1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn nghiên cứu hệ tiêu chí đánh giá vốn xã hội và kiến nghị với việt nam

146 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận Văn Nghiên Cứu Hệ Tiêu Chí Đánh Giá Vốn Xã Hội Và Kiến Nghị Với Việt Nam
Tác giả Vũ Thị Thu Phương
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ bối cảnh đó , tác giả cho rằng, muốn phát huy được tầm quan trọng của VXH ở Việt Nam hiện nay, cần thiết phải nghiên cứu một cách cụ thể và sâu rộng về các hệ tiêu chí

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật Các kết quả, kết luận đã nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Các số liệu, tài liệu tham khảo được trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Vũ Thị Thu Phương

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tác giả đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân liên quan trong quá trình nghiên cứu

Trước hết, tác giả xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường đại học Kinh tế Quốc dân, đặc biệt là quý thầy cô khoa Kế hoạch – Phát triển, quý thầy cô Viện sau đại học trường đại học Kinh tế Quốc dân đã tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn này

Tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thày giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn, giáo viên hướng dẫn, đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện luận văn

Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả nhiệt tình

và năng lực của mình tuy nhiên không thể tránh khỏi thiếu sót rất mong quý thầy cô quan tâm góp ý để luận văn hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ i

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG HỆ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VỐN XÃ HỘI 5

1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 5

1.1.1 Về khái niệm, nội hàm của VXH 5

1.1.2 Về đo lường thực nghiệm VXH 9

1.1.3 Các lý thuyết được sử dụng trong luận văn 14

1.3 VXH và tác động hai chiều của nó đến sự phát triển con người và xã hội 18

1.4 Kinh nghiệm quốc tế về đo lường thực nghiệm về VXH 21

1.4.1 Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) 21

1.4.2 Cơ quan thống kê Australia 34

1.4.3 Bộ công cụ đo lường VXH của ngân hàng Thế giới 39

1.4.4 Bộ câu hỏi tích hợp đo lường VXH của Grootaert và cộng sự (2004) 40

CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG HỆ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VỐN XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 43

2.1 Bối cảnh ảnh hưởng đến việc xác định hệ tiêu chí đánh giá Vốn xã hội ở Việt Nam 43

2.1.1 Các yếu tố văn hóa và định chế của vốn xã hội 43

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 46

2.1.3 Đặc điểm chính trị 47

2.1.4 Một số “phí tổn” để duy trì VXH ở Việt Nam 48

2.2 Cấp độ tiếp cận đo lường VXH ở Việt Nam 49

2.3 Đề xuất hệ tiêu chí phù hợp để đánh giá VXH của Việt Nam 51

2.3.1 Căn cứ để xây dựng hệ tiêu chí đánh giá VXH ở Việt Nam 51

Trang 4

2.3.2 Đề xuất hệ tiêu chí phù hợp để đánh giá VXH của Việt Nam 54

2.3.3 Phân loại vốn xã hội 56

2.4 Sử dụng phương pháp nhân tố khám phá EFA để hoàn thiện hệ tiêu chí đã xây dựng 58

2.4.1 Dữ liệu nghiên cứu 58

2.4.2 Kỹ thuật phân tích số liệu 58

2.4.3 Câu hỏi nghiên cứu 59

2.4.4 Kết quả nghiên cứu 60

CHƯƠNG 3 69

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ TRONG VIỆC VẬN DỤNG HỆ TIÊU CHÍ VỀ ĐÁNH GIÁ VỐN XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 69

3.1 Những điểm cần lưu ý khi xây dựng hệ tiêu chí đánh giá VXH 69

3.1.1 Tiếp cận lý thuyết về đo lường VXH 69

3.1.2 Lựa chọn cách tiếp cận đúng 70

3.1.3 Tổng hợp và đơn vị phân tích 70

3.1.4 Bảng điều tra là một phương tiện nghiên cứu VXH 71

3.2 Một số khuyến nghị vận dụng hệ tiêu chí đánh giá VXH ở Việt Nam 71

Từ những lưu ý trên đây, luận văn mạnh dạn đưa ra những khuyến nghị phù hợp trong việc vận dụng khung đo lường đã xây dựng để tiến hành đo lường thực nghiệm trên cấp độ vi mô ở Việt Nam như sau: 71

3.2.1 Mở rộng và phát triển tiếp các nghiên cứu thực nghiệm 71

3.2.2 Xây dựng phương thức chung nhất trong đo lường VXH 72

3.2.3 Lựa chọn đơn vị tập hợp tương quan 75

3.2.4 Tiếp tục hoàn thiện tính sẵn có và khả năng tiếp cận đến số liệu thống kê về VXH 75

3.2.5 Tiếp tục xây dựng và phát triển tốt xã hội dân sự 75

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 88

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tóm tắt các bộ tiêu chí đo lường VXH 51

Bảng 2.2 Tóm tắt việc đo lường đặc điểm mạng lưới 52

Bảng 2.3 Tóm tắt các công cụ đo lường nguồn lực mạng lưới 53

Bảng 2.4 Các khía cạnh và đặc trưng của các loại VXH 57

Bảng 2.5 VXH và câu hỏi xác định tiêu chí đánh giá 59

Bảng 2.6 Bảng tổng hợp và mã hóa các chỉ tiêu 61

Bảng 2.7 Kết quả Cronbach’s alpha của nghiên cứu 62

Bảng 2.8 Bảng kiểm định KMO và Bartlett cho biến độc lập 63

Bảng 2.9 Ma trận xoay cho biến độc lập 64

Bảng 2.10 Kết quả kiểm định tính đơn hướng của mô hình đo lường đại diện 65

Bảng 2.11 Ma trận hệ số tải nhân tố 66

Bảng 2.12 Kết quả bootstrapping mô hình cấu thành 67

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Mạng lưới với một lỗ hổng cấu trúc 16

Sơ đồ 1.2 Tóm tắt nội dung nghiên cứu 17

Sơ đồ 2.1 Khung đo lường VXH ở Việt Nam 55

Sơ đồ 2.2 Kết quả mô hình đo lường chỉ số vốn xã hội 68

Trang 8

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Từ lâu, Vốn xã hội (VXH) được xem là nguồn lực cần thiết cho quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ, phát triển kinh tế bên cạnh những nguồn vốn truyền thống khác như vốn tài nguyên thiên nhiên (natural capital), vốn vật thể (physical capital)

và vốn con người (human capital) (Coleman, 1988; Putnam, 1993; Granovetter, 1995; Narayan và Pritchett,1997; Munshi và Kaivan, 2003; Xue, 2008; Lancee, 2010) Các nhà nghiên cứu của Ngân hàng thế giới cũng cho rằng đây là nguồn vốn của người nghèo (Grootaert & cộng sự, 2004)

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xây dựng cho mình những hệ tiêu chí khác nhau để đánh giá về VXH Tại Việt Nam, từ đầu những năm 2000, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã xem VXH là một nguồn lực rất quan trọng Tuy nhiên, loại vốn này sẽ chỉ có ích khi nó có thể quan sát và đo lường được (Uphoff và Wijayaratna, 2000) VXH là một khái niệm đa chiều và đa hình thức, do

đó một định nghĩa thống nhất về VXH vẫn là vấn đề gây nhiều tranh luận Hơn nữa, tác dụng của các loại VXH khác nhau là không giống nhau (Granovetter, 1995) Hiện nay, sự đánh giá ngày càng cao về tầm quan trọng của các vấn đề xã hội và môi trường cũng như kinh tế trong việc theo đuổi sự thịnh vượng và phúc lợi của mỗi quốc gia VXH cung cấp một số chỉ tiêu xã hội quan trọng để hiểu được kết quả của các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường VXH đã trở thành trọng tâm chung của các chính sách quốc gia và của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, và đóng vai trò như một nguồn lực để đạt được các mục tiêu chính sách khác (ABS-2004)

Xuất phát từ bối cảnh đó , tác giả cho rằng, muốn phát huy được tầm quan trọng của VXH ở Việt Nam hiện nay, cần thiết phải nghiên cứu một cách cụ thể và sâu rộng về các hệ tiêu chí đánh giá VXH đang áp dụng thực tiễn trên thế giới Do

đó, em đã cho ̣n đề tài “Nghiên cứu hệ tiêu chí đánh giá Vốn xã hội và kiến nghị

Trang 9

với Việt Nam” nhằm nghiên cứu những hệ tiêu chí đánh giá VXH trong bối cảnh

thế giới từ đó đề xuất hệ tiêu chí phù hợp để đo lường VXH ở Viê ̣t Nam hiện nay

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.5 Dự kiến đóng góp của luận văn

1.6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng hệ tiêu chí đánh giá VXH Chương 2: Đề xuất xây dựng hệ tiêu chí đánh giá VXH ở Việt Nam

Chương 3: Một số khuyến nghị trong việc vận dụng hệ tiêu chí về đánh giá VXH ở Việt Nam

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG HỆ

TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VỐN XÃ HỘI 1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1 Về khái niệm, nội hàm của VXH

 Theo Hanifan (1916), từ “VXH” không có nghĩa thông thường là vốn như bất động sản, tài sản cá nhân hay tiền mặt

 Bourdieu (1986) cũng đồng quan điểm với Hanifan (1916) khi cho rằng VXH có được từ việc sở hữu mạng lưới bền vững các mối quan hệ quen biết, được thể chế hóa Bourdieu (1986) cũng mở rộng khái niệm VXH của Hanifan (1916) khi cho rằng tât cả các mạng lưới quen biết góp phần tạo ra VXH

 Coleman (1988) đã bổ sung rằng VXH là khả năng con người làm việc tự nguyện với nhau mà tiền đề cho hành động này là chuẩn mưc xã hội

 Fukuyama (2000) đưa ra định nghĩa về VXH nhưng nhấn mạnh vào yếu tố chuẩn mực xã hội

Trang 10

 Trần Hữu Dũng, (2006) cho rằng VXH là một khái niệm linh động, “thậm chí mập mờ và chưa đủ chính xác để đưa vào mọi phân tích kinh tế” nhưng đây là “một ý niệm hữu ích” Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra mối quan hệ giữa VXH và phát triển kinh tế, VXH và chính sách kinh tế

 Trần Hữu Quang (2006b) nhấn mạnh rằng “VXH là một hiện thực đặc trưng của những mối dây liên kết giữa con người với nhau trong một cộng đồng hay một xã hội”

 Lê Ngọc Hùng (2008) giới thiệu khái quát lí thuyết về VXH từ tiếp cận kinh

tế để bàn sâu về VXH và MLXH ở Việt Nam

 Hoàng Bá Thịnh (2009) tập trung phân tích quan niệm về VXH, MLXH

1.1.2 Về đo lường thực nghiệm VXH

 Putman (1993) không những đào sâu khái niệm về VXH mà còn đề xuất những chỉ báo nhằm đo lường VXH

 Richard Rose (1998) sử dụng phép phân loại riêng nhằm xác định phạm vi các mạng lưới chính thống và không chính thống cũng như những tương tác của chúng

 Anirudh Krishna và Elizabeth Shrader (1999) xây dựng bảng câu hỏi bao trùm toàn bộ các phương diện của VXH Các bảng điều tra nghiên cứu được chia thành bốn mục: cấp độ cá nhân/hộ gia đình, cấp độ hàng xóm/cộng đồng, cấp độ khu vực và cấp độ quốc gia

 Anirudh Krishna và Norman Uphoff trong một nghiên cứu tại Ấn Độ năm

1999 đã xây dựng một chỉ số “hành vi tập thể hướng tới phát triển” và kiểm tra tính xác thực của phương thức đo bằng việc thử với nhiều giả thuyết giải thích hành vi tập thể Tiếp theo, họ xây dựng “chỉ số VXH” từ 6 biến (thông qua câu hỏi phỏng vấn) với 3 biến cấu trúc và 3 biến nhận thức, sử dụng phân tích yếu tố

 Paul F Whiteley với “mô hình tăng trưởng nội sinh” đã đo lường VXH dưới dạng biến giải thích (explanatory variable) Whiteley sử dụng biện pháp phân

Trang 11

tích các thành tố chính trên 3 “biến tin cậy” từ bản “Điều tra giá trị thế giới” (World Value Survey, 1990-1993)

 Brehm và Rahn xây dựng một “mô hình cấu trúc” của VXH, bao gồm sự tương tác giữa 3 khái niệm: “cam kết dân sự”, “tin tưởng lẫn nhau” và “sự tin cậy vào chính quyền”, nhờ đó họ nhấn mạnh sự tồn tại đặc tính ngoại sinh (và tính động) của khái niệm

 OECD (2001) đã đưa ra các khía cạnh cần đo lường về VXH thông qua 4 tiêu chí: Sự tham gia xã hội; sự tương trợ xã hội; Các MLXH và sự tham gia vào hoạt động cộng đồng

 Cơ quan thống kê Úc (2004) đã công bố tài liệu “Khung phân tích và các chỉ báo đo lường VXH” dựa trên các tiêu chí: Sự tin tưởng; sự hợp tác; sự tham gia xã hội; sự tương hỗ; chấp nhận sự đa dạng; sự tham gia vào đời sống dân sự; trợ giúp cộng đồng; kích thước của mạng lưới; tính chuyển tiếp/di động; quan hệ tình thân; tần số và mức độ truyền thông cho các mạng lưới; quan hệ quyền lực

 V.Vella và D.Narajan (2006) đã xây dựng hệ thống biến số và các chỉ báo

mô tả tương ứng với các biến số đó

 Ngân hàng thế giới cũng đã xây dựng bộ công cụ đo lường về VXH Bộ công

cụ này dài 72 trang gồm hàng trăm câu hỏi nhằm đo lường VXH ở 3 cấp độ:

vi mô, vĩ mô và trung mô

 Stephen J Appold và Nguyễn Quý Thanh đã chỉ ra vai trò của VXH trong các doanh nghiệp nhỏ ở Hà Nội

 Lê Ngọc Hùng (2008) bàn về các quan niệm khác nhau về VXH Tác giả đề cập đến mô hình tổng hợp về VXH, vốn con người và MLXH Trên cơ sở đó, ông bàn thêm về kết quả của một số nghiên cứu cụ thể trên các phương diện: MLXH của người lao động, mạng thông tin của doanh nghiệp, mạng di cư, vai trò của các loại vốn trong xóa đói, giảm nghèo

 Fleur Thomése và Nguyễn Tuấn Anh (2007) đã vận dụng quan điểm VXH để nghiên cứu hiện tượng dồn điền đổi thửa trong sản xuất nông nghiệp ở một làng Bắc Trung Bộ

Trang 12

 Nguyễn Tuấn Anh (2010) có thêm nghiên cứu về vai trò của VXH trong khu vực nông thôn Bắc Trung Bộ

 Khúc Thị Thanh Vân (2012) dựa vào giả thuyết nghiên cứu cho rằng người dân sử dụng có chủ ý VXH (VXH) để nâng cao phúc lợi kinh tế hộ thông qua việc khai thác sức mạnh kinh tế đặc thù của các mối quan hệ gia đình, cộng đồng, và các tổ chức xã hội ở địa phươngvà là nguồn vốn quan trọng cho sự phát triển kinh tế hộ ở nông thôn; VXH đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người nông dân chuyển đổi nghề nghiệp và tạo môi trường cho sự hợp tác cùng phát triển ở cộng đồng nông thôn

 Nguyễn Vũ Quỳnh Anh (2015), từ hướng tiếp cận xã hội học, tập trung làm

rõ một số yếu tố của VXH của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn hiện nay, thực trạng sử dụng VXH cũng như vai trò của nguồn vốn này đối với hoạt động của doanh nghiệp

 Nguyễn Lê Hoàng Thụy và cộng sự (2015), nghiên cứu đo lường VXH của lao động di cư từ nông thôn đến thành phố Hồ Chí Minh

 Đinh Thị Thơm (2009) tiếp cận từ góc độ một số nghiên cứu điển hình về đo lường VXH trên thế giới để rút ra những điểm cần lưu ý khi sử dụng đo lường VXH trong nghiên cứu đánh giá ở Việt Nam

 Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự (2010) thì tập trung vào việc xây dựng khung phân tích về VXH có thể áp dụng và đo lường cho các doanh nghiệp Việt Nam dựa trên mức độ tổng lược các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến VXH ở trong và ngoài nước

1.1.3 Các lý thuyết được sử dụng trong luận văn

Lý thuyết về mối liên hệ yếu (the weak tie theory)

Lý thuyết này cho rằng độ mạnh/yếu của mối liên hệ được thể hiện ở bốn yếu

tố (elements) sau: thời gian dành cho mối quan hệ, cường độ xúc cảm, tình cảm và các hoạt động phục vụ qua lại (reciprocal services) Mạng lưới mối liên hệ mạnh thường bó hẹp trong một cụm người (clique) nên thông tin thường là thông tin cũ Trong khi đó, mạng lưới các mối liên hệ yếu lại là nguồn cung cấp thông tin mới, hữu ích cho cá nhân

Trang 13

Lý thuyết lỗ hổng cấu trúc (The structural holes theory)

Lý thuyết này mô tả VXH là một hàm của các cơ hội thông qua mạng lưới trung gian Lỗ hổng cấu trúc trong mạng lưới xảy ra khi xuất hiện trung gian trong mạng lưới Hình 1 minh họa mạng lưới với 1 lỗ hổng cấu trúc, theo đó C chính là trung gian cho lỗ hổng cấu trúc của cặp A-B Theo Burt (1992), trong thị trường không hoàn hảo, lợi ích sẽ thuộc về người làm chủ nhiều lỗ hổng cấu trúc

Lý thuyết nguồn lực xã hội (The social resources theory)

Lý thuyết này cho rằng VXH là nguồn lực nằm trong mạng lưới Lin & các cộng sự (1999) cho rằng cá nhân tham gia vào mạng lưới mà các thành viên của mạng lưới đó đang sở hữu hay kiểm soát nguồn lực cần cho mục tiêu của cá nhân thì đó chính là nguồn lực VXH

1.1.4 Khoảng trống nghiên cứu

1.2 Bản chất nội hàm của VXH

1.3 VXH và tác động hai chiều của nó đến sự phát triển con người và xã hội

 Tác động tích cực

 Tác động tiêu cực

1.4 Kinh nghiệm quốc tế về đo lường thực nghiệm về VXH

1.4.1 Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD)

- Bản chất việc tham gia nhóm

2 Sự tương trợ xã hội - Loại hình, tần số của sự tương trợ

chính thức và phi chính thức

- Sự tham gia vào các hoạt động cộng đồng: vì lợi ích quốc gia, lợi ích cộng động

4 Lòng tin và chuẩn mực hợp tác - - Lòng tin

- Chuẩn mực xã hội và các giá trị chung

Trang 14

1.4.2 Cơ quan thống kê Australia

1 Sự tin tưởng và lòng tin Sự tin tưởng tổng quát hóa

Sự tin tưởng phi chính thức

Sự tin tưởng vào các thiết chế Lòng tin được tổng quát hóa Cảm giác an toàn tại nhà khi đêm đến

2 Sự tương hỗ Sự tham gia mang tính cộng đồng

Đóng góp thời gian và tiền bạc Thái độ đối với sự đóng góp cho tập thể

3 Cảm giác về sự hiệu

quả

Cảm nhận về tính hiệu quả của cộng đồng Cảm nhận về tính hiệu quả của cá nhân trong cộng đồng

Tính hiệu quả của cá nhân và cộng đồng Tính hiệu quả trong việc ra quyết định của địa phương

Cảm nhận về sự hiệu quả nói chung

4 Sự hợp tác Sự hợp tác trong việc bảo vệ nguồn nước và điện

Sự hỗ trợ cho các sự kiện trong cộng đồng Thái độ đối với sự hợp tác xã hội và cộng đồng

5 Chấp nhận sự đa dạng Chấp nhận các lối sống khác nhau

Chấp nhận sự đa dạng về văn hóa Tính đa dạng của các nhóm Thể hiện hành vi không thiện chí đối với sự đa dạng

về văn hóa Cảm nhận về sự thay đổi thái độ không thiện chí đối với sự đa dạng về văn hóa

6 Sự tham gia xã hội Sự tham gia vào các hoạt động xã hội

Những rào cản đối với sự tham gia xã hội

Trang 15

Sự quy thuộc vào các câu lạc bộ, các tổ chức và các hiệp hội

Số lượng nhóm mà cá nhân tham gia một cách tích cực

Sự gắn bó tôn giáo

Sự tham gia tôn giáo

Độ dài của những thực hành tôn giáo

7 Trợ giúp của cộng đồng Cung cấp sự trợ giúp ra bên ngoài gia đình

Cung cấp sự trợ giúp cho gia đình Tham gia vào các hoạt động từ thiện Mức độ thường xuyên của các công việc tình nguyện

Sự đóng góp của cá nhân cho các tổ chức từ thiện

8 Quan hệ tình thân Số lượng người thân

Số lượng bạn thân Mức độ hài lòng về tình bạn Tình đồng nghiệp

9 Sự tham gia kinh tế Đồng nghiệp cũ nhưng vẫn giữ quan hệ

Lòng tin đối với đồng nghiệp Bạn bè và người thân là nguồn cung cấp thông tin

về tài chính và kinh doanh Tình bạn trong các tổ chức nghiệp đoàn

II CẤU TRÚC MẠNG LƯỚI

1 Kích thước của mạng

lưới

Nguồn trợ giúp khi gặp khủng hoảng Người thân trong gia đình hoặc bạn thân sống gần gũi với cá nhân

Quan hệ với láng giềng Quan hệ với các thiết chế

2 Tần số và mức độ Số lần tiếp xúc “mặt đối mặt” với những người thân

Trang 16

truyền thông trong các

mạng lưới

trong gia đình

Số lần tiếp xúc “mặt đối mặt” với bạn bè

Số lần liên lạc qua điện thoại với những người thân trong gia đình

Số lần liên lạc qua điện thoại với bạn bè

Số lần liên lạc qua mạng hoặc thư điện tử với những người thân trong gia đình

Số lần liên lạc qua mạng hoặc thư điện tử với bạn

Thời gian tham gia vào các tổ chức mà cá nhân tham gia tích cực nhất

Trải nghiệm trong việc tham gia các hoạt động xã hội, cộng đồng

5 Quan hệ quyền lực Sự liên hệ với tổ chức

Quyền được tiếp cận đến các dịch vụ công

III GIAO DỊCH MẠNG LƯỚI

1 Chia sẻ sự hỗ trợ Hỗ trợ vật chất, tài chính và tình cảm

Sự gắn kết với cộng đồng Một số hoạt động khác

2 Chia sẻ kiến thức Sử dụng mạng xã hội để liên hệ với chính phủ

Bạn bè là nguồn cung cấp thông tin về công việc Phương pháp tìm kiếm việc làm

Nguồn thông tin để đưa ra các quyết định trong

Trang 17

cuộc sống

3 Đàm phán Giải quyết mâu thuẫn thông qua thảo luận

Tự tin trong giải quyết mâu thuẫn Sẵn sàng tiếp cận truyền thông Giải quyết các vấn đề địa phương

IV CÁC LOẠI MẠNG LƯỚI

1 Sự liên kết Tính đồng nhất của nhóm

Tính cởi mở của cộng đồng Tính gắn kết thấp

3 Sự liên hệ Liên hệ với các thiết chế

Cảm giác của sự đơn độc trong xã hội

1.4.3 Bộ công cụ đo lường VXH của ngân hàng Thế giới

Năm 2004, nhóm nghiên cứu của ngân hàng thế giới World Bank đã công bố một bộ công cụ gồm hàng trăm câu hỏi đo lường VXH ở các cấp độ vi mô, trung

mô và vĩ mô Điểm lại các nội dung chính, thì tiêu chí xoay quanh việc xây dựng các bộ câu hỏi này được thể hiện tập trung vào: nhóm và mạng lưới; lòng tin; chuẩn mực; quan hệ qua lại

1.4.4 Bộ câu hỏi tích hợp đo lường VXH của Grootaert và cộng sự (2004)

Mục đích của nghiên cứu này là giới thiệu một công cụ như Bảng câu hỏi tích hợp để đo lường VXH (SC-IQ) - với trọng tâm là ứng dụng ở các nước đang phát triển Cụ thể, sáu tiêu chí được xem xét là: nhóm và mạng; Tin tưởng và đoàn kết; Hành động tập thể và hợp tác; thông tin và giao tiếp; Sự gắn kết và hòa nhập xã hội; Trao quyền và hành động chính trị

Trang 18

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ TIÊU CHÍ VÀ KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ THÍ

ĐIỂM VỐN XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

2.1 Bối cảnh thực tế ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Kích thước văn hóa và định chế của vốn xã hội

Chúng ta có thể nhận thấy rõ đặc điểm của VXH Việt Nam hiện nay, một nguồn VXH phong phú được tích lũy qua lịch sử nhiều thế hệ người Việt Nguồn VXH này là các MLXH, tồn tại dựa trên khuôn mẫu/chuẩn mực và sự tin cậy giữa các cá nhân Thực tế MLXH này tồn tại đa dạng trong các quan hệ gia đình, cộng đồng và ngoài xã hội với nhiều cấp độ, loại hình khác nhau

2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

Sự thay đổi theo chiều hướng nhìn nhận và khuyến khích các sáng kiến cá nhân và tính năng động cá nhân chỉ diễn ra trong lĩnh vực kinh tế (mà thực ra quá trình cải tổ này cũng chưa phải đã hoàn tất) Còn trong lĩnh vực xã hội, xu hướng nhà nước hóa vẫn còn rất nặng và chưa thực sự chuyển biến bao nhiêu

2.1.3 Đặc điểm chính trị nổi bật

Việt Nam là một quốc gia thống nhất do duy nhất một Đảng lãnh đạo – đó chính là Đảng cộng sản Việt Nam Chính vì vậy, trong lĩnh vực tư duy quản lý xã hội, một xu hướng không kém phần phổ biến và thống soái là xu hướng chính trị hóa Có lẽ do bị ảnh hưởng sâu xa bởi lối tư duy và phản xạ thời chiến tranh, nên có thể nói phần lớn các nhà lãnh đạo có xu hướng qui mọi thứ về “chính trị”, quan niệm rằng cái gì cũng phải được xem xét dưới quan điểm chính trị, mặc dù có nhiều cái hoàn toàn không thuộc về lĩnh vực chính trị

2.1.4 Liên hệ một số “phí tổn” để duy trì VXH ở Việt Nam

Về bản chất, VXH càng sử dụng thì lại càng được duy trì và phát triển, nhưng

nó sẽ bị mai một đi nếu không được sử dụng thường xuyên Điều này có nghĩa là muốn có được VXH thì phải có những chi phí hoặc “đầu tư” để nuôi dưỡng và duy trì Những phí tổn này bao gồm cả phí tổn kinh tế và phi kinh tế

Trang 19

2.2 Cấp độ tiếp cận đo lường vốn xã hội ở Việt Nam

Do đặc thù về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở Việt Nam hiện nay, nên trong quá trình xây dựng hệ tiêu chí đánh giá VXH, tác giả tập trung đo lường ở cấp

độ vi mô

Việc phân chia nói trên, xét về lý thuyết là thỏa đáng và hợp lý vì có một thực

tế là tại cùng một thời điểm việc sử dụng lý thuyết VXH ở mỗi xã hội luôn có sự khác biệt, thậm chí là những khác biệt rất lớn

2.3 Đề xuất hệ tiêu chí phù hợp để đánh giá VXH của Việt Nam

2.3.1 Căn cứ để xây dựng hệ tiêu chí đo lường VXH ở Việt Nam

Thông qua lược khảo về lý thuyết và đo lường thực nghiệm về VXH ở các nước trên thế giới, luận văn tóm tắt lại các bộ tiêu chí đo lường VXH

Điểm chung lớn nhất của các bộ tiêu chí đo lường VXH là việc đo lường hai khía cạnh: cấu trúc và tri nhận

2.3.2 Đề xuất hệ tiêu chí phù hợp để đo lường VXH của Việt Nam

Xuất phát từ việc kế thừa những quan điểm thống nhất trong cách định nghĩa, phân loại và đo lường VXH của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, khung đo lường VXH đề xuất cho Việt Nam

2.3.3 Phân loại vốn xã hội

Trong các nghiên cứu vi mô, việc hiểu rõ nguồn và kết quả của VXH cũng rất quan trọng Thông thường, các nhà nghiên cứu phân loại VXH theo các chức năng: i) gắn kết (bonding), ii) bắc cầu nối (bridging) và iii) kết nối (linking)

2.4 Sử dụng phương pháp nhân tố khám phá EFA và ứng dụng mô hình SEM để hoàn thiện hệ tiêu chí đã xây dựng

PLS-2.4.1 Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành khảo sát số liệu sơ cấp tại thành phố Việt Nam

2.4.2 Kỹ thuật phân tích số liệu

Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Mô hình hồi quy cấu trúc (PLS-SEM)

Trang 20

2.4.3 Câu hỏi nghiên cứu

2.4.4 Kết quả nghiên cứu

2.4.4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu

2.4.4.2 Đánh giá chỉ số VXH

Độ tin cậy của thang đo

Phân tích EFA

Phân tích PLS-SEM

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ TRONG VIỆC VẬN DỤNG HỆ

TIÊU CHÍ VỀ ĐÁNH GIÁ VỐN XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

3.1 Những điểm cần lưu ý khi xây dựng hệ tiêu chí đánh giá VXH

3.1.1 Tiếp cận lý thuyết về đo lường VXH

Trước hết cần quan tâm đến cách tiếp cận lý thuyết để hiểu được rằng VXH

là một khái niệm đa chiều, có hiệu lực trong nhiều lĩnh vực xã hội Khái niệm hóa VXH theo cách này cho phép phát triển đúng đắn phương thức đo lường và đánh giá VXH và có thể tách bạch giữa kết quả với các yếu tố quyết định đo lường VXH

3.1.2 Lựa chọn cách tiếp cận đúng

Trong nghiên cứu và đánh giá VXH có thể không có sự tương thích giữa bản chất đa chiều của VXH với nhu cầu của chính sách thực hiện chỉ tiêu VXH một cách đơn giản, mang lại lợi nhuận Lý thuyết VXH gợi ra rằng có thể kỳ vọng vào các mối quan hệ và các hành vi mẫu mực khác nhau trong các mạng lưới khác nhau Điều này gợi đến nhu cầu về một quy mô tương đối rộng của các đo lường VXH Mặt khác, một số loại câu hỏi nghiên cứu hay chính sách đòi hỏi một phép đo đơn

lẻ hay ít nhất một khung đo VXH đơn giản hơn ở cấp vi mô hoặc trung mô, vĩ mô

Sự lựa chọn hướng đo liên quan và hiệu quả sẽ phụ thuộc vào nghiên cứu và hình thức đánh giá

3.1.3 Tổng hợp và đơn vị phân tích

Theo định nghĩa, VXH không phải tài sản của một cá nhân, tuy nhiên VXH

có thể được coi là nguồn tài nguyên cho các cá nhân hay các nhóm Do vậy, “trữ

Trang 21

lượng” VXH của một cá nhân (mối quan hệ xã hội mà cá nhân có thể sử dụng) có thể được đo thông qua công cụ bảng hỏi/bảng điều tra về các hoàn cảnh của cá nhân

Dữ liệu về các cá nhân có thể được tổng hợp lại và tạo ra một bức tranh về sự giàu có của VXH trong một hoặc nhiều cộng đồng cụ thể Tuy nhiên, việc tổng hợp các dữ liệu cá nhân thành dữ liệu ở mức cộng đồng thường dẫn đến hai vấn đề phức tạp về đo lường VXH:

Một là, nhu cầu định nghĩa về “cộng đồng” và ranh giới của nó;

Hai là, tổng hợp dữ liệu VXH cho phép phân tích sự phân bố VXH trong nhóm hay cộng đồng, đánh giá tổng thể về “mức độ” VXH của nhóm hay cộng đồng

3.1.4 Bảng điều tra là một phương tiện nghiên cứu VXH

Ưu điểm chính của phương thức thu thập dữ liệu ở mức độ cá thể là có thể xây dựng bản đồ chi tiết về mạng lưới cá nhân, cũng như các đánh giá về chất lượng của mối quan hệ trong mạng lưới Tiếp cận này chỉ ra mức độ và sự phân bố VXH trong một khu vực, cũng như cho thấy một bức tranh cụ thể về VXH trong cuộc sống cá nhân và gia đình Tuy có mặt hạn chế, song thông tin thu thập qua phương thức này gắn với nhận thức và kinh nghiệm của người được hỏi – nó không bao gồm dữ liệu đo “khách quan” hay thông tin từ nhận thức khác

3.2 Một số khuyến nghị xây dựng hệ tiêu chí đánh giá VXH ở Việt Nam

3.2.1 Mở rộng và phát triển tiếp các nghiên cứu thực nghiệm

Bộ tiêu chí được đề xuất mới chỉ dừng lại ở mô hình khái niệm, mặc dù đã

đo lường kiểm chứng nhưng thực hiện trên một phạm vi mẫu hẹp, quy mô nhỏ nên cần tiếp tục mở rộng và phát triển tiếp các nghiên cứu thực nghiệm để kiểm chứng

bộ tiêu chí này Điều này sẽ giúp hoàn thiện hơn nữa bộ tiêu chí đánh giá VXH ở Việt Nam

3.2.2 Xây dựng phương thức chung nhất trong đo lường VXH

Hiện nay, các quan niệm về VXH ở Việt Nam rất khác nhau, do vậy đến nay vẫn chưa có phương thức chung nhất cho đo lường VXH Phương thức đo vẫn chưa

Trang 22

sử dụng khái niệm chung, đồng nhất về định nghĩa VXH Vì vậy, điều này đòi hỏi phải xây dựng phương thức chung nhất trong đo lường VXH hiện nay ở Việt Nam

3.2.3 Lựa chọn đơn vị tập hợp tương quan

Do VXH có thể được đo lường ở các cấp độ khác nhau từ hộ gia đình, cộng đồng tới cấp độ xã hội, tuy nhiên quá trình quyết định nguyên nhân và kết quả của VXH sẽ không giống nhau do có sự khác nhau về mức độ tập hợp thông tin Do vậy, đây là vấn đề đòi hỏi cần được làm sáng tỏ thông qua những nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết khác nhằm giải thích rõ sự khác biệt này cũng như giải quyết được sự thiếu vắng tài liệu về đo lường VXH hiện thời

3.2.4 Tiếp tục hoàn thiện tính sẵn có và khả năng tiếp cận đến số liệu thống kê về VXH

Trong nghiên cứu đo lường thực nghiệm, tác giả gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu thập số liệu thống kê và tiếp cận đến nguồn số liệu thống kê Chúng

ta cũng thừa nhận rằng, một số nội dung và khía cạnh của VXH, muốn đo lường được thì cần phải có số liệu Do vậy, để hoàn thiện việc xây dựng bộ tiêu chí đo lường VXH, cần thiết phải tăng đầu tư vào hệ thống thống kê

3.2.5 Tiếp tục xây dựng và phát triển tốt xã hội dân sự

“Xã hội dân sự” với chức năng “phản biện xã hội” của nó có ý nghĩa trực tiếp và rất lớn lao đối với sự vận hành xã hội trong một thế giới đầy biến động ta đang sống Các tổ chức xã hội tham gia vào quy trình lập pháp, nếu được thực hiện

và thực hiện tốt sẽ là một ghi nhận của chức năng phản biện xã hội mà Đảng đang chủ trương

Trang 23

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ lâu, Vốn xã hội (VXH) được đánh giá là một nguồn vốn có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế và sự phát triển bền vững của một quốc gia bên cạnh những nguồn vốn truyền thống khác như vốn tài nguyên thiên nhiên (natural capital), vốn vật thể (physical capital) và vốn con người (human capital) (Coleman, 1988; Putnam, 1993; Granovetter, 1995; Narayan và Pritchett,1997; Munshi và Kaivan, 2003; Xue, 2008; Lancee, 2010) Các nhà nghiên cứu của Ngân hàng thế giới cũng cho rằng đây là nguồn vốn của người nghèo (Grootaert & cộng

sự, 2004)

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xây dựng cho mình những hệ tiêu chí khác nhau để đánh giá về VXH Tại Việt Nam, từ đầu những năm 2000, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã xem VXH là một nguồn lực rất quan trọng Tuy nhiên, loại vốn này sẽ chỉ có ích khi nó có thể quan sát và đo lường được (Uphoff và Wijayaratna, 2000) VXH là một khái niệm đa chiều và đa hình thức, do

đó một định nghĩa thống nhất về VXH vẫn là vấn đề gây nhiều tranh luận

Hiện nay, sự đánh giá ngày càng cao về tầm quan trọng của các vấn đề xã hội và môi trường cũng như kinh tế trong việc theo đuổi sự thịnh vượng và phúc lợi của mỗi quốc gia VXH cung cấp một số chỉ tiêu xã hội quan trọng để hiểu được kết quả của các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường VXH đã trở thành trọng tâm chung của các chính sách quốc gia và của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, và đóng vai trò như một nguồn lực để đạt được các mục tiêu chính sách khác (ABS-2004)

Trong suốt thập kỷ qua, VXH đã trở thành tâm điểm chú ý của các nghiên cứu thực hành và ứng dụng trong các lĩnh vực khoa học khác nhau Mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu về phương thức đo lường VXH, nhưng cho tới nay việc đo lường VXH vẫn còn nhiều tranh luận Mỗi một công trình điều tra lại sử dụng phương thức đo lường riêng dựa trên cách tiếp cận khác nhau ở cấp độ vi mô, vĩ mô

và trung mô về khái niệm VXH

Trang 24

Xuất phát từ bối cảnh đó , tác giả cho rằng để có chiến lược phát huy nguồn lực VXH ở Việt Nam, việc xây dựng mô hình đo lường VXH là điều rất cần thiết

Do đó, em đã cho ̣n đề tài “Nghiên cứu hệ tiêu chí đánh giá Vốn xã hội và kiến

nghị với Việt Nam” nhằm nghiên cứu những hệ tiêu chí đánh giá VXH trong bối

cảnh thế giới từ đó đề xuất hệ tiêu chí phù hợp để đo lường VXH ở Việt Nam hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu của luận văn này là phân tích bối cảnh thực tế VXH ở Việt Nam, để

từ đó đề xuất xây dựng nên một hệ tiêu chí đo lường VXH phù hợp

Mục tiêu cụ thể

Về lý luận

Nghiên cứu một cách có hệ thống lý luận về VXH và đo lường về VXH

Nghiên cứu đặc thù hệ tiêu chí đo lường VXH trên thế giới

Về phân tích đánh giá

Bối cảnh VXH của Việt Nam hiện nay

 Phân tích và đánh giá sự phù hợp của các hệ tiêu chí đo lường VXH đang

áp dụng hiện nay trên thế giới đối với thực trạng của Việt Nam

Về đề xuất, can thiệp

 Xây dựng một hệ tiêu chí phù hợp với thực tiễn Việt Nam và điều kiện áp

dụng hệ tiêu chí đó trong bối cảnh hiện nay

Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hệ tiêu chí đo lường VXH trên thế giới Từ đó, xây dựng hệ tiêu chí phù hợp để đánh giá VXH ở Việt Nam

hiện nay

Phạm vi nghiên cứu

Về mặt nội dung: Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các hệ tiêu chí đo lường

VXH trên Thế giới đang áp dụng phổ biến hiện nay như OECD, ABS, World Bank,

Trang 25

Grooteart…

Căn cứ vào thực trạng VXH Việt nam hiện nay, luận văn sẽ đề xuất xây dựng hệ tiêu chí đánh giá VXH phù hợp

Về mặt không gian: Luận văn sẽ nghiên cứu cụ thể một số mô hình đo lường

đánh giá VXH tiêu biểu trên thế giới Sau khi đề xuất xây dựng hệ tiêu chí đánh giá phù hợp với thực trạng VXH ở Việt Nam, luận văn sẽ tiến hành kiểm định mô hình

đo lường với phiếu điều tra được gửi đến cho các đối tượng đang sinh sống và học

tập, làm việc trên địa bàn Việt Nam có kinh nghiệm và am hiểu về VXH

Về mặt thời gian: Phần cơ sở lý luận, luận văn sẽ nghiên cứu các mô hình đo

lường đánh giá VXH trên thế giới tiêu biểu từ năm 2001 trở lại đây Phần thực trạng

thì sẽ tiến hành thu thập và điều tra số liệu trong tháng 4 năm 2017

Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu được lựa chọn là nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng

Các nguồn dữ liệu bao gồm:

Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các bài báo nghiên cứu khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước, các công bố trên website của các tổ chức quốc tế và của Tổng cục thống kê Việt Nam…

Nguồn dữ liệu sơ cấp: Điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp thu thập dữ liệu: Nghiên cứu tài liệu văn bản, báo cáo của các

cơ quan ban ngành, quan sát, phỏng vấn…

Công cụ xử lý số liệu: Xử lý số liệu dựa trên phần mềm thống kê SPSS

phiên bản 22.0

Phương pháp phân tích:

Nghiên cứu định tính: dựa trên nền tảng các nghiên cứu trước, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu văn bản để tổng kết, so sánh các quan điểm, cách phân loại và mô hình đo lường VXH trong các nghiên cứu vi mô trên thế giới để khám phá cấu trúc mạng lưới và xác định thang đo tối ưu

Trang 26

Nghiên cứu định lượng: Được tiến hành thông qua phiếu khảo sát nhằm thu thập thông tin cho các thang đo, từ đó sử dụng các công cụ phân tích thống kê, kinh

tế lượng để xác nhận thang đo tối ưu và đảm bảo tính nhất quán trong cách hiểu mạng lưới vì các nghiên cứu trước đây thường bỏ qua các tổ chức/mạng lưới truyền thống, một đặc điểm khá phổ biến ở các nước đang phát triển (Narayan & Cassidy, 2001)

5 Dự kiến đóng góp của luận văn

Về phương diện lý luận: Luận văn đã nêu ra các vấn đề lý luận cơ bản về khái

niệm VXH cũng như cách tiếp cận đo lường thực nghiệm VXH hiện nay trên thế giới

Về phương diện thực tiễn:

Luận văn đã đóng góp một cái nhìn cụ thể hơn về việc xây dựng bộ tiêu chí phù hợp trong đánh giá VXH ở Việt Nam thông qua phân tích và đánh giá thực trạng VXH hiện nay ở Việt Nam

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng hệ tiêu chí đánh giá VXH Chương 2: Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá VXH ở Việt Nam

Chương 3: Khuyến nghị xây dựng hệ tiêu chí đánh giá VXH ở Việt Nam

Trang 27

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG HỆ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VỐN XÃ HỘI

1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1 Về khái niệm, nội hàm của VXH

VXH là thuật ngữ được các nhà nghiên cứu đề cập tới với những luồng quan điểm rất khác nhau, thậm chí trái chiều nhau Chính vì vậy, việc tìm hiểu, phân tích

và đưa ra một cách nhìn chính xác về cụm từ này là một nội dung quan trọng của luận văn

Trên thế giới, thuật ngữ “VXH” lần đầu tiên được đề cập vào năm 1916 bởi một nhà giáo dục người Mỹ, tên là Lyda Judson Hanifan Theo Hanifan (1916), từ

“VXH” không có nghĩa thông thường là vốn như bất động sản, tài sản cá nhân hay tiền mặt VXH ám chỉ thiện chí, tình thân hữu, sự thông cảm và tương tác xã hội giữa các cá nhân và gia đình Mặc dù không nói rõ nhưng Hanifan (1916) đã hàm ý rằng VXH được “tích lũy” khi cá nhân “đầu tư” vào mối liên hệ nhằm “sử dụng” trong tương lai Đây cũng là đặc điểm của “vốn”mà các nhà lý thuyết về “tư bản” đều thống nhất, đó là: i) có thể tích lũy ii) có thể sử dụng để tạo ra của cải trong tương lai

Tuy nhiên, phải đến những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau bắt đầu quan tâm đến và họ đã đưa rất nhiều những quan niệm khác nhau tùy theo từng góc độ tiếp cận

Bourdieu (1986) cũng đồng quan điểm với Hanifan (1916) khi cho rằng VXH có được từ việc sở hữu mạng lưới bền vững các mối quan hệ quen biết, được thể chế hóa Bourdieu (1986) cũng mở rộng khái niệm VXH của Hanifan (1916) khi cho rằng tất cả các mạng lưới quen biết góp phần tạo ra VXH Tuy nhiên, mạng lưới quen biết thông qua liên hệ, tiếp xúc với xóm giềng hay tham gia hội nhóm của những người có cùng mối quan tâm sẽ giúp tích lũy VXH theo định nghĩa của Hanifan (1916) và Bourdieu (1986) thì chưa đủ Coleman (1988) đã bổ sung rằng VXH là khả năng con người làm việc tự nguyện với nhau mà tiền đề cho hành động này là chuẩn mực xã hội Chuẩn mực được hiểu là các quan điểm hướng đến hành

Trang 28

vi được hầu hết các cá nhân/nhóm trong xã hội chia sẻ, được củng cố bởi biện pháp chế tài Chuẩn mực này có thể là những triết lý, giáo lý tôn giáo hay các tiêu chuẩn nghề nghiệp, quy tắc hành xử (Fukuyama, 1995) Tât cả các đặc điểm này đều dựa trên nền tảng là lòng tin Lòng tin được hình thành và lan truyền thông qua các đối tượng văn hóa, tôn giáo, truyền thống hay thói quen

Fukuyama (2000) đưa ra định nghĩa về VXH nhưng nhấn mạnh vào yếu tố chuẩn mực xã hội Tuy nhiên, điểm hạn chế trong quan điểm này chính là nó chỉ giới hạn vào các chuẩn mực phi chính thức

Các nghiên cứu về VXH ở Việt Nam:

Trần Hữu Dũng (2003) với bài viết “VXH và kinh tế” Trần Hữu Dũng đã lược duyệt và đánh giá một số quan niệm khác nhau về VXH của Pierre Bourdieu, James Coleman, Robert Putnam, Francis Fukuyama, Hernando de Soto Ông cho rằng cần phải làm rõ hơn đặc điểm của VXH trong mối quan hệ với các loại vốn khác Trong một bài viết khác với tên gọi: “VXH và phát triển kinh tế” (Trần Hữu Dũng, 2006), tác giả cho rằng VXH là một khái niệm linh động, “thậm chí mập mờ

và chưa đủ chính xác để đưa vào mọi phân tích kinh tế” nhưng đây là “một ý niệm hữu ích” Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra mối quan hệ giữa VXH và phát triển kinh tế, VXH và chính sách kinh tế Bằng cách điểm lại các luận điểm đã có, Trần Hữu Dũng nhấn mạnh rằng VXH giúp tiết kiệm phí giao dịch, nâng cao mức đầu tư Ông cũng cho biết VXH có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng và tốc độ tích lũy vốn con người

Tiếp đến là Trần Hữu Quang (2006b) với bài viết “Tìm hiểu khái niệm VXH” Trong bài viết này Trần Hữu Quang bàn về quan điểm VXH của nhiều tác giả nước ngoài như Bourdieu, Putnam, Fukuyama, qua đó nhấn mạnh rằng “VXH là một hiện thực đặc trưng của những mối dây liên kết giữa con người với nhau trong một cộng đồng hay một xã hội” (Trần Hữu Quang, 2006b) Theo Trần Hữu Quang thì cần bàn về VXH trong mối quan hệ với chuẩn mực, sự cố kết, và hợp tác Ông lưu ý đến việc phân tích VXH trong bối cảnh văn hóa-xã hội và các định chế xã hội

Trang 29

Ngoài ra, bàn về VXH còn có thêm các tác giả khác như Lê Ngọc Hùng, Hoàng Bá Thịnh Lê Ngọc Hùng (2008) giới thiệu khái quát lí thuyết về VXH từ tiếp cận kinh tế để bàn sâu về VXH và MLXH ở Việt Nam Hoàng Bá Thịnh (2009) tập trung phân tích quan niệm về VXH, MLXH

Có thể điểm thêm một số bài viết như: “VXH và phát triển” (Nguyễn Ngọc Bích, 2006), “Vốn và VXH” (Nguyễn Quang A, 2006), “VXH ở Việt Nam” (Nguyễn Vạn Phú, 2006), “Phát huy dân chủ để làm giàu VXH” (Phan Đình Diệu, 2006), “Lòng tin trong xã hội và VXH” (Trần Hữu Quang, 2006a), “Lời giải cho bài toán phát huy VXH” (Phan Chánh Dưỡng, 2006) Tuy nhiên, các bài viết này vẫn chỉ dừng lại ở việc giới thiệu và bàn luận về lý luận chung chứ chưa tạo nên được luận điểm lý thuyết cụ thể làm cơ sở cho các nghiên cứu thực nghiệm

Phân tích một cách khái quát các định nghĩa, cũng như các cách giải thích này cho thấy giữa các tác giả vừa có sự nhất trí, lại vừa có cách hiểu khác nhau về VXH

Về sự nhất trí giữa các tác giả, mặc dù mỗi người dựa trên kết quả nghiên cứu riêng của mình tại những quốc gia hay những vùng lãnh thổ khác nhau, song đại đa số họ đều gặp nhau ở những điểm sau đây:

Thứ nhất, VXH gắn liền với MLXH, quan hệ xã hội Chẳng hạn, VXH kết nối với MLXH tương đối bền vững (Bourdieu, 1986), VXH nằm trong quan hệ xã hội (Coleman, 1988), VXH ở trong MLXH (Lin, 2001), MLXH là một thành tố của VXH (Putnam, 2000), cần quan sát VXH thông qua MLXH (Portes, 1998)

Thứ hai, nhiều tác giả dùng khái niệm nguồn lực để định nghĩa VXH Nếu Bourdieu (1986) quan niệm VXH là nguồn lực dựa trên mạng lưới được thừa nhận hoặc quen biết, thì Lin (2001) định nghĩa VXH là nguồn lực nằm trong MLXH Trong khi đó, Baker (1990) lại cho rằng VXH là nguồn lực mà các chủ thể hành động thu nhận được từ những cấu trúc xã hội cụ thể

Thứ ba, VXH được tạo ra thông qua việc đầu tư vào các quan hệ xã hội, hoặc MLXH, và các cá nhân có thể sử dụng VXH để tìm kiếm lợi ích Với Bourdieu (1986), VXH là kết quả của sự đầu tư Trong thời gian ngắn hạn hoặc dài hạn, kết quả đó có thể được sử dụng để chuyển thành các loại vốn khác, chẳng hạn vốn kinh

Trang 30

tế Coleman (1988) thì khẳng định VXH là “sản phẩm phái sinh” của các hoạt động khác, thông qua mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau Người ta thiết lập và duy trì những quan hệ như thế để tìm kiếm lợi ích Theo quan điểm của Fukuyama (2002), cá nhân có thể tạo ra và sử dụng VXH để phục vụ mục đích của mình Trong khi đó Putnam (2000) cho biết VXH được dùng để tìm kiếm sự thịnh vượng

về kinh tế, hay thành công trong học hành Lin (1999) lại nói rõ VXH phản ánh khả năng đầu tư và lợi ích thu về Còn Portes (1998) thì khẳng định cá nhân sử dụng VXH để tìm kiếm lợi ích

Thứ tư, sự tin cậy và quan hệ qua lại/sự có đi-có lại (trust and recipocity) được nhiều tác giả đề cập đến khi bàn về VXH Bourdieu (1986) định nghĩa VXH là nguồn lực dựa trên mạng lưới được thừa nhận hoặc quen biết, trong đó các thành viên tương tác qua lại với nhau Coleman (1988) khẳng định trách nhiệm, sự mong đợi và lòng tin là các hình thức của VXH Chính trách nhiệm và mong đợi lẫn nhau

đã tạo nên sự tin cẩn giữa các cá nhân Fukuyama (2001) quan niệm VXH gồm có chuẩn mực của sự có đi có lại, và VXH biểu thị sự tin cậy Portes (1998) lại nói sự trao đổi qua lại và lòng tin là những nguồn gốc của VXH Putnam (2000) quan niệm VXH gồm có các chuẩn mực của quan hệ trao đổi qua lại và sự tin cẩn Bên cạnh những điểm nhất trí với nhau, giữa các nhà nghiên cứu cũng có không ít cách hiểu khác nhau, thậm chí là bất đồng trong quan niệm về VXH Trong khi có người cho rằng VXH gồm các MLXH (Putnam, 2000) hay các khía cạnh của cấu trúc xã hội (Coleman, 1988), thì những người khác lại cho đó là nguồn lực liên kết với các mạng lưới (Bourdieu, 1986), hay nguồn lực nằm trong mạng lưới (Lin, 2001) Cũng

có người coi VXH là các chuẩn mực không chính thức (Fukuyama, 2001), chuẩn mực của quan hệ trao đổi qua lại và niềm tin (Putnam, 2000), hay phản ánh khả năng của các cá nhân trong việc tìm kiếm lợi ích thông qua tư cách thành viên của các mạng lưới, cấu trúc xã hội (Portes, 1998) Quả thật, sự bất đồng hay khác biệt trong quan niệm về VXH ở đây là rất lớn Khái niệm VXH hiện vẫn đang được tiếp tục thảo luận, phát triển với nhiều định nghĩa, cách giải thích khác nhau, kể cả những phê phán đi kèm theo đó Nhìn một cách tổng quát, sự khác biệt trong các

Trang 31

quan niệm về VXH đang tạo ra cả những thuận lợi lẫn khó khăn cho việc áp dụng khái niệm này vào các nghiên cứu thực nghiệm Về mặt thuận lợi, sự đang dạng và phong phú về định nghĩa và cách giải thích cho thấy VXH có liên quan và có thể được áp dụng nghiên cứu nhiều lĩnh cứu khác nhau của đời sống Chẳng hạn, Coleman (1988) sử dụng định nghĩa và cách giải thích của mình về VXH để nghiên cứu các vấn đề về giáo dục, trong khi đó Fukuyama (2000) sử dụng khái niệm này

để tìm hiểu sự phát triển kinh tế, những người khác (Hendryx và cộng sự, 2002) lại vận dụng nghiên cứu trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Sự khác nhau trong quan niệm về VXH cũng tạo ra không ít khó khăn, nếu muốn thao tác chúng để giải quyết các vấn đề thực tiễn Chẳng hạn, trong khi Putnam (2000) coi VXH bao gồm các MLXH thì Lin (2001) tuyên bố VXH nằm trong/thuộc về các MLXH, chứ không phải là các MLXH Trong khi Fukuyama (2002) xem VXH như là hàng hóa tư (private good), thì Bourdieu (1986) và Coleman (1988) lại khẳng định đó là hàng hóa công (public good) Rõ ràng là, về VXH, mặc dù vô cùng lý thú và bổ ích, song

đó vẫn là một thứ “trận đồ bát quái” mà người ta chưa dễ dàng nhất trí với nhau về cách hiểu, càng chưa dễ dàng nhất trí với nhau về cách sử dụng

Cách hiểu c ủa Ngân hàng Thế gi ới hiê ̣n nay về vốn xã hô ̣i cũng phần nào tương tự như cách hiểu của Coleman và Putnam nêu trên : “Vốn xã hô ̣i [là một khái niê ̣m] có liên quan tới những chuẩn mực và những ma ̣ng lưới [xã hội] dẫn đến hành

đô ̣ng tâ ̣p thể Ngày càng có nhiều s ự kiê ̣n minh chứng rằng sự gắn kết xã hô ̣i – vốn

xã hội – đóng vai trò trọng yếu đối với viê ̣c giảm nghèo và s ự phát triển con người

sự khác nhau giữa số lượng thành viên của các tổ chức tình nguyện Phương thức đo

Trang 32

cơ bản và dễ tiếp cận này đã trở thành một phần trong yếu tố giải thích cũng như điểm khởi đầu cho rất nhiều phân tích về VXH sau này

Richard Rose (1998) sử dụng phép phân loại riêng nhằm xác định phạm vi các mạng lưới chính thống và không chính thống cũng như những tương tác của chúng Với phép phân loại này, một mặt Rose đưa ra hướng tiếp cận tình huống, mặt khác ông lại coi thành viên của các tổ chức tự nguyện như là một chỉ tiêu quan trọng của VXH ở mức độ xã hội Tuy nhiên, hai hướng tiếp cận này không hẳn mâu thuẫn với nhau Rose không phân tích định lượng dữ liệu, ông rút ra kết luận thông qua bảng phân bố cận biên câu trả lời từ nhiều câu hỏi khác nhau Rose khẳng định rằng các câu hỏi trong bảng điều tra (hay các tình huống đặt ra) cần gắn với số đông các hộ gia đình cho dù các hộ gia đình có địa vị kinh tế xã hội khác nhau

Anirudh Krishna và Elizabeth Shrader (1999) xây dựng bảng câu hỏi bao trùm toàn bộ các phương diện của VXH Các bảng điều tra nghiên cứu được chia thành bốn mục: cấp độ cá nhân/hộ gia đình, cấp độ hàng xóm/cộng đồng, cấp độ khu vực và cấp độ quốc gia Cho dù chưa bao quát được các khía cạnh của VXH, song Anirudh Krishna và Elizabeth Shrader đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về các tài liệu nghiên cứu VXH từ những năm trước đây tới thời điểm đó Đo lường VXH được giới thiệu trong nghiên cứu chủ yếu ở cấp vi mô và phần lớn các trường hợp phân tích sử dụng dữ liệu từ điều tra các hộ gia đình (thông qua bảng câu hỏi, phỏng vấn) ở các nước đang phát triển – nơi có ít dữ liệu

Anirudh Krishna và Norman Uphoff trong một nghiên cứu tại Ấn Độ năm

1999 đã xây dựng một chỉ số “hành vi tập thể hướng tới phát triển” và kiểm tra tính xác thực của phương thức đo bằng việc thử với nhiều giả thuyết giải thích hành vi tập thể Tiếp theo, họ xây dựng “chỉ số VXH” từ 6 biến (thông qua câu hỏi phỏng vấn) với 3 biến cấu trúc và 3 biến nhận thức, sử dụng phân tích yếu tố Kết quả cho thấy, chỉ số VXH tương quan thuận đáng kể với chỉ số hành vi tập thể hướng tới phát triển Trong bảng điều tra hộ gia đình với 2.397 cá nhân, Anirudh Krishna và Norman Uphoff đưa vào nhiều câu hỏi về xác định loại hình hoạt động được coi là

Trang 33

“hoạt động địa phương” Từ đó, những câu hỏi có tới 80% những người tham gia trả lời coi đó là hoạt động cá nhân, đều bị loại bỏ

Paul F Whiteley với “mô hình tăng trưởng nội sinh” đã đo lường VXH dưới dạng biến giải thích (explanatory variable) Whiteley sử dụng biện pháp phân tích các thành tố chính trên 3 “biến tin cậy” từ bản “Điều tra giá trị thế giới” (World Value Survey, 1990-1993) Theo cách phân loại của Rose, cách tiếp cận này có thể được xếp vào nhóm tiếp cận tâm lý xã hội học Cùng với một vài biến giải thích khác (đầu tư, giáo dục…) Whiteley sử dụng phương thức đo với GDP/đầu người trên mẫu 34 nước (cho giai đoạn 1970 – 1992) Ông nhận thấy, tại thời điểm đó, các biến kinh tế - bao gồm cả biến được giải thích (explanained variable), đã đi trước đo lường VXH (một trong những biến giải thích) Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến cuộc tranh luận về quan hệ nhân quả giữa VXH và thành quả kinh tế

Brehm và Rahn xây dựng một “mô hình cấu trúc” của VXH, bao gồm sự tương tác giữa 3 khái niệm: “cam kết dân sự”, “tin tưởng lẫn nhau” và “sự tin cậy vào chính quyền”, nhờ đó họ nhấn mạnh sự tồn tại đặc tính ngoại sinh (và tính động) của khái niệm Sử dụng dữ liệu từ bảng “Điều tra xã hội chung” từ năm 1972 tới năm 1994, họ xây dựng mô hình theo phân tích dữ liệu chéo kết hợp với các biến ẩn (cam kết dân sự, tin tưởng lẫn nhau và sự tin cậy chính quyền) cho các khái niệm chính và các biến ngoại sinh, tất cả được đo ở mức cá thể Cụ thể hơn nữa, họ xây dựng mô hình sử dụng “Phân tích cấu trúc đồng phương sai”, dữ liệu đầu vào sẽ

là ma trận tương quan Một trong những ưu điểm của hướng tiếp cận này là những

dữ liệu thiết bị sẽ bị xóa theo cặp thay vì theo danh sách giúp làm giảm khả năng thiên lệch Đầu tiên họ xây dựng cấu trúc đo cho mỗi biến ngoại sinh (hoặc ẩn), sử dụng phương pháp “phân tích yếu tố” trong các biến giải thích ngoại sinh Sau đó,

họ xây dựng mẫu cấu trúc sử dụng ba biến ẩn và một vài thành tố cấu trúc Kết quả của Brehm và Rahm chỉ ra rằng, “cam kết dân sự” và “tin tưởng lẫn nhau” có mối quan hệ nghịch đảo chặt chẽ, trong đó mối quan hệ từ “sự tham gia” tới “tin tưởng lẫn nhau” gắn kết hơn là theo chiều ngược lại Theo đó, họ bác bỏ phương thức

Trang 34

“tiếp cận tâm lý xã hội” của Rose – cách tiếp cận đã được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu VXH

Dựa vào những nghiên cứu của R.Putman và J.Helliwell cũng như hàng loạt các cuộc hội thảo khác, năm 2001, OECD đã đưa ra định nghĩa về VXH và từ định nghĩa này, nhóm nghiên cứu của OECD đã đưa ra các khía cạnh cần đo lường về VXH thông qua 4 tiêu chí: Sự tham gia xã hội; sự tương trợ xã hội; Các MLXH và

sự tham gia vào hoạt động cộng đồng

Năm 2004, Cơ quan thống kê Úc đã công bố tài liệu “Khung phân tích và các chỉ báo đo lường VXH” dựa trên các tiêu chí: Sự tin tưởng; sự hợp tác; sự tham gia

xã hội; sự tương hỗ; chấp nhận sự đa dạng; sự tham gia vào đời sống dân sự; trợ giúp cộng đồng; kích thước của mạng lưới; tính chuyển tiếp/di động; quan hệ tình thân; tần số và mức độ truyền thông cho các mạng lưới; quan hệ quyền lực

Trong bài viết của hai tác giả V.Vella và D.Narajan trên Journal of Sociology

số 1/2006 là một tham khảo hữu ích về tiêu chí đo lường VXH và ứng dụng của nó trong nghiên cứu về VXH Theo đó, hai tác giả đã xây dựng hệ thống biến số và các chỉ báo mô tả tương ứng với các biến số đó

Ngân hàng thế giới cũng đã xây dựng bộ công cụ đo lường về VXH Bộ công

cụ này dài 72 trang gồm hàng trăm câu hỏi nhằm đo lường VXH ở 3 cấp độ: vi mô,

vĩ mô và trung mô Đây cũng chính là bộ công cụ mà Ngân hàng thế giới đang áp dụng để đo lường VXH ở các nước châu Phi

Ở Việt Nam

Với hướng nghiên cứu này Stephen J Appold và Nguyễn Quý Thanh đã chỉ

ra vai trò của VXH trong các doanh nghiệp nhỏ ở Hà Nội Các tác giả cho biết VXH

có vai trò quan trọng giúp các doanh nghiệp vay vốn để khởi nghiệp (Appold và cộng sự, 2004) Nghiên cứu “VXH, vốn con người và MLXH qua một số nghiên cứu ở Việt Nam” của Lê Ngọc Hùng (2008) bàn về các quan niệm khác nhau về VXH Tác giả đề cập đến mô hình tổng hợp về VXH, vốn con người và MLXH Trên cơ sở đó, ông bàn thêm về kết quả của một số nghiên cứu cụ thể trên các phương diện: MLXH của người lao động, mạng thông tin của doanh nghiệp, mạng

Trang 35

di cư, vai trò của các loại vốn trong xóa đói, giảm nghèo

Fleur Thomése và Nguyễn Tuấn Anh (2007) đã vận dụng quan điểm VXH để nghiên cứu hiện tượng dồn điền đổi thửa trong sản xuất nông nghiệp ở một làng Bắc Trung Bộ Các tác giả đã chứng minh rằng chính nhờ vào nguồn VXH nên các hộ nông dân có thể tiến hành dồn điền, đổi thửa một cách thuận lợi mà không cần các thứ giấy tờ hay quan hệ mang tính pháp lý nào Nói cách khác, VXH là một trong những yếu tố quan trọng giúp quá trình sản xuất nông nghiệp được linh hoạt, hiệu quả hơn Gần đây, Nguyễn Tuấn Anh (2010) có thêm nghiên cứu về vai trò của VXH trong khu vực nông thôn Bắc Trung Bộ Với nghiên cứu này tác giả chỉ ra rằng người nông dân đã sử dụng VXH trong các quan hệ họ hàng để theo đuổi các lợi ích kinh tế liên quan đến sản xuất nông nghiệp, nghề thủ công, và hoạt động tín dụng Ngoài ra, Nguyễn Tuấn Anh cũng làm rõ vai trò của VXH trong quan hệ họ hàng đối với việc tạo ra nguồn lực tài chính nhằm hỗ trợ trẻ em đến trường, tức là góp phần tạo ra vốn con người

Đinh Thị Thơm (2009) tiếp cận từ góc độ một số nghiên cứu điển hình về đo lường VXH trên thế giới để rút ra những điểm cần lưu ý khi sử dụng đo lường VXH trong nghiên cứu đánh giá ở Việt Nam Tuy nhiên, tác giả mới đưa ra một số đề xuất về hướng tiếp cận ban đầu này mà chưa tiến hành triển khai một cách cụ thể và quy mô cho một đối tượng cụ thể nào

Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự (2010) thì tập trung vào việc xây dựng khung phân tích về VXH có thể áp dụng và đo lường cho các doanh nghiệp Việt Nam dựa trên mức độ tổng lược các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến VXH

ở trong và ngoài nước Tuy nhiên, khung phân tích VXH từ nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở mô hình khái niệm, còn việc đo lường ở mức độ định lượng cho VXH trong điều kiện Việt Nam chưa được triển khai

Nguyễn Vũ Quỳnh Anh (2015), từ hướng tiếp cận xã hội học, tập trung làm

rõ một số yếu tố của VXH của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn hiện nay, thực trạng sử dụng VXH cũng như vai trò của nguồn vốn này đối với hoạt động của doanh nghiệp

Trang 36

Nguyễn Lê Hoàng Thụy và cộng sự (2015), nghiên cứu đo lường VXH của lao động di cư từ nông thôn đến thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã sử dụng mô hình PLS-SEM tích hợp các chỉ báo thành một chỉ số, sử dụng kết hợp mô hình đại diện (reflective model) và mô hình cấu thành (formative model) để đo lường về VXH Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả mới tập trung phân tích định lượng chứ chưa đi sâu phân tích định tính các khía cạnh của VXH

1.1.3 Các lý thuyết được sử dụng trong luận văn

1.1.3.1 Lý thuyết về mối liên hệ yếu (the weak tie theory)

Theo Granovetter (1973), khi tiến hành phân tích mạng lưới, nhà nghiên cứu cần phải phân biệt các mối quan hệ (mạnh/yếu) trong mạng lưới theo các tiêu chí sau: Thứ nhất là, độ dài của của mối quan hệ: ở đây nhà nghiên cứu sẽ chú ý đến hai yếu tố là “thâm niên” của mối quan hệ và thời gian sinh hoạt chung của các thành viên trong mạng;

Thứ hai là, xúc cảm, tình cảm của các mối quan hệ;

Thứ ba là, sự tin cậy của các quan hệ;

Thứ tư là, các hoạt động tương hỗ của các quan hệ;

Thứ năm là, tính “đa diện” của các mối quan hệ, tức là sự đa dạng về nội dung của các quan hệ

Từ các tiêu chí đó, ông đã phân biệt các mối quan hệ yếu (weak ties) với các mối quan hệ mạng (trong ties) như sau:

Một là, quan hệ yếu là các mối quan hệ không chiếm nhiều thời gian của thành viên, ít nội dung, cường độ xúc cảm yếu và sự tin cậy lẫn nhau không cao (chẳng hạn như quan hệ với bà con ở xa, quan hệ giữa những người chỉ “biết” nhau chứ không “thân” nhau;

Hai là, quan hệ mạnh là các mối quan hệ chiếm nhiều thời gian của các thành viên, đa nội dung, sự tin cậy và cường độ xúc cảm cao (chẳng hạn như các thành viên trong gia đình hay các nhóm bạn thân…)

Một điều cần lưu ý là trong phân tích MLXH, nhà nghiên cứu tuyệt đối không được phép nghĩ rằng các mối quan hệ yếu không quan trọng bằng các mối

Trang 37

quan hệ mạnh vì những lý do sau:

Thứ nhất là, các mối quan hệ mạnh có một nhược điểm lớn là thường tự khép kín trọng mạng lưới của mình, do các thành viên thường dành nhiều thời gian cho các mối quan hệ này nên thông tin lưu chuyển trong mạng thường có tính lặp lại và

ít mới mẻ Chẳng hạn như một nhóm bạn thân ngày nào cũng gặp nhau thì “nội dung” trao đổi sẽ không nhiều và không thể mới mẻ được;

Thứ hai là, các mối quan hệ yếu lại thường “hướng ngoại” hơn, thời gian quan hệ ít hơn nên thông tin sẽ phong phú và mới mẻ hơn Chẳng hạn hai người bạn lâu ngày mới gặp sẽ có rất nhiều thông tin được trao đổi với nhau

Xét về sự phong phú và mới mẻ của thông tin, các mối quan hệ yếu mới là yếu tố chính làm tăng “VXH” của các thành viên chứ không phải là các mối quan

hệ mạnh bởi nó giúp mở rộng MLXH của cá nhân Khi xét về sự tin cậy lẫn nhau như một yếu tố thuộc VXH thì các mối quan hệ mạnh lại có hiệu quả hơn, nhưng chúng cũng sẽ dễ dẫn đến “sự chia cắt xã hội” hơn

Lý thuyết này khởi nguồn cho nhiều nghiên cứu thực chứng sau này về sức mạnh của mối liên hệ yếu

1.1.3.2 Lý thuyết lỗ hổng cấu trúc (The structural holes theory)

Trong khi lý thuyết sức mạnh của mối liên hệ yếu (Granovetter, 1973) tập trung vào mối liên hệ của cá nhân thì lý thuyết lỗ hổng cấu trúc (Burt, 1992) quan tâm đến mẫu hình của mối liên hệ (pattern) giữa các thành viên trong mạng lưới

Lỗ hổng cấu trúc trong mạng lưới xảy ra khi hai thành viên nào đó trong mạng lưới chỉ có thể truyền thông với nhau/quan hệ với nhau thông qua một thành viên thứ ba, hoặc hai thành viên đó không thể liên kết với nhau để chống lại một thành viên thứ ba nào đó Trong mạng lưới ở hình dưới đây, chúng ta thấy có tồn tại

ba lỗ hổng cấu trúc giữa A-B, A-D và B-D vì các cặp thành viên này khi muốn liên

hệ với nhau đều phải thông qua C

Khi đó C sẽ lợi dụng các lỗ hổng cấu trúc này để”trục lợi” cho mình Burt đã minh họa điều này bằng ví dụ về một người rao bán xe hơi và có hai người muốn mua, nhưng hai người khác này lại không biết nhau nên khi gặp người này thì người

Trang 38

bán sẽ nói có người kia trả giá cao hơn và cứ như thế cho đến khi được giá cao như mong muốn thì người bán sẽ bán

Với lý thuyết này, VXH của các thành viên sẽ phụ thuộc vào mức độ tự chủ của các thành viên, mà mức độ tự chủ sẽ tăng khi sự phụ thuộc của các thành viên vào các thành viên khác giảm, tức là khi thành viên là người làm chủ được nhiều lỗ trống cấu trúc trong mạng lưới

Sơ đồ 1.1 Mạng lưới với một lỗ hổng cấu trúc

1.1.3.3 Lý thuyết nguồn lực xã hội (The social resources theory)

Lý thuyết này cho rằng VXH là nguồn lực nằm trong mạng lưới Lin & các cộng sự (1999) cho rằng nguồn lực là hàng hoá, nguyên vật liệu… có thể được tiếp cận và sử dụng cho các hoạt động xã hội, đặc biệt là các nguồn lực có giá trị Các nguồn lực được coi là quan trọng để duy trì và tăng cường cơ hội sống sót của cá nhân khi họ tương tác với môi trường bên ngoài Nhìn chung, các nguồn lực có giá trị được xác định bằng các chỉ số về tầng lớp xã hội, địa vị và quyền lực trong hầu hết các xã hội

Nguồn lực được phân thành hai loại, nguồn lực cá nhân và nguồn lực xã hội Trong đó, nguồn lực xã hội là các nguồn lực gắn liền với MLXH và mối quan hệ xã hội của cá nhân Đây là những nguồn lực thuộc sở hữu hay kiểm soát của thành viên khác trong mạng lưới mà cá nhân có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp, ví dụ như vị trí xã hội, kinh tế, hoặc chính trị của một thành viên có thể được coi là cần thiết cho

C

Trang 39

một cá nhân khi cá nhân đó có thể tìm sự giúp đỡ của bạn bè của mình để có được hoặc đạt được một mục tiêu cụ thể

1.1.4 Khoảng trống nghiên cứu

Qua tìm hiểu tác giả thấy rằng, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào hai mảng chính, mảng thứ nhất là về quan niệm VXH và mảng thứ hai là vận dụng VXH vào việc giải quyết một vấn đề kinh tế, xã hội nào đó

Do đó, trên tinh thần kế thừa các công trình nghiên cứu trước, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài này để xây dựng hệ tiêu chí phù hợp đo lường VXH ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

Sơ đồ 1.2 Tóm tắt nội dung nghiên cứu 1.2 Khái niệm và nội hàm của vốn xã hội

1.2.1 Khái niệm về VXH được sử dụng trong luận văn

Mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau và dựa trên các kết quả nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực về VXH, song các tác giả đều gặp nhau ở những điểm sau đây:(1) VXH gắn liền với MLXH, quan hệ xã hội; (2) VXH là nguồn lực cần thiết cho các loại hoạt động nhất là lao động sản xuất; (3) VXH được tạo ra thông qua việc đầu tư vào thiết lập, duy trì, củng cố, phát triển các quan hệ xã hội, hoặc MLXH, và các cá nhân có thể sử dụng VXH để tìm kiếm hoặc tăng cường những lợi ích nhất định; (4) bao gồm sự tin cậy và quan hệ qua lại/sự có đi-có lại

hệ tiêu chí

Điều kiện vận dụng

hệ tiêu chí trong đánh giá VXH

Trang 40

Có lẽ cầ n coi “vốn xã hô ̣i” nh ư mô ̣t khái niê ̣m xã hô ̣i ho ̣c được dùng để chỉ

mô ̣t cách tổng hợp hiê ̣n thực và đă ̣c trưng của những mối dây liên kết giữa con người với nhau trong một cô ̣ng đồng hay mô ̣t xã hô ̣i Những mối dây liên kết này chi ̣u sự chi phối quyết định của các chuẩn mực (chính thức và phi chính thức) và các định chế đang tồn ta ̣i trong cô ̣ng đồng hay xã hô ̣i ấy , và được biểu hiê ̣n ra thành nh ững hiê ̣n tượng mà chúng ta có thể quan sát được như sự tin câ ̣y giữa con người với nhau, khả năng làm viê ̣c chung với nhau, và các loại mạng lưới xã hô ̣i khác nhau

có thể quan sát được (hữu hình) Nói một cách ngắn gọn, VXH cấu trúc xem xét yếu tố thúc đẩy tương tác xã hội

VXH tri nhận ám chỉ các “nút” trong mạng lưới Nó là các giá trị (values) như chuẩn mực, lòng tin, trách nhiệm và kỳ vọng của mỗi người, trong đó lòng tin thường được xem như là thành tố chính của khía cạnh VXH tri nhận (Putnam,1995; Fukuyama, 1995) Ở cấp độ cơ bản nhất, lòng tin xã hội thể hiện việc cá nhân nghĩ rằng họ có thể tin tưởng vào người khác, đây là chất “bôi trơn” cho các giao tiếp xã hội, từ đó tạo nên lòng tin cụ thể và lòng tin tổng quát Như vậy, định nghĩa VXH chỉ đầy đủ khi bao gồm cả hai khía cạnh: VXH cấu trúc và VXH tri nhận (Van Deth, 2008)

1.3 VXH và tác động hai chiều của nó đến sự phát triển con người và xã hội

VXH hiện nay đang là một khái niệm mang tính thời thượng, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên phạm vi toàn thế giới Người ta tìm thấy ở hiện tượng xã hội này rất nhiều ý nghĩa, kể cả về khả năng cũng như về quy mô tác động của nó đến

Ngày đăng: 05/04/2023, 21:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bế Quỳnh Nga và cộng sự (2008), Vai trò của các MLXH trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính và đối phó với các rủi ro cho các hộ nông dân (Khảo sát tại xã Yên Thường, Gia Lâm, Hà Nội), Đề tài cấp Viện Xã hội học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của các MLXH trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính và đối phó với các rủi ro cho các hộ nông dân (Khảo sát tại xã Yên Thường, Gia Lâm, Hà Nội)
Tác giả: Bế Quỳnh Nga và cộng sự
Năm: 2008
2. Bùi Quang Dũng (2007), Xã hội học nông thôn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học nông thôn
Tác giả: Bùi Quang Dũng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007
5. Khúc Thị Thanh Vân (2012), Vai trò của VXH trong phát triển kinh tế hộ ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay - nghiên cứu trường hợp tại Nam Định và Bắc Ninh, Luận án tiến sĩ, học viện Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của VXH trong phát triển kinh tế hộ ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay - nghiên cứu trường hợp tại Nam Định và Bắc Ninh
Tác giả: Khúc Thị Thanh Vân
Năm: 2012
6. Lê Minh Tiến (2007), “VXH và đo lường VXH”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 3, 103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: VXH và đo lường VXH”, "Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
Tác giả: Lê Minh Tiến
Năm: 2007
7. Lê Ngọc Hùng (2008), “VXH, vốn con người và MLXH qua một số nghiên cứu ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Con người, số 3, 45-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: VXH, vốn con người và MLXH qua một số nghiên cứu ở Việt Nam”, "Tạp chí Nghiên cứu Con người
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Năm: 2008
8. Mai Văn Hai (2000), Quan hệ Dòng họ ở châu thổ sông Hồng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Dòng họ ở châu thổ sông Hồng
Tác giả: Mai Văn Hai
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
9. Nguyễn Lê Hoàng Thụy và Tố Quyên (2016), “Chỉ số đo lường VXH của lao động di cư đến Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học trường đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, số 1, 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số đo lường VXH của lao động di cư đến Thành phố Hồ Chí Minh”, "Tạp chí Khoa học trường đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Lê Hoàng Thụy và Tố Quyên
Năm: 2016
10. Nguyễn Trọng Hoài và Huỳnh Thanh Điền (2010), “Xây dựng khung phân tích VXH trong doanh nghiệp cho điều kiện Việt Nam – Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm”, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 6, tháng 8/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng khung phân tích VXH trong doanh nghiệp cho điều kiện Việt Nam – Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm”, "Tạp chí Phát triển và Hội nhập
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoài và Huỳnh Thanh Điền
Năm: 2010
13. Nguyễn Vũ Quỳnh Anh (2015), VXH của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (nghiên cứu trường hợp của ba làng nghề ở đồng bằng sông Hồng, Luận án tiến sĩ, học viện Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: VXH của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (nghiên cứu trường hợp của ba làng nghề ở đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Vũ Quỳnh Anh
Năm: 2015
14. Phan Đại Doãn (2004), Mấy vấn đề về văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
15. Trần Hữu Dũng (2003), VXH và Kinh tế, Thời Đại, số 8, 82-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: VXH và Kinh tế, Thời Đại
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Năm: 2003
16. Trần Hữu Dũng (2006), “VXH và phát triển kinh tế”, Tạp chí Tia sáng số 13, tháng 7 năm 2006, trang 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: VXH và phát triển kinh tế”, "Tạp chí Tia sáng số 13
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Năm: 2006
17. Trần Hữu Quang (2006), “Tìm hiểu khái niệm về VXH”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 7, trang 95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu khái niệm về VXH”, "Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
Tác giả: Trần Hữu Quang
Năm: 2006
18. Trần Hữu Quang (2006b), “Tìm hiểu khái niệm VXH”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 7, 74-81.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu khái niệm VXH”, "Tạp chí Khoa học xã hội
19. ABS (2004), Measuring Social Capital. An Australian Framework and indicators. Download tại: http://www.abs.gov.au Link
3. Đinh Thị Thơm (2009), Về đo lường VXH. Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 7 Khác
4. Hoàng Bá Thịnh (2009), VXH, MLXH và những phí tổn. Tạp chí Xã hội học, số 1, 42-51 Khác
11. Nguyễn Từ Chi (2003), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, tr. 224-257 Khác
12. Nguyễn Tuấn Anh (2010), Kinship as Social Capital: Economic, Social and Cultural Dimensions of Changing Kinship Relations in a Northern Vietnamese Khác
20. Appold, J. Stephen; Nguyễn Qúy Thanh (2004), The Prevalence and Costs of Social Capital among Small Businesses in Vietnam. Annual meeting of the American Sociological Association, American Sociological Association. San Francisco, August 14-17, 2004 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w