Mô hình kép là mô hình đào tạo nghề theo định hướng thực hành có sự liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp bao gồm các trường nghề và các doanh nghiệp trong nền kinh tế, d
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Giảng viên hướng dẫn trực tiếp của tôi là GS.TS Ngô Thắng Lợi Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy, người đã hướng dẫn tôi tìm kiếm hướng nghiên cứu, lựa chọn nguồn tài liệu, xử lý
số liệu và đưa ra hướng giải quyết cho đề tài Kính chúc thầy luôn khỏe mạnh và thành đạt trong sự nghiệp giảng dạy
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý Thầy, Cô, các bạn, người thân, xin gửi lời tri ân đến tất cả mọi người:
- Quý Thầy, Cô Khoa Kế hoạch và Phát triển, Khoa Sau đại học Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội đã tận tâm truyền dạy những kiến thức và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian tôi học tập ở trường
- Gia đình tôi điều kiện tốt nhất để tôi được tập trung nghiên cứu, hoàn thành
đề tài này
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù tôi đã hết sức cố gắng để hoàn thành nghiên cứu, tham khảo nhiều nguồn tài liệu, trao đổi và tiếp thu nhiều ý kiến quí báu của quý Thầy, Cô và bạn bè Song nghiên cứu này cũng không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy, Cô và bạn đọc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả Luận văn
Bùi Thái Thảo
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT LUẬN VĂN i
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1: MÔ HÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ KÉP CỦA ĐỨC 9
1.1 Tổng quan Mô hình đào tạo nghề kép của Đức 9
1.1.1 Mô hình đào tạo nghề kép trong hệ thống giáo dục Đức 9
1.1.2 Giới thiệu Mô hình đào tạo nghề kép 11
1.2 Nội dung Mô hình đào tạo nghề kép 14
1.2.1 Các bên tham gia Mô hình 14
1.2.2 Chương trình đào tạo 20
1.2.3 Cơ chế tài chính và chia sẻ lợi ích trong hoạt động đào tạo 23
1.3 Điều kiện áp dụng Mô hình đào tạo nghề kép 31
1.3.1 Khung pháp lý 31
1.3.2 Chuẩn đầu ra 33
1.3.3 Năng lực doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề trong Mô hình kép 36
1.3.4 Năng lực của trường nghề 37
1.3.5 Lợi ích của người học khi tham gia Mô hình 38
Chương 2: ĐÁNH GIÁ ÁP DỤNG MÔ HÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ KÉP TẠI VIỆT NAM 41
2.1 Hệ thống đào tạo nghề của Việt Nam 41
2.1.1 Các bên tham gia trong mô hình 41
2.1.2 Chương trình đào tạo nghề 44
2.1.3 Cơ chế tài chính và chia sẻ lợi ích trong đào tạo 45
2.2 Chương trình thí điểm đào tạo nghề kép tại Việt Nam 48
2.2.1 Quan hệ hợp tác phát triển dạy nghề giữa Chính phủ Việt Nam và Đức 48
Trang 42.2.2 Các chương trình đào tạo thí điểm theo Mô hình đào tạo nghề kép triển
khai tại Việt Nam từ sau ký kết Tuyên bố chung 49
2.2.3 Thực trạng nội dung, điều kiện áp dụng Mô hình đào tạo nghề kép qua các chương trình thí điểm ở Việt Nam 52
2.3 Đánh giá đào tạo nghề theo Mô hình đào tạo nghề kép ở Việt Nam 55
2.3.1 Đánh giá nội dung Mô hình 56
2.3.2 Đánh giá điều kiện áp dụng Mô hình 64
Chương 3: HOÀN THIỆN ÁP DỤNG MÔ HÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ KÉP TẠI VIỆT NAM VÀ ĐỊNH HƯỚNG LỘ TRÌNH HOÀN THIỆN 75
3.1 Sự cần thiết áp dụng Mô hình đào tạo nghề kép ở Việt Nam những vấn đề đặt ra 75
3.1.1 Sự cần thiết 75
3.1.2 Những vấn đề đặt ra 76
3.2 Định hướng lộ trình hoàn thiện áp dụng Mô hình tại Việt Nam 77
3.2.1 Định hướng hoàn thiện 77
3.2.2 Lộ trình hoàn thiện áp dụng Mô hình đến năm 2025 79
3.2.3 Định hướng mục tiêu hoàn thiện áp dụng Mô hình cụ thể đến năm 2025: 80
3.3 Hoàn thiện áp dụng Mô hình đào tạo nghề kép tại Việt Nam 82
3.3.1 Hoàn thiện nội dung Mô hình 82
3.3.2 Hoàn thiện điều kiện áp dụng Mô hình 86
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC 1: Phiếu khảo sát
Phụ Lục 2: Cơ cấu LLLĐ phân theo nhóm trình độ CMKT, 2004
Phụ Lục 3: Thống kê Tỷ lệ thất nghiệp
Phụ Lục 4: Cơ cấu lao động trong doanh nghiệp theo loại hình doanh ngiệp và trình độ CMKT
Phụ Lục 5: Chi phí - lợi ích
Phụ Lục 6: Tuyên bố chung dự định cải thiện chất lượng đào tạo nghề tại Viêt Nam
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AEVO Pháp lệnh Đánh giá năng lực giảng viên hướng dẫn đào tạo nghề
BA Cơ qua Liên bang liên quan tới các vấn đề việc làm
BMZ Bộ hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức
DIHK Hiệp Hội các Phòng Công nghiệp và Thương Mại CHLB Đức
GIC/AHK Việt Nam Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Đức tại Việt Nam
JArbSchG Luật Bảo hộ người lao động trẻ CHLB Đứca
KMK Thường vụ Hội nghị Bộ trưởng bang các vấn đề Giáo dục và
Văn hóa CHLB Đức
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Phân loại lợi nhận thu lại trên học viên trong năm 2012 – 2013 theo vùng
và lĩnh vực đào tạo 28Bảng 2.1: Số lượng cơ sở dạy nghề theo loại hình cơ sở đào tạo 43Bảng 2.2: Chi NSNN cho dạy nghề giai đoạn 2010 – 2014 47Bảng 2.3: Tổng hợp về chi phí và lợi ích đối với hoạt động thực tập nghề tại doanh nghiệp của học viên 63Bảng 2.4: Số sinh viên, học sinh tham gia các hệ đào tạo sau chương trình giáo dục Trung học phổ thông 74
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Hệ thống giáo dục của Đức 10
Hình 1.2: Cấu thành cơ bản của Mô hình đào tạo nghề kép 11
Hình 1.3: Cấp độ trách nhiệm đào tạo giữa các bên 14
Hình 1.4: Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền (Chamber) 17
Hình 1.5: Trách nhiệm và mối quan hệ pháp luật giữa các bên tham gia Mô hình kép 20
Hình 1.6: Khung chương trình giảng dạy trong Mô hình đào tạo nghề kép tại Đức 22 Hình 1.7: Chi tiêu các bên tham gia trong Mô hình đào tạo nghề kép tại Đức năm 2012 – 2013 24 Hình 1.8: Tài chính hỗ trợ học viên tham gia Mô hình dựa trên thu thập số liệu thỏa thuận tiền lương năm 2014 theo ngành đào tạo 25
Hình 2.1: Vị trí của GDNN trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam 41
Hình 2.2: Cơ cấu nguồn lực tài chính cho dạy nghề giai đoạn 2010 – 2014 45
Hình 2.3: Chi sự nghiệp giáo dục – đào tạo, dạy nghề 46
Hình 2.4: Một số dấu mốc trong quan hệ hỗ trợ và trợ giúp hợp tác phát triển đào tạo nghề Việt Nam – Đức 48
Hình 2.5: So sánh đào tạo nghề tại Việt Nam và Mô hình đào tạo nghề kép của Đức 56
Hình 2.6: Cơ cấu tổ chức trong Mô hình đào tạo nghề kép ở Việt Nam 58
Hình 2.7: Kết quả vai trò trách nhiệm của Tổ chức điều phối Mô hình 58
Hình 2.8: Ý kiến đánh giá nhóm ngành nên áp dụng Mô hình đào tạo nghề kép trong giai đoạn đầu ở Việt Nam 59
Hình 2.9: Kết quả hình thức đào tạo 60
Hình 2.10; Điều kiện xây dựng chương trình đào tạo khung 60
Hình 2.11: Mô hình đào tạo nghề tại Việt Nam theo quy định trong Luật GDNN (2015) 65
Hình 2.12: Điều kiện về khung pháp lý ở Việt Nam 67
Hình 2.13: Số lượng Bộ TCKNNQG được xây dựng và ban hành 68
Hình 2.14: Điều kiện chuẩn đầu ra 69
Hình 2.15: Yếu tố thúc đẩy doanh nghiệp tham gia Mô hình 71
Hình 2.16: Cơ cấu LLLĐ chia theo trình độ CMKT 73
Hình 2.17: Khảo sát đánh giá yếu tố nhận thức xã hội 74
Trang 8TÓM TẮT LUẬN VĂN
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục đào tạo Việt Nam hiện nay đang đứng trước thực trạng “thừa thầy thiếu thợ”, tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật trong nhóm “đại học trở lên” cao Trong khi đó, thị trường lao động lại thiếu hụt trầm trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo, có trình độ tay nghề phục vụ trực tiếp quá trình sản xuất Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động tốt nghiệp chương trình đào tạo tại các trường nghề có sự chênh lệch và không đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh thực tế của doanh nghiệp Đứng trước những thực trạng đó giáo dục nghề nghiệp Việt Nam đặt ra yêu cầu cần có những thay đổi trong
mô hình đào tạo hiện tại Mô hình đào tạo nghề mới của Việt Nam cần đảm bảo thỏa mãn được những yêu cầu của thị trường lao động đặt ra, đồng thời đáp ứng được những nhu cầu phát triển mới đặt ra trong nền kinh tế Xu hướng đổi mới mô hình đào tạo nghề của Việt Nam đang ngày càng rõ nét trong thời gian gần đây, thông qua các chương trình hợp tác phát triển đào tạo nghề giữa Việt Nam và một
số quốc gia: Đức, Áo, Hàn Quốc, Vương quốc Anh… Trên thế giới hiện có nhiều
mô hình đào tạo nghề tiên tiến Việt Nam có thể vận dụng, học hỏi trong quá trình cải cách, thay đổi mô hình đào tạo nghề Một trong những mô hình đào tạo nghề tiên tiến được biết đến là Mô hình đào tạo nghề kép của Đức Tại Việt Nam, Mô hình đào tạo nghề kép đang nhận được sự quan tâm lớn đến từ các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách Cấu trúc của Mô hình kép được biết đến và lan tỏa rộng rãi trong các định hướng phát triển đào tạo nghề hiện nay của Việt Nam Sau một quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng Mô hình kép là mô hình đào tạo nghề phù hợp nhất, giúp Việt Nam giải quyết các thực trạng về lực lượng lao động phân tích phía trên và phù hợp với xu hướng đổi mới đào tạo nghề hiện nay Mô hình kép
là mô hình đào tạo nghề theo định hướng thực hành có sự liên kết chặt chẽ giữa các
cơ sở giáo dục nghề nghiệp bao gồm các trường nghề và các doanh nghiệp trong nền kinh tế, doanh nghiệp trực tiếp tham gia các hoạt động đào tạo học viên tại nơi sản xuất Sau một quá trình lịch sử lâu dài áp dụng Mô hình tại Đức và những ví dụ
áp dụng thành công Mô hình tại một số quốc gia khác như Nhật Bản, Hàn Quốc,
Trang 9ii
Áo… Mô hình đào tạo nghề kép được đánh giá là mô hình đào tạo nghề hiệu quả
và thành công nhất hiện nay Từ những thành công thu được trong đào tạo nghề ở Đức và một số quốc gia đã áp dụng Mô hình, tác giả đặt ra câu hỏi: “Làm thế nào để
áp dụng khả thi Mô hình đào tạo nghề kép trong điều kiện đặc điểm của Việt Nam?”
Xuất phát từ chính những yêu cầu nói trên tác giả đã lựa chọn nghiên cứu luận văn với chủ đề: “Nghiên cứu Mô hình đào tạo nghề kép (The Dual System) của Cộng hòa Liên bang Đức và điều kiện áp dụng tại Việt Nam”
2 Tổng quan nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu chủ đề luận văn, tác giả đã tham khảo và sử dụng kết quả nghiên cứu của một số tài liệu nghiên cứu và trong nước và nước ngoài
2.1 Tài liệu nước ngoài
Tác giả Ute Hippach-Schneider và các cộng sự (2007) [19] đã tiến hành nghiên cứu toàn diện và tổng thể toàn bộ hệ thống giáo dục và đào tạo nghề của Đức Thông qua việc nghiên cứu hệ thống giáo dục – đào tạo, nhóm tác giả vẽ nên một bức tranh bao trùm về hệ thống giáo dục và đào tạo nghề của Đức: nội hàm, cấu trúc của hệ thống Mô hình đào tạo nghề kép được các tác giả phân tích là một
bộ phận trong giai đoạn đào tạo nghề ban đầu tại Đức Theo Hippach-Schneider (2007) hệ thống đào tạo nghề ở Đức nói chung và Mô hình đào tạo nghề kép nói riêng được thiết kế và vận động trên nguyên tắc chính “đào tạo một ngành bao quát
hết mức có thể và cụ thể hết mức cần thiết” (“they should be as broad as possible and as specific as necessary”) Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh hệ thống giáo
dục – đào tạo nghề tại Đức hiện nay đang phải đối mặt với những thách thức đến từ việc toàn cầu hóa; sự di chuyển của các cá nhân ngày càng cao; những thay đổi cấu trúc trong các ngành công nghiệp; cải tiến công nghệ trong sản xuất và thách thức cuối cùng đến từ những thay đổi về nhân khẩu học Đặt trong bối cảnh đó, một số kết luận và giải pháp đối với hệ thống giáo dục – đào tạo nghề Đức đã được nhóm tác giả đưa ra giúp giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực của các thách thức đến toàn hệ thống Do đây là nghiên cứu về toàn bộ hệ thống giáo dục - đào tạo nghề ở Đức với Mô hình đào tạo nghề kép là một bộ phận trong hệ thống đó Nên các phân tích liên quan tới Mô hình kép chỉ dừng lại ở phác thảo một số nét chính, cơ bản và cấu trúc khung của Mô hình
Trang 10Hai nghiên cứu tiếp theo của Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Liên bang – BMBF (2003) [11] và nhóm tác giả Michael Schwarz, Bettina Janssen, Diana Cáceres-Reebs, Ilona Medrikat – BIBB (2016) [13] là hai nghiên cứu về Mô hình đào tạo nghề kép của Đức Những nghiên cứu về các yếu tố cơ bản cấu thành nên Mô hình, khung pháp lý; trách nhiệm giữa các bên tham gia Mô hình… và cách thức vận hành và cập nhật Mô hình trong bối cảnh hiện nay
Các bộ phận trong cấu trúc Mô hình đào tạo nghề kép được các học giả đặc biệt quan tâm nghiên cứu Bao gồm nghiên cứu về khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động dạy nghề ở Đức cụ thể là Luật Dạy nghề của Đức (BBiG) của Thomas Sondermann (2005) [17] Một số nghiên cứu về phân tích chi phí – lợi ích Mô hình mang lại dưới góc độ doanh nghiệp của nhóm tác giả Ursula Beicht, Hermann Herget, Günter Walden (2005) [20]; nhóm tác giả Samuel Muehlemann và Stefan C Wolter (2014) [16]
Bên cạnh những nghiên cứu về nội dung, cấu trúc Mô hình đào tạo nghề kép tại Đức, nghiên cứu đáng chú ý nhất và có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thực hiện luận văn là nghiên cứu của Dieter Euler (2013) [10] Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở phân tích các kết quả thực nghiệm từ việc áp dụng Mô hình đào tạo nghề kép tại Đức và một số quốc gia Châu Âu Euler đi đến kết luận và rút ra một số yếu tố (11 yếu tố) quyết định có ảnh hưởng quan trọng và quyết định trực tiếp tới thành công của việc áp dụng Mô hình kép của Đức trong điểu kiện các quốc gia bên ngoài Đức Một số kiến nghị và cách thức giúp các quốc gia bên ngoài Đức có thể áp dụng thành công Mô hình cũng được Euler đề cập trong nghiên cứu của mình Euler khẳng định “không thể áp dụng hoàn toàn một cách máy móc toàn
bộ Mô hình vào hệ thống đào tạo nghề của bất cứ quốc gia nào khác ngoài Đức Điều đó chắc chắn sẽ dẫn đến thất bại” [10] Mô hình đào tạo nghề kép của Đức cần được cải biến, thay đổi để phù hợp với đặc thù của từng quốc gia Đồng thời, Mô hình cải biến vẫn cần phải đảm bảo được những yếu tố quyết định thành công đã được nhóm nghiên cứu tìm ra trong quá trình phân tích
2.2 Tài liệu trong nước
Mô hình đào tạo nghề kép của Đức hoàn toàn đáp ứng được những đặc điểm tác giả Bùi Tôn Hiến (2009) [1] khẳng định là những đặc trưng của việc làm của lao động qua đào tạo nghề Các đặc trưng này bao gồm: tính chất thực hành của công
Trang 11iv
việc, việc làm gắn với kỹ thuật và công nghệ, công việc trực tiếp sản xuất tập trung theo dây chuyền Trong nghiên cứu, Bùi Tôn Hiến có đưa ra kiến nghị “Khu vực doanh nghiệp vừa là người thụ hưởng nhưng đồng thời phải là chủ thể quan trọng phối hợp, liên kết và tự đào tạo nghề và có trách nhiệm chi trả khi sử dụng sản phẩm của hệ thống đào tạo nghề” [1] Tại thời điểm thực hiện nghiên cứu tác giả chưa đề cập đến phát triển Mô hình đào tạo nghề kép của Đức như một hướng giải pháp giúp phát triển hình thức đào tạo nghề liên kết giữa trường nghề và doanh nghiệp mà tác giả đã đề cập trước đó
Tổng cục Thống kê (2016) [8] đưa ra bức tranh cập nhật, tổng thể về tình hình lao động – việc làm Việt Nam, đặc biệt là sau khi Luật Giáo dục Nghề nghiệp (2015) chính thức có hiệu lực Báo cáo đã giúp tác giả có dữ liệu phân tích hệ thống đào tạo nghề Việt Nam trong khuôn khổ nội dung và các điều kiện áp dụng của Mô hình đào tạo nghề kép Từ đó tác giả có cơ sở rút ra các điểm cần hoàn thiện về nội dung và điều kiện áp dụng khi tiến hành triển khai Mô hình đào tạo nghề kép tại trong điều kiện đặc thù của Việt Nam
Tổng cục Dạy nghề (2012; 2015; 2016) [5]; [6]; [7] nghiên cứu và công bố một số kết quả nghiên cứu thu được trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo nghề Việt Nam trong khuôn khổ hỗ trợ, hợp tác của chính phủ Đức Đây là những nghiên cứu đầy đủ và chính thống nhất về lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề tại Việt Nam, thông qua các nghiên cứu giúp tác giả có cái nhìn chính xác và sâu sắc về tình hình phát triển của dạy nghề ở Việt Nam Các nghiên cứu đã hệ thống hóa, xem xét và phân tíưch cụ thể các hoạt động đào tạo nghề ở Việt Nam dưới dạng mô hình; thực trạng và những thách thức đặt ra trong bối cảnh hiện nay Báo cáo Dạy nghề Việt Nam 2015 [6] một số kết quả hợp tác thử nghiệm ban đầu giữa Việt Nam và Đức áp dụng đào tạo nghề theo Mô hình kép đã được công bố, đánh giá hiệu quả thực hiện Hiện tại, phía Đức vẫn đang tiếp tục tích cực hỗ trợ Việt Nam cả về kỹ thuật và tài chính (dưới dạng mô hình quy mô nhỏ) các hoạt động đào tạo nghề theo Mô hình kép trong khuôn khổ tuyên bố chung giữa hai chính phủ, mở ra những triển vọng mới trong phát triển đào tạo nghề tại Việt Nam
Trong những nghiên cứu tác giả được tiếp cận, hiện chưa có một nghiên cứu nào hệ thống hóa Mô hình đào tạo nghề kép dưới dạng các đặc điểm về nội dung và
Trang 12điều kiện áp dụng mô hình Bên cạnh đó, ở Việt Nam hiện chưa có nghiên cứu nào xem xét đánh giá mô hình giáo dục nghề nghiệp hiện nay trong điều kiện đặc điểm về nội dung và điều kiện áp dụng của Mô hình kép Từ nhưng vấn đề đặt ra trên, tác giả đã tiến hành và thực hiện nghiên cứu với chủ đề: “Nghiên cứu Mô hình đào tạo nghề kép (The Dual System) của Cộng hòa Liên bang Đức và điều kiện áp dụng tại Việt Nam”
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Trên cơ sở nghiên cứu Mô hình đào tạo nghề kép của Đức, đánh giá hệ thống đào tạo nghề tại Việt Nam và các chương trình thí điểm đào tạo theo Mô hình kép, luận văn đưa ra các kiến nghị giải pháp hoàn thiện nội dung và điều kiện áp dụng
Mô hình kép tại Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn nhằm đạt được ba điểm lớn sau:
Một là, nghiên cứu và tìm hiểu Mô hình đào tạo nghề kép của Đức Trả lời câu hỏi Mô hình đào tạo nghề kép là mô hình gì? Nội hàm của mô hình bao gồm những yếu tố nào? Những đặc điểm của Mô hình kép và điều kiện để áp dụng được
Mô hình ở những quốc gia/ vùng lãnh thổ bên ngoài Đức
Hai là, trên cơ sở nghiên cứu nội dung và điều kiện áp dụng mô hình của hệ thống đào tạo nghề tại Việt Nam và của các chương trình đào tạo thí điểm, luận văn chỉ ra những điểm đã được đáp ứng trong nội dung mô hình, điểm còn thiếu trong nội dung Tương tự luận văn đi đến rút ra những điều kiện đã được đảm bảo và những điều kiện còn thiếu cần được hoàn thiện thêm đối với điệu kiện áp dụng mô hình
Mục tiêu cuối cùng là từ những kết quả thu được trong phân tích hệ thống đào tạo nghề tại Việt Nam và các chương trình đào tạo thí điểm, luận văn đưa ra các đề xuất kiến nghị giải pháp hoàn thiện nội dung và điều kiện áp dụng Mô hình đào tạo nghề kép trong
hệ thống đào tạo nghề Việt Nam Hướng lộ trình áp dụng các giải pháp hoàn thiện nội dung và điều kiện áp dụng mô hình được tác giả đặt ra khi kết thúc nghiên cứu
4 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Mô hình đào tạo nghề kép của Đức (nội dung và điều kiện áp dụng Mô hình); đào tạo nghề tại Việt Nam và các chương trình thí điểm đào tạo nghề theo Mô hình kép tại Việt Nam
Trang 135.2 Phạm vi thời gian
Nghiên cứu Mô hình đào tạo nghề kép của Đức trong thời gian từ năm 2005 đến nay, sau khi Luật Dạy nghề (BBiG) năm 1969 được sửa đổi và bổ sung vào năm 2005 Nguồn số liệu thống kê, phân tích Mô hình đào tạo nghề kép tại Đức được cập nhật và sử dụng từ năm 2010 đến số liệu công bố chính thức mới nhất hiện nay vào năm 2016
Hệ thống đào tạo nghề tại Việt Nam được tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá từ năm 2013 khi Việt Nam bắt đầu tiến hành thí điểm đào tạo nghề theo
Mô hình kép ở một số ngành với sự hỗ trợ của chính phủ Đức
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn được sử dụng để nghiên cứu Mô hình đào tạo nghề kép tại Đức, đặc điểm, nội hàm Mô hình trên cơ sở các tài liệu nghiên cứu đánh giá đã công bố trước đó của các tổ chức và học giả
- Phương pháp thống kê mô tả và so sánh được sử dụng xuyên suốt trong luận văn bổ trợ các phương pháp kể trên trong quá trình nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu ban đầu đặt ra cho luận văn Các thống kê mô tả sử dụng trong luận văn được kế thừa từ những kết quả nghiên cứu, phân tích khảo sát trước đó được công bố, xuất bản trong các tài liệu tham khảo được luận văn sử dụng bao gồm: Niên giám thống kê; Báo cáo dạy nghề, đào tạo nghề hàng năm của Bộ Lao động, Thương binh
và Xã hội; nguồn số liệu công bố chính thức của Tổng cục thống kê
Nguồn số liệu sử dụng trong phương pháp thống kê mô tả và so sánh là số liệu thứ cấp, bao gồm: Số liệu thống kê; Số liệu khảo sát của các cơ quan nghiên cứu; Các kết quả nghiên cứu đã được công bố tại các cuộc hội thảo, các bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, các nghiên cứu chuyên sâu
Trang 14- Trong luận văn, tác giả có sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu và điều tra bảng hỏi phục vụ quá trình nghiên cứu Trên cơ sở kết quả điều tra bảng hỏi từ các chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực đào tạo nghề, tác giả đưa ra một số kết luận kiến nghị hoàn thiện nội dung và điều kiện áp dụng Mô hình đào tạo nghề kép tại Việt Nam
Phương pháp sử dụng nguồn số liệu sơ cấp thu được từ kết quả điều tra bảng hỏi lấy ý kiến chuyên gia giúp hoàn thiện Mô hình kép trong điều kiện, đặc điểm đặc thù của đào tạo nghề Việt Nam Bảng hỏi được xây dựng trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu của Euler và phỏng vấn sâu chuyên gia (chị Nguyễn Phương Trang – cán bộ dự án chương trình hợp tác giữa Tổng cục Dạy nghề và GIZ) Bảng hỏi (Phụ lục 1) được thiết kế bao gồm 20 câu hỏi Một số điểm về nội dung và điều kiện áp dụng mô hình quan trọng đã được khoanh vùng phù hợp với đặc điểm đặc thù của đào tạo nghề tại Việt Nam Câu hỏi đưa ra nhằm xác định các mức độ đánh giá của chuyên gia đối với các yếu tố có ảnh hưởng lớn đến thành công của Mô hình tại Việt Nam
Hình thức khảo sát: qua email (Bảng hỏi được thiết kế dưới dạng online form của google)
Đối tượng mẫu: Cán bộ hoạt động trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo nghề của Tổng cục Dạy Nghề và phía GIZ
Mẫu: 60
Tỷ lệ phản hồi: 35/60 (59%)
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài các phần: Lời nói đầu; nội dung; kết luận; tài liệu tham khảo; phụ lục; được kết cấu bao gồm ba chương
Chương 1: Mô hình đào tạo nghề kép của Đức
Chương 2: Đánh giá áp dụng Mô hình đào tạo nghề kép tại Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện áp dụng Mô hình đào tạo nghề kép tại Việt Nam và định hướng lộ trình hoàn thiện
Trang 15viii
Chương 1: MÔ HÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ KÉP CỦA ĐỨC
Chương 1 tác giả đã tiến hành nghiên cứu và hệ thống hóa Mô hình đào tạo
nghề kép của Đức thành hai điểm chính: Nội dung Mô hình và Điều kiện áp dụng
Mô hình
Mô hình đào tạo nghề kép được tác giả hệ thống thành 3 điểm nội dung: Các bên tham gia; Chương trình đào tạo; Cơ chế tài chính và chia sẻ lợi ích
Các bên tham gia
Nội dung các bên tham gia được phân loại dựa trên các cấp độ quản lý hoạt động đào tạo diễn ra trong Mô hình
o Cấp độ Liên bang – Chính quyền Liên bang:
Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Liên bang (BMBF) chịu trách nhiệm chính đối với các hoạt động giáo dục và đào tạo nghề; điều chỉnh hoạt động đào tạo nghề tại các doanh nghiệp BMBF đại diện chính quyền liên bang thực hiện việc đánh giá và xây dựng Khung tiêu chuẩn chuyên môn kỹ thuật quốc gia Viện Dạy nghề Liên bang (BIBB) thực hiện nghiên cứu, phát triển và tư vấn nhằm xác định các nhiệm
vụ trong tương lai của Mô hình đào tạo nghề kép; thúc đẩy đổi mới trong Mô hình ở cấp độ quốc gia và quốc tế
o Cấp độ bang – Chính quyền bang:
Đảm bảo thực hiện công tác quản lý, công nhận chất lượng đào tạo ngành nghề theo đúng quy định liên bang Trên cơ sở thỏa thuận giữa các bang, khung chương trình đào tạo đại cương và chương trình đào tạo thực hành nghề được thống nhất Thường vụ Hội nghị Bộ trưởng bang các vấn đề Giáo dục và Văn hóa Cộng hòa Liên bang Đức (KMK) thống nhất đưa ra quyết định chung các vấn đề liên quan đến giáo dục (tại các trường nghề) trong Mô hình kép Bộ các vấn đề văn hóa tại từng bang chịu trách nhiệm quản lý đối với các trường nghề và toàn bộ hoạt động giáo dục trong bang Bộ đảm nhận vai trò đại diện bang tham gia thỏa thuận xây dựng, ban hành khung chương trình đào tạo kiến thức chung tại trường nghề đối với từng ngành đào tạo
Trang 16o Cấp độ khu vực – Phòng chức năng có thẩm quyền (Chamber):
Chamber thực hiện việc tư vấn và giám sát đối với các hoạt động đào tạo nghề kép, mối quan hệ diễn ra giữa các chủ thể tham gia trong Mô hình đào Chamber là cơ quan thực hiện việc tổ chức, đáng giá chất lượng các cơ sở đào tạo nghề, học viên,… trong Mô hình Trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người học, Chamber đảm nhận việc tiếp nhận, kiểm tra và đăng ký mới đối với các hợp đồng đào tạo được ký kết giữa doanh nghiệp và học viên Chamber đồng thời có thẩm quyền trong việc tổ chức, đảm bảo chất lượng các kỳ thi kiểm tra chất lượng đào tạo đầu ra của học viên trong Mô hình; cấp chứng chỉ chứng nhận trình độ chuyên môn kỹ thuật sau khi tốt nghiệp
o Cấp độ cơ sở - Trường nghề và Doanh nghiệp:
Trường nghề và Doanh nghiệp trực tiếp tham gia các hoạt động đào tạo nghề học viên Doanh nghiệp đảm nhận vai trò đưa ra các sang kiến thay đổi trong trường hợp hình thành những yêu cầu mới Bao gồm: yêu cầu thay đổi, cập nhật và bổ sung nội dung chương trình đào tạo phù hợp với tiêu chuẩn, công nghệ sản xuất mới; yêu cầu thiết kế, xây dựng chương trình đào tạo các ngành nghề mới trong nền kinh tế Sau khi nhận được sự đồng thuận từ phía các trường nghề, những sáng kiến này sẽ được trình lên chính quyền liên bang xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng
Chương trình đào tạo
Trong Mô hình kép được phân thành: Chương trình đào tạo đại cương và Chương trình đào tạo thực hành nghề Trên cơ sở thỏa thuận khung chung giữa
các trường nghề và doanh nghiệp đào tạo nghề (Nghị quyết của KMK tháng 3 năm 1991), chương trình đào tạo khung trong Mô hình được thiết kế theo nguyên tắc: Khoảng hai phần ba nội dung trong chương trình giảng dạy được xây dựng theo định hướng thực hành nghề Một phần ba nội dung chương trình còn lại được xây dựng nhằm phục vụ cung cấp kiến thức đại cương chung và kiến thức nghề có thể
sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành nghề
o Chương trình đào tạo đại cương được tiến hành trong năm học đầu tiên
Học viên bắt buộc phải tham gia chương trình học toàn thời gian các môn học đại cương Chương trinhd được diễn ra tại các trường dạy nghề với tên gọi là
Trang 17x
“Berufsfachschulen” Mục tiêu đào tạo của chương trình đại cương là trang bị cho
học viên nghề những hiểu biết chung, kiến thức chuyên môn cơ bản cho các lĩnh vực ngành nghề, chương trình đào tạo nghề Các môn học đại cương trong Berufsfachschulen bao gồm: xã hội học, kinh tế học, tiếng Đức, ngoại ngữ, tôn giáo, thể thao Những yêu cầu đào tạo cơ bản đặc thù đối với từng ngành kinh tế, từng nghề cũng được đặc biệt chú trọng trong chương trình học
o Chương trình đào tạo thực hành nghề được tổ chức sau khi học viên đã
hoàn thành chương trình đào tạo đại cương Chương trình đào tạo thực hành nghề được tổ chức diễn ra ở ít nhất hai địa điểm đào tạo là trường nghề và doanh nghiệp đào tạo nghề Dưới sự thỏa thuận và thống nhất giữa trường nghề và doanh nghiệp
tham gia đào tạo, học viên tham gia chương trình đào tạo thực hành nghề sẽ
dành ít nhất 12 giờ/tuần cho việc học tập trên lớp tại các trường nghề Kiến thức nghề cơ bản và lý thuyết nghề được trường nghề thiết kế giảng dạy trên cơ sở kế
hoạch và chương trình học cụ thể của từng bang Nội dung xây dựng chương
trình đào tạo thực hành nghề tại trường nghề được thiết kế trên cơ sở giáo trình khung của KMK Chương trình đào tạo thực hành nghề tại các doanh nghiệp
được thiết kế dưới dạng những bài tập đào tạo thực hành phức hợp xuất phát từ những yêu cầu, nhiệm vụ chủ yếu liên quan tới ngành nghề đào tạo và nhu cầu
cụ thể của chính doanh nghiệp đào tạo nghề Các chương trình giảng dạy tại doanh nghiệp được định hướng và tiến hành dựa trên các giai đoạn sản xuất học
viên được học nghề tại doanh nghiệp Các bài tập thực hành được đưa ra luôn
đảm bảo được yêu cầu kết hợp chặt chẽ với các kiến thức lý thuyết nghề được giảng dạy tại các trường nghề theo nhiều cách khác nhau
Nội dung chương trình giảng dạy trong Mô hình kép đảm bảo được thiết kế linh hoạt và thường xuyên cập nhật phù hợp với thay đổi, phát triển của nền kinh tế; đáp ứng yêu cầu phát triển những ngành nghề mới
Cơ chế tài chính và chia sẻ lợi ích
o Cơ chế tài chính
Mô hình đào tạo nghề kép áp dụng cơ chế tài chính hỗn hợp với sự tham gia
của nhiều bên Chính quyền Liên bang và chính quyền bang tài trợ tài chính cho Mô
Trang 18hình thông qua các hoạt động đào tạo, dạy nghề tại các trường nghề và các hoạt động giám sát, kiểm tra, đánh giá của các Chamber Đóng góp tài chính của các doanh nghiệp được thực hiện thông qua chính các chương trình, hoạt động trực tiếp dạy nghề của doanh nghiệp
Chính quyền liên bang chịu trách nhiệm chi tiêu các khoản liên quan đến những
vẫn đề phát sinh trong hoạt động của trường nghề (ví dụ: giám sát hoạt động, chất lượng của các trường; cập nhật giáo trình giảng dạy; đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn giáo viên nghề; chi trả tiền công đối với giáo viên nghề dạy tại các trường; …)
Chính quyền bang thực hiện các khoản chi tiêu nhằm đảm bảo các vấn đề
bên ngoài xung quanh các hoạt động dạy nghề trong các trường nghề được diễn ra một cách trôi chảy (ví dụ: chi phí xây dựng, duy trì và nâng cấp cơ sở vật chất tại các trường; chi phí quản lý; chi phí mua sắm các tài liệu học tập và giảng dạy; …)
Doanh nghiệp chịu trách nhiệm đối với các hoạt động đào tạo diễn ra tại nơi
sản xuất Doanh nghiệp được tự do lựa chọn tham gia hoặc không tham gia vào quá trình đào tạo một ngành nghề nào đó; quyết định số lượng học viên tham gia chương trình đào tạo của mình trong khuôn khổ pháp luật cho phép; và số tiền doanh nghiệp sẽ sử dụng đầu tư cho các hoạt động dạy nghề tại nơi sản xuất Bên canh đó khi tham gia Mô hình kép doanh nghiệp sẽ phải chi trả cho học viên học nghề tại doanh nghiệp đó một khoản hỗ trợ tài chính và giá trị của khoản hỗ trợ sẽ tăng lên theo số năm học viên thực tập tại doanh nghiệp (Điều 17 BBiG) Khoản hỗ trợ bao gồm các khoản trợ cấp theo quy định của pháp luật và trợ cấp xã hội được thanh toán giữa doanh nghiệp và học viên trên cơ sở thỏa thuận tập thể hoặc thỏa thuận tự nguyện trước đó
o Cơ chế chia sẻ lợi ích
Lợi ích trong Mô hình được chia sẻ giữa chính quyền và doanh nghiệp
Chính quyền tham gia Mô hình nhận được một số lợi ích:
- Tiết kiệm được chi phí dành cho các hoạt động giáo dục – đào tạo nghề
- Ổn định và giải quyết các vấn đề liên quan đến lao động – việc làm Tạo cơ
sở giúp chính quyền giải quyết tốt các vấn đề xã hội, tăng trưởng, phát triển nền kinh tế
Trang 19xii
- Nâng cao mặt bằng trình độ chuyên môn kỹ thuật lực lượng lao động quốc gia; nâng cao giá trị gia tăng cho lao động
Lợi ích doanh nghiệp nhận được khi tham gia Mô hình: được xem xét thông
qua kết quả phân tích chi phí – lợi ích (CBA) của doanh nghiệp Tham gia Mô hình
doanh nghiệp nhận được: lợi ích có thể quy đổi được thành tiền và lợi ích không thể quy được thành tiền
Lợi ích có thể quy đổi được thành tiền: Lợi ích kinh tế doanh nghiệp nhân
được từ các hoạt động học việc tại nơi sản xuất của học viên; một số chi phí doanh
nghiệp có thể phải bỏ ra khi sử dụng lao động có tay nghề từ bên ngoài thị trường: Chi phí tuyển dụng; Chi phí đào tạo ban đầu doanh nghiệp phải bỏ ra giúp lao động mới tuyển dụng từ thị trường lao động làm quen với đặc thù công việc tại doanh nghiệp; Chi phí đào tạo nâng cao đối với lao động tuyển bên ngoài thị trường để phù hợp với các yêu cầu vị trí việc làm tại nơi sản xuất
Lợi ích không thể quy đổi được thành tiền: Loại bỏ được nguy cơ tuyển
dụng lao động từ thị trường có kỹ năng, trình độ của lao động không phù hợp với đặc điểm, tính chất công việc tại doanh nghiệp; Tránh được tình trạng gián đoạn trong sản xuất, thiếu nhân lực sản xuất trong ngắn hạn do người lao động mới được tuyển dụng từ thị trường cần thời gian làm quen và bắt kịp quy trình sản xuất tại doanh nghiệp; Tiết kiệm được khoản chi phí phát sinh xuất phát từ khác biệt trong đào tạo giữa lao động được đào tạo bên ngoài và lao động được đào tạo tại doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp tuyển dụng được những lao động phù hợp từ bên ngoài thị trường Trong dài hạn, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được các chi phí tuyển dụng trong tương lai khi tham gia đào tạo nghề Cuối cùng, tham gia Mô hình đóng một vai trò quan trọng trong việc củng cố và nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp trước công chúng Cụ thể là về phía khách hàng và các nhà cung cấp, đối tác của doanh nghiệp
Trên cơ sở nghiên cứu Mô hình đào tạo nghề kép tại Đức, tác giả rút ra 5 điều kiện đảm bảo áp dụng thành công Mô hình Các điều kiện bao gồm: điều kiện
về Khung pháp lý; Chuẩn đầu ra; Năng lực doanh nghiệp đào tạo; Năng lực trường nghề và Lợi ích của người học
Trang 20 Khung pháp lý:
Điều kiện tiên quyết là Mô hình cần có một bộ khung pháp lý điều chỉnh bằng luật hoàn chỉnh Khung pháp lý thực hiện chức năng quy định các điều kiện để thành lập, tổ chức và hoạt động đối với các cơ sở đào tạo nghề trong Mô hình; cách chế độ chính sách đối với cơ sở đào tạo; chương trình đào tạo; tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo; cách thức tổ chức và đánh giá chất lượng học viên… Tại Đức khung pháp lý chính điều chỉnh hoạt động của Mô hình là Luật Dạy nghề (BBiG)
Luật Dạy nghề (BBiG) năm 1969 sửa đổi bổ sung năm 2005 đưa ra các quy
định cụ thể liên quan tới các hoạt động đào tạo nghề Bao gồm: điều kiện yêu cầu về
kỹ năng, trình độ chuyên môn kỹ thuật đối với giảng viên, chuyên gia hướng dẫn nghề tại doanh nghiệp; yêu cầu về tiêu chuẩn tham gia chương trình đào tạo; quy định liên quan đến hệ thống đánh giá kiểm tra chất lượng Quy định liên quan tới công tác tổ chức cơ sở đào tạo; hoạt động nghiên cứu liên quan đến hoạt động đào tạo nghề; quy định liên quan đến Viện Giáo dục và Đào tạo nghề Liên bang (BIBB) Trong BBiG quy định: “Mô hình đào tạo nghề kép có nhiệm vụ cung cấp kiến thức
và kỹ năng (năng lực nghề nghiệp) cần thiết cho học viên thông qua các khóa học đào tạo bắt buộc, từ đó giúp người học hình thành năng lực chuyên môn thực hiện các hoạt động nghề nghiệp trong điều kiện môi trường làm việc thay đổi”
Chuẩn đầu ra
Chuẩn đầu ra nhằm gắn kết tốt hơn các hoạt động giáo dục - đào tạo nghề với thị trường lao động - việc làm; đem đến nhiều cơ hội việc làm hơn cho học viên sau khi tốt nghiệp Đây là công nhận chính thức của doanh nghiệp, trường nghề, xã hội
về kỹ năng, trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động Chuẩn đầu ra trong
Mô hình đào tạo nghề kép là yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, trách nhiệm nghề nghiệp và những phẩm chất khác mà học viên cần phải đạt được sau khi hoàn thành chương trình đào tạo Chuẩn đầu ra này được cơ sở giáo dục nghề nghiệp cam kết với người học, xã hội và công bố công khai cùng với các điều kiện đảm bảo thực hiện những tiêu chuẩn được đưa ra
Tại Đức học viên được đánh giá chuẩn đầu ra thông qua kỳ kiểm tra đánh giá chất lượng đầu ra do Chamber tổ chức Học viên vượt qua kỳ kiểm tra được chính
Trang 21xiv
thức trao chứng nhận công nhận trình độ chuyên môn kỹ thuật đạt tiêu chuẩn Nghề nghiệp quốc gia (NOS) NOS của Đức có giá trị và được công nhận tương đương với trình độ tay nghề cấp độ 3 trong ISCED1 Học viên không vượt qua kỳ kiểm tra đánh giá được trường nghề trao giấy chứng nhận đã hoàn thành các môn học trong chương trình đào tạo
Năng lực doanh nghiệp đào tạo
Để các hoạt động giáo dục và đào tạo trong Mô hình diễn ra hiệu quả, doanh nghiệp tham gia đào tạo phải chứng minh đủ khả năng thực hiện các hoạt động đào tạo Tính phù hợp trong năng lực của doanh nghiệp đánh giá thông qua: các yêu cầu
về tiêu chuẩn cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ quá trình giảng dạy tại doanh nghiệp; khả năng, trình độ của đội ngũ giảng viên, chuyên gia hướng dẫn trực tiếp tham gia quá trình đào tạo học viên
Tại Đức, điều kiện về năng lực của doanh nghiệp tham gia trong Mô hình được quy định cụ thể bằng luật pháp Doanh nghiệp phải đảm bảo được các yêu cầu trong Pháp lệnh đánh giá năng lực giảng viên hướng dẫn nghề (AEVO) Các nội dung có trong AEVO bao gồm: cấu trúc và nội dung bài kiểm tra năng lực đối với giảng viên, chuyên gia hướng dẫn nghề Thông qua kỳ kiểm tra đánh giá năng lực dành cho giảng viên, chuyên gia hướng dẫn nghề, doanh nghiệp phải chứng minh được trong đội ngũ nhân sự giảng viên, chuyên gia hướng dẫn nghề có ít nhất một người đã vượt qua kỳ kiểm tra
Năng lực của trường nghề
Năng lực trường nghề được xem xét trên hai khía cạnh: năng lực đội ngũ giảng viên và điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo
Giảng viên nghề ngoài đảm bảo các kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm còn cần thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn; bắt kịp những thay đổi trong công nghệ sản xuất mới Ở Đức, ngân sách phục vụ việc bồi dưỡng, nâng cao
Trang 22trình độ chuyên môn của giảng viên nghề do chính quyền liên bang tài trợ Tổng giá trị cho những khoản chi tiêu này chiếm tới khoảng 20% tổng chi tiêu của toàn bộ
Mô hình đào tạo nghề kép tại Đức
Mô hình đào tạo nghề kép là mô hình đào tạo định hướng thực hành Các yêu cầu về chất lượng đào tạo trong Mô hình được hình thành dựa trên nhu cầu của doanh nghiệp, thị trường lao động Quy trình, công nghệ sản xuất tại các doanh nghiệp luôn được thay đổi, cập nhật phù hợp với những thay đổi phát triển trong công nghệ sản xuất Vì vậy, cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo phục vụ quá trình giảng dạy tại trường nghề cũng yêu cầu cần được bổ sung, thay đổi và hiện đại hóa thường xuyên Tại Đức, chính quyền bang tài trợ tài chính cho các trường nghề nhằm thực hiện việc xây dựng mới, duy trì, nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ chương trình đào tạo tại trường Tổng giá trị các khoản chi phí này lên tới khoảng 15% tổng chi tiêu cho toàn bộ Mô hình
Lợi ích của người học
Học viên tham gia Mô hình đào tạo nghề kép được xem xét lợi ích trên khía cạnh: Quyền lợi; Sự công nhận của xã hội và những kỹ năng nhận được
Quyền lợi: Đối tượng học viên là thanh niên (những người dưới 18 tuổi) được đảm bảo các quyền lợi hợp phát chính đáng Tại Đức, quyền lợi học viên trẻ được bảo vệ bởi Luật Bảo hộ người lao động trẻ (JArbSchG) bên cạnh Luật Dạy nghề (BBiG)
Học viên tham gia Mô hình đào tạo nghề kép trực tiếp tham gia các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Vì vậy, học viên cần được nhận một khoản hỗ trợ tài chính trong toàn bộ thời gian học việc tại doanh nghiệp Tại Đức, mối quan hệ pháp lý giữa doanh nghiệp và học viên được xác định thông qua hợp đồng đào tạo Hợp đồng đào tạo quy định các điều khoản thỏa thuận phù hợp với các quy định trong BBiG; đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp và người học trong toàn bộ quá trình học nghề tại nơi sản xuất
Trang 23xvi
Chương 2: ĐÁNH GIÁ ÁP DỤNG MÔ HÌNH ĐÀO TẠO
NGHỀ KÉP TẠI VIỆT NAM
Mô hình đào tạo nghề tại Việt Nam
Phân tích Mô hình đào tạo nghề tại Việt Nam theo các điểm nội dung trong
Mô hình đào tạo nghề kép của Đức
o Các bên tham gia
Hoạt động đào tạo nghề được thực hiện ở 3 cấp: cấp trung ương, cấp địa phương và cấp cơ sở
Cấp Trung ương: MOLISA là cơ quan quản lý nhà nước đối với các hoạt động đào tạo nghề
Cấp Địa phương: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tại từng địa phương chịu trách nhiệm với các hoạt động đào tạo nghề tại từng địa phương
Cấp Cơ sở đào tạo nghề: Trường nghề
o Chương trình đào tạo nghề tại Việt Nam
Luật Dạy nghề (2006), Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành chương trình khung đối với từng nghề đào tạo trình độ trung cấp và cao đẳng Trên cơ sở chương trình khung, các cơ sở dạy nghề ban hành chương trình dạy nghề chi tiết
Luật Giáo dục nghề nghiệp (2015) việc xây dựng chương trình đào tạo nghề
đã có những thay đổi, Nhà nước không ban hành chương trình khung mà giao cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tự chủ xây dựng chương trình đào tạo Việt Nam đã hình thành Khung trình độ quốc gia bao gồm 8 bậc Theo đó, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp căn cứ vào chuẩn đầu ra của từng bậc trong khung trình độ quốc gia để xây dựng chương trình đào tạo cho phù hợp
Tuy nhiên, đây mới chỉ là những quy định pháp lý ban đầu được đưa ra trong Luật GDNN Thực tế các chương trình đào tạo nghề đang được trường nghề xây dựng dựa trên cơ sở là chương trình khung do MOLISA ban hành trước đó
Do vậy, các chương trình đào tạo hiện nay vẫn còn mang tính cứng nhắc và chưa được thay đổi, cập nhật bắt kịp với những thay đổi trên thị trường lao động
Trang 24o Cơ chế tài chính và chia sẻ lợi ích trong đào tạo
Tài chính cho dạy nghề đã được xã hội hóa song chưa nhiều, NSNN vẫn là nguồn tài chính chủ yếu (khoảng 60% nguồn tài chính sử dụng trong dạy nghề đến
từ NSNN) Nguồn tài chính dành cho đào tạo nghề ngoài NSNN gồm: Lệ phí, học phí tuyển sinh học nghề; Các khoản thu từ dịch vụ, hoạt động sản xuất kinh doanh,
tư vấn chuyển giao công nghệ của cơ sở dạy nghề; Đầu tư, tài trợ của các tổ chức và
cá nhân trong và ngoài nước
Việt Nam chưa hình thành một cơ chế chia sẻ lợi ích trong đào tạo giữa chính quyền và doanh nghiệp Nguyên nhân là do các quy định pháp lý về việc doanh nghiệp được phép tham gia vào hoạt động đào tạo nghề mới được ban hành trong Luật GDNN năm 2015 Cần có thời gian để các nhà hoạch định chính sách cụ thể hóa những quy định trong luật và hình thành một cơ chế chia sẻ lợi ích trong đào tạo giữa hai bên
Chương trình thí điểm Mô hình đào tạo nghề kép tại Việt Nam
Các chương trình thí điểm được thực hiện trên cơ sở Tuyên bố chung liên quan đến phát triển nguồn nhân lực giữa Việt Nam và Đức năm 2013 Chương trình thử nghiệm bắt đầu được triển khai từ năm 2013, đào tạo thử nghiệm với ba ngành
nghề: Cơ khí, Điện - Điện tử, Cơ điện tử Các doanh nghiệp FDI 100% vốn của
Đức tham gia hợp tác đào tạo với hai trường nghề Việt Nam là Trường cao đẳng nghề LILAMA2 và Trường ĐHSP – Kỹ thuật Hưng Yên Chính phủ Đức hỗ trợ các trường nghề Việt Nam trong chương trình thử nghiệm thông qua hoạt động của GIZ
và KfW trong sự phối hợp chặt chẽ với GIC/AHK Việt Nam GIZ hỗ trợ về mặt kỹ thuật với trường nghề trong việc nâng cao năng lực trong đào tạo của giảng viên nghề Máy móc, thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình đào tạo tại trường nghề do KfW tài trợ GIC/AHK Việt Nam đảm bảo những tiêu chuẩn đào tạo nghề của Đức được tuân thủ và đảm bảo việc cấp giấy chứng nhận đào tạo theo tiêu chuẩn của
Hiệp Hội các Phòng Công nghiệp và Thương Mại tại Đức (DIHK)
Thực trạng các chương trình đào tạo thử nghiệm
- Về nội dung
Các bên tham gia: Ở cấp độ cơ sở đào tạo, tham gia chương trình thí điểm
bao gồm các trường nghề được MOLISA xem xét, lựa chọn và các doanh nghiệp
Trang 25xviii
FDI 100% vồn của Đức Vai trò tham gia chương trình thí điểm của MOLISA, Sở Lao động, Thương binh – Xã hội địa phương nơi doanh nghiệp, trường nghề hạn
chế còn mờ nhạt
Chương trình đào tạo: Nội dung đào tạo được thiết kế, xây dựng dựa trên cơ
sở là khuôn mẫu Chương trình đào tạo khung của phía Đức Chất lượng các chương trình đào tạo thử nghiệm này đã đáp ứng được các yêu cầu về tiêu chuẩn, chất lượng chương trình đào tạo theo Mô hình kép của Đức Tuy nhiên, yếu tố phù hợp với các đặc điểm đặc thù của hệ thống đào tạo nghề ở Việt Nam hiện vẫn chưa được tính tới
trong nội dung đào tạo của các chương trình thử nghiệm này
Cơ chế tài chính và chia sẻ lợi ích đào tạo: Tài chính trong các chương trình
đào tạo thử nghiệm chủ yếu nhận hỗ trợ tài chính từ phía Chính phủ Đức Cơ sở thực hiện chương trình là hợp đồng liên kết đào tạo giữa trường nghề Việt Nam và doanh nghiệp FDI Đức Chính phủ Đức hỗ trợ tài chính cho chương trình thông qua việc cử giảng viên phía Đức sang đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ giảng viên các trường nghề, đào tạo học viên khóa học; tài trợ trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở vật chất thực hành nghề tại các trường nghề Chi phí đào tạo tại doanh nghiệp do doanh nghiệp Đức chi trả Vai trò tài chính của chính quyền trung ương và chính quyền địa phương đối với các chương trình đào tạo thử nghiệm chưa được rõ nét
- Về điều kiện áp dụng
Khung pháp lý: Chưa có quy định pháp luật cụ thể điều chỉnh các hoạt động đào
tạo nghề trong chương trình thử nghiệm Căn cứ pháp lý cho các hoạt động đào tạo trong chương trình là hợp đồng đào tạo ký kết giữa doanh nghiệp Đức và trường nghề
Chuẩn đầu ra: Chuẩn đầu ra cho các ngành nghề đào tạo thí điểm được sử
dụng là chuẩn đầu ra ngành nghề của phía Đức Các chương trình đào tạo thử nghiệm chưa thiết kế xây dựng được chuẩn đầu ra riêng phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển của Việt Nam
Năng lực của doanh nghiệp: Doanh nghiệp tham gia chương trình thử
nghiệm là doanh nghiệp FDI 100% vốn của Đức, đã tham gia đào tạo nghề theo Mô hình kép ở Đức Vì vậy các doanh nghiệp đảm bảo được yêu cầu về cơ sở vật chất
Trang 26kỹ thuật và năng lực, trình độ giảng viên, chuyên gia hướng dẫn nghề tham gia đào tạo trong chương trình
Năng lực của trường nghề: Hai trường nghề tham gia chương trình thử nghiệm
là các trường đứng đầu Việt Nam về cơ sở vật chất thiết bị phục vụ đào tạo và chất lượng đào tạo Tuy nhiên, các trường vẫn chưa đảm bảo được các yêu cầu về cơ sở vật chất và năng lực giảng viên Chính phủ Đức phải hỗ trợ các trường về cả tài chính lẫn
kỹ thuật giúp các trường đạt được những yêu cầu về năng lực Mô hình đặt ra
Lợi ích của người học: Sự tham gia và lợi ích của người học trong chương
trình thử nghiệm còn hạn chế Học viên nghề tham gia đào tạo được lựa chọn cẩn thận thông qua kỳ kiểm tra đánh giá đầu vào Các lợi ích của học viên khi tham gia chương trình cũng chưa được tuyên truyền, phổ biến rộng
Đánh giá nội dung Mô hình
o Các bên tham gia
Các bên tham gia theo các cấp chưa được thể hiện trong các chương trình đào tạo nghề thử nghiệm tại Việt Nam Chương trình đào tạo thử nghiệm dựng lại ở việc đảm bảo sự tham gia ở cấp cơ sở Cơ sở đào tạo nghề tham gia chương trình thông qua ký kết các hợp đồng đào tạo, với sự hỗ trợ từ phía Chính phủ Đức Hiện chưa có văn bản pháp lý hướng dẫn cụ thể các nội dung đào tạo nghề tại doanh nghiệp và mối quan hệ liên kết đào tạo giữa trường nghề và doanh nghiệp Vai trò, chức năng, nhiệm vụ cụ thể của cấp chính quyền trung ương và cấp chính quyền địa phương cụ thể điều chỉnh liên quan tới các hoạt động đào tạo nghề theo Mô hình kép chưa được hình thành Vai trò của MOLISA trong chương trình thử nghiệm dừng lại ở tạo các điều kiện thuận lợi cho các trường nghề tham gia trong chương trình Kết quả điều tra bảng hỏi cho thấy, 68,6% ý kiến được hỏi cho rằng mô hình GDNN hiện nay ở Việt Nam cần hình thành một tổ chức độc lập trong cơ cấu tổ chức Tổ chức độc lập này có vai trò tham gia điều phối, hỗ trợ và quản lý Mô hình Trên 60% ý kiến cho rằng cơ cấu tổ chức bộ máy của Tổ chức độc lập bao gồm đại diện đến trường nghề và doanh nghiệp đào tạo nghề “Tư vấn đối với các vẫn đề liên quan tới Mô hình đào tạo nghề” được trên 80% ý kiến phản hồi đánh giá là nhiệm vụ quan trọng nhất của Tổ chức điều phối Mô hình tại Việt Nam
Trang 27xx
o Chương trình đào tạo
Việt Nam chưa hình thành khung chương trình đối với các ngành nghề đào tạo Khung chương trình đào tạo được sử dụng trong chương trình thử nghiệm được
sử dụng là chương trình đào tạo khung trong Mô hình đào tạo nghề kép ở Đức Trong kết quả điều tra, tỷ lệ 77% các ý kiến khảo sát cho rằng đào tạo nghề theo Mô hình kép nên được xen kẽ kết hợp với mô hình đào tạo nghề truyền thống hiện nay
ở Việt Nam Hai mô hình đào tạo nghề kép và đào tạo nghề truyền thống cần được tiếp tục triển khai song song trong đào tạo nghề tại Việt Nam Trên 70% ý kiển phản hồi (27/35) đánh giá nội dung chương trình đào tạo khung cần có sự “Kết hợp
sự tham gia của doanh nghiêp, trường nghề và nhà nghiên cứu lĩnh vực giáo dục – đào tạo nghề cải biến, điều chỉnh khung giáo trình chuẩn của các quốc gia đang phát triển phù hợp với điều kiện của thể của Việt Nam” Nội dung tiên quyết cần được đảm bảo trong thiết kế xây dựng các chương trình đào tạo khung là “Chất lượng đầu
ra học viên đảm bảo nhu cầu thực tế của thị trường lao động” Nội dung khung chương trình đào tạo theo Mô hình kép cần đảm bảo yếu tố về cập nhật và làm mớ
về nội dung Tỷ lệ 60% ý kiến khảo sát hoàn toàn đồng ý đưa ra nhận định này
o Cơ chế tài chính và chia sẻ lợi ích trong đào tạo
- Cơ chế tài chính
Cơ chế tài chính chi tiêu cho hoạt động GDNN hiện nay ở Việt Nam chủ yếu
do NSNN tài trợ (chiếm 60%) Công tác xã hội hóa, kêu gọi nguồn tài trợ từ các doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào hoạt động đào tạo nghề chưa cao Tài chính trong chương trình thí điểm đã có sự tham gia của doanh nghiệp đào tạo nghề Tuy nhiên, vai trò tài chính của doanh nghiệp, chính quyền địa phương, chính quyền trung ương vẫn cần được làm rõ ràng Trong các chương trình thí điểm vai trò tài chính của các cấp chính quyền chưa được rõ ràng Vẫn có hỗ trợ tài chính đáng kể
từ phía chính phủ Đức cho các trường nghề trong hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ chương trình giảng dạy Sự hỗ trợ về mặt tài chính này không thể tiến hành triển khai, phổ biến trên diện rộng Kết quả khảo sát thu về 100% ý kiến cho rằng cần hình thành quy chế tiến hành thỏa thuận tài chính giữa doanh nghiệp và trường
Trang 28nghề Tỷ lệ 97% người được điều tra đưa ra giải pháp xây dựng hợp đồng đào tạo thỏa thuận giữa doanh nghiệp và học viên trước khi tham gia Mô hình đào tạo trong
cơ chế tài chính dạy nghề
- Cơ chế chia sẻ lợi ích
Chia sẻ lợi ích của doanh nghiệp tham gia Mô hình đào tạo nghề kép được thể hiện thông qua kết quả phân tích chi phí – lợi ích (CBA) Kết quả trong CBA giúp tạo động cơ khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam tham gia mạnh mẽ hơn vào hoạt động đào tạo nghề CBA bắt đầu được tiến hành thực hiện ở Việt Nam trong thời gian gần đây Khảo sát CBA bước đầu đã phân tích chi phí – lợi ích của
14 doanh nghiệp tại 4 các tỉnh/thành phố hoạt động trong hai nghề là Điện công nghiệp và Cắt gọt kim loại Kết quả CBA cho thấy: Có 10/14 doanh nghiệp thu được lợi ích từ các hoạt động của học viên thực tập tại doanh nghiệp; cao hơn hẳn
so với chi phí mà họ phải bỏ ra Mức “lỗ” của 4 doanh nghiệp trong khảo sát là không lớn Các doanh nghiệp có thể chấp nhận được mức chi phí ròng nếu như chi phí không quá lớn Bên cạnh lợi ích kinh tế, việc nhận học viên thực tập còn thực sự giúp cho các doanh nghiệp phần nào giải quyết được khó khăn khi thiếu lao động và giúp doanh nghiệp cải thiện hình ảnh cũng như vị thế tại cộng đồng
Đánh giá điều kiện áp dụng Mô hình
o Khung pháp lý
Việt Nam mới đưa vào điều chỉnh các quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động đào tạo nghề Trong đó, Luật GDNN năm 2015 bắt đầu cho phép doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động dạy nghề Các quy định mới dừng lại ở các điều khoản ghi trong Luật, chưa có các văn bản hướng dẫn, quy định cụ thể về hoạt động của doanh nghiệp
Các tiêu chí trường nghề chất lương cao đang trong giai đoạn xây dựng Các tiêu chí về tiêu chuẩn cơ sở vật chất, trình độ đội ngũ giảng viên nghề; khung chương trình đào tạo, giáo trình đào tạo, chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo đầu ra… trong các trường nghề chất lượng cao đang được Chính phủ nghiên cứu, xây dựng
và đồng bộ chuẩn hóa Việc xây dựng các tiêu chí trường nghề chất lượng cao được
Trang 29o Chuẩn đầu ra
Việt Nam đang trong giai đoạn xây dựng chuẩn đầu ra trong đào tạo nghề Bao gồm hình thành đề thi kỹ năng nghề quốc gia (KNNQG); tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia (TCKNNQG) và khung trình độ quốc gia
Đến năm 2015, ngân hàng đề thi đánh giá KNNQG đã được Tổng cục Dạy nghề hoàn thiện cho 82 ngành nghề và đưa vào sử dụng đối với 62 nghề Tiêu chuẩn
kỹ năng nghề quốc gia (TCKNNQG) đang tiếp tục được triển khai xây dựng Đã tiến hành xây dựng TCKNNQG đối với 190 ngành nghề, phê duyệt ban hành với
189 ngành Năm 2016, Khung trình độ quốc gia Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ ban hành Mục đích nhằm phân loại, chuẩn hóa năng lực, khối lượng học tập tối thiểu và văn bằng, chứng chỉ phù hợp với các trình độ thuộc giáo dục nghề nghiệp
và giáo dục đại học của Việt Nam Khung trình độ quốc gia bao gồm 8 bậc: Bậc 1 -
Sơ cấp I; Bậc 2 - Sơ cấp II; Bậc 3 - Sơ cấp III; Bậc 4 - Trung cấp; Bậc 5 - Cao đẳng; Bậc 6 - Đại học; Bậc 7 - Thạc sĩ; Bậc 8 - Tiến sĩ
Tuy nhiên, việc xây dựng và công nhận chính thức tiêu chuẩn KNNQG vẫn còn nhiều bất cập Hiện nay, các kỹ năng nghề được công nhận chính thức trên văn bằng chứng chỉ hoàn toàn do cơ sở đào tạo nghề đánh giá và công nhận Những kỹ năng nghề do người lao động có được thông qua đào tạo tại nơi làm việc và tích lũy kinh nghiệm trong thực tiễn thì chỉ được doanh nghiệp nơi làm việc công nhận, chứ chưa được đánh giá, công nhận chính thức bằng hệ thống thống nhất của quốc gia
Trang 30Việc xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ năng đối với từng ngành nghề cần có tính pháp lý
và được công nhận rộng rãi trên phạm vi cả nước TCKNNQG cần đáp ứng được đồng thời các yêu cầu kỹ thuật tại doanh nghiệp và cơ sở đào tạo nghề Đặc điểm được chứng nhận quốc gia là một trong những điều kiện cần thiết giúp mô hình đào tạo nghề kép của Đức được áp dụng tại Việt Nam Tỷ lệ khảo sát 65% ý kiến phản hồi hoàn toàn đồng ý Việt Nam cần thiết xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn và chứng nhận trình độ cấp quốc gia Trên 97% đánh giá điều kiện về chuẩn đầu ra là cần thiết đối với các chương trình đào tạo nghề theo Mô hình kép tại Việt Nam
o Năng lực của doanh nghiệp đào tạo
Hiện tại, Việt Nam vẫn chưa có những văn bản hướng dẫn cụ thể quy định
về hoạt động trong lĩnh vực đào tạo nghề của doanh nghiệp Do đó hệ thống GDNN hiện nay ở Việt Nam chưa có những quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với doanh nghiệp tham gia trong hoạt động đào tạo nghề Trên cơ sở yêu cầu cụ thể hóa các quy định nêu ra trong Luật GDNN năm 2015, Việt Nam cần thiết kế và xây dựng lên một bộ khung quy định về điều kiện năng lực đối với doanh nghiệp tham gia hoạt động đào tạo nghề Việc thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp trong chương trình trình đào tạo thử nghiệm chưa được thực hiện Hai doanh nghiệp FDI của Đức tham gia chương trình thử nghiệm trên cơ sở các cam kết từ phía Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Đức tại Việt Nam (GIC/AHK Việt Nam) đảm bảo về chất lượng đầu ra của học viên đào tạo trong chương trình đạt được các tiêu chuẩn nghề trong Mô hình đào tạo kép của Đức
Chính phủ và MOLISA - cơ quan trực tiếp quản lý nhà nước các hoạt động liên quan đến giáo dục và đào tạo nghề - cần ban hành những chỉ đạo, văn bản hướng dẫn cụ thể quy định điều chỉnh các tiêu chuẩn năng lực đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động đào tạo nghề tại Việt Nam Việt Nam cần hình thành một
bộ khung tiêu chuẩn chung về yêu cầu trình độ đối với các doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề theo Mô hình kép Chính phủ, các nhà hoạch định chính sách có thể tham khảo bộ tiêu chuẩn kỹ năng đối với giảng viên, chuyên gia hướng dẫn nghề trong Việc xây dựng một bộ tiêu chuẩn đối với các giảng viên hướng dẫn thực hành nghề trong AEVO của Đức khi tiến hàn xây dựng bộ tiêu chuẩn của Việt Nam
Trang 31o Năng lực của trường nghề
Phân tích thực trạng năng lực trường nghề trong chương trình đào tạo thí điểm cho thấy: Hiện nay các trường nghề tại Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu tiêu chuẩn cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động đào tạo và chất lượng giảng viên đào tạo nghề chưa đáp ứng được các yêu cầu về trình độ của chương trình Để có thể áp dụng rộng rãi Mô hình đào tạo nghề kép, điều kiện về năng lực của các trường nghề tại Việt Nam cần bổ sung và hoàn thiện hơn nữa Các trường nghề cần được tích cực đầu tư hiện đại hóa hệ thống cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy hiện có và đào tạo, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ, trình độ chuyên môn của giảng viên đào tạo nghề “Đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020” là bước đi đầu tiên của Chính phủ Việt Nam trong việc hoàn thiện các tiêu chí về kỹ năng, trình độ của giảng viên đào tạo nghề và tiêu chuẩn cơ sở, vật chất kỹ thuật tại các trường nghề Bước đi này mang tính quyết định trong việc xây dựng bộ tiêu chuẩn năng lực đào tạo đối với các trường nghề đào tạo nghề theo Mô hình kép
o Lợi ích người học
- Sự chấp nhận của xã hội đối với lao động trình độ nghề
Việt Nam đang đối mặt với sự mất cân bằng trầm trọng trong cơ cấu trình độ CMKT của lực lượng lao động, với nguồn nhân lực trẻ có trình độ CMKT thấp Khoảng 80% LLLĐ là không có trình độ CMKT LLLĐ đã qua đào tạo nghề trong
cơ cấu LLLĐ chiếm khoảng 5%; lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng chiếm khoảng 6% Trong thời gian qua đã có sự chuyển biến tích cực trong cơ cấu LLLĐ của Việt Nam phân theo trình độ CMKT (tỷ lệ LLLĐ có CMKT tăng từ 16,8% năm 2012 lên 20,3% năm 2015), tuy nhiên mức tăng này vẫn còn khiêm tốn so với nhu cầu về lao động có CMKT của toàn nền kinh tế Đào tạo nghề
Trang 32hiện nay vẫn chưa thực sự tạo được sự hấp dẫn đối với người học Đặt ra thách thức không nhỏ đối với GDNN Việt Nam nhằm thu hút được sự quan tâm từ phía xã hội
và người học đồng thời nâng cao vị thế xã hội cho những người đã tốt nghiệp các chương trình đào tạo nghề
- Sự thu hút và tính hấp dẫn của các chương trình đào tạo nghề đối với học viên
Thực trang đa phần học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông lựa chọn theo học các trình độ cao đẳng, đại học thay vì lựa chọn các chương trình dạy nghề
và trung cấp chuyên nghiệp diễn ra ở Việt Nam trong thòi gian dài Trên 75% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông lựa chọn thi vào các trường cao đẳng, đại học
Kết quả tiến hành khảo sát, các ý kiến khảo sát đánh giá yếu tố nhận thức xã hội có ảnh hưởng lớn đến động lực tham gia đào tạo nghề của học viên Yếu tố
“Hình thành mối liên hệ chặt chẽ giữa các trường cấp 1, 2 và trường nghề” và “Tổ chức các buổi tọa đàm, hướng nghiệp” có ảnh hưởng lớn nhất đến việc thay đổi nhận thức xã hội đối với dạy nghề
Trang 33- Khung chương trình đào tạo nghề hiện nay của Việt Nam còn “cứng nhắc”
và chưa đáp ứng được các điều kiện trong thiết kế, xây dựng khung chương trình đào tạo nghề của Mô hình kép
- Hệ thống đánh giá Tiêu chuẩn nghề quốc gia Việt Nam đang trong giai đoạn đầu hoàn thiện Tuy nhiên hệ thống này hiện vẫn còn thiếu sự tham gia xây dựng và đánh giá từ phía các doanh nghiệp đào tạo nghề
- Một trong các thách thức trong việc áp dụng Mô hình đào tạo nghề kép ở Việt Nam là sự tham gia của các doanh nghiệp còn rất hạn chế Doanh nghiệp chưa nhận thấy được cả về trách nhiệm cũng như lợi ích của việc tham gia đào tạo nghề Việc tham gia vào các hoạt động và chương trình đào tạo nghề vẫn còn mới mẻ đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam
- Thách thức trong việc áp dụng Mô hình đào tạo nghề kép tại Việt Nam còn đến từ sự thiếu chủ động của một số cơ sở đào tạo nghề trong việc đề nghị hợp tác với doanh nghiệp trong các chương trình và hoạt động đào tạo nghề
Hoàn thiện nội dung Mô hình đào tạo nghề kép tại Việt Nam
o Hoàn thiện các bên tham gia Mô hình
Vai trò, trách nhiệm của các bên tham gia trong Mô hình được hoàn thiện thông qua việc hình thành một hệ thống hành lang pháp lý đầy đủ điều chỉnh hoạt động của các bên khi tham gia Mô hình Trong quá trình phân tích có thể thấy được hiện nay Việt Nam còn thiếu một hành lang pháp lý điều chỉnh các hoạt động đào tạo nghề tại doanh nghiệp – một trong những đặc điểm “cốt lõi” tạo nên thành công cùng bản sắc của Mô hình Hoàn thiện hành lang pháp lý là việc đầu tiên cần làm trong việc hoàn thiện sự tham gia của các bên trong Mô hình đào tạo
Trang 34o Hoàn thiện nội dung chương trình đào tạo
Các doanh nghiệp cần được tham gia đào tạo nghề theo Mô hình kép trực tiếp cùng thực hiện việc thiết kế, xây dựng và triển khai khung chương trình đào tạo cùng với các trường nghề Nội dung chương trình giảng dạy khung thường xuyên được cập nhật bắt kịp các thay đổi công nghệ
Chương trình đào tạo thí điểm theo Mô hình kép hiện nay đang được thiết kế hoàn toàn dựa trên cơ sở chương trình đào tạo khung của phía Đức Việc áp dụng toàn bộ khung chương trình đào tạo Mô hình kép vào hệ thống đào tạo nghề của Việt Nam sẽ không hoàn toàn phù hợp do đặc thù hệ thống giáo dục và nền kinh tế Đức có nhứng điểm khác so với Việt Nam Việc thiết kế và xây dựng một khung chương trình đào tạo nghề theo Mô hình kép của Việt Nam cần đảm bảo được các yếu tố đặc thù của Việt Nam bên cạnh các yêu cầu về tiêu chuẩn chương trình đào tao trong Mô hình kép của Đức
o Hoàn thiện cơ chế tài chính
a Đưa ra các quy định và thể hiện rõ hơn vai trò tài chính của các các cấp chính quyền từ cấp trung ương đến cấp cơ sở trong các hoạt động đào tạo nghề theo
Giải pháp hình thành một về hệ thống thu phí đào tạo sẽ giúp Việt Nam giải quyết
được khó khăn này
Hoàn thiện điều kiện áp dụng Mô hình tại
o Hoàn thiện khung pháp lý
Luật GDNN năm 2015 của Việt Nam ban đầu đã có những đề cấp tới hình thức tham gia trực tiếp vào các hoạt động giáo dục và đào tạo nghề cảu doanh
Trang 35xxviii
nghiệp Vẫn chưa có những văn bản cụ thể quy định và hướng dẫn thực hiện hình thức tham gia của doanh nghiệp về các phương thức đào tạo, cách thức tham gia và các giới hạn đặt ra đối với doanh nghiệp Hành lang pháp lý có vai trò như luật chơi giúp các bên tham gia chơi đúng luật trong một sân chơi đây hấp dẫn đó là đào tạo nghề Bộ khung pháp lý của Việt Nam cần làm rõ được: vai trò và trách nhiệm của doanh nghiệp trong Mô hình; cơ chế tài chính của doanh nghiệp trong Mô hình; quy định về thỏa thuận giữa doanh nghiệp và học viên học việc tại doanh nghiệp; các quy định cơ chế chính sách ưu đãi của chính phủ danh cho các doanh nghiệp tham gia Mô hình
o Hoàn thiện chuẩn đầu ra
a Thiết kế, xây dựng và hình thành một bộ tiêu chuẩn đánh giá và thước đo chất lượng đào tạo cấp quốc gia phù hợp và được công nhận bởi tất cả các doanh nghiệp
b Hoàn thiện các tiêu chuẩn đào tạo thông qua việc hình thành nên hệ thống các trường nghề chất lượng cao
o Hoàn thiện yêu cầu năng lực của doanh nghiệp đào tạo
a Xây dựng tiêu chuẩn đào tạo đối với các doanh nghiệp tham gia Mô hình
b Đảm bào các lợi ích cho doanh nghiệp khi tham gia Mô hình về quyền được trực tiếp tham gia xây dung chương trình đào tạo và đánh giá chất lượng đào tạo đầu ra
c Hoàn thiện các phân tích chi phí – lợi ích khi doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề và vuyên truyền thông qua các kết quả phân tích chi phí – lợi ích (CBA) tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong hoạt động đào tạo nghề
o Hoàn thiện yêu cầu năng lực của trường nghề
Tiếp tục hoàn hiện các tiêu chuẩn về trình độ, kỹ năng giảng viên nghề; các tiêu chuẩn về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác giảng dạy trong “Đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020"
Tích cực triển khai xã hội hóa trong các hoạt động đào tạo nghề, đặc biệt là các hoạt động đào tạo nghề theo Mô hình kép
Tăng cường tự chủ hơn nữa cho các cơ sở dạy nghề và thắt chặt mối liên kết giữa các doanh nghiệp và trường nghề
Trang 36o Hoàn thiện điều kiện lợi ích người học
Các giải pháp hoàn thiện yếu tố sự tham gia của người học trong Mô hình bao gồm (1) các giải pháp nhằm thay đổi nhận thức học sinh đối với học nghề và (2) các giải pháp nâng cao vị thế xã hội thay đồi nhận thức xã hội đối với việc học nghề
a Phân luồng giáo dục rõ ràng từ cấp phổ thông cơ sở
b Thiết lập mối liên kết đào tạo chặt chẽ giữa trường nghề và các trường cấp hai
c Đưa ra các quy định cụ thể về giáo dục định hướng nghề nghiệp trong các
trường trung học cơ sở
d Tuyên truyền thay đổi nhận thức của giáo viên trung học cơ sở về dạy nghề và giáo dục hướng nghiệp nghề
đ Thay đổi nhận thức của phụ huynh học sinh về việc học nghề
Định hướng lộ trình hoàn thiện áp dụng Mô hình tại Việt Nam đến năm 2025
- MOLISA hoàn thiện và trình Chính phủ ban hành các văn bản hướng dẫn điều chỉnh các hoạt động đào tạo nghề theo Mô hình kép; MOLISA ban hành các quy định cụ thể và văn bản hướng dẫn luật đối với hình thức tham gia đào tạo nghề của các doanh nghiệp
- Xây dựng và ban hành danh m ục đào tạo nghề nghiê ̣p ban đầu đào tạo theo
Trang 37Mô hình vào một hệ thống giáo dục – đào tạo nghề sẵn có mỗi quốc gia cần có những điều chỉnh, thay đổi trong nôi dung Mô hình phù hợp với đặc thù quốc gia đó nhưng vẫn đảm bảo giữ được những đặc trung cốt lõi tạo nên Mô hình
2 Mô hình đào tạo nghề kép là mô hình đào tạo nghề theo định hướng thực hành cao Mô hình đặc trưng bởi sự liên kết và tham gia chặt chẽ của các bên liên quan trên tất cả các mặt cấu thành Bắt đầu từ những quy phạm pháp luật của Đức điều chỉnh các nội dung, hoạt động của Mô hình đã có những quy định cụ thể về vai trò, trách nhiệm, cách thức tham gia của từng bên liên quan trong Mô hình Sự tham gia và liên kết chặt chẽ giữa các bên trong Mô hình tạo nên một mạng lưới gắn kết tạo thành một tổng thể phức hợp hoàn chỉnh Đây chính là đặc điểm đặc trưng nhất tạo nên thành công và sự khác biệt của Mô hình đào tạo nghề kép của Đức với các
mô hình đào tạo nghề kép khác
3 Hệ thống giáo dục – đào tạo nghề của Việt Nam chưa có chính thức bất kỳ một hình thức đào tạo nghề nào có sự tham gia đào tạo đồng thời của trường nghề và các doanh nghiệp Tuy nhiên thực trạng đào tạo nghề tại Việt Nam hiện nay phù hợp
và hoàn toàn có thể áp dụng Mô hình đào tạo nghề kép của Đức vào trong hệ thống
4 Việt Nam có một thị trường lao động dồi dào với cơ cấu dân số trẻ Tuy nhiên, đặc điểm thị trường lao động hiện nay của Việt Nam đa phần là lao động không có trình độ CMKT Việc áp dụng một mô hình đào tạo nghề với định hướng thực hành cao như Mô hình đào tạo nghề kép của Đức là cơ hội lớn giúp Việt Nam giảm tỷ lệ lao động đang làm việc không có trình độ CMKT và nâng cao tỷ trọng lao
Trang 38động đã qua đào tạo nghề trong các ngành kinh tế Từ đó giúp nâng cao thu nhập bình quân và thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các trình độ CMKT trong nền kinh tế
5 Hiện nay, trên cơ sở hợp tác phát triển nguồn nhân lực giữa Chính phủ Đức và Chính phủ Việt Nam, Mô hình đào tạo nghề kép đang được thử nghiệm triển khai ban đầu trên quy mô nhỏ và đạt được một số kết quả ban đầu khả quan
Kỳ vọng hướng tới của những thử nghiệm ban đầu này giúp Việt Nam thiết kế và xây dựng nên một bộ khung tiêu chuẩn đánh giá chất lượng ngành nghề và bộ khung giáo trình chuẩn của từng ngành nghề theo các đặc điểm của Mô hình đào tạo nghề kép Đây là những bước tiến hành chuẩn bị ban đầu giúp Chính phủ Việt Nam thiết kết, xây dựng và áp dụng Mô hình phù hợp với những đặc thù của hệ thống giáo dục và đào tạo nghề Việt Nam
6 Kết quả nghiên cứu và khảo sát cho thấy, Việt Nam có thể bổ sung và áp dụng thêm được Mô hình đào tạo nghề kép vào hệ thống giáo dục – đào tạo nghề hiện có trên phạm vi toàn hệ thống Điều kiện áp dụng mô hình trên toàn hệ thống là Việt Nam cần xây dựng được hành lang pháp lý điều chỉnh Mô hình và có sự tham
gia của các bên liên quan trong thiết kế, xây dựng và tiến hành thực hiện mô hình
Trang 39TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-
-BÙI THÁI THẢO
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ KÉP
(THE DUAL SYSTEM) CỦA CỘNG HÕA LIÊN BANG ĐỨC
VÀ ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGÔ THẮNG LỢI
Trang 40LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục đào tạo Việt Nam hiện nay đang đứng trước thực trạng “thừa thầy thiếu thợ”, tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật trong nhóm “đại học trở lên” cao Trong khi đó, thị trường lao động lại thiếu hụt trầm trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo, có trình độ tay nghề phục vụ trực tiếp quá trình sản xuất Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động tốt nghiệp chương trình đào tạo tại các trường nghề có sự chênh lệch và không đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh thực tế của doanh nghiệp Đứng trước những thực trạng đó giáo dục nghề nghiệp Việt Nam đặt ra yêu cầu cần có những thay đổi trong
mô hình đào tạo hiện tại Mô hình đào tạo nghề mới của Việt Nam cần đảm bảo thỏa mãn được những yêu cầu của thị trường lao động đặt ra, đồng thời đáp ứng được những nhu cầu phát triển mới đặt ra trong nền kinh tế Xu hướng đổi mới mô hình đào tạo nghề của Việt Nam đang ngày càng rõ nét trong thời gian gần đây, thông qua các chương trình hợp tác phát triển đào tạo nghề giữa Việt Nam và một
số quốc gia: Đức, Áo, Hàn Quốc, Vương quốc Anh… Trên thế giới hiện có nhiều
mô hình đào tạo nghề tiên tiến Việt Nam có thể vận dụng, học hỏi trong quá trình cải cách, thay đổi mô hình đào tạo nghề Một trong những mô hình đào tạo nghề tiên tiến được biết đến là Mô hình đào tạo nghề kép của Đức Tại Việt Nam, Mô hình đào tạo nghề kép đang nhận được sự quan tâm lớn đến từ các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách Cấu trúc của Mô hình kép được biết đến và lan tỏa rộng rãi trong các định hướng phát triển đào tạo nghề hiện nay của Việt Nam Sau một quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng Mô hình kép là mô hình đào tạo nghề phù hợp nhất, giúp Việt Nam giải quyết các thực trạng về lực lượng lao động phân tích phía trên và phù hợp với xu hướng đổi mới đào tạo nghề hiện nay Mô hình kép
là mô hình đào tạo nghề theo định hướng thực hành có sự liên kết chặt chẽ giữa các
cơ sở giáo dục nghề nghiệp bao gồm các trường nghề và các doanh nghiệp trong nền kinh tế, doanh nghiệp trực tiếp tham gia các hoạt động đào tạo học viên tại nơi