Thông qua phân tích hiện trạng môi trường tại các điểm công nghiệp tập trung và phân tích các tác động môi trường của KCN Mai Sơn và CCN Bó Bun – Mộc Châu để chỉ ra các vấn đề môi trường
Vai trò của KCN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Các vấn đề chung về KCN
1.1.1.1 Khái niệm và phân loại KCN, CCN a Khái niệm và phân loại KCN
Khái niệm KCN Ở mỗi quốc gia với các điều kiện phát triển cụ thể khác nhau đã hình thành nên các mô hình KCN khác nhau với các cách định nghĩa KCN khác nhau Tại Việt Nam, KCN được định nghĩa: “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định” 3
Từ định nghĩa về KCN cho phép rút ra một số kết luận như sau:
KCN là một khu vực lãnh thổ hữu hạn được phân cách bằng đường bao hữu hình hoặc vô hình;
Phân bố tập trung với hạt nhân là các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và hệ thống doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp dịch vụ sản xuất công nghiệp; Các doanh nghiệp trong KCN sử dụng chung hạ tầng kỹ thuật và xã hội theo một cơ chế quản lý tổ chức thống nhất của BQL KCN
Qua thực tiễn phát triển các KCN ở nhiều quốc gia khác nhau, có thể phân loại thành các loại KCN như sau:
Theo quy mô KCN, có 2 loại là KCN tập trung (có quy mô từ 50 ha trở lên) và KCN vừa và nhỏ (có quy mô nhỏ hơn 50 ha)
Theo chủ đầu tư phát triển hạ tầng KCN, có 3 loại là: KCN do doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài làm chủ đầu tư; KCN do liên doanh giữa doanh nghiệp có
3 Chính phủ (2008), Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước và KCN do doanh nghiệp trong nước làm chủ đầu tư
Theo mục đích phát triển KCN, có 3 loại là: KCN nhằm thu hút đầu tư nước ngoài; KCN nhằm di dời các cơ sở công nghiệp trong các thành phố, đô thị lớn; KCN gắn với ưu thế của địa phương
Theo đặc điểm ngành công nghiệp, có 4 loại là: KCN tập trung các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp chế tạo; KCN tập trung các ngành công nghiệp nhẹ và sản xuất hàng tiêu dùng; KCN tập trung các ngành công nghiệp dịch vụ, chuyên sản xuất các sản phẩm phục vụ cho các ngành công nghiệp; KCN gắn với nông nghiệp, nông thôn, sản xuất các sản phẩm hỗ trợ cho nông nghiệp và nông thôn
Theo trình độ công nghệ hóa, có 4 loại là: KCN tập trung sản xuất sản phẩm có hàm lượng công nghệ thấp và trung bình tương đương với trình độ công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp; KCN tập trung sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ khá so với các ngành công nghiệp trong nước nhưng chỉ đạt mức trung bình trong khu vực; KCN tập trung sản xuất sản phẩm có hàm lượng công nghệ khá so với khu vực; KCN tập trung sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ tiên tiến so với khu vực và thế giới b Khái niệm và phân loại CCN
Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về quy chế quản lý CCN thì: “CCN là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh; do UBND tỉnh quyết định thành lập” 4
Theo tổng kết của Bộ Công thương, có một số loại hình CCN như sau:
CCN chuyên ngành: trong đó hoạt động sản xuất công nghiệp gắn liền với nguồn nguyên liệu
4 Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm
2009 về ban hành quy chế quản lý cụm công nghiệp
CCN tổng hợp (đa ngành): thường được hình thành trên cơ sở nhu cầu của một số các cơ sở sản xuất công nghiệp hiện có phải di dời hoặc cần phát triển mới; được hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách theo chính sách ưu đãi của Chính phủ và địa phương CCN làng nghề: phục vụ cho làng nghề cụ thể tại địa phương; vốn đầu tư chủ yếu là vốn vay và vốn huy động từ các cơ sở sản xuất có nhu cầu di dời và mở rộng sản xuất của làng nghề
CCN hiện đại (như KCN) được xây dựng mới hoàn toàn, chủ yếu do các công ty nước ngoài hoặc doanh nghiệp lớn trong nước đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng Ngoài ra, còn một số loại hình CCN hình thành tại khu vực có vị trí địa lý thuận lợi để bố trí một vài điểm đầu tư phát triển công nghiệp trong tương lai 10-15 năm tới, với mục tiêu là thực hiện các chính sách công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn 1.1.1.2 Tác động của KCN, CCN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội a Tác động tích cực
Vai trò của KCN, CCN đối với sự phát triển kinh tế
- KCN có vai trò tiên phong trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân KCN là trọng điểm kinh tế của địa phương, đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách, mở mang các ngành nghề mới, tạo việc làm cho người lao động…Các KCN được xây dựng sẽ hình thành lên các khu dân cư, khu đô thị mới, kéo theo những dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu cho cả sản xuất và tiêu dùng Mặt khác, KCN còn là nơi thử nghiệm chính sách kinh tế mới tốt nhất, đặc biệt là các chính sách kinh tế đối ngoại và là đầu tầu tiên phong trong sự phát triển nền kinh tế quốc dân
- Góp phần huy động vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp, với nhiều điều kiện ưu đãi, cơ sở hạ tầng thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh…nên các KCN ngày càng là một điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài (minh họa thực tế - xem Phụ lục 01)
- KCN đóng góp vào kim ngạch xuất nhập khẩu và ngân sách Nhà nước Phần lớn các doanh nghiệp trong KCN, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần cân đối cán cân thương mại theo hướng gia tăng xuất khẩu và giảm bớt nhập khẩu những mặt hàng trong nước có thể sản xuất được
Bên cạnh đó, hoạt động của các KCN cũng đóng góp nhất định cho nguồn thu ngân sách nhà nước (minh họa thực tế - xem Phụ lục 01)
- KCN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Về mặt lượng, KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp và dịch vụ công nghiệp do đó KCN có những đóng góp lớn vào việc nâng cao giá trị sản xuất và giá trị gia tăng của ngành công nghiệp, do đó trực tiếp làm tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp trong tổng GDP của cả nước Mặt khác, các KCN hình thành và phát triển kéo theo các ngành dịch vụ đời sống và sản xuất bên trong KCN như dịch vụ tư vấn, thiết kế, xây dựng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông…cũng được phát triển mạnh mẽ hơn, làm cho tỷ trọng ngành dịch vụ tăng lên Vì vậy, các KCN đã góp phần đáng kể làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Phát triển bền vững khu công nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm PTBV và PTBV KCN
Quan điểm PTBV đã được tìm kiếm từng bước từ thập niên 70 của thế kỷ 19, tuy nhiên cho đến nay chưa có một định nghĩa nào đầy đủ và thống nhất về PTBV Theo Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) thì “PTBV là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”
PTBV bao gồm 3 thành phần chính là: bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững về môi trường Trong đó mục tiêu bền vững kinh tế là lựa chọn một tốc độ tăng trưởng hợp lý trên cơ sở một cơ cấu kinh tế phù hợp và có hiệu quả nhất Bền vững về xã hội tập trung vào việc thực hiện từng bước các nội dung về tiến bộ xã hội và phát triển con người Bền vững về môi trường bao gồm khai thác hợp lý tài nguyên; bảo vệ và chống ô nhiễm môi trường; thực hiện tốt quá trình tái sinh tài nguyên môi trường
6 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2006), Báo cáo tổng kết 15 năm xây dựng và phát triển khu công nghiệp và khu chế xuất ở Việt Nam
Hình 1.1 Mô hình phát triển bền vững
(Nguồn: Giáo trình Kinh tế phát triển – Đại học Kinh tế Quốc dân)
Theo PGS.TS Ngô Thắng Lợi và các tác giả Đại học Kinh tế Quốc dân thì:
“Có thể hiểu PTBV KCN là việc bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế ổn định, có hiệu quả ngày càng cao trong bản thân KCN, gắn liền với việc bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống, cũng như những yêu cầu về ổn định xã hội, an ninh quốc phòng trong khu vực có KCN cũng như toàn lãnh thổ quốc gia” 7
1.1.2.2 Hệ thống các tiêu chí đánh giá sự PTBV các KCN
Cũng theo PGS.TS Ngô Thắng Lợi và các tác giả Đại học Kinh tế Quốc dân thì: “Sự PTBV của một KCN không chỉ phản ánh thông qua những kết quả đạt được theo các tiêu chuẩn bền vững nội tại của KCN, mà còn phải được thể hiện ở vai trò tạo ra các tác động lan tỏa tích cực đối với các doanh nghiệp đối tác, địa phương, khu vực có KCN” 8 Với cách tiếp cận này, hệ thống đánh giá sự PTBV các KCN được xác định theo hai nhóm tiêu chí: Các tiêu chí đánh giá PTBV nội tại KCN và các tiêu chí đánh giá tác động lan tỏa của KCN a Các tiêu chí đánh giá PTBV nội tại KCN
Vị trí địa lý của KCN Đây là cơ sở ban đầu dẫn đến sự thành công của KCN Dấu hiệu này thể hiện: KCN đặt ở vị trí thuận lợi hay khó khăn về cơ sở hạ tầng kỹ thuật như đường
Ngô Thắng Lợi và các tác giả (2007), Vấn đề phát triển bền vững các khu công nghiệp ở Việt Nam, Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam
BỀN VỮNG sá, bến cảng, nhà ga, sân bay, hệ thống viễn thông; điều kiện về nguồn nhân lực dồi dào; tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư về vị trí và điều kiện sinh hoạt Những điểm trên phải được xem xét trên khía cạnh hiện tại và sự duy trì khả năng ấy trong tương lai
Chất lượng quy hoạch KCN
Nó thể hiện ở tính hợp lý, đồng bộ, khoa học, thực tiễn và hiệu quả trong quy hoạch các yếu tố chủ đạo của KCN như xác định các lĩnh vực và ngành thu hút đầu tư, đất đai, các khu chức năng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, điện, nước, thông tin, viễn thông, dịch vụ, nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế, bảo vệ môi trường, và thu hút lao động
Quy mô đất đai và tỷ lệ lấp đầy KCN
Quy mô đất đai của KCN được xem xét căn cứ vào mục tiêu quy hoạch và điều kiện hoạt động của KCN (vị trí địa lý, yêu cầu của các ngành công nghiệp, khả năng phát triển, các điều kiện về giao thông vận tải, nguồn nguyên liệu thị trường tiêu thụ)
Tỷ lệ lấp đầy KCN được đo bằng tỷ lệ diện tích KCN đã cho các doanh nghiệp và dịch vụ thuê so với tổng diện tích KCN
Kết quả và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN
Tiêu chí này bao gồm: tổng doanh thu, tổng giá trị gia tăng, tổng lao động thu hút, tổng vốn kinh doanh, tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng doanh thu, kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, thu nhập bình quân của một đơn vị lao động trên một ha
Trình độ công nghệ và ứng dụng công nghệ trong các doanh nghiệp của KCN Tiêu chí này phản ánh khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nội bộ KCN cũng như giữa các KCN với nhau và được thể hiện ở: số lượng và cơ cấu máy móc thiết bị sử dụng trong KCN; tỷ lệ máy móc thiết bị mới so với tổng số máy móc thiết bị sử dụng; độ tuổi trung bình của công nghệ hoạt động trong doanh nghiệp; tỷ lệ vốn sản xuất trên đầu một lao động; tỷ lệ vốn đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai trong tổng vốn đầu tư của KCN; tỷ lệ doanh thu từ hoạt động nghiên cứu và triển khai so với tổng quy mô hoạt động của doanh nghiệp và của toàn KCN
Hệ số chuyên môn hóa và liên kết kinh tế Đây là tiêu chí phản ánh tính hiệu quả trong hoạt động của toàn KCN, tính chất tiên tiến trong tổ chức sản xuất phù hợp với xu thế phát triển của phân công lao động xã hội theo hướng hiện đại Tiêu chí này thể hiện trên các khía cạnh: tỷ lệ doanh thu của mặt hàng chuyên môn hoá chiếm trong tổng doanh thu; tỷ lệ số doanh nghiệp có liên kết kinh tế với nhau trong tổng số doanh nghiệp nằm trong KCN; số ngành kinh tế hoạt động trong một KCN; hệ số liên kết kinh tế của KCN với bên ngoài; số KCN khác, số doanh nghiệp ở ngoài KCN có trao đổi kinh tế kỹ thuật với KCN
Khả năng đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư
Tiêu chí này phản ánh mức độ hấp dẫn nội bộ của KCN đối với các nhà đầu tư và được thể hiện cụ thể ở: chủng loại, quy mô và chất lượng của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội của KCN như: điện, nước, kho tàng, đường sá, phương tiện vận chuyển; Chủng loại, quy mô và chất lượng hoạt động của hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế phục vụ hoạt động cho các doanh nghiệp trong KCN như: bưu chính, thông tin, tài chính, ngân hàng, v.v b Các tiêu chí đánh giá tác động lan tỏa của các KCN
Tiêu chí về kinh tế kỹ thuật
Các chỉ tiêu đo lường chính là: Thu nhập bình quân đầu người tính cho toàn khu vực hoặc địa phương, so với mức chung của cả nước; cơ cấu kinh tế của địa phương có KCN, thể hiện ở tỷ trọng về doanh thu, giá trị gia tăng, vốn sản xuất, lao động tính theo 3 lĩnh vực: ngành kinh tế, theo thành phần kinh tế, theo khu vực thể chế; đóng góp của KCN cho ngân sách địa phương, thể hiện bằng: mức và tỷ lệ thu ngân sách của địa phương từ KCN đem lại, tốc độ tăng thu thuế từ các KCN; số lượng và chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội của địa phương có KCN, cụ thể là hệ thống đường sá, cầu cống, hệ thống nhà ở, các công trình điện, nước, hệ thống bưu điện, thông tin liên lạc; tỷ lệ đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của địa phương
Tiêu chí phản ánh về xã hội
Tiêu chí phản ánh ảnh hưởng xã hội của KCN được tập trung vào các chỉ tiêu phản ánh khả năng giải quyết việc làm của KCN cho địa phương như sau:
Sử dụng lao động địa phương: thể hiện ở quy mô và tỷ lệ lao động địa phương so với tổng số lao động làm việc trong KCN
Tỷ lệ hộ gia đình (hoặc là số lao động) tham gia cung cấp sản phẩm - dịch vụ cho KCN so với tổng lao động địa phương; trong đó nhấn mạnh đến số lượng và tỷ lệ hộ gia đình (lao động) mất đất tham gia cung cấp sản phẩm - dịch vụ cho KCN so với tổng số hộ (hoặc lao động) bị mất đất
Cơ cấu lao động địa phương phản ánh ảnh hưởng của KCN đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động trên địa bàn có KCN
Tiêu chí phản ánh môi trường
Mối quan hệ giữa các vấn đề môi trường và PTBV các KCN, CCN
Một số khái niệm về môi trường
Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam định nghĩa: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại phát triển của con người và sinh vật" 9
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành: Môi trường tự nhiên (bao gồm các nhân tố thiên nhiên như ánh sáng, núi sông, biển cả, không khí, động thực vật, đất, nước ); Môi trường xã hội (là tổng thể các quan hệ giữa người với người như những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định của Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, làng xã, họ tộc, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, ) và môi trường nhân tạo (bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị…)
Trong phạm vi luận văn này tác giả chỉ đề cập đến môi trường tự nhiên
Ô nhiễm môi trường là gì?
Theo Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam: "Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường" 10 Các tác nhân ô nhiễm có thể có từ nguồn gốc tự nhiên, nhưng phần lớn các nguồn ô nhiễm là từ nguồn nhân tạo, liên quan đến hoạt động sản xuất và hoạt động sống của con người
Suy thoái môi trường là gì?
Theo Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam: "Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên" 11 Trong đó, thành phần môi trường được hiểu là các yếu tố tạo thành môi trường: không khí, nước, đất, núi, rừng, sông, hồ biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác.
Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và môi trường
Môi trường và sự phát triển kinh tế nói chung (sự phát triển của các KCN, CCN nói riêng) có mối quan hệ tương tác, có sự gắn kết chặt chẽ với nhau Môi
Quốc Hội (2005), Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam trường vừa là yếu tố đầu vào vừa là yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất Môi trường là nơi cung cấp các nguyên vật liệu, năng lượng cho quá trình sản xuất (như khoáng sản, gỗ, dầu mỏ…), là không gian sống, cung cấp các giá trị cảnh quan, vui chơi, giải trí phục vụ cho cuộc sống của con người Môi trường cũng là nơi chứa chất thải của các hoạt động trong nền kinh tế như quá trình sản xuất, quá trình lưu thông và quá trình tiêu dùng Các chất thải ra môi trường tồn tại dưới nhiều dạng như: dạng rắn, dạng khí, dạng lỏng Khi các chất thải với số lượng và chất lượng nhất định được thải ra môi trường thì các quá trình lý, hóa, sinh của hệ tự nhiên sẽ tự phân hủy, làm sạch chúng Tuy nhiên, nếu chất thải vượt quá khả năng hấp thụ của môi trường chúng sẽ làm thay đổi chất lượng môi trường, gây ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và sinh vật
Môi trường tác động đến tính ổn định và bền vững của sự phát triển kinh tế Môi trường tạo ra các tiềm năng tự nhiên mới cho công cuộc phát triển kinh tế trong tương lai, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế Nhưng đồng thời, môi trường cũng tác động tiêu cực, gây bất lợi cho quá trình phát triển kinh tế Ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra các hiện tượng thời tiết bất thường (sương mù dày đặc, mưa đá, mưa axit…), các thảm họa và thiên tai (bão, lũ lụt, hạn hán…) Điều này sẽ tác động đến tất cả các lĩnh vực, ngành nghề hoạt động trong nền kinh tế, ảnh hưởng đến quá trình lưu thông, các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế như: làm ngừng trệ quá trình sản xuất; gây thiệt hại về kinh tế (tài sản, của cải, vật chất…)
Quá trình phát triển kinh tế sẽ góp phần tạo ra nguồn tài chính hỗ trợ cho quá trình cải tạo môi trường, phòng chống suy thoái, sự cố môi trường xảy ra… Phát triển kinh tế tạo tiềm lực để BVMT Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế diễn ra với tốc độ nhanh và mạnh sẽ dẫn đến việc khai thác, sử dụng quá mức các tài nguyên thiên nhiên, gây nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm, suy thoái môi trường Trong lịch sử phát triển của các quốc gia, đã có một thời, nhất là sau cuộc cách mạng công nghiệp, phát triển kinh tế được đặt lên hàng đầu, lấn át tất cả những yếu tố khác của sự phát triển: xã hội, văn hoá, môi trường, quyền con người, Thậm chí, khuynh hướng "phát triển với bất cứ giá nào", phát triển tự phát đã trở nên thịnh hành, gây ra những hậu quả hết sức tai hại cho cả môi trường lẫn xã hội, văn hoá Ngay cả trong thời điểm hiện nay, khi mà cuộc chạy đua phát triển giữa các quốc gia, giữa các khu vực kinh tế của thế giới đang diễn ra ngày càng gay gắt, khốc liệt, thì khuynh hướng "phát triển với bất cứ giá nào" vẫn được tôn sùng trên thực tế, đặc biệt là ở các nước đang phải đối đầu với nghèo đói, lạc hậu, kinh tế chậm phát triển Trong bối cảnh đó, người ta dễ có khuynh hướng hi sinh môi trường và các yếu tố khác cho phát triển kinh tế Những người quá sốt ruột trước tình trạng lạc hậu, kém phát triển của nước mình thường lập luận rằng "cứ phát triển kinh tế đã rồi sẽ tính sau" Kết quả là môi trường bị suy thoái làm cho cơ sở của phát triển bị thu hẹp, tài nguyên của môi trường bị giảm sút cả về số lượng và chất lượng, trong điều kiện dân số ngày càng tăng lên, chính là nguyên nhân gây nên sự nghèo khó, cùng cực của con người Tấn thảm kịch ở một số nước châu Phi (như Xômali, Êtiopia, Uganda, Ruanđa, v.v ) là một bằng chứng cho sự "ô nhiễm do nghèo đói" ở các nước đang phát triển
Ngược lại với khuynh hướng trên là khuynh hướng "tăng trưởng bằng không hoặc âm" để bảo vệ các nguồn tài nguyên hữu hạn, hoặc "chủ nghĩa bảo vệ" chủ trương không can thiệp vào các nguồn tài nguyên sinh học để bảo vệ chúng, hay "chủ nghĩa bảo tồn" chủ trương không đụng chạm vào thiên nhiên, nhất là tại các địa bàn chưa được điều tra, nghiên cứu đầy đủ Tất cả những khuynh hướng, quan điểm trên đều là không tưởng, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, nơi mà tài nguyên thiên nhiên là nguồn vốn cơ bản cho mọi hoạt động phát triển của con người
Lý thuyết không tưởng về "đình chỉ phát triển" thường xuất hiện ở các nước phát triển, bởi vì trước đây và ngay cả hiện nay phần lớn các nguồn tài nguyên của các nước đang phát triển bị khai thác lạm dụng, tiêu thụ quá mức để phục vụ cho các lợi ích của các nước công nghiệp hoá phát triển và chính tại đây lại xảy ra hiện tượng "ô nhiễm do giàu có"
Như vậy, tình trạng thiếu lương thực, nước uống, nhà ở, thuốc men, vệ sinh, nghèo đói, mù chữ, thiên tai ở các nước đang phát triển, hay nói cách khác là hiện tượng "ô nhiễm do nghèo đói" một phần bắt nguồn từ "ô nhiễm do giàu có"
Từ những điều trình bày trên, có thể nhận thấy: phát triển và môi trường không phải là hai vế luôn luôn đối kháng và mẫu thuẫn nhau theo kiểu loại trừ, có cái này thì không có cái kia Do đó, không thể chấp nhận cách đặt vấn đề "phát triển hay môi trường", mà phải đặt vấn đề "phát triển và môi trường", nghĩa là phải lựa chọn và coi trọng cả hai, không hy sinh cái này vì cái kia Để đánh giá kết quả của các hoạt động kinh tế - xã hội trong một thời gian (thường là một năm), cho đến nay các quốc gia đều tính chỉ tiêu GDP, và để thấy sự tăng trưởng của nền kinh tế người ta tính chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng GDP các năm sau so với năm trước hoặc năm gốc theo giá so sánh Tuy nhiên, chỉ tiêu GDP không quan tâm đến vấn đề để có được một khối lượng GDP, trong một năm, thì đã khai thác cũng như đã làm ô nhiễm môi trường, suy giảm sinh thái, bao nhiêu Trước tình trạng khan hiếm tài nguyên thiên nhiên trong quá trình phát triển kinh tế, những năm gần đây người ta đã đưa ra khái niệm "GDP xanh"
GDP xanh là phần còn lại của GDP thuần sau khi đã trừ các chi phí do tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi trường do các hoạt động kinh tế GDP xanh GDP thuần (GDP - khấu hao) – (Chi phí tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi trường do các hoạt động kinh tế)
Tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển của một vùng sẽ thay đổi khi thực hiện tính GDP xanh GDP xanh sẽ đánh giá toàn diện các mặt tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và BVMT Số liệu thống kê theo tiêu chí GDP xanh, vì vậy chắc chắn không chỉ phản ánh thực chất sự tăng trưởng của kinh tế mà còn chỉ ra các tổn thất môi trường mà sự tăng trưởng kinh tế có thể gây ra.
Tác động của sự phát triển KCN, CCN đến các vấn đề môi trường
Thực tế phát triển trên thế giới và trong nước cho thấy, việc bố trí tập trung các xí nghiệp công nghiệp trong KCN là một tiến bộ khoa học - kỹ thuật quan trọng trong công tác quy hoạch công nghiệp Nó đem lại không những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội, khoa học - kỹ thuật mà còn góp phần đáng kể hạn chế ô nhiễm và BVMT Cụ thể là:
KCN là nơi tập trung các xí nghiệp công nghiệp, do đó có điều kiện tập trung các chất thải do các xí nghiệp thải ra để xử lý, tránh tình trạng các chất độc hại bị phân tán do bố trí phân tán các xí nghiệp công nghiệp
KCN là nơi để di dời các xí nghiệp, cơ sở sản xuất gây độc hại từ nội đô, góp phần giải toả các điểm ô nhiễm trong đô thị và xử lý ô nhiễm tập trung
Việc bố trí tập trung các xí nghiệp công nghiệp trong KCN tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan quản lý môi trường trong việc kiểm soát ô nhiễm và có biện pháp xử lý kịp thời đối với các xí nghiệp gây ô nhiễm, so với trường hợp bố trí phân tán các xí nghiệp công nghiệp ngoài KCN
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế trên, KCN khi được xây dựng và đi vào hoạt động cũng sẽ tạo ra những thách thức không nhỏ đối với môi trường
Quá trình sản xuất cũng như sinh hoạt trong các KCN thải ra môi trường rất nhiều loại chất thải (như khí thải, nước thải, chất thải rắn…) Những chất thải này nếu không được xử lý và quản lý theo đúng như các quy định thì có thể làm ô nhiễm, hoặc gây ra các sự cố về môi trường
Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh phát triển các KCN, CCN thường đi đôi với việc gia tăng khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nếu không có biện pháp khai thác, quản lý hợp lý thì về lâu dài có thể làm suy thoái, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên
Tóm lại: Mục tiêu của các doanh nghiệp hoạt động trong KCN không phải là mục tiêu môi trường mà là sản xuất, là lợi nhuận Vì vậy, bài toán “phát triển kinh tế và môi trường” vẫn luôn là bài toán nan giải đối với các KCN, CCN.
Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề BVMT KCN
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
Việc BVMT nói chung và BVMT KCN nói riêng chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm:
Chủ trương, chính sách và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và các địa phương về quản lý, BVMT nói chung và quản lý, BVMT KCN nói riêng Đây chính là nền tảng cho việc thực hiện, theo dõi, giám sát và điều chỉnh các hoạt động BVMT
Bộ máy quản lý môi trường nói chung và quản lý môi trường KCN, CCN nói riêng Một bộ máy quản lý hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, tinh gọn, không bị trùng lặp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, không quan liêu, cửa quyền, tham nhũng; một đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh; kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo; có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; có tinh thần đoàn kết, hợp tác và phong cách làm việc khoa học chính là những nhân tố góp phần thúc đẩy hoạt động BVMT đạt hiệu quả cao
Nguồn kinh phí cho sự nghiệp BVMT: đây là nguồn kinh phí để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư BVMT; là khoản chi cho các hoạt động quản lý như thanh tra, kiểm tra công tác BVMT, điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng môi trường, đánh giá chất thải, tình hình ô nhiễm, suy thoái môi trường – vốn là những hoạt động góp phần quan trọng trong công tác BVMT.
Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường KCN, CCN tỉnh Sơn La
Tiềm năng phát triển công nghiệp tỉnh Sơn La
a Tiềm năng để phát triển công nghiệp tỉnh
Tài nguyên đất: Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Sơn La là 1.417.444 ha, đến hết năm 2010 đất chưa sử dụng còn tương đối lớn, chiếm 32,83% diện tích đất tự nhiên Đất chủ yếu có độ dốc cao, có nhiều loại đất phù hợp cho phát triển nông nghiệp nhất là cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc và nuôi trồng thuỷ sản Trên địa bàn tỉnh có 2 cao nguyên tương đối bằng phẳng và rộng lớn là Mộc Châu và Nà Sản, các cao nguyên này phân bố các loại đất tốt, có ưu thế để phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá có quy mô tập trung
Tài nguyên khoáng sản: Sơn La có nhiều loại khoáng sản khác nhau (như than, niken, coban, đồng, vàng, bột tan) nhưng phần nhiều có quy mô nhỏ, trữ lượng không lớn, phân tán và điều kiện khai thác không thuận lợi
Tài nguyên vật liệu xây dựng: Với trữ lượng khá lớn, phân bố tương đối rộng, đang được khai thác, cho phép phát triển mạnh sản xuất xi măng, gạch ngói phục vụ nhu cầu trong tỉnh và xây dựng công trình thuỷ điện Sơn La
Tài nguyên nước: Với định hướng phát triển công nghiệp với tốc độ cao, nhu cầu nước (nước mặt, nước ngầm) của các doanh nghiệp công nghiệp dùng cho sản xuất và sinh hoạt là rất lớn Sơn La có tiềm năng về nguồn nước dồi dào, đáp ứng đủ cho các hoạt động sản xuất công nghiệp ổn định và lâu dài
Nguồn nước mặt: hệ thống sông suối khá dầy đặc nhưng phân bố không đều giữa các vùng, tập trung ở các vùng thấp, các vùng cao ít Có đến 97% diện tích nước mặt tự nhiên thuộc lưu vực sông Đà và sông Mã Nhiều suối và nhánh suối có thể nghiên cứu khai thác hợp lý để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất một cách bền vững
Nguồn nước ngầm: chủ yếu tồn tại dưới 2 dạng: Nước ngầm chứa trong các kẽ nứt của đá (nhiều nguồn nước ngầm đã lộ ra ngoài thành dòng chảy, lưu lượng dao động mạnh theo mùa) và Nước ngầm Kaster tàng trữ trong các hang động Kaster hình thành từ núi đá vôi (thường có lưu lượng lớn, động thái không ổn định)
Tài nguyên rừng: tỉnh có diện tích đất lâm nghiệp lớn (chiếm 73% diện tích đất tự nhiên), phù hợp với nhiều loại cây trồng, có điều kiện để xây dựng hệ thống rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và tạo các vùng rừng kinh tế hàng hoá có giá trị cao Theo Quy hoạch xây dựng hệ thống rừng nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến, đến năm 2010, Sơn La sẽ hình thành 20 vạn ha rừng kinh tế; 0,45 vạn ha rừng măng tre xuất khẩu; 13,4 vạn ha rừng nguyên liệu công nghiệp và 6 vạn ha rừng sinh thái du lịch, đáp ứng nhu cầu của các cơ sở chế biến bột, giấy, ván ép; hàng năm cung cấp nguyên liệu để sản xuất khoảng 10 vạn tấn bột giấy, 2 vạn m 3 sản phẩm ván nhân tạo, 5 vạn tấn sản phẩm măng xuất khẩu
Nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp: Diện tích và sản lượng các cây lương thực, cây công nghiệp, cây lâu năm, cây ăn quả ngày càng tăng, đảm bảo đủ nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
Bảng 1.1: Diện tích, sản lượng cây lương thực, cây công nghiệp tỉnh Sơn La
Diện tích (1.000ha) Sản lượng (1.000tấn)
Lúa 50,8 45,52 45,96 44,59 148,81 148,35 152,81 147,00 Ngô 134,25 132,7 132,11 132,7 504,76 506,64 514,24 417,41 Sắn 18,63 23,71 22,33 24,64 210,63 279,01 267,94 295,11 Mía 4003 3372 3283 3265 208007 172725 175307 174664 Đậu tương 9176 7686 7522 7380 11472 10090 10057 10644 Chè 4118 4106 4159 4078 24522 22032 23195 25722
(Nguồn : Niên giám thống kê tỉnh Sơn La 2010)
Nguồn năng lượng cho phát triển công nghiệp: Sơn La có tiềm năng lớn về phát triển các nguồn thuỷ điện, ước tính trên địa bàn tỉnh có thể phát triển khoảng 3.300 MW công suất các nguồn điện, hàng năm sản xuất khoảng trên 12 tỷ kWh như Thuỷ điện Sơn La có công suất 2400 MW, điện năng sản xuất 9,43 tỷ kWh; Thuỷ điện Huội Quảng có công suất 540 MW, điện năng sản xuất 2,0 tỷ kWh; b Nguồn lực để phát triển công nghiệp tỉnh
Dân số tỉnh Sơn La đến năm 2009 là 1.083.761 người Tốc độ tăng trưởng dân số bình quân hàng năm giai đoạn 2001- 2009 là 1,66%/năm Dân số trung bình thành thị chiếm 13,9%, khu vực nông thôn chiếm 86,1%
Nguồn lao động chiếm từ 56 - 60% dân số toàn tỉnh Trong đó, lao động nông, lâm nghiệp chiếm đại bộ phận (chiếm 85,88%), lao động sản xuất công nghiệp, khai thác mỏ chiếm 1,81%, còn lại là lao động các ngành nghề khác Trình độ dân trí chung của tỉnh còn thấp, chất lượng nguồn lao động chưa cao
Khả năng đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân/năm thời kỳ 2006 – 2010 đạt 13,76% Tổng sản phẩm quốc nội trên địa bàn tỉnh theo giá thực tế năm 2010 đạt 13.890,41 tỷ đồng, tăng 1,9 lần so với năm 2005
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng (tăng từ 15,64% năm 2006 lên 23,43% năm 2010) và dịch vụ - thương mại - du lịch (tăng từ 34,29% năm 2006 lên 36,56% năm 2010), giảm tỷ trọng các ngành nông - lâm nghiệp chiếm trong GDP (giảm từ 50,07% năm 2006 xuống còn 40,01% năm 2010)
Tình hình thu chi ngân sách: Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh qua các năm đều tăng khá (mức tăng bình quân giai đoạn 2005-2009 đạt 24,48%/năm), vượt kế hoạch đề ra, đảm bảo đáp ứng nhu cầu chi Nền kinh tế của tỉnh bước đầu đã có tích lũy nội bộ
Hoạt động xuất nhập khẩu của tỉnh tuy còn ở mức độ thấp nhưng đã duy trì sản lượng xuất nhập khẩu trong nhưng năm gần đây Năm 2009 kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 37,7 triệu USD, năm 2010 đạt 25,516 triệu USD Xuất khẩu trên địa bàn chủ yếu là xuất khẩu uỷ thác, năm 2008 tỷ lệ này chiếm tới 79,94% Xuất khẩu của tỉnh bước đầu đã tiếp cận được với thị trường nước ngoài Các mặt hàng tham gia xuất khẩu chủ lực của tỉnh Sơn La là nông sản: ngô, gạo, cà phê, chè …Hàng hoá nhập khẩu chủ yếu là nguyên, nhiên, vật liệu và máy móc thiết bị để trang bị mới và đầu tư thay đổi dây chuyền công nghệ phục vụ sản xuất
Tình hình đầu tư phát triển trên địa bàn: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn
Hiện trạng phát triển công nghiệp tỉnh Sơn La
Cơ sở công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Đến năm 2009, toàn tỉnh có 3.067 cơ sở sản xuất công nghiệp, tăng gấp 1,4 lần so với năm 2005 Trong đó ngành công nghiệp chế biến chiếm 51,8%; sản xuất sản phẩm phi kim loại chiếm 26,56%; công nghiệp phân phối điện, nước 8,97%; công nghiệp khai thác chiếm 5,5%; công nghiệp cơ khí chiếm 4,1%; dệt may, da giầy chiếm 1,51%; công nghiệp in chiếm 1,38%; công nghiệp chế biến gỗ và giấy chiếm 0,55%; còn lại là công nghiệp chế biến, chế tạo khác Các cơ sở công nghiệp tập trung chủ yếu tại 4 đô thị: thành phố Sơn La, thị trấn Mộc Châu, thị trấn Phù Yên, thị trấn Hát Lót – Mai Sơn
Lực lượng lao động công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Lao động trong các ngành công nghiệp tập trung chủ yếu trong các phân ngành công nghiệp chế biến (ước tính thời gian 2009 – 2010 khoảng 80,2%) Lao động tập trung chủ yếu ở thành phố Sơn La (36%), huyện Mộc Châu (26%) và huyện Mai Sơn (11%); Các huyện khác chỉ chiếm 27% số lao động toàn ngành
Tình hình đầu tư cho công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Đầu tư cho lĩnh vực công nghiệp có chiều hướng tăng trong tổng đầu tư phát triển toàn tỉnh Năm 2005, vốn đầu tư cho ngành công nghiệp chỉ chiếm 6,16% trong tổng vốn đầu tư của tỉnh, thì đến năm 2009 tỷ trọng này đã đạt mức 12,92% Vốn đầu tư cho công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước, ga chiếm phần lớn trong tổng vốn đầu tư của toàn ngành công nghiệp (năm 2009 tỷ lệ là 55,85%); tiếp đến là ngành công nghiệp khai thác (năm 2009 tỷ lệ là 25,4%); cuối cùng là ngành công nghiệp chế biến (năm 2009 tỷ lệ là 18,75%)
Kết quả hoạt động công nghiệp
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp liên tục tăng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 – 2010 khoảng 21,18% Xét về cơ cấu, đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước tuy có xu hướng giảm dần nhưng vẫn chiếm tỷ trọng chi phối trong giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm của tỉnh (năm 2010 tỷ lệ là 58,9%)
Giá trị gia tăng của ngành công nghiệp đến năm 2010 đạt 1.116 tỷ đồng, chiếm 8,11% so với tổng giá trị gia tăng toàn tỉnh Tỷ lệ VA/GO công nghiệp dao động trong khoảng 33,2% năm 2005 lên 35,2% vào năm 2010
Các sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: các sản phẩm truyền thống như sữa, chè, đường, vật liệu xây dựng, café, tinh bột, thức ăn gia súc…Một số sản phẩm có sản lượng tăng cao trong vài năm lại đây: điện phát ra, đá xây dựng, cát xây dựng, gạch chỉ, sản phẩm cơ khí, rượu hoa quả, sữa chế biến…
Đánh giá trình độ công nghệ của các doanh nghiệp công nghiệp
Công nghệ khai thác và chế biến khoáng sản đã có bước tiến lớn: Nhiều cơ sở sản xuất đá xây dựng đã được đầu tư đồng bộ, sản xuất các sản phẩm đá xây dựng phù hợp với nhu cầu của thị trường tiêu thụ lớn như xây dựng các công trình thủy điện, đường giao thông, nhà xưởng công nghiệp và dân dụng
Trình độ công nghệ của phần lớn các cơ sở sản xuất ngành dệt may – da giầy là thấp với quy mô nhỏ lẻ, thủ công Riêng trình độ công nghệ của cơ sở sản xuất giày da xuất khẩu đạt loại trung bình khá, nhiều trang thiết bị chính được nhập từ nước ngoài
Ngành chế biến nông – lâm sản, thực phẩm và đồ uống: đã đầu tư một số dây chuyền sản xuất tiên tiến như dây chuyền sản xuất, chế biến sữa có trình độ công nghệ thuộc loại tiên tiến, một số dây chuyền chế biến chè xanh công nghệ Đài Loan, Nhật Bản Tuy vậy, về cơ bản nhiều dây chuyền chế biến trong nông thôn còn ở mức độ thấp, đa phần sản xuất thủ công, tiêu thụ chủ yếu trong tỉnh và khu vực lân cận Công nghệ chế biến và bảo quản sản phẩm rau, hoa quả chưa phát triển
Thực trạng một số phân ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Ngành công nghiệp khai khoáng: có tốc độ tăng trưởng cao (giai đoạn 2006 –
2010 tăng bình quân 21,2%/năm) Tuy nhiên về giá trị tuyệt đối còn ở mức khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng; tỷ trọng giá trị sản xuất ngành công nghiệp khai khoáng trong ngành công nghiệp còn ở mức thấp (năm 2010 tỷ trọng này là 4,47%) Ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản, thực phẩm: là một trong ba ngành có đóng góp lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh (năm 2010, chiếm 44,6% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp) Tốc độ tăng trưởng tăng cao qua các năm: bình quân giai đoạn 2001 – 2005 là 13,92%/năm, giai đoạn 2006 – 2010 là 33,16%/năm
Ngành công nghiệp hàng tiêu dùng: tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn
2006 – 2010 đạt 15,77%/năm, giảm so với giai đoạn 2001 – 2005 (27,6%/năm) Năm
2010, giá trị sản xuất của ngành đạt 57,4 tỷ đồng, chiếm 4,0% giá trị ngành công nghiệp toàn tỉnh
Ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 – 2010 đạt 5,42%/năm, giảm mạnh so với giai đoạn 2001 – 2005 (33,1%/năm) Năm 2010, giá trị sản xuất của ngành chiếm 24,20% giá trị toàn ngành công nghiệp và là một trong ba ngành có đóng góp lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh
Ngành chế tạo máy, điện tử và gia công kim loại: tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 – 2010 đạt 13,9%/năm, giảm mạnh so với giai đoạn 2001 – 2005 (31,8%/năm) Đến năm 2010, giá trị sản xuất của ngành đạt 54,1 tỷ đồng, chiếm 3,7% giá trị toàn ngành công nghiệp
Ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước: có tốc độ tăng trưởng cao (bình quân giai đoạn 2006 – 2010 đạt 51,17%/năm) Đến năm 2010, giá trị sản xuất của ngành đạt 250,5 tỷ đồng, chiếm 17,28% giá trị toàn ngành công nghiệp Đây là một trong ba ngành có đóng góp lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh Ngành tiểu thủ công nghiệp và làng nghề: Sơn La có khá nhiều làng, bản có nghề truyền thống (như: nghề dệt thổ cẩm, thêu hoa văn, nghề gốm, nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, nghề làm đồ trang sức…), nhưng nhìn chung những năm qua chưa phát triển tương xứng với các nguồn lực của địa phương, chưa có sức cạnh tranh mở rộng thị trường; thu nhập của người lao động thấp
Tóm lại: Công nghiệp Sơn La tuy đã có những bước phát triển đáng kể nhưng về cơ bản vẫn còn nhiều yếu kém: giá trị tuyệt đối sản xuất công nghiệp còn ở mức thấp; Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa còn chậm; Năng suất lao động chưa cao, kỹ thuật sản xuất còn lạc hậu; Lực lượng lao động công nghiệp còn nhỏ, chủ yếu là lao động thủ công, lao động có tay nghề và trình độ cao còn ít.
Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường KCN, CCN tỉnh
Thực tế phát triển đã chỉ ra rằng muốn PTBV thì không thể không chú ý đến vấn đề môi trường Môi trường chính là một cực quan trọng mà nếu thiếu thì hai cực kinh tế, xã hội cũng không thể bền vững được Nhiều chuyên gia kinh tế môi trường cho rằng các chỉ số đo lường sự phát triển kinh tế hiện nay như GDP hay GNP đã không phản ánh đúng trạng thái thực của một nền kinh tế bền vững Nghĩa là chỉ hô hào tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt bao nhiêu phần trăm, mà không cho biết được rằng với sự tăng trưởng đó, tài nguyên thiên nhiên bị hao mòn tới mức nào, chất lượng môi trường và cuộc sống bị sụt giảm đến đâu Có tính toán đầy đủ sự tái tạo của tài nguyên, khắc phục ô nhiễm môi trường mới thấy được giá trị thực của GDP Lấy ví dụ của Trung Quốc, chi phí cho môi trường làm GDP giảm đi xấp xỉ 10% Điều đó có tính định hướng để cảnh báo rằng nếu phát triển kinh tế mà không chú ý đến các vấn đề môi trường thì sẽ có sự tăng trưởng giả tạo, mà cái nợ này sẽ gán cho tương lai
Trong chặng đường phát triển kinh tế - xã hội vừa qua của tỉnh Sơn La vẫn dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên là chủ yếu Nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất, rừng, nước bị khai thác, sử dụng lãng phí và kém hiệu quả Bên cạnh đó, do không quan tâm đúng mức đến vấn đề BVMT: trong các quy hoạch tổng thể của tỉnh, ngành và các huyện thị, cũng như các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, năm năm trong thời gian qua ba mặt của sự phát triển, gồm phát triển kinh tế, phát triển xã hội và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, BVMT chưa thực sự được kết hợp, lồng ghép chặt chẽ với nhau và hậu quả là môi trường tỉnh đã bắt đầu bị ô nhiễm cục bộ Theo quyết định số 64/2003/QĐ- TTg ngày 22/04/2003 của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Sơn La có ba cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải thực hiện xử lý triệt để Trong thời gian tới, dưới sức ép của sự phát triển công nghiệp tỉnh cùng với việc quy hoạch các CCN của tỉnh được thông qua, số lượng các KCN, CCN ngày càng tăng lên thì vấn đề BVMT KCN tỉnh càng trở nên bức thiết hơn Vì vậy, để theo đuổi mục tiêu PTBV các KCN thì vấn đề đặt ra cho Sơn La trước mắt và lâu dài là phải có các giải pháp, kế hoạch hành động thật cụ thể để vừa phát triển mạnh về kinh tế vừa đảm bảo ổn định môi trường KCN.