1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn giải pháp huy động vốn cho các dự án đầu tư của công ty chế biến và kinh doanh sản phẩm dầu mỏ( tổng công ty dầu khí việt nam)

72 7 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Huy Động Vốn Cho Các Dự Án Đầu Tư Của Công Ty Chế Biến Và Kinh Doanh Sản Phẩm Dầu Mỏ (Tổng Công Ty Dầu Khí Việt Nam)
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương
Người hướng dẫn PTS. Lê Đức Lữ
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận Án Thạc Sỹ
Năm xuất bản 1998
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 27,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCCHƯƠNG 1 - VAI TRÒ CỦA VỐN Đ ối VÓI HOẠT ĐỘNG ĐẦU T ư 1.1 Vai trò của vốn đối với sự phát triển của các doanh nghiệp trong ngành dầu khí Việt Nam 4 1.1.2 Vai trò của vốn đối với s

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG

GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VốN

CHO CÁC Dự ÁN ĐẦU TU CỦA

CÔNG TY CHẾ BIẾN VÀ KINH DOANH

(TỔNG CÔ N G T Y DẦU K H Í V IỆ T NAM)

LUẬN ÁN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PTS LÊ ĐỨC LữTHS.NƯ

ĐẠIT O W A

THỐNG ĨIN TỊỊỊi^ỉậN ru

HÀ NỘI, 1998

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 - VAI TRÒ CỦA VỐN Đ ối VÓI HOẠT ĐỘNG ĐẦU T ư

1.1 Vai trò của vốn đối với sự phát triển của các doanh nghiệp

trong ngành dầu khí Việt Nam 4

1.1.2 Vai trò của vốn đối với sự phát triển của các doanh

1.2 Đầu tư vốn theo dự án, một hình thức đầu tu quan trọng của

ngành dầu khí Việt Nam trong nền kinh tế thị trường 7

1.2.3 Vai trò quan trọng của việc đầu tư theo dự án đối với

1.2.5 Điều kiện để dự án có thể nhận được nguồn tài trợ

CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CHO CÁC Dự ÁN ĐAU TƯ

2.1 Công ty Chế biến và Kinh doanh Sản phẩm Dầu mỏ -

chiến lược kinh doanh đến năm 2010 và dự án xây dựng

nhà máy sản xuất nhựa đường 22

2.1.1 Giới thiệu chung về Công ty Chế biến và Kinh doanh

2.1.2 Chiến lược phát triển kinh doanh và các dự án cho khâu

2.2 Tình hình huy động vốn cho các dự án đầu tư đã được cấp

giấy phép từ năm 1992 đến nay và phương án huy động vốn

cho dự án xây dựng nhà máy sản xuất nhựa đường 34

2.2.1 Tinh hình huy động vốn cho các dự án đầu tư đã được

2.2.2 Phương án huy động vốn cho dự án xây dựng nhà máy

Trang 4

2.3 Đánh giá thực trạng huy động vốn cho các dự án đầu tư

của Cônơ ty Che Biến và Kinh doanh sản phẩm Dầu mỏ 41

2.3.3 Những nguyên nhân ảnh hường đến việc huy động vốn

2.3.4 Vấn đề đặt ra cần phải giải quyết trong việc huy động vốn

CHƯƠNG 3 - GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN CHO Dự ÁN XÂY DỤNG

NHÀ MÁY SẢN XUẤT NHựA ĐƯỜNG CỦA CÔNG TY CHẾ BIÊN

3.1 Xu hướng huy động vốn cho các dự án đầu tư trong

3.1.2 Xu hưóng huy động vốn cho các dự án đầu tư trong

3.2 Giải pháp huy động vốn cho dự án xây dựng nhà máy sản xuất

3.3.1 Kiến nghị đối với Công ty Chế biến và Kinh doanh

PHỤ LỤC

T À I L I Ê U T H A M K H Ả O

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong hơn hai mươi năm xây dựng và phát triển, đặc biệt kể từ năm 1985 khi phát hiện được mỏ dáu đầu tiên cho đến nay ngành dầu khí Việt Nam đã phát triển nhanh chóng và trở thành một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của nước ta

Nhằm mục đích xây dựng nền công nghiệp dầu khí Việt Nam phát triển toàn diện, ngoài việc phát triển các dự án đầu tư trong lĩnh vực tìm kiếm thăm

dò, khai thác, chế biến dầu khí, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam còn chú trọng phát triển các dự án trong lĩnh vực hạ nguồn (các dự án thuộc lĩnh vực chế biến)

và dịch vụ kỹ thuật cao, nâng cao tỷ trọng doanh thu từ chế biến và dịch vụ dầu khí, mở rộng kinh doanh ở lĩnh vực phân phối sản phẩm, từng bước phát triển ngành dầu khí Việt Nam, đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trong mục tiêu chiến lược của mình, ngành dầu khí lập quy hoạch đầu tư

từ 1997 đến năm 2010 gồm 23 dự án lón với tổng số vốn đầu tư khoảng 17 tỷ đôla Mỹ Tổng số vốn đầu tư cho một dự án của các công ty trực thuộc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam rất lớn, trong khi đó nguồn ngân sách đầu tư cho dự

án của các công ty này còn rất hạn chế Đề 'tài “Giải pháp huy động vốn cho

các dự án đầu tư của Công ty C h ế biến và Kinh doanh sản phẩm Dầu mỏ"

phân tích và kiến nghị một số biện pháp huy động vốn phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện nay, đáp ứng nhu cầu về vốn, góp phần thực hiện thành công các dự án do công ty quản lý và thực hiện

Dựa trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn về vai trò của vốn đối với các

dự án đầu tư của ngành đầu khí, cũng như các hình thức huy động vốn cho các

dự án đầu tư để tìm ra những giải pháp nhằm huy động một cách có hiệu quả các nguồn vốn ngoài doanh nghiệp tài trợ cho dự án

Để thực hiện mục tiêu đặt ra, luận án tập trung vào:

Trang 6

- Phân tích vai trò của vốn đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, vai trò của dự án đầu tư đối vói sự phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam.

- Đánh giá thực trạng huy động vốn cho các dự án đầu tư của Công ty Chế biến và Kinh doanh Sản phẩm Dầu mỏ trong thời gian qua

- Trên cơ sở đó luận án đề xuất và kiến nghị một số giải pháp tích cực nhằm huy động một cách có hiệu quả các nguồn vốn ngoài doanh nghiệp cho dự

án xây dựng nhà máy sản xuất nhựa đường mà công ty sẽ thực hiện trong thời gian tới

Đề tài tập trung nghiên cứu các dự án xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh mới của Công ty Chế biến và Kinh doanh Sản phẩm Dầu mỏ từ năm 1993 đến nay Đặc biệt là dự án xây dựng nhà máy sản xuất nhựa đường và những giải pháp cụ thể nhằm huy động các nguồn vốn ngoài doanh nghiệp để tài trợ cho dự

án này của công ty

4 NHŨNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

- Khái quát hoá và góp phần làm rõ vai trò của vốn đối với các dự án đầu

tư của công ty trong nền kinh tế thị trường hiện nav ở Việt Nam

- Trình bày một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về các hình thức huy động vốn ngoài doanh nghiệp cho các dự án đầu tư mới với tổng vốn đầu tư lớn đối với các doanh nghiệp thuộc ngành dầu khí

- Đi sâu phân tích những yêu cầu cần giải quyết để huy động vốn cho các

dự án đầu tư lớn của công ty thông qua dự án xây dựng nhà máy sản xuất nhựa đường

- Đề xuất những giải pháp huy động vốn chủ yếu có tính khả thi cho dự

án xây dựng nhà máy sản xuất nhựa đường của công ty

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚƯ

Luận án sử dụng các biện pháp thu thập tài liệu thông qua nguồn thông tin cấp II bao gồm các tài liệu, số liệu cụ thể tại các thư viện, của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, Công ty PVPDC cùng một số các doanh nghiệp trong nước

và nước ngoài để phân tích, so sánh Kết quả so sánh được kiểm nghiệm thông

2

Trang 7

qua nguồn thông tin cấp I bằng cách phỏng vấn trực tiếp một số nhà quản lý có liên quan của doanh nghiệp.

Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử đồng thời kết hợp với các phương pháp phân tích và tổng họp một cách logic để làm sáng tỏ các vấn đề đặt ra cần giải quyết nhằm đề xuất được những giải pháp có tính khả thi

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 - Vai trò của vốn đối với hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp

thuộc ngành dầu khí Việt Nam

Chương 2 - Thực trạng về huy động vốn cho các dự án đầu tư của Công ty Chế

biến và Kinh doanh Sản phẩm Dầu mỏ

Chương 3 - Giải pháp huy động vốn cho dự án xây dựng nhà máy sản xuất nhựa

đường của Công ty Chế biến và Kinh doanh Sản phẩm Dầu mò

3

Trang 8

CHƯƠNG 1

VAI TRÒ CỦA VỐN Đ ố i VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU T ư CỦA

CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM

1.1 VAI TRÒ CỦA VỐN Đối VỚI s ự PHÁT TRIEN của các d o a n h n g h iệ p

TRONG NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM

1.1.1 Vốn sản xuất kinh doanh và vốn đầu tu

Vốn sản xuất kinh doanỉv Doanh nghiệp muốn hoạt động sản xuất kinh

doanh phải bắt đầu với một lượng vốn nhất định Trong kinh doanh, vốn được biểu hiện dưới hình thức các tài sản mà doanh nghiệp nắm giữ, hay nói cách khác, vốn là hình thái giá trị của toàn bộ tư liệu sản xuất, hàng hoá, tiền bạc đang được huy động và sử dụng cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn hình thành của vốn gọi là nguồn vốn

Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp thể hiện thực trạng tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Trên bảng cân đối kế toán, vốn được thể hiên ở bên tài sản có bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động, nguồn vốn được thể hiện ở bên tài sản nợ và vốn của chủ bao gồm vốn của chủ, nợ phải trả trung và dài hạn, nợ phải trả ngắn hạn

Như vậy, doanh nghiệp muốn mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh phải mở rộng được nguồn vốn, hay còn gọi là nguồn tài trợ Quy mô tài sản và kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng nguồn vốn của chính doanh nghiệp

Nguồn vốn của doanh nghiệp xét theo sở hữu có 2 loại, nguồn từ bên ngoài (vay nợ các loại) và vốn của chủ sở hữu Vốn vay từ bên ngoài được phân loại thành nguồn ngắn hạn (thời hạn dưới 1 năm) và nguồn dài hạn (thời hạn hơn

1 năm)

Vốn đầu tư: theo nghĩa rộng là khoản tiền tích luỹ của xã hội và của các

đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là số tiền tiết kiệm của dân và số tiền có thể huy động được từ các nguồn khác như liên doanh, liên kết hoặc tài trợ được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản suất xã hội nhằm tái sản xuất các tài sản

4

Trang 9

cố định bao gồm duy trì sự hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có và đổi mới bổ xung các cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các nsành hoặc các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ.

Dưới giác độ doanh nghiệp, vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn vay dài hạn từ bên ngoài và vốn của chủ sở hữu Đây là nguồn doanh nghiệp có thể sử dụng đầu tư dài hạn

Vốn nói chung không phải chỉ biểu hiện bằng tiền mặt mà còn được biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau và có thể bao ơồm các yếu tố kỹ thuật công nghệ, các nhãn hiệu thương mại Đặc biệt là đối với ngành công nghiệp dầu khí thì kỹ thuật công nơhệ hiện đại tiên tiến đóng một vai trò quan trọng và không thể thiếu

1.1.2 Vai trò của vốn đối với sự phát triển của các doanh nghiệp trong ngành Dầu khí Việt Nam

Trong những năm 1985 trở lại đây, ngành dầu khí Việt Nam đang phát triển với tốc độ nhanh trên tất cả các lĩnh vực từ các hoạt động tìm kiếm, thăm

dò, khai thác đến các hoạt động vận chuyển, tàng trữ, dịch vụ, chế biến và phân phối sản phẩm Thu nhập từ ngành dầu khí hiện nay chiếm gần 1/3 tổng giá trị sản lượng của quốc gia, cụ thể, năm 1997, thu nhập từ dầu khí là 1,5 tỷ USD Hiện nay, Việt Nam đang xếp thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á về sản lượng sản xuất dầu thô Cùng với các ngành công nghiệp khác, ngành đầu khí Việt Nam đã góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ và vững chắc của đất nước trong những năm qua Mặc dù vậy, ngành vẫn được coi là một trong các ngành công nghiệp mới, cần đầu tư phát triển để thực sự trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, có đủ năng lực cạnh tranh để có thể theo kịp sự phát triển chung của công nghiệp dầu khí trên thế giới Đặc biệt từ năm 1997, Việt Nam đã được kết nạp là một thành viên của Hiệp hội Dầu khí Thế giới

Nói đến dầu khí là người ta nói đến các công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, bởi

vì bất cứ một hoạt động nào của ngành dầu khí cũng đều cần những công nghệ

kỹ thuật tiên tiến Ví dụ như việc khoan thăm dò để tìm kiếm mỏ, xác định trữlượng, xâv dựng những dàn khoan khai thác dầu khí từ các mỏ thường nằm sâu

5

Trang 10

dưới đáv biển hàng trăm mét cần những thiết bị rất hiện đại, hay việc xây dựng nhữnơ đường ống dẫn dầu, khí từ các mỏ về đất liền, xây dựng các công trình chê biến ra các loai sản phàm khác nhau phuc vụ cho san xuat va ticu dung Tat

cả các nhiệm vụ đó chỉ có thể được thực hiện bởi những công nghệ cao, mang tính chuyên ngành riêng biệt

Có thể nói công nghệ tiên tiến là yếu tố quyết định sự tổn tại và phát triển của cônơ nơhiêp dầu khí Công nghê hiên đai va ticn ticn la chia khoa mơ cưa tiến tới sự phát triển vượt bậc của ngành, không có công nghệ thì ngành không thể thực hiện được bất cứ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào Do đó, muốn

có cônơ nghệ tiên tiến, hiện đại ngành cần phải trang bị các phương tiện, thiết bị hiện đại đổng thời phải có đủ cán bộ có khả năng và trình độ để sử dụng các phương tiện, thiết bị tiên tiến đó

Muốn đáp ứng được điều kiện trên, trước hết, ngành dầu khí cần phải có một nguồn vốn lớn để đầu tư nhập thiết bị, công nghệ từ nước ngoài Lấy ví dụ chỉ một dự án ở mỏ Bạch Hổ, muốn lấy được khí để cung cấp cho các nhà máy ở

Bà Rịa Thủ Đức và nhà máy sản xuất khí hoá lỏng (LPG) thì phải đầu tư vào hànCT lo at công trình bao cồm giàn nén khí ngoài khơi kết họp ca việc khai thac dầu và vận chuyển khí ở tại mỏ, hệ thống đường ống dẫn khí dài 108 km từ

n ơoài khơi vào đất liền, hệ thống đường ống khí trên đất liền đến Thủ Đức, nhà máy LPG tại Dinh Cô và hệ thống kho cảng xuất nhập Chi phí đầu tư để xây dưna tổnơ thể cho toàn bô dư án này nhăm khai thac được 1,5 ti m khi/nam tronơ tươm* lai, với tổng đầu tư dự kiến lên đến gần 400 triệu đôla Mỹ Trong tổnơ thể hoat đông của ngành thì dự án sử dụng khí ở mỏ Bạch Hổ chỉ là một dự

án vừa so với các dự án khác như các dự án xây dựng nhà máy lọc dầu (1,5 tỷ đôla Mỹ), dự án phát triển mỏ Lan Đỏ, Lan Tây, đường ống dẫn khí phía tây nam Chính vì vậy, nguồn vốn cần thiết cho việc thực hiện các dự án đầu tư của ngành là rất lớn và không thể thiếu

Vốn góp phần giải quyết những nhu cầu bức xúc cho việc xây dựng nền cônơ n ơhiệp Dầu khí Việt Nam phát triển một cách toàn diện, nhanh chóng và

có hiệu quả Không có vốn lớn, ngành không thể nhập được trang thiết bị kỹ thuật hiện đại phục vụ cho các công việc tìm kiêm, thăm dò ngoài khơi cũng

6

Trang 11

như khai thác các mỏ đã được phát hiện hay chế biến các sản phẩm dầu khí đã được khai thác phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng.

Nguồn vốn lớn giúp cho ngành có thể lựa chọn được những phương án đầu tư tối ưu, có tính cạnh tranh hiệu quả tạo động lực cho ngành phát triển Đầu

tư để xâv dựng thêm các công trình, nhà máy, các cơ sở sản xuất và kinh doanh, mua sắm thêm thiết bị máy móc làm tăng khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của ngành thúc đẩy sự tăng trưởng của toàn ngành Dầu khí

1 2 Đ Ầ U T Ư V Ố N T H E O D ự Á N , M Ộ T H Ì N H T H Ứ C Đ A U T Ư Q U A N T R Ọ N G C Ủ A

N G À N H D Ầ U K H Í V I Ệ T N A M T R O N G N E N k i n h t ế t h ị t r ư ờ n g

1.2.1 Khái niệm v ề dự án đầu tư

Đầu tư: Hoạt động đầu tư là một hoạt độn 2 mang tính tất yếu khách quan

của các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế Đứng trên những giác

độ khác nhau thì có nhữns khái niệm khác nhau về đầu tư

Đứns trên góc độ lợi nhuận để xem xét thì đầu tư là đem một khoản tiền nhất định đã tích luỹ được sử dụns vào một hoạt độn2 sản xuất kinh doanh nhất định nhằm đem lại một khoản tiền có giá trị lớn hơn Hay nói cách khác đầu tư

là sử dụns tiền vào mục đích sinh lợi Tính sinh lợi là đặc trưng hàng đầu của đầu tư

Quá trình sử dụng vốn đầu tư về bản chất chính là quá trình thực hiện chuyển hoá vốn bằng tiền (vốn đầu tư) thành vốn hiện vật để tạo nên những yếu

tố cơ bản của sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt Quá trình này còn được gọi là hoạt động đầu tư hay đầu tư vốn

Như vậy, hoạt độn2 đầu tư là một lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế, là

quá trình sử dụng vốn đầu tư nhằm duy trì tiềm lực sẵn có hoặc tạo ra tiềm lực lớn hơn cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt đời sống

Dự án đầu tư: có thể xem xét dự án đầu tư dưới nhiều góc độ và do vậy

cũng có nhiều quan điểm khác nhau về dự án đầu tư Xét theo nghĩa rộng, dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo nhữn2 đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải

7

Trang 12

tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian nhất định.

Nói một cách chung nhất, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau, được kế hoạch hoá nhằm đạt cầc mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định.

* Xét về mặt hình thức, dự án đầu tư được thể hiện trong một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một

kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai Tập hồ sơ đó còn được gọi là luận chứng kinh tế kỹ thuật

* Xét về mặt quản lý dự án, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụnơ vốn vật tư, lao động để tạo ra các kết quả kinh tế tài chính trong một thời gian dài.

* Xét trên góc độ kể hoạch hoá, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế

Yã hôi làm tiền đề cho các quyêt dinh đầu tư và tài trơ Dư án đâu tư là một hoạt độnơ kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.

Một dự án đầu tư bao giờ cũng phủi thể hiện được 4 thành phần chính như sau:

- Các mục tiêu của dự án bao gồm: mục tiêu phát triển là những lợi ích kinh tế, xã hội do thực hiện dự án đem lại và mục tiêu trước mắt là các mục đích

cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án Mục tiêu tài chính của dự án là nhằm đạt được tỷ lệ sinh lời trên vốn tự có hoặc vốn đầu tư, mức tăng tiền lòi phải chia, sửa đổi cơ cấu tài chính

- Các kết quả: là những kết quả cụ thể, có định lượng, được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu của dự án v ề mặt tài chính, các kết quả được thể hiện bằng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi thực hiện dự án.

- Các hoạt động: là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong

dự án để tạo ra các kết quả nhất định Những nhiệm vụ hoặc hành dộng này

Trang 13

cùnơ với một kế hoạch và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án Các hoạt động tài chính bao gồm các hoạt động có liên quan đến vấn đề huy động, quản lý và sử dụng nguồn vốn huy động được trong việc thực hiện dự án.

- Các nguồn lực: về vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần thiết cho dự án.

Trong 4 thành phần trên thì các kết quả được coi là cột mốc đánh dấu tiến

độ của dự án, các nguồn lực là điều kiện cần thiết và quan trọng để thực hiện dự

án V ì vậy, trong quá trình thực hiện dự án phải thường xuyên theo dõi các đánh giá kết quả đạt được, những hoạt động nào có liên quan trực tiếp đối với việc tạo

ra các kết quả được coi là hoạt động chủ yếu và phải được đặc biệt quan tâm Cũng tương tự, đối vói các nguồn lực của dự án cần phải có sự quan tâm quản lý, theo dõi chặt chẽ để có các biện pháp huy động và sử dụng có hiệu quả, tránh lãng phí, thất thoát.

1.2.2 P h à n loại d ự á n đ ầ u tư

Đầu tư được xếp thành 4 loại:

- Đầu tư vào tài sản cố định hữu hình: đầu tư đổi mới tài sản cố định, đầu

tư phát triển (mua sắm tài sản cố định mới, vật tư )

- Đầu tư vào tài sản cố định vô hình: mua phát minh, sáng chế, mẫu mã, bản quyền.

- Đầu tư vào tài sản cố định tài chính: mua trái phiếu, cổ phiếu, cho vay dài hạn

- Đầu tư cho nhu cầu vốn lưu động.

Dự án đầu tư có thể được phân loại dựa trên các nội dung nói trên của hoạt động đầu tư và nhằm mục đích thuận tiện cho công tác quản lý dự án đầu tư của từng ngành, cấp nhất định Thông thường, dự án đầu tư được phân loại theo những tiêu thức sau:

Theo lĩnh vực hoạt động dự án đầu tư được phân loại gồm các dự án đầu

tư phát triển sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, dự

án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

Trang 14

Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư, dự án đầu tư được chia thành dự án đầu tư cơ bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định và dự án đầu tư vận hành nhằm tạo ra các tài sản lưu động cho các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ mới hình thành.

Theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội, dự án đầu tư được chia thành

- Dự án đầu tư thương mại là loại dự án có thòi hạn đầu tư ngắn, vốn vận động nhanh, độ rủi ro thấp, dễ dự đoán, dự đoán dễ đạt độ chính xác cao.

- Dự án đầu tư sản xuất là loại đầu tư dài hạn, vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ rủi ro cao, tính chất kỹ thuật của hoạt động đầu tư phức tạp khó dự đoán chính xác.

* Theo tính chất và quy mô của dự án đầu tư, để phục vụ cho việc phân cấp quản lý các dự án đầu tư ở Việt Nam của các đơn vị chức năng một cách thuận lợi, dự án đầu tư được phân thành 3 nhóm A, B, c Mỗi một nhóm dự án

có mức độ quan trọng khác nhau đối với sự nghiệp chính trị, an ninh quốc gia cũng như những ngành nghề thuộc các lĩnh vực quan trọng và theo quy mô vốn của từng dự án.

Đối với mỗi loại dự án đầu tư khác nhau có những hình thức huy động vốn khác nhau Các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh dài hạn, vốn lớn thường sử dụng nguồn tài trợ dài hạn và được huy động từ nhiều nguồn Các dự

án đầu tư thương mại ngắn hạn, vốn ít, độ rủi ro thấp được sử dụng nguồn tài trợ ngắn hạn hoặc nguồn tự tài trợ.

1 2 3 V a i t r ò q u a n t r ọ n g c ủ a v i ệ c đ ầ u t ư t h e o d ự á n đ ố i v ớ i s ự p h á t t r i ể n c ủ a

n g à n h d ầ u k h í

1.23.1 Đặc điểm của ngành dầu khí Việt Nam

Đơn vị đầu tiên có liên quan mật thiết đến sự hình thành và phát triển ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam là Đoàn địa chất 36, trực thuộc Tổng cục Địa chất, được thành lập từ năm 1961 nhằm thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm thăm

dò dầu khí Sau hơn 37 năm đến nay, từ một đơn vị nhỏ bé đã phát triển nhanh chóng trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, nhưng ngành công nghiệp dầu khí vẫn được coi là rất mới ở Việt Nam Trải qua nhiều lần thay

Trang 15

đổi tổ chức, từ tháng 5/1992 Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam trở thành một doanh nghiệp nhà nước theo mô hình Tổng công ty 91, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ và có tên giao dịch quốc tế là Petrovietnam.

Với vai trò là một ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, ngành Dầu khí Việt Nam mang những đặc điểm riêng biệt, nổi bật sau:

Thứ nhất, về công nghệ: dầu khí là một ngành công nghiệp mang tính đặc thù, tính chuyên ngành cao và đòi hỏi sử dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại trong tất cả các khâu từ tìm kiếm, phát hiện, chế biến, kinh doanh Những công nghệ và trang thiết bị hiện đại đó không phải tự nhiên có được mà ngành cần phải nhập khẩu từ nước ngoài.

Thứ hai, là một ngành công nghiệp mới được hình thành và phát triển nên

cơ sở vật chất phục vụ sản xuất và kinh doanh còn rất ít ỏi, chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất, kinh doanh mà ngành đặt ra, đặc biệt là các nhu cầu sản xuất, kinh doanh ở khâu hạ nguồn Chính vì vậy, ngành cần phải tập trung đầu tư vào việc xây dựng các cơ sở vật chất kinh doanh này Số lượng các dự án đầu tư mà ngành đặt ra là rất nhiều và chủ yếu tập trung vào việc xây dựng các cơ sở vật chất kinh doanh.

Thứ ba, các dự án đầu tư không chỉ nhiều về số lượng mà còn rất đa dạng

về công nghệ, có thể nói mỗi một dự án có một giải pháp công nghệ riêng phục

vụ cho việc xây dựng và vận hành sản xuất ra sản phẩm đó Các công nghệ phục

vụ cho dự án đều là những công nghệ hiện đại, tiên tiến cho nên nguồn vốn cần thiết để có được các công nghệ tiên tiến cho các dự án đó rất lớn.

Thứ tư, do có sự khác nhau về công nghệ nên mỗi một dự án có những đặc điểm riêng đặc trưng và do đó có những nhu cầu riêng về vốn và đối tác, vì vậy, có thể có các hình thức huy động vốn khác nhau cho mỗi dự án.

Thứ năm, các dự án đầu của ngành chủ yếu là các dự án thuộc loại đầu

phát triển sản xuất kinh doanh và là dự án đầu dài hạn có vốn đầu lớn, thu hổi vốn chậm, thời gian thực hiện đầu lâu Đây là đặc điểm chung bao

Tóm lại, với các đặc điểm nêu trên, để đáp ứng yêu cầu bức xúc của ngành trong việc thực hiện các dự án là giải quyết các vấn đề về vốn Mặc dù

Trang 16

nhu cầu về vốn rất cao, nhưng do mới được thành lập nguồn vốn cấp cho ngành

từ nsuồn ngân sách nhà nước còn rất hạn chế, lợi nhuận và doanh thu có được

do việc xuất khẩu các sản phẩm dầu khí không chỉ phục vụ cho sự hoạt động và phát triển của riêng ngành mà còn phải phục vụ các ngành kinh tế khác của đất nước cũn2 như các nhu cầu về chính trị, xã hội.

Chính vì vậy, nguồn vốn để cung cấp cho các hoạt động dầu khí là một vấn đề quan trọng và cấp thiết, thúc đẩy sự phát triển của ngành nói riêng và sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung.

1.2.3.2 Vai trò của dự án đối với sự phát triển của các doanh nghiệp trong ngành dầu khí

Số lượng dự án đầu tư nước ngoài vào ngành dầu khí trong những năm qua chiếm một tỉ lệ đáng kể Tính đến năm 1996 nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào nsành-cône nơhiệp dầu khí chiếm 4.6% trong tổng số vốn đầu tư vào các neành cônư nehiệp của đất nước Theo tổng kết của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam kể từ năm 1988 đến nay, đầu tư cho các hoạt động dầu khí ờ Việt Nam n 2 ày cànư chiếm ti trọnư cao Nếu như năm 1988 tổng đầu tư là 4 triệu USD, đến năm 1989 con số đó đã tăng lèn gấp hon 11 lẩn với tổng chi phí là 45 triệu, năm 1990 tăn2 lên đến 105 triệu, 1993 là 397 triệu, năm 1996 là 600 triệu.

Đ ầu tư cho các h o ạt động d ầ u k h í giai đoạn 1988 - 1996

Trang 17

Mặc dù có những yêu cầu cấp bách cho sự phát triển của ngành dầu khí Việt Nam, nhưng do nguồn ngân sách nhà nước cấp để thực hiện dự án đầu tư của ngành còn hạn hẹp, do đó ngành không thể đầu tư một cách rộng rãi tràn lan

mà cần phải đầu tư có trọng điểm Chính vì vậy, việc nghiên cứu để đề xuất các

dự án đầu tư nhằm mục đích đưa ra các quyết định đầu tư một cách chính xác và

có hiệu quả là một công việc vô cùng quan trọng Nó quyết định sự thành công hay thất bại trong việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược của ngành cũng như góp phần làm cho ngành phát triển một cách mạnh mẽ.

Thực hiện dự án đầu tư có thể đem lại những kết quả tốt trong kinh doanh

Hai là: Tính kiểm tra, dự án đã lập chứa đựng các thông tin, dữ liệu tính toán dự kiến cho tương lai bao gồm các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các dự kiến về tài chính Vì vậy nó được sử dụng như là một công cụ để kiểm tra quá trình thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định đã được dự kiến trước.

Ba là: Tính định hướng, dự án cũng đưa ra các phương án và các giải pháp kinh doanh có tính chất định hướng như phải làm gì, bằng cách nào, chi phí hết bao nhiêu, kết quả sẽ là những gì, trong thời gian bao lâu, vào thời điểm nào V ì vây, có thể coi dư án là kim chỉ nam cho các hoạt động nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đã được xác định.

Bốn là: Dự án xây dựng các phương án kinh doanh, phương án áp dụng

kỹ thuât công nghê, phương án sử dung nguồn nhân lực và tài chính vào mục đích sản xuất kinh doanh Nó được coi là kế hoạch đặt ra để công ty hướng các hoạt động cụ thể của mình nhằm thực hiện được các phương án đó.

Thực hiên nhiệm vụ sản xuất kinh doanh thông qua từng dự án cho phép từng bước nâng cao trình độ quản lý của cán bộ công nhân viên của các đơn vị

Trang 18

tronơ nơành Thông qua đó nó cũng góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội ơiảm bớt tỉ lệ thất nghiệp của đội ngũ đến tuổi lao động không có công ăn việc làm và nâng cao trình độ dân trí.

Ngoài ra, việc đầu tư theo dự án cho phép sử dụng một nguồn vốn nhất định vào mục đích sản xuất kinh doanh nhất định để tạo ra một kết quả kinh doanh tối ưu Việc huy động vốn theo dự án có thể được thực hiện từ nhiều nguồn khác nhau một cách đa dạng, linh hoạt và là điều kiện cơ bản của sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp thuộc ngành dầu khí Việt Nam.

Thông qua các hoạt động đầu tư để thực hiện chương trình kế hoạch sản xuất kinh doanh chiến lược của ngành, thực hiện các mục tiêu phát triển của doanh nghiệp, có lợi nhuận, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế của ngành nói riêng và của đất nước nói chung Góp phần xây dựng một nền công nghiệp dầu khí Việt Nam phát triển một cách toàn diện, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước Đây cũng là mục tiêu quan trọng, chủ yếu và cao nhất của ngành.

1.2.4 C ác h ìn h th ứ c huy động vốn cho dự án đầu tư

1.2.4.1 Đặc điểm của tài trợ dự án

Các dự án cần có sự tài trợ từ các nguồn dài hạn thường là những dự án có vốn đầu tư lớn, thời gian thực hiện dự án dài Chính vì vậy, tài trợ vốn cho những

dự án này mang những đặc điểm chung sau:

Vốn lớn: nguồn vốn tài trợ cho các dự án này thường lớn, do vậy tìm kiếm được nguồn vốn lớn để tài trợ cho các dự án này gập nhiều khó khăn bởi nguồn vốn hạn hẹp đối với một số các nhà tài trợ nhất định Nhà đầu tư cần phải huy động vốn từ nhiều nguồn, hoặc nếu huy động từ một nguồn vay thì nhà tài trợ cần phải liên kết với nhau tập trung vốn để tài trợ cho dự án.

Thời gian dài: thời gian để thực hiện dự án rất dài, do đó tài trợ nguồn vốn lớn trong thời gian dài có thể gặp rủi ro bởi tỉ lệ lãi suất cố định trong suốt thời gian tài trợ cho dự án Rủi ro đến vói nhà đầu tư khi trong tương lai tỉ lệ lãi suất tiền vay trên thị trường giảm, trong trường hợp ngược lại, rủi ro đến với nhà tài trợ Chính vì vậy, việc đàm phán cho tài trợ dài hạn thường được cả 2 bên xem xét rất kỹ lưỡng.

Trang 19

Không th ể yêu cầu th ế chấp-, đối với tài trợ dự án nhà tài trợ bao gồm các nơân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng không thể yêu cầu nhà đầu tư thế chấp bằnơ tài sản bởi vì các dự án đầu tư mới chưa tạo ra ngay được tài sản để thế chấp.

Nhà tài trợ cho vay dựa vào tính khả thi (phân tích luồng tiền dự tính): chính vì không có tài sản thế chấp nên các nhà tài trợ phải dựa vào tính khả thi của chính dự án đó để ra quyết định tài trợ Tính khả thi đó chính là luồng tiền

dự kiến thu được trong tương lai Do luồng tiền này chỉ là các dự tính trong quá trình lập dự án nên việc thẩm định dự án để đánh giá hiệu quả đầu tư và ra quyết định tài trợ dự án là một công việc rất quan trọng và cần thiết.

Vốn đầu tư phải được thực hiện theo tiến độ ghi trong dự án để đảm bảo tiến độ thực hiện các công việc chung của dự án cũng như tránh ứ đọng vốn gây lãn °- phí Do vậy, các nguồn tài trợ được xem xét không phải chỉ về mặt số lượng

mà còn về cả thời điểm nhận tài trợ Sự đảm bảo này phải có cơ sở pháp lý và cơ

sở thực tế.

12.4 2 Các hình thức huy động vốn cho dự án đầu tư

Việc lựa chọn hình thức huy động vốn cho dự án đầu tư chính là việc lựa chọn và tìm kiếm nguồn tài trợ Các nguồn tài trợ cho dự án có thể là ngân sách cấp phát ngàn hàng cho vay, vốn góp cổ phần, vốn liên doanh do các bên liên doanh góp vốn tự có hoặc vốn huy động từ các nguồn khác Các nguồn tài trợ cho dự án đầu tư được phân thành nguồn tự tài trợ và nguồn vốn từ bèn ngoài 1.2.4.2.1 Tự tài trợ

Dự kiến nguồn tự tài trợ phụ thuộc vào lợi nhuận tương lai đã dự kiến, khấu hao dự kiến, chính sách phân chia lợi nhuận được lập sẵn.

Đối với công ty PVPDC huy động vốn tự tài trợ thông qua nguồn nội bộ trong ngành Dầu khí bao gồm

* Từ nguồn ngân sách nhà nước (thông qua Tổng Công ty)

Nguồn ngân sách nhà nước là nguồn vốn được nhà nước duyệt chi cho phát triển kinh tế Mỗi doanh nghiệp nhà nước đều được cấp một lượng vốn nhất định trong nguồn ngân sách để phát triển nhiệm vụ kinh doanh mà nhà nước ơịao cho Đối với các Công ty thành viên trực thuộc ngành Dầu khí, nguồn vốn

Trang 20

này được phân chia từ nguồn vốn tập trung mà Tổng Công ty được trích lại từ việc bán dầu thô và khí Thông thường nguồn vốn này chiếm một tỉ trọng lớn để hình thành nên các doanh nghiệp nhà nước, song so với nhu cầu phát triển kinh doanh ngày càng cao của các doanh nghiệp thì nguồn vốn này không đủ khả năng đáp ứng, đặc biệt là các dự án lón trong sản xuất kinh doanh.

* Từ nguồn vốn tự có của doanh nghiệp

Nguồn vốn tự có của doanh nshiệp được hình thành trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn này được hình thành do việc trích khấu hao cơ bản và phần lợi nhuận còn lại để bổ sung vào vốn kinh doanh Trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, nguồn vốn này chỉ đủ để đầu tư cho các

dự án kinh doanh nhỏ, ngắn hạn, nhanh có lãi phục vụ cho các hoạt động hiện hành của doanh nghiệp và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh Đối với những

dự án đầu tư lớn, dài hạn, mang tính chiến lược, tổng số vốn đầu tư lớn thì nguồn này cũng không đủ khả năng đáp ứng.

Vì vậy, để có thể huy độn2 vốn cho các dự án đầu tư lớn, các doanh nghiệp nhà nước khôn2 thể thụ động trông chờ vào nguồn ngân sách của nhà nước cũng như khả năng có hạn về nguồn vốn tự có của mình mà cần phải thực hiện nhữnơ chính sách, chiến lược huy động vốn từ các nguồn khác ngoài doanh nghiệp.

1.2.4.2.2 Nơuồn vốn bên ngoài

Vốn bên ngoài có thể được huy động thông qua việc tăng vốn, phát hành tín phiếu, vay dài hạn hoặc trung hạn, tín dụng thuê'mua

Các hình thức huy động vốn bên ngoài hiện nay bao gồm:

Vay vốn tín dụng

Tín dụng ngân hàng và những món nợ ngắn hạn khác cũng được sử dụng thường xuyên để huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

Nó là một khoản cho vay được thương lượng giữa một công ty và những ngân hàng, thường là những ngân hàng thương mại với mức lãi suất nhất định và trong một thời gian nhất định.

Để có thể vay được vốn từ các tổ chức này, doanh nghiệp đi vay phải đáp ứng được những điều kiện ràng buộc nhất định theo các quy định bắt buộc như

Trang 21

phải có tài sản thế chấp, có bảo lãnh, phải trả lãi suất Các tổ chức này cho vay theo 3 loại ngắn hạn, trung hạn, dài hạn Đối với dự án đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kinh doanh có vốn đầu tư lớn thì cần phải áp dụng hình thức vay trung hạn

và dài hạn.

Đây là một trong những hình thức huy động vốn quan trọng góp phần tạo vốn cho dự án đầu tư Vay vốn tín dụng có ưu điểm là khi có đủ các điều kiện theo yêu cầu thì việc huy động vốn được tiến hành một cách nhanh chóng và thuận lợi Nếu dự án có tỉ suất lợi nhuận cao thì hình thức huy động vốn này có lợi hơn các hình thức gọi vốn cổ phần, trái khoán Tuy nhiên, đối với dự án mới thì doanh nghiệp đi vay gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là những dự án có quy

mô đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm thì hình thức vay vốn này là một gánh nặng cho dự án Với mức tín dụng lớn, các ngân hàng Việt Nam khó có dử nguồn vốn cho vay, các ngân hàng nước ngoài lo sợ rủi ro tín dụng nên thường phải liên kết lại với nhau làm cho việc đàm phán hợp đồng vay vốn gặp nhiều khó khăn.

Liên doanh

Đây là một hình thức liên kết kinh tế có quy mô tổ chức và hoạt động chặt chẽ nhằm thực hiện một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kết hợp tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, nghiên ciru khoa học trên cơ sở phân định rõ quyền và nghĩa vụ của mỗi bên thông qua hợp đồng liên doanh Các bên liên doanh sẽ cùng nhau góp vốn theo một tỷ lệ thoả thuận để thành lập nên một doanh nghiệp và cùng chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng của hoạt động kinh tế Hoạt động của liên doanh được tuân theo nguyên tắc tự chủ tài chính và các bên tham gia liên doanh cùng tham gia điều hành, quản lý các cơ sở này theo luật pháp Việt Nam thông qua việc cử người vào hội đồng quản trị Lợi nhuận được phân chia theo tỉ

lệ góp vốn.

Theo luật đầu tư nước ngoài, nếu công ty liên doanh có bên nước ngoài tham gia thì tỉ lệ đóng góp vốn thấp nhất của các bên Việt Nam không được thấp hơn 30% trừ những truờng hợp dự án đầu tư đặc biệt có thể thấp đến 20% tổng vốn góp.

Trang 22

Xảy dựng, kỉnh doanh, chuyển giao (BOT)

Hợp đồng xây dựng, kinh doanh, chuyển giao là văn bản ký kết giữa chủ đầu tư và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xây dựng các công trình hạ tầng như cầu đường, sán bay, bến cảng, nhà máy điện tại Việt Nam Hợp đồng BOT được thực hiện bằng 100% vốn nước ngoài hoặc bằng vốn nước ngoài cùng với vốn của Chính phủ Việt Nam, các tổ chức, cá nhân Việt Nam Các chủ đầu tư này chịu trách nhiệm tổ chức xây dựng, kinh doanh công trình trong một thời sian đủ để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý Sau đó nó có nghĩa vụ chuyển

ơi ao toàn bộ công trình đó cho nhà nước Việt Nam mà không thu bất kỳ một khoản tiền nào.

Huy động vốn thông qua hình thức này là một biện pháp hữu hiệu đối với quốc gia và các dự án BOT thường được hưởng các ưu đãi về thuế, giá, phí thu nhập Tuy nhiên, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đối với các dự án BOT còn chưa được chặt chẽ và cụ thế nên rất ít các dự án được thực hiện theo hình thức này.

Họp đổng họp tác kinh doanh (BCC)

Là hình thức dầu tư trực tiếp cùa nước ngoài vào một dự án đầu tư cụ thể Hợp đổng hợp tác kinh doanh là một loại văn bản ký kết giữa 2 bên hoặc nhiều bên để cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh ở Việt Nam trên cơ sở trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập một pháp nhân Sau khi kết thúc hợp đồng mỗi bên lại được nhận phần vốn của mình theo tỉ lệ đã đóng góp.

Hình thức huv động vốn này cho phép các dự án dược tiến hành một cách nhanh chóng, năng động Tuy nhiên nó chỉ thích hợp với các dự án nhỏ, lãi suất cao, thời gian hoàn vốn nhanh.

Phát hành cô phiếu

Là hình thức huy động vốn dài hạn và là xu hướng phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai Huy động vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu cho phép công ty huy động được nguồn vốn lớn thông qua tất cả các nguồn vốn có thể có trên thị trường Vốn huy động của công ty được phân chia thành từng phần bằng nhau gọi là cổ phần, công ty huy

Trang 23

động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu và bán trên thị trường, cổ phiếu là chứng chỉ về quyền sở hữu đối với một số phần vốn bằng nhau (cổ phần) của vốn công ty Người sở hữu cổ phiếu được gọi là cổ đông, cổ đông có quyền sở hữu đối với một phần công ty theo luật định, cổ đông có quyền tham gia đại hội

cổ đônc (nếu sở hữu cổ phiếu thường) bầu hội đồng quản trị và quyết định các vấn đề có tính chất chiến lược của công ty, được quyền nhận lãi theo cổ phần (cổ tức) Theo quyền hạn và lợi ích được hưởng, cổ phiếu được chia thành cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.

Người sở hữu cổ phiếu không có quyền nhận lại số tiền đã đầu tư vào công ty nhưng có thể bán nó trên thị trường chứng khoán để thu tiền về nếu thấy

có lợi.

Vốn được huy động bằng hình thức này không bị coi là khoản nợ của công ty mà được coi là vốn tự có Chính vì vậy, công ty có uy tín lớn hơn và áp lực trả nợ các khoán vay là rất thấp vì công ty chỉ phải trả cổ tức khi có lợi nhuận.

Phát hành trái phiếu công ty

Trái phiếu là khoán nợ dài hạn của công ty, thời hạn của trái phiếu thường lớn hơn 1 năm kể từ ngày phát hành Trái phiếu là một chứng từ nhận nợ trong

dó người phát hành nợ người mua (người sở hữu) Thông thường, người phát hành trái phiếu (công ty) phải trả lãi hàng năm và hoàn trả gốc vào năm cuối cùng Vào cuối kỳ hạn toàn bộ các khoản nợ còn lại phải được trả hết Các khoản nợ có thể được hoàn trả trước thời hạn bằng một lệnh thu hồi (call) hay có thể nói cách khác là các trái phiếu này có thể được các công ty mua lại trước kỳ hạn theo giá đã được thoả thuận ngay khi trái phiếu được phát hành.

Thuê mua

Thoả thuận thuê mua là một hợp đổng giữa hai hay nhiều bên, liên quan đến một hay nhiều tài sản Người cho thuê chuyển giao tài sản cho người độc quyền sử dụng trong khoảng thời gian nhất định Đổi lại, người thuê phải trả một số tiền cho chú tài sản tương xúng với quyền sử dụng và quyền hưởng Thuê tài sản gồm: thuê tài chính, thuê hoạt động, bán và thuê lại, thuê trực tiếp và thuê "đòn bẩy"

Trang 24

ưu điểm của thuê tài sản là giảm bớt rủi ro và tăng sự chắc chắn, là con đường tài trợ vốn 100%, lợi ích kỹ thuật, vận hành và bảo dưỡng, chi phí giao dịch thấp, dễ di chuyển vốn, ngành đầu tư kinh doanh, tránh nhiều bất lợi trong điều kiện môi trường chính trị, kinh tế, xã hội, quốc tế gặp nhiều khó khăn.

1.2.5 Điều k iện đê d ự án có th ê n h ậ n được các nguồn tài tr ợ ngoài d o a n h

n g h iệ p

Dự án đầu tư có một ý nghĩa to lớn đối với quá trình hoạt động đầu tư, nó

là căn cứ quan trọng để các doanh nghiệp, cá nhân, đối tác, các tổ chức tài chính quyết định sự góp vốn đầu tư, tài trợ đầu tư cũng như là cơ sở để xây dựng các kế hoạch cụ thể, chi tiết thực hiện đầu tư Ngoài ra, dự án đầu tư còn là căn cứ xây dựng các hợp đồng kinh doanh như hợp đổng xây dựng, hợp đổng cung cấp thiết bị, hợp đổng tiêu thụ đổng thời là cơ sở để các bên có liên quan giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện dự án.

Chính vì vậy, một dự án muốn thu hút được nguồn vốn rộng lớn từ bên ngoài doanh nghiệp thì nó phải đáp ứng được các vêu cầu sau:

Thứ nhất: dự án phải có tính pháp lý, đó là dự án đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt Các dự án này phải là những dự án phù hợp với chính sách phát triển kinh tế và định hướng đầu tư cùa nhà nước nói chung và của ngành dầu khí nói riêng Để có thể đáp ứng các vêu cầu về mặt pháp lý của dự

án thì trước hết dự án phải được nghiên cứu và xây dựng theo các nội dung yêu cầu mà các cơ quan chức năng đặt ra.

Thứ hai: dự án phải có tính thực tiễn và có lợi ích kinh tế Đây là điều kiện và cũng là yêu cầu bắt buộc để có thể huy động được nguồn tài trợ tài chính

từ bên ngoài doanh nghiệp Các nhà tài trợ cho dự án chỉ chấp nhận cung cấp nguồn tài chính khi dự án chứng minh được nó sẽ được thực hiện và đem lại nguồn lợi nhuận nhất định Muốn thế, dự án cần phải được nghiên cứu và thành lập trong hoàn cảnh cụ thể với tất cả các điều kiện xác thực.

Thứ ba: dự án phải được hoàn thành theo dự toán đầu tư xác định đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt Dự án muốn được tiến hành trôi chảy thì cần phải tính toán được nhu cầu về vốn và tình hình sử dụng vốn khi dự án đi vào hoạt động, tính toán được giá thành sản phẩm Muốn tính toán một cách chính

Trang 25

xác như vậy thì đòi hỏi cán bộ nghiên cứu và lập dự án phải có kinh nghiệm lập

dự án cũng như có kiến thức tổng hợp nhất định về mặt kinh tế, kỹ thuật cũng như hiểu biết về sản phẩm mà dự án sẽ sản xuất.

Thứ tư: dự án phải đảm bảo vận hành được theo công suất đã thiết kế Điều đó có nghĩa là tất cả các điều kiện về kỹ thuật, nhà vận hành, bảo dưỡng, nơuồn cung ứng nguyên vật liệu đầy đủ cũng như các nguồn tiêu thụ đảm bảo cho việc vận hành theo công suất đã tính toán.

Thứ năm: nguồn doanh thu có thể có trong tương lai có khả năng bù đắp được các chi phí vận hành và đáp ứng yêu cầu về dịch vụ nợ.

Thứ sáu: dự án phải có bản luận chứng kinh tế kỹ thuật với phương pháp lập và phương án kỹ thuật, kinh tế thống nhất, có sức thuyết phục, đáng tin cậy

và tuân theo nhũng thông lệ quốc tế.

N«oài ra để đảm bao cho dư án được thực hiện thuận lợi, tiềm lực tài chính cho dự án đầu tư cần phai đạt được chỉ tiêu sau:

- Hê s ố vốn tư c ó so v ó i vốn vay: hê sô này phai > 1 Đôi VỚI cac dự an co triển vọns hiệu quả thu được là rõ ràng thì hệ số này có thể nhỏ hơn 1, vào khoảng 2/3 thì dư án thuận lợi.

- Tỷ trọns vốn tự c ó trong vốn đầu tư phải > 50% đối với các dự án có triển VỌI1ÍI, hiệu quả rõ rànsi thì tỷ trọng này có thê là 40%.

- Tỷ lệ giữa tài sản lưu động có so với tài sản lưu động nợ bằng 2/1 hoặc 4/1 thì dự án thuận lợi.

- Tỷ lệ giữa vốn lưu dộng và nợ ngắn hạn phải > 1.

- Tỷ lệ giữa tổng thu từ lợi nhuận thuần và khấu hao so với nợ đến hạn phải trả phải > 1.

Các chỉ tiêu trên đây thường được áp dụng cho các dự án đầu tư nói chung Đối với các dự án thuộc ngành dầu khí nói riêng, nếu tiềm lực về mặt tài chính có thể thoả mãn được các chỉ tiêu trên thì việc huy động vốn cho các dự

án đầu tư đó sẽ gặp nhiều thuận lợi và độ rủi ro thấp Tuy nhiên, trong thực tế các chỉ tiêu này rất khó đạt được và chính vì vậy, việc huy động vốn cho các dự

án đầu tư của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam mang những đặc điểm riêng biệt

sẽ được đề cập đến ở sau.

Trang 26

CHƯƠNG 2

T H Ự C T R Ạ N G HUY Đ Ộ N G V ố N C H O C Á C D ự ÁN Đ A U T ư CỦA

C Ô N G TY C H Ế B IẾ N VÀ K IN H D O A N H

SẢN P H Ẩ M DẦU M ỏ

KINH DOANH ĐẾN NĂM 2010 VÀ Dự ÁN XÂY DỰNG NHÀ MÁY SẢN XUẤT NHựA ĐƯỜNG

2.1.1 Giới th iệ u ch u n g về C ông ty C h ế biến và K inh d o a n h s ả n p h ẩ m D ầu

Sau khi sáp nhập (1995), các phòng ban của công ty được tổ chức lại theo

mô hình tổ chức mới phù họp với chức năng nhiệm vụ mới của công ty bao gồm các phòng chức năng như: Phòng Tổ chức hành chính nhân sự, Phòng Kinh doanh, Phòng Tài chính kế toán, Phòng Kế hoạch, Phòng Dự án Ngoài ra, công

ty còn xâv dựng thêm 2 xưởng sản xuất dầu nhờn, đưa tổng số xưởng vào hoạt động sản xuất lên 3 xưởng, trong đó 2 xưởng ở miền Nam có công suất 20.000 tấn/năm, 1 xưởng ở miền Bắc có công suất 10.000 tấn/nãm Hiện nay, ngoài trụ

sở chính của Công ty ở Hà Nội, Công ty còn mở thêm 2 chi nhánh trong miền Nam, một chi nhánh đặt tại thành phố Hồ Chí Minh và một chi nhánh tại Cần Thơ.

Kể từ khi sáp nhập đến nay, ngoài việc nghiên cứu và thực hiện các dự án chiến lược với mục đích phát triển lâu dài trong tương lai, công ty đang tiếp tục

Trang 27

thưc hiên các mục tiêu kinh doanh trước mắt nhằm tạo ra nguồn doanh thu ổn định cho sự tồn tại và phát triển của mình Vì vậy, bên cạnh sản phẩm truyền thốnơ của mình là dầu mỡ nhờn công ty còn tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh sanơ các loại sản phẩm khác như các dịch vụ cung cấp thiết bị cây xăng, các dịch vụ thiết kế, cùng các sản phẩm khác thuộc lĩnh vực dầu khí.

Hiện nay, các sản phẩm nói trên của công ty chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và cho các ngành công nghiệp khác trên thị trường Việt Nam.

Cônơ ty hiện là thành viên hạch toán độc lập trực thuộc sự quản lý của Tổnơ Cônơ ty Dầu khí Việt Nam và có tên giao dịch quốc tế là

P E T R O V IET N A M O IL PRO CCESIN G AND D ISTRIBU TIO N COM PANY viết tắt là PVPDC Công ty được Tổng Công ty cấp một phần vốn và nguồn lực của nhà nước giao cho sau khi điều chỉnh phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình cũnư như được quyền huy động vốn và các nguồn tín dụng khác theo pháp luật để thực hiện kế hoạch kinh doanh và đầu tư phát triển của mình Công ty được hình thành các quỹ theo quy chế tài chính của Tổng công ty và có nơhĩa vụ trích nộp, đóng góp và được thụ hưởng các quỹ tập trung của Tổng Côns ty theo quy định của Điều lệ Tổng Công ty và theo các quyết định của Hội đồns Quản trị.

2.1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ

Là một đơn vị thành viên hạch toán độc lập có quan hệ mật thiết về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, cung ứng, tiêu thụ, dịch vụ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động trong ngành dầu khí, Công ty Chế biến và kinh doanh các sản phẩm dầu mỏ được Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam giao cho các chức năns và nhiêm vụ hỗn hợp bao trùm các hoạt động ở khâu hạ nguôn.

Các nhiệm vụ của công ty bao gồm nghiên cứu, xây dựng và vận hành các

cơ sở chế biến sản xuất phục vụ cho các hoạt động phân phối kinh doanh các sản phẩm dầu mỏ cũng như tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, phân phối Chức năng và nhiệm vụ đó của Công ty PVPDC được quy định một cách

cụ thể trong quyết định số 196/BT ngày 16/02/1996 của Thủ tướng Chính phủ, Hội đổng Quản trị của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam và bao gồm:

Trang 28

- Tổ chức và thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực chế biến và kinh doanh sản phẩm dầu mỏ.

- Tham gia thực hiện các dự án lọc dầu, hoá dầu của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam hoặc do Tons Công ty Dầu khí Việt Nam liên doanh, hợp tác với nước ngoài tổ chức triển khai công tác xây dựng và vận hành các nhà máy lọc dầu và hoá dầu.

- Xây dựns các hệ thống phân phối và kinh doanh sản phẩm dầu mỏ, bao gồm: căn cứ tiếp nhận, tồn chứa, bảo quản, vận chuyển, phân phối và mạng lưới kinh doanh sản phẩm dầu mỏ.

- Tổ chức và thực hiện liên doanh, liên kết với các đối tác trong nước và

- Xuất, nhập khẩu sản phẩm dầu mỏ và sản phẩm có nguồn gốc từ dầu

mỏ hoá chất, vật tư, thiết bị và phương tiện phục vụ công tác chế biến và kinh doanh sản phẩm dầu mỏ.

- Kinh doanh vật tư, thiết bị, hoá chất trong lĩnh vực chế biến dầu mỏ và các hàns tiêu dùng khác.

- Thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực chế biến và kinh doanh sản phẩm dầu mỏ.

2.1.1.2 Tình hình sản xuất kỉnh doanh của còng ty từ năm 1991 đến nay

Từ năm 1991 đến năm 1995 trước khi sáp nhập, công ty Vidamo là một cônơ ty nhỏ của Tổng Côns ty Dầu mỏ và Khí đốt (hiện nay là Tông Công ty Dầu khí Việt Nam) chỉ hoạt động trên lĩnh vực sản xuất kinh doanh dầu mỡ nhờn Mặc dù mới thành lập và tham gia thị trường kinh doanh dầu mỏ vào giữa năm 1991, trong giai đoạn 1991 đến 1995 công ty đã đạt được một số thành cônơ đáns kể trong lĩnh vực kinh doanh dầu mỡ nhờn Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định tăng từ 160,57% năm 1991 lên 332,69% năm 1994, tỉ suất lợi nhuận trên vốn lưu động bình quàn tăng từ 34,57% năm 1991 lên đên 227,3% năm

1994 Cơ sở vật chất kinh doanh cũng được xây dựng mới và mở rộng với kỹ thuật tiên tiến, hiện đại có thể sản xuất ra những sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Trang 29

Công tv Lọc hóa dầu là công ty hạch toán trực thuộc, với chức năng chủ yếu là nghiên cứu các vấn đề thuộc lĩnh vực lọc hoá dầu, thực hiện các dự án theo yêu cầu của Tổng công ty, không tham gia vào các nhiệm vụ kinh doanh Tuy nhiên, trong những năm qua công ty đã có những bước tiến đáng kể trong việc nghiên cứu các đề án về lọc hoá dầu và tham gia trực tiếp vào các dự án lớn của quốc gia như dự án xây dựng nhà máy lọc dầu số 1 ở Dung Quất và các dự

án khác thuộc lĩnh vực hạ nguồn.

Sau khi sáp nhập, công ty vừa phải tiến hành các hoạt động kinh doanh, tiến hành thực hiện các dự án, vừa phải giải quyết các vấn để nảy sinh do sáp nhập đưa ra nên việc sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn và tình hình kinh doanh các năm 1996, 1997 giảm sút nhiều so với các năm trước (Bảng 3 - Tinh hình doanh thu lợi nhuận của công ty PVPDC từ năm 1992 đến 1997) Tuy nhiên đây là dai đoạn côns tv thực hiện các mục tiêu chiến lược trước mắt và trong tương lai công ty sẽ tiếp tục phát triển khi các nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất kinh doanh được thực hiện, đáp ứng các mục tiêu chiến lược kinh doanh lâu dài của côns ty nói riêng và của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam nói chung.

đó đươc miêu tả môt cách cu thể như sau:

Trang 30

Tăng trưởng so với năm trước

* Nguồn: Chiến lược phát triển lĩnh vực hạ nguồn đến năm 2010

Trong đó cơ cấu các sản phẩm dầu khí tiêu thụ được phân bố một cách khác nhau và được thể hiện một cách rõ nét như sau

Trang 31

Căn cứ vào nhu cầu tiêu thụ sản phẩm dầu khí trên thị trường và tỉ lệ tăng trưởnơ kinh tế, người ta đã dự đoán nhu cầu tiêu thụ các loại sản phẩm này theo

cơ cấu từ năm 1996 đến năm 2010 như sau

T riệu

tấ n /n ă m

C h iế m

tỉ lệ (% )

T r iệ u

tấ n /n ă m

C h iế m

tỉ lệ (% )

* Nguồn: Chiến lược phát triển lĩnh vực hạ nguồn đến năm 2010

2.1.2.2 Chiến lược phát triển kinh doanh

Chiến lược phát triển kinh doanh của công ty bao gồm chiến lược về lĩnh vực lọc hoá dầu và lĩnh vực kinh doanh phân phối sản phẩm

Đôi với còng nghiệp lọc dầu đến năm 2010 cần phải hoàn thành xây dựng 3 nhà máy lọc dầu với tổng công suất khoảng 20 triệu tấn/năm Sản phẩm của các nhà máy lọc dầu này phải đáp ứng được nhu cầu thị trường về chủng loại và chất lượng, đủ khả năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp hoá dầu

và các ngành công nghiệp khác ở Việt Nam, hạn chế nhập khẩu nguồn nguyên liệu này từ nước ngoài.

Đôi với công nghiệp hoá dầu hình thành các dự án sử dụng nguồn nguyên liệu do nhà máv lọc dầu cung cấp, hình thành 3 cụm công nghiệp lọc hoá dầu phân bổ ở 3 miền (miền Nam 2000 - 2010, miền Bắc 2005 - 2010, miền

Trang 32

Trunơ 2000 - 2005) Tập trung sản xuất các sản phẩm có nhu cầu nội địa cao như PVC, PS, pp, DOP, PET, Urê, Methanol có khả năng thay thế hàng nhập khẩu và hướng tới xuất khẩu, tạo điều kiện hội nhập công nghiệp hoá dầu của thế giới và trong khu vực.

Lĩnh vực kinh doanh và phân phối sản phẩm thiết lập mạng lưới kinh doanh các sản phẩm dầu mỏ của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam Xây dựng cơ

sở vật chất phục vụ hoạt động chế biến kinh doanh, đưa Tổng Công ty trở thành một đơn vị kinh doanh chiếm thị phần quan trọng trong lĩnh vực phân phối kinh doanh các sản phẩm dầu mỏ Từng bước chiếm lĩnh thị trường phân phối xăng dầu theo 3 giai đoạn chính, giai đoạn 1 thiết lập mạng lưới kinh doanh đồng bộ, tiến tới chiếm lĩnh 10% thị trường phân phối sản phẩm trong cả nước, giai đoạn

2 chiếm lĩnh 20% thị trường phân phối toàn quốc, trong đó 40% tổng nhu cầu cả nước được cung ứng từ nhà máy lọc dầu số 1, giai đoạn 3 chiếm lĩnh 30% thị phần cả nước trong đó 60% tổng nhu cáu sản phẩm được cung cấp từ nhà máy lọc dầu số 1 và 2 Đầu tư xây dựng mạng lưới bán buôn, bán lẻ sản phẩm trong

đó bán buôn là chủ yếu, hệ thống cơ sở vật chất từng bước được đầu tư bao gồm: các tổng kho tiếp nhận đầu mối để đảm bảo nguồn cho khâu kinh doanh, thiết lập hệ thống vận tải chuyên dùng phục vụ kinh doanh phân phối, xây dựng mạng lưới bán lẻ sản phẩm (cây xăng, trạm dịch vụ xăng dầu).

2 1 2 3 Các dự án chiên lược cho khâu hạ nguồn đến năm 2010

Với phương hướng và chiến lược đặt ra như trên, Công ty PVPDC được sự phối hợp chỉ đạo của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã xây dựng các phương

án hoạt động trên từng lĩnh vực với nhiều dự án chiến lược ở tầm vĩ mô trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2000 Các dự án này nằm trong chiến lược phát triển tổng thể của ngành Dầu khí Việt Nam và trong tương lai chúng là những công cụ đắc lực để Công ty có khả năng xâm nhập vào thị trường phân phối các sản phẩm dầu mỏ ở Việt Nam một cách nhanh chóng, đổng thời thực hiện các nhiệm vụ chiến lược trong kinh doanh của mình cũng như của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam Các dự án được phân theo từng lĩnh vực và bao gồm

Trang 33

Đặc điểm chuns; của các dư án khâu sau mà công ty đảm nhiệm bao gôm:

Độ rủi ro. mặc dù độ rủi ro của các dự án khâu sau không cao như các dự

án ở khâu đầu nhưng vẫn luôn tồn tại những rủi ro tiềm ẩn Sự rủi ro đó được thể hiện ở nguồn nguyên liệu cung cấp và thị trường tiêu thụ, giá cả trên thị trường cũng như các đường lối chính sách của nhà nước đối với vấn đề nhập khẩu và tiêu thụ.

Công nghệ: để xây dựng những công trình thuộc các dự án ở khâu sau là nhữnơ công nghê hiên đai, tiên tiên và đa dang Cơ câu đa dạng cua cac san phẩm dầu mỏ làm cho chi phí sản xuất và công nghệ áp dụng có sự phụ thuộc lãn nhau Có thể nói mỗi một sản phẩm dầu khí khác nhau với chất lượng khác nhau cần phải có công nghê chế biên sản xuất khác nhau Tuy nhiên, đê san phẩm sản xuất ra mang tính cạnh tranh cao cũng như có khả năng tiêu thụ dễ dàng trên thị trường trong nước cũng như quốc tế thì công nghệ đòi hỏi phải tiên tiến, hiện đại và phù hợp.

Đấu tư: với yêu cầu cao về công nghệ như trên, các dự án khâu sau thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng tỉ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR) thường không

2 9

Trang 34

cao Do đó công ty cần phải có sự cân nhắc kỹ trước khi ra quyết định đầu tư, quy mô vốn, các phương án về kinh doanh và huy động vốn cũng như kế hoạch đầu tư nói riêng.

Lượng vốn cần phải huy động nhằm thực hiện các dự án đầu tư nói trên của cônơ ty là rất lớn Chính vì vây, công ty càn phai co kê hoạch cung như cac chiến lược về huy động vốn một cách có hiệu quả đảm bảo cho các dự án được thực hiện theo đúng thời điểm Các chiến lược, kế hoạch đó tập trung vào việc vận duns các hình thức huy động vốn khác nhau vào các dự án khác nhau Đối với từng dự án, hình thức huy động vốn đó là tối ưu và phù hợp với môi trường kinh doanh của doanh nghiệp cũng như xu hướng phát triển chung của nền kinh

tế Luận văn này xin được đề cập đến một dự án cụ thể, dự án xây dựng nhà máy sản xuất nhựa đường Đây là một dự án lớn nhằm thực hiện chiến lược kinh doanh của công ty cũng như tạo điều kiện để công ty mở rộng thị trường và lĩnh vực hoạt động kinh doanh.

2 1 3 D ụ á n x â y d ự n g n h à m á y n h ự a đ ư ờ n g

Nhựa đường là một trong những sản phẩm được chế biến từ cặn dầu và là một trong những sản phẩm quan trọng trên thị trường Hiện nay, ở Việt Nam chưa có nhà máy nào sản xuất mà phần lớn sản phẩm được nhập từ nước ngoài

Dư án xây dựng nhà máy nhưa đường là một trong những dự án lớn, quan trọng

và mang tính chiến lược của công ty nói riêng và Tổng Công ty Dầu khí nói chung Dự án không chỉ nhằm mục đích xây dựng một nhà máy sản xuất nhựa đường tại một địa điểm nhất định mà bên cạnh đó nó còn có nhiệm vụ xây dựng

và phát triển một hệ thống kho cảng xuất nhập, tồn chứa, bảo quản sản phẩm cũng như phát triển hệ thống phân phối sản phẩm trên cả ba miền của đất nước Chính vì vậy, dự án đòi hỏi một sự đầu tư lớn Dự án cũng là bước chuẩn bị trước bước nối của các nhà máy lọc dầu tương lai của Việt Nam, vì đê sản xuât

ra nhựa đường với chất lượng dự tính, nhà máy cần có nguồn nguyên liệu là các cặn dầu sau khi qua quá trình hoá lọc Hiện nay, tại Việt Nam chưa có nhà máy lọc dầu nào đang hoạt động để có thể cung cấp được nguồn nguyên liệu chủ yếu này vì vậy nếu dự án được tiến hành trong năm tới, trước mắt nhà máy cần phải

Trang 35

nhập khẩu từ nước ngoài, nhưng trong tương lai gần khi các nhà máy lọc dầu đi vào hoạt động, nguồn nguyên liệu này sẽ được cung cấp.

2.13.1 Nhu cầu hình thành dự án

Trong những năm qua, để tạo điều kiện và đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế cũng như khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài, chính phủ Việt Nam đã tập trung xây dims và phát triển cơ sở hạ tầng, một trong những dự

án có tính chất chiến lược của quốc gia đó là nâng cấp và cải tạo hệ thống đường quốc lộ trọng điểm như quốc lộ 1A, Hà nội - TP Hổ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng và trong tương lai là đường xuyên Á Để có thể thực hiện được các dự án này, Việt Nam cần một lượng nhựa đường rất lớn.

Từ năm 1990 trở lại đây, nhu cầu tiêu thụ nhựa đường của Việt Nam có sự tăng trưởng nhanh chóna Năm 1990 khối lượng tiêu dùng là 40 nghìn tấn, năm

1993 là 50 nghìn tấn, đến năm 1996 vượt hơn 100 nghìn tấn.

Để đáp ứns được nhu cầu tăng nhanh về nhựa đường cũng như giảm bót việc nhập khẩu nhựa đưòng trong tương lai, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam mà

cụ thể là Công ty PVPDC, cùng với còng ty Total đã thống nhất thành lập một đội đặc nhiệm để nghiên cứu và lập luận chứng nghiên cứu khả thi cho dự án xây dựng nhà máy sản xuất nhựa đường với chất lượng cao và công nghệ tiên tiến, sản phẩm trước mắt cung cấp cho thị trường Việt Nam và trong tương lai sẽ xuất khẩu ra các nước lân cận như Lào, Campuchia

2.1 3 2 Nội dung của dự án

Nhiệm vụ của dự án bao gồm xây dựng 1 nhà máy sản xuất nhựa đường

và 4 cơ sở phân phối để phục vụ cho việc kinh doanh nhựa đường trên lãnh thổ Việt Nam Nhà máy được xây dựng có công suất ước tính 200.000 tấn nhựa đường nguyên chất một năm và bao gồm 2 phần: xây dựng nhà máy sản xuất và xây dựng bốn cơ sở phân phối, trong đó một cơ sở sẽ được xây dựng cùng địa điểm với nhà máy sản xuất.

Địa điểm dự kiến để xây dựng nhà máy sản xuất và một cơ sở phân phối đặt tại Cái Mép, Bà Rịa Vũng Tàu, dọc theo sông Thị vải Các cơ sở phân phối khác được dự kiến xây dựng ở Hải phòng, Cần Thơ, Đà Nẵng Mỗi một nơi bao

Trang 36

ơồm các cầu cảng tiếp nhận, các kho bảo quản nhựa đưòng lỏng, các cơ sở liên họp để chế tạo các nhựa đường nhũ tương, đóng phuy và phân phối.

Theo kế hoạch kinh doanh của công ty, trong lúc xây dựng nhà máy ở Cái Mép (khoảng 36 tháng), các cơ sở phân phối sẽ được xây dựng trước ở những vị trí thuận lợi cho việc nhập khẩu và gần thị trường tiêu thụ Sau khi xây dựng xong mạng lưới phân phối này, trước mắt là nhập nhựa đường và pha chế nhũ tương sản phẩm mà dự án sẽ sản xuất để tiêu thụ trước trên thị trường Khi nhà máy sản xuất ở Cái Mép đã đi vào hoạt động công ty đã có một thị phần khá lớn trên thị trường Kế hoạch kinh doanh nói trên nhằm làm giảm rủi ro trong quá trình đầu tư khi thực hiện dự án với tổng vốn đầu tư lớn, đòi hỏi thời gian đầu tư dài Ngoài ra, nó còn đào tạo và chuẩn bị cán bộ cho liên doanh, thực hiện các biện pháp marketing, tạo điều kiện thuận lợi cho sản phẩm của công ty được thị trường biết đến trong thời gian nhà máy chưa được xây dựng xong.

2 1 3 3 Hiệu quả của dự án

Ngoài việc nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh của Công ty và Tổng Công ty về nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong tương lai, dự án còn đem lại nhũng hiệu quả lớn về các mặt kinh tế và xã hội.

Về mặt kinh tế: từ nay đến năm 2000, Việt Nam phải nhập khoảng 200,000 tấn nhựa đường mỗi năm Nếu nhập cặn dầu để sản xuất nhựa đường trong nước thì mỗi tấn thành phẩm tiết kiệm được USD80/tấn Trong tương lai,

sử dụng cặn dầu do nhà máy lọc dầu trong nước cung cấp để sản xuất nhựa đường thì mỗi tấn thành phẩm có thể tiết kiệm được USD 100 so với nhập thành phẩm từ nước ngoài Ngoài ra, dự án có vốn đầu tư 150 triệu đôla Mỹ là một dự

án lớn, nó góp phần đáng kể trong việc phát triển khu công nghiệp Thị Vải và các tỉnh có dự án đầu tư Việc xây dựng nhà máy tại khu công nghiệp tập trung này tạo điều kiện cho dự án được tiến hành một cách thuận lợi, vì ở đây sẽ có nhiều nhà máy công nghiệp chế biến và sử dụng các sản phẩm dầu mỏ và do đó

có khả năng cung cấp nguyên liệu cho nhà máy sản xuất nhựa đường Vị trí của nhà máy đặt gần biển để có thể xây dựng được hệ thống cầu cảng giúp cho việc vận chuyển, trao đổi, phân phối trong nước cũng như ngoài nước được tiến hành thuận lợi.

32

Ngày đăng: 05/04/2023, 20:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ tài chính. Chế độ mới về quản lý tài chính và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Nhà xuất bản tài chính 11/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ mới về quản lý tài chính và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Tác giả: Bộ tài chính
Nhà XB: Nhà xuất bản tài chính
Năm: 1996
2. Bộ Xây dựng. Hệ thống văn bản pháp quy về đổi mới quản lý đầu tư và xây dựng. Tập 1,2 Nhà xuất bản xây dựng, Hà Nội - 1995 3. Bechtel Finaning Services Inc. Project Financing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống văn bản pháp quy về đổi mới quản lý đầu tư và xây dựng
Tác giả: Bộ Xây dựng
Nhà XB: Nhà xuất bản xây dựng
Năm: 1995
4. Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hệ thống hoá văn bản pháp luật về quản lý kinh tế - Các văn bản pháp luật về tài chính. Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội - 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống hoá văn bản pháp luật về quản lý kinh tế - Các văn bản pháp luật về tài chính
Tác giả: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 1996
5. Ngân hàng Công thương Việt Nam - Thẩm định dự án đầu tư trung và dài hạn. Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Công thương Việt Nam - Thẩm định dự án đầu tư trung và dài hạn
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1996
6. PGS. PTS Nguyễn Ngọc Mai. Phân tích và quản lý các dự án đầu tư.Nhà xuất bán khoa học và kỹ thuật, Hà Nội - 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích và quản lý các dự án đầu tư
Tác giả: Nguyễn Ngọc Mai
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1995
7. PTS Nguyễn Văn Công, Trần Quý Liên. Phân tích báo cáo tài chính và hoạt động kinh doanh. NXB Thống kê - 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích báo cáo tài chính và hoạt động kinh doanh
Tác giả: PTS Nguyễn Văn Công, Trần Quý Liên
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1995
9. Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam - Công ty Chế biến và Kinh doanh sản phẩm Dầu mỏ. Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 1992 đến năm 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 1992 đến năm 1997
Tác giả: Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam - Công ty Chế biến và Kinh doanh sản phẩm Dầu mỏ
Năm: 1997
10. Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam - Công ty VIDAMO. Báo cáo tình hình hoạt động và phát triển của Công ty VIDAMO 1991 -1994.Hà Nội 12/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình hoạt động và phát triển của Công ty VIDAMO 1991 -1994
Tác giả: Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam - Công ty VIDAMO
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1994
11. Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam. PETROVIETNAM’97. Tạp chí của ngành dầu khí Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: PETROVIETNAM’97
Tác giả: Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
12. ToLal/PetroVietnam/CPS Bà Rịa Vũng Tàu. Dự án nhựa đường. Tài liệu nghiên cứu tiền khả thi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án nhựa đường
Tác giả: ToLal, PetroVietnam, CPS Bà Rịa Vũng Tàu

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w