Quan hệ với Quốc hội, Chính phủ 231.3.4 Quyền hạn của cơ quan Kiểm toán tối cao 24 1.3.5 Phương pháp kiểm toán, nhân viên kiểm toán và trao đôi kinh 1.3.7 Thẩm quyền kiểm toán của cơ qua
Trang 2Ị T ttư ơ N G € H K T C j>
ị r.ỉHÍiNGTỈN THỰ VIỆNNGÔ VĂN NHUẬN
N ân g cao vai trò v à đ ịa vị pháp lý của K iểm toán nhà nước tron g tiến trìn h cải cách nền h ành ch ín h n hà nước
Trang 3L Ờ I C Ả M Ơ N
Tô i xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo Trường Đ ại học K in h
tê Quốc dân, K hoa Sau Đ ạ i học, Khoa Khoa học quản lý và Trung tâm Đào tạo và bồi dưỡng kiểm toán viên của Kiểm toán Nhà nước đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn.
Đ ặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Cô giáo - T S Nguyễn T h ị H ồng Thuy, người đã tận tâm hướng dân tôi hoàn thành luận văn này
Trong quá trình thực hiện luận văn, do hạn c h ế về lý luận và kinh nghiêm thu được cũng n h ư thời gian nghiên cứu, luận văn không tránh khỏi những sai sót T ô i rát mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp đ ể luận văn được hoàn thiện hơn.
Trang 4Toà thẩm kế Liên Bang Đức.
Cơ quan Tổng Kế toán của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Kiểm toán nhà nước
Cơ quan Kiểm toán quốc gia của Liên hiệp Vương Quốc Anh
Cơ quan kiểm toán tối cao.
Trang 5DANH MỤC S ơ ĐÔ, BIÊU ĐÔ
Sơ đồ 2.1: Mô tả vị trí pháp lý của Kiểm toán nhà nước hiện nay 39
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy Kiểm toán nhà nước hiện nay 44
-Sơ đồ 3.1: Mô tả vị trí pháp lý của Kiểm toán nhà nước trong tương lai 69
Sơ đồ 3.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy Kiểm toán nhà nước trong tương lai 72
Trang 6-Chương 1: Cơ sở xác định vai trò và địa vị pháp lý của Kiểm
nước
1.1.1 Hành chính nhà nước và cải cách hành chính nhà nước 11
1.1.2 M ục tiêu cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 12
1.1.3 Nội dung của chương trình cải cách hành chính nhà nước giai
1.1.3.2 Cải cách tổ chức bộ máy hành chính 13
1.1.3.3 Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 14
1.2 Ngân sách nhà nước trong hoạt động hành chính nhà nước, những tác
động trong hoạt động của Kiểm toán nhà nước đôi với tiến trình cải cách
1.2.2 Sự cần thiết của hoạt dộng kiểm toán đổi với ngân sách nhà
nước vờ tác động vào tiến trình cải cách hành chính I g
1.2.2.2 Hoạt động kiểm toán tác động vào tiến trình cải cách
1.3 Một sô chú ý quan trọng trong Tuyên bỏ Lima về các chỉ dản kiểm
toán (tại Hội nghị lần thứ IX của tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao quốc 20tế)
Trang 71.3.3 Quan hệ với Quốc hội, Chính phủ 23
1.3.4 Quyền hạn của cơ quan Kiểm toán tối cao 24
1.3.5 Phương pháp kiểm toán, nhân viên kiểm toán và trao đôi kinh
1.3.7 Thẩm quyền kiểm toán của cơ quan Kiểm toán tối cao 26 1.4 Giới thiệu vai trò và địa vị pháp lý của một số cơ quan Kiểm toán tối
1.4.5 Những nét chung về vai trò và đìa vị pháp lý của một số cơ quan
Chương 2: Thực trạng hoạt động và vai trò của Kiểm toán nhà
nước trong tiến trình cải cách hành chính nhà nước trong thời
2.1 Giới thiệu về chức năng, nhiệm vụ của Kiểm toán nhà nước trong bối
2.1.2 Giới thiêu vê chức năng, nhiêm vu và quyền hạn của Kiểm toán
2.2 Giới thiệu bộ máy tổ chức của Kiểm toán nhà nước hiện nay 43
2.2.5 Vụ kiểm toán Đầu tư xây dựng cơ bản, các chương trình dự án,
2.2.8 Trung tàm Khoa học và Bổi dưỡng cán bộ 4 7
Trang 82.3 Tổng kết và đánh giá hoạt động của Kiểm toán nhà nước kể từ khi
thành lập tới nay
2.3.1 Những thuận lọi và kết quả tích cực đã đạt được 48
2.3.1.2 Kiểm toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản 51
2.3.1.3 Kiểm toán các doanh nghiệp nhà nước 5 2
2.3.1.4 Kiểm toán các chương trình đặc biệt 5 2
2.3.2 Những khó khăn và tồn tại cần khắc phục 55
Chương 3: Những đề xuất nhằm nâng cao vai trò và địa vị pháp
lý của Kiểm toán nhà nước trong tiến trình cải cách nền hành
3.1.5 Những điểm mói trong đề xuất so với hiện nay 67 3.2 Nâng cao và hoàn thiện địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước trong
bộ máy hành chính nhà nước
3.2.1 Xác định lại địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước £ 9
3.2.2 Hoàn thiện bộ máy Kiểm toán nhà nước thích ứng với yêu cầu
3.2.2.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của Người đứng đầu Kiểm toán nhà nước
3.3 Một sô giải pháp khác cần được tiến hành đồng thời 75
3.3.1 Phàn công, phân cấp tổ chức quản lý và hoạt động 75
3.3.2 Tăng cường công tác đào tạo lại kiểm toán viên 75
3.3.3 Hiên đại hoá công nghệ thông tin hỗ trọ hoạt động kiểm toán 75
Trang 9Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Quản lý nhà nước về kinh tế là một trong những nhân tố cơ bản quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một đất nước trong thời đại ngày nay Tăng cường khả năng kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội là nỗi bức xúc của mọi quốc gia trên thế giới, đặc biệt trên lĩnh vực thu, chi ngân sách và quản lý tài chính công Tệ nạn tham nhũng lan tràn và phát triển đang là những thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển bền vững Nhiều quốc gia trên thế giới do hệ thống kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước hoạt động kém hiệu quả nên gần như bị vô hiệu hoá hậu quả của nó làm mất lòng tin của nhân dân và giới đầu tư vào Chính phủ và cơ quan công quyền của Nhà nước.
Quá trình chuyển hoá nền kinh tế Việt Nam từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường đòi hỏi có sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu và cơ chế hoạt động của các cơ quan kiểm tra, kiểm soát trong bộ máy công quyền Trong bối cảnh đó sự ra đời của Kiểm toán nhà nước Việt Nam là một đòi hỏi tất yếu Kiểm toán nhà nước có nhiệm vụ kiểm toán để xác định tính đúng đắn, hợp pháp của số liệu, tài liệu kế toán, Báo cáo quyết toán của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị có nhiệm vụ thu - chi ngân sách nhà nước Với chức năng, nhiệm vụ của mình, hoạt động của Kiểm toán nhà nước góp phần thiết lập trật tự kỷ cương trong hoạt động thu - chi ngân sách nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính và tiết kiệm chi ngân sách nhà nước Đây là một trong những mục tiêu cơ bản mà cải cách hành chính cần đạt được.
Bên cạnh những thành tích đạt được, đã bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém trong hoạt động đồng thời kết quả mang lại chưa cao Phạm vi hoạt động còn hẹp, chức năng, nhiệm vụ còn hạn chế, chưa phù hợp với thống lệ quốc tế
về tổ chức cũng như các chuẩn mực hoạt động Nguyên nhân chính là do chưa xác định đúng vai trò và địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước trong bộ máy hành chính nhà nước Do vậy cấp thiết đặt ra vấn đề phải nâng cao vai trò và địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước để đáp ứng được nhiệm vụ quan trọng nói trên.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu về vai trò và địa vị pháp lý của một số cơ quan kiểm toán tối cao trên thế giới, rút ra những bài học kinh nghiệm vận dụng vào thực tiễn ở nước ta.
Trang 10- Đề xuất những giải pháp nâng cao vai trò, địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước Việt Nam Nhằm phát huy được chức năng quan trọng của cơ quan kiểm toán tối cao, nâng cao hiệu lực của bộ máy hành chính nhà nước trong hoạt động chống tiêu cực, tham nhũng và làm trong sạch bộ máy hành chính của Nhà nước Đặc biệt là làm tăng hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước đối với nền tài chính công.
- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, đối tượng và phạm vi của Kiểm toán nhà nước hiện nay và trong tương lai.
4 Phạm vi nghiên cứu
- Vị trí và vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc nâng cao năng lực, hiệu lực hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước thông qua việc kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động đối với các cơ quan, tổ chức có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước.
- Một số kinh nghiệm của các nước có lịch sử phát triển lâu đời, phù hợp với thông lệ chung của thế gới Vận dụng vào Kiểm toán nhà nước Việt Nam trên phương diện luật pháp và tổ chức.
5 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập số liệu, tài liệu qua các đề tài đã nghiên cứu; các chủ chương cải cách của Đảng và Nhà nước Trên cơ sở đó sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: So sánh, thống kê, tổng hợp,
hệ thống hoá, và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của nước ta và một
số nước trên thế giới.
- Vận dụng phương pháp luận duy vật biên chứng và duy vật lịch sử, những nguyên lý cơ bản về Nhà nước và quản lý nhà nước để phân tích, đánh giá về các vấn đề được nghiên cứu.
6 Những quan điểm khi nghiên cứu đề tài
- Kiên trì mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền dựa trên cơ sở nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả.
Trang 11- Tôn trọng và phù hợp với Tuyên bố Lima về các chuẩn mực của kiểm tra tài chính tại đại hội lần thứ IX của tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao Bao gồm các vấn đề:
o Về việc sử dụng hợp lệ và hợp lý các nguồn kinh phí công hữu
là một trong những tiền đề cơ bản đối với việc sử dụng đúng đắn các nguồn tài chính công hữu và hiệu lực của các quyết định do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
o Nhất thiết mỗi quốc gia phải có một cơ quan kiểm toán tối cao
mà tính độc lập của nó phải được quy định trong luật pháp Sự tồn tại của nó càng cần thiết hơn khi các hoạt động của Nhà nước ngày càng mở rộng vượt khỏi những giới hạn của nền tài chính thông thường.
7 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
- Đi sâu nghiên cứu những hạn chế về chức năng, nhiệm vụ, địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước trong bộ máy hành chính nhà nước hiện nay Vận dụng có chọn lọc các kinh nghiệm của nước ngoài vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
- Đề xuất được nhũng kiến nghị có khả năng ứng dụng trong thực tế nhằm nâng cao vai trò và địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước trong công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước Phù hợp với thông lộ quốc tế, góp phần nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước nói chung và cơ quan Kiểm toán nhà nước nói riêng
8 kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:
- Chương I: Cơ sở xác định vai trò và địa vị pháp lý của Kiêm toán
nhà nước trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước
- Chương II: Thực trạng hoạt động của Kiểm toán nhà nước trong thời gian qua và tác động của nó đối với quá trình cải cách hành chính nhà nước
- Chương III: Những đề xuất nhằm nâng cao vai trò và địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước trong tiến trình cải cách nên hành chính nhà nước
Trang 12Chương 1
Cơ sở xác định vai trò và địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước
trong tiến trìn h cải cách nền hành chính nhà nước
1.1 Cải cách nền hành chính nhà nước
1.1.1 Hành chính nhà nước và cải cách hành chính nhà nước [5,78]
• Hành chính nhà nước (hay hành chính công) là một khái niệm về tổng thể các qui phạm pháp luật, hệ thống tổ chức bộ máy hành chính
để tổ chức, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế - xã hội Đây là hệ thống chấp hành luật pháp (hành pháp) Trong đó Chính phủ trung ương là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Uỷ ban nhân dân
là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân.
• Tuỳ theo đặc điểm lịch sử, đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi Quốc gia
mà hệ thống hành chính công được tổ chức theo những mô hình khác nhau Tất cả đều được qui định trong Hiến pháp và các đạo luật.
• Cải cách nền hành chính nhà nước là quá trình nghiên cứu và thực thi các giải pháp đổng bộ về luật pháp, về tổ chức, về cơ chế hoạt động,
về nhân sự nhằm đổi mới và nâng cao hiệu năng, hiệu quả và hiệu lực hoạt động của hộ thống các cơ quan hành chính công Bao gồm một
số vấn đề :
1 Cải cách thủ tục hành chính.
2 Giải quyết các khiếu kiện của dân.
3 Hoàn thiện thể chế kinh tế mới.
4 Đổi mới công tác lập pháp.
5 Nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật.
Đồng thời chấn chỉnh tổ chức bộ máy nhà nước và qui chế hoạt động của hệ thống hành chính cho phù hợp với nền kinh tế hiện nay.
1.1.2 Mục tiêu cải cách hành chính nhà nước 2001 - 2010 [3,78]
Ngày 17 tháng 9 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg về chươns trình tổng thể cải cách hành chính nhà
Trang 13nước giai đoạn 2001 -2010 Đây là văn kiện quan trọng thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước nhằm đẩy tới một bước cải cách nền hành chính công cho phù hợp với thời kỳ nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Mục tiêu chung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 là: xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chứ c
có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Những mục tiêu cụ th ể của chương trình là:
1 Hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp với thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trước hết là thể chế về kinh tế, về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính.
2 Xoá bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính chất quan liêu, dườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân.
3 Các cơ quan trong hộ thống hành chính được xác định chức năng, nhiệm vụ thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng.
4 Cơ cấu tổ chức chính phủ gọn nhẹ, hợp lý theo nguyên tắc bộ quản lý
đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý vĩ mô toàn xã hội bằng pháp luật, chính sách, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện.
5 Đến 2005, về cơ bản xác định xong và thực hiện các quy định mới về phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương.
6 Đến 2010, đội ngũ cán bộ, công chức có số lượng, cơ cấu hợp lý chuyên nghiệp hiện đại Có phẩm chất tốt và đầy đủ năng lực thi hành công vụ, tận tụy phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và phục vụ nhân dân.
7 Đến 2005 tiền lương của cán bộ, công chức được cải cách cơ bản là động lực của nền công cụ, đảm bảo cuộc sống của cán bộ, công chức
và gia đình.
8 Đến 2005, cơ chế tài chính được đổi mới thích hợp với tính chất của
Trang 14cơ quan hành chính và tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công.
9 Nền hành chính nhà nước được hiện đại hoá một bước rõ rệt, hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ được đưa vào hoạt động.
1.1.3 Nội dung cải cách hành chính nhà nước 2001-2010 [3,78]
1.1.3.1 Cải cách th ể chế
1 Xây dựng và hoàn thiện các thể chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước Đặc biệt là về tổ chức và hoạt động của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và ủy ban nhân dân các cấp.
2 Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
3 Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh, phát huy hiệu lực của các thiết chế thanh tra, kiểm sát và tài phán để bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước, giữ gìn kỷ cương xã hội Phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan thanh tra.
4 Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính
1.1.3.2 Cải cách tổ chức bộ máy hành chính
1 Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các Bô, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới.
2 Từng bước điều chỉnh để khắc phục những chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
3 Đến năm 2005, về cơ bản ban hành xong và áp dụng các quy định mới
về phân cấp trung ương - địa phương, phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương.
4 Bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ, xây dựng cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ làm chức năng quản lý nhà nước Chỉ duy trì một số ít cơ quan thuộc Chính phủ có tính chất chuyên môn, nghiệp vụ phục vụ cho công việc quản lý vĩ mô của Chính phủ.
Trang 155 Điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ Tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng điều hành.
6 Cải cách tổ chức bộ máy chính quyền địa phương.
7 Cải tiến cách quản lý, lề lối làm việc của cơ quan hành chính các cấp.
8 Thực hiện từng bước hiện đại hóa nền hành chính, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chỉ đạo, điều hành của hệ thống hành chính nhà nước
1.1.3.3 Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
1 Đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức.
2 Cải cách tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ.
3 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
4 Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức cán bộ, công chức.
1.1.3.4 Cải cách tài chính công
1 Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách, bảo đảm tính thống nhất của hộ thống tài chính Quốc gia và vai trò chỉ đạo của ngân sách trung ương.
2 Bảo đảm quyền quyết định ngân sách địa phương của Hội đồng nhân dân các cấp, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương chủ động xử lý các công việc ở địa phương; quyền quyết định của các Bộ, Sở, Ban, ngành về phân bổ ngân sách cho các đơn vị trực thuộc.
3 Trên cơ sở phân biệt rõ cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công, trong 2 năm 2001 và 2002 thực hiện đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính, xoá bỏ chế độ cấp kinh phí theo số lượng biên chế, thay thế bằng cách tính toán kinh phí căn cứ vào kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu
ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu của cơ quan hành chính.
4 Đổi mới cơ bản cơ chế tài chính đối với khu vực dịch vụ công.
• Xây dựng quan niệm đúng về dịch vụ công Nhà nước có trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, nhưng không phải vì thế mà mọi công việc về dịch vụ công đều do cơ quan Nhà nước trực tiếp đảm nhận Trong từng lĩnh
Trang 16vực định rõ những công việc mà Nhà nước phải đầu tư và trực tiếp thực hiện, những công việc cần phải chuyển để các tổ chức xã hội đảm nhiệm Nhà nước có các chính sách, cơ chế tạo điều kiện để doanh nghiệp, tổ chức xã hội và nhân dân trực tiếp làm các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ và kiểm tra, kiểm soát của cơ quan hành chính nhà nước.
• Xoá bỏ cơ chế cấp phát tài chính theo kiểu “xin - cho”, ban- hành các cơ chế, chính sách thực hiện chế độ tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có điều kiện như trường đại học, bệnh viện, viện nghiên cứu v.v trên cơ sở xác định nhiệm vụ phải thực hiện, mức hỗ trọ tài chính từ Ngân sách nhà nước và phần còn lại do các đơn vị tự trang trải.
5 Thực hiện thí điểm để áp dụng rộng rãi một số cơ chế tài chính mới như:
• Cho thuê đơn vị sự nghiệp công, cho thuê đất để xây dựng cơ
sở nhà trường, bệnh viện; chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế đối với cán bộ, công chức chuyển từ các đơn vị công lập sang dân lập.
• Cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài đầu tư phát triển các cơ sở đào tạo dạy nghề, đại học, trên đại học, cơ sở chữa bệnh có chất lượng cao ở các thành phố, khu công nghiệp; khuyến khích liên doanh và đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào lĩnh vực này.
• Thực hiện cơ chế khoán một số loại dịch vụ công cộng như:
vệ sinh đô thị, cấp, thoát nước, cây xanh công viên, nước phục
Trang 171.2 Ngân sách nhà nước trong hoạt động hành chính nhà nước, những tác động trong hoạt động của Kiểm toán nhà nước đối với tiến trình cải cách hành chính nhà nước [12,79]
1.2.1 Những vấn đề cơ bản về Ngân sách nhà nước Việt Nam
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Theo Luật ngân sách nhà nước ngày 20-3-1996, ngân sách nhà nước là hệ thống các mối quan hộ kinh tế Nhà nước huy động, sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý điều hành nền kinh tế
- xã hội Đồng thời ngân sách nhà nước thực hiện cân đối các khoản thu - chi của ngân sách nhà nước Do vậy, ngân sách nhà nước là công cụ điều khiển vĩ
mô nền kinh tế của một nước Nhà nước chỉ có thể thực hiện điều chỉnh thành công khi có nguồn tài chính bảo đảm.
1.2.1.1 Thu ngân sách nhà nước
Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật; các khoản do Nhà nước vay để bù đắp bội chi được đưa vào cân đối ngân sách nhà nước.
Thu ngân sách nhà nước có đặc điểm mang tính cưỡng bức, bắt buộc, không có tính hoàn trả Do nhu cầu chi tiêu của mình, Nhà nước sử dụng quyển lãnh đạo xã hội để quy định hệ thống pháp luật tài chính và thuế khoá, buộc mọi pháp nhân và thể nhân phải nộp thuế cho Nhà nước với tư cách là một chủ thể kinh tế thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước Mặt khác mọi đối tượng nộp thuế đều ý thức được nghĩa vụ của mình trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Nhà nước.
1.2.1.2 Chi ngán sách nhà nước, đặc điểm và nguyên tắc tổ chức
các khoản chi
Chi ngân sách nhà nước bao gồm: Các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Trang 18Ngân sách nhà nước Việt Nam là một hệ thống được cấu thành bởi các
bộ phận sau:
- Ngân sách Trung ương (ngân sách của Chính phủ, của Bộ).
- Ngân sách các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Ngân sách các huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh.
- Ngân sách các xã, phường, thị trấn.
Chi ngân sách có những đặc điểm chung:
• Chi ngân sách nhà nước luôn gắn với hoạt động của bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm nhận.
• Cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ các khoản chi của ngân sách nhà nước.
• Hiệu quả các khoản chi ngân sách nhà nước phải được đánh giá dựa trên kết quả thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội mà các khoản chi ngân sách đảm nhiệm Do đó nếu chỉ dùng các chỉ tiêu định lượng đơn thuần để đánh giá hiệu quả của chi ngân sách nhà nước sẽ gặp khó khãn và không toàn diện.
• Các khoản chi ngân sách nhà nước mang tính chất không hoàn trả trực tiếp, nó phát huy tác dụng sâu rộng và lâu dài đối với nguồn thu trong tương lai Điều này được quyết định bởi những chức năng tổng hợp về kinh tế, xã hội của Nhà nước.
• Chi ngân sách nhà nước gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như tiền lương giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, các phạm trù thuộc lĩnh vực tiền tệ.
Nguyên tắc tổ chức các khoản chi ngân sách nhà nước
1 Các khoản chi phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn thu, Nguyên tắc này đòi hỏi mức độ chi chung và cơ cấu các khoản chi phải dựa vào khả năng tăng trưởng GDP của đất nước Nếu vi phạm nguvên tắc
Trang 19này sẽ dẫn đến khả năng lạm phát, gây mất ổn định cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
2 Bảo đảm yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả Để đảm bảo nguyên tắc này, các khoản chi ngân sách nhà nước phải dựa trên các định mức, chế độ và tiêu chuẩn nhất định và tổ chức chi theo chương trình mục tiêu được tính toán trước, bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả.
3 Nhà nước và nhân dân cùng làm trong việc bố trí các khoản chi ngân sách nhà nước, nhất là chi mang tính chất phúc lọi công cộng.
4 Tập trung có trọng điểm, khi phân bổ các nguồn vốn phải căn cứ vào các chương trình trọng điểm của Nhà nước.
5 Phân cấp ngân sách nhà nước hợp lý để bố trí các khoản chi cho thích hợp, tránh các khoản chi chồng chéo, khó kiểm tra giám sát, nâng cao trách nhiệm và tính chủ động của các cấp.
6 Kết hợp chặt chẽ giữa các khoản chi ngân sách nhà nước với các công cụ tài chính khác phát huy tác dụng tổng hợp tác động vào nền kinh tế.
1.2.2 Sự cân thiết của hoạt động kiểm toán đối với ngán sách nhà nước
và tác động vào tiến trình cải cách hành chính
1.2.2.1 Đối với ngán sách nhà nước
Vai trò quan trọng của Kiểm toán nhà nước trong tiến trình cải cách hành chính công trước hết thể hiện ở nội dung kiểm toán đối với ngân sách nhà nước Cụ thể là:
• Kiểm toán nhà nước coi quá trình cải cách hành chính là quá trình tổ chức, đổi mới hoạt động của hệ thống hành pháp, quá trình đó có sử dụng các khoản chi ngân sách nhà nước khổng lồ và tăng dần lên do phạm vi cải cách mở rộng, do sự phát triển và hoàn thiện các chức năng mới của Nhà nước.
• Nhà nước quản lý ngân sách nhà nước được đánh giá là hiệu quả khi làm cho nguồn thu ngân sách luôn tăng lên song song cùng sự phát triển kinh
tế, và mỗi năm ngân sách nhà nước lại được điều hành tốt hơn Đó là nội dung cần quan tâm hàng đầu của Kiểm toán nhà nước.
Trang 20• Quá trình lập dự án, duyệt và quyết định ngân sách nhà nước của cơ quan hành pháp, của cơ quan lập pháp cần phải có sự kiểm tra của một cơ quan độc lập đảm bảo tính công bằng và hợp lý.
• Thông qua hoạt động Kiểm toán ngân sách nhà nước làm tăng nguồn thu tránh thất thoát, quản lý sử dụng tốt ngân sách nhà nước để mỗi đồng chi cho dịch vụ công đều có hiệu quả.
• Kiểm tra thu ngân sách nhà nước sẽ giúp các chủ thể liên quan, trước hết là các doanh nghiệp phải có ý thức công dân khi đóng thuế phải tiết kiệm để kinh doanh có hiệu quả, phải nghiêm túc trước nghĩa vụ, do đó làm hiệu quả hoá các quá trình kinh tế và giúp lành mạnh hoá các quan hệ tài chính.
• Kiểm toán chi ngân sách nhà nước sẽ giúp các cơ quan thụ hưởng Ngân sách nhà nước có ý thức hơn trong chi tiêu có mục đích, tiết kiệm, hiệu quả
do đó cùng một khoản ngân sách nhà nước chi cho có thể dùng có ích hơn cho công việc Điều này làm tăng uy tín và hiệu quả của các cấp chính quyền.
• Kiểm toán điều hành ngân sách nhà nước và tái cơ cấu ngân sách nhà nước theo chiều hướng tích cực làm cho độ nhạy cảm, tính hợp đồng và phối hợp trong cơ cấu hành chính trở nên suôn sẻ, chặt chẽ và hiệu quả Điều đo giúp quá trình tái cơ cấu hệ thống cơ quan quyền lực có điều kiện thực hiện.
1.2.2.2 Hoạt động kiểm toán tác động vào tiến trình cải cách
• Tổ chức, hoạt động, cơ chế phân cấp quyền và phân cấp tài chính.
• Quá trình hành thu ngân sách nhà nước, trách nhiệm, thẩm quyền của mọi chủ thể liên quan đến thu ngân sách nhà nước.
• Quá trinh thực hiện dự toán chi tiêu (hành chi) của mọi cấp của mọi đối tượng thụ hưởng ngân sách nhà nước.
Trang 21• Tính tiện ích, tính hữu hiệu của các dịch vụ công phụ vụ cho nhân dân và cho nền kinh tế xã hội.
• Tính hiệu quả khi xiết chặt kiểm soát chi tiêu nhằm răn đe, hạn chế, phát hiện và kiến nghị xử lý các hành vi lãng phí, nà lạm công quĩ, tham nhũng trong bộ máy hành chính các cấp.
• Kiểm toán tuân thủ sẽ giúp xã hội thực thi pháp luật Đó là một mục tiêu cơ bản của cải cách hành chính.
• Kiểm toán hiệu năng, hiệu quả sẽ giúp quá trình tinh giảm biên chế, thu hẹp bộ máy và nâng cao hiệu lực quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước.
1.3 Một sô chú ý quan trọng trong Tuyên bố Lima về các chỉ dẫn kiểm toán (tại Hội nghị lần thứ IX của tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao quốc tế) [13,79]
Xuất phát từ một số lý do:
• Trong bối cảnh việc sử dụng thống nhất và hiệu quả các khoản công qũy là một trong những đòi hỏi thiết yếu đầu tiên cho việc sử dụng hợp lý các nguồn tài chính công và hiệu năng các quyết định của các
cơ quan có thẩm quyền.
• Không thể phủ nhận được rằng mỗi Quốc gia cần phải có một cơ quan kiểm toán tối cao được pháp luật bảo đảm tính độc lập.
• Các cơ quan kiểm toán tối cao đang ngày càng trở nên cần thiết hơn khi Nhà nước đã và đang mở rộng hoạt động của mình sang lĩnh vực kinh
tế, xã hội và vì vậy phải hoạt động tuân theo những quy định của khuôn khổ tài chính vốn có.
• Các mục tiêu của Kiểm toán - cụ thể là việc sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn công qũy; tăng cường sự lành mạnh trong quản lý tài chính; điều hành tuần tự các hoạt động hành chính; thông tin liên lạc với các cơ quan đại chúng và công chúng thông qua các báo cáo khách quan, đang rất cần thiết cho sự ổn định và phát triển của nhà nước trong việc theo đuổi các mục tiêu của Liên Hiệp Quốc.
•Tại các Hội nghị quốc tế của các cơ quan kiểm toán tối cao được tổ chức trước đó, các Phiên họp toàn thể đã thông qua nhiều nghị quyết
Trang 22Q uyêt định: Ấn hành và phổ biến văn bản với tiêu đề: "Tuyên bố Lima
nhằm phổ biến những văn bản giấy tờ đã được toàn thể các Quốc giathành viên phê chuẩn
Kiểm toán trước và kiểm toán sau
1 Kiểm toán trước được tiến hành trước khi diễn ra sự kiện đánh giá lại các hoạt động tài chính và hành chính, kiểm toán sau là công tác được tiến hành sau khi đã tiến hành sự kiện trên.
2 Tiến hành hiệu quả công tác kiểm toán trước là không thể tách rời với việc quản trị lành mạnh các qũy thác quản của tài chính công Công tác này có thể do một cơ quan kiểm toán tối cao tiến hành hay cũng
có thể do những cơ quan kiểm toán khác thực hiện.
3 Kiểm toán trước do một cơ quan kiểm toán tối cao thực hiện có lợi thể
là có thể ngăn ngừa thiệt hại ngay trước khi nó xảy ra, tuy nhiên nó cũng có những bất tiện là tạo nên khối lượng công việc quá lớn và xóa nhòa trách nhiệm theo như quy định của công pháp Kiểm toán sau do
cơ quan kiểm toán tối cao thực hiện làm rõ được trách nhiệm của bên hữu quan, có thể đòi bồi thường cho những thiệt hại đã gây ra và có thể ngăn ngừa tái phạm.
4 Tùy vào địa vị pháp lý, điều kiện cụ thể và yêu cầu riêng của mỗi Quốc gia mà cơ quan kiểm toán tối cao có thể tiến hành kiểm toán trước; còn kiểm toán sau là nhiệm vụ không thể thiếu được của bất cứ
cơ quan kiểm toán tối cao nào, bất kể nó có tiến hành kiểm toán trước hay không.
Trang 23Kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động
1 Nhiệm vụ gắn liền với các cơ quan kiểm toán tối cao là kiểm toán tính hợp pháp và hợp lệ của công tác quản lý tài chính và kế toán.
2 Ngoài loại hình kiểm toán nêu trên - loại hình kiểm toán mà ý nghĩa
và tầm quan trọng của nó là không thể tranh cãi, còn có một loại hình kiểm toán khác, tập trung vào hoạt động, hiệu năng, hiệu quả và tính kinh tế của hành chính công Loại hình kiểrn toán này không chỉ kiểm toán các khía cạnh cụ thể của công tác quản lý mà cả các hoạt động quản lý bao trùm, gồm cả khâu tổ chức và hệ thống hành chính.
3 Đối tượng kiểm toán của cơ quan kiểm toán tối cao - tính hợp pháp, tính hợp lệ, tính hiệu quả, hiệu năng, và tính kinh tế của công tác quản
lý tài chính - có tầm quan trọng tương đương nhau Vấn đề còn lại của
cơ quan kiểm toán tối cao là quyết định xem nên chú trọng ưu tiên vào đối tượng nào trước.
1.3.2 Tính độc lập
Tính độc lập của cơ quan kiêm toán tối cao
1 Cơ quan kiểm toán tối cao chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách khách quan và hiệu quả khi nó độc lập với đơn vị được kiểm toán và được bảo vệ chống lại các ảnh hưởng từ bên ngoài.
2 Mặc dù các cơ quan của Nhà nước không thể có sự độc lập tuyệt đối,
vì dù sao về tổng thể các cơ quan này vẫn là một bộ phận của nhà nước đó, tuy nhiên, cơ quan kiểm toán tối cao cần phải có sự độc lập
về tổ chức và chức năng đủ để hoàn thành các nhiệm vụ của mình.
3 Việc thành lập cơ quan kiểm toán tối cao và mức độ độc lập cần thiết của nó cần được quy định trong Hiến pháp; các chi tiết cụ thể có thể nêu trong các điều luật Đặc biệt, Tòa án tối cao cần phải có sự bảo vệ đầy đủ về mặt luật pháp nhằm chống lại các tác động từ bên ngoài đối với sự độc lập và thẩm quyền kiểm toán của cơ quan này.
Tính độc lập của nhản viên và quan chức của cơ quan kiểm toán tỏi
cao
1 Tính độc lập của cơ quan kiểm toán tối cao không thể tách rời khỏi tính độc lập của nhân viên của nó Nhân viên ở đây được hiểu là:
Trang 24những người phải đưa ra các quyết định đại diện cho cơ quan kiểm toán tối cao và phải chịu trách nhiệm với bên thứ ba; các thành viên của cơ quan ra quyết định hay người đứng đầu của cơ quan kiểm toán tối cao.
2 Tính độc lập của các nhân viên cũng cần phải được quy định trong Hiến pháp Đặc biệt, thủ tục bãi miễn (cũng được quy định trong Hiến pháp) không được làm ảnh hưởng đến tính độc lập của các nhân viên Cách thức bổ nhiệm và bãi miễn nhân viên tùy thuộc vào Hiến pháp - của từng Quốc gia cụ thể.
3 Do đặc điểm nghề nghiệp, các kiểm toán viên của cơ quan kiểm toán tối cao không thể bị tác động do ảnh hưởng của đơn vị được kiểm toán và cũng không thể phụ thuộc vào các đơn vị này.
Sự độc lập về tài chính của cơ quan kiểm toán tối cao
1 Cơ quan kiểm toán tối cao phải được cung cấp các phương tiện tài chính để có thể hoàn thành các nhiệm vụ của mình.
2 Nếu cần, cơ quan kiểm toán tối cao có quyền đề nghị cung cấp các phương tiện tài chính trực tiếp với cơ quan hoạch định ngân sách quốc gia.
3 Trong phạm vi trách nhiệm của mình cơ quan kiểm toán tối cao có quyền sử dụng các qũy được phân bổ cho mình theo một kênh ngân sách riêng.
1.3.3 Quan hệ với Quốc hội, Chính phủ
Quan hệ với Quốc hội
Tính độc lập của cơ quan kiểm toán tối cao được Hiến pháp và pháp luật bảo đảm, nó còn được trao quyền tự chủ và chủ động rất cao ngay cả khi là một cơ quan của Quốc hội, thực hiện kiểm toán theo lệnh của Quốc hội Quan
hệ giữa cơ quan kiểm toán tối cao và Quốc hội được quy định trong Hiến pháp của từng Quốc gia theo điều kiện và yêu cầu riêng của mỗi nước.
Quan hệ với Chính phủ
Cơ quan kiểm toán tối cao thực hiện kiểm toán các hoạt động của chính phủ, các cơ quan hành chính của chính phủ và bất kỳ cơ quan trực thuộc nào
Trang 25khác Tuy vậy, không có nghĩa là chính phủ trực thuộc cơ quan kiểm toán tối cao Đặc biệt, Chính phủ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn và duy nhất đối với các hoạt động và sai sót của mình và không thể chối bỏ trách nhiệm với lý do
là đã qua hoạt động kiểm toán và đã có ý kiến chuyên môn của cơ quan kiểm toán tối cao, trừ phi các ý kiến chuyên môn đó được đưa ra với đầy đủ hiệu lực pháp lý và khả năng thực hiện.
1 3 4 Q uyền h ạ n củ a c ơ quan kiểm toán tối cao
Quyền thanh tra
1 Cơ quan kiểm toán tối cao có quyền tiếp cận với mọi giấy tờ, tài liệu liên quan đến quản lý tài chính và có quyền yêu cầu (bằng lời nói hay bằng văn bản) các đối tượng được kiểm toán cung cấp bất cứ thông tin nào cần thiết.
2 Cơ quan kiểm toán tối cao có quyền quyết định địa điểm tiến hành cuộc kiểm toán cho có lợi nhất: tại đơn vị được kiểm toán hay ngay tại cơ quan kiểm toán tối cao.
3 Thời hạn cung cấp thông tin hay gửi tài liệu, giấy tờ (kể cả bản kết luận) cho cơ quan kiểm toán tối cao được pháp luật hay cơ quan kiểm toán tối cao quy định theo từng cuộc kiểm toán cụ thể.
Thực hiện các kết luận của cơ quan kiểm toán tối cao
1 Trong thời hạn do luật định chung hoặc trong trường hợp riêng do cơ quan kiểm toán tối cao quy định, các đơn vị được kiểm toán phải có ý kiến về các kết luận của cơ quan kiểm toán tối cao và đề ra các biện pháp cần thiết trên cơ sở những kết luận kiểm toán.
2. Trong trường hợp các kết luận của cơ quan kiểm toán tối cao không được đưa ra đúng theo hiệu lực pháp lý và khả năng thực hiện, thì cơ quan kiểm toán tối cao có quyền đề đạt ý kiến với các cơ quan có thẩm quyền để có các biện pháp xử lý cần thiết và buộc bên có liên quan phải gánh chịu trách nhiệm.
Ý kiến chuyên môn và các quyền phối hợp khác
1 Trường hợp quan trọng, cơ quan kiểm toán tối cao có thể cung cấp cho Quốc hội và Chính quyền các kiến thức nghiệp vụ của mình dưới
Trang 26hình thức các ý kiến chuyên môn, kể cả những góp ý về các đạo luật đang được soạn thảo hoặc các quy chế tài chính khác Chính quyền tự chịu trách nhiệm đối với việc chấp nhận hay bác bỏ các ý kiến chuyên môn đó Tuy thế, việc này không thể thay cho những kết luận kiểm toán sau này và không được ảnh hưởng đến hiệu quả của các hoạt động kiểm toán.
2 Mặt khác, quy định về trình tự quyết toán hợp lý và đồng bộ chỉ có thể được thông qua khi có sự nhất trí của cơ quan kiểm toán tối cao.
•
1.3.5 Phương ph áp kiểm toán, nhân viên kiểm toán và trao đổi kinh nghiệm giữa các nước
Phương pháp và quy trình kiểm toán
1 Cơ quan kiểm toán tối cao tiến hành cuộc kiểm toán theo một chương trình tự hoạch định Quyền được yêu cầu kiểm toán của một cơ quan nhất định nào đó vẫn không thể bị ảnh hưởng.
2 Vì một cuộc kiểm toán khó có thể bao quát được tất cả nên cơ quan kiểm toán tối cao thường áp dụng phương pháp chọn mẫu Tuy nhiên, các mẫu này phải được lựa chọn trên cơ sở một loại hình cho trước và chúng phải có số lượng hợp lý để có thể đánh giá chính xác công tác quản lý.
3 Cần soạn thảo các cẩm nang kiểm toán lưu hành nội bộ để làm phương tiện trợ giúp các kiểm toán viên.
Nhân viên kiểm toán
1 Nhân viên của cơ quan kiểm toán tối cao phải có đầy đủ năng lực và
tư cách đạo đức để hoàn thành nhiệm vụ của mình.
2 Ngay từ lúc tuyển dụng vào biên chế của cơ quan kiểm toán tối cao cần phải tuyển những nhân viên có kiến thức và năng lực trên mức trung bình, có kinh nghiệm làm việc ở mức thỏa đáng.
3 Cần phải quan tâm ở mức cao nhất đến việc bồi dưỡng lý luận và thực tiễn nghiệp vụ cho tất cả nhân viên của cơ quan kiểm toán tối cao cả trong nội bộ, đi học đại học hay trao đổi quốc tế, việc này cần được khuyên khích bằng tất cả phương tiện có thể kể cả mặt tài chính và phân công công tác Việc bổi dưỡng nâng cao kiến thức không nén bó
Trang 27hẹp trong các kiến thức kinh tế, pháp lý, kế toán truyền thống sẵn có
mà nên gồm cả các kỹ nghệ quản lý kinh doanh khác, chẳng hạn như kiến thức về xử lý dữ liệu điện tử.
4 Để bảo đảm phẩm chất cao của nhân viên kiểm toán, cần định mức lương phù hợp với những đặc điểm riêng của nghề kiểm toán.
5 Nếu nhân viên kiểm toán của cơ quan kiểm toán tối cao không thể thực hiện được một cuộc kiểm toán đặc biệt nào đó vì thiếu những kiến thức chuyên ngành liên quan thì có thể mời các chuyên gia bên ngoài tham gia thực hiện.
1.3.6 Báo cáo kiểm toán
Báo cáo với Quốc hội và công chúng
1 Hiến pháp trao quyền và đòi hỏi cơ quan kiểm toán tối cao phải báo cáo thường niên và độc lập các kết luận kiểm toán của mình lên Quốc hội và các cơ quan công quyền chức năng khác; báo cáo này phải được công khai Điều này sẽ bảo đảm thông tin và thảo luận sâu rộng, tạo môi trường dễ chịu hơn cho việc thực hiện các kết luận của cơ quan kiểm toán tối cao.
2 Ngoài các báo cáo thường niên, cơ quan kiểm toán tối cao còn có quyền báo cáo các kết luận đặc biệt quan trọng.
3 Bản báo cáo thường niên này phải bao hàm tất cả các hoạt động của
Cơ quan kiểm toán tối cao; chỉ trong trường hợp có những giá trị cần được bảo vệ hay được pháp luật bảo vệ thì cơ quan kiểm toán tối cao mới phải cân nhắc kỹ lưỡng lợi ích giữa việc giữ kín với việc công khai hoạt động đó.
1.3.7 Thẩm quyền kiểm toán của cơ quan kiểm toán tối cao
Cơ sở pháp lý của thẩm quyền kiêm toán; kiểm toán quản lý tài chính cóng
1 Thẩm quyền kiểm toán cơ bản của cơ quan kiểm toán tối cao được nêu trong Hiến pháp; các chi tiết cụ thể do luật định và tuỳ thuộc vào từng Quốc gia.
Trang 282 Mọi công tác quản lý tài chính công bất kể tồn tại dưới dạng nào của ngân sách quốc gia đều là đối tượng kiểm toán của cơ quan kiểm toán tối cao Tách rời các bộ phận quản lý tài chính công khỏi ngân sách quốc gia cũng không thể làm cho các bộ phận đó không là đối tượng kiểm toán của cơ quan kiểm toán tối cao.
Kiểm toán các cơ quan công lập và các thể chê khác ở nước ngoài Một nguyên tắc chung là kiểm toán các cơ quan công lập và các đơn vị thành lập ở nước ngoài đều do cơ quan kiểm toán tối cao tiến hành Việc kiểm toán các cơ quan này tại trụ sở của nó sẽ cần phải tính đến những hạn chế nêu trong luật quốc tế; tuy nhiên, trong trường hợp được minh chứng rõ ràng thì những hạn chế này sẽ được giản lược thông qua vận dụng linh hoạt quốc tế.
Kiểm toán thuế
Cơ quan kiểm toán tối cao được quyền kiểm toán việc thu thuế ở mức độ tối đa có thể, qua đó kiểm tra việc nộp thuế của các cá nhân Kiểm tra tính hiệu quả và khâu tổ chức việc thu thuế và các kết quả đạt được trong việc thu ngân sách và nếu có thể thì cơ quan này có quyền kiến nghị các biện pháp cải thiện với cơ quan lập pháp.
Kiểm toán các giao dịch công và các công trình công cộng
• Đây là một đối tượng kiểm toán đặc biệt của cơ quan kiểm toán tối cao Mòi thầu các công trình công cộng là việc làm phù hợp nhất để chọn lựa được các nhà thầu có giá cả và chất lượng cạnh tranh nhất Bởi vậy, bất cứ khi nào việc mời thầu các công trình công cộng không được tiến hành, cơ quan kiểm toán tối cao đều có quyền tìm hiểu lý do.
• Cơ quan kiểm toán tối cao có quyền khuyến khích việc lập các chuẩn mực phù hợp nhằm tiếp tục công tác quản lý tại các công trình đó Không chỉ xem xét tính hợp lệ của các khoản thanh toán, mà còn tính tới cả hiệu quả của công tác quản lý xây dựng và chất lượng của công trình xây dựng.
Kiểm toán các doanh nghiệp công nghiệp và thương mại có sự góp vốn của khu vực công
1 Việc tâng cường các hoạt động kinh tế của chính phủ có thể ở dạng các xí nghiệp được thành lập theo tư pháp Các xí nshiệp diện này
Trang 29cũng là đối tượng kiểm toán của cơ quan kiểm toán tối cao nếu chính phủ thực sự có sự tham gia - đặc biệt là khi sự tham gia này chiếm tỉ
lệ lớn hơn hay có ảnh hưởng quyết định Nó xem xét đến cả tính kinh
tế, hiệu quả và hiệu năng.
2 Báo cáo với Quốc hội và công chúng về các xí nghiệp này đều phải tuân theo những quy định về bảo vệ bí mật công nghiệp và thương mại.
Kiểm toán các đơn vị được trợ cấp
1 Cơ quan kiểm toán tối cao được quyền kiểm toán việc sử dụng các khoản trợ cấp lấy từ quỹ công.
2 Việc sử dụng sai mục đích các khoản trợ cấp phải bị yêu cầu hoàn trả.
Kiểm toán các thể chế siêu Quốc gia và quốc tế
Các thể chế siêu Quốc gia và quốc tế có các khoản chi tiêu do đóng góp của nhiều Quốc gia thành viên cũng cần phải được một cơ quan kiểm toán độc lập, từ bên ngoài tiến hành kiểm toán tương tự như ở mỗi một Quốc gia Để bảo đảm tính độc lập của một cuộc kiểm toán như vậy thì các thành viên của cuộc kiểm toán đó phải được chỉ định chủ yếu từ các cơ quan kiểm toán tối cao.
1.4 Giói thiệu vai trò và địa vị pháp lý của một số cơ quan kiểm toán tối cao trên thế giới [7,78]
1.4.Ị Cộng hoà L iê n bang Đức
Tên cơ quan kiểm toán tối cao: Tòa Thẩm kế Liên bang
Tính độc lập
• Toà Thẩm kế Liên bang (FCA) được thành lập với tư cách là một cơ quan tối cao của Liên bang Một cơ quan kiểm tra tài chính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Địa vị của FCA và của các Hội viên cũng như những chức năng quan trọng nhất đều được đảm bảo trong Hiến pháp.
Trang 30• FCA ấn định thời gian và tính chất của các cuộc kiểm toán và có thể lập các cuộc thanh tra tại chỗ nếu thấy cần thiết.
• Thành viên FCA được hưởng quyền độc lập tư pháp Họ độc lập cả trên cương vị cá nhân và trong khi thực thi nhiệm vụ, trừ Chủ tịch và Phó Chủ tịch, họ được bổ nhiệm đến khi đủ tuổi nghỉ hưu.
• Việc tuyển viên chức được ủy quyền cho Chủ tịch FCA và FCA được trao quyền thuê mướn số lượng cần thiết các viên chức cao cấp, các kiểm toán viên cũng như các nhân viên từ bên ngoài.
Điều kiện bổ nhiệm Tổng kiểm toán và nhiệm kỳ công tác
Chủ tịch và Phó Chủ tịch phải được cả hai Viện của Nghị viện nhất trí bầu Họ được bổ nhiệm công chức với nhiệm kỳ công tác 12 năm, nhưng không quá độ tuổi nghỉ hưu bình thường của các công chức khác Họ phải nghỉ hưu khỏi lĩnh vực công sau khi kết thúc nhiệm kỳ.
Yêu cầu báo cáo
FCA phải báo cáo thường niên với cả hai Viện của Nghị viện Liên bang cũng như trước Chính phủ Liên bang Những trường hợp cụ thể, FCA phải báo cáo nhận xét của mình về kết quả kiểm toán một khi điều này còn quan trọng với việc giải tỏa trách nhiêm của Chính phủ Liên bang đối với ngân sách được cấp và các tài khoản vốn.
Nhân viên
Chủ tịch FCA có quyền tuyển mộ, quyết định mức lương, thăng chức và
sa thải nhân viên của mình.
Trang 31kiểm toán Ngoài ra Hiến pháp Nhật còn quy định: Tổ chức và quyền hạn của
Uỷ ban kiểm toán Nhật do luật định: ưỷ ban kiểm toán độc lập với Chính phủ.
Cơ chê kiểm soát và tổ chức
• Một cơ quan tên là Ban kiểm toán giữ vai trò kiểm tra các hoạt động thường nhật của SAI Nhật bản Chủ tịch Uỷ ban kiểm toán cũng là Chủ tịch Ban kiểm toán Ban kiểm toán gồm 03 ủy viên, hoạt động độc lập trong nhiệm kỳ 07 năm Ban kiểm toán do Chính phủ bổ nhiệm và Nhật Hoàng phê chuẩn.
• Có Vụ điều hành gồm ban thư ký và 05 nhân viên Vụ này có 01 Tổng Thư ký 01 Phó Tổng Thư ký và những nhân viên khác Tổng thư ký giám sát hoạt đông của Vụ với sự trợ giúp của Phó Tổng thư ký.
Thủ tục xem xét báo cáo.
• Cả Thượng viện và Hạ viện Nhật bản đều tổ chức các cuộc hội thảo luận chi tiết với Ban kế toán công về các bản kết toán, mỗi năm khoảng 20 cuộc Nhân viên của Uỷ ban kiểm toán tham dự tất cả các cuộc thảo luận đó và có trách nhiệm giải trình ý kiến của ủy ban.
• Nhân viên của Uỷ ban kiểm toán còn thường tham dự và nêu ý kiến tại nhiều cuộc họp khác của các ủy ban Nghị viện như ủy ban ngân sách Ngoài ra, họ có thể còn phải tham dự các phiên họp của Quốc hội và trình bày nội dung các báo cáo hàng năm.
1.4.3 Liên Hiệp Vương quốc Anh
Tên cơ quan kiểm toán tối cao: cơ quan Kiểm toán quốc gia (NAO)
Tính độc lập
Với tư cách là một thành viên của Hạ viện Anh, Tổng kiểm toán hoạt động độc lập với Chính phủ Tổng kiểm toán có toàn quyền quyết định việc
Trang 32thực thi các nhiệm vụ của minh Khi lên kế hoạch cho công tác kiểm toán báo cáo tài chính, Tổng kiểm toán chỉ cần tham khảo ý kiến của ủ y ban kế toán công.
Cơ chê kiểm soát của NAO
Thực hiện kiểm tra đối vói NAO Anh là ủ y ban báo cáo công - một ủy ban gồm các nhân viên là thành viên của Hạ viện Anh.
Điều kiện bổ nhiệm Tổng kiểm toán và nhiệm kỳ công tác
• Mọi quyền lực pháp lý nhằm kiểm toán tài chính Chính phủ trung ương đêu được trao cho cá nhân Tong kiểm toán hơn là cho chung cả cơ quan kiểm toán quốc gia Nhân viên NAO tiến hành công tác kiểm toán nhân danh Ông.
•Tổng kiểm toán được Nữ hoàng bổ nhiệm theo đề nghị của Hạ Nghị viện, ban đê nghị bổ nhiệm này do Thủ tướng Anh soạn thảo có sự chấp thuận của Chủ tịch ủy ban Báo cáo Công (PAC) Việc bổ nhiệm không gắn với nhiệm kỳ cố định Việc miễn nhiệm Tổng kiểm toán Anh do Nữ hoàng quyết định trên cơ sở nghị quyết của cả hai viện của Nghị viện Anh Lương của Tông kiêm toán do Ha viên thông qua và trong tương quan với các quy chế giành cho công chức cấp cao.
Yêu cầu báo cáo
• Mỗi Bộ, Ngành, cơ quan trong bộ máy nhà nước đều phải đưa ra các báo cáo hàng năm của mình Báo cáo của các Bộ, Ngành phải được gửi lên Tổng kiểm toán để kiểm toán, các báo cáo này được trình bày cùng với bản báo cáo kiểm toán của Tổng kiểm toán trước Nghị viện báo cáo của các cơ quan hành pháp Công tác kiểm toán đối với các
cơ quan công khác là không giống nhau và được quyết định theo luật hay theo bản ghi nhớ về tài chính quy định về các hoạt động Luật cũng có thể đòi hỏi Tổng kiểm toán báo cáo về một đơn vị cụ thể nào
đó Bản báo cáo này được trình bày trong một bản riêng với các thông báo về tài chính Nếu không có gì để báo cáo thì Tổng kiểm toán sẽ vân phải bô xung vào chứng nhận kiểm toán trong đó nêu rằng Ônơ không có phát hiện gì Ngoài ra, Tổng kiểm toán Anh có thể báo cáo với Nghị viện về bất cứ vấn đề gl mà Ông tin rằng Nghị viện sẽ quan tâm xem xét.
Trang 33• Từ năm 1993 đến nay, mỗi năm Tổng kiểm toán Anh trình bày khoảng
40 đến 50 báo cáo về kiểm toán tài chính do cơ quan Kiểm toán nhà nước tiến hành Các báo cáo này được trình bày trước Nghị viện và được công bố theo lệnh của Hạ viện Ngoài ra, NAO còn công bố báo cáo hàng năm các hoạt động của mình.
Thủ tục xem xét báo cáo
• Các quan điểm và kết luận nêu trong báo cáo không những phải tuân theo quy định chính thức mà ngay cả trong thực tiễn khi NAO ghi nhận các quan điểm của Bộ Nếu xảy ra tranh cãi về nội dung một bản báo cáo thì quan điểm của Bộ đó được ghi vào nguyên bản.
• PAC - Một ủ y ban gồm các thành viên cao cấp của Nghị viện - gồm 15 Nghị sỹ PAC họp 02 phiên mỗi tuần khi Nghị viện họp Các cuộc họp này thường thảo luận các báo cáo của Tổng kiểm toán Các phiên họp của PAC được tổ chức công khai trừ phi những vấn đề thảo luận có liên quan đến an ninh quốc gia hay là những vấn đề thương mại nhạy cảm.
Ngân quỹ
NAO hiện có khoảng 750 nhân viên, gồm 550 kế toán viên hoặc nhân viên đã đào tạo đủ trình độ nghề nghiệp Đạo luật nãm 1983 dành cho Tổng kiểm toán quyền bổ nhiệm vào NAO những nhân viên cần tuyển để thực hiện nhịêm vụ của mình Tổng kiểm toán còn chịu trách nhiệm về định mức lương cho nhân viên Nhân viên được tuyển vào NAO là những sinh viên đã tốt nghiệp đại học và được đào tạo đủ năng lực làm kế toán chuyên nghiệp.
Giao ước thực hiện nhịêm vụ
Cơ quan kiểm toán quốc gia có thể thuê chuyên gia ngắn hạn để thực hiện công đoạn kiểm toán nhất định nào đó Cơ quan này có thể ký những hợp đồng nhỏ với các hãng nghiệp vụ tư nhân thực hiện một số phần công việc kiểm soát tài chính và thử nghiệm ký hợp đồng đảm nhiệm toàn bộ việc khảo sát báo cáo tài chính.
Trang 34• GAO quyết định phần lớn kế hoạch công việc của mình thông qua quy trình lập kế hoạch chiến lược nội bộ, trong đó định rõ các dự án và vấn đề nghiên cứu để trả lời trước Nghị viện Phần lớn quy trình này được giữ kín Tuy nhiên, khi chuẩn bị lên kế hoạch chiến lược của mình, người phụ trách từng mảng công việc thường cùng nhân viên các ủ y ban của Nghị viện trao đổi về những vấn đề quan tâm trong 2-
3 năm tới.
Cơ chê kiểm soát
• ủy ban Thượng viện về các công tác của Chính phủ và ủ y ban Hạ viện
về các hoạt động của Chính phủ thực hiện giám sát đối với GAO.
• Nghị viện có thể sửa đổi quy chế quyền lực của GAO bất cứ lúc nào và
có thể tác động đến hoạt động của GAO bằng các yêu cầu về công việc và báo cáo hàng năm.
Điểu kiện bổ nhiệm Tổng kiểm toán và nhiệm kỳ công tác
• Tổng kiểm toán do Tổng thống bổ nhiệm có sự tư vấn và chấp thuận của Thượng viện Một ủ y ban của Nghị viện lập danh sách các cá nhân để Tổng thống cân nhắc lựa chọn Thành viên của uỷ ban này được thành lập theo Công pháp 96-226 năm 1980, gồm có Chủ tịch
Hạ Nghị viện, Chủ tịch Thượng Nghị viện, Chủ tịch của cả Đảng chiếm đa sô và thiểu số tại Hạ viện, Chủ tịch và Người đứng đầu nhóm thiểu sô tại Uy ban Hạ viện về các hoạt động của Chính phủ và
Uy ban Thượng viện về các công tác của Chính phủ.
• Phần lớn quyền lực liên quan đến trách nhiệm của GAO đều được trao cho Tổng kiểm toán.
Trang 35Thủ tục xem xét báo cáo
Khi hoàn thành báo cáo, một thẩm tra viên độc lập trong nội bộ GAO sẽ chuẩn bị bản dự thảo lần 1 và một "Tham chiến viên" sẽ kiểm tra độ chính xác của các tài liệu Sau khi người phụ trách chấp thuận bản dự thảo đầu tiên đó,
nó sẽ được phòng báo cáo - kê hoạch, nhóm kỹ thuật, tổ kinh tế của bộ phận
đó, Văn phòng Đại hội đồng, Văn phòng Kinh tế trưởng và trợ lý Tổng kiểm toán phụ trách bộ phận đó xem xét lại.
Đặc điểm riêng về pháp chế
Cơ quan điều tra Đặc biệt của GAO (OSI) được thành lập năm 1987 nhằm nhận diện và điều tra các nguy cơ gian lận, hành vi sai phạm và lạm dụng trong các chương trình, hoạt động của Chính phủ có sử dụng công quỹ GAO đã huy động các nhân viên của cơ quan bảo vộ pháp luật và cơ quan điều tra từ bên ngoài để thành lập OSI Ngoài những nhân viên làm việc tại trụ sở của OSI, GAO còn thành lập chức danh điều tra viên tại 06 văn phòng khu vực.
Nhân viên
• Hiện tại GAO có khoảng 3.500 nhân viên Mỗi khi có công việc liên quan đến các chức năng của GAO, số lượng nhân viên này có thể thay đổi Các nhân viên của GAO được bổ nhiệm trên cơ sở đánh giá học lực các môn học xã hội, hành chính công cộng, quản trị kinh doanh, thống kê, công nghệ tin học, kinh tế học và những môn khác không thuộc lĩnh vực kế toán.
• Theo đạo luật về nhân sự tổng kế toán năm 1980, GAO có bộ máy tài
vụ và nhân sự riêng, hầu hết nhân viên giữ cương vị thẩm định viên có bằng đại học Hơn 70 % nhân viên có bằng thạc sỹ và tiến sỹ.
Trang 361.4.5 N hững nét chung vê vai trò và địa vị pháp lý cùa một s ố cơ quan
kiếm toán tối cao trên th ế giới
đo sẽ đảm bảo ch o người k iểm ư a và người bị kiểm tra k h ôn g đ ồ n g nhất V.H
Ví i h thpc hiện nhi ệ!n ^ nhằm ch ố n ê '?> c á c tác đ ôn g từ bên n goài liên quan đến sự đ ộ c lập và thẩm quyền Đ ư ọ c a°p dụng c á c phươỉtg pháp k iêm toán riêng phù hợp.
,Đ ều k i'n b<i nhiệm Tổng kiểm toán và nhiệm kỳ công tác: hầu hết đều do người đứng đẩu thể c h ế nhà nước p hê chuẩn trên c ơ sở đề nghị cua cơ
d ộ c lập, c ó q uyền hoạt đ ộ n g đ ộ c lập, trách nhiệm cá nhân rất lớn về tổ chức và hoạt đ ộn g, c ó ảnh hưởng sâu rộng đối với hoạt đ ộn g của bộ m áy nhà nước.
quản lý khác như tổ chứ c, hệ thống hành chính
_ N g í " q “ ỹ ,h 0 ạ t đ ộ n g : dược ‘V l*p trên c ơ sở đủ điều kiện vé tài chính và phương tiện k ĩ thuật thực thi nhiệm vụ của m ình Đ ư ợc quyền định m ức lương cao ch o nhân viên đủ đảm bảo về phẩm chất cùa nhân w i n Đ ư ợ c quyền thuê mướn và trả cô n g xứ ng đáng cho người thuê ngoài.
chi tiêu đảm bảo sự tiết k iệm và hợp lý
được chuẩn b c ô n g phu Đ ư ợc báo cáo lên những c ơ quan quan trọng công
h Ị qugả d a c“ ằ c á ầ * quy • củ"'uật- d™ b "° pbát ^ da
Trang 37Chương 2 Thực trạng hoạt động và vai trò của Kiểm toán nhà nước trong tiên trình cải cách hành chính nhà nước trong thời gian qua
2.1 Giới thiệu về chức năng, nhiệm vụ của Kiểm toán nhà nước trong bôi cảnh nền hành chính nhà nước hiện nay
2.1.1 Thực trạng nén hành chính hiện nay [3,78]
Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, Nghị quyết Đại hội VII, Nghị quyết Đại hội VIII, các Nghị quyết Trung ương 3, Trung ương 6 (lần 2) và Trung ương 7 (khóa VIII), công cuộc cải cách hành chính trong 10 năm qua (1991 - 2000) đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Những kết quả rõ nét, có ý nghĩa của cải cách hành chính thời gian qua là:
2.1.1.1 Những mặt tích cực
• Chức năng và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính
từ Chính phủ, các Bộ, Ngành Trung ương đến Uỷ ban nhân dân các cấp đã có nhiều thay đổi tiến bộ, tập trung nhiều hơn vào quản lý nhà nước.
• Từng bước đổi mới thể chế hành chính trên các lĩnh vực, trước hết là hình thành thể chế kinh tế phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
• Cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ và cơ quan hành chính các cấp dươc sắp xếp, điều chỉnh tinh giản hơn trước, bộ may hanh chinh từ Trung ương đến cơ sở vận hành phát huy tác dụng, hiệu quả tốt hơn.
• Việc quản lý, sử dụng cán bộ, công chức được đổi mới một bước thèo các quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức: từ khâu tuyển chọn, đánh giá, thi nâng ngạch, khen thưởng, kỷ luật đến đào tạo, bồi dưỡng Chế độ, chính sách tiền lương bước đầu được cải cách theo hướng tiền tệ hóa.
Trang 382.1.1.2 Những mặt còn hạn che
Nền hành chính nhà nước còn mang nặng dấu ấn của cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp, chưa đáp ứng được những yêu cầu của cơ chế quản lý mới cũng như yêu cầu phục vụ nhân dân trong điều kiện mới đồng thời hiệu lực và hiệu quả quản lý chưa cao thể hiện:
• Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ máy hành chính trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được xác định thật rõ và phù hợp; sự phân công, phân cấp giữa các ngành
và các cấp chưa thật rành mạch.
• Hệ thống thể chế hành chính chưa đổng bộ, còn chổng chéo và thiếu thống nhất; thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp; trật tự, kỷ cương chưa nghiêm.
• Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc; phương thức quản
lý hành chính vừa tập trung quan liêu lại vừa phân tán, chưa thông suốt; chưa có những cơ chế, chính sách tài chính thích hợp với hoạt động của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức làm dịch vụ công.
• Đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều điểm yếu về phẩm chất, tinh thần trách nhiêm, năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính; phong cách làm viộc chậm đổi mới; tộ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân tiếp tục diễn ra nghiêm trọng trong một bộ phận cán bộ, công chức.
• Bộ máy hành chính ở các địa phương và cơ sở chưa thực sự gắn bó với dân, không nắm chắc được những vấn đề nổi cộm trên địa bàn, lúng túng, bị động khi xử lý các tình huống phức tạp.
Những tồn tại trên là do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể tổng kết đánh giá và rút ra một số nguyên nhân khách quan và chủ quan sau:
> Trước hết, trong nhận thức của cán bộ, công chức về vai trò và chức năng quản lý của Nhà nước, về xây dựng bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy hành chính nhà nước trong tình hình mới, điều kiện mới chưa thật rõ ràng và chưa thống nhất, còn nhiều vấn đề về
lý luận và thực tiễn chưa được làm sáng tỏ, còn nhiều chủ trương, chính sách, quy định của pháp luật ra đời trong cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp chưa được kịp thời sửa đổi, thay thế.
Trang 39> Th ứ hai, việc triển khai các nhiệm vụ về cải cách hành chính chưa được tiến hành đổng bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của
hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo, cải cách hành chính chưa gắn
bó chặt chẽ với đổi mới hoạt động lập pháp và cải cách tư pháp.
> Thứ ba, cải cách hành chính gặp trở ngại lớn do đụng chạm đến lợi ích cục bộ của nhiều cơ quan hành chính, nhiều cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước ở Trung ương và địa phương; ảnh hưởng của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp còn đè nặng lên nếp nghĩ, cách làm của không ít cán bộ, công chức; cuộc cải cách chưa được chuẩn bị tốt về mặt tư tưởng.
> Thứ tư, các chế độ, chính sách về tổ chức và cán bộ, về tiền lương còn nhiều điều chưa phù hợp, chưa tạo ra động lực thúc đẩy công cuộc cải cách.
> Th ứ năm là những thiếu sót trong công tác chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, Ngành Trung ương và Uỷ ban nhân dân các địa phương trong việc tiến hành cải cách hành chính; sự chỉ đạo thực hiện các chủ trương đã đề ra thiếu kiên quyết và chưa thống nhất.
2.1.2 G iớ i thiệu về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm toán
nhà nước hiện nay [2,3,78] (Xem sơ đồ 2.1 trang 39 )
Chức năng kiểm tra tài chính nhà nước và tài sản công là chức năng quan trọng và vốn có của mọi Nhà nước Chức năng này thể hiện quyền lực của Nhà nước và được thực hiện thông qua các công cụ kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng có thẩm quyền, nhằm tăng cường sự quản lý nhà nước về tài chính, bảo đảm cho sự ổn định và phát triển của Nhà nước và của
xã hội.
Kể từ khi được thành lập, Nhà nước ta đã thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát tài chính nhà nước và tài sản công của mình bằng hệ thống pháp luật và hệ thống các cơ quan thanh tra, kiểm tra gồm Thanh tra nhà nước, thanh tra tài chính, thanh tra chuyên ngành, các cơ quan bảo vệ pháp luật khác Gắn liền với việc cải cách bộ máy nhà nước, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền là quá trình đổi mới kinh tế chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hoạt động kiểm tra, kiểm soát, nhất là kiểm tra tài chính nhà nước ngày càng trở nên cực kỳ quan trọng đối với nhà nước Đầu những năm 90 Nhà nước ta
đã nghiên cứu và cho ra đời các loại hình hoạt động kiểm toán gồm :
Trang 40S ơ ĐỔ 2.1
MÔ TẢ VỊ TRÍ PHÁP LÝ CỦA KIỂM t o á n n h à n ư ớ c h i ệ n n a y
kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ và Kiểm toán nhà nước Các loại hình kiểm toán này được ra đời, hoạt động với mục đích phục vụ có hiệu quả cho công tác quản lý kinh tế, tài chính của các loại chủ thể khác nhau trong nền kinh tế thị trường :
+ Kiểm toán độc lập được ra đời và hoạt động chủ yếu là cung cấp các dịch vụ kế toán, tư vấn về tài chính, thuế, kế toán theo yêu cầu của các chủ thể, nhằm kiểm tra, xác định rõ tính đúng đắn, mức độ trung thực, hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và Báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, các cơ quan, các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội Hoạt động của kiểm toán độc lập có tác dụng bảo đảm và nâng cao độ tin cậy của các số liệu, các thông tin tài chính, kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, giúp đơn vị được kiểm toán phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai sót, phòng ngừa các rủi ro và thiệt hại có thể xảy ra trong kinh doanh và
sử dụng vốn, kinh phí Đây chính là loại hình doanh nghiệp hoạt động