1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn đổi mới công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp xã ( nghiêncứu trường hợp tại tỉnh hoà bình)

110 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận Văn Đổi Mới Công Tác Lập Kế Hoạch Phát Triển Kinh Tế - Xã Hội Cấp Xã (Nghiên Cứu Trường Hợp Tại Tỉnh Hòa Bình)
Tác giả Vũ Văn Dũng
Người hướng dẫn Th.S. Vũ Cương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Phát Triển
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 38,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

K h á i niêm kế hoach và kế hoach hóa• • • Ke hoạch hoá kinh tế vĩ mô là một loại hình hoạt động của Chính phủ nhằm lựa chọn phương án sử dụng hợp lý các nguồn lực và quyết định các gi

Trang 1

4 LV

Trang 2

C huyên ngành: KINH TẾ PHẮT TRIỂN

Người hướng dẫn khoa học: T H S v ũ C Ư Ơ N G

T Ắ s J i ^ h

HÀ N Ộ I- 2 0 0 9

Trang 3

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích và cần thiết trong suốt chương trình đào tạo Cao học Kinh tế Phát triển khoá 14.

Xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo - Th.s Vũ Cương đã tận tình hướng dẫn và có những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin cảm ơn tập thể cán bộ, giảng viên Khoa Kế hoạch và Phát triển, Viện đào tạo Sau Đại học - Đại học Kinh tế Quốc dân, bạn bè cùng những người thân của tôi đã hết sức tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thiện luận văn của mình

Với sự giúp đỡ tận tình nói trên, luận văn của tôi đã đạt được một số kết quả nhất định Mặc dù vậy, công trình nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, tác giả mong nhận được góp ý chân tình của các thầy cô giáo, bạn bè và những người quan tâm

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2009

Vũ Văn Dũng

Trang 4

T Ó M T Ắ T L U Ậ N V Ă N

P H Ầ N M Ở Đ Ầ U 1

C H Ư Ơ N G 1: C ơ SỞ L Ý L U Ậ N V Ề L Ậ P K É H O Ạ C H P H Á T T R I Ể N K I N H T Ế H Ộ I 4

1.1 NHỮNG VẤN ĐÈ c ơ BẢN VÈ KÉ HOẠCH VÀ KÉ HOẠCH H ÓA 4

1.1.1 Khái niệm kế hoạch và kế hoạch hóa 4

1.1.2 Kế hoạch hoá và kế hoạch phát triể n 4

1.1.3 Bản chất của kế hoạch hóa phát triển 5

1.1.4 Khái niệm KHPT KTXH và lập Ke h o ạch 9

1.1.5 Ý nghĩa của việc lập KHPT K T X H 11

1.1.6 Nguyên tắc và căn cứ lập kế hoạch 11

1.2 VAI TRÒ CỦA KÉ HOẠCH TRONG NÈN KINH TÉ THỊ TRƯỜNG 13

1.2.1 Kế hoạch là công cụ của Nhà nước can thiệp nhằm khắc phục các khuyết tật thị trường, hướng hoạt động của thị trường vào hiệu quả xã h ộ i 14

1.2.2 Kế hoạch là công cụ của Nhà nước thực hiện những hoạt động mà thị trường không điều tiế t 15

1.2.3 Kế hoạch giúp Nhà nước hướng hoạt động KTXH của đất nước theo những mục tiêu mà Chính phủ cần đạt tớ i 16

1.3 CÔNG TÁC LẬP KHPT KTXH CẤP XÃ 24

1.3.1 Quy trình lập KHPT KTXH cấp x ã 25

1.3.2 Phưong pháp lập KHPT KTXH cấp xã 25

1.3.3 Nội dung bản KHPT KTXH cấp x ã 25

1.3.4 Tổ chức bộ máy lập KHPT KTXH cấp x ã 26

Trang 5

1.4.2*Yêu cầu đổi mới công tác lập KHPT KTXH tại cấp xã 28

C H Ư Ơ N G 2: T H ự C T R Ạ N G C Ô N G T Á C L Ậ P K Ế H O Ạ C H P H Á T T R I Ể N K I N H T Ế X Ã H Ộ I C Ấ P X Ẳ T Ạ I T Ỉ N H H Ò A B Ì N H 31

2.1 TỔNG QUAN VÈ TỈNH HÒA BÌNH VÀ CÁC VẤN ĐÈ PHÁT TRIỂN CỦA TỈNH 31

2.1.1 Tổng quan về lịch sử, địa lý của tỉnh Hoà Bình 31

2.1.2 Những thành tựu chủ yếu về phát triển KTXH của tỉnh Hoà Bình 33

2.2 THựC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP KHPT KTXH CẤP XÃ 34

2.2.1 Thực trạng quy trình lập KHPT K TX H 34

2.2.2 Thực trạng phương pháp lập KHPT KTXH cấp x ã 36

2.2.3 Thực trạng nội dung bản KHPT KTXH cấp x ã 39

2.2.3.1 Nội dung bản KHPT KTXH cấp xã hiện n a y 39

2.2.4 Tổ chức bộ máy lập KHPT KTXH cấp xã 45

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VÈ CÔNG TÁC LẬP KHPT KTXH CẤP XÃ HIỆN NAY 47

2.3.1 ư u điểm 47

2.3.2 Hạn chế 47

2.4 NHỮNG NHÂN TÓ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC LẶP KHPT KTXH CÁP XÃ Ở TỈNH HÒA BÌNH 48

2.4.1 Quan điểm lãnh đ ạ o 48

2.4.2 Cơ chế, chính sá c h 49

2.4.3 Năng lực cán bộ 50

2.4.4 Tư duy lập KHPT KTXH cấp x ã 51

C H Ư Ơ N G 3: G I Ả I P H Á P Đ Ổ I M Ớ I C Ô N G T Á C L Ậ P K Ế H O Ạ C H P H Á T T R I Ể N K I N H T Ế X Ã H Ộ I C Ấ P X Ã Ở T Ỉ N H H Ò A B Ì N H 55

3.1 BÓI CẢNH CÔNG TÁC LẬP KHPT KTXH Ở TỈNH HÒA BÌNH 55

Trang 6

3.1.3 Tăng cường phân câp và nâng cao tính trách nhiệm 58

3.1.4 Yêu cầu tăng cường sức cạnh tranh của tỉn h 60

3.1.5 Sự hỗ trợ của các nhà tài trợ 61

3.2 ĐỎI MỚI CÔNG TÁC LẬP KHPT KTXH CẤP XẢ 62

3.2.1 Đổi mới quy quy trình lập KHPT KTXH cấp x ã 62

3.2.2 Đổi mới phương pháp lập KHPT KTXH cấp x ã 66

3.2.3 Đổi mới nội dung bản KHPT KTXH cấp x ã 70

3.2.4 Lộ trình triển khai đổi mới công tác lập KHPT KTXH cấp xã tại tỉnh Hòa B ìn h 73

3.3 ĐIÈU KIỆN THựC HIỆN ĐỎI MỚI CÔNG TÁC LẬP KHPT KTXH CẤP XÃ Ở TỈNH HÒA BÌNH 73

3.3.1 Đổi mới tư duy, quan đ iể m 73

3.3.2 Hoàn thiện thể chế 75

3.3.4 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác kế hoạch 77

T À I L I Ệ U T H A M K H Ả O 81

Trang 7

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

Ke hoạch đầu tưNgân sách nhà nước

ủ y ban nhân dânTài chính

Khuôn khổ chi tiêu trung hạn Xây dựng cơ bản

Xóa đói giảm nghèo Hội đồng nhân dân

Xã hội chủ nghĩa Ngân sách

Lao động thương binh và xã hội Nông nghiệp và Phát triển nông thônNN&PTNT

Trang 8

VŨ VÀN DŨNG

ĐỔI MỚI CỐNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI CẤP XÃ (NGHIÊN cúu TRƯỨNG HỢP TẠI TỈNH HOÀ BÌNH)

C huyên ngành: KINH TẾ PHÁT TRIỂN

TÓM TẮT LUẬN VÀN

HÀ N Ô I- 2 0 0 9

Trang 9

P H Ầ N M Ở Đ Ầ U1.ITÍNH C Ấ P T H IÉ T C Ủ A Đ Ẻ TÀI.

Kế hoạch hoá là một trong những công cụ quan trọng nhất đối với công tác quản lý điều hành nền kinh tế Kế hoạch hoá sẽ khắc phục được những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, đảm bảo nền kinh tế hoạt động có hiệu quả, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế

Công tác lập kế hoạch ở Việt Nam hiện nay vẫn theo phưcmg pháp truyền thống Phương pháp này chỉ phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và nó bộc lộ một số hạn chế sau:

Thứ nhất: Quy trình lập kế hoach hiện nay theo trình tự “2 xuống 1 lên”

Thời gian dành cho việc lập kế hoạch là quá ngắn và bị động, đặc biệt là đối với cấp huyện và cấp xã

Thứ hai: Việc tổ chức lập kế hoạch được thực hiện chủ yếu theo

ngành dọc, sự phối hợp theo chiều ngang của các ngành rất lỏng lẻo

Thứ ba: Phương pháp lập kế hoạch theo tư duy truyền thống, thiếu vắng

sự tham gia và không gắn với nguồn lực

Thứ tư: Đội ngũ cán bộ làm công tác kế hoạch vừa thiếu vừa yếu nhất là

ở cấp xã

Thứ năm: Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ kế hoạch của tỉnh hiện gặp

rất nhiều khó khăn do thiếu kinh phí đầu tư

Thứ sáu: cấ p xã là cấp cơ sở gần dân nhất, đổi mới kế hoạch cấp xã là nền

tảng bởi vì kế hoạch cấp xã là cơ sở để tổng hợp kế hoạch ở cấp huyện, tỉnh

Thứ bảy: Đổi mới kế hoạch cấp xã nhằm làm cho công tác kế hoạch linh

hoạt, phù hợp với địa phương hơn

Chính vì những lý do trên đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của Luận văn Thạc sỹ "Đổi mới công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp xã (Nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Hòa Bình)"

Trang 10

2 M Ụ C Đ ÍC H N G H IÊ N c ử u C Ủ A Đ È TÀI.

Thứ nhất, luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về kế hoạch hóa, vai

trò của kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường và sự cần thiết phải đổi mới

công tác lập KHPT KTXH ở cấp xã

Thứ hai, đánh giá thực trạng công tác lập KHPT KTXH cấp xã ở Việt Nam nói chung Trong đó nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Hòa Bình

Thứ ba, lựa chọn được mô hình lập KHPT KTXH phù hợp nhất cho cấp

xã nhằm góp phần tích cực vào đổi mới công tác lập KHPT KTXH ở cấp xã Kiến nghị áp dụng thí điểm mô hình này tại tỉnh Hòa Bình

3 ĐÓI T Ư Ợ N G V À P H Ạ M V I N G H IÊ N c ử u

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn chủ yếu tập trung vào nghiên cứu khâu

lập kế hoạch đặc biệt là quy trĩnh và phương pháp lập KHPT KTXH cấp xã

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực trạng công tác lập kế

hoạch ở xã nói chung, trong đó nghiên cứu trường hợp thực tế trên địa bàn tỉnh Hoà Bình

6 K É T C Ầ U L U Ậ N V Ă N

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn được kết cầu thành ba chương:

C hư ơng 1; C ơ sở lý luận về lập kế hoạch phát triển kin h tế xã hội

C hư ơ ng 2 : T hự c trạng công tác lập kế hoạch phát triển kin h tế xã hội cấp xã ở tỉnh H òa B ìn h

C h ư ơ ng 3 : G iả i pháp đổi m ới công tác lập kế hoạch phát triển kinh

tê xã hội câp xã ở tỉnh H òa B ìn h

Trang 11

C H Ư Ơ N G 1

C ơ S Ở L Ý L U Ậ N V Ề L Ậ P K Ế H O Ạ C H P H Á T T R I Ể N

K I N H T Ế X Ã H Ộ I

1.1 NHỮNG VẤN ĐÈ c ơ BẢN VÈ KÉ HOẠCH VÀ KẾ HOẠCH HÓA

1.1.1 K h á i niêm kế hoach và kế hoach hóa• • •

Ke hoạch hoá kinh tế vĩ mô là một loại hình hoạt động của Chính phủ nhằm lựa chọn phương án sử dụng hợp lý các nguồn lực và quyết định các giải pháp tác động đến những biến số kinh tế vĩ mô chủ yếu theo hướng các mục tiêu đã được xác định

1.1.2 K ế hoạch hoá và kế hoạch phát triển

Kế hoạch hoá là quá trình xây dựng những quy tắc và chính sách nhất quán

về mặt nội dung để thực hiện những mục tiêu đề ra cũng như hướng dẫn thực hiện những chỉ tiêu kế hoạch vào những quyết định chính sách thường nhật

1.1.3 B ản chất của phát triển

1.3.1.1 K ế hoạch hoả là lựa chọn • • •

Kế hoạch hoá là việc ra quyết định về lựa chọn một trong số nhiều phương thức hành động

1.1.3.2 K ế hoạch hoả là p h â n bằ nguồn lự c

Kế hoạch hoá liên quan đến các quyết định làm thế nào để sử dụng tốt nhất các nguồn lực hiện có

1.1.3.3 K ế hoạch hoá là cách đ ạ t tớ i m ụ c đích• • •

Ke hoạch hoá liên quan đến việc ra quyết định về các cách thức khác nhau để đạt được những mục tiêu cụ thể

1.1.3.4 K ế hoạch h oá cho tư ơ n g la i

Kế hoạch hoá liên quan đến quyết định trình tự thực hiện các hoạt động từng bước tiến tới đạt được mục tiêu

1.1.4 K h á i niệm K H P T K T X H và lập kế hoạch

K H PT KTXH là một công cụ quản lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế, nó

Trang 12

là cụ thể hoá các mục tiêu định hướng của chiến lược phát triển theo từng thời

kỳ bằng hệ thống các chỉ tiêu, mục tiêu và chỉ tiêu biện pháp định hướng phát triển và hệ ềiống các chính sách, cơ chế áp dụng trong thời kỳ kế hoạch

Lập kế hoạch là một sự sắp xếp, phối hợp một cách khoa học các công

việc hay hoạt động theo một trật tự thời gian và không gian để thực hiện nhằm thoả mãn mục đích của cá nhân, nhóm người hay một tập thể xã hội Lập kế hoạch là sự phối họp giữa nguồn lực và thời gian của các bên có liên quan để cùng thực hiện một nhiệm vụ

1.1.5 Ý nghĩa của việc lập K H P T K T X H

+ Xác định thứ tự ưu tiên

+ Là cơ sở giám sát mức độ hoàn thành công việc

1.1.6 Nguyên tắc và căn cứ của việc lập kế hoạch

1 1 6 1 N g u y ê n tắ c lậ p k ế h o ạ c h

+ Tính làm chủ

+ Có sự tham gia theo đúng ý nghĩa

+ Tính công khai trong suốt quá trình thực hiện

+ Tính minh bạch

1 1 6 2 C ă n c ứ lậ p k ế h o ạ c h

+ Chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

+ Chiến lược, quy hoạch phát triển KTXH, ngành, lĩnh vực, không gian, lãnh thổ

+ KHPT KTXH 5 năm và hàng năm của cấp trên

+ Chỉ thị, hướng dẫn về công tác xây dựng kế hoạch của cấp trên

+ Điều kiện thực tế tại địa phương

+ Nhu cầu phát triển KTXH người dân địa phương

+ Kế hoạch định hướng của địa phương

+ Tình hình thực hiện kế hoạch của địa phương

1 1 6 3 Y êu c ầ u lậ p k ế h o ạ c h

+ Xác định đối tượng thực hiện

Trang 13

+ Đảm bảo trung thực, công bằng trong theo dõi, giám sát thực hiện.

+ Đánh giá theo kỳ, đánh giá sơ kết, tổng kết chương trình

1.2 VAI TRÒ CỦA KẾ HOẠCH TRONG NÈN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

1.2.1 K ế hoạch là công cụ của N hà nước can thiệp nhằm khắc phục các khuyết tật thị trường, hướng hoạt động của th ị trường vào hiệu quả

1 2 2 2 K ế h o ạ c h là c ô n g c ụ k h u y ế n k h íc h s ử d ụ n g h à n g h ó a k h u y ế n

d ụ n g

Những hàng hóa hay dịch vụ mà việc tiêu dùng chúng có lợi cho cá nhân

và xã hội, nhưng cá nhân không tự nguyện tiêu dùng, Chính phủ khuyến khích họ sử dụng gọi là hàng hóa khuyến dụng

1.2.3 K e hoạch là công cụ giúp Nhà nước can thiệp nhằm hướng hoạt động K T X H của đất nước theo những mục tiêu mà C h ín h phủ cần đat tới

1 2 3 1 H ệ th ố n g p h á p lu ậ t v à n h ữ n g q u y đ ịn h d ư ớ i lu ậ t.

Chính phủ xây dựng và thực hiện đúng đắn, đồng bộ hệ thống pháp luật

và những văn bản dưới luật để tiến tới quản lý bằng pháp luật

Trang 14

Kinh tế nhà nước bao gồm tổng thể các nguồn lực do Nhà nước sở hữu

đã, đang và chưa huy động vào sử dụng

1 2 3 5 K ế h o ạ c h h o á p h á t tr iể n là c ô n g c ụ b ả o đ ả m s ự p h á t triể n c â n

đ ố i, n h ịp n h à n g x ã h ộ i v à k in h tế.

Các hoạt động xã hội khác nhau phải có một hình thức quản lý kế hoạch thống nhất nhằm bảo đảm được yêu cầu phát triển toàn diện con người Chỉ có quy hoạch mới tổng họp sự phát triển của tất cả các ngành, các hoạt động vận hành theo chiến lược phát triển chung mới đảm bảo cho guồng máy quản lý hoạt động nhip nhàng giữa phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội

1 2 3 6 K e h o ạ c h h o á p h á t tr iể n là c ô n g c ụ c ủ a n h à n ư ớ c tr o n g đ ịn h

h ư ớ n g p h á t triể n k in h tế.

Ke hoạch hoá đưa ra hệ thống mục tiêu phát triển vĩ mô, xây dựng các

dự án, các chương trình, tìm ra các giải pháp và các phương án thực hiện, dự báo khả năng phương hướng phát triển và xác định các cân đối lớn

1.3 CÔNG TÁC LẬP KHPT KTXH CẤP XẢ

1.3.1 Q u y trìn h lập K H P T K T X H cấp xã

Quy trình lập KHPT KTXH cấp xã là quy định trình tự các bước lập KHPT KTXH từ khâu chuẩn bị, tiến hành thu thập thông tin, tổng họp thông tin thu thập được cho đến khi hoàn thành bản kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt và là cơ sở pháp lý thực hiện

1.3.2 Phương pháp lập K H P T K T X H cấp xã

Phương pháp lập KHPT KTXH cấp xã là cách thức hoặc sự phối họp các cách thức khác nhau tiến hành lập KHPT KTXH cấp xã

Trang 15

1.3.3 N ộ i dung bản K H P T K T X H cấp xã

Nội dung bản KHPT KTXH cấp xã là tất cả những vấn đề được đề cập

đến tronf bản kế hoạch Nội dung phải đảm bảo được các yếu tố sau, phân

tích thực trạng tình hình KTXH của địa phương, phân tích những kết quả đạt

được và những tồn tại, hạn chế của địa phương cũng như so sánh kết quả đạt

được với kế hoạch đặt ra trước đó, đưa ra được nguyên nhân của những kết

quả đạt được và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, yếu kém

1.3.4 T ổ chức bộ máy lập K H P T K T X H cấp xã

Tổ chức bộ máy làm công tác kế hoạch cấp xã bao gồm một nhóm làm

việc để tham gia vào các bước của quy trình kế hoạch

1.4 S ự CẦN THIẾT PHẢI ĐỎI MỚI CÔNG TÁC LẬP KHPT KTXH CẤP XÃ

1.4.1 Những bất cập trong quản lý tại cấp xã

- Cấp xã là cấp cơ sở gần dân nhất

- Cấp xã là một cấp quản lý trong hệ thống quản lý của Việt Nam

- Cấp xã thiếu các công cụ quản lý

- Thiếu thông tin và thụ động khi được giao kế hoạch

- Lập kế hoạch thiếu vắng sự tham gia và không gắn với nguồn lực

- Không được quan tâm đúng mức

1.4.2 Yêu cầu đổi m ói công tác lập K H P T K T X H tại cấp xã

Do những bất cập trên Chính phủ đang có chủ trương phân cấp quản lý

mạnh mẽ tới chính quyền cơ sở Do đó, đổi mới công tác lập KHPT KTXH từ

cấp xã là một tất yếu khách quan và việc đổi mới tại cấp cơ sở nói chung và

của tỉnh Hòa Bình nói riêng sẽ có một số lợi thế sau:

- Đã có kinh nghiệm tiếp cận với các dự án

- ít thay đổi về mặt thể chế

- Dễ phối họp theo chiều dọc và chiều ngang

Tóm lại, muốn tăng cường công tác quản lý của cấp xã thì phải tăng

cường các công cụ quản lý cho cấp này, một trong những công cụ quan trọng

là công cụ kế hoạch Vì vậy đổi mới công tác lập KHPT KTXH cấp xã là tất

yếu khách quan

Trang 16

CHƯƠNG 2 THựC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ XÃ HỘI CẤP XÃ (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI TỈNH HÒA BÌNH)

2.1 TỎNG QUAN VÈ TỈNH HÒA BÌNH VÀ CÁC VẤN ĐÈ PHÁT TRIỂN CỦA TỈNH

2.1.1 Tổng quan về lịch sử, địa lý của tỉnh Hoà Bình

Hòa Bình là tỉnh miền núi Tây Bắc: phía bắc giáp tỉnh Phú Thọ và Tp.Hà Nội, phía nam giáp tỉnh Ninh Bình và tỉnh Thanh Hoá, phía đông giáp Tp.Hà Nội và tỉnh Hà Nam, phía tây giáp tỉnh Sơn La

Hoà Bình có 11 đơn vị hành chính cấp huyện: Cao Phong, Đà Bắc, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thủy, Mai Châu, Tâc Lạc, Yên Thủy và thành phố Hoà Bình Dân số trung bình năm 2006 là 82 vạn người, gồm 7 dân tộc anh em chung sống: Mường, Kinh, Thái, Tày, Mông, Dao, Hoa

2.1.2 Những thành tựu chủ yếu về phát triển KTXH của tỉnh Hoà Bình

Năm 2008, kinh tế của tỉnh phát tăng trưởng mạnh và đạt tốc độ 12,17%(GDP bình quân đầu người đạt 7,2 triệu đồng): trong đó nông-lâm-ngư nghiệp tăng 5,8%, công nghiệp - xây dựng tăng 25,3%, dịch vụ tăng 12,3%

Bước 2: Lãnh đạo xã cử 01 cán bộ làm kế hoạch.

Bước 3: Cán bộ kế hoạch tiến hành xây dựng kế hoạch.

Bước 4: Xã nhận được bản giao chỉ tiêu kế hoạch từ huyện với các chỉ

tiêu đã được ấn định vào cuối tháng 12, xã tiến hành dự thảo chi tiết kế hoạch theo chỉ tiêu đã được ấn định

Trang 17

- Thiếu sự giám sát từ phía Hội đồng nhân dân xã.

- Căn cứ lập kế hoạch chưa họp lý, chưa có định hướng mang tính chiến lược

- Lập KHPT KTXH thiếu vắng sự tham gia

- Lập KHPT KTXH cũng chưa gắn với nguồn lực

- Chưa có sự sắp xếp các ưu tiên một cách khoa học

- Thiếu thông tin trong quá trình lập kế hoạch

2.2.3 Thực trạng nội dung bản KHPT KTXH cấp xã

2 2 3 1 N ộ i d u n g b ả n K H P T K T X H c ấ p x ã h iệ n n a y

Phần thứ nhất: "Kết quả tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế

— xã hội — an ninh quôc phòng năm hiện hành" Phần này chủ yếu nêu về các thành tích đã đạt được trong năm qua, chủ yếu liệt kê những thành tích, những chỉ tiêu đã đạt và vượt so với kế hoạch

Phần thứ hai: " Phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội cho

năm sau" Phần này chủ yếu là đưa ra những mục tiêu tổng quát, phương hướng nhiệm vụ trong năm kế hoạch

Trang 18

phương; nội dung giữa các phân rời rạc.

- Ý nghĩa, tác dụng của bản KHPT KTXH trong việc định hướng cho công tác chỉ đạo, điều hành đối với địa phương không lớn

- Chưa nêu được cách thức giám sát đánh giá trong quá trình thực hiện

kế hoạch

- Hình thức bản kế hoạch: thiếu sự cân đối giữa các phần nội dung

2.2.4 TỔ chức bộ máy lập KHPT KTXH cấp xã.

- Không có cán bộ chuyên trách mà là cán bộ kiêm nhiệm

- Mặt khác công tác kế hoạch cũng không được quan tâm ở cấp xã

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VÈ CÔNG TÁC LẬP KHPT KTXH CẤP XÃ HIỆN NAY.

2.3.1 Ưu điểm.

- Cách làm đơn giản, dễ làm, dễ tiếp thu

2.3.2 Hạn chế

- Không nâng cao tính chủ động, năng động cho cấp cơ sở trong việc lập

kế hoạch phát triển kinh tế xã hội

- Chất lượng bản kế hoạch không bám sát được với tình hình cơ sở cũng như không gắn được với nguồn lực hiện có

- Không phản ánh thực trạng tình hình của địa phương

- Ke hoạch thiếu tầm nhìn chiến lược

- Kế hoạch nhiều khi mang tính chủ quan, duy ý chí

- Không nêu được vấn đề nào là vấn đề trọng tâm

- Không phản ánh được tổng thể tình hình địa phương

2.4 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC LẬP KHPT KTXH CẨP XÃ

2.4.1 Quan điểm lãnh đạo

Quan điểm lãnh đạo có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong công tác đổi

Trang 19

- Phân cấp trong quản lý đang được Chính phủ đặc biệt quan tâm.

- Đảm bảo tất cả các bên tham gia đều phải đi theo lộ trình chung thốngnhất

- Còn mang nặng tính hiện vật, tập trung vào những vấn đề ngắn hạn

- Kế hoạch vẫn mang tính áp đặt từ cấp trên, dàn trải, không gắn với mục tiêu và giải pháp đi kèm

- Kế hoạch không được xác định làm căn cứ thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Từ thực trạng và phân tích trên ta thấy đổi mới kế hoạch cấp xã là một yêu cầu tất yếu trong giai đoạn hiện nay

Trang 20

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐỎI MỚI CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH CẤP XÃ Ở

TỈNH HÒA BÌNH

3.1 QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI

3.1.1 Yêu cầu của hội nhập quốc tế

Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2006 Để chủ động hội nhập, chúng ta phải đổi mới cơ chế quản

lý kinh tế, muốn đổi mới kinh tế thành công thì phải đổi mới công tác kế hoạch hóa

3.1.2 Xu hướng đổi mới kế hoạch đang diễn ra mạnh mẽ

Đại hội VIII của Đảng khẳng định "Nhà nước quản lý thị trường bằng pháp luật, kế hoạch, cơ chế, chính sách, các công cụ đòn bẩy kinh tế và bằng các nguồn lực nội tại của cả nước ” vì vậy kế hoạch là một trong những công

cụ quan trọng trong quản lý kinh tế mà Đảng ta xác định

3.1.3 Tăng cường phân cấp và nâng cao tính trách nhiệm

Quá trình phân cấp là quá trình chuyển giao quyền lực của nhà nước trung ương cho chính quyền địa phương mà Chính phủ đang tiến hành trong

nỗ lực cải cách nền hành chính quốc gia

3.1.4 Yêu cầu tăng cường sức cạnh tranh của tỉnh

PCI - Chỉ số Năng lực Cạnh tranh cấp tỉnh đánh giá về cơ chế điều hành của tỉnh Yêu cầu mỗi tỉnh cũng phải cải cách cơ chế điều hành tại địa phương

3.1.5 Sư hỗ trơ của các nhà tài trơ• • •

Tháng 9 năm 2000, Việt Nam đã ký vào bản Tuyên bố Thiên niên kỷ, trong đó khẳng định sự quyết tâm của Việt Nam nhằm đạt các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ vào năm 2015 và điều này đã nhận được sự ủng hộ mạnh

mẽ từ các nhà tài trợ

Trang 21

3.2 ĐỔI MỚI CÔNG TÁC LẬP KHPT KTXH CẤP XÃ

3.2.2 Đổi mới quy quy trình lập KHPT KTXH cấp xã

Giai*ằoạn 1: Công tác chuẩn bị

Thành lập các tổ công tác cấp tỉnh, huyện, xã và thôn: Được tiến hành trước mùa kế hoạch để xác định rõ những đối tượng tham gia vào quá trình hỗ trợ hoặc trực tiếp lập kế hoạch cấp xã

Giai đoạn 2: X ây dựng kế hoạch

Bước 1: Ban hành văn bản chỉ thị và hướng dẫn của UBND xã về xây dựng kế hoạch

Bước 2 : Thu thập thông tin từ thôn

Bước 3: Thu thập thông tin từ các Ban, Ngành, Đoàn thể xã, các co quan, tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã đóng trên địa bàn

Bước 4 : Hướng dẫn xây dựng kế hoạch và cung cấp thông tin từ huyệnBước 5: Tổng hợp kế hoạch xã

Bước 6 : Thảo luận, thông qua dự thảo kế hoạch và báo cáo cấp trên.Bước 7: Tham vấn cộng đồng

Bước 8: Thông qua kế hoạch chính thức và báo cáo

Bước 9 : Phê duyệt và thông báo kế hoạch

3.2.3 Đổi mới phưong pháp lập KHPT KTXH cấp xã

3 2 3 2 K ế h o ạ c h g ắ n v ớ i n g u ồ n lự c

Kế hoạch gắn với nguồn lực là việc các mục tiêu, giải pháp của bản kế hoạch phải được đảm bảo bằng nguồn lực tài chính, vật chất hoặc sức lao động để thực hiện

Trang 22

3 2 3 3 Ỷ n g h ĩa c ủ a v iệ c k ế t h ợ p h a i p h ư ơ n g p h á p c ù n g th a m g ia v à

g ắ n v ớ i n g u ồ n lự c.

- Đ ầ n bảo sự tham gia của các bên

- Đảm bảo tính khả thi của bản kế hoạch

3.2.3 Đổi mới nội dung bản KHPT KTXH cấp xã.

Phần I: "Đảnh giá tình hình thực hiện K H P TK TXH năm bảo cảo".

*Đánh giá chung: những yếu tố thuận lợi, khó khăn và các kết quả đạt được trong năm báo cáo của địa phương

*Đánh giá từng ngành, lĩnh vực cụ thể: phân tích những tồn tại, hạn chế

và nguyên nhân:

*Đánh giá từng tiêu lĩnh vực cụ thê

Phần II: "KHPT kinh tể — xã hội năm kế hoạch "

*Phân tích những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức đến với địa phương trong năm kế hoạch

*Tiếp theo là phần mục tiêu và giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực và từng tiểu lĩnh vực

*Cuổi cùng là phân công trách nhiệm thực hiện cho các đơn vị, cá nhân

cụ thể trong việc triển khai kế hoạch cùng với các kiến nghị với các cơ quan cấp trên

3.2.4 Lộ trình triển khai đổi mói công tác lập KHPT KTXH cấp xã tai tỉnh Hòa Bình

Giai đoạn 2009-2010 thí điểm đổi mới công tác lập kế hoạch tại các xã thuộc 02 huyện Lương Sơn và Cao Phong

Giai đoạn 2010-2015 triển khai trên toàn tỉnh

KTXH CẤP XÃ Ở TỈNH HÒA BÌNH

3.3.1 Đổi mới tư duy, quan điểm

- Quán triệt bằng văn bản đối với tất cả các cấp rằng đổi mới công tác lập KHPT KTXH cấp xã là tất yếu khách quan

- Lãnh đạo tỉnh là người tiên phong trong công tác này

- Đào tạo cán bộ ở cả ba cấp tỉnh, huyện, xã (đặc biệt là cấp xã) về đổi

Trang 23

mới công tác lập KHPT KTXH cấp xã.

3.3.2 Hoàn thiện thể chế

T ạ o ^ ơ chế phân cấp, phân định chức năng, nhiệm vụ rõ ràng giữa cấp tỉnh, huyện và xã trong công tác kế hoạch, tạo cho cấp xã tính chủ động

3.3.3 Năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác kế hoạch

- Đổi với lãnh đạo xã: Trang bị kiến thức, tầm nhìn, tư duy kế hoạch

theo phương pháp mới

- Đổi với cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát: kết họp đào

tạo nâng cao nhận thức, chuyên môn giám sát cũng như chia sẻ kinh nghiệm

- Đ ối với cản bộ viết kế hoạch: Đào tạo kỳ năng trình bày văn bản đúng

với ý kiến của lãnh đạo, biết tổ chức cuộc họp tham gia ý kiến của các bên

Đổi mới lập kế hoạch là một nỗ lực liên tục và phức tạp, đòi hỏi phải có những thay đổi đồng bộ và toàn diện ở nhiều khía cạnh khác nhau: thể chế, tư duy lập kế hoạch, phương pháp và quy trình kế hoạch, sự phối họp theo chiều ngang, chiều dọc và sự trao đổi, thảo luận Nó đòi hỏi sự nỗ lực cam kết toàn diện từ phía Chính phủ và phải được chỉ đạo xuyên suốt tới các cơ quan, ban, ngành, địa phương nhằm tạo sự đồng thuận từ tất cả các phía và các cấp Rất nhiều trong số những thay đổi đó không xuất hiện cùng một lúc, vì thế việc nâng cao năng lực đổi mới lập kế hoạch cần mang tính chất tăng dần và

từ dưới lên Do đó đối mới cấp xã là nội dung quan trọng nhất trong công cuộc đổi mới toàn diện công tác lập KHPT KTXH hiện nay

Những nội dung được đưa ra trong luận văn dựa trên cơ sở lý luận khoa học về kế hoạch và kế hoạch hóa, những kinh nghiệm các địa phương khác dựa trên thực tiễn đổi mới công tác lập KHPT KTXH nước ta nói chung và Hòa Bình nói riêng

Những giải pháp đưa ra có tính khả thi, hy vọng sẽ góp phần đáp ứng những đòi hỏi cấp bách đã và đang đặt ra cho ngành kế hoạch nói chung và tỉnh Hòa Bình nói riêng Luận văn đề cập nhiều vấn đề rộng lớn và phức tạp cho nên không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tác giả mong nhận được

sự chỉ dẫn, góp ý của những ai có tâm huyết với lĩnh vực này để công trình nghiên cứu được hoàn thiện hơn

Trang 24

VŨ VĂN DŨNG

D Ổ I M Ớ I C Ố N G TÂC L Ậ P K Ế HO ẠCH P H Á I T R IỂ N

K IN H T Ế - X Ã HỘI C Ấ P XÃ

(N G H IÊ N c ú u TRƯ ỞNG H Ợ P TẠI T ỈN H HOÀ B ÌN H )

C huyên ngành: KINH TẾ PHÁT TRIỂN

L U Ậ N V À N T H Ạ C S Ỹ K I N H t ẽ'

N gư ời hướng dẫn kh oa h ọ c: TH.S vũ CƯƠNG

HÀ NỘI-2009

Trang 25

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIÉT CỦA ĐÈ TÀI.

Ke hoạch hoá là một trong những công cụ quan trọng nhất đối với công tác quản lý điều hành nền kinh tế Kế hoạch hoá sẽ khắc phục được những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, đảm bảo nền kinh tế hoạt động có hiệu quả, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế

Công tác lập kế hoạch hiện nay nói chung và cấp xã nói riêng vẫn theo phương pháp truyền thống Tuy nhiên, phương pháp truyền thống này chỉ phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và nó bộc lộ một số hạn chế sau:

Thứ nhất: Quy trình lập kế hoạch hiện nay theo trình tự “2 xuống 1

lên” Thời gian dành cho việc lập kế hoạch là quá ngắn và bị động, đặc biệt là đối với cấp xã Do đó, việc triển khai lập kế hoạch ở cấp này nhiều khi là sự đối phó với nhiệm vụ được giao

Thứ hai: Việc tổ chức lập kế hoạch được thực hiện chủ yếu theo

ngành dọc, sự phối hợp theo chiều ngang của các ngành rất lỏng lẻo, kể cả đối với ngành thống kê, sự tham gia của cấp dưới và các bên liên quan chưa được coi trọng

Thứ ba: Phương pháp lập kế hoạch theo phương pháp truyền thống,

thiếu sự tham gia và không gắn với nguồn lực

Thứ tư: Đội ngũ cán bộ làm công tác kế hoạch vừa thiếu vừa yếu nhất

là ở cấp huyện và cấp xã Hầu hết cán bộ kiêm nhiệm và không được đào tạo

cơ bản về chuyên môn

Thứ năm: Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ kế hoạch cấp tỉnh hiện gặp rất

nhiều khó khăn, một mặt do thiếu nguồn lực để đầu tư cho cán bộ đi học, mặt khác do thiếu chương trình đào tạo và cơ sở đào tạo phù họp Hoạt động đào

i

Trang 26

tạo mới chỉ ở mức độ tập huấn ngắn ngày và cập nhật các chủ trương, chính sách mới.

*

Thứ sáu: cấ p xã là cấp cơ sở gần dân nhất, đối mới kế hoạch cấp xã là nền

tảng bởi vì kế hoạch cấp xã là cơ sở để tổng họp kế hoạch ở cấp huyện, tỉnh

Thứ bảy: Đổi mới kế hoạch cấp xã nhằm làm cho công tác kế hoạch

linh hoạt, phù họp với địa phương hơn

Thực trạng trên cho thấy cần phải có sự đổi mới công tác lập KHPT KTXH nói chung và KHPT KTXH cấp xã nói riêng cho phù họp với xu hướng phát phát triển của nền kinh tế thị trường hiện nay Hơn nữa Hòa Bình

là tỉnh miền núi phía Bắc có nhiều các Chương trình, Dự án tham gia nên dễ

có điều kiện áp dụng phương pháp mới nên đây là địa phương được chọn để nghiên cứu trường hợp trong quá trình nghiên cứu Vì những lý do trên đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của Luận văn Thạc sỹ "Đổi m ớ i côn g tác lập K ế hoạch p h á t triển K inh tế x ã h ộ i cấp xã (N ghiên cứ u trư ờng hợp tạ i tỉnh

H òa Bình)".

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN c ứ u CỦA ĐẺ TÀI.

Thứ nhất, luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về kế hoạch hóa, vai trò của kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường và sự cần thiết phải đổi mới công tác lập KHPT KTXH ở cấp xã

Thứ hai, đánh giá thực trạng công tác lập KHPT KTXH cấp xã ở Việt Nam nói chung Trong đó nghiên cứu trường họp tại tỉnh Hòa Bình

Thứ ba, lựa chọn được mô hình lập KHPT KTXH phù hợp nhất cho cấp

xã nhằm góp phần tích cực vào đổi mới công tác lập KHPT KTXH ở cấp xã Kiến nghị áp dụng thí điểm mô hình này tại tỉnh Hòa Bình

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ứ u

Đổi tượng nghiên cứu: Luận văn chủ yếu tập trung vào nghiên cứu khâu

Trang 27

lập kế hoạch đặc biệt là quy trình và phương pháp lập KHPT KTXH cấp xã.

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực trạng công tác lập kế

hoạch ở xã nói chung, trong đó nghiên cứu trường họp thực tế trên địa bàn tỉnh Hoà Bình

6 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu luận văn được kết cấu thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.

Chương 2: Thực trạng công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp xã ở tỉnh Hoà Bình.

Chương 3: Giải pháp đổi mới công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế hội cấp xã ở tỉnh Hòa Bình.

Trang 28

CHƯƠNG 1

c q S Ở LÝ LUẬN VỀ LẬP KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ XÃ HỘI

1.1 NHỮNG VÁN ĐỀ Cơ BẢN VÈ KÉ HOẠCH VÀ KÉ HOẠCH HÓA

1.1.1 Khái niêm kế hoach và kế hoach hóa• • •

Khái niệm: Ke hoạch hoá kinh tế vĩ mô là một loại hình hoạt động của Chính phủ nhằm lựa chọn phương án sử dụng hợp lý các nguồn lực và quyết định các giải pháp tác động đến những biến số kinh tế vĩ mô chủ yếu theo hướng các mục tiêu đã được xác định

Kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô là một thể thống nhất bao gồm từ việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công tác quy hoạch, phát triển, kế hoạch hoá định hướng 5 năm, kế hoạch hoá hàng năm, đến công tác điều hành thực hiện, theo dõi và điều chỉnh kế hoạch

KHH phát triển KTXH là một hoạt động có ý thức của nhà nước trên cơ

sở đánh giá thực lực của nền kinh tế và nhận thức được sự vận động của các qui luật khách quan để vạch ra hướng phát triển cho nền kinh tế quốc dân trong từng giai đoạn nhất định cũng như những giải pháp lớn nhằm thực hiện được định hướng đó một cách có hiệu quả

1.1.2 Kế hoạch hoá và kế hoạch phát triển

Xuất phát từ những quan điểm và mục đích chính trị của Chính phủ, kế hoạch hoá xác định những mục tiêu, chính sách liên quan đến sự phát triển trong tương lai của nền kinh tế

Ke hoạch hoá phát triển không chỉ bao gồm những mục tiêu mà còn thểhiện những mục tiêu đó thành những chỉ tiêu cụ thể

Trang 29

Ke hoạch hoá là quá trình toàn diện nền kinh tế quốc dân, đồng thời có thể kế hoạch hoá cho từng lĩnh vực.

Kế hoạch phát triển kinh tế thường là kế hoạch trung hạn 5 năm, có thể kết hợp với một kế hoạch triển vọng dài hạn và được cụ thể hoá bằng những

kế hoạch hàng năm

1.1.3 Bản chất của kế hoạch hóa phát triển

1.1.3.1 K ể hoạch hoá là lựa chọn • • •

Ke hoạch hoá là việc ra quyết định về lựa chọn một trong số nhiều phương thức hành động Có hai loại lựa chọn chính liên quan đến kế hoạch Thứ nhất là lựa chọn các mục tiêu ưu tiên, bởi vì nguồn lực có hạn nên không thể đáp ứng được cùng một lúc tất cả các nhu cầu phát triển Thứ hai, kế hoạch hoá cũng liên quan đến sự lựa chọn trong số các phương thức hành động khác nhau, giữa các cách thức khác nhau để đạt được cùng một mục tiêu Kế hoạch hoá kinh tế cũng giống như kế hoạch hoá cho một cuộc hành trình Trong đa số các trường hợp, sẽ có nhiều cách khác nhau mà người du hành có thể chọn để đến đích, và việc lập kế hoạch cho hành trình liên quan đến việc quyết định lựa chọn một cách thức cụ thể được coi là hợp lý nhất trong số đó

Mặc dù hai loại lựa chọn này khác nhau, nhưng chúng đều liên quan đến quá trình ra quyết định giống nhau Mối quan hệ giữa kế hoạch hoá và việc ra quyết định quan trọng đến mức nhiều công trình lý thuyết về kế hoạch hoá quan tâm đến các cách tiếp cận khác nhau đối với việc ra quyết định, cụ thể là đến các nhân tố được xem xét khi ra quyết định và trình tự quy trình ra quyết

Kế hoạch hoá là quá trình xây dựng những quy tắc và chính sách nhất quán

về mặt nội dung để thực hiện những mục tiêu đề ra cũng như hướng dẫn thựchiện những chỉ tiêu kế hoạch vào những quyết định chính sách thường nhật

Trang 30

Một yếu tố quan trọng khác của kế hoạch hoá liên quan đến phân bổ nguôn lực Nguồn lực ở đây không chỉ bao gồm các nguồn lực tự nhiên (đất nước, khoáng sản, .) mà còn bao gồm cả nhân lực (hay nguồn lực con người nói chung), tài sản (như đường xá, nhà cửa, trang thiết bị, ) và tài chính Việc phân biệt những gì không được coi là nguồn lực tuỳ thuộc vào mục tiêu cần đạt đến của người sử dụng cũng như nhận thức về giá trị sử dụng và khả năng sử dụng cụ thể trong từng trường hợp.

Kế hoạch hoá liên quan đến các quyết định làm thế nào để sử dụng tốt nhat cac nguôn lực hiện có Vì thê, sô lượng và chât lượng của những nguồn lực này có ảnh hưởng rất quan trọng đến quá trình lựa chọn giữa các phương thức hành động khác nhau Một mặt, sự giới hạn về số lượng và chất lượng các nguồn lực là lý do chính giải thích tại sao kế hoạch hoá lại liên quan đến việc ra quyết định lựa chọn trong số các phương thức hành động khác nhau Mặt khác, khi phải lựa chọn giữa các phương thức hành động khác nhau thì khả năng cung ứng các nguồn lực đóng vai trò quan trọng trong việc xác định

số lượng phương thức có thể lựa chọn và phương thức nào có khả năng được chấp nhận hơn cả

Do kế hoạch hoá liên quan đến việc phân bổ các nguồn lực, nên một bộ phận quan trọng của quá trình lập kế hoạch là thu thập và phân tích thông tin

vê khả năng cung ứng các nguôn lực hiện có Điều này đặt ra những câu hỏi

cả về khái niệm và về phương pháp liên quan đến hệ thống thông tin kế hoạch cần được giải đáp

định Hơn nữa, các nhà kế hoạch đã sử dụng nhiều kỹ thuật hiện đại để cảithiện cách thức ra quyết định và nâng cao chất lượng của các quyết đinh

1.1.3.2 Kê hoạch hoá là phân bổ nguồn lực

Trang 31

1.1.3.3 Ke hoach hoá là cách đat tới muc đích • • •

Sẽ là thiếu sót khi nói rằng kế hoạch hoá chỉ liên quan đến ra quyết định

về sử dụng nguồn lực Bởi lẽ cách sử dụng tốt nhất bất kỳ một tập hợp cụ thể các nguồn lực nào phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu cần đạt tới Nói cách khác, kế hoạch hoá liên quan đến việc ra quyết định về các cách thức khác nhau để đạt được những mục tiêu cụ thể Trong ví dụ về việc lập kế hoạch cho một hành trình, mục tiêu của việc lập kế hoạch là đến được một điểm đích cụ thể và người du hành phải quyết định con đường tốt nhất để đến đó Ví dụ này minh hoạ tầm quan trọng của việc cần phải có mục tiêu cụ thể cho bất kỳ loại hình kế hoạch hoá nào

Quan niệm về kế hoạch hoá cũng giống như cách thức để đạt được mục tiêu đặt ra, đó là cần phải hiểu bản chất của các vấn đề và lộ trình đạt tới mục tiêu Một trong những vấn đề mà nhà kế hoạch thường gặp phải là những mục tiêu của họ không được xác định rõ ràng, mà thường rất mập mờ Ví dụ, mục tiêu "tăng sản lượng nông nghiệp" có thể chẳng đưa ra được định hướng rõ rệt cho các nhà kế hoạch nông nghiệp Trong một số trường hợp khác, mục tiêu lại không thực tế trong điều kiện cung ứng nguồn lực có hạn Trong nhiều trường hợp, các nhà kế hoạch cũng gặp phải những vấn đề như phải cố đạt được quá nhiều mục tiêu và đôi khi các mục tiêu đó lại mâu thuẫn với nhau Chăng hạn, sẽ là rât khó cho các nhà kê hoạch khi phải cùng một lúc thực hiện hai mục tiêu vừa tối đa hoá sản lượng trên một héc ta vừa giảm sự bất bình đẳng giữa các hộ nông dân, bởi vì hai mục tiêu này thường mâu thuẫn với nhau Có trường hợp tuy ít xảy ra nhưng nếu có thì rất nghiêm trọng, đó là trường hợp những mục tiêu hoàn toàn không có ý nghĩa hoặc hoàn toàn đi ngược lại với lợi ích của đại bộ phận dân chúng

Trang 32

1.1.3.4 K ế hoạch hoá cho tương lai

Có môt yếu tố quan trọng khác của kế hoạch hoá được thể hiện trong hầu hết các định nghĩa, đó là yếu tố thời gian Các mục tiêu mà kế hoạch hoá muốn đạt tới rõ ràng là ở tương lai Sự quan tâm đến tương lai tự nó được thể hiện theo hai cách chính Cách thể hiện thứ nhất là một phần quan trọng của

kế hoạch hoá liên quan đến dự báo, hoặc đưa ra các dự báo về điều gì có thể xảy ra trong tương lai, và cụ thể hơn là dự báo về kết quả của các phương thức hoạt động khác nhau để xác định cần lựa chọn phương thức nào Tất nhiên, không thể biết chính xác được điều gì sẽ xảy ra trong tương lai và vì thế kế hoạch hoá không tránh khỏi việc chấp nhận ở mức độ nhất định sự bất

ổn định và ủi ro Tuy nhiên, có nhiều kỹ thuật khác nhau mà người lập kế hoạch có thể sử dụng để nâng cao tính chính xác của các dự báo của họ và xử

lý những vấn đề về rủi ro và bất ổn Khoảng thời gian tương lai của kế hoạch hoá là bao lâu? Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung cụ thể kế hoạch hoá một thái cực có một số hoạt động mà các cá nhân và tổ chức có thể phải lập kế hoạch trên cơ sở thời gian là ngày, thậm chí là giờ; trong khi ở thái cực khác, một số kế hoạch liên quan đến việc đưa ra những dự báo về bức tranh thế giới vài thập kỷ sau

Ke hoạch hoá không chỉ liên quan đến quyết định cần phải làm gì để đạt tới mục tiêu cụ thể, mà còn liên quan đến quyết định trình tự thực hiện các hoạt động một cách lô gíc, có thứ tự, từng bước tiến tới đạt được mục tiêu

Phân tích mức độ thời gian dài ngắn khác nhau của việc chuẩn bị kế hoạch có thể gây cảm tưởng rằng kế hoạch hoá là hoạt động định kỳ Người ta thường nghĩ rằng kế hoạch được lập cho khoảng thời gian ấn định (ví dụ cho

5 năm tiếp theo), và khi kế hoạch đã được lập xong thì kế hoạch hoá coi như kết thúc, cho đến khi kết thúc 5 năm, tức là lúc bắt đầu lập kế hoạch cho thời

kỳ 5 năm tiếp theo Trong các thập kỷ 50 và 60 nhiều nhà kế hoạch đã có

Trang 33

quan điểm như vậy về kế hoạch hoá, nhưng gần đây người ta đã nhận thức rằng kế hoạch hoá nên được coi là một hoạt động liên tục Điều này có nghĩa

là mặc dù có thê kê hoạch cân phải được lập cho khoảng thời gian xác định, nhưng nó nên được liên tục theo dõi và xem xét lại trong giai đoạn đó, và nếu cần thì có thể được kéo dài sang giai đoạn kế hoạch khác

Tóm lại, mặc dù kế hoạch nhất định phải liên quan đến tưong lai nhưng điều đó không hạn chế các nhà lập kế hoạch dành nhiều sự chú ý của họ cho việc nghiên cứu tình hình quá khứ và hiện tại Trong thực tế, các nghiên cứu hiện tại là rất quan trọng

1.1.4 Khái niệm KHPT KTXH và lập Kế hoạch

KHPT KTXH là một công cụ quản lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế, nó

là cụ thể hoá các mục tiêu định hướng của chiến lược phát triển theo từng thời

kỳ bằng hệ thống các chỉ tiêu, mục tiêu và chỉ tiêu biện pháp định hướng phát triển và hệ thống các chính sách, cơ chế áp dụng trong thời kỳ kế hoạch Ke hoạch là tổng hợp những mục tiêu và định hướng, chính sách, biện pháp phát triển KTXH, được thể hiện trong một hệ thống chỉ tiêu kế hoạch về số lượng

và chất lượng và một hệ thống các cân đối cơ bản trên địa bàn

KHPT KTXH hội trung hạn là kế hoạch phát triển KTXH được lập cho thời kỳ là 5 năm Trong trường hợp cụ thể ở cấp xã, có thể lập kế hoạch trung hạn cho 3 năm hoặc 3 năm với tầm nhìn 5 năm

KHPT KTXH ngắn hạn là kế hoạch phát triển KTXH lập cho thời kỳ 1 năm

Ke hoạch mục tiêu là những chỉ tiêu cụ thể mà cộng đồng mong muốn đạt được trong kỳ kế hoạch

Ke hoạch giải pháp là kế hoạch bao gồm các hoạt động do những chủ thể nhất định đảm nhiệm thực hiện trong một khoảng thời gian cụ thể và nguồn lực đảm bảo cho các hoạt động đó

Trang 34

Đề xuất kế hoạch thôn là các tài liệu cơ bản về tự nhiên, kinh tế - xã hội, các mục tiêu, các đề xuất về giải pháp bao gồm hoạt động và nguồn lực do nhóm công tác thôn, xóm (sau đây gọi tăt là thôn) lập nên thông qua các công

cụ PRA và hệ thống bảng biểu hoặc được trích từ trong các kế hoạch trung hạn làm cơ sở để tổng hợp vào kế hoạch phát triển của xã

Theo thời gian, KHPT KTXH có thể phân thành KHPT KTXH trung hạn (5 năm) và KHPT KTXH ngắn hạn (hàng năm) Theo phạm vi, KHPT KTXH bao gồm KHPT KTXH quốc gia, ngành, địa phương (tỉnh, huyện, xã)

KHPT KTXH quốc gia được nghiên cứu trên cơ sở nội dung chiến lược phát triển KTXH đất nước 10 năm hoặc 20 năm và nội dung các bản quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch phát triển KTXH vùng lãnh thổ và các chương trình phát triển dài hạn của đất nước Đồng thời, KHPT KTXH quốc gia được tổng hợp từ KHPT của các ngành, lĩnh vực và các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương Đó là văn bản hoạch định các hoạt động về KTXH của cả nước được thực hiện bằng mục tiêu tổng quát, các nhiệm vụ cụ thể, các cân đối nguồn lực, các trương trình phát triển, dự án đầu tư và giải pháp nhằm phát triển KTXH theo những mục tiêu, chỉ tiêu mà chiến lược đã đề ra trong một thời gian nhất định

Lập kế hoạch là một sự sắp xếp, phối họp một cách khoa học các công việc hay hoạt động theo một trật tự thời gian và không gian để thực hiện nhằm thoả mãn mục đích của cá nhân, nhóm người hay một tập thể xã hội Lập kế hoạch là sự phối họp giữa nguồn lực và thời gian của các bên có liên quan để cùng thực hiện một nhiệm vụ

Lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp xã có sự tham gia là quá trình người dân đề xuất các mục tiêu và hoạt động cho thôn và tham gia cùng chính quyền đánh giá tiềm năng, khó khăn, thuận lợi nhằm xác định mục tiêu và

Trang 35

những giải pháp chung trên cơ sở các đề xuất của thôn để hình thành một bản

kế hoạch của địa phương (xã, phường, thị trấn)

1.1.5 Ý nghĩa của việc lập KHPT KTXH

Với điều kiện các nguồn lực về đất đai, lao động tiền vốn hạn hẹp như hiện nay thì việc lập KHPT KTXH có ý nghĩa rất lớn đến hiệu quả sản xuất và xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội ở nông thôn

Xác định thứ tự im tiên: Từ điều kiện khan hiếm các nguồn lực phải xác

định được rõ các công việc cần giải quyết theo thứ tự ưu tiên, những công việc cấp bách, bức xúc, những hoạt động mang tính chất quyết định cần phải giải quyết để đạt được kết quả mong muốn hay nói cách khác “việc nào cần trước làm trước việc nào cần sau làm sau”

Là cơ sở giám sát mức độ hoàn thành công việc: KHPT KTXH là cơ sở

cho các đổi tượng liên quan tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động cho phù họp với thực tế nguồn lực, nhu cầu và sự phát triển địa phương trong từng thời kỳ nhất định Giúp việc thực hiện nhiệm

vụ phát triển kinh tế xã hội địa phương đạt hiệu quả

1.1.6 Nguyên tắc và căn cứ lập kế hoạch

1.1.6.1 Nguyên tắc lập kế hoạch

Tính làm chủ (Tất cả các bên/các thành viên tham gia): Tất cả các thành

viên tham gia công tác lập kế hoạch phải đảm bảo được tính chủ động nhất định trong công việc Thứ nhất họ phải hiểu được công việc mà họ đang làm

sẽ đem lại kết quả như thế nào, muốn vậy họ phải được đào tạo, tập huấn chuyên môn thông qua các khóa học ngắn hạn Đồng thời người tham gia cũng phải có được các thông tin cơ bản về thực trạng tình hình kinh tế xã hội của địa phương cũng như các nguồn lực thực hiện kế hoạch được đưa ra Thực tế cho thấy nếu trình độ của người tham gia càng được nâng cao thì chất

Trang 36

lượng giam gia càng tốt và ý kiến tham gia càng có cơ sở để thực hiện.

Có sự tham gia theo đủng ỷ nghĩa:để đảm bảo được điều này thì cơ chế

W

dân chủ từ cơ sở có ý nghĩa quyết định, bởi khi tính dân chủ được phát huy thì người tham gia mới dám nói ra ý chí, nguyện vọng củã mình Xa hơn nữa họ dám bày tỏ quan điểm của họ đối với những vấn đề mà thực trạng đang phải đối mặt

Tính công khai trong suốt quá trình thực hiện:Ke hoạch được đặt ra thì nhất thiết phải được thực thi trong điều kiện bình thường

Tính minh bạchvề nghĩa vụ, quyền lợi hay các điều khoản ưu tiên do các thành viên cùng xác định Ở đây tập trung vào các vấn đề tài chính liên quan

1 1 6 2 C ă n c ứ lậ p k ế h o ạ c h

Ke hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã được lập trên cơ sở:

+ Chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

+ Chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển các ngành, lĩnh vực; quy hoạch không gian, lãnh thổ

+ Ke hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm của cấp trên.+ Chỉ thị, hướng dẫn về công tác xây dựng kế hoạch của cấp trên

+ Điều kiện thực tế tại địa phương

+ Nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội người dân địa phương

+ Kế hoạch định hướng của địa phương

+ Tình hình thực hiện kế hoạch của địa phương

1 1 6 3 Y êu c ầ u lậ p k ế h o ạ c h

+ Xác định đối tượng thực hiện.

+ Xác định nguyên nhân của vấn đề

+ Xác định nhu cầu của người dân, cộng đồng

Trang 37

+ Xác định ưu tiên của các hoạt động đầu tư phát triển.

+ Xen^xét tính khả thi của các dự án

+ Xác định mối quan hệ giữa các nhóm hoạt động

+ Vận dụng trong suốt quá trình thực hiện

+ Đảm bảo trung thực, công bằng trong theo dõi, giám sát thực hiện.+ Đánh giá theo kỳ, đánh giá sơ kết, tổng kết chương trình

1.2 VAI TRÒ CỦA KẾ HOẠCH TRONG NÈN KINH TÉ THỊ TRƯỜNG.

Nen kinh tế thị trường có nhiều ưu thế, nhưng nó cũng không phải là lý tưởng như nhiều người mong muốn, rất nhiều hạn chế từ cơ chế điều tiết của thị trường gây ra và những hạn chế đó đã đem đến hậu quả không nhỏ đối với nền kinh tế Đó là những cơ sở rất quan trọng để nghiên cứu một vấn đề không kém phần quan trọng trong lý luận và thực tiễn ở phần lớn các quốc gia trên thế giới hiện nay: v ấ n đề vai trò và nội dung can thiệp của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường Nhà nước là một tổ chức được thiết lập để thực thi những quyền lực nhất định, điều tiết hành vi của các cá nhân sống trong xã hội nhằm phục vụ cho lợi ích chung của xã hội đó và tài trợ cho việc cung cấp những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu mà xã hội đó có nhu cầu v ấ n đề là ở chỗ cần biết rõ Chính phủ làm những gì và chức năng quyền hạn của Chính phủ đến đâu? Câu trả lời đúng được dựa trên nhiều yếu tố, nhưng điều quan trọng

là từ việc xác định những lý do của sự cần thiết phải có sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế thị trường Tổng họp từ lý luận kinh tế học cũng như thực tiễn thực hiện sự can thiệp vào nền kinh tế của Chính phủ nhiều nước, trong đó có ở Việt Nam, cho thấy có ít nhất ba lý do chính lập luận cho

sự can thiệp của Chính phủ:

Trang 38

1.2.1 Kế hoạch là công cụ của Nhà nước can thiệp nhằm khắc phục các khuyết tật thị trường, hướng hoạt động của thị trường vào hiêu quả

xã hôi •

Bản thân thị trường có thể đem đến những kết cục phi hiệu quả Chính phủ can thiệp sẽ hy vọng hướng thị trường hoạt động theo hướng có hiệu quả hem Trong trường họp thị trường độc quyền, Chính phủ can thiệp nhằm kiểm soát chặt chẽ thị trường, để đảm bảo rằng các rào cản đối với sự gia nhập thị trường không trở thành những phương tiện khuyến khích quyền lực độc quyền Đối với các ngoại ứng, Chính phủ can thiệp để buộc các bên tham gia giao dịch thị trường phải tính đến tác động của mình gây ra cho đối tượng thứ

ba, nhờ đó có thể điều chỉnh các hoạt động của thị trường đạt tới mức tối ưu

xã hội Chẳng hạn, đổi với ngoại ứng tích cực, Chính phủ có thể khuyến khích việc gia tăng sản xuất bằng cách trợ cấp cho người tạo ra ngoại ứng tích cực (trợ giá cho việc tiêm chủng là một thí dụ) Ngược lại, với ngoại ứng tiêu cực, Chính phủ có thể đánh thuế để phạt những người gây thiệt hại cho xã hội Chính phủ cần đứng ra để thực hiện việc cung cấp hàng hóa công cộng (chẳng hạn như đường sá, cầu cổng và hệ thống kết cấu hạ tầng KTXH) vì những loại hàng hoá này rất cần cho sự vận hành của nền kinh tế nhưng khu vực tư nhân lại từ chối cung cấp Sự can thiệp của Chính phủ trong các thị trường sẽ bổ sung thông tin cho thị trường, hoặc kiểm soát hành vi của những bên có lợi thế về thông tin để đảm bảo thị trường hoạt động có hiệu quả hơn Vai trò này ngày càng được nhận thức là vô cùng quan trọng, nhất là trong thời đại công nghệ thông tin Việc Chính phủ ra các qui định nghiêm ngặt về thông tin hướng dẫn sử dụng thực phẩm, dược phẩm là một thí dụ rõ ràng cho sự điều tiết của Chính phủ trong trường họp này Cuối cùng, khuyết tật về sự bất ổn định do nền kinh tế thị trường gây ra (giá cả bất ổn định, lạm phát, thất nghiệp ) có khả năng được khắc phục khi Chính phủ can thiệp bằng việc chủ

Trang 39

động đưa ra và thực hiện các chính sách tài khóa và tiền tệ phù hợp với từng

giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau để đưa nền kinh tế trở về trạng thái ổn

định lâu dài

mà thị trường không điều tiết

Những thất bại thị trường đặt vấn đề cần phải có sự can thiệp của Chính phủ nhằm đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả hơn Tuy vậy, ngay

cả khi nền kinh tế vận hành có hiệu quả, thì vẫn còn hai lý do nữa để Chính phủ cần phải can thiệp, đó là phân phối lại thu nhập nhằm thực hiện công bằng xã hội và hàng hóa khuyến dụng

1 2 2 1 K ế h o ạ ch là c ô n g cụ p h â n p h ố i lạ i th u n h ậ p và tạo c ơ h ộ i k ìn h t ế

ch o m ọ i n gư ời.

Sự không hoàn hảo của thị trường thường dẫn đến kết cục là sự thiếu công bằng Chính phủ phải có trách nhiệm thực hiện việc phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời trợ giúp cho các đối tượng dễ tổn thương như người già, người nghèo, trẻ em, người tàn tật Thông thường, Chính phủ có thể tiến hành các chương trình trợ cấp trực tiếp cho từng cá nhân đế giúp họ thoát khỏi cảnh nghèo đói Nhiều khi các chương trình phân phối lại còn được thực hiện dưới dạng cung cấp các phương tiện, dịch vụ cho

cả cộng đồng như chương trình 135 (xây dựng điện, đường, trường, trạm ở nông thôn); chương trình nước sạch nông thôn; chương trình xóa đói giảm nghèo v.v

Mặt khác, việc sử dụng quyền lực của Chính phủ để tạo ra sự bình đẳng

về cơ hội cho mọi công dân, không phân biệt tình trạng cá nhân, có thể làm lợi cho xã hội nói chung vì nó sẽ giúp các cá nhân có nhiều cơ hội hơn để đặt năng lực của mình vào công việc phù họp nhất, có năng suất cao nhất

Trang 40

Những hàng hóa hay dịch vụ mà việc tiêu dùng chúng có lợi cho cá nhân

và xã hội, nhưng cá nhân không tự nguyện tiêu dùng, khiến Chính phủ phải bắt buộc họ sử dụng gọi là hàng hóa khuyến dụng

Nhiêu nhà kinh tế học cho rằng, cá nhân nói chung nhiều khi không nhận thức hết được lợi ích hoặc tác hại của việc tiêu dùng một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó, ngay cả khi họ có đầy đủ thông tin Chẳng hạn, ai cũng biết hút thuốc là có hại cho sức khỏe, nhưng rất nhiều người vẫn tiếp tục hút Nhiêu gia đình tham gia tiêm chủng sẽ giúp trẻ em phòng chống nhiều căn bệnh nguy hiểm nhưng họ vẫn không hướng dẫn con em mình thực hiện công việc này, bất kể việc tiêm chủng là miễn phí hay phải trả tiền

Như vậy, sự can thiệp của Chính phủ trong trường họp hàng hóa khuyến dụng bắt nguồn từ một chức năng gọi là chức năng "phụ quyền" của Chính phủ Vai trò của Chính phủ ở đây giống như vai trò của người cha trong gia đình Khi người cha thấy con cái mình chỉ hành động vì lợi ích trước mắt, mà không nghĩ đến tương lai lâu dài, thì người cha phải can thiệp để điều chỉnh hành vi của con cái Sự can thiệp này có thể chỉ ở mức độ giáo dục, giải thích thuyết phục, nhưng nếu cần thì có thể biến thành mệnh lệnh bắt buộc

1.2.3 Kế hoạch giúp Nhà nước hướng hoạt động KTXH của đất nước theo những mục tiêu mà Chính phủ cần đạt tới

Nếu hai lý do trên liên quan đến những khuyết tật của thị trường trong vân đê phân bô nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu ngay trước mắt thì lý

do thứ ba này lại đề cập đến một hạn chế khác của thị trường, đó là sự thiển cận không có tầm nhìn xa chiến lược cho các vấn đề dài hạn Nguyên nhân của nó là vì thị trường tự do được hình thành từ sự tương tác giữa vô số người

I.2.2.2 K ế hoạch là công cụ khuyến khích sử dụng h àng hóa

kh uyến dung

if

Ngày đăng: 05/04/2023, 20:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w