T ín h c ấ p th iế t c ủ a đ ề tà i Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, việc mở cửa biên giới và bình thường hoá quan hệ giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà nh
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÊ QUỐC DÂN
PHẠM T H Ị HỔNG
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Trang 3- & ) / e ả ế ễ t ế / f f
Nhân dịp hoàn thành luận văn cao học, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thanh cua tôi tới các thày cô giáo - những người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Thường Lạng, PGS.TS Đỗ Đức Bình - những thày đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè và người thân trong gia đình đã động viên tôi ca vê mặt tinh thần lân vật chất, giúp tôi vượt qua những thời điểm khó khăn trong thời gian qua.
Nhân dịp này, tôi xỉn chân thành cảm Ơ 11 các tập thể, cá nhân thuộc Trường Đại học Kinh t ế quốc dân và Trường Cao đẳng Công nghiệp Hà Nội
đa tạo mọi điêu kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thày cô, bạn bè, đồng nghiệp khác
đa động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn.
Trang 4M Ụ C L Ụ C
M ục lục
Bảng các chữ viết tắ t tiếng Anh và tiếng V iệt
D anh m ục bảng v à hình v ẽ s ử dụng trong luận v ăn
Lời nói đ ầ u
Chương 1: Tổng quan về thưong mại quốc tế và những đặc trư ng của thương m ại biên giói
1.1 N hững vấn đê chung về thương mại quốc tế
1.1.1 Khái niệm thương mại quốc tế
1.1.2 Các phương thức giao dịch thương mại quốc tế
1.1.3 Các công cụ quản lí hoạt động thương mại quốc tê
1.2 Các lí thuyết về thương mại quốc tế
1.2.1 Lí thuyết lợi thế tuyệt đối
1.2.2 Lí thuyết lợi thế so sánh
1.2.3 Học thuyết Heckscher - Ohlin
1.2.4 Lí thuyết khoảng cách công nghệ và vòng đời sản phẩm
1.3 N hữ ng đặc trưng của thương mại biên giới
1.4 K inh nghiệm phát triển quan hệ thương mại biên giới của m ột số nước
1.4.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
1.4.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
1.4.3 Kinh nghiệm của khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu
K ết luận chương 1
Chương 2: Thực trạ n g quan hệ thương mại biên giới Việt
T r a n g 1
4 7 9
12 12 12 12
14
20 20 21
23
24 26
28
28 29 30 31
Trang 5- T rung trong điều kiện hội nhập kinh tê quốc tế 32
2.1 Chính sách và bộ máy quản lí thương mại biên giới của
Trung Quốc 2 2
2.2 Quá trình phát triển quan hệ thương mại biên giói Việt
- Trung trong điều kiện hội nhập kinh tê quốc tế j y
2.3 Thực trạng quan hệ thương mại biên giới Việt - Trung
Chương 3: N hững giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh quan
hệ thương mại biên giới Việt - Trung trong điều kiện hội nhập
kinh tê quốc tế 66
3.1 N hữ ng điều kiện mới của hội nhập kinh tế quốc tế 66
3.2 Triển vọng quan hệ thương mại biên giới Việt - Trung
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 67
Trang 6tế 70
3.3.1 Giải pháp từ phía Nhà nước 70
33.1.1 Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển giao lưu và hợp tác kinh t ế với Trung Quốc 7Q 3.3.1.2 Xây dựng Luật thuế chống hán phá giá 7 2 3.3.1.3 Kiên trì thực hiện Hiệp định thanh toán và hợp tác 7 2 3.3.14 Đổi mới công tác tổ chức, phương thức hoạt động và chỉ đạo, điều hành các hoạt động kinh tế vùng biên giới 7 4 3.3.1.5 Đáu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các dịch vụ bưu chính viễn thông và các dịch vụ khác 78
33.1.6 Thực hiện tốt công tác xã hội, an ninh - quốc phòng 80 33.1.7 Tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại với Trung Quốc 81
3.3.2 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 83
33.2.1 Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 83
33.2.2 Tập trung xây dựng chiến lược doanh nghiệp đ ể đạt được mục tiêu phát triển bền vững trong dài hạn £ 2
3.3.23 Tăng cường hoạt dộng nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ mới ở doanh nghiệp xuất khẩu 86
33.2.4 Giải pháp đ ể phát triển thị trường 87
33.2.5 Giải pháp về vốn của doanh nghiệp 89
33.2.6 Giải pháp đ ể phát triển nguồn nhân lực 90
K ết luận chương 3 92 K ết lu ậ n 93
Danh mục tài liệu tham khảo 94
Phụ lụ c 99
Trang 7L Ờ I N Ó I Đ Ầ U
1 T ín h c ấ p th iế t c ủ a đ ề tà i
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, việc mở cửa biên giới và bình thường hoá quan hệ giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa là một sự kiện chính trị, ngoại giao đồng thời cũng là
sự kiện kinh tế - thương mại quan trọng đối với Việt Nam Thực tiễn Việt Nam sau gần 15 năm mở cửa biên giới buôn bán với Trung Quốc cho thấy, sự kiện này tác động sâu sắc tới đời sống kinh tế - xã hội trong nước Bên cạnh các tác động tích cực như gia tăng hoạt động thương mại biên giới, thúc đẩy hợp tác đầu tư, tạo công ăn việc làm cho người lao động, còn tồn tại nhiều hạn chế đó là buôn lậu và gian lận thương mại, cán cân thương mại thâm hụt, tình hình an ninh ở khu vực biên giới nhiều khi bất ổn, trong khi trình độ quản lí Nhà nước về thương mại biên giới của cán bộ ở Trung ương và địa phương còn yếu kém
Mặc dù có những hạn chế song Trung Quốc vẫn là một thị trường đầy tiềm năng đối với hoạt động xuất nhập khẩu biên giới của Việt Nam Trung Quốc là thị trường “dễ tính” với gần 1,3 tỉ dân, giữa Việt Nam và Trung Quốc
có đường biên giới dài, có sự gần gũi về văn hoá, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đặc biệt cơ cấu hàng hoá trao đổi qua biên giới hai nước vừa mang tính bổ sung vừa mang tính cạnh tranh nhưng hiện tại tính chất bổ sung vẫn là chủ yếu Do đó, cả Việt Nam và Trung Quốc đều có thể khai thác những lợi thế so sánh để thu được lợi ích to lớn từ hoạt động thương mại biên giới
Trên thực tế quan hệ thương mại biên giới Việt - Trung chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước và chưa khai thác được hết lợi thế so sánh của mỗi nước Vấn đề đặt ra là khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), các nước ASEAN và Trung Quốc đang đàm phán để thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (CAFTA), các hàng rào bảo hộ nói chung sẽ giảm dần dẫn đến lợi thế so sánh giữa Việt Nam và Trung Quốc - cơ sở hình thành hoạt động thương mại giữa hai nước thay đổi Đây là
Trang 8thời khắc phục những trở ngại, thách thức nhằm phát triển quan hệ thương mại biên giới góp phần thực hiện mục tiêu tổng quát của Chiến lược 10 năm 2001
- 2010 là “đạt nhịp độ tăng xuất khẩu gấp trên 2 lần nhịp độ tăng GDP”? Làm thế nào để phát triển thương mại biên giới Việt - Trung mà vẫn bảo đảm giữ vững ổn định an ninh chính trị ở khu vực biên giới khi những lợi ích này lúc đan xen nhau, lúc mâu thuẫn nhau?
Để góp phần giải đáp những vấn đề trên, đề tài “M ộí sô biện pháp đẩy
mạnh quan hệ thương mại biên giới Việt - Trung trong điều kiện hội nhập kinh tê'quốc t ể ' được chọn để nghiên cứu.
2 M ụ c đ íc h n g h iê n cứ u
Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lí thuyết về thương mại quốc tế
và đánh giá thực trạng quan hệ thương mại hàng hoá biên giới Việt - Trung giai đoạn từ năm 1991 đến nay, luận văn đề xuất các giải pháp để tăng cường quan hệ nhằm hạn chế các tác động tiêu cực và phát huy các tác động tích cực, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Số liệu sử dụng trong luận văn được lấy từ nguồn số liệu chính thức của các cơ quan quản lí hoạt động thương mại biên giới Việt - Trung của Việt Nam và Trung Quốc
Trang 96 N h ữ n g đ ó n g g ó p của lu ậ n v ă n
Luận văn có những đóng góp sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lí luận cơ bản về thương mại quốc tế và tổng kết một số đặc trưng cơ bản của thương mại biên giới
- Đánh giá thực trạng hoạt động thương mại biên giới Việt - Trung giai đoạn từ năm 1991 đến nay
- Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh quan hệ thương mại biên giới Việt - Trung trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 10Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia, thông qua hoạt động mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới, theo nguyên tắc trao đổi ngang giá.
Theo nghĩa rộng, thương mại quốc tế phản ánh toàn bộ các quan hệ kinh tế quốc tế bởi vì nội dung phổ biến hiện nay của các quan hệ kinh tế quốc tế là hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vu
1 1 2 C á c p h ư ơ n g th ứ c g ia o d ịch th ư ơ n g m ạ i q u ố c tê
Hoạt động thương mại quốc tế được thực hiện thông qua các phương thức giao dịch nhất định
* Giao dịch thông thường
Giao dịch thông thường là phương thức giao dịch trong đó người bán và người mua trực tiếp thương lượng với nhau về hàng hoá, giá cả, chất lượng và các điều kiện giao dịch Những nội dung này được thoả thuận một cách tự nguyện, không có sự ràng buộc với lần giao dịch trước
* Giao dịch qua trung gian
Đây là phương thức giao dịch mà việc thiết lập quan hệ giữa người bán
và người mua cũng như việc thoả thuận các điều kiện mua bán đều phải thông qua người trung gian
Người trung gian buôn bán phổ biến trên thị trường là đại lí và môi giới
Trang 11* B uôn bán đối lưu
Đây là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua và lượng hàng hoá trao đổi với nhau
có giá trị tương đương Ở đây mục đích của xuất khẩu không phải nhằm thu ngoại tệ mà để có một lượng hàng hoá có giá trị tương đương Vì vậy, phương thức này còn được gọi là xuất nhập khẩu liên kết hoặc phương thức hàng đổi hàng
* Đấu giá quốc tê
Đấu giá quốc tế là phương thức bán hàng đặc biệt được tổ chức công khai ở một địa điểm nhất định, tại đó sau khi xem trước hàng hoá, những người đến mua tự do cạnh tranh với nhau về giá cả và hàng hoá sẽ được bán cho người nào trả giá cao nhất
Trong thương mại quốc tế, những mặt hàng được đưa ra đấu giá thường
là những mặt hàng khó tiêu chuẩn hoá
* Đấu thầu quốc tê
Đây là phương thức giao dịch đặc biệt trong đó người mua (người gọi thầu) công bố trước các điều kiện mua hàng để người bán (người dự thầu) báo giá cả và các điều kiện trả tiền, sau đó người mua sẽ chọn mua của người báo giá rẻ nhất và hình thức tín dụng phù hợp với những điều kiện mà người mua đặt ra
Phương thức đấu thầu được áp dụng tương đối phổ biến trong việc mua sắm và thi công các công trình của Nhà nước, đặc biệt là tại các nước đang phát triển
* Giao dịch tái xuất
Tái xuất là xuất khẩu ra nước ngoài những hàng hoá trước đây đã nhập khẩu và chưa qua chế biến ở nước tái xuất
Giao dịch tái xuất bao gồm hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu nhằm thu được một lượng ngoại tệ lớn hơn số vốn đầu tư ban đầu Giao dịch này có
Trang 12ba nước tham gia: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu Vì vậy, giao dịch tái xuất còn được gọi là giao dịch ba bên hay giao dịch tam giác.
* Gia công quốc tê
Gia công quốc tế là phương thức giao dịch trong đó bên nhận gia công nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của bên đặt gia công để sản xuất thành phẩm và giao lại cho bên đặt gia công nhằm nhận được phí gia công
Hiện nay, phương thức gia công quốc tế khá phổ biến trong hoạt động thương mại của nhiều nước Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp
họ tận dụng được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công Đối với bên nhận gia công, phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong nước hoặc nhận được thiết bị hay công nghệ mới nhằm xây dựng nền công nghiệp dân tộc
Ngoài những phương thức giao dịch chủ yếu trên, sự phát triển của thương mại quốc tế có thể làm xuất hiện nhiều phương thức giao dịch mới trên
cơ sở sự phát triển của khoa học công nghệ, sự phân công lao động quốc tế và
sự đa dạng hoá nhu cầu của các quốc gia Để thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển cần chú trọng khai thác các phương thức giao dịch thương mại quốc
tế phù hợp với lợi thế so sánh và trình độ phát triển của đất nước cũng như sự tác động qua lại giữa chúng với nhau
Trang 13nước giảm từ D' xuống D2 Chi phí và lợi ích của những nhóm khác nhau trong xã hội được thể hiện bằng diện tích các hình a, b, c, d, e.
H ìn h 1.1: T á c đ ộ n g c ủ a th u ê n h ậ p k h ẩ u tớ i p h ú c lợi c ủ a q u ố c gia
(trư ờ n g h ợ p n ư ớ c lớn)
Trong đó: Tổn thất người tiêu dùng: a+b+c+d
Thặng dư người sản xuất: a Thu nhập của Chính phủ: c+e Lợi ích thu dược từ thương mại: ePhúc lợi quốc gia = Thặng dư người sản xuất + Thu nhập của Chính phủ
Trang 14động đến giá của thế giới - trong trường hợp nước nhỏ (xem hình 1.2) thì thuế nhập khẩu làm tăng giá hàng nhập khẩu với mức bằng toàn bộ mức thuế từ Pw lên Pw+t, lượng hàng sản xuất trong nước tăng từ s ' lên s 2 trong khi mức tiêu dùng trong nước giảm từ D' xuống D2, miền (e) biểu thị khoản lợi ích thương mại bị mất đi và phúc lợi quốc gia sẽ giảm từ e -b -d xuống còn -b -d
Như vậy, đối với trường hợp nước nhỏ không có ảnh hưởng đến mức giá của thế giới thì các khoản chi phí tổn do thuế quan gây ra sẽ lớn hơn so với các khoản lợi ích mà nó mang lại
Trợ cấp xuất khẩu có những tác động nhất định đến phúc lợi của quốc gia (xem hình 1.3)
Khi Chính phủ trợ cấp xuất khẩu, các nhà xuất khẩu sẽ xuất khẩu hàng hoá tới khi mức giá trong nước cao hơn mức giá nước nhập khẩu đúng bằng lượng trợ cấp Giá tại nước xuất khẩu tăng từ Pw lên Ps và lượng cung hàng hoá tăng từ s ' lên s 2, lượng cầu hàng hoá trong nước giảm từ D' xuống D2 Lợi
Trang 15ích và chi phí của những nhóm khác nhau trong xã h ộ i‘được biểu thị thông qua diện tích các hình a, b, c, d, e, f, g.
Trong dó: Thặng dư người sản xuất: a+b+c
Tổn thất người tiêu dùng: a+b Khoản trợ cấp của Chính phủ: b+c+d+e+f+g Phúc lợi quốc gia khi Chính phủ trợ cấp xuất khẩu = Thặng dư người sản xuất - Tổn thất người tiêu dùng — Khoản trợ cấp của Chính phủ = (a+ b+c)-(a+b)-(b+c+d+e+f+g)=-b-d-e-f-g
H ìn h 1.3: T á c đ ộ n g c ủ a tr ợ c ấ p x u ấ t k h ẩ u tới p h ú c lọ i c ủ a q u ố c gia
Diện tích các tam giác (b, d) biểu hiện mức tổn thất xuất hiện do trợ cấp xuất khẩu làm sai lạc những khuyến khích của Chính phủ (diện tích tam giác b
là tổn thất do méo mó trong sản xuất, diện tích tam giác d là tổn thất do méo
mó trong tiêu dùng) Ngược lại với thuế quan, trợ cấp xuất khẩu làm cho điều kiện thương mại xấu đi do việc giảm giá của hàng hoá xuất khẩu ở thị trường nước nhập khẩu từ Pw xuống p*s Điều này, dẫn đến các tổn thất thương mại kèm theo e+f+g Vì vậy, trợ cấp xuất khẩu dãn đến kết quả là phí tổn cao hơn lợi ích
1.1.3.3 H ạn ngạch
Đây là sự hạn chế trực tiếp số lượng của một số hàng hoá có thể được
Trang 16Hạn ngạch có những tác động nhất định tới phúc lợi của quốc gia (xem hình 1.4) Trước hết, hạn ngạch nhập khẩu một hàng hoá luôn làm tăng giá hàng nhập khẩu đó trên thị trường nội địa Do đó, tại thị trường nội địa cung hàng hoá tăng từ s ' lên s 2 và cầu hàng hoá đó giảm từ D1 xuống D2 Lợi ích và chi phí của những nhóm khác nhau trong xã hội được thể hiện bằng diện tích các hình f, g, h, i, j.
Trong đó: Tổn thất người tiêu dùng: f+g+h+i+j
Thặng dư người sản xuất: f Thu nhập của Chính phủ: i Phí hạn ngạch: h
H ìn h 1.4: T á c đ ộ n g c ủ a h ạ n n g ạ c h n h ậ p k h ẩ u tới p h ú c lọi q u ố c g ia
G iắ
Phúc lợi quốc gia khi sử dụng hạn ngạch nhập khẩu = Thu nhập của Chính phủ + Thặng dư người sản xuất - Tổn thất người tiêu dùng - Phí hạn ngạch = (f+g+h+i+j)-f-i=g+h+j
Diện tích tam giác (g) biểu thị tổn thất do méo mó trong sản xuất và tam giác (j) biểu thị tổn thất do méo mó trong tiêu dùng còn hình chữ nhật (h) thể hiện phí hạn ngạch mà người nước ngoài thu được
1.1.3.4 H ạn c h ế xu ấ t khẩu tự nguyện (VERs)
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là mức xuất khẩu mà nước xuất khẩu tự đưa ra theo yêu cầu của nước nhập khẩu và được nước xuất khẩu chấp nhận nhằm giảm bớt lượng hàng hoá đưa vào nước nhập khẩu Hạn chế xuất khẩu tự
Trang 17nguyện có lợi thế chính trị và pháp lí nhất định nên những năm gần đây công
cụ này thường được sử dụng trong quản lí hoạt động thương mại quốc tế Tuy vậy, về phương diện kinh tế, công cụ này cũng hoàn toàn giống như hạn ngạch nhập khẩu mà trong đó giấy phép được dùng để cấp cho các Chính phủ nước ngoài
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện thường gây ra những tổn thất lớn hơn cho nước nhập khẩu so với thuế quan có tác dụng hạn chế một lượng nhập khẩu tương đương Chúng chỉ khác nhau ở chỗ khoản thu nhập của Chính phủ khi
áp dụng thuế nhập khẩu sẽ trở thành khoản thu nhập của người nước ngoài
Phúc lợi quốc gia khi sử dụng Hạn chế xuất khẩu tự nguyện = Thặng dư người sản xuất - Tổn thất người tiêu dùng - Khoản thu nhập của người nước ngoài
Thay thế các khái niệm này bằng các diện tích trong hình 1.4, phúc lợi của quốc gia khi sử dụng Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là: a-e-(a+b+c+d)=-
Đây là hình thức bảo hộ mậu dịch thông qua việc nước nhập khẩu đưa
ra các yêu cầu về tiêu chuẩn đối với hàng hoá nhập khẩu như tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn lao động, mức độ gây ô nhiễm môi trường, tỉ lệ sử dụng nguyên vật liệu trong nước, Nếu hàng hoá không thoả mãn được các tiêu chuẩn trên sẽ không được nhập khẩu vào nội địa
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, mức sống dân cư ngày càng được nâng cao thì việc đặt ra yêu cầu cao đối với các sản phẩm nói chung và các sản phẩm nhập khẩu nói riêng mang tính khách quan Tuy nhiên,
Trang 18Bên cạnh đó, một số nước còn quy định mức sử dụng vật liệu trong nước đối với sản phẩm của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm giảm bớt sức cạnh tranh sản phẩm của các doanh nghiệp này Chẳng hạn, theo quy định của NAFTA các loại xe hơi lắp ráp tại thị trường nước này phải có 62,5% phụ tùng do các xí nghiệp địa phương cung cấp thì mới được miễn thuế nhập khẩu.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hầu hết các quốc gia đều tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và thê giới thì công cụ này được sử dụng một cách tinh vi để bảo hộ một số ngành sản xuất trong nước
Ngoài các công cụ trên, các quốc gia còn sử dụng nhiều công cụ khác như kí quỹ nhập khẩu, trợ cấp tín dụng xuất khẩu, hiệp định thương mại, để quản lí hoạt động thương mại quốc tế
1 2 C á c lí t h u y ế t th ư ơ n g m ạ i q u ố c tê
1 2 1 L í t h u y ế t lợ i t h ê t u y ệ t đ ố i ( A d a m S m ith )
L í thuyết lợi thế tuyệt đối được Adam Smith đề cập trong tác phẩm
“Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của các dân tộc” (1776) Theo lí thuyết này, thương mại giữa hai quốc gia được dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối Khi một quốc gia sản xuất một hàng hoá có hiệu quả hơn so với quốc gia khác nhưng kém hiệu quả hơn trong sản xuất hàng hoá thứ hai, hai quốc gia có thể thu được lợi ích bằng cách mỗi quốc gia chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu hàng hoá mà họ có lợi thế tuyệt đối, nhập khẩu hàng hoá
mà họ không có lợi thế tuyệt đối Qua đó, các nguồn lực được sử dụng một cách có hiệu quả nhất và sản lượng hai hàng hoá này đều tăng Sự tăng lên trong sản lượng hai hàng hoá đo lường khoản lợi ích thu được từ chuyên môn hoá do sản xuất được phân bố lại giữa hai quốc gia thông qua thương mại quốc tế
Trong khi những người theo chủ nghĩa trọng thương tin tưởng một quốc gia chỉ có thể thu được thặng dư thương mại bằng các tước đoạt của cải của nước khác và ủng hộ sự quản lí chặt chẽ của Chính phủ về kinh tế và thương mại thì Adam Smith lại cho rằng một quốc gia có thể thu được thặng dư từ thương mại và ủng hộ mạnh mẽ chính sách tự do kinh doanh
Trang 19Lí thuyết Lợi thế tuyệt đối đã có những bước tiến đáng kể so với tư tưởng của chủ nghĩa trọng thương Lí thuyết này đã thấy được lợi ích của các quốc gia khi tham gia vào thương mại quốc tế đồng thời giải thích được một phần nguyên nhân hoạt động thương mại quốc tế giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển Tuy nhiên, lí thuyết lợi thế tuyệt đối chưa giải thích được hiện tượng một nước có lợi thế hơn hẳn các nước khác hoặc những nước không có lợi thế tuyệt đối nào thì thương mại quốc tế sẽ diễn ra như thế nào.
1 2 2 L í t h u y ế t lợ i t h ê so s á n h ( D a v id R i c a r d o )
Lí thuyết lợi thế so sánh do D Ricardo đưa ra trong tác phẩm “Những nguyên lí kinh tế chính trị và thuế” (1817)
Theo quy luật lợi thế so sánh, trong trường hợp một quốc gia sản xuất
cả hai hàng hoá đều kém hiệu quả hơn so với quốc gia kia thì vẫn có thể thu được lợi ích từ thương mại nếu quốc gia đó tập trung sản xuất và xuất khẩu những hàng hoá kém lợi thế ít hơn và nhập khẩu hàng hoá kém lợi thế nhiều hơn
Theo D Ricardo xuất hiện lợi ích từ thương mại quốc tế là do:
- Thương mại quốc tế mở rộng khả năng tiêu dùng của mỗi quốc gia trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm có lợi thế so sánh để xuất khẩu và nhập khẩu những hàng hoá không có lợi thế so sánh từ quốc gia khác Do đó, mọi quốc gia đều có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế
- Quốc gia có lợi thế tuyệt đối hoặc kém lợi thế tuyệt đối so với quốc gia khác trong sản xuất tất cả các sản phẩm vẫn có thể có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế Nguyên nhân là mỗi quốc gia có lợi thế so sánh về một số mặt hàng nhất định và không có lợi thế so sánh về một số mặt hàng khác
Một ngoại lệ của quy luật lợi thế so sánh là trường hợp một quốc gia có
tỉ lệ chi phí tương đối như nhau đối với cả hai hàng hoá so với quốc gia khác Chẳng hạn, tại Mỹ một giờ lao động sản xuất được 4 m vải hoặc 6 dạ lúa, mức hao phí lao động này cao gấp đôi so với mức hao phí lao động ở Trung Quốc trong sản xuất cả hai hàng hoá Khi đó, cả Mỹ và Trung Quốc đều không có
Trang 20Vì vậy, có thể thấy một quốc gia không có lợi thếtuyệt đối so với quốc gia kia trong sản xuất cả hai hàng hoá, vẫn có thể thu được thặng dư từ thương mại trừ khi bất lợi tuyệt đối có cùng một tỉ lệ trong sản xuất cả hai hàng hoá.
Ngoài ra, có những yếu tố khác cũng có thể làm thay đổi lợi thế so sánh Chẳng hạn, chi phí vận tải, hàng rào thuế quan có thể hạn chế thương mại mặc dù có lợi thế so sánh giữa hai quốc gia Vì vậy, cần giả định rằng không có các rào cản thương mại và hoạt động thương mại diễn ra tự do giữa các quốc gia
Ngoài một số ngoại lệ trên, nhìn chung các nước có thể thu được thặng
dư lừ thương mại nhờ chuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm có lợi thế so sánh để xuất khẩu và nhập khẩu những hàng hoá không có lợi thế so sánh từ quốc gia khác
H ì n h 1 5 : T h ặ n g d ư t h u đ ư ợ c t ừ th ư ơ n g m ạ iTrước khi có thương mại Sau khi có thương mại
Giả sử có hai quốc gia (quốc gia 1 và quốc gia 2), quốc gia 1 có lợi thế trong việc sản xuất hàng hoá X và quốc gia 2 có lợi thế trong việc sản xuất hàng hoá Y Trước khi có thương mại quốc tế, quốc gia 1 tiêu dùng tại A và quốc gia 2 tiêu dùng tại A Khi có thương mại quốc tế, quốc gia 1 chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá X và sản xuất tại B, quốc gia 2 chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá Y và sản xuất tại B’ Thông qua trao đổi, khả năng tiêu
Trang 21dùng của cả hai quốc gia được mở rộng, quốc gia 1 nâng mức tiêu dùng từ điểm A lên điểm E và quốc gia 2 nâng mức tiêu dùng từ điểm A lên điểm E
Lí thuyết lợi thế so sánh của D Ricardo hiện nay vẫn được xem là cách giải thích có căn cứ về lợi ích của thương mại quốc tế Tuy nhiên, các phân tích của Ricardo không tính đến cơ cấu nhu cầu tiêu dùng của mỗi quốc gia cho nên khó xác định giá tương đối mà các quốc gia sử dụng để trao đổi Đồng thời, các phân tích của Ricardo không đề cập tới chi phí vận tải, bảo hiểm hàng hoá và hàng rào bảo hộ mậu dịch ngày càng gia tăng mặc dù các yếu tố này trong nhiều trường hợp quyết định đến hiệu quả của thương mại quốc tế
Ngoài ra, lí thuyết lợi thế so sánh không giải thích được nguồn gốc phát sinh của lợi thế so sánh của một quốc gia về một loại sản phẩm nào đó so với quốc gia khác, vì vậy không giải thích triệt để nguyên nhân sâu xa của thương mại quốc tế
1.2.4 Học thuyết Heckscher - Ohlin (H - O)
Dựa trên những giả thiết khoa học, học thuyết H - o cho rằng, một quốc gia sẽ xuất khẩu hàng hoá mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều yếu tố dồi dào và có giá rẻ đồng thời nhập khẩu những hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng đòi hỏi sử dụng nhiều yếu tố khan hiếm và giá đắt tại quốc gia đó
Như vậy, học thuyết H - o giải thích nguyên nhân sâu xa tạo ra lợi thế
so sánh là sự khác nhau về mức độ dồi dào của các yếu tố giữa các quốc gia
Do đó, mô hình H - o thường được gọi là mô hình về tỉ lệ yếu tô hay lí thuyết
về mức độ dồi dào của các yếu tố Nghĩa là, mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu hàng hoá sử dụng nhiều yếu tố dồi dào tương đối và giá thấp đồng thời nhập khẩu hàng hoá sử dụng nhiều yếu tố khan hiếm và giá cao
Học thuyết H - o được minh hoạ trong hình 1.6 Trong đó, quốc gia 1
có lợi thế trong việc sản xuất hàng hoá X và quốc gia 2 có lợi thế trong việc sản xuất hàng hoá Y Việc sản xuất và tiêu dùng của hai quốc gia sẽ ra sao
Trang 22Trong hình 1.6, đường bàng quan số I chung cho cả hai quốc gia (vì giả
thiêt sở thích như nhau) tiếp xúc với đường giới hạn sản xuất của quốc gia 1
tại A và với đường giới hạn sản xuất của quốc gia 2 tại A Các điểm này xác định giá cân bằng trong nước PA tại quốc gia 1 và PA tại quốc gia 2 khi chưa
co thương mại (đô thị bên trái) Khi có thương mại, (đồ thị bên phải) quốc gia
1 sản xuất tại B, thông qua trao đổi với quốc gia 2 họ đạt điểm tiêu dùng tại E (tam giác thương mại BCE) Quốc gia 2 sản xuất tại B và tiêu dùng tại E (trùng với điểm E) Cả hai quốc gia thu dược thặng dư từ thương mại, đạt mức tiêu dùng trên đường bàng quan II cao hơn
Hình 1.6: Mỏ hình Heckscher - Ohlin - Samuelson
Trước khi có thương mại quốc tế Sau khi có thương mại quốc tế
1.2.5 Lí thuyêt khoảng cách công nghệ và vòng đòi sản phẩm
Sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ giữa các quốc gia là nhân tố tác động to lớn đến thương mại quốc tế Tác động này có thể được phân tích qua
mô hình khoảng cách công nghệ và vòng đời sản phẩm Do yếu tố thời gian dược xem xét đến nên mô hình được coi là sự mở rộng của mô hình H - o xem xét cơ chế xuất hiện lợi thế so sánh trong trạng thái tĩnh
Theo mô hình khoảng cách công nghệ Posner đưa ra năm 1961, thương mại giữa các nước công nghiệp dược dựa trên cơ sở sự phổ biến sản phẩm và công nghệ sản xuất mới Điều này giúp doanh nghiệp và quốc gia tạo sự độc quyền trong một khoảng thời gian trên thị trường thế giới Sự độc quyền này
Trang 23dựa trên quyền sở hữu công nghiệp và bản quyền tác giả đã thúc đẩy dòng di chuyển của các phát minh sáng chế.
Việc mở rộng mô hình khoảng cách công nghệ là mô hình vòng đời sản phẩm, mô hình này được Vernon phát triển năm 1966 Theo mô hình này, khi một sản phẩm mới ra đời, nó thường đòi hỏi sử dụng lao động c ó kỹ năng cao
để sản xuất Khi sản phẩm sang giai đoạn tăng trưởng và được thị trường chấp nhận rộng rãi, chúng được tiêu chuẩn hoá Do đó để sản xuất hàng hoá này có thể phải sử dụng ít máy móc thiết bị và nhiều lao động giản đơn Vì vậy, lợi thế trong sản xuất hàng hoá này được chuyển dần từ nước phát triển - nơi áp dụng phát minh sáng chế sang các nước kém phát triển hơn - nơi có chi phí tiền công thấp hơn
Như vậy, mô hình khoảng cách công nghệ đề cập đến sự tụt hậu về mặt thời gian để phổ biến các sản phẩm còn mô hình vòng đời sản phẩm nhấn mạnh đến quá trình tiêu chuẩn hoá Theo mô hình này, hầu hết các nước công nghiệp phát triển thường xuất khẩu các sản phẩm chưa được tiêu chuẩn hoá sử dụng các công nghệ tiến tiến và nhập khẩu những sản phẩm đã được tiêu chuẩn hoá sử dụng các công nghệ kém tiên tiến, lạc hậu
Mô hình vòng đời sản phẩm có thể được mô tả qua 5 giai đoạn vận động của sản phẩm liên quan đến 2 nhóm nước là nhóm nước áp dụng phát minh và nhóm các nước khác (Xem hình 1.7)
Sản lượng Hình 1.7: Chu kỳ sống của sản phẩm
Trang 24Trong giai đoạn I (OA) sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ tại nước áp dụng phát minh sáng chế và các nước này thường là các nước phát triển Trong giai đoạn II (AB) sản phẩm được hoàn thiện tại nước áp dụng phát minh, nhu cầu trong và ngoài nước về sản phẩm này gia tăng nhanh chóng Trong giai đoạn III (BC) sản xuất được tiêu chuẩn hoá và các nước khác thường là nước đang phát triển bắt đầu bắt chước để sản xuất các sản phẩm này phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước Trong giai đoạn IV (CD) các nước đang phát triển
áp dụng phát minh, phát triển sản xuất nhanh hơn và chiếm lĩnh thị trường của các nước phát triển Trong giai đoạn V (sau điểm D) các sản phẩm lại chủ yếu được sản xuất ở các nước đang phát triển
1.3 Những đặc trưng của thương mại biên giới
Thương mại biên giới là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia có chung đường biên giới thông qua các cửa khẩu, lấy tiền tệ làm môi giới và tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá
Thương mại biên giới là một bộ phận của quan hệ thương mại quốc tế nói riêng và của kinh tế quốc tế nói chung Đây là loại hình thương mại quốc
tế đặc biệt, có sự đan xen giữa các hoạt động ngoại thương và nội thương
Trước hết, thương mại biên giới là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch
vụ giữa hai quốc gia có chung đường biên giới thông qua các cửa khẩu, chợ biên giới, đường mòn
Thương mại biên giới là hình thức thương mại đơn giản có tính linh hoạt cao, không đòi hỏi nhiều kĩ thuật thương mại phức tạp, các thủ tục hành chính
có thể giải quyết ở cấp độ địa phương,
Các hoạt động ban đầu của thương mại biên giới là trao đổi hàng hoá của dân cư biên giới hai nước Sau đó, các hoạt động trao đổi được mở rộng cả
về đối tượng và phạm vi, thu hút nhiều thành phần, nhiều ngành kinh tế trong nước tham gia và dần được thể chế hoá bằng pháp luật Cùng với sự phát triển của thương mại biên giới các phương thức trao đổi qua biên giới ngày càng đa dạng như mậu dịch chính ngạch (quốc mậu), mậu dịch tiểu ngạch (biên mậu), tạm nhập tái xuất,
Trang 25Cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu qua biên giới thường rất phong phú, đa dạng với chất lượng sản phẩm khác nhau Có sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, quốc gia, địa phương và cả những sản phẩm chưa được đánh giá về phẩm cấp nhất là các loại hàng hoá xuất nhập khẩu theo phương thức mậu dịch tiểu ngạch (biên mậu) vốn không đòi hỏi quá nghiêm ngặt trong khâu kiểm định chất lượng mà chỉ cần được người mua ở thị trường bên kia chấp nhận.
Chủ thể tham gia thương mại biên giới đông đảo về số lượng và khác nhau về trình độ Ngoài một số đơn vị kinh tế buôn bán theo phương thức chính ngạch (quốc mậu), tiểu ngạch (biên mậu) có trình độ ngoại thương, còn lại là những đơn vị kinh tế, cá nhân buôn bán tiểu ngạch (biên mậu) hoặc dân gian có trình độ ngoại thương nghiệp vụ giao dịch nhìn chung là thấp, ở khía cạnh này, hoạt động thương mại qua biên giới không khác nhiều so với hoạt động thương mại trong nội địa bởi vì bất cứ doanh nghiệp, cá nhân nào có vốn, tìm được thị trường đều có thể tham gia hoạt động này
Phương thức thanh toán của hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới hết sức linh hoạt dưới các hình thức khác nhau như thanh toán qua ngân hàng, hàng đổi hàng, thanh toán trực tiếp bằng đồng tiền tự do chuyển đổi, bằng đồng bản tệ của nước tham gia buôn bán hoặc bằng đồng tiền của nước thứ ba
Thương mại biên giới là hình thức buôn bán với các nước láng giềng qua biên giới theo những thỏa thuận riêng (thỏa thuận của Chính phủ, chính quyền cấp tỉnh, huyện, nhiều khi là thỏa thuận của các cá nhân với nhau )
Hoạt động thương mại biên giới có các tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực cửa khẩu và địa phương biên giới có cửa khẩu Vì vậy, chiến lược phát triển thương mại biên giới không tách rời chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương vùng biên giới
Thương mại biên giới phụ thuộc chặt chẽ vào sự ổn định chính trị, an ninh biên giới giữa các quốc gia có đường biên giới chung Do đó, một biến động nhỏ về chính trị giữa hai nước có thể dẫn đến những biến động lớn trong
Trang 26quan thương mại biên giới nói riêng và trong quan hệ kinh tế hai nước nói
chung
Thương mại quốc tế luôn lấy thị trường trong nước làm cơ sở để tồn tại
và thương mại biên giới cũng như vậy, điểm khác nhau ở đây là trình độ sản
xuất, trình độ tổ chức và chất lượng sản phẩm Thương mại biên giới thường
có hệ thống cơ sở sản xuất trong nội địa riêng, có thị trường riêng và hoạt
động theo những phương thức riêng Vì vậy, thương mại biên giới đòi hỏi một
hệ thống quan điểm, chiến lược, chính sách và các quy định có tính đặc thù
nhằm khai thác những lợi thế của hoạt động này để phát triển kinh tế - xã hội
ở khu vực biên giới và cả nước
1.4 Kinh nghiệm phát triển quan hệ thương mại biên giới của một
số nước
1.4.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Chủ trương phát triển thương mại biên giới được Chính phủ Thái Lan
coi trọng, nhờ đó quốc gia này đã khai thác được nhiều lợi thế trong trao đổi
kinh tế -th ư ơ n g mại qua các cửa khẩu biên giới Thông qua việc khai thác lợi
thế thương mại qua các cửa khẩu biên giới, hàng hoá của Thái Lan đã thâm
nhập rất mạnh sang các nước láng giềng
Thái Lan tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển hàng qua biên giới
bằng việc đơn giản hoá thủ tục hải quan, xây dựng các cửa hàng miễn thuế tại
khu vực cửa khẩu do đó, đã thu hút một số lượng đông đảo khách hàng ở bên
kia biên giới Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan còn chú trọng khai thác có
hiệu quả các phương thức giao dịch thương mại quốc tế phù hợp với trình độ
phát triển kinh tế của đất nước
Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan còn tiến hành nhiều thỏa thuận ở cấp
quốc gia theo hướng khai thác tốt hơn những đặc điểm kinh tế - xã hội của
khu kinh tế cửa khẩu, tìm kiếm các mô hình kinh tế linh hoạt với cơ chế chính
sách “thông thoáng” để đẩy mạnh trao đổi hàng hoá qua biên giới gắn với việc
phát triển các loại hình dịch vụ du lịch, các hình thức hội chợ, Đây là cơ sở
Trang 27ệ
để hình thành một số vùng kinh tế cửa khẩu có tốc độ phát triển cao kèm theo
động lực thúc đẩy các vùng khác cùng phát triển
1.4.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một đất nước có đường biên giới trên bộ tiếp giáp với 12
nước với chiều dài đường biên giới trên bộ là 2,2 vạn km Chính phủ Trung
Quốc coi trọng việc phát triển thương mại biên giới
Để phát triển thương mại biên giới, Luật mậu dịch và đối ngoại của
Trung Quốc đã tạo cơ sở pháp lí cho việc đẩy mạnh sự ra đời các hình thức tổ
chức quan hệ kinh tế -th ư ơ n g mại biên giới Đồng thời, Trung Quốc luôn thể
hiện tư tưởng nhất quán về vấn đề này thông qua các chính sách “Duyên biên
khai phóng”, “Thắp sáng đường biên” với nội dung là “ muốn phát huy đầy
đủ những ưu thế của vị trí địa lí, nguồn tài nguyên phong phú và con người
của các khu, tỉnh giáp biên giới, lấy những thành thị có các hoạt động công
nghiệp nội địa phát triển làm chỗ dựa, lấy sự phát triển mậu dịch biên cương
làm khởi điểm, tận dụng triệt để nhiều hình thức mậu dịch kinh tế đối ngoại,
cải thiện cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy giao lưu hai
chiều, về cơ bản đã cải biến tình trạng nghèo nàn, lạc hậu của khu vực này
Mở cửa vùng biên giới sẽ phá bỏ tình trạng kinh tế đóng của các tỉnh giáp biên
giới, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế của các khu vực biên giới và các vùng phụ
cận”
Để đạt được mục tiêu đặt ra trên đây đối với hoạt động thương mại biên
giới, các cửa khẩu biên giới trên bộ của Trung Quốc được khuyến khích phát
triển mạnh các quan hệ kinh tế -th ư ơ n g mại, lấy đa dạng hoá thương mại làm
khởi điểm để tích luỹ phát triển hạ tầng đô thị biên giới Đồng thời, Trung
Quốc còn chủ trương xây dựng và mở rộng phạm vi hoạt động của một số xí
nghiệp công nghiệp địa phương một cách năng động, linh hoạt hướng mạnh về
lắp ráp, sơ chế, bảo quản sản phẩm cũng như tạo ra nhiều chủng loại hàng hoá
phù hợp với nhu cầu trao đổi hàng hoá qua biên giới
Với chính sách này, Trung Quốc đã thực hiện tương đối thành công việc
phát triển thương mại biên giới, ở các tỉnh, thành phố biên giới nơi có cửa
khẩu và chợ đường biên, chợ, đường mòn biên giới với các nước láng giềng,
Trang 28hàng hoá do những xí nghiệp địa phương của Trung Quốc đã xâm nhập mạnh
mẽ sang các nước với giá rẻ, cạnh tranh gay gắt với hàng hoá nội địa của các quốc gia này, trong nhiều trường hợp đã áp đảo, chiếm lĩnh thị trường, gây đình đốn sản xuất Mặt khác, Trung Quốc cũng đã nhập khẩu nhiều hàng hoá, nguyên liệu phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế trong nước
Những thành công trong việc đẩy mạnh trao đổi hàng hoá qua biên giới góp phần làm tăng trưởng nhanh chóng kinh tế - xã hội ở những địa phương
có đường biên giới chung với các nước láng giềng, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu lao động, nhiều văn phòng, xí nghiệp biên mậu được hình thành, xu hướng đô thị hoá được đẩy nhanh
Qua thực tế phát triển thương mại biên giới ở Trung Quốc có thể thấy, với các chính sách ưu đãi hợp lí, Trung Quốc đã biến những vùng lạc hậu trở thành phát triển Không những thế một số vùng biên giới đã trở thành những vùng động lực tăng trưởng, có mức tăng bình quân cao hơn so với mức tăng trưởng kinh tế trung bình của cả nước, tạo thêm nguồn hàng cung cấp cho nội địa và xuất khẩu
1.4.3 Kinh nghiệm của các nước Bắc Mỹ và Châu Âu
Hình thức thương mại biên giới cũng được một số nước ở Bắc Mỹ và Châu Âu sử dụng thành công
ở Bắc Mỹ, lợi dụng những điểm khác biệt về chính sách thuế giữa Mỹ
và Canada, Mỹ đã chủ động mở nhiều điểm bán hàng giữa biên giới hai nước, khai thác những điểm hạn chế về thuế quan để thu lợi Hơn nữa, trong quan hệ hai nước, Mỹ và Canada đã phối hợp xây dựng hàng loạt các xí nghiệp gia công, chế biến theo hình thức liên doanh trên tuyến biên giới Mêhicô và Mỹ cũng sử dụng cách thức này thông qua việc xây dựng thị trường tự do ở khu vực biên giới chung giữa hai nước với những điều kiện uu đãi nhất định Việc làm này đã tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại qua các cửa khẩu biên giới
Đối với các nước Châu Âu, trên cơ sở những chính sách chung của Cộng đồng chung châu Âu (nay là Liên minh châu Âu), nhiều quốc gia đã xây dựng những chính sách nhằm phối hợp chặt chẽ hơn về kinh tế và thương mại
Trang 29qua các cửa khẩu biên giới Pháp là một nước có nền kinh tế phát triển cao ở châu Âu cũng chủ trương khai thác những thế mạnh trên các tuyến biên giới trong trao đổi kinh tế - thương mại Chính phủ Pháp đã cho xây dựng nhiều khu kinh tế mở ở biên giới phía đông, biến khu vực này trỏ' thành trung tâm kinh tế phát triển Tương tự như một số nước ở châu Âu và Bắc Mỹ, Cộng hoà liên bang Nga cũng rất thành công trong phát triển thương mại biên giới với Trung Quốc Chính phủ Nga tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, thủ tục hải quan để các tổ chức và cá nhân có thể tham gia trao đổi tại các chợ biên giới với Trung Quốc một cách dễ dàng Thông qua hoạt dọng này, Nga xuất khẩu các loại phân bón, máy nông nghiệp, sang Trung Quốc và nhập khẩu lao động từ nước này.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Thương mại quốc tế là một nội dung quan trọng trong các quan hệ kinh
tế quốc tế Hoạt động này được tiến hành bằng nhiều phương thức khác nhau
và chịu sự quản lí của Nhà nước thông qua các công cụ như thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu, Các lí thuyết về thương mại quốc tế đưa ra cách giải thích khác nhau về thương mại quốc tế và là chỗ dựa cho việc hoạch định các chính sách thương mại giữa các quốc gia Hình thức đặc thù của thương mại quốc tế là thương mại biên giới Tính đặc thù cua hình thức này thể hiện qua các đặc điểm như chủ thể tham gia thương mại biên giới đông đảo về số lượng, đa dạng về trình độ; cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu qua biên giới có chủng loại phong phú và chất lượng sản phẩm khác nhau Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thương mại biên giới của một số nước cho thấy, việc mở cửa
và phát triển thương mại biên giới với các nước láng giềng với các chủ trương
và biện pháp đúng đắn sẽ có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh biên giới nói riêng và quốc gia nói chung
Trang 302.1.1 Chính sách thương mại biên giới
Trung Quốc là một quốc gia có diện tích rộng lớn và có chung đường biên giới trên bộ với nhiều nước Hầu hết các địa phương biên giới trên bộ của Trung Quốc đều là vùng rừng núi, sa mạc, nằm xa các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, trình độ phát triển thấp và trong một thời gian dài ít được Nhà nước đầu tư phát triển Sau khi thực hiện chính sách mở cửa từ năm 1978, chính phủ Trung Quốc đã ưu tiên phát triển kinh tế các vùng biên giới nhằm khai thác lợi thế so sánh của các vùng này với các nước láng giềng Mục tiêu của Trung Quốc là biến biên giới “cứng” thành biên giới “mềm”, bằng cách thi hành chính sách biên mậu để đưa hàng hoá Trung Quốc thâm nhập vào thị trường các nước láng giềng trong đó có Việt Nam
Chính sách ưu tiên mà chính phủ Trung Quốc dành cho các địa phương biên giới thể hiện:
1/ Cho phép chính quyền các địa phương biên giới được quyền cấp giấy phép hoạt động cho các dự án hợp tác, lao vụ, gia công biên mậu trong phạm
vi lãnh thổ quản lí Các địa phương còn được phân quyền phê duyệt các dự án gia công nguyên liệu nhập khẩu và được quyền miễn giảm thuế cho các đối tượng sản xuất kinh doanh, kể cả việc giảm thuế xuất nhập khẩu biên mậu
2/ Thực hiện chính sách thuế ưu đãi cho các loại dự án khác nhau Đối với các dự án đầu tư vào lĩnh vực ngoại thương nhà đầu tư được miễn thuế 2 năm đầu và giảm 50% trong 3 năm tiếp theo Các xí nghiệp ở vùng biên giới được giảm 24% so với mức thuế chung trong nội địa Trong trường hợp bị lỗ cho phép doanh nghiệp lấy lãi năm sau bù vào khoản lỗ năm trước và chỉ tính thuế cho khoản lãi còn lại
Trang 313/ Cho phép các địa phương vùng biên giới được phép lập các khu hợp tác biên mậu và xây dựng các xí nghiệp gia công xuất khẩu Mức giá thuê đất tại các khu kinh tế vùng biên giảm 20% đến 30%; thời hạn cho thuê 70 năm
để đầu tư xây dựng nhà ở, 60 năm cho xây dựng công sở, 50 năm cho xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh
4/ Các xí nghiệp trong khu hợp tác kinh tế biên mậu chủ yếu sản xuất hàng xuất khẩu thì tuỳ theo tỉ lệ hàng hoá xuất khẩu mà được hưởng những ưu đãi tương ứng về thuế
5/ Hàng năm ngân sách nhà nước Trung ương cấp một khoản tiền thích hợp để xây dựng và nâng cấp các cửa khẩu Ngoài ra, các địa phương còn được sử dụng khoản tiền thu lệ phí từ hoạt động vận chuyển hàng hoá qua biên giới vào xây dựng, tu bổ cơ sở hạ tầng ở vùng biên giới
Hoạt động thương mại quốc tế ở Trung Quốc được chia làm 2 loại: mậu dịch quốc gia (quốc mậu) và mậu dịch biên giới (biên mậu)
Ở cấp quốc gia quốc mậu đóng vai trò chủ đạo và phương thức biên mậu đóng vai trò bổ sung, ơ cấp tỉnh, huyện, thị xã biên giới biên mậu được coi trọng thậm chí hơn cả quốc mậu do các khoản lợi ích lớn địa phương thu được từ biên mậu mà trong nhiều trường hợp quốc mậu không tạo ra được Một chủ trương thể hiện quan điểm của các tỉnh biên giới Trung Quốc đối với biên mậu là: “Mở cổng thành ra, điều động mọi thực lực kinh tế trong nước tham gia biên mậu”
Hiện nay, chính phủ Trung Quốc chủ trương phát triển mạnh hoạt động biên mậu nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, cải thiện đời sống của nhân dân vùng biên giới, góp phần phát triển các hoạt động kinh tế của khu vực biên giới vốn nghèo nàn và lạc hậu Các hoạt động biên mậu ở Trung Quốc được chia thành 3 loại:
1/ Các hoạt động trao đổi hàng hoá của dân cư vùng biên giới có giá trị dưới 1000 nhân dân tệ và chúng được miễn thuế hoàn toàn
2/ Các hoạt động buôn bán ở quy mô huyện, thị xã ven biên giới
Trang 323/ Hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới của các công ty biên mậu cấp tỉnh, thành phố với quy mô lớn bao gồm cả các hoạt động hợp tác kinh tế
- kỹ thuật và đầu tư
Như vậy, tham gia vào hoạt động thương mại biên giới theo phương thức biên mậu không phải chỉ là cư dân biên giới với khối lượng hàng hoá nhỏ
mà Trung Quốc còn huy động, khuyến khích các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp lớn, nhỏ của nhà nước và tư nhân tham gia với quy mô và khối lượng hàng hoá không hạn chế Không chỉ các huyện, thị xã biên giới mà cả các thành phố nằm sâu trong nội địa của các tỉnh biên giới cũng thành lập các tổng công ty, công ty biên mậu Nhà nước để tham gia xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới theo phương thức biên mậu Điều đó cho thấy, mặc dù quốc mậu là phương thức đóng vai trò chủ đạo và biên mậu là phương thức đóng vai trò bổ sung song việc đẩy mạnh hoạt động biên mậu là một chính sách lớn trong chiến lược mở cửa vùng biên giới của Trung Quốc
2.1.2 Bộ máy quản lí thương mại biên giói
Bộ kinh tế mậu dịch Trung Quốc tiến hành quản lí hoạt động thương mại quốc tế trên phạm vi cả nước Ở các tỉnh biên giới có 2 hệ thống song song cùng quản lí, đó là Uỷ ban mậu dịch kinh tế đối ngoại quản lí hoạt động xuất nhập khẩu quốc mậu và Cục quản lí mậu dịch biên giới (gọi tắt là Cục biên mậu) quản lí hoạt động xuất nhập khẩu biên mậu (Xem hình 2.1)
Hộ thống quản lí thương mại biên giới của Trung Quốc có những đặc điểm đặc thù Tại các cửa khẩu địa phương lực lượng quản lí gồm có cán bộ Cục biên mậu, cơ quan thuế, cơ quan hải quan, bộ đội biên phòng, cơ quan kiểm dịch trong đó Cục biên mậu đóng vai trò quan trọng nhất, ở đây, các khoản tiền thuế được thu tập trung sau đó được phân chia theo tỉ lệ quy định cho các lực lượng tham gia quản lí hoạt động XNK biên mậu Riêng các cửa khâu chính chỉ có 3 lực lượng quản lí là cơ quan hải quan, bộ đội biên phòng
và cơ quan kiểm dịch Tại các cửa khẩu này lực lượng hải quan tiến hành thu thuế theo biểu thuế quốc mậu Các khoản thuế biên mậu thu được để lại cho ngân sách địa phương còn các khoản thuế quốc mậu được nộp vào ngân sách Trung ương
Trang 33Hình 2.1: Hệ thống quản lí thương mại biên giới của Trung Quốc
N g u ồ n : T ổ n g c ụ c Hả i q u a n T r u n g Q u ố c
Thuế xuất nhập khẩu hàng hoá theo đường biên mậu thấp hơn quốc mậu bởi vì phía Trung Quốc quy định biểu thuê biên mậu (bao gồm thuê suất và giá tính thuế) do Cục thuế các tỉnh biên giới quy định nhưng việc định biểu thuế biên mậu phải dựa vào biểu thuế quốc mậu và theo nguyên tắc mức thuế biên mậu thấp hơn mức thuế quốc mậu Hơn nữa, các huyện, thị xã biên giới được quyền tự quy định biểu thuế biên mậu căn cứ vào biểu thuế biên mậu do cấp tỉnh công bố và cũng theo nguyên tắc mức thuế biên mậu cấp huyện, thị
xã phải thấp hơn mức thuế biên mậu cấp tỉnh
Trang 34xuất nhập khẩu hàng hoá theo đường quốc mậu Vì thuế biên mậu do các tỉnh, huyện, thị xã biên giới quy định cho nên mỗi địa phương biên giới Trung Quốc lại quy định mức thu thuế biên mậu khác nhau và mức thuế đó được thay đổi linh hoạt theo từng thời kỳ Do vậy, trên thực tê hàng hoá xuất nhập khẩu thường “bị hút” về những cửa khẩu nào có mức thuê biên mậu thấp và việc quản lí hoạt động xuất nhập khẩu thiếu chặt chẽ.
Sự “nới lỏng” và việc gia tăng mức độ linh hoạt trong quản lí thuế biên mậu là một trong những nguyên nhân làm cho hàng hoá tiêu dùng của Trung Quốc “tràn ngập” lãnh thổ một số nước láng giềng, trong đó có Việt Nam và nguyên liệu thô của các nước này lại được “hút” trở lại Trung Quốc
Hàng hoá của các đơn vị, tổ chức kinh tế ngoài các tỉnh biên giới Trung Quốc cũng có thể được xuất nhập khẩu qua biên giới theo đường biên mậu nhưng phải được Cục biên mậu địa phương biên giới cho phép hoặc phải thông qua các công ty được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu biên mậu của các tỉnh biên giới thực hiện và phải nộp một tỉ lệ phí nhất định cho địa phương
Có thể nói phía Trung Quốc đã chuẩn bị khá công phu cho việc mở cửa biên giới trên bộ Thứ nhất, Trung Quốc có hệ thống lí luận tương đối hoàn chỉnh về phát triển kinh tế các vùng biên giới trong đó có vùng Tây Nam nằm sát với Việt Nam Thứ hai, mục tiêu mở cửa biên giới trên bộ đối với Trung ương và địa phương được xác định rõ ràng, phương châm và phương pháp thực hiện được đưa ra phù hợp Thứ ba, các tổ chức chính quyền địa phương biên giới được trao quyền chủ động trong phát triển kinh tế địa phương Thứ tư, về
tổ chức quản lí, phía Trung Quốc đã tách quản lí biên mậu với quốc mậu ở những tỉnh có đường biên giới trên bộ với hệ thống quản lí biên mậu được xây dựng khá hoàn chỉnh từ cấp tỉnh xuống huyện, thị xã có cửa khẩu
Bên cạnh sự chuẩn bị chu đáo về lí luận Trung Quốc còn chuẩn bị khá đầy đủ về cơ sở hạ tầng để hỗ trợ cho việc phát triển thương mại biên giới nên trong quan hệ thương mại với các nước láng giềng Trung Quốc luôn giành thế chủ động
Trang 35Quan hệ thương mại biên giới Việt - Trung hình thành từ lâu đời nhưng trong quá trình phát triển có nhiều bước thăng trầm chủ yếu do những biến động trong quan hệ chính trị giữa hai nước.
Sau sự kiện người Hoa tháng 5/1978 đã làm phức tạp mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc và do đó quan hệ thương mại biên giới giữa hai nước tạm thời bị gián đoạn
Vào cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỉ 20 tình hình thế giới và khu vực có những thay đổi sâu sắc đã tác động tới quan hệ trên mọi lĩnh vực của hai nước Sự sụp đổ của Liên Xô (cũ) năm 1991 đã đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ chiến tranh lạnh Từ đây một thời kỳ mới hoà bình và phát triển đã trở thành trào lưu chính của thời đại thay thế cho những xung đột về chính trị và hệ tư tưởng Đặc biệt, nền kinh tế thế giới vận động theo những xu hướng mới dẫn đến việc mở rộng giao lưu kinh tế trở thành đòi hỏi bên trong của công cuộc xây dựng kinh tế ở mỗi nước Những xu hướng đó là:
- Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã tạo ra những đột biến trong tăng trưởng kinh tế, đồng thời làm biến đổi sâu sắc cơ cấu của nền kinh tế mỗi quốc gia Điều đó đặt ra những cách thức mới trong phát triển kinh tế cho mỗi quốc gia và đưa đến quan niệm mới về nguồn lực phát triển
- Quá trình toàn hoá kinh tế đang diễn ra với tốc độ ngày càng cao làm cho nền kinh tế thế giới hình thành một chỉnh thể thống nhất trong đó mỗi quốc gia là một bộ phận và giữa chúng có sự phụ thuộc lẫn nhau Quá trình toàn cầu hoá diễn ra ở những cấp độ khác nhau trên tất cả các lĩnh vực tổ chức sản xuất, khoa học công nghệ, giáo dục - đào tạo, văn hoá thể thao, Điều đó dẫn đến tính tất yếu phải “mở cửa” nền kinh tế mỗi quốc gia ra thị trường thế giới và các quốc gia phải tham gia tích cực vào phân công lao động quốc tế, coi thị trường thế giới vừa là nơi cung cấp các yếu tố “đầu vào” và là nơi tiêu thụ các sản phẩm “đầu ra” cho nền kinh tế mỗi nước Đây chính là cơ sở
2.2 Quá trình phát triển quan hệ thương mại biên giới Việt Trung
Trang 36-khách quan cho việc hình thành chính sách mở cửa hay chính sách công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu mà nhiều quốc gia đã áp dụng.
- Trong nền kinh tế thế giới xuất hiện nhiều trung tâm kinh tế và liên kết kinh tế mới, xu hướng vừa đấu tranh vừa hợp tác đang thay thế cho xu hướng đối đầu và biệt lập, việc xuất hiện các vấn đề mang tính chất toàn cầu càng tăng cường vai trò của các tổ chức kinh tế quốc tế Vì vậy, trong việc phát triển quan hệ nhiều mặt giữa các quốc gia và khu vực, các quốc gia vừa phải chủ động tham gia và khai thác các mặt tích cực, vừa phải biết đấu tranh khắc phục các mặt tiêu cực của quá trình này
- Sự xuất hiện của vòng cung châu Á - Thái Bình Dương với các quốc gia có nền kinh tế phát triển với tốc độ cao liên tục qua nhiều năm đang làm cho trung tâm của nền kinh tế thế giới chuyển dịch dần về khu vực này Điều
đó tạo ra những cơ hội mới đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới cho các quốc gia tồn tại trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam
Trong bối cảnh chung của tình hình quốc tế và khu vực, mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có những thay đổi đáng kể v ề phía Việt Nam, một trong những thay đổi quan trọng là sự đổi mới tư duy trong quan hệ ngoại giao, thể hiện trong lập trường trước sau như một là làm hết sức mình để bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc Điều này được ghi rõ trong Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam: “Trên tinh thần bình đẳng, bảo đảm độc lập chủ quyền và tôn trọng lẫn nhau, Việt Nam sẵn sàng đàm phán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ Việt Nam
và Trung Quốc, bình thường hoá quan hệ và khôi phục tình hữu nghị giữa hai nước vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới”
Về phía Trung Quốc, trước bối cảnh của tình hình quốc tế và khu vực cũng như đòi hỏi bên trong của công cuộc cải cách - mở cửa, trước những việc làm đầy thiện chí của phía Việt Nam, Trung Quốc dần thể hiện thiện chí của
Trang 37mình Trung Quốc đã chấp nhận đàm phán với Việt Nam nhằm giải quyết một
số vấn đề còn tồn tại để tiến tới bình thường hoá quan hệ hai nước
Nhờ thiện chí của hai bên, việc bình thường hoá quan hệ giữa hai nước
đã diễn ra (5/11/1991) và tiến tới thống nhất với nhau trên một số mặt v ề
kinh tế, hai bên nhất trí “thúc đẩy sự hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực
kinh tế, thương mại, theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi”
Từ khi bình thường hoá quan hệ đến nay, Chính phủ Việt Nam và Trung
Quốc đã kí kết hơn 20 hiệp định về kinh tế hoặc có liên quan đến kinh tế đặc
biệt là Hiệp định về mua bán hàng hoá ở vùng biên giới (10/1998) tạo điều
kiện cho buôn bán qua biên giới hai nước phát triển
Nhờ nỗ lực của cả hai bên, đến nay trên toàn tuyến biên giới phía Bắc
Việt Nam đã có 25 cặp cửa khẩu được mở bao gồm 5 cặp cửa khẩu quốc tế, 4
cặp cửa khẩu quốc gia cùng với 13 chợ biên giới và 59 đường mòn Điều đáng
chú ý là trong số 25 cặp cửa khẩu được mở hiện nay chỉ có 18 cặp cửa khẩu
được mở theo quy định của hiệp định còn lại 7 cặp cửa khẩu khác được mở
ngoài hiệp định bao gồm Đàm Thuỷ (Cao Bằng), Bản Vược (Lào Cai), Thượng
Phùng (Hà Giang), Ka Long và Bắc Phong Sinh (Quảng Ninh), Tân Thanh và
Cốc Nam (Lạng Sơn)
Những hiệp định và văn bản được kí kết cùng với các cặp cửa khẩu được
khai thông trên biên giới Việt — Trung đã tạo ra cơ sở pháp lí và điều kiện
thuận lợi cho các ngành và các địa phương biên giới của hai nước phát triển
quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại, mở ra một thời kỳ mới cho quan hệ
thương mại biên giới Việt - Trung sau những năm tạm thời gián đoạn
2.3 Thực trạng quan hệ thương mại biên giới Việt - Trung giai đoạn từ năm 1991 đến nay
2.3.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu biên giới Việt - Trung
Cùng với sự tăng trưởng không ngừng của kim ngạch xuất nhập khẩu
Việt - Trung, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá biên giới Việt - Trung
Trang 38Bảng 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu biên giới Việt - Trung của Việt Nam giai đoạnl991 — 2002 theo giá năm 1994
Đơn vị: Triệu USD
1991, mức tăng năm 1992 là 326,5% và đến năm 1993 tăng 88,9% so với năm
1992 Tuy nhiên vào những năm tiếp theo, mức tăng trưởng có chậm lại Mức
Trang 39tăng trưởng năm 1996 là 0,7%, năm 1997 là 16,5% nhưng đến năm 1998 tốc
độ tăng chỉ còn 0,5% Sở dĩ có tình trạng trên là do một số nguyên nhân:
Thứ nhất, vào đầu những năm 90s, hàng hoá trao đổi qua biên giới hai nước chủ yếu là hàng tiêu dùng và nguyên vật liệu để bù đắp những chỗ
“thiếu” trong sản xuất và tiêu dùng của mỗi nước Do đó, tốc độ tăng trưởng kim ngạch thương mại biên giới của Việt Nam thời kỳ này rất cao sau đó nhu cầu về những hàng hoá đó dần bão hoà cho nên tốc độ tăng trưởng kim ngạch thương mại biên giới những năm tiếp theo giảm nhiều so với những năm đầu
mở cửa biên giới
Thứ hai, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu Á có ảnh hưởng nhất định đến kim ngạch thương mại biên giới hai nước
Thứ ba, cơ cấu hàng hoá trao đổi giữa hai nước về cơ bản chưa có thay đổi Hàng hoá Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc vẫn chủ yếu là sản phẩm thô chưa qua chế biến nên giá trị trao đổi thấp
Ngoài ra, để chống buôn lậu Việt Nam thực hiện dán tem một số mặt hàng được nhập từ Trung Quốc nên phía Trung Quốc cũng có phản ứng như việc tạm dừng cấp hạn nhập khẩu cao su tiểu ngạch Điều này làm cho hoạt động xuất nhập khẩu biên giới bị suy giảm so với giai đoạn trước
Hình 2.2: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt - Trung của Việt Nam
theo giá năm 1994
Đơn vị: Triệu USD
2030.5 1269.7
1998 1999 2000 2001 2002
ị—♦—Kim ngạch XNK biên giói V- T —H—Kim ngạch XNK V - T
Trang 40Số liệu ở hình 2.2 cũng cho thấy vai trò của xuất nhập khẩu biên giới Việt - Trung trong sự tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt - Trung Năm 1998, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới Việt - Trung là1.061,22 triệu USD trong khi tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với Trung Quốc là 1.597,59 triệu USD (chiếm 66,4%) Đến năm 2002 con số tương ứng là 1.269,7 triệu USD và 2.030,5 triệu USD (chiếm 62,5%) Như vậy
có thể nói hoạt động xuất nhập khẩu biên giới Việt - Trung đã góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt - Trung của Việt Nam Đồng thời, sự tăng trưởng của kim ngạch xuất nhập khẩu Việt - Trung lại tạo nên sự chuyển dịch căn bản trong cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam Thị trường Trung Quốc từ vị trí thứ sáu năm 1997 đã vươn lên trở thành bạn hàng có kim ngạch thương mại hai chiều lớn thứ hai (chiếm 10,2% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu) của Việt Nam năm 2002 (Xem hình 2.3)
Hình 2.3: Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam