển nền văn hóa của dân tộc và cả nhân loại thông qua các con đường GD với dạy học
là con đường cơ bản nhất
Tóm lại, qua ba vai trò trên của giáo dục, có thể thấy giáo dục là phương tiện
quan trọng trong việc hình thành nên các yếu tố cấu thành của XH và quyết định chiều hướng phát triển của những yếu tố này, khẳng định GD đã trở thành một trong những động lực chính thúc đẩy KTXH phát triển
1.2.4 Đo lường giáo dục
1.2.4.1 Thang đo giáo dục trong các nghiên cứu quốc tế
Trong các nghiên cứu thực nghiệm, các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều thang đo giáo dục như tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ lệ nhập học ở các cấp,… Những thang đo này đã phản ánh giáo dục ở những khía cạnh nhất định, nhưng độ chính xác của các thang đo này còn phụ thuộc vào từng điều kiện nghiên cứu cụ thể
Một số thước đo giáo dục phổ biến:
Trang 37- Tỷ lệ biết chữ, biết viết: đây là thang đo được dùng ở thời kỳ đầu của
những nghiên cứu về giáo dục như Romer (1990) Tuy nhiên, việc biết chữ, biết viết mới chỉ là một trong những bước đầu tiên trong quá trình giáo dục, không phản ánh được việc đóng góp của các kỹ năng về kiến thức khác như phân tích, tính toán
- Tỷ lệ nhập học các cấp: cũng giống như tỷ lệ biết chữ, biết viết, đây cũng
là một trong các thang đo giáo dục cơ bản được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu như của Mankiw - Romer - Weil (1992) Thang đo này phản ảnh một loại biến đo lường của GD và là một trong những nhân tố hình thành nên vốn con người trong tương lai
Lưu ý rằng, tỷ lệ biết chữ, biết viết hay tỷ lệ nhập học là biến đo lường giáo dục ở cấp độ tổng quát như ở tầm quốc gia chứ không phải đo lường giáo dục ở cấp
độ cá nhân
- Số năm đi học: đây là thang đo phản ánh quá trình tích lũy giáo dục
Thang đo này có thể được sử dụng để đo lường giáo dục của từng cá nhân hoặc là
mở rộng ra thành thang đo số năm đi học bình quân để so sánh trình độ giáo dục giữa các quốc gia như trong nghiên cứu của Barro và Lee (1993) về phân bổ trình
độ GD của các quốc gia giai đoạn 1960 - 1990, trong nghiên cứu này số năm đi học bình quân được tính bằng tổng các tích giữa số năm đi học nhân với số người trong mỗi nhóm trình độ, rồi sau đó chia cho tổng số người, qua đó phản ánh lượng giáo dục được tích lũy của LLLĐ tại từng quốc gia nên đã bao gồm vốn nhân lực và hiệu quả sử dụng cho quá trình SX
1.2.4.2 Thang đo giáo dục trong các nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, việc đo lường và đánh giá thực trạng của giáo dục thường dựa vào hệ thống chỉ tiêu thống kê do Tổng cục Thống kê xây dựng và ban hành Hệ thống chỉ tiêu thang đo giáo dục này có thể chia làm 2 nhóm: nhóm thang đo giáo dục cá nhân và nhóm thang đo giáo dục quốc gia
Nhóm thang đo giáo dục cá nhân:
Trang 38- Tình trạng đi học: Là thang đo phản ánh hiện trạng một người đang theo
học tại một CSGD trong Hệ thống GD quốc dân được Nhà nước công nhận, như các trường mẫu giáo, tiểu học, THCS, THPT, các trường dạy nghề và trường chuyên nghiệp từ bậc trung học chuyên nghiệp trở lên thuộc các loại hình GDĐT khác nhau
để tiếp nhận một cách có hệ thống các kiến thức học vấn phổ thông hoặc kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ
- Tình trạng biết đọc, biết viết: Là thang đo phản ánh việc một người có thể
đọc, viết và hiểu đầy đủ những câu văn từ ngữ bằng chữ quốc ngữ, chữ dân tộc hoặc chữ nước ngoài Ngược lại, một người được coi là không biết đọc biết viết nếu không làm được những việc trên
- Trình độ học vấn cao nhất đã đạt được: Là thang đo phản ánh bằng cấp
cao nhất mà một người đã học xong hoặc tốt nghiệp, gồm không đi học, tiểu học, THCS, THPT, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học
Nhóm thang đo giáo dục quốc gia:
- Số trường lớp của từng cấp học: Là thang đo phản ánh quy mô, cơ cấu
trường, lớp, phòng học của từng cấp, là điều kiện để đánh giá tình trạng CSVC của từng cấp học
- Số giáo viên giảng dạy, học sinh từng cấp học: Là thang đo phản ánh quy
mô, cơ cấu giáo viên, học sinh của từng cấp học, đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tình trạng giáo dục từng cấp học
- Tỷ lệ học sinh đi học chung: Là thang đo phản ánh tình trạng đi học
chung của học sinh đối với từng cấp học phổ thông, dùng để đánh giá mức độ phổ cập giáo dục, được xác định bằng số phần trăm học sinh đang đi học của từng cấp học phổ thông so với tổng số dân trong độ tuổi đi học của cấp học đó
- Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ: Là thang đo được xác định bằng
tỷ lệ giữa số người từ 15 tuổi trở lên biết chữ so với tổng dân số từ 15 tuổi trở lên, phản ánh trình độ học vấn cơ bản của dân số, phục vụ việc đánh giá trình độ phát triển giáo dục của một quốc gia
Trang 39- Chi cho hoạt động sự nghiệp giáo dục và đào tạo: Là thang đo phản ánh
phản ánh tất cả các nguồn tài chính chi cho mục đích GDĐT, bao gồm nguồn ngân sách từ Trung ương và địa phương, các nguồn đóng góp từ học sinh, phụ huynh và tài trợ của các cá nhân, tổ chức
Tóm lại, từ những khái niệm, phương pháp tính đưa ra ở trên, ta đã hình dung
được một số thang đo giáo dục phổ biến được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu, tuy mỗi thang đo có những hạn chế nhất định nhưng tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, mức độ sẵn có, khả năng thu thập số liệu mà ta có thể lựa chọn thang đo phù hợp, trong đó những thang đo giáo dục thường được sử dụng là tỷ lệ biết chữ, số năm đi học, trình độ học vấn,…
1.3 Tổng quan các nghiên cứu về tác động của giáo dục tới năng suất lao động
1.3.1 Các nghiên cứu lý thuyết
1.3.1.1 Mô hình tăng trưởng nội sinh của Lucas (1988)
Tác động của giáo dục tới NSLĐ có thể được giải thích qua mô hình tăng trưởng nội sinh của Lucas (1988) Dựa trên mô hình Solow - Swan, Lucas đã cố gắng giải thích ảnh hưởng của giáo dục đến tăng trưởng KT nói chung và tăng NSLĐ nói riêng một cách nội sinh
Mô hình này được xây dựng dựa trên giả thuyết nền kinh tế có 2 khu vực: khu vực sản xuất (KVSX) và khu vực giáo dục (KVGD) KVSX gồm các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho tiêu dùng và đầu tư vào sản xuất KVGD gồm các trường đại học sản xuất ra nhân tố sản xuất được gọi là “kiến thức”, nhân tố này được dùng cho cả 2 khu vực Nền kinh tế được mô tả bằng hàm sản xuất của doanh nghiệp, hàm sản xuất của các trường đại học và phương trình tích lũy vốn
Sử dụng dạng hàm sản xuất Cobb - Douglas, hàm sản xuất của doanh nghiệp được xây dựng có yếu tố vốn con người có dạng:
Y = Kα [(1-u)AL]1-α
Trang 40Trong đó, u là tỷ lệ LĐ làm việc trong KVGD và 1- u là tỷ lệ LĐ làm việc trong KVSX A là lượng kiến thức Sản lượng của KVSX phụ thuộc vào việc tích lũy vốn vật chất K và hiệu quả tích lũy của KVGD thể hiện ở lượng lao động hiệu quả trong KVSX (1-u)AL
Vốn vật chất được tích lũy theo quy luật vận động thông thường và xác định theo phương trình sau:
ΔK = sY - δK, với s là tỷ lệ tiết kiệm trong GDP Vốn con người được tạo ra thông qua GD và kiến thức hiện có là yếu tố chủ yếu trong việc tạo ra giáo dục Do vậy, nếu giả định vốn con người trong tương lai được sản xuất từ chính vốn con người, thì sự gia tăng vốn nhân lực hay hàm sản xuất của khu vực các trường đại học được mô tả:
ΔA = g(u)A
Mô hình Lucas đã đưa ra kết luận là nền KT có thể có tốc độ tăng trưởng liên tục cho dù không có cú sốc công nghệ ngoại sinh nào xảy ra, nhờ vào tốc độ tạo ra kiến thức ở các trường đại học không suy giảm Có 2 biến quan trọng trong mô hình này, đó là tỷ lệ thu nhập được sử dụng cho tiết kiệm đầu tư quyết định lượng vốn vật chất ở trạng thái ổn định và tỷ lệ LĐ trong các trường ĐH sẽ quyết định tốc độ tăng trưởng của kiến thức Cả s và u đều tác động tới tốc độ tăng trưởng của nền KT
ở trạng thái ổn định, đây là điểm khác biệt với mô hình Solow - Swan trước đây
1.3.1.2 Các nghiên cứu về vai trò của vốn con người
Các nghiên cứu về vai trò của vốn con người cũng là những nghiên cứu quan trọng để đánh giá tác động của giáo dục tới NSLĐ
Khái niệm về vốn con người, theo Laroche và cộng sự (1999) gồm những đặc điểm sau: đầu tiên, vốn con người là một loại hàng hóa không thể trao đổi; thứ hai, vốn con người tuy là tài sản cá nhân nhưng chủ sở hữu không phải lúc nào cũng
có thể kiểm soát được quá trình tích lũy, các cách thức tích lũy và việc sử dụng nó; thứ ba, vốn con người có cả mặt lượng và mặt chất; tiếp đến, vốn con người có thể vừa mang tính cá nhân vừa mang tính cộng đồng; cuối cùng, vốn con người chứa