Phạm vi nghiên cứu: Luận án đi sâu vào nghiên cứu quá trình đổi mới công nghệ của Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt nam trong giai đoạn 1986 - 1999 và các xu thế phát triển của lĩn
Trang 19 A -■'5 ■ A x | k í
i r i U A IfAV
- A a s A A s A _ fjề% s-& Ố I W l á i ú 4 r 3 i i ẵ § ế ầ i n l ỹ l
H Ằ N Ộ I - 2 0 0 G
Trang 2BỘ GIÁO D Ụ C V À Đ À O TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
GIAI PHẢP CHU YẼƯ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QƯẢ Đ ổ i MỚI CÔNG NGHỆ
GIÁO V IÊN HƯỚNG DÂN : TS ĐINH NGỌC QUYÊN
t)Ị& J o h n & H
-Hà nội, 2000.
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sư cán thiết của luân án:
Xu hướng đổi mới công nghệ trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão hiện nay đòi hỏi doanh nghiệp luôn phải tìm cách tổ chức đổi mới công nghệ một cách có hiệu quả Đặc biệt, trong điều kiện xu thế hoà nhập với thị trường thế giơí một cách toàn diện và rộng khắp trên mọi lĩnh vực hoạt động đối với ngành bưu chính viễn thông ngày một đến gần, thì vấn đề đặt ra là phải tiến hành hoạt động đổi mới công nghệ một cách mạnh mẽ hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn nữa Vấn đề này phụ thuộc nhiều nhân tố khách quan và chủ quan và hoàn toàn không đơn giản Do vậy qua thời gian nghiên cứu , tác giả đã quyết định chọn luận
án với tiêu đề :
"Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả đổi mới công nghệ ở Tổng
công ty bưu chính viễn thông Việt nam "
2 Muc dích nghiên cứu:
Trên cơ sở những kết quả và kinh nghiệm đã đạt được từ việc thực hiện chiến lược đổi mới công nghệ của Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt nam giai đoạn 86-99 Đề tài đi sâu nghiên cứu thực trạng và hiệu quả của hoạt động đổi mới công nghệ Đặc biệt tập trung nghiên cứu, phân tích hiệu quả của hoạt động đổi mới công nghệ
So sánh với chuẩn mực của những nước phát triển về bưu chính viễn thông trên thế giới như Mỹ, Pháp hay những nước trong khu vực như Nhật, Singapo, làm thước đo cho công nghệ mới trong lĩnh vực bưu chính viễn thông
Đề tài đi sâu nghiên cứu và xây dựng những phương hướng và giải pháp hoàn thiện hơn nhằm tiếp tục thực hiện thành công chiến lược đổi mới công nghệ của Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt nam giai đoạn 2000-2020
3 Đối tương và nham vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung lấy vấn đề đổi mới công nghệ của
TCT BCVT VN ( VNPT) cùng các đơn vị thành viên như Bưu điện Hà nội, BĐ Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty VTN (Công ty viễn thông liên tỉnh) trong giai đoạn 86-96 làm đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Luận án đi sâu vào nghiên cứu quá trình đổi mới công
nghệ của Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt nam trong giai đoạn 1986 - 1999
và các xu thế phát triển của lĩnh vực BCVT đến năm 2020 làm luận cứ cho việc xây
Trang 4c dS g v ! I S gn^ n a m S ca0 hiệu quả đổi mới CÔng nghệ ờ Tổns côns *
4 Phương pháp nghiên cứu:
5 Những đổng góp của luân
án-cứng s những luận cứ về CÔng ° * * đổi "Ong nghé ( cả phần
TCT RCVT v t một cáí - CÓ hL thỐng hi! u quả hoỹ ' động đổi mới công nghệ của
Ẹ ỉ đó ệ nam s năm qua' nVulên "M "g d™h giá tổng quan về thực
hoat J tf s z * mộ' • SÔAPhUơnl hưí ng f biện pháp chủ y& nhằm, nâng cao hiệu quả
6 Kết cấu của luân án
,,,, , N| oài ph:l' ’ m ở đầu • Phản két luận và danh m uc tài liêu tham khảo nôi đun SI
luận án được trình bày thành 3 chương như sau : Knao, nọt dung
nghệ Chương 1 : Những vùn đ ề lỷ luận về CÔng nghệ vỗ hiệu của đổi mài công
„■& ,»2 “ ' m " " * * ’ 0 * ‘ V B m chinh
Dưới đây tôi xin trình bày nội dung của các chương như sau :
Trang 5GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ Đ ổ i MỚI CÔNG NGHỆ Ở TỔNG CÔNG TY Bưu CHÍNH VIEN t h ô n g v iệ t n a m
CHƯƠNG 1:
CỦA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ.
1.1 Công nghệ và đổi mới công nghệ
1.1.1 Tổng quan về công nghệ
1.1.1.1 Khái niệm chung về công nghệ
Trong buổi đầu công nghiệp hoá, người ta quen dùng khái niệm kỹ thuật (Technique) với nghĩa nó là phương tiện vật chất: công cụ, năng lượng, vật liệu được con người sáng tạo và sử dụng trong sản xuất và dịch vụ Tiếp đó, xuất hiện khái niệm công nghệ (Technology) với nghĩa rất hẹp là các phương pháp, giải pháp kỹ thuật trong xây dựng trong các dây chuyền sản xuất Từ những năm 1960 trở lại đây, do mua bán công nghệ trở thành vấn đề sôi động trong kinh doanh trên Thế giới, công nghệ đã được hiểu theo nghía rọng hon Tuy theo chô đứng góc độ quan tâm mà có nhiều đinh nghĩa về công nghệ.
* Theo UNIDO (United Nations Industrial Development Organization) thì công nghệ
là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và xử lý
nó một cách có hệ thống, có phương pháp.
xuất công nghiệp trên các cơ sở tri thức khoa học.
thong kien thưc va ky thuật chê biến vật liệu và thông tin Định nghĩa này mở rộng hơn đinh nghía cua UNIDO và cụ thê hoá công nghê thành từng bô phận chủ yếu nhưng nó lại gân như đổng nhất giữa khái niệm công nghệ với khái niệm kỹ thuật (technique) mà chúng ta vẫn dùng trong thuật ngữ khoa học kĩ thuật trước đây.
Mơ rọng đinh nghía 2 ES lại nói: Công nghệ bao gồm tất cả những kĩ năng kiến thức thiết bị, và phương pháp trong sản xuất, chế tạo hoặc dịch vụ công nghiệp, dịch vụ quản lý.
Đ in h n g h ía n a y đư ợc đ a n h dâu m ộ t bư ớc n g o ă t lớn tro n g q u an n iê m về c ô n g n g h ê nó
Trang 6vượt ra khỏi quan niệm chật hẹp trưóc đây, khi người ta coi công nghệ luôn luôn phải gắn với quá trình sản xuất trực tiếp, bằng cách nhìn tổng quát định nghĩa này đã mở rộng khái niệm công nghệ sang cả lĩnh vực dịch vụ và quản lý Tuy nhiên nó vẫn giới hạn trong lĩnh vực công nghiệp.
Ngày nay, thuật ngữ công nghệ được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế văn hoá và xã hội và người ta không còn ngạc nhiên khi nghe những thuật ngữ như " công nghệ dạy học, công nghệ phục vụ bàn ăn "
Nói tóm lại, mặc dù các khái niệm trên có một vài sự khác nhau về phạm vi và nội dung nhưng các thuật ngữ công nghệ đều phản ánh chung một điểm quan trọng là sự áp dụng các tri thức khoa học vào thực tiễn Một cách khái quát nhất ta có thể hiểu: Công nghệ
là tập hợp các cách thức, phương pháp công cụ và phương tiện dựa trên cơ sở vận dụng các tri t hức khoa học vào sản xuất và đời sống trong các nghành khác nhau để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con người
1.1.1.2Các thành phần của công nghệ
Nói một cách khái quát thì công nghệ là một hệ thống quy trình kỹ thuật chế biến vật chất hoặc thông tin, với cách nhìn này công nghệ bao gồm hai phần : Phần cứng và phần mềm.
Phần cứng: Bao gồm các yếu tố vật chất như máy móc thiết bị, dụng cụ, kết cấu nhà xưởng ở dạng vật chất.
Phần mềm: Bao gồm con người, thông tin, tổ chức và bí quyết ở dạng phi vật chất Theo quan điểm thống nhất của các tổ chức quốc tế về công nghiệp trong những năm gần đây thì công nghệ gồm 4 thành phần:
Phần thiết bị vật chất (technoware): Bao gồm máy móc, thiết bị dụng cụ Đây là phần cứng của công nghệ giúp tăng năng lực cơ bắp (nhờ các thiết bị cơ điện) không có thiết bị thì không có công nghệ, nhưng cũng sẽ rất nhầm lẫn khi đồng nhất công nghệ với thiết bị.
Phần con người (Human ware): Bao gồm đội ngũ nhân lực vận hành, điều khiển và quản lý dây chuyền thiết bị, phần này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ học vấn, tay nghề của đội ngũ, kỹ năng kỹ xảo và kinh nghiệm Ở đây bao gồm cả những khía cạnh thành thạo khéo léo gia truyền, cần cù trực cảm tài nghệ
Phần thông tin, tài liệu (Infor ware): Bao gồm các tư liệu dữ kiện, bản thuyết minh,
mô tả sáng chế bí quyết Catalog tài liệu chỉ dẫn đặc tính kỹ thuật Phần này có thể trao
Trang 7đổi một cách công khai, đơn giản đa dạng mô tả kỹ thuật hoặc được cung cấp có điều kiện trong dạng bí quyết theo luật bản quyền sở hữu công nghiệp.
Phần tổ chức quản lý (orga ware): Bao gồm các hoạt động, các mối liên hệ về phân
bố nguồn lực tạo lập mạng lưới sản xuất tuyển dụng nhân công, các chính sách, khích
lệ kiểm tra với phần này công nghệ được hiện thân trong thể chế và khoa học quản lý
đã trở thành nguồn lực.
Bốn phần này có tác dụng qua lại với nhau để thực hiện bất kỳ sự biến đổi nguồn vật chất nào trong quá trình sản xuất tuy nhiên mỗi phần có vai trò chức năng riêng của nó Phần trang thiết bị là xương sống cốt lõi của hoạt động chuyển hoá nhưng con người đóng vai trò quan trọng trung tâm có tính quyết định về tổ chức và thông tin là bộ khung huyết mạch của hệ thống.
Cách hiểu công nghệ gồm 4 thành phần rất tiện cho việc phân tích sự mất cân đối không đồng bộ chỉ ra chỗ yếu điểm mạnh của hệ thống hiện có từ đó đưa ra được định hưóng đáp ứng các nhiệm vụ do yêu cầu sản xuất đặt ra với chi phí ít nhất về nguồn lực.
1.1.2 Đổi mới công nghệ
1.1.2.1 Khái niệm đổi mới công nghệ
Đổi mới công nghệ có thể hiểu là đưa ra và áp dụng một công nghệ mới hoặc một yếu tố mới trong các thành phần công nghệ hiện có mà trước đây chưa có.
Theo hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ Anh thì đổi mói công nghệ là quá trình thuộc về kỹ thuật công nghiệp thương mại nhằm Marketing sản phẩm mới và nhằm sử dụng mang tính thương mại các quá trình kỹ thuật và thiết bị mới Quá trình đổi mới bao gồm từ giai đoạn nghiên cứu phát triển và thương mại hoá, có thể là cải tiến các công nghệ hiện có hoặc đổi mới mang tính cách mạng để đưa ra thị trường những sản phẩm hay quá trình hoàn toàn mới.
Đổi mới công nghệ có thể được xem như là những viên gạch xây dựng nên sự phát triển công nghệ Cần phân biệt giữa đổi mới công nghệ và phát minh công nghệ Phát minh công nghệ là một ý tưởng mới một kỹ thuật mới và ngay cả một sản phẩm mới nhưng không mang tính thương mại Một đặc trưng của phát minh là tự nó không có ý nghĩa về mặt kinh tế và được xem như là nguồn gốc của sự đổi mới Doanh nghiệp thường có vai trò quyết định trong việc biến phát minh thành đổi mới.
1.1.2.2 Các hình thức đổi mới công nghệ
Có nhiều hình thức đổi mới công nghệ:
Trang 8* Xét theo tính chất phạm vi của đổi mới thì theo một sô tác giả có hai dạng:
Đổi mới dạng tiến triển (evolutionary or incremental technological innovation): Đây
là kết quả của quá trình cải tiến một cách liên tục những công nghệ hiện có Phần lớn dạng đổi mới này do các doanh nghiệp lớn thực hiện nhưng các doanh nghiệp nhỏ cũng
có thể là nguồn đổi mới quan trọng Đổi mới tiến triển thực hiện theo mô hình sức kéo của thị trường (Market pull).
Đổi mói triệt đế (Radical or revolutionary technological innovation): Tượng trưng cho
sự đột phá về sản phẩm và qúa trình, nó tạo ra những công nghệ hoàn toàn mới hoặc biến đổi về chất của ngành đã đạt đến giai đoạn chín muồi Dạng này hứa hẹn lợi nhuận cao nhưng chứa đựng nhiều rủi ro và mang nhiều tính bất định Đây chính là đổi mới công nghệ bắt nguồn từ mô hình đẩy của công nghệ (technology pull).
* Xét theo mối quan hệ giữa đổi mới công nghệ và đổi mới các yếu tố đầu vào Đổi mới công nghệ đi thẳng: Tức là làm cho cả hai yếu tố lao động (L), máy móc thiết
bị (K) cùng được tiết kiệm theo tỷ lệ thuận.
Đổi mói công nghệ đi xiên: Tức là vói điều kiện yếu tố giá không thay đổi, tỷ số tối thiểu giữa máy móc thiết bị (vốn) với lao động sẽ tăng lên song lao động sẽ được tiết kiệm Trong trường hợp này để tạo ra cùng một lượng đầu ra thì chi phí lao động sẽ ít hơn chi phí máy móc thiết bị (vốn).
Việc sử dụng các hình thức đổi mới công nghệ phụ thuộc vào năng lực công nghệ, khả năng vốn, cơ cấu quản lý, đặc điểm kỹ thuật, công nghệ của từng ngành, từng doanh nghiệp.
1.1.2.3 Nội dung cơ bản của đổi mới công nghệ
Đổi mới trong các doanh nghiệp bao gồm việc đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình sản xuất sản phẩm, do đó nội dung cơ bản của đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp phải bao hàm cả hai vấn đề này Ngoài ra nếu nói rộng hơn, bất kỳ một hoạt động nào nhằm làm biến đổi theo chiều hướng tích cực bất kỳ nội dung nào của công nghệ đều là đổi mói công nghệ Để đổi mới công nghệ có hiệu quả, doanh nghiệp cần phải thực hiện các vấn đề như xây dựng chiến lược công nghệ, xây dựng chiến lược sản phẩm và đổi mới sản phẩm của mình, tìm biện pháp sử dụng hiệu quả tối đa các công nghệ hiện có kết hợp với việc lựa chọn và sử dụng công nghệ mới.
1.2 Phương pháp luận đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp
Trang 91.2.1 Xác định sự cần thiết nhu cầu đổi mói công nghệ.
Nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp xuất phát từ hai nhân tố: nhân tố bên ngoài và nhân tố bên trong bản thân doanh nghiệp Nhân tố bên ngoài gồm có nhu cầu của thị trường về số lượng và chất lượng sản phẩm, trình độ phát triển công nghệ thế giới nhân tố bên trong chính là sự lạc hậu thiếu đổng bộ cân đối của các công nghệ doanh nghiệp Khi yêu cầu thị trường phát triển đặt ra những yêu cầu cấp thiết đối với doanh nghiệp phải tăng khối lượng hay cải tiến đổi mới sản phẩm nhằm ngày càng thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, tuy nhiên với trình độ công nghệ lạc hậu hiện tại doanh nghiệp không thể thực hiện kế hoạch sản phẩm mới hay tạo ra những sản phẩm
có tính cạnh tranh cao, bên cạnh đó trình độ khoa học công nghệ không ngừng phát triển trên thế giới nhiều công nghệ mới ra đời với sản phẩm tính năng đa dạng và phong phú khả năng thoả mãn tiêu dùng tốt, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao Dưới sự tác động đồng thời của các nhân tố trên đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với doanh nghiệp phải đổi mói công nghệ như một điều kiện tiên quyết về sự tồn tại của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.
1.2.2 Xác định trình độ công nghệ mà doanh nghiệp cần đổi mới.
Doanh nghiệp phải xác định trình độ loại công nghệ mà doanh nghiệp cần đổi mới ở trong nước và trên thế giới và dự đoán xu hướng phát triển của loại công nghệ đó Đây
là một nội dung quan trọng đối với doanh nghiệp và trình độ công nghệ của nền kinh tế quốc dân Bởi vì doanh nghiệp có làm tốt nội dung này thì sản phẩm của doanh nghiệp sau khi đổi mói công nghệ mới có thể có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại được sản xuất trong nưóc và cả sản phẩm được nhập vào từ nước ngoài Từ đó doanh nghiệp mới có thể đứng vững và tạo hướng xuất khẩu sản phẩm nâng cao hiệu quả đồng thòi dựa vào nội dung này doanh nghiệp mới có thể có được công nghệ sản xuất có trình độ không thua kém nhiều so với trình độ công nghệ chung trên thế giới.
Để thực hiện nội dung này nói chung các doanh nghiệp nưóc ta phải phụ thuộc vào các thông tin của Nhà nước cung cấp vì họ không có đủ điều kiện có được các thông tin cần thiêt Tuy nhiên khi dư đoán xu hướng phát triển của loại công nghệ đó doanh nghiệp cần pảh xác định được công nghệ đó đang ở đâu trong quá trình phát triển huynh hưóng phát triển của nó trong tương lai sẽ ra sao và công nghệ thay thế nó phát triển như thế nào Có như vậy khi lựa chọn công nghệ để đổi mới doanh nghiệp mới có thể có khả năng tránh được việc liên tục phải đổi mới công nghệ hoặc công nghệ được đổi mới lại
Trang 10quá hiện đại không phù hợp với doanh nghiệp và nền kinh tế quốc dân Nhà nước cần phải giúp đỡ thông tin cho doanh nghiệp xác định nội dung này đồng thời nhờ các doanh nghiệp làm tốt nội dung này nhà nước mới có thể đánh giá được trình độ công nghệ chung được nâng lên đến đâu, Nhà nước mới có xác định được cần phải khuyến khích phát triển loại công nghệ nào, loại công nghệ nào không cần khuyến khích, loại công nghệ nào phải cấm nhập Như thế trong điều kiện hiện nay nước ta có thể bắt kịp trình độ công nghệ chung ở một số ngành chiến lược nền tảng của nền kinh tế quốc dân
từ đó làm động lực cho sự phát triển của nền kinh tế.
Đây chính là quan điểm của Đảng ta trong việc phát triển nền kinh tế rut ngắn khoảng cách tụt hậu của nước ta với các nước trong khu vực và thế giới.
1.2.3 Phương pháp lựa chọn.
Để có thể lựa chọn hướng trình độ và phương thức đổi mới trong đổi mới công nghệ thì các doanh nghiệp cần phải lựa chọ theo phương pháp sau:
- Phân tích kỹ các căn cứ đã nêu trên nhằm tìm ra những yêu cầu cụ thể cho công nghệ
sẽ được lựa chọn để thực hiện đổi mới bằng cách tổng hợp các thông tin từ các căn cứ
đó gắn chúng với chiến lược sản phẩm chiến lược thị trường của doanh nghiệp.
- Từ các yêu cầu trên doanh nghiệp rút ra những chiến lược đổi mới công nghệ có thể áp dụng được đối với doanh nghiệp theo các hệ thống mục tiêu và yêu cầu cụ thể.
- Từ mỗi kiểu chiến lược đổi mới công nghệ đã được rút ra doanh nghiệp dựa vào căn cứ thứ 3 về trình độ công nghệ chung và xu thế phát triển của loại công nghệ đó trong tương lai cho ra loại trình độ hiện đại của loại công nghệ đó để thực hiện đổi mới.
- Doanh nghiệp dựa vào khả năng về vốn về lao động về yêu cầu của sản xuất doanh nghiệp sẽ chọn ra phương thức đổi mới công nghệ phù hợp
- Đối với các doanh nghiệp nước ta hiện nay phương thức đó sẽ là chuyển giao công nghệ và chuyển giao là chuyển giao dọc.
Dựa vào hướng trình độ phương thức đổi mới công nghệ phù hợp doanh nghiệp sẽ lập ra những phương án đổi mới công nghệ có thể có Từ đó doanh nghiệp lựa chọn ra những phương án tối ưu dựa vào mục tiêu đề ra của doanh nghiệp và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả.
1.2.4 Tiến hành thực hiện dự án đổi mói công nghệ
Để đổi mới công nghệ thì bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải thực hiện nội dung này có như vậy mới đưa được công nghệ mới vào sử dụng và hoàn thành được mục tiêu của đổi
Trang 11mới công nghệ Đối với các doanh nghiệp nếu tiến hành đổi mới công nghệ sản xuất hiện có thì vấn đề xin quyền sử dụng đất không phải đặt ra liên quan đến kinh tế kỹ thuật sẽ có những vấn đề sau trong nội dung này.
1.2.4.1 - Đ àm phán và kỷ kết hợp đồng chuyển giao công nghệ.
Để đàm phán và ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ doanh nghiệp cần phải thăm
dò tìm hiểu các đối tác có thể chuyển giao công nghệ cho mình thông qua việc lập ra các đoàn đàm phán kinh tế kỹ thuật và thương mại.
Các đoàn đàm phán này có nhiệm vụ tìm ra đối tác chuyển giao có công nghệ đảm bảo các yêu cầu của doanh nghiệp về kinh tế và kỹ thuật.
Sau khi chọn được đối tác doanh nghiệp sẽ ký hợp đồng chuyển giao công nghệ theo các yêu cầu đặc điểm của dự án đổi mới công nghệ của mình.
1.2.4.2 - T hiết k ế x â y dựng tiến hành đấu thầu và thực hiện thi công xây dựng đ ể đưa
công nghệ vào sử dụng.
Nội dung này liên quan nhiều tới vấn đề về kỹ thuật, về mặt kinh tế nếu doanh nghiệp tiến hành đổi mới công nghệ theo phương thức đổi mới đồng bộ có hệ thống thì cũng không có vấn đề Song nếu doanh nghiệp tiến hành đổi mới công nghệ theo phương thức đổi mới cục bộ, dần dần có trọng điểm thì cần phải xem xét tới thời gian thi công và thứ
tự thi công các hạng mục công trình Thời gian thi công phải đảm bảo ngắn nhất, nhưng phải đảm bảo tránh cho sản xuất bị ứ đọng lâu phải đảm bảo các hạng mục công trình thi công xong có thể được đưa vào sử dụng ngay Có nghĩa là tránh việc công suất của mỗi loại thiết bị mỗi loại dây chuyền công nghệ không đồng bộ trong một thời gian dài hoặc thi công xong dây truyền công nghệ nào đó của công nghệ không được sử dụng trong thời gian dài Có như vậy mới đảm bảo hiệu quả kinh tế đạt được là cao nhất.
1.2.4.3 - Nghiệm thu chạy thử vận hành đưa công nghệ mới vào sản x u ấ t
Đến nội dung này việc nghiệm thu hoàn toàn là vấn đề về kỹ thuật dựa vào các yếu tố
kỹ thuật.
Việc vận hành đưa công nghệ mới vào sản xuất thì doanh nghiệp sẽ phải tổ chức lại quản lý tổ chức lại sản xuất và kinh doanh nhằm đảm bảo cao nhất hiệu quả của công nghệ, hiệu quả của vốn đầu tư để sử dụng công nghệ mói tạo ra sản phẩm.
1.2.5 C ác điều kiện cần p h ả i đảm bảo đ ể thực hiện đ ổi m ới công nghệ và n ân g cao
hiệu q u ả của đ ổ i mới.
1 2 5 1 -Đ ảm bảo huy động đủ và sử dụng tố t nguồn vốn đầu tư cho đ ổ i mới công nghệ
Trang 12Hiện nay trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp phải tự hạch toán kinh doanh, lấy thu bù chi Để phục vụ tốt việc nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh tạo nguồn thu lớn hơn nguồn chi nên các doanh nghiệp mới phải tiến hành đổi mới công nghệ Như vậy doanh nghiệp vừa là người đề xướng vừa là người thực hiện đổi mới công nghệ, vừa là chủ thể kinh doanh vừa là chủ thể đầu tư đổi mới Do đó doanh nghiệp phải tự đảm bảo nguồn vốn đàu tư và phải đảm bảo sử dụng có hiệu quả cao nguồn vốn đầu tư
đó Doanh nghiệp không còn dựa vào việc Nhà nước cấp vốn như trước kia nữa, Nhà nước chỉ có vai trò định hướng và tạo môi trường thuận lợi cho cá doanh nghiệp tiến hành đổi mới công nghệ Sẽ chỉ có một số rất ít dự án đổi mới công nghệ được Nhà nước cấp toàn bộ hay một phần vốn đầu tư đổi mới Đó là những dự án thuộc chương trình trọng điểm của Nhà nước Tuy nhiên nếu doanh nghiệp Nhà nước nào có dự án đổi mới công nghệ phù hợp với hướng phát triển trọng điểm của Nhà nưóc sẽ có khả năng được vay vốn ưu đãi của Nhà nước, rất thuận lợi cho việc đảm bảo nội dung này.
Trong đại đa số các trường hợp khác, đổi mới công nghệ không có được thuận lợi như trên thì sao? Khi đó với cả doanh nghiệp trong nước cũng như doanh nghiệp nưóc ngoài việc đổi mới công nghệ mà chỉ dựa vào nguồn vốn tự có của doanh nghiệp sẽ không thể đạt được hiệu quả như mong muốn được.
Nguồn vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ có thể được doanh nghiệp đảm bảo thông qua một số 'biện pháp sau:
- Huy động vốn tự có của doanh nghiệp.
- Vay của các tổ chức kinh tế như các doanh nghiệp các ngân hàng, các tổ chức kinh tế khác trong và ngoài nước.
- Liên doanh liên kết với các đơn vị và tổ chức trong và ngoài nước.
- Đầu tư trực tiếp kèm theo chuyển giao công nghệ từ nước có công nghệ chuyển giao.
Tuy nhiên đó mới chỉ là các công việc mà các doanh nghiệp có thể phải làm để đảm bảo nguồn vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ Còn nếu các doanh nghiệp muốn sử dụng tốt các nguồn vốn đó thì các doanh nghiệp còn cần phải cân nhắc nhiều vấn đề như lãi xuất của vốn vay thời hạn cho vay, tiến độ thi công công trình vấn đề này có liên quan chặt chẽ tới hiệu quả của việc đổi mới công nghệ.
1.2.5.2 - T ổ chức c ơ s ở hạ tầng nhằm phục vụ cho việc sử dụng công nghệ mới tổ chức
đào tạo nâng cao trình độ lao động, b ô 'trí sắp xếp lại lao động nhằm đá p ứng tố t yêu
Trang 13cầu của công nghệ mới.
Việc sử dụng một công nghệ mới bao giờ cũng đi kèm với những yêu cầu về cơ sở hạ tầng Đó là các yêu cầu về nhà xưởng kho bãi, phương tiện vận tải hệ thống đường xá, cầu cảng, Các yêu cầu này có là do công nghệ cho ra sản lượng sản phẩm lớn hơn sản phẩm sản xuất ra có chất lượng tốt hơn và có yêu cầu về bảo quản cao hơn doanh nghiệp làm tốt yêu cầu này thì mới có thể sử dụng tốt công nghệ mới, tránh được việc sản xuất và kinh doanh bị ứ đọng và ngưng trệ tận dụng tối đa hiệu quả của công nghệ mới.
Ngoài ra, do doanh nghiệp đưa công nghệ mới vào sản xuất, rõ ràng công nghệ mới có những yèu cầu khác so với công nghệ cũ tính chất cơ giới hoá hiện đại cao hơn nên doanh nghiệp sẽ phải đào tạo và nâng cao trình độ của cả các cán bộ quản lý và lao động trực tiếp sản xuất cho phù hợp với công nghệ mới Việc đào tạo này ngoài việc đơn thuần là giúp cho lao động của doanh nghiệp làm quen và có thể sử dụng tốt công nghệ mới còn ảnh hưởng tới sản xuất ở chỗ làm việc trên dây truyền không bị hoặc chưa bị việc thi công đổi mới công nghệ ảnh hưởng tới Nhất là bộ phận cán bộ phòng ban của các doanh nghiệp Trong nội dung này doanh nghiệp cần phải làm những công việc sau: -Tổ chức đào tạo và nâng cao tay nghề lao động bằng cách lập ra các lớp, các khoá đào tạo được đào tạo bởi các cán bộ có khả năng trình độ và kinh nghiệm của doanh nghiệp hoặc các chuyên gia về công nghệ mới của doanh nghiệp.
- Số lượng lao động tham gia mỗi lớp mỗi khoá và thời gian tiến hàng đào tạo phải phù hợp với qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tại thời điểm đó.
- Bố trí sắp xếp hợp lý lao động cho công nghệ sản xuất mới thông qua trình độ và kinh ngiệm của lao động hiện có khả năng này được đánh giá thông qua thời gian công tác và các lớp đào tạo.
1.2.5.3 Đ ảm bảo nâng cao năng lực công nghệ nội sinh của doanh nghiệp
Năng lực công nghệ nội sinh chính là khả năng nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào trong qúa trình sản xuất của doanh nghiệp Các doanh nghiệp nưóc
ta khi đổi mới công nghệ đều áp dụng hình thức chuyển giao công nghệ.
Trong khi đó năng lực công nghệ nội sinh của các doanh nghiệp và cũng như của nền kinh tế quốc dân là khá thấp, sẽ có thể dẫn tới khả năng các doanh nghiệp không thể nắm bắt được hết các ưu thế của công nghệ mới nhập để phát huy hiệu quả của đổi mới, thậm chí còn có khả năng hiệu quả thực hiện đi ngược lại với mong muốn của doanh
Trang 14Tất cả những vấn đề trên, doanh nghiệp sẽ giải quyết được khi bảo đảm được các điều kiện nâng cao năng lực công nghệ nội sinh Điều kiện này bao gồm những vấn đề mà doanh nghiệp phải đảm bảo sau:
- Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật.
- Tăng cường năng lực của bộ phận thí nghiệm, thiết kế chế tạo dịch vụ sửa chữa dịch vụ
1.2.5.4 Đ ảm bảo p h ả i tuân theo sự quản lý của nhà nước v ề công nghệ và đ ổ i mới công
nghệ.
Nội dung này là điều kiện hợp pháp của doanh nghiệp khi tiến hành đổi mới công nghệ Tức là doanh nghiệp phải đảm bảo tuân thủ các quy định của Nhà nước về công nghệ và đổi mới công nghệ Doanh nghiệp phải nắm vững định hướng của Nhà nước đối với sự phát triển của công nghệ sản xuất sản phẩm của mình Doanh nghiệp phải đảm bảo tuân theo sự thẩm định về trình độ công nghệ của Nhà nước Sau hết doanh nghiệp phải bảo đảm tuân thủ các quy định và pháp luật hiện hành của nhà nước về môi trường sản xuất môi trường xã hội.
Như vậy qua nghiên cứu ở mục này, chúng ta nắm được thực chất công nghệ, thực chất đổi mới công nghệ, những công việc cụ thể doanh nghiệp phải làm để có thể ra quyết định đổi mới công nghệ và tiến hành đổi mới công nghệ.
Trang 151.3 Những nhân tỏ ảnh hương tới hiẽu quả đổi mói công nghê và hê thống chỉ tiêu đánh giá hiẽu quả đổi mói công nghê.
1.3.1 Các nhân tô ảnh hưởng tới hiệu quả đổi mói công nghệ.
1.3.1.1 Tác động của khoa học kỹ thuật
Khoa học làm nhiệm vụ nghiên cứu khám phá ra bí mật, quy luật tự nhiên của xã hội Việc nghiên cứu, khám phá càng cao thì số lượng phát minh sáng chế càng nhiều, càng tốt Một phát minh có thể ra đời rất nhiều sáng chế Những sáng chế phải được ứng dụng, sử dụng để giải quyết những vấn đề trong đời sống sản xuất, song phải thông qua một công cụ trung gian đó là kỹ thuật hay công nghệ Việc áp dụng có hiệu quả những sáng chế vào đời sống Sản xuất lại cung cấp cho khoa học những trang bị nghiên cứu mới, những công cụ nghiên cứu và do đó chất lượng của nghiên cứu khoa học lại được nâng lên.
Muốn ứng dụng thành công các sáng chế thì phải có đội ngũ làm công tác khoa học giỏi
để nghiên cứu đổi mới hoặc nghiên cứu chuyển giao công nghệ Đối với mỗi quốc gia cần phải có một hệ thống mục tiêu phát triển khoa học kỹ thuật và khoa học công nghệ,
hệ thống mục tiêu nằm trong chính sách và chiến lược Đó là hiện đại hóa và công nghiệp hóa đất nưóc.
1.3.1.2 Tác động của tổ chức và quản lý công nghệ
Tổ chức và quản lý công nghệ là hoạt động phối hợp nỗ lực, đồng bộ tất cả những nhân
tố trong hệ thống để có thể áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong đổi mới công nghệ một cách tối ưu, bao gồm các việc như:
- Định hướng chiến lược.
- Tổ chức sử dụng nhân lực một cách có hiệu quả.
- Tổ chức làm việc khoa học.
- Tổ chức triển khai công nghệ mới, quản lý, sử dụng nó đảm bảo hiệu quả cao, tăng khả năng sử dụng công nghệ và thu hổi vốn nhanh
1.3.1.3 Ảnh hưởng của trình độ năng lực khai thác công nghệ
Đó là năng lực đầu tư, tổ chức điều hành, liên kết để có thể nghiên cứu đổi mới công nghệ hoặc triển khai công nghệ được chuyển giao Các điều kiện này có ảnh hưởng trực tiếp đến công nghệ của đơn vị Đối với quốc gia và ngành: Đó là khả năng đầu tư nguồn lực, khả năng đầu tư vật chất và đầu tư con người cho công nghệ.
Trang 161.3.1.4 Ảnh hưởng của các chính sách quản lý vĩ mô và môi trường đổi mói công nghệ
Thông qua chính sách đầu tư phát triển, khai thác công nghệ của quốc gia Thông qua
sự ổn định về chính trị xã hội, chính sách tiền tệ cũng có ảnh hưởng rất lớn tới công nghệ và chuyển giao công nghệ Doanh nghiệp phải xác định trình độ loại công nghệ
mà doanh nghiệp cần đổi mới ở trong nước và trên thế giới và dự đoán xu hướng phát triển của loại công nghệ đó Đây là một nội dung quan trọng đối với doanh nghiệp và trình độ công nghệ của nền kinh tế quốc dân Bởi vì doanh nghiệp có làm tốt nội dung này thì sản phẩm của doanh nghiệp sau khi đổi mới công nghệ mới có thể có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại được sản xuất trong nước và cả sản phẩm được nhập vào từ nưóc ngoài Từ đó doanh nghiệp mới có thể đứng vững và tạo hướng xuất khẩu sản phẩm nâng cao hiệu quả đồng thời dựa vào nội dung này doanh nghiệp mới có thể có được công nghệ sản xuất có trình độ không thua kém nhiều so với trình độ công nghệ chung trên thế giới.
Để thực hiện nội dung này nói chung các doanh nghiệp nước ta phải phụ thuộc vào các thông tin của Nhà nước cung cấp vì họ không có đủ điều kiện có được các thông tin cần thiết Tuy nhiên khi dự đoán xu hướng phát triển của loại công nghệ đó doanh nghiệp
phát triển của nó trong tương lai sẽ ra sao và công nghệ thay thế nó phát triển như thế nào Có như vậy khi lựa chọn công nghệ để đổi mới doanh nghiệp mới có thể có khả năng tránh được việc liên tục phải đổi mới công nghệ hoặc công nghệ được đổi mới lại quá hiện đại không phù hợp với doanh nghiệp và nền kinh tế quốc dân Nhà nước cần phải giúp đỡ thông tin cho doanh nghiệp xác định nội dung này đổng thời nhờ các doanh nghiệp làm tốt nội dung này nhà nước mới có thể đánh giá được trình độ công nghệ chung được nâng lên đến đâu, Nhà nước mới có xác định được cần phải khuyến khích phát triển loại công nghệ nào, loại công nghệ nào không cần khuyến khích, loại công nghệ nào phải cấm nhập Như thế trong điều kiện hiện nay nước ta có thể bắt kịp trình độ công nghệ chung ở một số ngành chiến lược nền tảng của nền kinh tế quốc dân
từ đó làm động lực cho sự phát triển của nền kinh tế.
Đây chính là quan điểm của Đảng ta trong việc phát triển nền kinh tế rút ngắn khoảng cách tụt hậu của nước ta với các nước trong khu vực và thế giới.
1.3.1.5 Ảnh hưởng của thị trường công nghệ
Trang 17Trong nền kinh tế thị trường công nghệ luôn được coi là hàng hoá, mà đã là hàng hoá thì tất yếu phải có cung cầu và thị trường tiêu thụ hàng hoá đó Thị trưòng công nghệ có thể hiểu là nơi diễn ra những các hoạt động mua bán trao đổi các yếu tố (thành phần) của công nghệ hoặc hệ thống công nghệ hoàn chỉnh.
Tuy nhiên, đối với các thành phần đặc biệt của công nghệ như "chất xám" thì thị trường chỉ mới hình thành rõ nét và ngày càng phát triển cùng với cuộc cách mạng khoa học và
kỹ thuật hiện đại, khi mà chất xám được coi là thứ hàng hoá quý giá một loại hàng hóa đặc biệt cần phải mua bán troa đổi, cần phải khai thác đầu tư
Thị trường công nghệ cũng chia thành 2 loại: một là thị trường phần cứng, là nơi mua bán trao đổi những thành phần công nghệ phổ biến với giá gần như đã có sẵn và tương đối ổn định Hai là thị trường phần mềm là nơi mua bán trao đổi kiến thức, bí quyết hướng dẫn, kể cả những chất xám hoặc mua bán những công nghệ còn nằm trong bí mật Thông thường thị trường công nghệ không ổn định và trừu tượng, giá cả chưa được định sẵn và rất linh hoạt thậm chí vẫn bán rất đắt vượt ra ngoài dự đoán thông thường bởi tính bí mật và sự cạnh tranh cao giữa các bên với nhau.
I.3.I.6 Ảnh hưởng của việc lựa chọn các hình thức chuyên giao công nghệ
Chuyển giao công nghệ là quá trình đưa một công nghệ tiên tiến vào sản xuất thông qua việc áp dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất hoặc có thể áp dụng công nghệ
đã hoàn thiện từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp kia.
Chuyển giao công nghệ còn được thể hiện chủ yếu thông qua việc mua bán trao đổi công nghệ trên thị trường công nghệ Có hai hình thức chuyển giao (kênh chuyển giao)
là chuyển giao dọc và chuyển giao ngang.
Chuyển giao dọc: Là hình thức chuyển giao từ nghiên cứu sang sản xuất Hình thức này có thể mang đến cho doanh nghiệp một công nghệ hoàn toàn mới nhưng độ rủi do mạo hiểm cao.
Chuyển giao ngang: Là hình thức chuyển giao những công nghệ hoàn thiện từ nơi này đến nơi khác, từ nước này sang nước khác, từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác hình thức này không mạo hiểm có độ tin cậy cao, tuy nhiên bên nận công nghệ thường phải chấp nhận một công nghệ dưới tầm so với bên giao.
Đối với các nước đang phát triển như nước ta, chuyển giao công nghệ từ nước ngoài là phương thức chủ yếu để đổi mới công nghệ nhanh và có hiệu quả vì nó có tác dụng thừa
kế của thành tựu khoa học công nghệ thế giới, tiết kiệm chi phí ngiên cứu, nâng cao
Trang 18trình độ công nghệ thúc đẩy tăng trưởng và phát triển theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Hoạt động chuyển giao công nghệ gắn liền với hoạt động sở hữu công nghiệp (Industry property)là hoạt động xác định quyền sở hữu các đối tượng của sở hữu công nghiệp được bảo hộ độc quyền cho người chủ để tránh cạnh tranh bất chính Đối tượng sở hữu công nghiệp (ở Việt Nam) theo pháp lệnh bảo hộ độc quyền sở hữu công nghệ 11/2/89 của hội đồng nhà nước có thể là các sáng chế (Invention) Giải pháp hữu ích (useful solovution) Giải pháp hữu ích (useful solution) nhãn hiệu hàng hoá (Trade mark) kiểu dáng công nghiệp (Industrial design), tên gọi xuất xứ hàng hóa (Name of origin).
I.3.I.7 Đảm bảo vốn cho đổi mới công nghệ
Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp là chủ thể kinh doanh, là chủ đầu tư, là người đề xưóng và thực hiện đổi mới công nghệ Nhà nước đóng vai trò định hướng, tạo môi trường, điều kiện và chỉ tài trợ một phần cho những dự án đổi mới công nghệ thuộc chương trình trọng điểm.
Vốn đi đôi với kỹ thuật Vốn huy động được nhiều hay ít, sử dụng có hiệu quả cao hay thấp tuỳ thuộc rất nhiều ở cơ chế và chính sách, ở nghệ thuật huy động sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Đa dạng hoá và tăng cường các nguồn vốn cho đổi mói công nghệ của doanh nghiệp, trong đó cần tăng phần vốn tự có và vốn liên doanh, liên kết là điều cần thiết có tính khách quan, do đó doanh nghiệp phải thật sự coi trọng vấn đề bảo đảm vốn cho đổi mới công nghệ.
1.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đổi mói công nghệ của doanh nghiệp I.3.2.I Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đổi mới công nghệ chung của các doanh nghiệp.
• Nhóm chỉ tiêu đánh giá phương tiện lao động
Tổng số máy móc thiết bị công suất thiết kế và công suất thực tế, số lượng sản phẩm sản xuất ra trong năm
- Hệ số tham gia sản xuất của thiết bị và số ca sản xuất
E = Gsxbq/ G Trong đó: E: hệ số tham gia sản xuất của thiết bị
Gsxbq: Tổng giá trị máy móc tham gia vào sản xuất bình quân G: Tổng giá trị máy móc thiết b ị.
Trang 19Chỉ tiêu náy dùng để đánh giá khả năng sử dụng và khai thác của thiết bị tham gia váo sản xuất.
Hệ số hao mòn, hệ số hao mòn hữu hình, và giá trị còn lại:
h = P/T (%).
h: hệ số hao mòn hữu hình
P: tổng tích số giữa tích trọng giá trị và mức hao mòn của các bộ phận cấu thành bộ phận cấu thành thiết b ị.
T: Tổng tỷ trọng giá trị của các bộ phận cấu thành thiết b ị.
- Mục đích: chỉ tiêu này dùng để đánh giá mức độ khấu hao và năng lực sản xuất của máy móc thiết bị sản xuất hiện có
- Khả năng kỹ thuật của thiết bị
- Cấp chính xác
- Khả năng công nghệ gia công lớn nhất.
Chỉ tiêu này dùng để xác định mục tiêu thực hiện được của máy móc thiết bị thực tế đang sản xuất.
- Mức độ hiện đại của thiết bị công nghệ, tỷ trọng thiết bị hiện đại so vói tổng thiết bị hiện có, trình độ cơ giới hoá, tự động hóa.
Hhđ= Ghd/G.
Hhđ: Mức độ hiện đại của công nghệ Ghd: Tổng giá trị máy móc thiết bị hiện đại
G : Tổng giá trị máy móc thiết b ị.
Đánh giá mức độ hiện đại và khả năng đồng bộ sản xuất.
- Hệ số đổi mới thiết bị
- Hệ số đổi mới (Hdm ).
Gt Hdm
Gbq Gt: Tổng giá trị máy móc tăng thêm trong kỳ.
Gbq Tổmg giá trị máy móc thiết bị bình quân trong kỳ.
Mục đích: Phản ảnh trình độ đầu tư, trình độ đổi mói máy móc thiết bị của doanh nghiệp, đây là thông tin quam trọng nhất phản ảnh hoạt động đầu tư đổi mới của doanh nghiệp, chất lượng của cơ sở vật chất, kỹ thuật Nó được tính bằng tỉ số giữa giá trị
Trang 20thiết bị mới đưa vào ( một năm hoặc một số năm ) và tổng giá trị thiết bị
- Mức độ huy động công suất thiết kế.
Qthkh Ncs = - %
Q tk Qthkh : Tổng sản lượng sản phẩm thực hiên trong kỳ kế hoạch
Q tk : Tổng sản lượng sản phẩm theo thiết kế.
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sản xuất về mặt sản lượng sản xuất thực tế so với sản lượng theo mức thiết kế Nó cũng phản ánh mức huy động năng lực công nghệ và thiết
b ị.
- Tỷ trọng thiết bị hiện đại:
Ghđ Ihđ = %
G sx
G hđ : Tổng giá trị thiết bị hiện đại trong dây truyền sản xuất.
G sx : Tổng giá trị thiết bị của dây truyền sản xuất.
Chỉ tiêu này đặc trưng cho mức độ hienẹ đại về trang thiết bị công nghệ của dây truyền sản xuất Được tính bằng tỷ số giữa tổng giá trị thiết bị hiện đại trong dây truyền sản xuất và tổng giá trị thiết bị của dây truyền sản xuất.
• Nhóm chỉ tiêu đánh giá về trình độ sử dụng nguyên vật liệu.
Hệ số sử dụng nguyên vật liệu (Hsd)
H sd = Mc/a Mc: Khối lượng nguyên vật liệu đã dùng.
Q : Số lượng sản phẩm sản xuất ra
Mục đích: Đánh giá mức tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu cho một đơn vị sản phẩm qua
đó đánh giá trình độ công nghệ sản xuất.
Trang 21Hệ số chi phí nguyên vật liệu trong giá thành sản phẩm Thông qua đó đánh giá trình độ hiện đại của thiết bị công nghệ qua mức tiêu hao năng lượng nguyên vật liệu.
• Nhóm chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả tổ chức và quản lý sản xuất
- Mức trang bị năng lượng cho lao động :
Q cs
Hni = - ( Kn/nguời)
Lcn
Q c s : Tổng công suất của máy móc thiết b ị.
Chỉ tiêu này được tính bằng tổng công suất của máy móc thiết bị và tổng số cán bộ công nhân viên quản lý và vận hành máy móc thiết bị đó
- Mức trang bị vốn cho sản xuất:
Chỉ tiêu này phản ánh cơ sở vật chất được đầu tư cho lao động.
(
Số liệu tổng hợp: Số lượng lao động bình quân của doanh nghiệp trong năm, số lao động trực tiếp tham gia sản xuất số lao động có trình độ trên đại học, đại học, cao đẵng, trung cấp, số lao động có trình độ bậc 4 trở lên
số lao động kỹ thuật kinh tế của xí nghiệp.
- Chỉ tiêu chất lượng lao động: bậc thợ bình quân của công nhân sản xuất, tỷ lệ lao động gián tiếp so với trực tiếp, cán bộ kỹ sư so vói công nhân sản xuất.
Các chỉ tiêu trên để đánh giá chất lượng, số lượng lao động và tỷ lệ hợp lý trong lao động, từ đó đưa ra hiệu quả sử dụng lao động trong doanh nghiệp.
• Nhóm chỉ tiêu đánh giá về chất lượng, hiệu quả
- Tỷ trọng sản phẩm sản xuất theo công nghệ mới được áp dụng trong năm
Gm
Km = -%
G sp
G sp : Tổng giá trị sản phẩm được sản xuất ra trong năm.
Trang 22Chỉ tiêu này biểu hiện mức độ đổi mới quá trình công nghệ Nó được xác định bằng tỷ
số giữa tổng giá trị sản phẩm được sản xuất theo công nghệ mới và tổng giá trị sản phẩm được sản xuất ra trong năm
- Tỷ lệ giữa công suất và trọng lượng máy móc để đánh giá trình độ thiết kế và công nghệ sản xuất
Các chỉ tiêu chất lượng khác: sự chính xác và phức tạp của máy móc sản xuất và sản phẩm xuất khẩu để đánh giá sản phẩm xuất ra
- Các chỉ tiêu hiệu quả: Năng suất lao động bình của công nhân quân năm, tỷ lệ chi phí so với doanh thu, tỷ lệ lợi nhuận năm so với chi phí sản xuất trong năm, số vòng quay của vốn trong năm
I.3 2 2 Nhóm chỉ tiêu đặc thù đánh giá hiệu quả đổi mói công nghệ của ngành bưu chính viễn thông.
- Chỉ tiêu sản lượng điện thoại trong nưóc, quốc tế hàng năm: Được tính bằng số phút giao dịch bằng điện thoại của khách hàng trong năm phân tích
- Chỉ tiêu mật độ điện thoại trên 100 dân : Là số lượng điện thoại trung bình trên 100 dân
- Chỉ tiêu số kênh liên lạc mở đi liên tỉnh : Là số kênh mà tổng đài và chuyển mạch có thể mở đi liên tỉnh
- Chỉ tiêu tốc độ , dung lượng truyền dẫn : Là tốc độ và dung lượng thông tin được truyền đi trong một khoảng thời gian
- Chỉ tiêu sản lượng báo chí phát hành trong năm: Là tổng số lượng tờ báo được ngành bưu chính viên thông phát hành trong năm phân tích
- Chỉ tiêu sự tăng trưởng số Bưu cục : Là số lượng bưu cục tăng hàng năm của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam
- Chỉ tiêu Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu : Là chỉ tiêu thể hiện số lợi nhuận thu được
là bao nhiêu khi chủ sở hữu bỏ ra đồng vốn thực hiện.
1.4 Tính tất yếu của việc nâng cao hiệu quả đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nói chung và ngành Bưu chính Viễn thông Việt nam nói riêng.
1.4.1 Xu thê hội nhập thương mại toàn cầu (WTO)
WTO là tổ chức Thương mại thế giới được thành lập và có hiệu lực từ ngày 01-01-1995 WTO ra đời nhằm định hình các qui chuẩn điều tiết thương mại thế giới Khi trở thành
Trang 23thành viên của WTO, các nước đang phát triển có những lợi ích như: Đẩy mạnh thương mại với các nước thành viên trong WTO, sự đảm bảo của quốc tế khuyên khích đầu tư, cải thiện hệ thống giải quyết tranh chấp với các cường quốc thương m ạ i
Đầu năm 1995 Việt Nam đã chính thức nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Gia nhập WTO là một tiến trình thực hiện chủ trương hội nhập của Đảng
và Nhà nước ta, việc tham gia WTO sẽ một mặt tạo ra những cơ hội mới cho sự phát triển kinh tế thương mại của đất nước nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn lao Điều này đặt ra một đòi hỏi cấp bách là phải tập trung nỗ lực, đầu tư, đổi mới cơ cấu kinh tế, đổi mói công nghệ Để không ngừng nâng cao sức cạnh tranh về chất lượng và giá cả để hàng hoá, dịch vụ Việt Nam vươn được ra thị trường quốc tế củng cố chỗ đứng và phát triển
1.4.2 Chu kỳ đổi mới công nghệ của ngành bưu chính viễn thông
• Đối với mỗi chủng loại sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ đều có công nghệ tương ứng tạo ra chúng Trong quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ, dần dần những công nghệ này bộc lộ những yếu điểm của mình chẳng hạn như cho năng suất thấp, kém tối ưu trong vận hành xử lý, tác động xấu đến môi trường, chi phí tạo ra sản phẩm dịch vụ cao, sản phẩm dịch vụ kém đa năng, khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thấp Mặt khác, các phát minh khoa học của loài người không ngừng tiến bộ tạo ra những công nghệ mới có thể cung cấp sản phẩm dịch vụ một cách tối ưu hơn những công nghệ trước đó Điều này đặt ra cho nhà cung cấp sản phẩm dịch vụ phải luôn luôn tìm cách đổi mới công nghệ của mình, thường diễn ra khi công nghệ đã hoàn thành mục tiêu của nhà cung cấp (thu hồi xong vốn ) hoặc có khả năng sử dụng công nghệ mới với tính ưu việt hơn công nghệ cũ Sự thay đổi mang tính quy luật đối với vấn đề đổi mới công nghệ này gọi là chu kỳ đổi mới công nghệ
• Vào những năm cuối của thế kỷ 20 do sự bùng nổ thông tin, sự phát triển mạnh như
vũ bão của khoa học công nghệ nói chung và công nghệ thông tin, viễn thông nói riêng dẫn đến công nghệ tạo ra sản phẩm, dịch vụ của ngành Bưu chính Viễn thông thường bị lạc hậu rất nhanh chóng, trong khi nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của ngành Bưu chính Viễn thông lại không ngừng tăng lên, điều này khiến cho ngành Bưu chính Viễn thông phải luôn luôn đổi mới công nghệ tạo ra sản phẩm dịch vụ của mình dẫn đến chu kỳ đổi mới công nghệ của ngành Bưu chính Viễn thông ngày càng trở nên ngắn hơn
Trang 24• Kể từ khi Morse phát minh ra máy điện thoại thì quy trình đơn giản chỉ là hai bộ khuyếch đại âm thanh ở hai đầu nghe Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, vói việc áp dụng công nghệ mới nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng và ngày một tăng của người tiêu dùng, quy trình công nghệ tạo ra sản phẩm viễn thông tuy vẫn giữ về căn bản theo nguyên lý của Morse nhưng ở mức độ phức tạp hơn nhiều Thay vì liên lạc đơn tuyến như ngày xưa thì người sử dụng đã có thể liên lạc
đa tuyến Điều này có được những ứng dụng của việc phát minh ra tổng đài Ngày nay người ta có thể tăng khoảng cách đó lên đến vô cùng lớn nhờ ứng dụng của công nghệ truyền dẫn kỹ thuật số Tín hiệu sau khi qua tổng đài sẽ được số hoá và truyền
đi dưới dạng dữ liệu thông tin (data) nên không bị ô xi hoá, bị biến dạng, sau đó đến tổng đài nơi nhận lại được giáp mã và trở về đúng với dây tín hiệu âm thanh ban đầu
và đến tai người nghe Tóm lại, quy trình công nghệ hiện nay (Những thuộc thập niên 90) để tạo ra một sản phẩm viễn thông về căn bản gồm có các bộ phận cấu thành như sau :
- Thiết bị đầu cuối : Khách hàng sử dụng
- Hệ thống chuyển mạch tổng đ à i: Để mã hoá thông tin và định tuyến thông tin
- Hệ thống truyền dẫn : Có nhiệm vụ truyền thông tin từ tổng đài nơi gửi đến tổng đài nơi nhận thông tin và ngược lại Tuỳ theo mức độ hiện tại mà thiết bị đầu cuối khách hàng sử dụng có thể là kỹ thuật số, có thể là kỹ thuật đơn giản (Analog), có thể là máy điện thoại, máy Fax, máy vi tính hay những thiết bị khác mà người sử dụng dùng làm công cụ để gửi và nhận thông tin phần chuyển mạch và tổng đài cũng
có nhiều thê hệ khác nhau, từ thế hệ chuyển mạch đơn giản, nhân công của những năm đầu thế kỷ (ở VN đến giữa những năm 80 vẫn còn nhiều nơi dùng hệ thống chuyển mạch nhân công) đến những hệ thống chuyển mạch tổng đài tự động, kỹ thuật số tạo ra một khả năng lổm hơn, cho nhiều giao dịch viễn thông hơn trong một khoảng thời gian nhất định
• Hệ thống truyền dẫn dây dẫn đồng, dây thép xưa kia cuối thế kỷ XX nay đã được thay bằng hệ thống truyền dẫn cáp quang, vệ tinh, vi ba, giúp cho khối lượng và chất lượng dây thông tin đi qua được nhiều hơn tốt hơn và quan trọng nhất là nó không bị hạn chế bởi không gian như những thiết bị truyền dẫn bằng dây đồng, dây thép trước đây
• Trong quá trình đổi mới công nghệ của mình, Ngành Bưu chính Viễn thông Việt
Trang 25nam cũng lặp lại chu kỳ phát triển của Viẽn thông thế giới đó là từ đơn giản: không phải chuyển mạch (đơn tuyến) đến phức tạp hơn (đa tuyến đơn giản) như trong sơ
đồ 1 :
Sơ đồ 1: chu kỳ đổi mới công nghệ của ngành Bưu chính Viễn thông
Với mỗi giai đoạn của công nghệ đều có thể thực hiện được mục đích truyền thông tin nhưng ở chu kỳ sau công nghệ được phát triển cao hơn, vẫn kế thừa một phần kết quả hoặc cơ sở vật chất ở chu kỳ trước nhưng đa năng hơn, tiện lợi hơn, đòi hỏi trình độ sử dụng ở kỹ thuật cao hơn trước Ngành Bưu chính Viễn thông Việt nam xuất phát từ công nghệ lạc hậu (chuyển mạch bằng tay, chuyển mạch bằng điện tử) tiến thẳng vào công nghệ hiện đại (chuyển mạch số, chuyển mạch gói, ) Đây là một hướng đi đúng đắn của ngành nhằm rút dần khoảng cách vói các nước có nền bưu chính viễn thông phát triển
1.4.3 Thực trạng công nghệ , vai trò và tích chất cung cấp sản phẩm, dịch vụ của bưu chính viễn thông
Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang đặt ra những đòi hỏi cao đối với cơ sở hạ tầng và dịch vụ Bưu chính Viễn thông, nhất là trong điều kiên đẩy mạnh hợp tác khu vực và trên thế giới Bưu chính Viễn thông là một ngành kinh tế kỹ thuật lớn, thuộc kết cấu hạ tầng, vừa là công cụ phục vụ sự chỉ đạo của Nhà nưóc trong việc
Trang 26điều hành nền kinh tế, vừa là cơ sở hạ tầng trọng điểm chiến lược đối với sự phát triển kinh tế xã hội Ngành Bưu chính Viễn thông phát triển tốt sẽ tạo đà cho các ngành khác cùng tăng trưởng, góp phần đưa đất nước bắt kịp đà tiến triển của các nưóc công nghiệp hoá mới, hội nhập thành công vào cộng đồng quốc tế Vị trí và vai trò quan trọng này đã tạo ra một áp lựa rất lớn đòi hỏi bưu chính viễn thông phải có những thay đổi, cải cách trong nhiều lĩnh vực mà đặc biệt là lĩnh vực đổi mới công nghệ
Vấn đề đổi mới công nghệ của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam xuất phát
từ hai nhân tố: nhân tố bên ngoài và nhân tố bên trong bản thân Tổng công ty Nhân tố bên ngoài gồm có nhu cầu của thị trường về số lượng và chất lượng sản phẩm, dịch vụ, trình độ phát triển công nghệ thế giới, vị trí, vai trò đối với nền kinh tế như đã nêu, còn nhân tố bên trong chính là sự lạc hậu thiếu đổng bộ, mất cân đối về công nghệ Khi thị trường phát triển sẽ đặt ra những yêu cầu cấp thiết đối với doanh nghiệp đòi hỏi phải tăng khối lượng hay cải tiến đổi mới sản phẩm nhằm ngày càng thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, tuy nhiên với trình độ công nghệ lạc hậu, Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam không thể thực hiện kế hoạch sản phẩm mới hay tạo ra những sản phẩm
có tính cạnh tranh cao, bên cạnh đó trình độ khoa học công nghệ không ngừng phát triển trên thế giới tạo ra nhiều công nghệ mới với sản phẩm, dịch vụ có tính năng đa dạng và phong phú có khả năng thoả mãn tiêu dùng tốt, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao Dưới sự tác động đồng thời của các nhân tố trên đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam phải nâng cao hiệu quả đổi mới công nghệ như một điều kiện tiên quyết về sự tổn tại trong cơ chế thị trường
Trang 27Trụ sở chính: 18 Nguyễn Du - quận Hai Bà Trưng, Tp Hà Nội
Điện thoại: (84-4) 8265104; Fax: (84-4) 8255851
- Được thành lập theo quyết định số 249/TTG ngày 29/4/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam và Nghị định
số 51/CP ngày 1/8/1995 của Chính phủ phê chuẩn Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Tổng Công ty
- Giấy đăng ký kinh doanh số 109883 ngày 20/06/1995 của ủ y ban Kế hoạch Nhà nước
Vốn kinh doanh: 2.501.369 triệu đồng.
- Tài khoản Ngân hàng Nội tệ:
710A.00416 - Hội sở Ngân hàng Công Thương Việt Nam
- Tài khoản Ngân hàng Ngoại tệ:
362.111.370204 - Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
2.1.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam.
Tổng Công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam là doanh nghiệp lớn của Nhà nước với các hoạt động chủ yếu trên phạm vi toàn quốc là:
• Kinh doanh các dịch vụ Bưu chính Viễn thông
• Khảo sát thiết kế, xây dựng các công trình Bưu chính Viễn thông
• Xuất nhập khẩu, cung ứng vật tư thiết bị Bưu chính Viễn thông
• Sản xuất công nghiệp Bưu chính Viễn thông
• Tư vấn về lĩnh vực Bưu chính Viễn thông
Trang 282.1.1.3 Cơ cấu tổ chức hiện nay.
Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức hoạt động của
Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam
Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam là doanh nghiệp lớn của Nhà nước, được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, cơ quan chủ quản là Tổng cục Bưu điện Mô hình Tổng công ty là mô hình tập đoàn bao gồm nhiều đơn vị thành viên (các đơn vị sự nghiệp, các công ty cổ phần, các công ty, nhà máy xí nghiệp, 61 bưư điện tỉnh, thành phố) hạch toán độc lập Các đơn vị thành viên được đặt dưới sự điều hành của Ban giám đốc điều hành và Ban kiểm soát Hội đồng quản trị điều hành thông qua Ban giám đốc điều hành và thông qua Ban kiểm soát của Tổng công ty (sơ đồ ,2)
Đây là mô hình hoạt động vừa bảo đảm sự chỉ đạo trực tiếp từ Thủ tướng Chính phủ với những chủ trương lớn của Nhà nước, bảo đảm tính kịp thời và mạnh của Tổng công ty, đổng thời có sự chỉ đạo chuyên ngành từ phía cơ quan chủ quản Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam vừa đảm bảo tính năng động cho các thành viên trong Tổng công ty vừa phát huy được sức mạnh của tập hợp các thành viên dưới sự điều hành của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc điều hành, dưới sự giám sát của Ban kiểm soát
2.1.2 Quá trình phát triển của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam.
Sau khi tiếp quản bưu điện từ chính quyền Đông dương, Bưu điện Việt nam đã làm tốt
Trang 29nhiệm vụ làm cầu nối thông tin liên lạc phục vụ kháng chiến cứu nước và phục vụ nhu cầu trao đổi thông tin của nhân dân, từ đó đến nay Bưu điện đã trải qua các giai đoạn phát triển sau:
Giai đoạn 1: Từ 1945-1954.
phục vụ kháng chiến cứu nước, phục vụ nhân dân và bắt đầu xây dựng mạng lưới thông tin bưu điện thống nhất
kỳ và Nam kỳ, dưới mỗi nha là các bưu cục như bưu cục Hà nội, Hải phòng, Nam định
nghệ của thời kỳ đầu thế kỷ, chủ yếu sử dụng thiết bị của các hãng như Morse, Hughes, Bandot, điện thoại sử dụng máy kiểu năm 1910, tổng đài từ thạch, cộng điện
Giai đoạn 2: Từ 1954-1985.
thống nhất, rộng rãi, phục vụ công cuộc xây dựng CNXH đồng thời phục vụ kháng chiến chống đế quốc Mỹ ở miền Nam Sau khi miền Nam được giải phóng, hệ thống bưu chính Viễn thông tiếp tục phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt nam XHCN
thành Tổng cục Bưu điện Việt nam trực thuộc Bộ giao thông-Bưu điện Dưới Tổng cục Bưu điện là các sở Bưu điện thuộc các tỉnh, thành phố, dưới sở Bưu điện là các công ty điện báo, điện thoại, các phòng bưu điện huyện, trạm bưu điện xã Năm 1961, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 63/CP-QĐ đưa Tổng cục Bưu điện về trực thuộc trực tiếp Hội đồng Chính phủ Từ năm 1975 trở đi, Tổng cục Bưu điện miền Nam được thành lập
để tiếp quản cơ sở Bưu điện của Nguy quyền Sài gòn Tổng cục Bưu điện là cơ quan quản lý về lĩnh vực Bưu chính Viễn thông trên phạm vi cả nước
hơn nữa đã có nhiều năm xây dựng và phát triển nên công nghệ đã tiến bộ hơn nhiều so với giai đoạn trước, chủ yếu sử dụng công nghệ của những năm 1960 của các nước XHCN như Liên xô, Trung quốc
Giai đoạn 3: Từ 1985-1995.
Trang 30xây dựng đất nước, mở rộng hợp đa phương với Thế giới, tạo cơ sở vật chất hiện đại, đa dạngvề bưu chính viễn thông nhằm thu hút đầu tư quốc tế, phát triển kinh tế đất nước.
Bưu điện là cơ quan quản lý Nhà nưóc về Bưu chính Viễn thông của Việt nam, dưới Tổng cục Bưu điện có các cục chuyên trách, các sở bưu điện tỉnh, thành phố thuộc Trung ương
từ 1986-1995) đã đưa vào áp dụng hàng loạt công nghệ mới trong lĩnh vực truyền dẫn, chuyển mạch và tổng đài 100% hệ thống truyền dẫn liên tỉnh được số hoá, tổng đài điện tử kỹ thuật số với dung lượng rất lớn được thay cho tổng đài thế hệ bán nhân công
Số lượng phương tiện bưu chính-phát hành báo chí cũng được hiện đại hoá nhanh chóng rút ngắn thời gian chuyển phát trung bình thư, bưu kiện từ 01 tháng xuống còn 03 ngày
Giai đoạn 4: Từ 1995-nay.
triển của ngành nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của xã hội, của nền kinh tế mở, của an ninh quốc phòng, tạo tiền đề vững chắc cho tiến trình hội nhập WTO vào những năm đầu của thế kỷ 2 1
công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam trên cơ sở toàn bộ khối phục vụ kinh doanh của Tổng cục Bưu điện Việc thành lập Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam là một bước kế tiếp của quá trình phát triển và trưởng thành về cơ sở vật chất và tổ chức của ngành Bưu điện Việt nam, Mô hình tổng công ty mạnh của Chính phủ, Tổng công
ty Bưu chính Viễn thông Việt nam sẽ là động lực mạnh, thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp bưu chính viễn thông Việt nam, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, góp phần hoàn thiện cơ sở hạ tầng của nền kinh tế quốc dân, làm nền tảng cho những bước phát triển tiếp theo của nền kinh tế Việt nam trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá làm tiền đề cho hội nhập cùng với nền kinh tế Thế giới
công nghệ mới, hiện đại Đến nay, Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam đã có một cơ sở công nghệ khá hiện đại, đáp ứng được hàng loạt các dịch vụ mới như : dịch vụ truyền dữ liệu, thông tin di động, điện thoại thẻ .Tuy nhiên do quá trình phát triển khá
Trang 31một số hạn chế sau:
- Hệ thống công nghệ chưa đồng bộ
- Phạm vi hoạt động chưa được phủ đến các vùng sâu, vùng xa
2 2 Phân tích thực trang công nghệ và hiệu quả đổi mới công nghệ ở Tổng công
ty Bưu chính Viễn thông Việt nam.
2.2.1 Những đặc điểm kinh tế-kỹ thuật chủ yếu ảnh hưởng tói hiệu quả đổi mới công nghệ ở Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam.
2.2.1.1 Đặc điểm công nghệ dịch vụ Viễn thông.
Sản phẩm dịch vụ viễn thông là sản phẩm dịch vụ được tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu trao đổi thông tin, liên lạc tức thời qua các đối tượng ở những vị trí khác nhau, nó có 3 đặc điểm chính:
• Là những tin tức, tài liệu được chuyển từ người gửi tới người nhận ở những vị trí khác
nhau dưới dạng tín hiệu
• Những nội dung thông tin cần chuyển phát nhanh, bảo đảm an toàn, chính xác tuyệt đối về nguồn và dòng thông tin từ người gửi đến người nhận, số lượng sản phẩm phụ thuộc vào nhu cầu và sử dụng hệ thống thiết bị, máy móc và loại hình dịch vụ viễn thông mà nhà khai thác cung cấp
• Nhu cầu sử dụng sản phẩm dich vụ ngày càng tăng
Ngày nay hệ thống viễn thông điện tử được xem như các phương tiện kinh tế nhất có được để trao đổi tin tức và các số liệu, v ề cơ bản quy trình công nghệ tạo ra sản phẩm
n h a n h tr o n g th ờ i g ia n n g ắ n n ê n h ệ th ố n g c ô n g n g h ệ B ư u c h ín h V iễ n th ô n g V iệ t n a m c ó
Sơ đồ : 3 Quy trình công nghệ tạo ra sản phẩm Viễn thông :
Trang 322.2.I.2 Đặc điểm công nghệ dịch vụ Bưu chính.
Sản phẩm dịch vụ bưu chính là sản phẩm dịch vụ được tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu trao đổi thông tin, hàng hoá giữa các đối tượng ở những vị trí khác nhau
Sản phẩm dịch vụ Bưu chính có các đặc điểm chủ yếu:
• Là những tài liệu, hàng hoá được chuyển từ người gửi đến người nhận dưới dạng vật chất từ nơi này đến nơi khác
• Sản phẩm dịch vụ bưu chính không yêu cầu thời gian chuyển tức thời từ người gửi đến người nhận mà bao giờ cũng có một khoảng thời gian trễ do khâu vận chuyển vật
Sơ đổ 4: Quy trình công nghệ tạo ra sản phẩm Bưu chính.
Trang 332.2.I.3 Đặc điểm về thị trường và khách hàng sử dụng dịch vụ Bưu chính Viễn thông.
2.2.I.3.I Đặc điểm thị trường dịch vụ Bưu chính viễn thông
Thị trường dịch vụ Bưu chính viễn thông bao gồm thị trường trong nước và thị trường ngoài nước
• Thị trường bưu chính, viễn thông trong nước.
Thị trường trong nước được phân biệt với thị trường nước ngoài bởi phạm vi địa lý, không gian lãnh thổ CH XHCN Việt nam Thị trường trong nưóc bao gồm 61/61 Tỉnh, Thành phố, vùng biển, vùng trời Việt nam Thị trường trong nước bao gồm tất cả những đối tượng mua và bán dịch vụ bưu chính viễn thông bên trong lãnh thổ Việt nam Đặc điểm của thị trường Bưu chính - Viễn thông trong nưóc là thị trường gần như độc quyền của TCT BCVT Việt nam, bên cạnh đó có một thị phần rất nhỏ của Công ty viễn thông quân đội và một sô Công ty liên doanh vói TCT BCVT để khai thác một vài dịch vụ mới Thị trường trong nước có tiềm năng lớn, Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt nam đã khai thác nhiều nhưng chưa khai thác hết tiềm năng này
• Thị trường bưu chính, viễn thông ngoài nước :
Thị trường BC-VT ngoài nước bao gồm tất cả các nước trên thế giói và Việt nam Thị trường ngoài nuớc được chia ra làm 2 thị trường nhỏ là thị trường khu vực và thị trường quốc tế
Thị trường khu vực bao gồm các nước thuộc khu vực Châu á như úc, Singapore, Trung
quốc, Nhật bản, Thái Lan Thị trường Châu á có đặc điểm là nơi nhận các giao dịchBC-VT quốc tê xuất phát từ Việt nam Tuy nhiên, giao dịch loại này chưa nhiều do giá cước quốc tế của Việt nam cao hơn các nước trong khu vực nên thường bị “nhập siêu” (Sô giao dịch đến VN nhiều hơn sô giao dịch đi từ VN) Thị trường các nước khu vực Châu á rất lón, có nhiều tiềm năng mà TCT BCVT VN chưa khai thác được
Thị trường BC-VT quốc tế bao gồm các nước nằm ngoài khu vực Châu á Cũng như
thị trường Châu á, thị trường thế giới là nơi các giao dịch viễn thông được kết nối và nước nào có nhiều cuộc gọi quốc tế xuất phát đi đến thị trường này thì nước đó sẽ thu được lợi nhiều hơn Tại thị trường thế giới, nhất là các nước công nghiệp phát triển, thị phần của TCT BCVT VN là rất nhỏ và cũng chủ yếu là nhập siêu về sử dụng viễn thông Nguyên nhân của hiện tượng nhập siêu về kinh doanh dịch vụ viễn thông quốc tê là do giá cước của VN quá cao, các dịch vụ viễn thông của VN chưa đa dạng Biểu 1 phân loại
Trang 34đ ặ c đ iể m th ị trư ờ n g B ưu c h ín h V iễ n th ô n g th e o v ị trí đ ịa lý
TT Tên thị trường BC-VT Sử dụng dịch vụ BC-VT Đặc điểm
1 Thị trường trong nước Tất cả sử dụng dịch vụ
BC-VT và cả những giao dịch liên tỉnh
- TCTBCVT VN chiếm thị phần lớn nhất ( có thể coi
là thị trường của TCT BCVT VN)
- Có nhiều tiềm năng
2 Thị trường khu vực
Châu á
Các giao dịch BC-VT quốc tế
- Hiện nay đang có hiện tượng “nhập siêu”
- Thị trưòng rất lớn
- Khả năng sinh lợi cao
- TCT BCVT VN chiếm tỷ trọng nhỏ trong tất cả các giao dịch BC-VT quốc tế trong khu vực
3 Thị trường thế giới (Bao
gồm các nước nằm
ngoài Châu á)
Các giao dịch BC-VT quốc tế
- Cũng có hiện tượng nhập siêu về phía VN
- Thị trường cực kỳ lớn
- Khả năng sinh lời cao
- VNPT chiếm thị phần rất nhỏ
Biểu 1 : Phân loại thị trường sử dụng bưu chính , viễn thông theo vị trí địa lý
2.2.I.3.2 Đặc điểm khách hàng sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông
Đi cung VỚI các thị trường bưu chính, viễn thông là khách hàng s ử dung dich vu bưu chinh, viên thông, một đôi tượng mà thiếu nó không tao thành thi trường và cũng s ẽ
chẳng có nhà cung cấp các dịch vụ bưu chính , viễn thông
• Đặc điểm khách hàng sử dụng dịch vụ BC-VT trong nước
Khách hàng sử dụng dịch vụ bưu chính viễn thông trong nước có 3 đối tượng chính là :
+ Khách hàng là hộ gia đình trực tiếp sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông
Đạc diêm cac đôi tượng khách hàng này là sổ lượng lớn, sử dung các dich vu bưu
Trang 35chính, viễn thông truyền thống như dịch vụ thoại cố định, dịch vụ thư tín, báo chí Đối tượng khách hàng này phụ thuộc vào tốc độ phát triển dân số và phát triển chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân đầu người Hiện nay, đối tượng khách hàng loại này chiếm hơn 10% doanh số dịch vụ bưu chính , viễn thông của Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt nam Khách hàng là hộ gia đình phân bố trên cả nước, từ thành thị đến nông thôn và chủ yếu là tập trung ở khu vực đô thị Khách hàng là hộ gia đình thường không có yêu cầu cao các loại hình dịch vụ viễn thông.
+ Khách hàng là các tổ chức, cơ quan doanh nghiệp trong nước.
Đặc điểm của đối tượng khách hàng này là các cơ quan, đơn vị kinh tế, xã hội do nhiều người sử dụng dịch vụ BC-VT sử dụng nên rất đa dạng Từ những dịch vụ truyền thống đến các dịch vụ mới như điện thoại cố định, Facsimile, Telex, thư tín, bưu kiện gửi nhanh, Số lượng đối tượng khách hàng là các tổ chức, tập thể không nhiều cước phí dịch vụ BC-VT mà từng tổ chức đóng hàng tháng thì lại nhiều hơn các hộ gia đình từ vài lần đến vài trăm lần Đối tượng khách hàng này phát triển theo tốc độ đầu tư và tốc độ phát triển kinh tế Xu hướng là đối tượng khách hàng này sẽ phát triển rất lón trong nhưng năm tới và Tông công ty Bưu chính viễn thông Việt nam cần có sư quan tâm thoa đáng tới đôi tượng khách hàng này v ề vi trí đĩa lý, khách hàng loai này tâp trung chủ yếu tại những trung tâm kinh tế, những trung tâm hành chính của từng vùng, từng khu vực
+ Khách hàng là người nước ngoài ở Việt nam.
Đối tượng khách hàng loại này là các tổ chức ngoại giao, tổ chức phi chính phủ, tổ chức kinh tế, văn hoá và các cá nhân nước ngoài hoạt động tại VN Đặc điểm của khách hàng này là họ sử dụng các dịch vụ truyền thống và dịch vụ mới Xu hướng là tỷ lệ sử dụng dịch vụ mới sẽ ngày càng nhiều do nhu cầu đi lại, do nhịp sống khẩn trương của họ nên
họ yêu câu những dịch vụ bưu chính , viễn thông rất đa dang nhằm phuc vu tốt hơn yêu câu giao dich cua họ Khách hàng loại này hiên nay sô lượng không nhiều do quan hê trong nước, ngoại giao của Việt nam mới phát triển sau nhiều năm đóng cửa Tuy nhiên, xu hướng đối tượng khách hàng lơn này sẽ phát triển cùng với sự phát triển của quan hệ thương mại, đâu tư và ngoại giao của Viêt nam Đây cũng là một trong những nguồn thu dịch vụ BC-VT quốc tế khá lớn của Việt nam
Trang 36STT Đối tượng KH Các dịch vu Đăc điểm
1 Khách hàng là
hộ gia đình
Các dịch vụ truyền thống
2 Khách hàng là
các cơ quan, tổ
chức VN
Các dịch vụ truyền thống và một số dịch vụ mới như : Facsimile,
Telex,Internet,
- Số lượng vừa phải
- Phân bố tại các Trung tâm hành chính của từng khu vực
- Xu hướng sử dụng dịch vụ mới ngày một tăng cao
- Các giao dịch BC-VT quốc tế diễn ra nhiều
- Yêu cầu về BC-VT rất đa dạng
- Phát triển theo sự mở rộng quan hệ thương mại, đầu tư, văn hoá, ngoại giao của VN với Thế giới
4 Khách hàng ở
nước ngoài
Chủ yếu là các giao dịch BC-
VT quốc tế
- Tiềm năng rất lớn
- Yêu cầu giá cước quốc tế thấp
- Số lượng hiện nay chưa nhiều
Biểu 2: Phân loại khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ BC-VT
• Khách hàng sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông ngoài nước.
Khach hang thi trương ngoai nước phân làm hai loai là người VN ở nước ngoài và người nước ngoài sống ở nước ngoài
Khách hàng là người Việt nam ở nước ngoài bao gồm các tổ chức kinh tế, văn hoá
ngoại giao cua VN, việt kiêu ơ nước ngoài Đối tượng khách hàng này cũng như người
nươc ngoai ơ Viẹt nam, bên cạnh các giao dich bưu chính , viễn thông ở nước sở tai
nhu cầu giao dịch bưu chính, viễn thông quốc tế về Việt nam là rất lớn Tuy nhiên số lượng này hiện nay chưa nhiều do hạn chế về chế độ xuất nhập quá cảnh chính phủ Việt nam
Trang 37Khách hàng là người nước ngoài ở nước ngoài: Đối tượng khách hàng này liên hệ bưu
chinh, viên thông quôc tê vê Việt nam chủ yếu là phuc vu công viêc, tuy quan hê của Việt nam ra mội trường quốc tế đã mở rộng nhưng vẫn ở mức thấp so với quốc tế Cũng gần như đối tượng khách hàng là người nuớc ngoài ở Việt nam, họ sẽ tăng nhanh theo tốc độ phát triển của quan hệ ngoại giao, thương mại, văn hoá xã hội của Việt nam vói các nước trên thế giới Đặc điểm chủ yếu của họ vói Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt nam là sử dụng các dịch vụ bưu chính , viễn thông quốc tế với Việt nam
Có thể thấy rõ hơn về đặc điểm thị trường và đặc điểm khách hàng sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông qua biểu 2:
2.2.2 Thực trạng ngành Bưu điện Việt nam trước khi thực hiện chiến lược đổi mới công nghệ và phát triển tăng tốc (giai đoạn trước năm 1985).
2.2.2.I Thực trạng chung về trang thiết bị và cơ sở vật chất.
Do đặc điểm lịch sử nên trang thiết bị chuyên dùng thuộc lĩnh vực bưu chính viễn thông Việt nam gồm nhiều chủng loại, nhiều thế hệ và sản xuất từ nhiều nước khác nhau
Vê thiết bị truyền dẫn: Gồm nhiều phương thức khác nhau như : Viba , dây trần sóng
ngan , cáp đông trục, thông tin vệ tinh( hệ Intersputnic) Song nói chung đều thuộc thế
hệ công nghệ cũ (Analog) chất lượng truyền dẫn kém , bị hạn chế về tốc độ và số lượng
Vê thiết bị chuyển mạch : Việt nam có 3.900 thiết bị chuyển mạch lớn nhỏ với dung
lượng khoảng 240.000 số (Dung lượng này chỉ đủ đáp ứng cho số thuê bao điện thoại cố định ở Hà nội vào năm 1998)
Vê sô'máy lẻ trong nước: Có khoảng 110.000 số, trong đó 50% là đấu nối bằng nhân
công (thao tác đấu nối các cuộc điện thoại bằng tay qua khai thác viên ) Phần lớn trang thiết bị đều thuộc thế hệ công nghệ của những năm thập niên 30
Có thể thấy rõ sự lạc hậu của trang thiết bị và công nghệ của ngành Bưu điện qua biểu 3 thống kê về cơ cấu trang thiết bị của ngành giai đoạn trước năm 1985
Trang 38STT Tên trang thiết bị Đơn vị
tính
Số lượng
Giá trị (Tr đồng)
So với tổng giá trị tài sản.
Biểu 3 : Cơ cấu trang thiết bị ngành Bưu chính, Viễn thông Việt nam
giai đoạn trước năm 1985.
Biêu 3 la minh chứng nói nên sự mất cân đối và thiếu thốn về trang thiết bi của ngành bưu điện Việt nam tại thời điểm trước khi tiến hành đổi mới công nghệ Tổng giá trị tiang thiêt bi quan trọng nhất của ngành chỉ chiếm gần 70% tổng giá trị tài sản, còn lại
là nhà cửa, công trình kiến trúc Nhìn chung, cơ cấu giữa hệ thống truyền dẫn, chuyển mạch, tổng đài là không tương xứng với nhau, hệ thống tổng đài quá nhỏ bé, chỉ chiếm 12,19% giá trị tài sản trong khi hệ thống thiết bị truyền dẫn lại chiếm tói 40,48% tổng giá trị tài sản, dung lượng quản lý cuộc gọi của tổng đài nhỏ, không cân đối với hệ thống thiết bị truyền dẫn và thiết bị đầu cuối
Trang 39Nguồn cung cấp trang thiết bị viễn thông cho ngành Bưu điện một phần là do Pháp để lại, mọt phan do viẹn trợ cua Liên xô cũ và các nước Xã hôi chủ nghĩa anh em như Hungary, Tiẹp khac, Trung quôc và một phần do Mỹ nguy để lai khi rút chay khỏi miền Nam Việt nam Có thể thấy rõ nguồn gốc và thế hệ trang thiết bị viễn thông của ngành Bưu điện qua biểu 4 sau:
1 Thiết bị đầu cuối (máy - Pháp để lại Thập niên 30 31%
điện thoại, telex, điện - Liên xô cũ Thập niên 70 17 %
2 Thiết bị truyền dẫn - Pháp để lại Thập niên 30 45%
- Chính quyền Nguy Thập niên 70 2 1%
3 Thiết bị tổng đài - Pháp để lại Thập niên 30
31%
- Chính quyền Nguy Thập niên 70 28%
Biểu 4: Nguồn gốc và thế hệ trang thiết bị viễn thông
Thê hệ trang thiết bị viễn thông đều đều rất cũ, lạc hậu chiếm tỷ trọng lớn là các trang thiết bị của Pháp để lại từ những năm của thập niên 30, chiếm một tỷ không nhỏ là các trang thiết bị của Liên xô cũ và của chính quyền nguy Sài gòn để lại, hầu hết đều là thế thiêt bị viên thông của những năm 70, còn lại là các trang thiết bị được viện trợ giúp
đỡ cuả các nước xã hội chủ nghĩa như Trung quốc, Hungary, Tiệp khắc Cho nên kém đông bộ, bởi vì các thê hệ thiết bị công nghệ viễn thông của những năm thập niên 70 về trước đều chưa được sản xuất và thiết kế theo tiêu chuẩn quốc tế mà chỉ theo tiêu chuẩn của từng nước hoặc một nhóm nưóc, khi sử dụng trên mạng lưới viễn thông đã gây nên rat nhieu sự trục trặc, tín hiệu suy hao nhanh, bán kính hoat động của tổng đài hep
Trang 40Dung lượng của tổng đài rất nhỏ, tối đa là 50 số nên với cùng một thời điểm mà số lượng giao dịch lên tới trên 50 cuộc gọi thì những cuộc gọi sau đó đều bị huỷ bỏ hoặc phải chờ đợi.
Hệ thống tổng đài được sử dụng đều đã cũ, phần lớn là quay số bằng tay, phần khác là
sử dụng tông đài điện tử to, cồng kềnh và cũng chỉ có khả năng quản lý giao dịch từ 100-200 giao dịch tại cùng một thời điểm Theo thống kê không đầy đủ thì tổng đài quay tay chiếm khoảng trên 60% còn lại là tổng đài điện tử
Sự lạc hậu về công nghệ tổng đài này cùng với sự lạc hậu chung về hệ thống thiết bị truyền dẫn và thiết bị đầu cuối đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dịch vụ viễn thông của ngành Bưu điện
2.2.2.2 Thực trạng đội ngũ lao động.
Số lượng lao động trong ngành Bưu điện giai đoạn trước năm 1985 rất đông nhưng chất lượng lao động không cao, được thể hiện rõ qua biểu 5 thống kê cơ cấu lao động của ngành qua một số năm trước khi thực hiện đổi mới công nghệ:
Năm Tổng số Trên đại học Đại học Trung cấp Công nhân
vì ngoài sự sáng tạo trong thực tiễn lao động đối với công việc hàng ngày cần phải xử lý được các thông tin và tri thức khoa học công nghệ của thế giới, vận dụng vào hoạt động cua ngành, chọn hướng đi đúng đắn cho sư phát triển khoa hoc công nghê của ngành