Lý do chọn đề tài: Đo đạc và bản đồ là hoạt động điều tra cơ bản nhằm bảo đảm hạ tầns thông tin địa lý cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trườ
Trang 3D A N H M Ụ C C H Ữ V I É T T Ắ T
D A N H M Ụ C B Ả N G V À H Ì N H
T Ó M T Ắ T L U Ậ N V Ă N
M Ở Đ Ầ U 1
C H Ư Ơ N G I : S ự C Ầ N T H I É T P H Á T T R I Ề N N G À N H Đ O Đ Ạ C V À B Ả N Đ Ò V I Ệ T N A M 4
1.1 Khái niệm, đặc điểm và yêu càu phát triển ngành đo đạc và bản đ ồ 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Đặc điểm 6
1.1.3 Yêu cầu phát triển ngành 6
1.2 Tính cấp thiết phát triển ngành đo đạc và bản đồ: thể hiện ở vai trò của ngành đối vói nền kinh tế: 6
1.2.1 Đo đạc và bản đồ phục vụ quy hoạch, phát triển kinh tể 9
1.2.2 Đo đạc và bản đồ phục vụ điều tra cơ bản 10
1.2.3 Đo đạc và bản đồ phục vụ công tác biên giới, địa giới hành chính 11
1.2.4 Đo đạc và bản đồ phục vụ nông, lâm nghiệp 12
1.2.5 Đo đạc và bản đồ phục vụ siao thông vận tải 15
1.2.6 Đo đạc và bản đồ phục vụ thiết kế quy hoạch, xây dựng 15
1.2.7 Đo đạc và bản đồ phục vụ thiết kế và xây dựng điện 15
1.2.8 Đo đạc và bản đồ trong nghiên cứu khoa học, giáo dục và nâng cao dân trí 16
1.3 Những nhân tố ảnh hưỏ-ng đến sự phát triển của ngành 19
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 19
1.3.2 Cơ chế, chính sách quản lý 19
1.3.3 Khoa học kỹ thuật, trang thiết bị 20
1.3.4 Nguồn nhân lực 20
1.4 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển ngành 21
1.4.1 Tiêu chí về công nghệ: 21
Trang 41.5 Kinh nghiệm phát triển ngành đo đạc và bản đồ trên thế giói và trong
khu vực 23
1.5.1 Phát triển ngành đo đạc và bản đồ tại các nước phát triển 23
1.5.2 Phát triển ngành đo đạc và bản đồ tại các nước đang phát triển 24
CHƯƠNG II: THựC TRẠNG PHÁT TRIỀN NGÀNH ĐO ĐẠC BẢN ĐỎ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA 26
2.1 Sự hình thành và phát triển của ngành đo đạc bản đồ Việt Nam; 26
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển neành đo đạc và bản đồ của Việt Nam: 26
2.1.2 Sự ra đời và phát triển bộ máy ngành đo đạc và bản đồ của nước ta 28
2.1.2.1 Giai đoạn mới thành lập 28
2.1.2.2 Giai đoạn hình thành Tổng cục Địa chính (1994-2002) 29
2.1.2.3 Thời kỳ Cục Đo đạc và Bản đồ trực thuộc Bộ Tài Nguyên và Môi trường (từ năm 2002 đến n ay) 30
2.2 Thực trạng phát triển các hoạt động của ngành đo đạc và bản đồ những năm qua 34
2.2.1 Thực trạng phát triển công nghệ đo đạc và bản đồ 34
2.2.2 Thực trạng phát triển các sản phẩm đo đạc và bản đồ đã hoàn thành 39
2.2.3 Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ 47
2.2.4 Kết quả ứng dụng thông tin đo đạc và bản đồ trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 53
2.2.5 Thực trạng nguồn nhân lực trong hoạt động đo đạc và bản đồ 55
2.2.6 Thực trạng nguồn vốn cho lĩnh vực đo đạc và bản đồ: 56
2.3 Đánh giá chung về những kết quả đã đạt được, những tồn tại: 57
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIẺN NGÀNH ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐÒ VIỆT NAM ĐÉN NĂM 2020 61
Cơ sở khoa học cho việc xác định định hướng phát triển ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam đến năm 2020 61 3.1.
Trang 53.2 Định hướng và mục tiêu phát triển ngành đo đạc và bản đồ 64
3.2.1 Định hướng phát triển nuành đo đạc và bản đồ trong thời gian tới 64
3.2.1.1 Định hướng phát triển công nghệ đo đạc và bản đồ trong thời gian tới 64
3.2.1.2 Hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đo đạc và bản đồ 67
3.2.1.3 Phương hướng phát triển các loại công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ 68
3.2.1.4 Đổi mới hệ thống triển khai hoạt động về đo đạc và bản đ ồ 69
3.2.1.5 Phươns hướng xã hội hóa hoạt động đo đạc và bản đồ 71
3.2.2 Mục ti êu phát tri ển 71
3.2.2.1 Quan điểm phát triển 71
3.2.2.2 Mục tiêu phát triển 72
3.3 Giải pháp phát triển ngành đo đạc bản đồ đến 2020 74
3.3.1 Hoàn thiện cơ chế chính sách hoạt động của ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam 74
3.3.2 Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư đo đạc và bản đồ 75
3.3.3 Đầu tư máy móc, trang thiết bị, công nghệ: 76
3.3.4 Đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật về đo đạc và bản đ ồ 76
3.3.5 Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ 77
3.3.6 Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế 79
3.4 Kiến nghị 80
KÉT LUẬN 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Cơ sở dữ liệuĐịa chính cơ sở
Đo đạc và bản đồ
Hệ thống trạm định vịĐịnh mức kinh tế kỹ thuật
Hệ thống thông tin địa lý
Hệ thống định vị dẫn đường bằng vệ tinhCông nghệ định vị vệ tinh toàn cầu
ủy ban nhân dân
Trang 7Bảng 2.1 Trình độ máy móc, trang thiết bị: 38Bảng 2.2 Thống kê xuất kho thông tin dữ liệu đo đạc bản đồ phục vụ dân
sinh và xã hội: 46Bảng 2.3: sổ liệu nguồn nhân lực giai đoạn 2006-2010 của Cục Đo đạc và
Bản đồ Việt Nam 56Bảng 2.4: Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp: 57
HÌNH:
Hình 2.1: Sơ đồ Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam 33Hình 2.2 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước đổi với hoạt động đo đạc và
bản đ ồ : 50
Trang 8-
-HOÀNG THỊ VÂN ANH
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐO ĐẠC
VÀ BẢN ĐỒ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRlỂN
H À N Ộ I - 2011
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Đo đạc và bản đồ là hoạt động điều tra cơ bản nhằm bảo đảm hạ tầns thông tin địa lý cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong nước, đáp ứng nhu cầu tham gia họp tác để giải quyết các bài toán toàn cầu và khu vực về nghiên cứu khoa học và trái đất, về giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trong thòi gian tới, nhiệm vụ đặt ra cho ngành đo đạc bản đồ là phải bảo đảm việc xây dựng và cung cấp hạ tầng thông tin địa lý đầy đủ chính xác, kịp thời phục vụ các yêu cầu quản lý nhà nước vễ lãnh thổ, đất đai, tài nguyên thiên nhiên và môi trường, hoạt động kinh tế-xã hội; đồng thời bảo đảm an ninh quốc phòng; nghiên cứu khoa học về trái đất, phòng chống thiên tai bảo vệ môi trường đáp ứng nhu cầu thông tin trong hoạt động kinh tế, giáo dục đào tạo, nghiên cứu, sinh hoạt giải trí và nâng cao dân trí Với nhiệm vụ đặt ra như trên, đòi hỏi ngành cần có định hướng phát triển dài hạn thích ứng với điều kiện và yêu cầu về trình độ công nghệ hiện đại, đạt mức tiên tiến trong khu vực và tiếp cận với trình độ tiên tiến trên thế giới Đe góp phần giải quyết yêu cầu đặt ra trên đây đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn của mình, em chọn nghiên cứu đề tài: “Định hướng phát triển ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam đến năm 202(T làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở khoa học về phát triển ngành đo đạc và bản đồ để làm
cơ sở cho việc định hướng phát triển ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam
- Đánh giá thực trạng phát triển của ngành đo đạc và bản đồ thời gian qua để tìm ra những thành tựu, tồn tại hạn chế để làm cơ sở đề xuất định hướng và giải pháp tháo gỡ cho sự phát triển của ngành trong thời gian tới;
- Trên cơ sở phân tích bối cảnh và các yêu cầu phát triển, đề tài sẽ đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển ngành đo đạc bản đồ trong thời gian tới
3 Phương pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn
sẽ sử dụng cách tiếp cận hệ thốne từ mục tiêu nhiệm vụ đặt ra để xác định các hoạt động phụ trợ cần thiết nhằm thực hiện đạt được mục tiêu trong quá trình phát triển;
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sẽ sử dụng các phương pháp thống kê để thu thập thông tin, xử lý dữ liệu; các phương pháp dự báo để dự báo phương hướng và các yêu cầu, điều kiện cần đảm bảo cho thực hiện mục tiêu đặt ra
Trang 104 Kết cấu nội dung đề tài.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý thuyết về định hướng phát triển ngành đo đạc bản đồ
Chương II: Thực trạng phát triển ngành đo đạc bản đồ Việt Nam trong những
năm qua
Chương III: Định hướng phát triển ngành đo đạc bản đồ Việt Nam đến năm
2020
Chưong I
S ự CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐÒ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, đặc điểm và yêu cầu phát triển ngành đo đạc và bản đồ
1.1.1 Khái niệm.
Đo đạc và Bản đồ là một ngành khoa học thuộc các khoa học về Trái đất có
đối tượng nghiên cứu là các yếu tố hình học của Trái đất trên phạm vi toàn cầu hoặc
địa phương, với trọng tâm là phần bề mặt và từ đó đo đạc để xác định các yếu tố
trên khoảng không và trong lòng đất; đo đạc và bản đồ là hoạt động điều tra cơ bản
nhằm xây dựng hạ tầng thông tin địa lý theo chuẩn quốc gia thống nhất, phù họp
chuẩn quốc tế, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về lãnh thổ, nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, quản lý và giám sát tài nguyên thiên
nhiên và môi trường, họp tác giải quyết các bài toán toàn cầu và khu vực về nghiên
cứu khoa học trái đất, phát triển ứng dụng khoa học công nghệ thu nhận, xử lý
thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý và hệ thống thông tin địa lý, lưu trữ và cung
cấp dữ liệu thông tin đo đạc và bản đồ bảo đảm tính đầy đủ, chính xác, kịp thời
1.1.2 Đặc điểm.
Là những tài liệu cơ bản phục vụ chung cho nhiều ngành, nhiều mục đích
ứng dụng khoa học kỹ thuật cao
Vôn đâu tư lớn
Có tính xã hội hoá
1.1.3 Yêu cầu phát triển ngành.
Chính vì tầm quan trọng của nó đổi với các ngành các lĩnh vực nên đòi hỏi
phải đảm bảo tính thống nhất, tính đồng bộ và khoa hoc, chính xác, đầy đủ và kịp
thời
1.2 Tính cấp thiết phát triển ngành đo đạc và bản đồ: thể hiện ở vai trò của ngành đối vói nền kỉnh tế:
Trang 111.2.1 Đo đạc và bản đồ phục vụ quy hoạch, phát triển kinh tế.
Hầu hết các cơ quan, ban ngành chuyên môn đều sử dụng bản đồ trong việc định hướng, lập quy hoạch phát triển Các bản đồ quy hoạch phát triển kinh tể - xã hội của các tỉnh, thành phố; bản đồ quy hoạch giao thông, quy hoạch đô thị; bản đồ quy hoạch lãnh thổ, bản đồ quy hoạch sử dụng đất là những tài liệu không thể thiếu trong việc định hướng phát triển của địa phương trong các kỳ kế hoạch
Trong suốt quá trình xây dụng và phát triển của Nhà nước cách mạng Việt Nam, đo đạc và bản đồ cơ bản luôn giữ vai trò quan trọng trong công tác quy hoạch
và kế hoạch Có thể khẳng định rằng công tác quy hoạch, kế hoạch ở Việt Nam cũng như ở bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới đều không thể triển khai nếu không có những tài liệu điều tra hiện trạng và tài liệu đo đạc bản đồ cơ bản
1.2.2 Đo đạc và bản đồ phục vụ điều tra cơ bản.
Các ngành thuộc lĩnh vực điều tra cơ bản là đối tượng sử dụng khá nhiều sản phẩm đo đạc - bản đồ cơ bản Các ngành địa chất - khoáng sản, lâm nghiệp, nông nghiệp, khí tượng - thủy văn, đã tiến hành điều tra, khảo sát và thành lập nhiều loại bản đồ chuyên ngành, chuyên đề khác nhau đáp ứng nhu cầu thông tin, tư liệu
về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội phục vụ mục đích nghiên cứu, xây dựng chiến lược phát triển đất nước, lập kế hoạch, quy hoạch khai thác sử dụng
và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
1.2.3 Đo đạc và bản đồ phục vụ công tác biên giói, địa giói hành chính
Bản đồ địa hình cơ bản nhà nước cũng được sử dụng đắc lực trong việc thành lập bộ bản đồ địa giới hành chính thuộc bộ hồ sơ địa giới hành chính các cấp
Bản đồ địa hình là tài liệu quan trọng để phục vụ đàm phát và ký kết các Hiệp định về biên giới và quản lý đường biên giới giữa Việt Nam với các nước láng giềng
1.2.4 Đo đạc và bản đồ phục vụ nông, lâm nghiệp
Công tác đo đạc và bản đồ không thể thiếu được đổi với ngành nông - lâm nghiệp và nông nghiệp là ngành sử dụng rất nhiều sản phẩm đo đạc vản đồ đế chỉ đạo sản xuất, định hướng phát triển nông, lâm nghiệp, thủy lợi, xây dựng các phương án quy hoạch của ngành
1.2.5 Đo đạc và bản đồ phục vụ giao thông vận tải
Công tác đo đạc bản đồ cũng gắn bó rất chặt chẽ với ngành giao thông vận tải Tài liệu bản đồ địa hình đã được sử dụng nhiều trong khảo sát, thiết kế nâng cấp các tuyến quốc lộ quan trọng 1A, quốc lộ 5, tuyến Biên Hòa Vũng Tàu, đường Hồ Chí Minh và nhiều tuyến đường khác
Trang 121.2.6 Đo đạc và bản đồ phục vụ thiết kế quy hoạch, xây dựng
Đối với ngành xây dựng, công tác đo đạc và bản đồ luôn là người mở đường cho mọi công trình
1.2.7 Đo đạc và bản đồ phục vụ thiết kế và xây dựng điện
Đo đạc và bản đồ là công tác quan trọng trong khảo sát và thiết kế, thi công các công trình thủy điện, nhiệt điện Cơ quan đo đạc và bản đồ nhà nước đã cung cấp nhiều bản đồ địa hình phục vụ khảo sát, thiết kế một số công trình mang tầm vóc thế kỷ của đất nước như thủy điện Hòa Bình, đường dâu siêu cao áp 500 KV Bắc - Nam và nhiều công trình lớn nhỏ khác
1.2.8 Đo đạc và bản đồ trong nghiên cứu khoa học, giáo dục và nâng cao dân trí.
Hệ thống bản đồ giáo khoa phục vụ dạy và học các môn địa lý, lịch sử ở trường phổ thông được biên tập và xuất bản ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX
và ngày càng được hoàn thiện và đáp ứng đủ sổ lượng và nâng cao chất lượng, hình thức và thể loại ngày càng phong phú
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, bờ biển dài, 3/t diện tích lãnh thổ là đồi núi, có biên giới giáp
3
nước, lãnh thổ hình chữs
kéo dài từ Bắc xuống NamVới điều kiện khí hậu, địa hình như vậy ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động
đo đạc và bản đồ
1.3.2 Cơ chế, chính sách quản lý.
Để thống nhất quản lý hoạt động đo đạc và bản đồ cũng như đưa sản phẩm đo đạc và bản đồ phục vụ cho các mục đích của xã hội đòi hỏi một cơ chế chính sách quản lý phù hợp
1.3.3 Khoa học kỹ thuật, trang thiết bị.
Công tác đo đạc và bản đồ đòi hỏi sử dụng công nghệ kỹ thuật rất lớn, chính vì vậy sự phát triển của công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của ngành
1.3.4 Nguồn nhân lực.
Con người là yếu tố không thể thiếu trong quản lý và điều hành hoạt động đo đạc và bản đồ Nó thể hiện ở trình độ nhân lực đối với ngành, cần có một đội ngũ nhân lực trình độ cao có thể nghiên cứu và ứng dụng công nghệ đê phát triển ngành
1.4 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển ngành.
Trang 131.4.1 Tiêu chí về công nghệ:
Là ngành sử dụng nhiều công nghệ kỹ thuật cao, nên tiêu chí về công nghệ là tiêu chí đầu tiên thể hiện sự phát triển của ngành Với công nghệ cao, hiện đại sẽ cho năng suất lao động cao, chất lượng tốt Từ ngày đất nước đổi mới, ngành đo đạc
và bản đồ Việt Nam đã lấy đổi mới công nghệ làm trọng tâm để phát triển
1.4.2 Tiêu chí về sản phẩm:
Sản phẩm đo đạc bản đồ phải đáp ứng được nhu cầu của xã hôi, không chỉ cho hoạt động quản lý mà còn cho cả nhu cầu dân sinh
1.4.3 Tiêu chí về vốn đầu tư:
Có nguồn vốn đầu tư lớn là điều kiện tiền đề để đầu tư công nghệ, thiết bị, đào tạo nguồn nhân lực cho quá trình phát triển ngành
1.4.4 Tiêu chí về nguồn nhân lực:
Đây là tiêu chí quan trọng cho quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nhân
tố cơ quản có ý nghĩa quyết định đổi với hoạt động đo đạc và bản đồ
1.4.5 Mức độ đáp ứng:
Có đáp ứng được nhu cầu xã hội hay không, đáp ứng đến đâu, với trình độ như thế nào đang là một tiêu chí đặt ra cho ngành để ngày càng hoàn thiện và phát triển hơn
1.5 Kinh nghiệm phát triển ngành đo đạc và bản đồ trên thế giói và trong khu vực.
1.5.1 Phát triển ngành đo đạc và bản đồ tại các nước phát triển:
Tại các nước công nghiệp phát triển, công nghệ mới về đo đạc và bản đồ đã được đưa vào sử dụng nhằm tìm kiếm lợi nhuận và mặt khác để sản xuất thông tin
đo đạc và bản đồ phục vụ nhu cầu trước hết là quân sự, sau đó là nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường
1.4.2 Phát triển ngành đo đạc và bản đồ tại các nước đang phát triển.5
Tại các nước đang phát triển mà đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa, nhà nước cũng đã để ra ngân sách đáng kể để đầu tư công nghệ và làm ra thông tin
đo đạc và bản đồ theo nhu cầu định trước Tùy theo định hướng về tính chủ động của từng nước mà công nghệ được hướng theo sự phát triển ở những mức độ khác nhau
Bài học rút ra đối vói Việt Nam.
Trang 14Chương II THựC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐO ĐẠC BẢN ĐÒ VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM QUA (QUA NGHIÊN c ứ u TẠI c ụ c ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỎ VIỆT NAM)
2.1 Sự hình thành và phát triển của ngành đo đạc bản đồ Việt Nam;
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển ngành đo đạc và bản đồ của Việt
Nam:
2.1.2 Sự ra đòi và phát triển bộ máy ngành đo đạc và bản đồ của nước
ta.
2.1.2.1 Giai đoạn mới thành lập
2.1.2.2 Giai đoạn hình thành Tổng cục Địa chính (1994-2002)
2.1.2.3 Thòi kỳ Cue Đo đac và Bản đồ trưc thuôc Bô Tài Nguyên và Môi
trưcrag (từ năm 2002 đến nay)
2.2 Thực trạng phát triển các hoạt động của ngành đo đạc và bản đồ những năm qua.
2.2.1 Thực trạng phát triển công nghệ đo đạc và bản đồ.
Tùy theo yêu cầu, trình độ cán bộ kỹ thuật của từng đon vị ở Trung ương và
địa phương, các thể loại công nghệ đo đạc và bản đồ được trang bị phù hợp với
cách thức tổ chức sản xuất
2.2.2 Thực trạng phát triển các sản phẩm đo đạc và bản đồ đã hoàn
thành.
Kể từ khi công nghệ được đổi mới, ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam đã bảo
đảm được cơ bản các yêu cầu về thông tin, tư liệu phục vụ cho quản lý nhà nước,
quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, bảo vệ môi
trường, phòng chống thiên tai, nhu cầu sử dụng của cộng đồng, nâng cao dân trí,
gồm: các hệ thống lưới tọa độ, lưới độ cao, hệ thống trạm GPS, hệ thống bản đồ địa
hình, bản đồ địa chính
Ket quả thực hiện và hoàn thành các nhiệm vụ đo đạc bản đồ địa hình của
Cục đo đạc và bản đồ trong những năm qua được đánh giá tập trung vào:
C ác dự án Chính phủ:
C ác nhiệm vụ chuyên môn thường xuyên:
Công tác biên g iớ i.
Công tác điều tra, đánh giá, giám sát tài nguyên thiên nhiên và m ôi trường.
2.2.3 Thực hiện chức năng quản lý lý nhà nưóc về đo đạc và bản đồ:
Trang 15Công tác quản lý nhà nước về hoạt động đo đạc và bản đồ ở địa phươna bước đầu đã đi vào nề nếp, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đo đạc và bản
đồ đã được xây dựng và ban hành
Văn bản pháp luật khung về hoạt động đo đạc và bản đồ hiện nay là Nghị định số 12/2002/NĐ-CP ngày 21/01/2002 của Chính phủ về hoạt động đo đạc và bản đồ Đến nay đã có nhiều điều bất cập, Cục đang tiến hành xây dựng Luật đo đạc
và bản đồ để phù hợp hofn cho công việc
2.2.4 Kết quả ứng dụng thông tin đo đạc và bản đồ trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Công nghệ đo đạc và bản đồ hiện tại và trong tương lai tạo khả năng sản xuất các thông tin địa lý rất nhanh, đầy đủ, chính xác và với giá thành hạ Từ khả năng công nahệ, ngành Đo đạc và Bản đồ có thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu về thôna tin địa
lý cho nhu cầu hiện đại hóa nền kinh tế theo xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức
và bảo vệ đất nước trước các loại vũ khí công nghệ cao
2.2.5 Thực trạng nguồn nhân lực trong hoạt động đo đạc và bản đồ.
Hiện nay, việc bố trí cán bộ trong ngành vẫn còn nhiều bất cập, số lượng cán
bộ thì ít, trình độ lại chưa được cao Cán bộ làm công tác đo đạc và bản đồ có trình
độ đào tạo là tiến sỹ, thạc sỹ chiếm tỷ lệ còn khá khiêm tốn cần đầu tư nhiều hơn cho nguồn nhân lực đo đạc và bản đồ
2.2.6 Thực trạng nguồn vốn cho lĩnh vực đo đạc và bản đồ:
Nguồn vốn cho lĩnh vực đo đạc và bản đồ chủ yếu là vốn ngân sách nhà nước
Tuy nhiên lượng vốn ngân sách nhà nước cấp còn thấp cho nhu cầu phát triển ngành, cần được tăng cường hơn nữa để đầu tư trang bị máy móc thiết bị, đầu
tư khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao
2.3 Đánh giá chung về những kết quả đã đạt đưọc, những tồn tại:
- Những mặt đạt được:
Hoàn thành nhiệm vụ theo đúng kế hoạch, đúng tiến độ
Công tác tổ chức cán bộ đã thực hiện đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ
Công tác khoa học và họp tác quốc tế được mở rộng, tích cực tham gia vào các chương trình, dự án họp tác quốc tế đã thỏa thuận
Công tác giao kể hoạch nhiệm vụ và dự toán ngân sách nhà nước đã thực hiện khẩn trương, đáp ứng kịp thời cho các đơn vị triển khai thực hiện nhiệm vụ
Công tác kiểm tra kỹ thuật, nghiệm thu sản phẩm các công trình đo đạc bản
Trang 16đồ và lập hồ sơ, quyết toán công trình đã có sự chủ động, phối họp thực hiện trong quá trình thi công công trình.
Những tồn tại:
Công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa được đầy đủ và kịp thời dẫn đến việc thiếu cán bộ quản lý ảnh hưởng đến việc chỉ đạo điều hành nhiệm vụ của Cục
Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực đo đạc và bản
đồ so với kể hoạch đầu năm còn chậm
Công tác quản lý nhà nước về hoạt động đo đạc và bản đồ ở địa phương còn hạn chế
Lĩnh vực biên giới và địa giới có môt số nhiệm vụ chưa được triển khai hoặc triển khai
Chưa được đầu tư nhiều về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành
Việc xã hội hoá hoạt động đo đạc và bản đồ diễn ra còn chậm
Chương III ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐÒ VIỆT NAM
Xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý, hệ thống thông tin địa lý trong một chuẩn quốc gia thống nhất có đủ biện pháp để bảo vệ an toàn dữ liệu, an ninh dữ liệu
Cần phải chuẩn bị thiết bị và con người để ứng dụng hệ thống thông tin địa
lý phục vụ các nhu cầu quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, quản lý sản xuất và dịch
vụ, giáo dục và đào tạo, nqhiên cứu khoa học, nâng cao dân trí
Thách thức:
Trước hết, chúng ta cần có công nghệ mới, công nghệ luôn được nâng cấp
Trang 17theo nhịp độ phát triển của công nghệ thông tin.
Thứ hai, chúng ta cần có nguồn nhân lực đủ trình độ và giải quyết tốt vấn đề nhân lực đang sử dụng công nghệ truyền thống
Thứ ba, tìm nguồn kinh phí và sử dụng tốt nguồn kinh phí để xây dựng cơ sở
dữ liệu địa lý
3.1.2 Dự báo nhu cầu phát triển ngành đo đạc và bản đồ.
Hiện tại ngành đã được đầu tư khá đồng bộ các hệ thống trang thiết bị, máy móc hiện đại ở mức tiên tiến trong khu vực đáp ứng được nhu cầu triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học và sản xuất
Ngành có kế hoạch cụ thể đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chuyên gia đầu ngành ở các lĩnh vực chuyên môn sâu đủ năng lực, tăng cường cán bộ có trình độ cao cho các
cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo; trong đó cần tăng số lượng tiên sỹ đào tạo ở các nước có trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến trên thế giới
Trên cơ sở những đầu tư cho ngành ta thất được nhu cầu phát triển ngành đo đạc và bản đồ đang đặt ra trước mất
3.2 Định hưóng và mục tiêu phát triển ngành.
3.2.1 Định hướng phát triển ngành đo đạc và bản đồ trong thời gian tói 3.2.1.1 Định hưóng phát triển công nghệ đo đạc và bản đồ trong thòi gian tói.
Hiện nay, công nghệ đo đạc và bản đồ đã có những bước phát triến vững chắc, tiếp cận ứng dụng công nghệ vệ tinh và công nghệ thông tin rất hiệu quả Đe bảo đảm việc sản xuất ra các sản phẩm thông tin đo đạc bản đồ cần tiếp tục phát triển việc ứng dụng các công nghệ ở cả 3 khu vực: một là thu nhận dữ liệu, hai là xử
lý dữ liệu và ba là cung cấp dữ liệu
Trang 18cơ sở quốc gia; hệ thống đường biên eiới quốc gia, địa giới hành chính theo tọa độ
chuẩn; hệ thống địa danh hành chính, địa danh quốc tế, địa danh các đổi tượng địa
lý; hệ thống chuẩn dữ liệu địa lý ở các dạng sử dụng khác nhau
c) Hoàn chỉnh hệ thống các văn bản hướng dẫn quy trình công nghệ trong sản xuất
3.2.1.3 Phương hướng phát triển các loại công trình, sản phẩm đo đạc
và bản đồ.
Có rất nhiều nhiệm vụ trong thời gian tới với các loại công trình, sản phẩm
đo đạc và bản đồ
3.2.1.4 Đổi mới hệ thống triển khai hoạt động về đo đạc và bản đồ
Hoàn thành việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước thực hiện dịch vụ,
sản xuất thông tin về đo đạc và bản đồ, phát triển các doanh nshiệp ngoài khu vực
nhà nước thực hiện dịch vụ đo đạc và bản đồ
3.2.1.5 Phương hướng xã hội hóa hoạt động đo đạc và bản đồ
Nhiệm vụ hàng đầu của ngành Đo đạc và Bản đồ là cung cấp thông tin, tư
liệu phục vụ nhiều mục đích Đe đáp ứng được các yêu cầu đó, ngân sách nhà nước
không thể bảo đảm cho việc sản xuất toàn bộ thông tin, tư liệu, sản phẩm đo đạc và
bản đồ Trong lộ trình hội nhập vào cộng đồng WTO, dịch vụ đo đạc và bản đồ
cũng sẽ là một trong những tiêu điểm để xem xét mở cửa sớm Vì vậy cần xã hội
hóa việc hoạt động này
3.2.2 Mục tiêu phát triển.
3.2.2.1 Quan điểm phát triển
Đo đạc và bản đồ là hoạt động điều tra cơ bản phải được đi trước một bước
Lấy việc đầu tư cho khoa học và công nghệ trong ngành Đo đạc và Bản đồ
làm giải pháp chủ yếu để phát triển
Hệ thống thông tin đo đạc và bản đồ phải bảo đảm chuẩn quốc gia thống
nhất, phù họp chuẩn quốc tế, đủ phục vụ nhu cầu quản lý nhà nước
Phát huy nội lực, nhất là năng lực trí tuệ của người Việt Nam để phát triển và
ứng dụng công nghệ đo đạc và bản đồ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ phần mềm
về xử lý thông tin địa lý, đi đôi với tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế về đo
Trang 19Mục tiêu cụ thể
3.3 Giải pháp phát triển ngành đo đạc bản đồ đến năm 2020.
3.3.1 Hoàn thiện cơ chế chính sách hoạt động của ngành Đo đạc và Bản
đồ Việt Nam.
- Xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách về phát triển ngành
- Củng cố, kiện toàn các cơ quan quản lý nhà nước trong ngành ĐĐBĐ
- Đối mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp ở Trung ương và địa phuơng theo hướng chuyển sang doanh nghiệp; cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đế nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ, nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm
- Xã hội hóa hoạt động đo đạc và bản đồ
3.3.2 Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư đo đạc và bản đồ
Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho hoạt động đo đạc và bản đồ và kết họp sử dụng vốn đầu tư ngoài ngân sách
Cần tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm ưu tiên các nhiệm vụ quan trọng thiết yếu
3.3.3 Đầu tư máy móc, trang thiết bị, công nghệ:
- Đầu tư mạng lưới điểm tọa độ quốc gia mới
- Đầu tư mua máy đo trọng lực tuyệt đối độ chính xác siêu cao FG-5, máy đo trọng lực hàng không TAGS của Mỹ
- Tiếp tục đầu tư, nâng cấp Trạm thu ảnh vệ tinh hiện có để thu nhận và xử lý được các loại ảnh có độ phân giải siêu cao tới 0,5 m đối với ảnh quang học và 0,1 m đối với ảnh Radar
- Đầu tư mua hệ thống máy chụp ảnh số kết họp với thiết bị quét Lidar
- Các phần mềm chuyên dụng
3.3.4 Đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật về đo đạc và bản đồ: đầu tư về
đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng với công nghệ hiện đại cũng như yêu cầu phát triển ngành
3.3.5 Đấy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ đo đạc và bản đồ,
- Lựa chọn, tiếp thu các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của thế giới,
- Có chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với cán bộ khoa học công nghệ về
đo đạc và bản đè
- Chú trọng công tác bồi dưỡng kiến thức mới, củng cổ, nâng cao trình độ
Trang 20khoa học công nghệ của lực lượng cán bộ hiện có;
- Có kế hoạch cụ thể đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chuyên gia đầu ngành ở các lĩnh vực chuyên môn sâu,
- Có chính sách, cơ chế phù họp để thu hút, tuyển dụng được nguồn nhânlực,
- Nhà nước đặt yêu cầu hàm lượng công nghệ cao trong các công trình, sản phấm đo đạc và bản đồ thực hiện theo đơn đặt hàng của Nhà nước
3.3.6 Mở rộng và tăng cưòng họp tác quốc tế
a) Tăng cường họp tác về đo đạc và bản đồ với các nước phát triển có trình
độ công nghệ cao thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học quốc tế về khoa học trái đất, thông qua các chương trình chung giải quyết các bài toán khu vực và toàn cầu
b) Đây mạnh họp tác với các nước láng giềng về đo đạc và bản đồ để có thông tin chung của toàn khu vực
c) Thiết lập mối quan hệ hợp tác về dịch vụ đo đạc và bản đồ với các nước Đông Nam Á, các nước thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và các nước khác
d) Chủ động tham gia các hoạt động về đo đạc và bản đồ trong các hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ trên thế giới
Hạn chế về cơ chế quản lý đề tài, dự án
Công tác đo đạc và bản đồ cần phải được đầu tư kinh phí và thiết bị công nghệ thỏa đáng, nhằm đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phục vụ công tác quản lý đất đai Mặt khác, nên xây dựng cơ chế phối họp để chia
sẻ, sử dụng chung thông tin, tư liệu, sản phẩm đo đạc nhằm tránh chồng chéo gây lãng phí Đặc biệt, Bộ Tài nguyên và Môi trường cần sớm hoàn chỉnh hệ thống hồ
sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên và môi trường các địa phương
Trang 21KÉT LUẬN
Lực lượng đo đạc và bản đồ không ngừng phát triển cả về số lượng, chất lượng và quy mô tố chức các đơn vị Bộ Tài nguyên và Môi trường có 10 đơn vị hoạt động trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ cơ bản và đo đạc và bản đồ chuyên ngành Các Bộ: Quốc phòng, Giáo dục và Đào tạo, Xây dựng, Giao thông Vận tải, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đều có tổ chức hoạt động trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ Ớ 63 tỉnh, thành phố đều có trung tâm hoặc công ty hoạt động trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ
Trong thời gian tới, Ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam sẽ nỗ lực hết mình để trở thành một ngành điều tra cơ bản có trình độ khoa học công nghệ hiện đại đạt mức tiên tiến của khu vực và tiếp cận với trình độ tiên tiến trên thế giới; hoàn thiện
cơ sở pháp lý điều chỉnh tổ chức và hoạt động của ngành; đảm bảo giá trị pháp lý của các loại bản đồ và sổ liệu đo đạc trong bản đồ; bảo đảm xây dựng và cung cấp
hạ tầng thông tin địa lý đầy đủ, chính xác, kịp thời phục vụ yêu cầu của quản lý Nhà nước về lãnh thổ, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, hoạt động kinh tế - xã hội đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin về đo đạc bản đồ cho cộng đồng
Đe thực hiện được những mục tiêu đó, Ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam cần nhanh chóng hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuấn, định mức kinh t ế - k ỹ thuật về đo đạc và bản đồ; hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa phương; xây dựng Hệ quy chiếu, lưới điểm tọa độ quốc gia, lưới điểm độ cao quốc gia hiện đại phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế; xây dựng Hệ quy chiếu, hệ tọa độ phục vụ quốc phòng, an ninh; hoàn chỉnh
hệ thống thu nhận thông tin bề mặt đất bàng chụp ảnh từ vệ tinh, máy bay, quang học, sóng radar, sóng laser; tiếp tục nâng cấp công nghệ định vị vệ tinh toàn cầu (GPS) phục vụ các mục tiêu định vị và dẫn đường
Trang 22TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Trang 23M Ở ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Ngành Đo đạc và Bản đồ nước ta được hình thành từ thời Hồng Đức nhà Hậu
Lê cách đây hơn 500 năm Đo đạc và bản đồ là một ngành khoa học kỹ thuật thuộc các khoa học về Trái đất
Nhiệm vụ của hoạt động đo đạc và bản đồ (ĐĐBĐ) là thu nhận và thể hiện các thông tin về bề mặt trái đất lên bản đô đê sử dụng cho các mục đích: quản lý lãnh thổ, điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên, quản lý các hoạt động chuyên ngành lập các quy hoạch, kế hoạch, phục vụ nghiên cứu về trái đất và đáp ứng các nhu cầu về đảm bảo an ninh quốc phòng
Hoạt động ĐĐBĐ có đặc thù riêng là bao trùm một phạm vi rất rộng các lĩnh vực kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh, hầu hết các lĩnh vực kinh tể xã hội và an ninh quốc phòng đều sử dụng bản đồ trong công việc của mình nên các quốc gia trên thế giới đều quan tâm tới công tác quản lý hoạt động này nhằm tránh sự chồng chéo lãng phí trong tổ chức đo đạc lập bản đô và đảm bảo sự thông nhât trong hẹ thống thông tin trắc địa bản đồ để thuận lợi cho công tác chỉ đạo điêu hành, quản lý
và công tác quy hoạch, kế hoạch, vấn đề xã hội hóa hoạt động ĐĐBĐ ngày càng phát triển đòi hỏi nhà nước cần phải có biện pháp quản lý thích họp để phát huy tiềm năng của tất cả các lực lượng trong xã hội và sử dựng tốt nhất thành quả ĐĐBĐ một cách hiệu quả và kinh tể
Đo đạc và bản đồ là hoạt động điều tra cơ bản nhằm bảo đảm hạ tầng thông tin địa lý cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong nước, đáp ứng nhu câu tham gia họp tác đê giải quyêt các bài toán toàn cầu và khu vục về nghiên cứu khoa học và trái đất, về giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tê
Trong thời gian tới, nhiệm vụ đạt ra cho ngành đo đạc bản đồ là phải bảo đảm việc xây dựng và cung cấp hạ tầng thông tin địa lý đầy đủ, chính xác, kịp thời phục vụ các yêu cầu quản lý nhà nước vễ lãnh thổ, đất đai, tài nguyên thiên nhiên và môi trường, hoạt động kinh tế-xã hội; đông thời bảo đảm an ninh quôc phòng- nghiên cứu khoa học về trái đất, phòng chống thiên tai bảo vệ môi trường đáp ứng nhu cầu thông tin trong hoạt động kinh tể, giáo dục đào tạo, nghiên cứu,
Trang 24sinh hoạt giải trí và nâng cao dân trí Với nhiệm vụ đặt ra như trên, đòi hỏi ngành cần có định hướng phát triển dài hạn thích ứng với điều kiện và yêu cầu về trình
độ công nghệ hiện đại, đạt mức tiên tiến trong khu vực và tiếp cận với trình độ tiên tiến trên thế giới Đe góp phần giải quyết yêu cầu đặt ra trên đây đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn của mình, em chọn nghiên cứu đề tài: “Định hướng phát triển ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam đến năm 2020” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở khoa học về phát triển ngành đo đạc và bản đồ để làm
cơ sở cho việc định hướng phát triển ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam
- Đánh giá thực trạng phát triển của ngành đo đạc và bản đồ thời gian qua để tìm ra những thành tựu, tồn tại hạn chế để làm cơ sở đề xuất định hướng và giải pháp tháo gỡ cho sự phát triển của ngành trong thời gian tới;
- Trên cơ sở phân tích bối cảnh và các yêu cầu phát triển, đề tài sẽ đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển ngành đo đạc bản đồ trong thời gian tới
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu là các hoạt động của ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Đe tài tập trung nghiên cứu thực trạng và định hướng phát triển của ngành đo đạc và bản đồ thông qua các hoạt động tập trung mang tính quốc gia tại Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam trong giao đoạn từ 2005-2010 và định hướng đến 2020
4 Phương pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn
sẽ sử dụng cách tiếp cận hệ thống từ mục tiêu nhiệm vụ đặt ra để xác định các hoạt động phụ trợ cần thiết nhằm thực hiện đạt được mục tiêu trong quá trình phát triển;
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sẽ sử dụng các phương pháp thống kê để thu thập thông tin, xử lý dữ liệu; các phương pháp dự báo để dự báo phương hướng và các yêu cầu, điều kiện cần đảm bảo cho thực hiện mục tiêu đặt ra
5 Đóng góp của luận văn
Đưa ra một cái nhìn tổng quát về thực trạng phát triển của ngành đo đạc và
Trang 25bản đô Việt Nam những năm qua và chỉ ra định hướng, giải pháp có thể sử dụng cho chiến lược và kế hoạch phát triển ngành đo đạc bản đồ đến 2020;
6 Kết cấu nội dung đề tài.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chưong:
Chương I: Cơ sở lý thuyết về định hướng phát triển ngành đo đạc bản đồChương II: Thực trạng phát triển ngành đo đạc bản đồ Việt Nam trong những năm qua
Chưong III: Định hướng phát triển ngành đo đạc bản đồ Việt Nam đến năm
2020
Trang 26Phương pháp nghiên cứu là đo đạc các thể loại yếu tố khác nhau (thường là các yếu tố hình học hoặc vật lý) để tính ra các tham số hình học của Trái đất để thể hiện thành mô hình Trái đất thực.
Mục đích nghiên cứu của đo đạc và bản đồ là thu nhận các thông tin thực tế gắn với từng vị trí trên bề mặt đất, trên bề mặt nước, trong lòng đất, trong lòng nước
và trên khoảng không để giúp cho con người nhận thức được hiện trạng, xu hướng biên động của phân lãnh thô mình đang quan tâm, để từ đó tìm công cụ quản lý, vạch ra quy hoạch để bảo vệ và phát triển Phạm vi quan tâm của con người tới đâu thì công tác đo đạc và bản đồ được phát triển ngay tới đó Bước chân của con người tới đâu thì con người đo đạc để lập bản đồ (mô hình lãnh thổ) tới đó để có một tầm nhìn bao quát hơn, đưa ra quy hoạch phát triển họp lý hơn Trước thế kỷ XX, đo đạc
và bản đô sử dụng các loại công nghệ đo đạc đơn giản để lập bản đồ trong phạm vi cục bộ của từng phần lãnh thổ không lớn Trong suốt thế kỷ XX, con người đã tập
Trang 27trung nồ lực lớn vào việc đo đạc và lập bản đồ trên phạm vi toàn cầu, cho cả đất liền
và đáy biển, mức độ thông tin ngày càng chi tiết hơn
Trong 20 năm cuối của thể kỷ XX, công nghệ đo đạc và bản đồ đã có những thay đổi mang tính chất bước ngoặt: công nghệ truyền thống dựa trên các phương pháp đo góc, đo cạnh, xử lý ảnh chụp mặt đất bàng mô hình quang học đã được thay thế bằng công nghệ số dựa trên nền tảng của công nghệ vệ tinh và công nghệ thông tin Đến nay, có thể nói con người đã có được thông tin khá chi tiết về Trái đất trên phạm vi toàn cầu, thông tin được cập nhật thường xuyên, giúp cho con người nhận thức rât rõ ràng về Trái đất, đồng thời vươn tới nhu cầu nhận thức trên phạm vi vũ trụ, đóng vai trò quan trọng mang tính dẫn đường cho công cuộc chinh phục vũ trụ của loài người Mô hình lãnh thổ trước đây là bản đồ trên giấy, nay được bổ sung và thể hiện bằng hệ thống thông tin địa lý trên máy tính
Công nghệ đo đạc và bản đồ hiện đại trước hết tạo được những công cụ mới với tầm hoạt động rộng hơn, đầy đủ hơn, chi tiết hơn, chính xác hơn, kịp thời hơn Sau đó, công nghệ mới đã tạo được khả năng giảm giá thành sản phẩm, giảm đáng
kể thời gian thi công, không phụ thuộc yếu tổ ngoại cảnh, cũng như không phụ thuộc vào chủ quan của con người Sự thay đổi công nghệ đo đạc và bản đồ đã tạo nên một vị thế mới cho ngành Đo đạc và Bản đồ Việt Nam
Công nghệ định vị vệ tinh toàn cầu GPS đã nhanh chóng thay thế các thiết bị
đo đạc lưới toạ độ, mở rộng tầm hoạt động tới vài nghìn km và tạo thêm khả năng định vị cả những đối tượng động Công nghệ chụp ảnh vệ tinh đã đạt được những bước phát triển đáng kể trong những năm gần đây, độ phân giải của ảnh đạt tới mức 0,5 mét với nhiều phổ khác nhau giúp cho khả năng thông tin nhanh để lập được các loại bản đồ địa hình, nghiên cứu các yếu tố vật lý và hóa học trên bề mặt đất Ảnh radar giúp cho quá trình phân tích biến động của thông tin trên mặt đất rất hiệu quả Công nghệ quét siêu âm đáy nước từ tầu đo đạc, quét laser mặt đất từ máy bay đã giúp cho quá trình lập bản đồ các loại tỷ lệ lớn chính xác và nhanh chóng
Công nghệ thông tin với kỹ thuật đồ hoạ hiện đại đã tạo nên một bước tiến trong việc xử lý thông tin thu nhận được về Trái đất (thông tin địa lý), tổ chức quản lý thông tin và xây dựng mô hình thông tin về lãnh thổ (hệ thống thông tin địa lý) Đến nay, toàn
bộ dây chuyền công nghệ sản xuất thông tin đo đạc và bản đồ đã được tổ chức dưới dạng công nghệ xử lý sổ, từ khâu thu nhận, xử lý, quản lý tói cấp phát thông tin
Trang 281.1.2 Đặc điểm.
Sản phẩm đầu ra của ngành đo đạc và bản đồ là cơ sở ban đầu là thông tin cho các ngành, các lĩnh vực khác Các sản phẩm: từ những tấm bản đồ, số liệu toạ độ, độ cao, thiên văn, trọng lực cho đến các thông tin tư liệu, bản đồ số phủ trùm lãnh thổ, lãnh hải đều là những tài liệu cơ sở mở đầu cho hàng loạt những công tác nối tiếp như điều tra cơ bản, quy hoạch, phân bố lực lượng sản xuât, thăm dò và khai thác tài nguyên, quản lý đất đai, nông - lâm nghiệp, giao thông vận tải, bảo vệ môi trường— ; là những tài liệu cơ bản phục vụ chung cho nhiều ngành, nhiều mục đích
Ưng dụng khoa học kỹ thuật cao đáp ứng nhu cầu quốc tế hoá: với việc công nghệ càng ngày càng phát triển
Vôn đâu tư lớn: khoa học ngày một phát triên với công nghệ hiện đại đòi hỏi một lượng vốn lớn cho ứng dụng khoa học công nghệ và sử dụne máy móc thiết bị phục vụ công việc
Tính xã hội hoá: công tác đo đạc và bản đồ đòi hỏi một lượng vốn lớn để đầu tư về nguồn lực và nhân lực cũng như trang thiết bị nên nhà nước khuyến khích tư nhân tham gia vào hoạt động đo đạc và bản đồ nhằm huy động vừa vốn vừa nhân lực
1.1.3 Yêu cầu phát triển ngành.
Vì đo đạc và bản đồ là hoạt động điều tra cơ bản xây dựng hạ tầng thông tin địa lý phục vụ cho các ngành các lĩnh vực, thông tin đo đạc và bản đồ là một loại hạ tầng thông tin rất quan trọng, trợ giúp trực tiếp cho các quyết định và đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về lãnh thổ, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng
an ninh, giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường Chính vì tầm quan trọng của nó nên đòi hỏi phải đảm bảo tính thống nhất, tính đồng bộ và khoa hoc, chính xác, đầy đủ và kịp thời
1.2 Tính cấp thiết phát triển ngành đo đạc và bản đồ: thể hiện ở vai trò của ngành đối với nền kinh tế:
Từ thời thượng cổ, con người đã biết thể hiện bề mặt trái đất lên mặt phẳng thông qua những nét vẽ tượng trưng làm tài liệu mô tả nơi cư trú và đương đi lối lại tới các địa điểm mưu sinh thuộc phạm vi lãnh thổ của họ, tài liệu đó được gọi chung
Trang 29là bản đồ Xã hội loài người càng phát triển thì bản đồ càng được thể hiện chính xác, vai trò của bản đồ trong cuộc sống ngày càng trở nên quan trọng hơn Từ nhu cầu của cuộc sống, môn khoa học trắc địa và bản đồ đã được hình thành (còn gọi là
đo đạc và bản đồ)
Nhiệm vụ khoa học của trắc địa và bản đồ là nghiên cửu để xác định các yếu tố hình học và sự biên động hình học của trái đất và thể hiện những thông tin trên bề mặt trái đất lên mô hình Nhiệm vụ kỹ thuật của trắc địa và bản đồ là hình thành các giải pháp công nghệ, thiết bị nhằm mục đích định vị, đo đạc các yếu tố hình học, thiết lập
mô hình, liên hệ giữa mặt đất thực với mô hình, đưa thiết kế từ mô hình ra thực địa Hai nhiệm vụ khoa học và kỹ thuật của trắc địa và bản đồ luôn thống nhất với nhau và hỗ trợ cho nhau Khi phạm vi quan tâm của con người ngày càng rộng thì nhiệm vụ khoa học của trắc địa và bản đồ càng lớn Trước đây, người ta chỉ quan tâm đến một không gian hẹp xung quanh thì người ta có thể coi mặt đất là phẳng Sau đó, người ta mở rộng tầm mắt tới cả nước, cả khu vực, cả lục địa và tới toàn cầu thì trái đất được coi là hình câu, hình ê-líp-xô-ít tròn xoay, hình ê-líp-xô-ít 3 trục Đến nay, khi con người đã bước vào vũ trụ thì nhiệm vụ khoa học của trắc địa và bản đồ cũng mở rộng đến các hành tinh khác, các hệ sao khác và các thiên hà khác Nhiệm vụ khoa học càng rộng thì phương pháp công nghệ để đáp ứng cho nhiệm vụ đó càng có cơ hội phát triển Phương pháp trăc địa vũ trụ đã hình thành và phát triên để đáp ứng nhiệm vụ khoa học của trắc địa và bản đô cho vũ trụ, đông thời đó cũng là cuộc cách mạng công nghệ cho trắc địa
và bản đồ phục vụ bề mặt trái đất Kết quả của đo đạc và bản đồ là thông tin Đó là thông tin về trái đất, thông tin về bề mặt đất, thông tin về vũ trụ mà con người quan tâm, đông thời đó là cơ sở đê thê hiện các thông tin khác gắn với mặt đất
Trên cơ sở các phương pháp định vị để xác định tọa độ và độ cao, các đối tượng và hiện tượng trên bề mặt trái đất được đo đạc, xác định và thể hiện, trình bày thành bản đồ (một dạng của mô hình bề mặt đất) bằng một hệ thống ký hiệu quy ước để phục vụ người sử dụng Bản đồ là mô hình trên mặt phẳng thể hiện bề mặt đất khá phức tạp với rất nhiều thông tin đa dạng Nhà bản đồ học cần phải thể hiện những thông tin trên bề mặt đất lên bản đồ theo mục tiêu mà bản đồ đó phục vụ bằng một loại ngôn ngữ riêng có liên quan đến đồ họa Từ khi công nghệ thông tin phát triển mạnh, người ta tìm giải pháp thay thế bản đồ truyền thống trên giấy bằng
mô hình khác của bề mặt trái đất lên máy tính Đó chính là hệ thống thông tin địa lý với khả năng thể hiện phong phú hơn, đa dạng hơn
Trang 30Sự ra đời của kỹ thuật chụp ảnh nửa cuối thế kỷ XIX đã tạo ra một công cụ hữu hiệu cho khoa học trắc địa và bản đồ là bộ môn trắc địa ảnh Những tấm ảnh chụp từ máy bay, và nhiều năm trở lại đây là cả từ vệ tinh, với độ phân giải thấp, trung bình, cao và siêu cao cung cấp cho con người hình ảnh mặt đất, hoặc khái quát cả một vùng rộng lớn hoặc chi tiết cụ thể đến từng mét Nhờ đó có thể khám phá cận cảnh hoặc từ xac các chi tiết cần thiết, tăng cường độ chính xác nghiên cứu các đối tượng, hiện tượng mặt đất và đẩy nhanh tốc độ, nâng cao chất lượng và độ chính xác của bản đồ.
Từ những năm 50 của thế kỷ XX, kỹ thuật chụp và phân tích ảnh đa phổ được đưa và ứng dụng, công nghệ viễn thám từ đó đã ra đời Xuất phát từ nguyên lý vật thế có cấu trúc vật chất khác nhau sẽ phản ứng có chọn lọc đối với các phổ sóng điện từ khác nhau, công nghệ viễn thám nghiên cứu các phương pháp thu và xử lý ảnh đa phố để xác định tính chất các đối tượng mặt đất, tạo ra rất nhiều khả năng ứng dụng mới cho đo đạc và bản đồ
Những năm 90 của thế kỷ XX, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và công nghệ vệ tinh đã tọa ra bước ngoặt cơ bản cho phát triển trắc địa và bản đồ Việc áp dụng công nghệ số vào trắc địa và bản đồ đã cho phép đổi mới toàn diện công nghệ trắc địa và bản đồ, từ phương pháp luận tới loại hình sản phẩm, đang thay thế hầu như toàn bộ công nghệ trắc địa và bản đồ truyền thống Công nghệ định vị vệ tinh (GPS) và công nghệ chụp ảnh vệ tinh (RS) đã trở thành công cụ chủ yếu để thu nhận thông tin trên bề mặt trái đất Thông tin trắc địa và bản đồ được thay thế bằng thông tin địa lý, một lớp thông tin quan trọng của hạ tầng thông tin phục vụ xã hội Thông tin địa lý được quản lý, sử lý, khai thác, kết xuất trong hệ thống thông tin địa
lý (GIS), ngày càng trở thành công cụ phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới Tất
cả các thông tin được phân lóp, thể hiện theo nhiều chiều, thể hiện bằng tín hiệu số,
đó là những đặc điểm mà bản đồ truyền thống không thể nào có được Dữ liệu địa lý
có thể trao đổi qua mạng, dễ dàng cập nhật, cung cấp nhanh chóng, thuận tiện cho người sử dụng Công nghệ 3S gồm GPS, RS, GIS đã và đang trở thành công cụ rất hữu hiệu trong trắc địa và bản đồ để nghiên cứu điều kiện tài nguyên, môi trường và giải quyết nhiều vấn đề của đời sống xã hội
Thông tin trắc địa và bản đồ được sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau Trong thực tế cuộc sống, hầu như không có lĩnh vực nào của đời sống xã hội không
sử dụng đến bản đồ, từ quản lý nhà nước tới quản lý kinh tể, từ phát triển kinh tế
Trang 31-xã hội tới bảo đảm quốc phòng - an ninh, từ nghiên cứu khoa học tới nâng cao dân trí Việc điều tra và quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên, đánh giá và giám sát môi trường, phòng chống thiên tai, quy hoạch phát triển, quản lý lãnh thổ, dự báo phát triển kinh tế đều được thực hiện trên cơ sở hệ thống thông tin địa lý.
Bên cạnh công tác trắc địa và bản đồ cơ bản do cơ quan đo đạc và bản đồ quốc gia thực hiện, công tác trắc địa và bản đồ chuyên ngành do các Bộ, ngành và địa phương thực hiện Nhiều nhu cầu về trắc địa và bản đồ phục vụ phát triển kinh
tế, nhu cầu đời sống hàng ngày của người dân đã được xã hội hóa, do các công ty từ các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước thực hiện
1.2.1 Đo đạc và bản đồ phục vụ quy hoạch, phát triển kinh tế.
Sản phẩm bản đồ địa hình cơ bản được đưa vào sử dụng cho công tác phân vùng quy hoạch ở Việt Nam từ những năm 60 của thế kỷ XX Năm 1973, tư tưởng lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất đã được Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng Phạm Văn Đồng nêu ra với mục tiêu hoàn thiện công tác kế hoạch hóa và xây dựng kế hoạch dài hạn phát triển nền kinh tế sau chiến tranh và nhiệm vụ lập Tổng sơ đồ được giao cho ủ y ban Kế hoạch Nhà nước, sau đó giao cho ủy ban phân vùng kinh tế Trung ương tiến hành và được nhà nước tổ chức triển khai với quy mô lớn theo một chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp nhà nước
mã số 70.01 “Lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất Việt Nam thời kỳ 1986-2000” Trong suốt kế hoạch 5 năm 1981-1985 chương trình 70.01 đã được thực hiện với sự tham gia rộng rãi của các ngành, các tỉnh, các nhà khoa học
và sự giúp đỡ trực tiếp của các chuyên gia cao cấp của Liên Xô (cũ) Sản phẩm bản
đô đã được sử dụng rộng rãi và những người làm công tác bản đồ của Cục Đo đạc
và Bản đồ - Phủ Thủ tướng (sau đó là Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước) và các Bộ, ngành đã tham gia rất tích cực và công tác này Chương trình 70.01 đã được Hội đồng khoa học cấp nhà nước nghiệm thu và đạt kết quả xuất sắc vào năm 1986
Hầu hết các cơ quan, ban ngành chuyên môn đều sử dụng bản đồ trong việc định hướng, lập quy hoạch phát triển Các bản đồ quy hoạch phát triển kinh tể - xã hội của các tỉnh, thành phố; bản đồ quy hoạch giao thông, quy hoạch đô thị; bản đồ quy hoạch lãnh thổ, bản đồ quy hoạch sử dụng đất là những tài liệu không thể thiếu trong việc định hướng phát triển của địa phương trong các kỳ kế hoạch
Trang 32Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển của Nhà nước cách mạng Việt Nam, đo đạc và bản đồ cơ bản luôn giữ vai trò quan trọng trong công tác quy hoạch
và kế hoạch Có thể khẳng định rằng công tác quy hoạch, kế hoạch ở Việt Nam cũng như ở bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới đều không thể triển khai nếu không có những tài liệu điều tra hiện trạng và tài liệu đo đạc bản đồ cơ bản
1.2.2 Đo đạc và bản đồ phục vụ điều tra cơ bản.
Các ngành thuộc lĩnh vực điều tra cơ bản là đối tượng sử dụng khá nhiều sản phâm đo đạc - bản đô cơ bản Công tác đo đạc chuyên ngành và thành lâp bản đô chuyên đề của Nhà nước cách mạng Việt Nam được triển khai từ những năm 60 Các ngành địa chất - khoáng sản, lâm nghiệp, nông nghiệp, khí tượng - thủy văn,
đã tiên hành điêu tra, khảo sát và thành lập nhiêu loại bản đồ chuyên ngành, chuyên
đề khác nhau đáp ứng nhu cầu thông tin, tư liệu về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội phục vụ mục đích nghiên cứu, xây dựng chiến lược phát triển đất nước, lập kế hoạch, quy hoạch khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc xác định các nguồn tài nguyên trong lòng đất, ngay từ năm 1959, Chính phủ đã thành lập Cơ quan đo vẽ địa chất Trong những năm 60, ngành địa chất đã điều tra và chỉnh lý bộ bản đồ địa chất - khoáng sản miền Bắc ở tỷ lệ 1/500.000 Sau năm 1975 công việc được tiến hành cả trên lãnh thổ miền Nam, lập được các bản đồ địa chất, bản đồ khoáng sản và bản đồ trường phóng xạ cả nước ở các tỷ lệ 1/500.000 và 1/1.000.000 (từ năm 1981, 1982 các bản đồ này đã được xuất bản lần đầu) Đồng thời ngành địa chất còn thành lập được các bản đồ trọng sa và kim lượng bùn, bản đồ các hệ vỏ phong hóa ở tỷ lệ 1/500.000 cho phần lãnh thổ phía Nam Đến nay, điều tra địa chất và khoáng sản nước ta đã và đang tiếp tục được thực hiện trên cơ sở bản đồ tỷ lệ lớn và ngày càng chi tiết, đã thành lập được 28 mảnh bản đồ địa chất - khoáng sản tỷ lệ 1/200.000 trên cả nước và 35 mảnh bản đồ địa chất - khoáng sản 1/50.000 chủ yếu ở miền Bắc Công trình lưới trọng lực cơ bản quốc gia do Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước thực hiện năm 1974-1977 và sau đó hiện đại hóa vào năm 1988-1989 đã có tác dụng rất lớn đối với ngành địa chất để tăng cường các điểm đo trọng lực chi tiết trong thành lập bản đồ dị thường trọng lực tỷ lệ 1/500.000 ở vùng núi và 1/200.000 vùng đông bằng phủ trùm cả nước
Trang 33Để khai thác khoáng sản đặc biệt là khai thác than đá và dầu khí công tác đo đạc và bản đồ đóng vai trò rất quan trọng trong xác định vị trí, phạm vi khai thác, khảo sát chất đáy, địa hình đáy biển để thiết kế thi công cửa hầm lò, vị trí giếng khoan, xây dựng giàn khoan, tổ chức vận chuyển khoáng sản và chất thải.
Đối với lĩnh vực khí tượng - thủy văn, bản đồ nền được biên vẽ tổng hợp từ bản đô địa hình tỷ lệ nhỏ được sử dụng để chuyển các nội dung chuyên môn làm cơ
sở để theo dõi, dự báo thời tiết, dự báo bão, lũ từ lâu trở thành công cụ không thể thiếu được
Trong công tác điều tra cơ bản, công nghệ viễn thám có ý nghĩa ứng dụng rất quan trọng Khi chưa có ảnh vệ tinh, ảnh máy bay chụp để đo vẽ bản đồ địa hình cũng đã được sử dụng rất hiệu quả cho điều tra rừng, thổ nhưỡng, địa chất Từ năm 1980, kỹ thuật sử dụng ảnh vệ tinh để lập bản đồ và nghiên cứu mặt đất, điều tra, khảo sát, dự đoán, dự báo được triển khai và sử dụng ngày càng rộng rãi ở nhiều
cơ quan như Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước (nay là Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam - Bộ Tài nguyên và Môi trường), Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Bộ Lâm nghiệp và Bộ Nông Nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), Tổng cục Địa chất (nay là Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam), Tổng cục Khí tượng - Thủy văn (nay là trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia), Đến nay đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật nghiên cứu và ứng dụng công nghệ này phục vụ các nhiệm vụ về điều tra cơ bản ngày càng đông đảo Công nghệ xử lý ảnh vệ tinh hiện nay cũng chuyển mạnh sang ứng dụng kỹ thuật số tạo nhiều thuận lợi mới cho lĩnh vực này
1.2.3 Đo đạc và bản đồ phục vụ công tác biên giói, địa giói hành chính
Bản đồ địa hình cơ bản nhà nước cũng được sử dụng đắc lực trong việc thành lập bộ bản đồ địa giới hành chính thuộc bộ hồ sơ địa giới hành chính các cấp thực hiện theo chỉ thị 364-CT ngày 06 tháng 11 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) Trong giai đoạn 1991-1996, thực hiện chỉ thị 364-CT, ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam đã tham gia xây dựng và hoàn thành hệ thống bản đồ địa giới hành chính các cấp (tỉnh, huyện, xã) của cả nước, là bộ hồ sơ chi tiết đầu tiên ghi nhận địa giới của toàn bộ các đơn vị hành chính cả nước trên bản đồ kể từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Bộ bản đồ này đang được hoàn thiện từng bước cả về số lượng, chất lượng và đã được chuyển sang dạng sổ để phục vụ quản lý nhà nước
Trang 34Bản đồ địa hình là tài liệu quan trọng để phục vụ đàm phát và ký kết các Hiệp định về biên giới và quản lý đường biên giới giữa Việt Nam với các nước láng giềng Từ những năm 80 của thế kỷ XX, Việt Nam đã thực hiện khảo sát, đàm phán
và ký kết các Hiệp định về biên giới trên đất liền với 3 nước Lào, Campuchia và Trung Quốc
Đến nay, đã giải quyết xong đường biên giới với Lào, hoàn thành công tác phân giới cắm mốc và ký Nghị định thư về biên giới trên đất liền với Trung Quốc, đang thực hiện tôn tạo và tăng dày mốc biên giới và nâng cấp một số cửa khẩu với Lào; triển khai công tác phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam - Campuchia và tiếp tục đàm phán về ranh giới trên biển với các nước có liên quan
1.2.4 Đo đạc và bản đồ phục vụ nông, lâm nghiệp
Công tác đo đạc và bản đồ không thể thiếu được đổi với ngành nông nghiệp
và nông nghiệp là ngành sử dụng rất nhiều sản phẩm đo đạc vản đồ để chỉ đạo sản xuất, định hướng phát triên nông, lâm nghiệp, thủy lợi, xây dựng các phương án quy hoạch của ngành Hầu hết các loại bản đồ địa hình cơ bản nhà nước đều phục vụ đắc lực cho ngành nông nghiệp Bản đồ địa hình cơ bản nhà nước là cơ sở để xây dựng các bản đô chuyên đề về thổ nhưỡng, hiện trạng nông nghiệp, khí hậu nông nghiệp Đe xây dựng định hướng phát triển nôn2 nghiệp cho cấp vùng, cấp tỉnh
và cấp huyện ngành nông nghiệp sử dụng các bản đồ tỷ lệ 1/250.000, 1/100.000, 1/50.000 và 1/25.000 Để xây dựng phương án quy hoạch phát triển nông nghiệp sử dụng bản đồ địa hình tỷ lệ 1/1.000, 1/5.000 Để thiết kế từng công trình sử dụng các bản đồ tỷ lệ 1/5.000, 1/2.000, 1/1.000, 1/500
Nhu cầu về bản đồ địa hình phục vụ ngành nông nghiệp rất lớn và đa dạng,
sự đáp ứng của cơ quan đo đạc và bản đồ nhà nước có lúc, có nơi còn bất cập Vì vậy được phép của Nhà nước, ngành nông nghiệp có một lực lượng đo đạc bản đồ chuyên ngành riêng để một mặt sử dụng các tài liệu sẵn có của cơ quan đo đạc và bản đồ nhà nước cho mục đích chuyên ngành, mặt khác tự triển khai những nhiệm
vụ đo đạc bản đồ mang đặc thù riêng phục vụ cho công tác của ngành Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hiện nay có ba cơ quan làm nhiệm vụ đo đạc và bản
đô chuyên ngành đó là: Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện Quy hoạch Thiết kế Nông nghiệp, Công ty Tư vấn Xây dựng Thủy lợi (trước đây là Viện Thiết kế quy hoạch thủy lợi)
Trang 35Giai đoạn từ 1955 - 1965: Công tác đo đạc bản đồ chuyên ngành nông nghiệp được hình thành ngay từ năm 1955 sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc Thời kỳ đó miền Bắc chủ yếu chỉ có bộ bản đồ tỷ lệ 1/100.000 cũ của Pháp phủ trùm, nhu cầu đo đạc bản đồ cho công tác thủy lợi và phát triển nông nghiệp rất cấp bách Vì vậy các đơn vị đo đạc bản đồ chyên ngành nông nghiệp đã ra đời Dựa trên một lực lượng nhỏ cán bộ kỹ thuật đo đạc bản đồ đầu tiên, ngành nông nghiệp
đã tuyên dụng và đào tạo gâp rút các lóp công nhân theo hình thức vừa học vừa làm, mồi lóp chỉ từ 3 đến 6 tháng Thời kỳ đào tạo nhiều nhất là năm 1958, khi ngành tiếp nhận một lực lượng lớn chiến sĩ quân đội chuyển ngành sang làm kinh tế Với lực lượng tự đào tạo và lực lượnq tốt nghiệp các trường trung cấp, ngành đã tổ chức các đội đo đạc, mỗi đội từ 30 đến 40 người, ba đến bổn đội lập thành một Đoàn Nhờ sự giúp đỡ của chuyên gia Trung Quổc và Liên Xô, bằng những phương pháp tòan đạc và bàn đạc lực lượng đo đạc bản đồ chuyên ngành nông nghiệp đã đo vẽ được hàng triệu ha bản đồ địa hình tỷ lệ 1/10.000 và 1/5.000 phục vụ cho việc hình thành hàng trăm nông trường, lâm trường trên khắp miền Bắc Cùng với việc phục
vụ cho phát triển kinh tể nông, lâm nghiệp quốc doanh, đo đạc bản đồ chuyên ngành nông nghiệp cũng đã phục vụ cho khôi phục và xây dựng hàng loạt công trình thủv lợi trong đó có công trình thủy nông nổi tiếng Bắc - Hưng - Hải
Giai đoạn từ 1966-1975: do nhu cầu hình thành các vùng kinh tế nông nghiệp, công tác đo đạc truyền thống không đáp ứng nhu cầu tài liệu đo đạc lập bản
đồ cho các khu vực rộng lớn, vì vậy phương pháp đo vẽ bản đồ bằng ảnh chụp từ máy bay đã xuất hiện trong đo đạc bản đồ chuyên ngành nông nghiệp Được sự giúp
đỡ của Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước và Phòng Bản đồ Bộ Tổng Tham mưu, công nghệ lập bản đồ bằng phương pháp ảnh đã trở thành công nghệ chủ đạo trong sản xuất bản đồ của ngành nông nghiệp Thời kỳ này Nhà nước cũng giao cho Bộ Nông nghiệp giúp đỡ các địa phương thành lập lực lượng đo đạc với phương thức đào tạo tại chỗ theo phương thức vừa học vừa làm với sự chỉ đạo trực tiếp của cán
bộ kỹ thuật được tăng cường từ Trung ương nên chỉ sau một năm, hầu hết các tỉnh, thành phố đều có lực lượng đo đạc bản đồ chuyên ngành nông nghiệp từ Trung ương đến địa phương
Giai đoạn từ 1976-1985: sau khi miền Nam giải phóng, yêu cầu về bản đồ phục vụ nông nghiệp cho các tỉnh phía Nam rất đa dạng và cấp thiết Trên cơ sở kinh nghiệm 20 năm xây dựng và phát triển công tác chuyên ngành ở miền Bắc
Trang 36cộng với tài liệu đã có ở phía Nam, ngành Nông nghiệp đã triển khai công tác đo đạc bản đồ chuyên ngành theo các hướng: một mặt cử chuyên gia giúp các địa phương thuộc các địa bàn nông nghiệp trọng điểm đào tạo lực lượng đo đạc bản đồ, chỉ sau 1 năm phân lớn các tỉnh phía Nam đã hình thành tổ chức lực lượng đo đạc bản đồ chuyên ngành nông nghiệp Mặt khác, tập trung lực lượng đo đạc bản đồ chuyên ngành nông nghiệp của trung ương do Bộ Nông nghiệp quản lý thực hiện công tác đo đạc bản đô đê thành lập các cơ sở kinh tế quốc doanh trên các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long kết quả là đã đo vẽ mới bản
đồ địa hình tỷ lệ 1/10.000 để thành lập hàng loạt nông, lâm trường như các nông trường cà phê, cao su ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, nông trường chè, dâu, tơ tằm, bò sữa ở Lâm Đồng, bông ở Thuận Hải, Phú Khánh, trâu, bò sữa ở Sông Bé ; thành lập bản đồ độ cao tỷ lệ 1/25.000 phục vụ nghiên cứu các giải pháp thủy lợi ở đông bằng sông Cửu Long, từ đó thiết kế các hệ thống kênh mương, hạn chế sự xâm thực của mặn và phèn, hình thành 9 vùng lúc trọng điểm
Giai đoạn từ 1986 đến nay: trong giai đoạn này, ngành nông nghiệp ngoài việc khảo sát và phục vụ thiết kế thi công các công trình của ngành còn thực hiện
mở rộng và hoàn thiện hệ thống bản đồ địa hình chuyên ngành tỷ lệ 1/10.000 trên các vùng nông, lâm nghiệp trọng điểm Với sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin ứng dụng, công nghệ đo đạc bản đồ cũng thay đổi nhanh chóng, ngành nông nghiệp đã thực hiện nghiên cứu ứng dụng công nghệ sổ hóa bản
đô và đo vẽ bản đô băng công nghệ số, đã tham gia vào chương trình Intercosmos của nhà nước với tư cách một thành viên, kết quả nghiên cứu của chương trình đã hình thành công nghệ viễn thám của ngành Lực lượng đo đạc bản đồ của ngành cũng đã tham gia công tác biên tập Atlas Quốc gia Việt Nam, biên tập và xuất bản Atlas Nông nghiệp
Với sự trưởng thành của lực lượng đo đạc bản đồ ở các địa phương, lực lượng đo đạc bản đô do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trực tiếp quản
lý hiện nay chỉ còn không quá 1000 người làm việc tại 3 đơn vị chính: Viện Quy hoạch và Thiêt kê nông nghiệp, Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Công ty Tư vấn Xây dựng thủy lợi Trải qua 50 xây dựng và phát triển lực lượng đo đạc và bản
đồ chuyên ngành nông nghiệp qua từng thời kỳ có thể mang những tên gọi khác nhau nhưng tât thảy đêu chung một mục tiêu vì sự phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam
Trang 371.2.5 Đo đạc và bản đồ phục vụ giao thông vận tải
Công tác đo đạc bản đồ cũng gắn bó rất chặt chẽ với ngành giao thông vận tải Tài liệu bản đồ địa hình đã được sử dụng nhiều trong khảo sát, thiết kế nâng cấp các tuyển quốc lộ quan trọng 1A, quốc lộ 5, tuyến Biên Hòa Vũng Tàu, đường Hồ Chí Minh và nhiều tuyến đường khác, số liệu đo đạc tọa độ, độ cao và tài liệu bản
đồ tỷ lệ lớn được sử dụng và giúp cho việc thi công chính xác cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, cầu Bắc Mỹ Thuận, cầu sông Gianh, hầm đèo Hải Vân, hầm Đèo Ngang và rất nhiều cầu, hầm khác trong thời kỳ đổi mới của đất nước
1.2.6 Đo đạc và bản đồ phục vụ thiết kế quy hoạch, xây dựng
Đôi với ngành xây dựng, công tác đo đạc và bản đồ luôn là người mở đường cho mọi công trình Tài liệu bản đồ cơ bản trước hết được dùng làm cơ sở khảo sát lập quy hoạch xây dựng Sau đó dựa trên các tài liệu về vị trí, phạm vi, diện tích, độ cao địa hình, cấu trúc địa chất của nền móng công trình được xác định chính xác thông qua đo đạc, các cao ốc lớn nhỏ mọc lên trên khắp đất nước ta thời gian qua đêu có công lao đóng góp quan trọng của đội ngũ những người làm công tác đo đạc
và bản đồ
1.2.7 Đo đạc và bản đồ phục vụ thiết kế và xây dựng điện
Đo đạc và bản đồ là công tác quan trọng trong khảo sát và thiết kế, thi công các công trình thủy điện, nhiệt điện Cơ quan đo đạc và bản đồ nhà nước đã cung câp nhiêu bản đô địa hình phục vụ khảo sát, thiết kế một số công trình mang tầm vóc thế kỷ của đất nước như thủy điện Hòa Bình, đường dâu siêu cao áp 500 KV Bắc - Nam và nhiều công trình lớn nhỏ khác Đội ngũ những người làm công tác đo đạc bản đồ của ngành điện cũng đã thực hiện đo vẽ phục vụ thi công nhiều công trình thủy điện, nhiệt điện lớn nhỏ trên khắp đất nước Từ những năm 60 của thế kỷ
XX đến nay, nhất là trong 15 năm gần đây, trên đất nước ta nhịp độ khảo sát, nghiên cứu thiết kế xây dựng các công trình thủy điện phát triển với tốc độ rất nhanh Những người làm thủy điện đã lần lượt cho ra đời các công trình như: Thác
Bà, Hòa Bình, Trị An, Vĩnh Sơn, Thác Mơ, Yali, Plei Krong, Sông Ba Hạ, A Vương, Sông Côn, Sê San 3, Đại Ninh, Bản Vẽ, Quảng Trị, Tuyên Quang, Sê San
4, An Khê - Kanat, Huội Quảng, Bản Chát, Lai Châu, Sông Tranh 2, Bắc Hà Công tác trắc địa có mặt suối từ khi khảo sát, lúc công trình còn là vùng đất hoang
sơ cho đến khi kết thúc thi công và cả nhiều năm sau khi công trình đã được đưa
Trang 38vào vận hành, trắc địa vẫn phải duy trì để quan trắc biến dạng nhằm đánh giá sự ổn định của công trình Công tác đo đạc bản đồ đối với công trình thủy công thủy điện được thực hiện ở hai địa bàn chính:
- Tại vùng hồ: đo đạc khối lượng bản đồ bao trùm toàn bộ vùng hồ thiết kế, vùng sẽ di dân đến nơi ở mới nhằm xác định dung tích hồ chứa nước, đánh giá mức
độ thiệt hại, công tác di dân, đền bù giải phóng mặt bằng, công tác thiết kế các công trình bảo vệ cũng như quy hoạch thiết kế hồ chứa nước sau khi có công trình
- Tại vùng công trình đầu mối: với khối lượng đa dạng các loại thành quả trăc địa và bản đô gôm không chê tọa độ, độ cao, các mặt cắt dọc, ngang, các loại bản đồ tỷ lệ lớn 1/5.000 — 1/500 để thiết kế công trình
Đe đáp ứng nhu cầu thiết kế xây dựng điện, hiện nay trong toàn ngành điện
đã thành lập 4 công ty tư vấn xây dựng điện phân bố trên các miền đất nước Mỗi công ty có nhiều phòng, đội địa hình làm công tác quản lý và sản xuất trắc địa và bản đồ
1.2.8 Đo đạc và bản đô trong nghiên cứu khoa học, giáo dục và nâng cao dân trí.
Hệ thống bản đồ giáo khoa phục vụ dạy và học các môn địa lý, lịch sử ở trường phổ thông được biên tập và xuất bản ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX
và ngày càng được hoàn thiện và đáp ứng đủ sổ lượng và nâng cao chất lượng, hình thức và thể loại ngày càng phong phú
Từ những năm 1980 đến nay, đặc biệt trong thời kỳ kinh tế mở, ngành đo đạc
và bản đồ Việt Nam cũng biên tập và xuất bản được rất nhiều bản đồ phổ thông (bản đồ thế giới, bản đồ các châu lục, bản đồ khu vực và bản đồ hành chính các cấp, bản đồ du lịch, bản đồ thành phố, tập bản đồ Những bản đồ trên đã phục vụ đông đảo công chúng để nâng cao hiệu biết về địa lý, lịch sử và các vấn đề khác trên thế giới, các địa phương trong nước và khu vực Ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam cũng tự chế các quả cầu địa lý nhiều loại kích thước (đường kính 35 cm, 40 cm) đáp ứng nhu cầu học tập và sử dụng của các đổi tượng xã hội
Việc thành lập và xuất bản atlas địa lý và các loại atlas chuyên ngành trước hết là biểu hiện của sự hiện có của nguồn tư liệu phong phú đã tích lũy được, sau đó
là biểu hiện cùa trình độ nhất định của đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật các chuyên ngành khác nhau nói chung, chuyên ngành biên tập và thiết kế bản đồ nói riêng
Trang 39Năm 1964, Cục Đo đạc và Bản đồ Phủ Thủ tướng đã biên tập và xuất bản một atlas đại cương đầu tiên của Việt Nam kích thước atlas là 32x54 cm, tỷ lệ chính của bản đồ Việt Nam là 1/4.000.000 gồm 16 bản đồ nhiều màu, có nội dung chi tiết, các phương pháp thể hiện nội dung được vận dụng thích họp, trình bày khoa học và
mỹ thuật 16 bản đồ là: Bản đồ kết nghĩa Bắc-Nam, Hành chính, Việt Nam trên Thế giới, Việt Nam trên bán cầu, Việt Nam trong Đông-Nam Á, Hình thể, Rừng ruộng, Khí hậu, Dân sổ, Dân tộc, Công nghiệp, Nông nghiệp, Giao thông đường bộ, Giao thông đường thủy, Kinh tế tổng hợp
Có thể coi đây là atlas đầu tiên của nước ta trong thế kỷ XX do nước ta tự biên tập và tự in theo phong cách hiện đại Atlas này thể hiện sự cố gắng rất cao cũng như sự tiến bộ vượt bậc về kỹ thuật của lực lượng biên tập, biên vẽ và chế in của ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam vào đầu những năm 60 của thập kỷ XX, chỉ 5 năm sau khi Cơ quan Đo đạc và Bản đồ nhà nước được thành lập
Trong những năm sau đó, với sự phối họp của Cục Đo đạc và Bản đồ với các ngành, đã xây dựng và xuất bản được một sổ atlas chuyên đề như: Tập bản đồ khí hậu miền Bắc Việt Nam (1975), Tập bản đồ Tài nguyên thiên nhiên và kinh tế - xã hội cả nước (1982-1985) và sau đó là Tập bản đồ Đồng Tháp Mười (1990) Đó là các atlas được thành lập theo kiểu atlas phục vụ kế hoạch hóa, quy hoạch vùng Tập bản đồ tỉnh Đắc Lắc (1985) và Atlas Hà Nội (1984) là các atlas có tính chất tổng họp, phổ thông đại chúng; Tập bản đồ Việt Nam - 30 năm đấu tranh và xây dựng (1975) là loại atlas tuyên truyền phổ thông
Trong vài ba năm gần đây, một dạng sản phẩm mới đã và đang được nghiên cứu sản xuất ở nước ta đó là atlas dạng số (hay còn gọi là atlas điện tử), ví dụ như atlas tổng họp tỉnh Hòa Bình, Tập bản đồ tỉnh Cao Bằng thành lập cả bàng công nghệ cổ truyền và công nghệ số; Atlas môi trường dạng số do Cục Bảo vệ môi trường và Hội Trắc địa - Bản đồ - Viễn thám Việt Nam thực hiện
Atlas lớn nhất của ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam là Atlas Quốc gia Việt Nam Công trình đã tập họp và thu hút một lực lượng lớn các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành và nhiều nhà bản đồ, các biên tập viên, kỹ thuật viên bản đồ tham gia với sự giúp đỡ, cố vấn của chuyên gia Liên Xô Năm 1996, Atlas Quốc gia Việt Nam được xuất bản lần đầu tiên Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trân trọng viết lời giới thiệu cho công trình lớn này của ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam
Trang 40Atlas Quôc gia Việt Nam là kết tinh kết quả lao động của hàng nghìn cán bộ khoa học, kỹ sư, kỹ thuật viên và công nhân kỹ thuật thuộc hầu hết các lĩnh vực điều tra cơ bản, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước trong nhiều năm Atlas Quốc gia là mô hình toàn cảnh đất nước thể hiện dưới dạng ngôn ngữ bản đồ về điều kiện
tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, con người và kinh tế - xã hội, phản ánh thành tựu nhiều mặt của đất nước ta Với nội dung đa dạng, được thể hiện bằng tiếng Việt và tiêng Anh, Atlas Quôc gia Việt Nam còn có thê được coi là xứ giả văn hóa đối với người nước ngoài, giúp họ hiểu biết về tiềm năng của thiên nhiên, đất nước, con người và xã hội Việt Nam Atlas Quốc gia Việt Nam hiện đang được nghiên cứu, hiện chỉnh và phát hành dưới dạng số
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng bản đồ và tập bản đồ của toàn xã hội, trong những năm gần đây, các sản phẩm bản đồ in trên giấy, bản đồ điện tử phát hành trên đĩa CD-ROM, trên mạng internet, trên các thiết bị di động ngày càng phong phú và
đa dạng Các tập bản đồ Hành chính Việt Nam, Giao thông Việt Nam, bản đồ du lịch, quả cầu thế giới hàng năm được phát hành với sổ lượng hàng chục nghìn bản đang dần trở thành sản phẩm thông dụng đối với mọi đối tượng trong xã hội
Hệ thông bản đồ giáo khoa phục vụ giáo dục phổ thông ngày càng được chú trọng nâng cao cả về số lượng và chất lượng Đến nay, đã có hơn 200 loại sản phẩm bao gồm các bản đồ địa lý, tập bản đồ lịch sử được xuất bản, đáp ứng tốt nhu cầu dạy và học trong các trường phổ thông
Có thể rút ra một nhận xét là, nếu như ở thời kỳ 1975-1985, để phát triển kinh tế, công tác phân vùng, quy hoạch, phân bổ lực lượng sản xuất được triển khai trên khắp đất nước đẫ nâng cao vai trò của công tác bản đồ, vì vậy đã góp phần phổ cập một cách khá rộng rãi kiến thức và phương pháp bản đồ truyền thống, thì trong những năm cuối thể kỷ XX, bản đồ số, phương pháp bản đồ số và hệ thông tin địa
lý đã và đang được sự quan tâm sử dụng ngày càng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực trên khắp đất nước
Qua 50 năm xây dựng và phát triển, trong đó có hơn 20 năm trong thời kỳ đôi mới, ngành đo đạc và bản đô Việt Nam đã có những bước tiến lớn, từng bước tiếp cận khoa học và công nghệ đo đạc bản đồ tiên tiến của thế giới và đã có những sản phẩm không thua kém thế giới, đáp ứng kịp thời nhu cầu về tư liệu đo đạc và bản đồ cho phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng