1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn đánh giá cuối kỳ dự án tăng cường khẳ năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non

120 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá cuối kỳ dự án “Tăng cường khẳ năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non”
Tác giả Nguyễn Thị Khánh Hường
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Quỳnh Hoa
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kế hoạch và Phát triển
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐÁNH GIÁ CUỐI KỲ DỰ ÁN ĐẦU TƢ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC (0)
    • 1.1. Khái niệm, sự cần thiết, các hình thức đánh giá dự án (25)
      • 1.1.1. Khái niệm chung về Đánh giá Chương trình, Dự án (25)
      • 1.1.2. Sự cần thiết của việc đánh giá Chương trình, dự án (28)
      • 1.1.3. Các hình thức đánh giá dự án đầu tư (29)
    • 1.2. Phương pháp đánh giá dự án (33)
      • 1.2.1. Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) (33)
      • 1.2.2. Phương pháp đánh giá dự án dựa trên phân tích hệ thống đa tiêu chí (34)
    • 1.3. Nội dung đánh giá cuối kỳ dự án (36)
      • 1.3.1. Trọng tâm đánh giá cuối kỳ dự án (36)
      • 1.3.2. Tính phù hợp (10 điểm) (36)
      • 1.3.3. Tính hiệu quả (40 điểm) (38)
      • 1.3.4. Tính hiệu suất (25 điểm) (42)
      • 1.3.5. Tính bền vững (25 điểm) (42)
      • 1.3.6. Phân bổ trọng số cho các tiêu chí trong đánh giá dự án (43)
      • 1.3.8. Tổng hợp và xếp hạng Tiêu chí chính (49)
      • 1.3.9. Kết luận và xếp hạng kết quả đánh giá cuối kỳ dự án (50)
    • CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ CUỐI KỲ “DỰ ÁN TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG SẴN SÀNG ĐI HỌC CHO TRẺ MẦM NON” (11)
      • 2.1. Giới thiệu chung về dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học (51)
        • 2.1.1. Thông tin cơ bản về dự án (51)
        • 2.1.2. Khái quát chung về dự án SRPP (51)
      • 2.2. Đánh giá cuối kỳ dự án “Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non” (46)
        • 2.2.1. Tính phù hợp (59)
        • 2.2.2. Tính hiệu quả trong sử dụng nguồn lực (tối đa 40 điểm) (78)
        • 2.2.3. Tính hiệu suất về mức độ đạt được kết quả trực tiếp (tối đa 25điểm) (87)
        • 2.2.4. Tính bền vững (98)
        • 2.2.5. Thống kê điểm tiêu chí chính và tiêu chí thành phần (102)
    • CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (13)
      • 3.1. Những kết quả và tồn tại (109)
        • 3.1.1. Các kết quả mà Dự án đạt được (109)
        • 3.1.2. Những tồn tại của Dự án SRPP (111)
      • 3.2. Kiến nghị (112)
        • 3.2.1. Kiến nghị liên quan đến công tác quản lý và thực hiện dự án (112)
        • 3.2.2. Kiến nghị nhằm nâng cao tính bền vững của Dự án (115)
  • Kết luận (12)

Nội dung

Chính vì vậy, luận văn này hướng tới đánh giá cuối kỳ dự án một cách hệ thống trên các tiêu chí được nhiều nước trên thế giới sử dụng nhằm có cái nhìn sát thực hơn đối với quá trình thực

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi xin cam đoan đây là luận văn được thực hiện độc lập của bản thân tôi với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Những thông tin, số liệu, dữ liệu đưa ra trong luận văn được trích dẫn rõ ràng, đầy đủ về nguồn gốc Quá trình thu thập và xử lý dữ liệu của

cá nhân đảm bảo khách quan và trung thực

TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Khánh Hường

Trang 2

Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Quỳnh Hoa đã tận

tình hướng dẫn, giúp đỡ để tác giả hoàn thành luận văn này

Tác giả xin chân thành cảm ơn Dự án “Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non” đã tạo điều kiện thuận lợi về cung cấp số liệu để hoàn thành các nội dung của đề tài

Xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đến bạn bè, đồng nghiệp đã có những ý kiến góp ý cho tôi hoàn chỉnh luận văn

Cuối cùng, xin cảm ơn tấm lòng của những người thân trong gia đình đã động viên, góp ý tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Khánh Hường

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

TÓM TẮT LUẬN VĂN i

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐÁNH GIÁ CUỐI KỲ DỰ ÁN ĐẦU TƯ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC 8

1.1 Khái niệm, sự cần thiết, các hình thức đánh giá dự án 8

1.1.1.Khái niệm chung về Đánh giá Chương trình, Dự án 8

1.1.2 Sự cần thiết của việc đánh giá Chương trình, dự án 11

1.1.3 Các hình thức đánh giá dự án đầu tư 12

1.2 Phương pháp đánh giá dự án 16

1.2.1 Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) 16

1.2.2 Phương pháp đánh giá dự án dựa trên phân tích hệ thống đa tiêu chí 17

1.3 Nội dung đánh giá cuối kỳ dự án 19

1.3.1 Trọng tâm đánh giá cuối kỳ dự án 19

1.3.2.Tính phù hợp (10 điểm) 19

1.3.3 Tính hiệu quả (40 điểm) 21

1.3.4 Tính hiệu suất (25 điểm) 25

1.3.5.Tính bền vững (25 điểm) 25

1.3.6 Phân bổ trọng số cho các tiêu chí trong đánh giá dự án 26

Trang 4

1.3.7 Đánh giá tiêu chí chính dựa trên việc cho điểm các tiêu chí thành

phần 27

1.3.8 Tổng hợp và xếp hạng Tiêu chí chính 32

1.3.9 Kết luận và xếp hạng kết quả đánh giá cuối kỳ dự án 33

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ CUỐI KỲ “DỰ ÁN TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG SẴN SÀNG ĐI HỌC CHO TRẺ MẦM NON” 34

2.1.Giới thiệu chung về dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non 34

2.1.1 Thông tin cơ bản về dự án 34

2.1.2 Khái quát chung về dự án SRPP 34

2.2 Đánh giá cuối kỳ dự án “Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non” 42

2.2.1.Tính phù hợp 42

2.2.2 Tính hiệu quả trong sử dụng nguồn lực (tối đa 40 điểm) 61

2.2.3.Tính hiệu suất về mức độ đạt được kết quả trực tiếp (tối đa 25điểm) 70

2.2.4 Tính bền vững 81

2.2.5 Thống kê điểm tiêu chí chính và tiêu chí thành phần 85

CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92

3.1 Những kết quả và tồn tại 92

3.1.1.Các kết quả mà Dự án đạt được 92

3.1.2 Những tồn tại của Dự án SRPP 94

3.2 Kiến nghị 95

3.2.1 Kiến nghị liên quan đến công tác quản lý và thực hiện dự án 95

3.2.2 Kiến nghị nhằm nâng cao tính bền vững của Dự án 98

Kết luận 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 5

DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Chỉ số kết quả gắn với điều kiện giải ngân DLI

Chỉ số phát triển của trẻ mầm non (Early Childhood Development Index) EDI

Chương trình Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học SEQAP

Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non (School

Readiness Promotion Project)

SRPP PEDC

Dự án Hỗ trợ chuẩn bị và thực hiện Kế hoạch phát triển Kinh tế Xã hội dựa trên

kết quả giai đoạn 2011-2015

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Trọng tâm đánh giá kết thúc dự án (đánh giá cuối kỳ) 19

Bảng 1.2: Thang điểm và phân bổ trọng số cho các tiêu chí chính trong đánh giá kết thúc dự án (đánh giá cuối kỳ) 27

Bảng 1.3: Các nội dung cho điểm theo tiêu chí chính, tiêu chí thành phần 27

Bảng 1.4: Xếp hạng tiêu chí chính 32

Bảng 2.1 Tổng chi phí đầu tư chia theo các hợp phần dự án 38

Bảng 2.2 Phân bổ vốn theo danh mục chi tiêu & nguồn tài trợ 39

Bảng 2.3: Khung Kết quả Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non 44

Bảng 2.4: Tiến độ ký kết và giải ngân hợp đồng 49

Bảng 2.5: Bảng tổng hợp các chỉ số giải ngân của Dự án thời điểm kết thúc 63

Bảng 2.6 Chi phí - lợi ích theo các kịch bản khác nhau 64

Bảng 2.7: Tỷ lệ trẻ 5 tuổi đi học bán trú theo các kỳ 68

Bảng 2.8: Thống kê tỷ lệ giải ngân, mức độ hoàn thành các chỉ tiêu 71

Bảng 2.9: Tỷ lệ trẻ 3-5 tuổi đi học bán trú qua các kỳ 74

Bảng 2.10: Tỷ lệ trẻ 5 tuổi được học bán trú các kỳ 75

Bảng 2.11: Tỷ lệ trường mầm non hoàn thành hoạt động đánh giá ngoài 76

Bảng 2.12: Tỷ lệ trường mầm non đánh giá ngoài đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục Cấp độ 1 qua các kỳ 78

Bảng 2.13: Tỷ lệ trường mầm non hoàn thành tập huấn 10 module ưu tiên qua các kỳ đánh giá 80

Bảng 2.14: Rủi ro thực hiện các hoạt động khi dự án kết thúc 81

Bảng 2.15: Bảng cho điểm tiêu chí chính và tiêu chí thành phần 85

Bảng 2.16: Biểu tổng hợp điểm đánh giá kết thúc dự án SRPP 90

Trang 7

TÓM TẮT LUẬN VĂN 1.Tính cấp thiết của đề tài

Nâng cao dân trí là một phần quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam và được coi là 1 trong 3 lĩnh vực đột phá trong Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội trong giai đoạn 2011 – 2020 Đầu tư cho Giáo dục mầm non là một bước cơbản hướng tới xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong lúc Việt Nam nỗ lực để trở thành nền kinh tế thị trường công nghiệp hóa hiện đại

Ông Xiaoqing Yu, Giám đốc Ban phát triển nguồn nhân lực của Ngân hàng Thế giới tại khu vực Đông Á và Thái Bình Dương cho rằng: “Rất nhiều bằng chứng trên thế giới cho thấy nhiều kỹ năng tư duy, kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng xã hội và kỹ năng ứng xử được hình thành trong những năm đầu đời của trẻ Nếu bạn muốn có một nền giáo dục công bằng, nếu bạn muốn mọi người đều tận dụng lợi thế từ nền kinh tế phát triển, nếu bạn muốn chống lại đói nghèo – phát triển Giáo dục mầm non là một trong những công cụ hứa hẹn nhất."

Theo dữ liệu cung cấp năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khoảng một nửa số trẻ em Việt Nam 5 tuổi có nguy cơ thiếu hụt hoặc thiếu hụt ít nhất 1 trong 5 kỹ năng cần thiết để bắt đầu đi học Các khảo sát độ tuổi mầm non do

Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổ chức Hỗ trợ phát triển giáo dục của Nga, Học viện Offord ở Canada và Ngân hàng Thế giới đồng thực hiện chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ em chưa sẵn sàng đến trường cao nhất ở nhóm trẻ dân tộc thiểu số và trẻ có hoàn cảnh khó khăn

Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học của trẻ mầm non sử dụng nguồn vốn vay Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) từ World Bank được thiết kế

để giải quyết vần đề này bằng cách nâng cao khả năng sẵn sàng cho trẻ đi học tiểu học, thông qua việc hỗ trợ các cấu phần đã được lựa chọn trong chương trình Quốc gia của Việt Nam “Phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi trong giai đoạn

Trang 8

2010 – 2020” (Nghị định 239) Dự án hỗ trợ các nỗ lực mở rộng ghi danh bán

trú ở cấp mầm non, nâng cao năng lực đảm bảo chất lượng cho trường mầm non

và tăng khả năng chuyên môn cho giáo viên và hiệu trưởng

Dự án đã kết thúc vào 6/2017, tuy nhiên với những kết quả mà dự án

mang lại cho giáo dục mầm non nước nhà, Chính Phủ và Ngân hàng Thế Giới đã

có kế hoạch để dự án tiếp tục hoạt động giai đoạn 2 trong 5 năm tới Hiện nay,

dự án đang thực hiện các thủ tục đóng và hoàn thiện các báo cáo liên quan bao

gồm cả báo cáo đánh giá cuối kỳ Tuy nhiên, báo cáo đánh giá giữa kỳ và đề

cương báo cáo đánh giá cuối kỳ đang thực hiện đều chỉ dừng lại ở việc nêu ra

những kết quả mà dự án đạt được, so sánh kết quả đã đạt được với chỉ tiêu đặt ra

ban đầu Trong bối cảnh dự án sẽ còn tiếp tục thực hiện pha 2 thì việc đánh giá

dự án theo cách trên không thể mang lại cho ban quản lý trung ương cách nhìn

tổng quan dưới nhiều góc độ nhằm phát huy hơn nữa những thuận lợi, rút ra bài

học kinh nghiệm từ những khó khăn vướng mắc để có thể thực hiện tốt hơn

trong giai đoạn tới Chính vì vậy, luận văn này hướng tới đánh giá cuối kỳ dự án

một cách hệ thống trên các tiêu chí được nhiều nước trên thế giới sử dụng nhằm

có cái nhìn sát thực hơn đối với quá trình thực hiện hoạt động và kết quả đạt

được của dự án trên nhiều khía cạnh Luận văn cũng sẽ đưa ra những kiến nghị

nhằm mục tiêu cuối cùng là giúp ban quản lý trung ương cùng các Tỉnh thụ

hưởng nguồn tài trợ có thể thực hiện hoạt động của dự án ở giai đoạn 2 tốt hơn

và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA trong giai đoạn tới

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về đánh giá cuối kỳ dự án đầu tư sử dụng

nguồn vốn ODA trong lĩnh vực giáo dục

Theo Nghị định số 38/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 04 năm 2013 của

Chính phủ về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA và

nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ thì Đánh giá chương trình, dự án

được định nghĩa là các hoạt động định kỳ xem xét toàn diện, có hệ thống và

Comment [hn1]: Em nên viết cụ thể hơn việc

đánh giá theo cách như vậy chưa đảm bảo được yêu cầu gì, nhất là trong bối cảnh sẽ còn tiếp tục thực hiện pha 2 của dự án Điều này dẫn tới luận văn đánh giá hướng tới những điều đó

Trang 9

khách quan về tính phù hợp, hiệu quả, hiệu suất, tác động và mức độ bền vững của chương trình, dự án để có những điều chỉnh cần thiết và rút ra những bài học kinh nghiệm áp dụng cho giai đoạn thực hiện tiếp theo và các chương trình, dự án khác

Theo ”guideline for project evaluation” - 2009 xuất bản bởi OECD thì

Đánh giá là hoạt động định kỳ có hệ thống và khách quan đối với hoạt động đang thực hiện hoặc dự án đã hoàn thành hoặc thiết kế chương trình, thực hiện và kết quả của dự án Mục đích là để xác định sự liên quan và mức độ hoàn thành các mục tiêu, hiệu quả, hiệu suất, tác động và tính bền vững Đánh giá thường được thực hiện bởi các chuyên gia độc lập, bên ngoài Nói chung, một đánh giá phân tích các vấn đề phức tạp và nắm bắt các tác động dự định

và không mong muốn Đánh giá điều tra lý do tại sao các khía cạnh nhất định của một dự án chương trình đã hoặc chưa được thực hiện theo kế hoạch

Phương pháp đánh giá dự án

Đánh giá dự án có 2 phương pháp: phương pháp phân tích chi phí lợi ích

và phương pháp đánh giá dự án dựa trên việc phân tích hệ thống các tiêu chí

Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA)

Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) đôi khi được gọi là phân tích lợi ích - chi phí (BCA) là tính toán có hệ thống để so sánh lợi ích và chi phí của một dự án, CBA có hai mục đích: Một là: Để xác định có nên ra quyết định đầu tư hay không, đánh giá việc đầu tư có hiệu quả hay không Hai là: cung cấp một cơ sở để so sánh dự án Nó liên quan đến việc so sánh tổng chi phí dự kiến của từng lựa chọn so với tổng lợi ích dự kiến, để xem liệu những lợi ích có lớn hơn chi phí, và lớn hơn bao nhiêu

Trong CBA, lợi ích và chi phí được thể hiện về tiền bạc, và được điều chỉnh cho các giá trị thời gian của tiền, để tất cả các dòng chảy của lợi ích và dòng chảy của chi phí dự án theo thời gian được thể hiện trên một cơ sở

Trang 10

chung là giá trị hiện tại ròng của chúng

Phân tích Chi phí - Lợi ích (CBA) ước lượng và tính tổng giá trị bằng tiền tương đương đối với những lợi ích và chi phí của cộng đồng từ các dự án nhằm xác định xem chúng có đáng để đầu tư hay không hay đánh giá dự án hoạt động có hiệu quả hay không

Phương pháp CBA được dùng khi mà các chi phí cũng như lợi ích của

dự án có thể đo đếm được bằng tiền hoặc dễ dàng ước tính bằng tiền Các dự

án kinh tế trong khu vực tư nhân cũng như các dự án chủ đầu tư chú trọng đến lợi ích mà cụ thể là lợi nhuận dự án mang lại thì sẽ dùng phương pháp chi phí – lợi ích để đánh giá dự án đầu tư Bên cạnh đó, một số dự án đầu tư công trong lĩnh vực xã hội nhưng dễ dàng ước tính chi phí, lợi ích bằng tiền thì cũng có thể dùng phương pháp chi phí – lợi ích để đánh giá dự án đầu tư

Phương pháp đánh giá dự án dựa trên phân tích hệ thống đa tiêu chí

Phương pháp này dựa trên việc hệ thống lại các tiêu chí liên quan tới tình hình hoạt động, kết quả đầu ra trực tiếp cũng như tác động xã hội mà dự

án mang lại Trên cơ sở mức độ đạt được của dự án sẽ phân tích, đánh giá và cho điểm các tiêu chí dựa trên thang điểm đã cho trước Phương pháp đánh giá này được OECD sử dụng phổ biến trong công tác đánh giá các dự án đầu

tư công và nhất là các dự án nguồn vốn ODA với mục đích an sinh xã hội

Ưu điểm của phương pháp này là dựa trên việc đánh giá đa tiêu chí có thể phân tích đầy đủ các lợi ích mà dự án mang lại đối với các dự án không có doanh thu và lợi ích chi phí khó quy đổi thành tiền

Đối với dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non, đây là một dự án trong lĩnh vực an sinh xã hội về phát triển giáo dục mầm non Dự án không có doanh thu và đối tượng hưởng lợi chủ yếu của dự án là trẻ trong độ tuổi mầm non ở vùng đặc biệt khó khăn, trẻ dân tộc thiểu số, trẻ

có hoàn cảnh gia đình khó khăn

Trang 11

Trọng tâm đánh giá cuối kỳ dự án

Có 4 tiêu chí chính cần được đánh giá đó là tính phù hợp, tính hiệu quả, tính hiệu suất và tính bền vững Trọng tâm đánh giá cuối kỳ của dự án được thể hiện thông qua bảng dưới đây:

Bảng: Trọng tâm đánh giá cuối kỳ dự án Tiêu chí chính Tiêu chí thành phần

Tính phù hợp

Kết quả thực hiện dự án Mức độ tuân thủ luật pháp và các điều khoản, điều kiện đã được phê duyệt

Tính hiệu quả Tính hiệu quả chung và tính khả thi (vững chắc) của dự án

về tài chính khi hoàn thành Tính hiệu suất Việc đạt được đầy đủ kết quả trực tiếp so sánh với kỳ gốc

Tính bền vững

Triển khai các biện pháp đảm bảo tính bền vững của các kết quả trực tiếp bằng việc giảm thiểu những rủi ro đã được xác định Có những kỹ năng chuyên môn thỏa đáng

Chương 2: Đánh giá cuối kỳ dự án ”Tăng cường khả năng sẵn

sàng đi học cho trẻ mầm non”

Giới thiệu chung về dự án

Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non (SRPP) là một

dự án vay vốn đầu tư đặc biệt dựa vào việc thực hiện theo hình thức giải ngân dựa trên các kết quả đạt được cụ thể Dự án nhằm mục tiêu hỗ trợ việc thực hiện Quyết định số 239/QĐ-TTg và Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg bằng cách tăng cường khả năng đến trường cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn,

Trang 12

thông qua hỗ trợ ngân sách có mục tiêu theo phương thức bồi hoàn cho một

số hạng mục chi hợp lệ giai đoạn 2011-2015

Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non được cấu trúc thành 2 hợp phần Phần đầu tư chính sẽ dành cho Hợp phần 1, cung cấp tài chính theo ngân sách, dựa trên kết quả để hỗ trợ triển khai các chương trình của Chính phủ nhằm tăng cường khả năng sẵn sàng đi học của trẻ mầm non Hợp phần 2 cung cấp xây dựng năng lực để triển khai và giám sát dự án

Kết luận về đánh giá dự án qua bảng tổng hợp sau

Bảng: Biểu tổng hợp điểm đánh giá kết thúc dự án SRPP

Tiêu chí đánh giá Điểm tối

đa (A)

Điểm đánh giá (B)

Điểm trung bình(%)

Xếp hạng theo kết quả đánh giá

Trang 13

Đánh giá toàn diện cho thấy tính phù hợp, tính hiệu quả, tính hiệu suất tại thời điểm kết thúc của dự án rất tốt Tuy nhiên, tính bền vững của dự án khi dự án kết thúc là rất kém Dự án chưa nhận diện các rủi ro liên quan đến tính bền vững và cũng không đưa ra giải pháp nhằm nâng cao tính bền vững khi dự án kết thúc Chính vì vậy, Dự án SRPP cùng đơn vị chủ quản là Bộ Giáo dục và Đào tạo nên xem xét nhận diện và đưa ra giải pháp nhằm phát huy các kết quả đạt được và nâng cao tính bền vững cho dự án

Chương 3: Kết luận và kiến nghị

và cần được hỗ trợ mạnh tay từ Chính phủ Thời điểm kết thúc, dự án đều đạt

và vượt chỉ tiêu 8 chỉ số giải ngân DILS Các kết quả đầu ra trực tiếp được hoàn thành và hoàn thành vượt mục tiêu đặt ra Hoàn thành giải ngân đúng hạn Dự án hoàn thành đúng hạn theo kế hoạch với tất cả các kết quả đầu ra đều đạt được Con số chi tiêu 96.8 triệu USD trên 100 triệu USD được giao theo hiệp định Như vậy là dự án đã tiết kiệm chi được 3.2 triệu USD, một con số đáng được khen ngợi Đóng góp đáng kể nhất của dự án chínhh là hiệu quả trong đảm bảo an sinh xã hội Dự án góp phần tạo việc làm cho nữ giáo viên mầm non và đảm bảo nguồn lương cho đối tượng giáo viên mầm non ngoài biên chế Dự án hỗ trợ ăn trưa cho trẻ từ 3-5 tuổi nhằm khuyết khích trẻ đến trường Đối tượng con em dân tộc thiểu số, trẻ trong độ tuổi mầm non ở khu vực đặc biệt khó khăn trên cả nước đều được hỗ trợ ăn trưa và học bán trú lại trường Đóng góp và tính lan tỏa của dự án rất mạnh mẽ trên toàn quốc Ngoài ra dự án còn tập huấn cho cán bộ mầm non trên toàn quốc qua kênh

Trang 14

trực tiếp và qua việc học online trên phần mềm trực tuyến của Dự án nhằm nâng cao chuyên môn cho cán bộ quản lý vào giáo viên mầm non trong việc dạy và học

Những tồn tại của Dự án SRPP

Việc ký kết hợp đồng và kéo theo giải ngân chậm so với kế hoạch Công tác quản lý dự án còn gặp một vài vấn đề trong đấu thầu, tuyển chọn Tư vấn, nhà thầu trong nước và nước ngoài Công tác đấu thầu của Dự án thực tế khi thực hiện đã gặp nhiều khó khăn dẫn tới giải ngân không theo kế hoạch Nguyên nhân chính của việc chậm ký kết hợp đồng là: (i)Dự án chưa được trao quyền hoàn toàn, theo đó việc xét duyệt hồ sơ và ra quyết định phải thông qua Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Ngân hàng Thế giới Quy trình xét duyệt này nhanh nhất cũng sẽ mất 3 tháng để có thể được thông qua tất cả các bên liên quan (ii)Tuyển chọn Tư vấn cá nhân và nhà thầu trong lĩnh vực Giáo dục Mần non theo các điều khoản tham chiếu đã được thiết kế sẵn có rất ít lựa chọn và thậm chí là số lượng hồ sơ ứng tuyển không đủ cho nhu cầu tuyển dụng của Dự án

Giải ngân kinh phí từ trung ương đến đơn vị thụ hưởng còn chậm trễ Nguyên nhân chính là do năng lực lập Kế hoạch và Báo cáo của địa phương còn hạn chế Dự án giải ngân theo cơ chế mới mà theo đó, địa phương đạt được kết quả trước mới giải ngân vào nguồn ngân sách Vì vậy, đơn vị thụ hưởng còn thụ động trong việc lập kế hoạch và báo cáo nhằm rút tiền giải ngân của dự án từ nguồn ngân sách Điều này dẫn tới việc giải ngân tới đơn vị thụ hưởng còn có độ trễ nhất định từ 6 tháng tới 1 năm

Kiến nghị

Kiến nghị liên quan đến công tác quản lý và thực hiện dự án

Kiến nghị tới Cơ quan chủ quản là Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Nhà tài trợ là Ngân hàng thế giới xem xét ủy quyền/trao quyền cho Dự án trong quy

Trang 15

trình xét duyệt hồ sơ thầu nhằm rút gọn thời gian tuyển chọn Tư vấn và Nhà Thầu, đảm bảo tiến độ ký kết và giải ngân hợp đồng kịp thời, đúng kế hoạch Đối với những dự án giải ngân theo phương pháp hòa hoàn toàn vào ngân sách Nhà nước như SRPP, cần hoàn thiện hơn về cơ chế, trách nhiệm các Bộ, ngành liên quan để bảo đảm phân bổ và sử dụng kinh phí đúng và có thể theo dõi được theo yêu cầu của Nhà tài trợ Qua thực tế hoạt động của dự

án SRPP cho thấy, việc giải ngân nguồn vốn vào kênh ngân sách nhà nước theo hệ thống Kho bạc Nhà Nước gặp một số khó khăn nhất định cho công tác lập báo cáo, thanh tra, kiểm toán Hợp phần 1 Khi Dự án đổ tiền giải ngân từ nhà tài trợ sang hệ thống ngân sách Do dự án không có các Mã nội dung kinh

tế riêng nên sẽ hòa vào cùng dòng ngân sách với cùng 1 mã nội dung tương ứng theo hệ thống kho bạc Nhà nước Khi địa phương rút tiền chi tiêu từ ngân sách thì cùng một mã nội dung kinh tế sẽ ngầm hiểu là có 2 nguồn(nguồn chi thường xuyên và nguồn dự án) Chúng ta không thể phân định 2 nguồn trên vì

nó cùng 1 mã nội dung kinh tế Rõ ràng là công tác thanh tra, kiểm toán sẽ không thể xem xét được số liệu chính xác là các đơn vị thụ hưởng được từ dự

án là bao nhiêu và số liệu lấy được từ mã nội dung kinh tế mà đơn vị thụ hưởng nhận sẽ hơn nhiều lần thực tế thụ hưởng từ dự án (vì bao gồm 2 nguồn: chi từ dự án và chi thường xuyên cho giáo dục của chính phủ)

Giải ngân theo cơ chế mới nghĩa là có kết quả đầu ra mới có giải ngân

là cách làm hiệu quả và nguồn tiền giải ngân theo dòng ngân sách sẽ tiết kiệm được chi phí chi cho 63 ban quản lý dự án ở các tỉnh Tuy nhiên cách làm mới này đã xuất hiện một số bất cập trong việc theo dõi, báo cáo, thực hiện công tác thanh tra và kiểm tra Kiến nghị vấn đề này với Chính phủ và Bộ Tài chính xem xét với những dự án hoạt động theo cơ chế trên sẽ mở cho dự án các Mã nội kinh tế riêng Nếu có các Mã nội dung kinh tế riêng này, đơn chị thụ hưởng sẽ dễ dàng theo dõi và rút tiền từ dòng tiền của Dự án, công tác

Trang 16

kiểm tra, kiểm toán của Dự án, Nhà tài trợ và cơ quan chủ quản sẽ dễ dàng và

có con số hoàn toàn chính xác để có thể đánh giá được mức độ giải ngân của

Dự án tới đơn vị thụ hưởng

Chính phủ và các nhà tài trợ cần xem xét áp dụng cơ chế giải ngân phù hợp với tính chất và đối tượng thụ hưởng của từng dự án Cơ chế giải ngân mới lộ rõ những bất cập ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người thụ hưởng và gây khó khăn trong công tác giải ngân đến địa phương cũng như công tác kiểm toàn cho các bên liên quan Kiến nghị cần thận trọng hơn trong

áp dụng cơ chế giải ngân cho dự án ở giai đoạn 2 và các dự án có tính chất tương tự

Cần xem xét lại khi áp dụng cơ chế giải ngân mới của Ngân hàng thế giới vào các dự án đầu tư công tại Việt Nam và nhất là dự án trong lĩnh vực giáo dục Đối tượng thụ hưởng nằm ở vùng sâu vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn, điều kiện thực hiện vô cùng thiếu thốn Với mục tiêu của dự án, các địa phương rất cần nguồn vốn từ dự án để thực hiện được yêu cầu đề ra Liệu rằng có phù hợp không khi áp dụng cơ chế giải ngân sau khi có kết quả, liệu

đó có phải là phương pháp tối ưu được áp dụng với dự án có tính chất như dự

án SRPP Rõ ràng cơ chế giải ngân mới đang có những mặt trái của nó và cần được xem xét điều chỉnh để phù hợp hơn khi mà giai đoạn 2 của dự án đang dần hình thành Bởi mục đích cuối cùng của dự án chính là hỗ trợ một cách tích cực nhất, phù hợp nhất nhằm đảm bảo nguồn lợi của dự án được đến sớm nhất và đúng đích

Kết luận

Dự án “Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non” hỗ trợ thực hiện chương trình của Chính phủ về phổ cập Giáo dục Mầm non (GDMN) cho trẻ 5 tuổi (Quyết định số 239/2010/QĐ-TTg và Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển GDMN

Trang 17

giai đoạn 2011-2015) thông qua việc tập trung cụ thể vào nhu cầu của những trẻ em thiệt thòi nhất và cải thiện mức độ sẵn sàng đi học của trẻ, trong đó đặc biệt chú trọng trẻ em dân tộc thiểu số

Qua đánh giá dự án cho thấy, Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non đã hoàn thành tất cả các mục tiêu đạt ra và cải thiện đáng kể tình trạng giáo dục mầm non nước nhà Những đóng góp to lớn mà dự án đạt được tin tưởng sẽ thúc đầy giáo dục mầm non và là tiếng nói lớn giúp xã hội, cộng đồng quan tâm hơn tới thế hệ mầm non tương lai của đất nước

Với những tồn tại trong công tác quản lý dự án như công tác đấu thầu, các hoạt động đảm bảo tính bền vững của dự án chưa được triển khai, thực hiện dự

án với cơ chế giải ngân mới gặp nhiều khó khăn ở địa phương thụ hưởng Cần áp dụng cơ chế giải ngân phù hợp với tính chất dự án và đối tượng thụ hưởng Đề xuất chính phủ tiếp tục đầu tư và quan tâm tới giáo dục mầm non trong giai đoạn mới nhằm đảm bảo an sinh xã hội và công bằng hơn nữa cho các đối tượng cần

sự hỗ trợ từ chính phủ

Trang 18

LỜI MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Nâng cao dân trí là một phần quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam và được coi là 1 trong 3 lĩnh vực đột phá trong Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội trong giai đoạn 2011 – 2020 Đầu tư cho Giáo dục mầm non là một bước cơbản hướng tới xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong lúc Việt Nam nỗ lực để trở thành nền kinh tế thị trường công nghiệp hóa hiện đại

Ông Xiaoqing Yu, Giám đốc Ban phát triển nguồn nhân lực của Ngân hàng Thế giới tại khu vực Đông Á và Thái Bình Dương cho rằng: “Rất nhiều bằng chứng trên thế giới cho thấy nhiều kỹ năng tư duy, kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng xã hội và kỹ năng ứng xử được hình thành trong những năm đầu đời của trẻ Nếu bạn muốn có một nền giáo dục công bằng, nếu bạn muốn mọi người đều tận dụng lợi thế từ nền kinh tế phát triển, nếu bạn muốn chống lại đói nghèo – phát triển Giáo dục mầm non là một trong những công cụ hứa hẹn nhất."

Theo dữ liệu cung cấp năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khoảng một nửa số trẻ em Việt Nam 5 tuổi có nguy cơ thiếu hụt hoặc thiếu hụt ít nhất 1 trong 5 kỹ năng cần thiết để bắt đầu đi học Các khảo sát độ tuổi mầm non do

Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổ chức Hỗ trợ phát triển giáo dục của Nga, Học viện Offord ở Canada và Ngân hàng Thế giới đồng thực hiện chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ em chưa sẵn sàng đến trường cao nhất ở nhóm trẻ dân tộc thiểu số và trẻ có hoàn cảnh khó khăn

Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học của trẻ mầm non sử dụng nguồn vốn vay Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) từ World Bank được thiết kế

để giải quyết vần đề này bằng cách nâng cao khả năng sẵn sàng cho trẻ đi học tiểu học, thông qua việc hỗ trợ các cấu phần đã được lựa chọn trong chương trình Quốc gia của Việt Nam “Phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi trong giai đoạn

Trang 19

2010 – 2020” (Nghị định 239) Dự án hỗ trợ các nỗ lực mở rộng ghi danh bán

trú ở cấp mầm non, nâng cao năng lực đảm bảo chất lượng cho trường mầm non

và tăng khả năng chuyên môn cho giáo viên và hiệu trưởng

Dự án đã kết thúc vào 6/2017, tuy nhiên với những kết quả mà dự án

mang lại cho giáo dục mầm non nước nhà, Chính Phủ và Ngân hàng Thế Giới đã

có kế hoạch để dự án tiếp tục hoạt động giai đoạn 2 trong 5 năm tới Hiện nay,

dự án đang thực hiện các thủ tục đóng và hoàn thiện các báo cáo liên quan bao

gồm cả báo cáo đánh giá cuối kỳ Tuy nhiên, báo cáo đánh giá giữa kỳ và đề

cương báo cáo đánh giá cuối kỳ đang thực hiện đều chỉ dừng lại ở việc nêu ra

những kết quả mà dự án đạt được, so sánh kết quả đã đạt được với chỉ tiêu đặt ra

ban đầu Trong bối cảnh dự án sẽ còn tiếp tục thực hiện pha 2 thì việc đánh giá

dự án theo cách trên không thể mang lại cho ban quản lý trung ương cách nhìn

tổng quan dưới nhiều góc độ nhằm phát huy hơn nữa những thuận lợi, rút ra bài

học kinh nghiệm từ những khó khăn vướng mắc để có thể thực hiện tốt hơn

trong giai đoạn tới Chính vì vậy, luận văn này hướng tới đánh giá cuối kỳ dự án

một cách hệ thống trên các tiêu chí được nhiều nước trên thế giới sử dụng nhằm

có cái nhìn sát thực hơn đối với quá trình thực hiện hoạt động và kết quả đạt

được của dự án trên nhiều khía cạnh Luận văn cũng sẽ đưa ra những kiến nghị

nhằm mục tiêu cuối cùng là giúp ban quản lý trung ương cùng các Tỉnh thụ

hưởng nguồn tài trợ có thể thực hiện hoạt động của dự án ở giai đoạn 2 tốt hơn

và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA trong giai đoạn tới

2 Tổng quan nghiên cứu

Đánh giá cuối kỳ dự án sử dụng ODA do Bộ Giáo dục và Đào tạo làm

đơn vị Chủ quản như: Báo cáo đánh giá kết thúc của “Chương trình phát triển

giáo dục trung học” và báo cáo đánh giá cuối kỳ “Chương trình Đảm bảo chất

lượng giáo dục trường học” Các báo cáo trên là nguồn tài liệu rất sát với đề tài

khi đánh giá dự án tại thời điểm kết thúc Các báo cáo chủ yếu đánh giá chi tiết

Comment [hn2]: Em nên viết cụ thể hơn việc

đánh giá theo cách như vậy chưa đảm bảo được yêu cầu gì, nhất là trong bối cảnh sẽ còn tiếp tục thực hiện pha 2 của dự án Điều này dẫn tới luận văn đánh giá hướng tới những điều đó

Trang 20

các chỉ số, kết quả cuối kỳ trên các chỉ tiêu đã đặt ra và đi sâu vào các nguyên nhân của việc giải ngân chậm và các lĩnh vực không thể giải ngân của dự án Tuy nhiên, các báo cáo trên chỉ dừng lại ở việc so sánh kết quả đạt được của dự

án tại thời điểm kết thúc so với mục tiêu đặt ra khi thiết kế dự án mà chưa đánh giá tổng quan các mặt thông qua bộ tiêu chí đánh giá

Đã có một số nghiên cứu về các góc độ liên quan đến dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) như: “Hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại khu vực Tây Bắc, Việt Nam”- Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh – 2015 Trên cơ sở những lý thuyết cơ bản về ODA và đánh giá hiệu quả sử dụng ODA, tác giả đánh giá hiệu quả sử dụng ODA tại khu vực Tây Bắc trên cả hai phương diện là đánh giá định lượng và đánh giá định tính Thông qua đánh giá này tác giả đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ODA tại các tỉnh khu vực Tây Bắc, Việt Nam Luận án đánh giá hiệu quả của các dự án trong khu vực và nêu lên những khó khăn đặc thù của các tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam gặp phải trong quá trình hoạt động của dự án cùng với đó là các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn

Nghiên cứu của Tiến sĩ Hà Thị Thu “Phân tích thực trạng thu hút và sử dụng ODA tại vùng Duyên hải Miền Trung” - 2016 Nghiên cứu đã làm rõ cơ sở

lý luận của nguồn vốn ODA đối với nông nghiệp và phát triển kinh tế tại các tỉnh vùng Duyên hải Miền trung Bên cạnh đó, luận án đã phân tích thực trạng thu hút và sử dụng ODA tại vùng Duyên hải Miền trung cùng với những giải pháp nhằm thu hút nguồn vốn ODA, đề xuất thành lập ban quản lý dự án chuyên nghiệp và tăng cường công tác quản lý sử dụng nguồn vốn ODA một cách hiệu quả tại các địa phương thụ hưởng nguồn vốn này Thấy rằng, các giải pháp và đề xuất của Nghiên cứu trên rất xác đáng và chính là một trong những gợi ý cho Luận văn này học hỏi khi đưa ra các giải pháp khắc phục những khó khăn mà

Dự án đang đánh giá phải đối mặt

Trang 21

Thạc sĩ Nguyễn Thùy Vân, Đại học Thương mại với bài báo trên trang Tạp chí Tài chính kỳ 2 số tháng 3 năm 2016 “Tăng cường hiệu quả quản lý và sử dụng vốn ODA trong thời gian tới” Theo Tác giả, hiện nay Việt Nam đã trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình, chính sách viện trợ ODA

và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài đối với nước ta trong thời gian sắp tới sẽ có nhiều thay đổi mạnh mẽ, chuyển đổi căn bản từ quan hệ viện trợ phát triển sang quan hệ đối tác Nhận định của bài báo khá phù hợp với mục tiêu của luận văn này và là một trong những căn cứ cho thấy sự cần thiết của việc rà soát đánh giá dự án ODA nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư công

Tác giả An Nhi trên Trang Kinh tế và Dự báo tháng 8/2015 với bài “20 năm huy động và sử dụng ODA tại Việt Nam: Vẫn tồn tại nhiều hạn chế” Bài báo cho rằng, bên cạnh các kết quả nổi bật, công tác quản lý và sử dụng ODA thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế như: thủ tục hành chính rườm rà, bộ máy cồng kềnh, trách nhiệm các cấp thực hiện không rõ ràng, thiếu linh hoạt trong triển khai, chưa phân định được trách nhiệm các đơn vị thực hiện trong trường hợp dự án không có hiệu quả Đặc biệt, một số ngành và địa phương chậm tiến

độ thực hiện các chương trình và dự án, tỷ lệ giải ngân trung bình của dự án ODA trong giai đoạn 2010-2015 chưa tới 70%, nhiều trường hợp phải xin gia hạn Hậu quả của việc chậm tiến độ dẫn đến việc một số dự án phải cắt giảm, hủy một số hạng mục và hoạt động hoặc phải tái cấu trúc toàn bộ dự án Bài báo nêu rất rõ những hạn chế mà nhiều dự án sử dụng ODA mắc phải và hướng giải quyết cho những vướng mắc và đâycũng chính là một trong những tư liệu cần thiết khi thực hiện luận văn này

Dự án “Hỗ trợ chuẩn bị và thực hiện Kế hoạch phát triển Kinh tế Xã hội dựa trên kết quả giai đoạn 2011-2015” được thành lập do Bộ Kế hoạch và Đầu

tư làm đơn vị chủ quản và nguồn hỗ trợ từ ADB đã nêu ra Tiêu chí đánh giá và

hệ thống xếp hạng kết quả các chương trình dự án đầu tư công Dự án Tăng

Trang 22

cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non là dự án đầu tư mang tính phúc

lợi cao trong lĩnh vực xã hội Dự án SRPP là dự án đầu tư công hướng tới mục

tiêu an sinh xã hội, thúc đẩy giáo dục mầm non, quan tâm hơn tới trẻ em trong

độ tuổi mầm non bị thiếu hụt các kỹ năng cần thiết chuẩn bị vào lớp 1 Đối

tượng hưởng lợi của dự án chủ yếu là trẻ dân tộc thiểu số, trẻ em có hoàn cảnh

gia đình khó khăn và trẻ em ở các địa phương được xếp vào danh mục đặc biệt

khó khăn của cả nước Tính chất của dự án SRPP phù hợp với đối tượng có thể

áp dụng bộ tiêu chí đánh giá và hệ thống xếp hạng trong đánh giá chương trình

dự án đầu tư công của dự án CDTA thực hiện Đây là nguồn tài liệu rất phù hợp,

là khung lý thuyết được sử dụng cho luận văn này

Những nghiên cứu trên đã góp phần đánh giá được thực trạng thu hút,

hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), các tiêu chí

đánh giá và hệ thống xếp hạng kết quả cùng với những hạn chế trong quá

trình hoạt động của các chương trình, dự án Tuy nhiên trong bối cảnh dự án

đang chuẩn bị cho Pha 2 sắp tới, luận văn này muốn đi sâu vào đánh giá cuối

kỳ “Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non” trên các

tiêu chí đặt ra Từ đó phát huy những kết quả đạt được và đưa ra các kiến nghị

khắc phục khó khăn vướng mắc nhằm thực hiện dự án trong giai đoạn 2 sắp

tới được tốt hơn Bài học kinh nghiệm từ việc thực hiện dự án ở giai đoạn 1 sẽ

góp phần cho ban quản lý trung ương, và các đơn vị thụ hưởng rút kinh

nghiệm cho dự án ở giai đoạn 2 sắp tới cũng như góp phần nâng cao hiệu quả

các dự án sử dụng nguồn ODA có tính chất tương tự

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu chung

Đánh giá cuối kỳ “Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ

mầm non” nhằm nhìn nhận được những thành công cũng như hạn chế của dự

án từ đó đưa ra các kiến nghị tới các ban ngành liên quan nhằm thực hiện tốt

hơn dự án ở giai đoạn 2 nói riêng và hoạt động của các dự án nguồn vốn ODA

Comment [hn3]: Không có căn cứ để đưa ra

những nội dung này

Trang 23

có tính chất tương tự nói chung

3.1 Mục tiêu cụ thể

● Xác định khung lý thuyết đánh giá dự án đầu tư

● Đánh giá cuối kỳ “Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non” dựa trên khung lý thuyết đã đặt ra ở trên

●Những kiến nghị cho giai đoạn 2 của dự án cũng như các dự án ODA của Bộ Giáo dục và Đào tạo có tính chất tương tự

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động và Kết quả cuối kỳ của Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non

5 Phương pháp thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu

5.1 Phương pháp thu thập thông tin

Thu thập dữ liệu thứ cấp:

dục mầm non các năm Số liệu báo cáo hoạt động từ Ban quản lý Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non Số liệu cung cấp từ Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam khi xác minh độc lập các chỉ số Giải ngân Dự

án Số liệu thống kê từ Vụ Giáo dục mầm non, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng Giáo dục, Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, Vụ Kế hoạch Tài chính - Bộ Giáo dục và Đào tạo Các số liệu thu thập được nhằm mục đích so sánh và đánh giá biến động số liệu giữa các kỳ Cho thấy sự tăng giảm các chỉ tiêu theo số liệu các kỳ thu thập được

Trang 24

Tiến hành phỏng vấn sâu:

 Các cán bộ quản lý ở ban quản lý trung ương

 Nhóm chuyên gia tư vấn trong các lĩnh vực giáo dục mầm non, tài chính dự án, công tác đấu thầu Cụ thể như sau:

Ông Nguyễn Vinh Lộc, tiến sĩ kinh tế, chuyên gia tư vấn tài chính và kiểm toán tài chính nội bộ Dự án SRPP

Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, tiến sĩ Giáo dục mầm non, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Bà là chuyên gia tư vấn lập báo cáo xác minh các số liệu

từ địa phương về báo cáo số liệu trẻ trong độ tuổi từ 3-5 tuổi được thụ hưởng kinh phí từ dự án SRPP

Ông Nguyễn Trung Kiên, chuyên viên cao cấp - Bộ Giáo dục và Đào tạo, chuyên gia tư vấn, Điều phối viên dự án SRPP

Bà Ngô Quỳnh Thư, thạc sĩ tài chính, chuyên gia tư vấn đấu thầu dự án SRPP Việc tiến hành phỏng vấn sâu 2 nhóm trên nhằm có cái nhìn từ góc độ bên trong của những người thực hiện dự án và góc độ bến bên ngoài từ những chuyên gia tư vấn trong các lĩnh vực chuyên môn của dự án Việc lấy ý kiến

đa chiều nhằm nâng cao tính chính xác và khách quan trong đánh giá dự án

5.2 Phương pháp phân tích dữ liệu

Phương pháp so sánh: so sánh số liệu theo thời gian với 3 thời điểm là thời điểm bắt đầu, giữ kỳ và kết thúc dự án Việc so sánh này có thể nhìn thấy

sự biến động và mức độ biến động qua các chỉ số qua đó có thể thấy mức độ hoàn thành các chỉ tiêu của dự án

Phương pháp cho điểm: sẽ có thang điểm tối đa và dựa vào mức độ hoàn thành các chỉ tiêu và tiêu chí cho điểm tương ứng với tỷ lệ hoàn thành tiêu chí đang xét Mục đích của việc cho điểm nhằm làm căn cứ để đánh giá các tiêu chí và đánh giá cuối kỳ dự án SRPP

Trang 25

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐÁNH GIÁ CUỐI KỲ

DỰ ÁN ĐẦU TƯ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA TRONG

LĨNH VỰC GIÁO DỤC

1.1 Khái niệm, sự cần thiết, các hình thức đánh giá dự án

1.1.1.Khái niệm chung về Đánh giá Chương trình, Dự án

Theo Nghị định số 38/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 04 năm 2013 của Chính phủ về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ thì Đánh giá chương trình, dự án được định nghĩa là các hoạt động định kỳ xem xét toàn diện, có hệ thống và khách quan về tính phù hợp, hiệu quả, hiệu suất, tác động và mức độ bền vững của chương trình, dự án để có những điều chỉnh cần thiết và rút ra những bài học kinh nghiệm áp dụng cho giai đoạn thực hiện tiếp theo và các chương trình, dự án khác

Theo ”guideline for project evaluation” - 2009 xuất bản bởi OECD thì

Đánh giá là hoạt động định kỳ có hệ thống và khách quan đối với hoạt động đang thực hiện hoặc dự án đã hoàn thành hoặc thiết kế chương trình, thực hiện và kết quả của dự án Mục đích là để xác định sự liên quan và mức độ hoàn thành các mục tiêu, hiệu quả, hiệu suất, tác động và tính bền vững Đánh giá thường được thực hiện bởi các chuyên gia độc lập, bên ngoài Nói chung, một đánh giá phân tích các vấn đề phức tạp và nắm bắt các tác động dự định

và không mong muốn Đánh giá điều tra lý do tại sao các khía cạnh nhất định của một dự án chương trình đã hoặc chưa được thực hiện theo kế hoạch Công tác đánh giá được tiến hành định kỳ và đột xuất khi cần thiết Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể và theo thỏa thuận với nhà tài trợ mà Dự án

sẽ có bao nhiêu đợt đánh giá và kế hoạch thực hiện công tác đánh giá phải được xây dựng trong văn kiện chương trình, dự án và đương nhiên là phải phù hợp với tính chất của từng chương trình, dự án

Trang 26

Công tác đánh giá được hiểu là việc nhận xét một cách hệ thống và khách quan về thiết kế, thực hiện và kết quả trực tiếp của một sự can thiệp (một hoạt động đầu tư chẳng hạn) đang diễn ra hoặc đang hoàn thành theo các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đề ra Nó không chỉ đơn thuần là việc ra soát và báo cáo về quá trình thực hiện Đánh giá được tiến hành ở cấp can thiệp (Chương trình dự án đầu tư) cũng như cấp ngành, lĩnh vực, cấp chính sách và các cấp chính quyền Mục đích của đánh giá là nâng cao kết quả phát triển của các hoạt động can thiệp của nhà nước thông qua cơ chế phản hồi và rút kinh nghiệm, tạo căn cứ cho trách nhiệm giải trình bao gồm cả việc cung cấp thông tin cho các bên liên quan

Mục đích của đánh giá: theo OECD đánh giá góp phần bảo đảm chất lượng tối ưu và tác động của các can thiệp phát triển đồng thời giúp các nhà quản lý của dự án cải tiến việc thực hiện Với sự trợ giúp của đánh giá, thành công và thất bại có thể được diễn giải Dựa trên những kinh nghiệm đó, hiện tại và tương lai các dự án và chương trình có thể được cải thiện Đánh giá minh hoạ việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực và biện minh cho các kết quả và những ảnh hưởng của họ đối với nhà thầu, đối tác, các nhóm mục tiêu

ở nước nhận tài trợ và đối tượng nộp thuế Mục đích của đánh giá là xác định tính phù hợp và mức độ đạt mục tiêu, tính hiệu quả, hiệu suất, tính bền vững

và tác động của các chương trình, dự án đầu tư công trên cơ sở sử dụng cả dữ liệu định tính và định lượng Hoạt động đánh giá cần cung cấp được thông tin hữu ích và đánh tin cậy dựa trên các bằng chứng, cho phép đưa những bài học rút ra vào quá trình ra quyết định của cả cơ quan lập kế hoạch, cơ quan ra quyết định và cơ quan triển khai thực hiện

Để đảm bảo tính khách quan, minh bạch, công tác đánh giá phải được tiến hành bởi chuyên gia hoặc nhóm chuyên gia, tư vấn độc lập được thuê tuyển theo các quy định hiện hành, có đủ trình độ chuyên môn và kinh

Trang 27

nghiệm cần thiết Chủ dự án phải kết hợp với nhà tài trợ xác định thời gian và kinh phí cho công tác đánh giá ngay từ giai đoạn xây dựng Văn kiện chương trình, dự án

Theo OECD, đánh giá được chia làm 2 loại:

 Đánh giá bên trong hay còn gọi là đánh giá nội bộ: Đánh giá được đưa ra, quản lý và hoặc thực hiện bởi các đối tác dự án (có hoặc không có chuyên gia bên ngoài)

 Đánh giá ngoài:

Đánh giá ngoài loại I: Đánh giá các chương trình, các vấn đề xuyên suốt Dự án được đánh giá bởi các tổ chức đánh giá chuyên nghiệp bên ngoài Đánh giá ngoài Loại II: Đánh giá các chương trình, dự án và được thực hiện bởi văn phòng Ðiều phối

Tính độc lập của người đánh giá: Người đánh giá phải có kiến thức chuyên môn Sự tin cậy cũng như sự độc lập của người đánh giá từ tất cả thành viên tham gia hoạt động

Tính minh bạch và trọng tâm: Việc phân công đánh giá phải được xác định rõ ràng và tập trung vào: Mô tả tình huống ban đầu (chi tiết chương trình

dự án), mục tiêu đánh giá, các câu hỏi trung tâm, phương pháp, trình độ của nhóm đánh giá, yêu cầu báo cáo

Độ tin cậy: Việc sử dụng và chuẩn bị các dữ liệu cơ bản là cần thiết để

Trang 28

chứng minh sự đánh giá và kết luận theo một cách đáng tin cậy Đánh giá kết quả ghi trong báo cáo đánh giá phải dễ hiểu

Sự công bằng và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan: An ninh, và quyền của người tham gia đánh giá phải được bảo vệ

Tiện ích: Đề xuất đánh giá được sử dụng để cải tiến các dự án hoặc chương trình Phản hồi cho các nhà hoạch định chính sách và hoạt động phải được đảm bảo thông qua trách nhiệm rõ ràng đối với việc thực hiện đánh giá các kết quả Các tiện ích của một đánh giá cũng phụ thuộc vào thời điểm thích hợp nhất của thực hiện trong khuôn khổ của dự án hoặc chương trình

1.1.2 Sự cần thiết của việc đánh giá Chương trình, dự án

Chương trình, dự án đầu tư là một phần không tách rời của quá trình lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, đồng thời cũng là công cụ cơ bản thúc đẩy phát triển kinh tế của mỗi tỉnh cũng như cả nước Chương trình, dự án đầu tư giúp chính phủ đạt được các chỉ tiêu kinh tế xã hội đã đề ra trong từng

kỳ kế hoạch, để cuối cùng tạo ra được những tác động phát triển dự kiến Hằng năm chính phủ chi một khoản ngân sách lớn để quản lý và thực hiện đầu tư Do đó cần phải xây dựng một quy trình và phương pháp đánh giá chương trình đầu tư khách quan để hỗ trợ việc thực hiện các mục tiêu phát triển trung hạn và tầm nhìn phát triển dài hạn của đất nước

Hệ thống quản lý các Chương trình, dự án đầu tư của Việt Nam đã từng bước đổi mới nhưng vẫn còn hiệu quả và hiệu suất thấp, chứa đựng nhiều hạn chế nên chưa mang lại những kết quả tích cực, kể cả ở cấp độ kết quả trực tiếp (outcome) và tác động (impact) Một trong những nguyên nhân quan trọng được xác định là do thiếu đánh giá một cách khách quan, khoa học và cụ thể các chương trình, dự án đầu tư Do đó, cần thiết phải đánh giá dự án đầu tư một cách hệ thống và toàn diện bằng phương pháp khách quan và mang tính khoa học

Trang 29

1.1.3 Các hình thức đánh giá dự án đầu tư

1.1.3.1 Đánh giá ban đầu dự án đầu tư

Đánh giá ban đầu dự án đầu tư hay còn gọi là Đánh giá lựa chọn dự án đầu tư hay thẩm định dự án được tiến hành ở bước sàng lọc chương trình dự

án để kiểm tra chất lượng của chúng ngày từ đầu và cũng để thông báo cho việc ra quyết định lựa chọn đầu tư và tính đáng giá của đầu tư Đánh giá ban đầu sẽ đưa ra nhận định chung về tính phù hợp, tính khả thi và tính bền vững tiềm tàng của một Chương trình dự án trước khi ra quyết định cấp vốn Mục đích của đánh giá ban đầu là cho phép các cơ quan ra quyết định

có thể ra quyết định liệu hoạt động đang xét có phản ánh cách sử dụng hợp lý các nguồn lực của trung ương và địa phương hay không Công tác đánh giá lựa chọn ban đầu sẽ đánh giá luận chứng/biện minh của đầu tư, kinh phí thực hiện dự án và các yêu cầu về vốn, ước tính chi phí và lợi ích, các tác động vĩ

mô và các tác động khác có thể có, các kết quả trực tiếp/tác động phát triển, khung kết quả, kế hoạch thực hiện và theo dõi Thẩm định kinh tế được tiến hành chặt chẽ sẽ giúp đánh giá được hiệu quả phân bổ từ góc độ kinh tế quốc dân Nó đòi hỏi phải sử dụng các tham số kinh tế vĩ mô như giá trị kinh tế của vốn, lao động và tỷ giá hối đoái

Đánh giá ban đầu của dự án cho phép đảm bảo chất lượng dự án ngay

từ đầu và giảm tối đa xu hướng tô hồng bên cạnh vai trò gác cổng khi xem xét các chương trình dự án đầu tư nhằm cân nhắc việc cấp vốn Đánh giá ban đầu

có chức năng gác cổng, giúp loại bỏ, không để nguồn lực nhà nước phải tài trợ cho những chương trình dự án chất lượng kém

1.1.3.2 Đánh giá giữa kỳ dự án đầu tư

Mục tiêu chính của đánh giá giữa kỳ là nhận diện các yếu tố/vấn đề đang ảnh hưởng đến kết quả triển khai thực hiện chương trình dự án và đưa ra giải pháp khắc phục chúng nhằm giúp quá trình thực hiện chương trình dự án

Trang 30

được hoàn tất một cách thành công và đạt được mục tiêu đề ra Nói cách khác, đánh giá giữa kỳ tạo cơ hội để thực hiện những điều chỉnh cần thiết về phạm

vi chương trình dự án Kết quả của đánh giá giữa kỳ cũng có lợi ích trong việc

ra quyết định về các pha tiếp theo của chương trình dự án đầu tư vì các chương trình dự án này luôn được thực hiện theo phân kỳ đầu tư

Đánh giá giữa kỳ là rà soát, đánh giá chương trình, dự án tại thời điểm

mà dự án đã đi được một nửa chặng đường.Lúc này, cần đánh giá toàn diện tất cả các nội dung như: tính tiếp tục phù hợp của dự án, tiến trình hướng tới việc đạt được các đầu ra, kết quả trực tiếp và mục tiêu theo kế hoạch Đánh giá về tiến bộ đạt được trong khối lượng công việc và tài chính so với kế hoạch, xác định các tồn tại và khó khăn để điều chỉnh và kiến nghị kịp thời đảm bảo hoạt động thông suốt trong thời gian sắp tới

Đánh giá kết quả công việc của chương trình dự án sử dụng bộ tiêu chí đánh giá chính và hệ thống tính điểm kết quả thực hiện Ngoài ra, việc cho điểm còn sử dụng dữ liệu thu thập được từ đánh giá giữa kỳ thực hiện chương trình dự án như đề cập ở trên Lúc này, chương trình dự án mới đi được nửa chặng đường Bộ tiêu chí đánh giá chính cũng vẫn được sử dụng, có tính đến bối cảnh giữa kỳ của chương trình dự án Thí dụ, trong đánh giá tính phù hợp, đánh giá giữa kỳ sẽ xem xét mức độ tiếp tục phù hợp của ý tưởng, thiết kế và cấu trúc chương trình dự án tại thời điểm hiện tại và khả năng vẫn còn phù hợp trong khoảng thời gian còn lại của chương trình dự án Tiêu chí hiệu quả

sẽ tập trung vào việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực đến thời điểm này, kể cả hiệu quả về thời gian và chi phí trong quá trình triển khai thực hiện chương trình dự án Trong trường hợp có những thay đổi lớn diễn ra khiến phát sinh thêm nhiều chi phí có thể cần tiến hành phân tích thêm tài chính và kinh tế để cập nhật lại tỷ suất hoàn vốn đầu tư theo giá tài chính và giá kinh tế Đối với tiêu chí về tính hiệu suất, đánh giá giữa kỳ sẽ đánh giá những tiến triển trong

Trang 31

việc đạt mục tiêu và kết quả trực tiếp của chương trình dự án, đánh giá tính bền vững thì tập trung vào những yếu tố rủi ro chính đối với tính vền vững của đầu ra và kết quả trực tiếp, cũng như những biện pháp đã triển khai nhằm khắc phục hoặc giảm thiểu những rủi ro đó

Đánh giá giữa kỳ cũng rà soát lại khung kết quả, cơ sở dữ liệu và thực tiễn thực hiện chế độ báo cáo, cập nhật chúng vì điều này rất cần thiết nhằm đảm bảo chúng vẫn tiếp tục phù hợp và được sử dụng sau này

1.1.3.3 Đánh giá cuối kỳ dự án đầu tư

Đánh giá cuối kỳ dự án đầu tư được thực hiện tại thời điểm dự án kết thúc tức là lúc nàydự án đã hoàn thành quá trình triển khai thực hiện dự án Tương tự như đánh giá giữa kỳ trừ việc tại thời điểm này đánh giá kết thúc sẽ ước tính lại lợi ích dự án và đánh giá lại rủi ro đối với tính bền vững dự án Nếu cần thiết, đánh giá này tiến hành điều tra khảo sát và phỏng vấn để ghi lại phản hồi của các bên liên quan và đối tượng hưởng lợi chính của dự án Đánh giá kết thúc giống với đánh giá giữa kỳ về tiêu chí và khung đánh giá chỉ có sự khác biệt duy nhất về thời gian là thời điểm kết thúc thay vì thời điểm giữa dự án

Đánh giá kết thúc bắt đầu bằng việc rà soát mức độ hoàn thành tất cả các nội dung của chương trình dự án Đánh giá kết thúc sẽ đánh giá xem chương trình dự án có thực hiện tất cả các hoạt động của dự án để đạt mục tiêu và kết quả trực tiếp dự kiến hay không

Vì chương trình dự án mới kết thúc xong nên các tiêu chí đánh giá chính sẽ được sử dụng, có tính đến bối cảnh vừa kết thúc chương trình dự án Thí dụ đối với tính phù hợp đánh giá kết thúc sẽ nhận định về sự tiếp tục phù hợp của ý tưởng, thiết kế và cấu trúc chương trình dự án tại thời điểm hiện tại

và tính phù hợp tiền tàng trong quảng thời gian vận hành của chương trình dự

án Tiêu chí hiệu quả sẽ tập trung vào việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong suốt thời gian thực hiện chương trình dự án, kể cả hiệu quả về thời gian

Trang 32

và chi phí trong qua trình triển khai thực hiện chương trình dự án Phân tích tài chính và kinh tế cũng được tiến hành để cập nhật lại tỷ suất hoàn vốn đầu

tư theo giá tài chính và giá kinh tế Đối với tiêu chí về tính hiệu suất, đánh giá kết thúc sẽ đánh giá liiệu chương trình dự án có đạt được mục tiêu và kết quả trực tiếp của chương trình dự án hay không và nếu có thì ở mức độ nào Đánh giá tính bền vững tập trung vào những yếu tố rủi ro chính đối với tính bền vững của đầu ra và kết quả trực tiếp cũng như những biện pháp đã triển khai

để khắc phục hoặc giảm thiểu rủi ro đó nhằm đảm bảo tính liên tục và bền vững của đầu ra, kết quả trực tiếp của chương trình dự án

Đánh giá kết thúc cũng rà soát lại khung kết quả, cơ sở dữ liệu và thực tiễn thực hiện chế độ báo cáo, cập nhật chúng vì điều này rất cần thiết nhằm đảm bảo chúng vẫn tiếp tục phù hợp và được sử dụng trong theo dõi kết quả và phục vụ các đợt đánh giá trong tương lại như đánh giá sau đầu tư hay đánh giá tác động

1.1.3.4 Đánh giá tác động của dự án đầu tư

Đánh giá tác động của dự án đầu tư hay còn gọi là đánh giá sau đầu tư Mục đích chính của đánh giá sau đầu tư là xét xem liệu Dự án chương trình

đã đầu tư có đạt được tất cả các nội dung, mục tiêu, kết quả đã đề ra hay không Ở thời điểm này, tức là ít nhất sau 3 năm kể từ khi kết thúc triển khai thực hiện dự án, chương trình dự án được chờ đợi đã đạt đến mức khai thác công suất tối đa, và do đó các dữ liệu không chỉ về chi phí đầu tư mà cả chi phí vận hành và lợi ích phát sinh đều có thể quan sát được

Đánh giá sau đầu tư cũng sử dụng khung và tiêu chí đánh giá, chỉ khác

về thời điểm, tức là đánh giá sau đầu tư được thực hiện khoảng 3 năm sau khi kết thúc dự án

Đánh giá sau đầu tư bắt đầu bằng việc rà soát lại thiết kế và quá trình thực hiện dự án cũng như các dữ liệu thu thập được về chi phí và lợi ích

Trang 33

Đánh giá này được tiến hành sử dụng Bộ tiêu chí đánh giá chính và tính điểm kết quả đầu tư Cũng như các hình thức đánh giá khác, đánh giá sau đầu tư cũng xem xét cả khung theo dõi kết quả và cơ sở dữ liệu hay hệ thống báo cáo Nó rút ra bài học cho tương lai và đề cập đến những vấn đề đã phát hiện được liên quan đến tính bền vững và tính liên tục của chương trình

dự án đầu tư công, từ đó đưa ra các kiến nghị cần thiết đối với các cơ quan chủ quản và chính phủ

1.2 Phương pháp đánh giá dự án

Đánh giá dự án có 2 phương pháp: phương pháp phân tích chi phí lợi ích

và phương pháp đánh giá dự án dựa trên việc phân tích hệ thống các tiêu chí

1.2.1 Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA)

Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) đôi khi được gọi là phân tích lợi ích - chi phí (BCA) là tính toán có hệ thống để so sánh lợi ích và chi phí của một dự án, CBA có hai mục đích: Một là: Để xác định có nên ra quyết định đầu tư hay không, đánh giá việc đầu tư có hiệu quả hay không Hai là: cung cấp một cơ sở để so sánh dự án Nó liên quan đến việc so sánh tổng chi phí dự kiến của từng lựa chọn so với tổng lợi ích dự kiến, để xem liệu những lợi ích có lớn hơn chi phí, và lớn hơn bao nhiêu

Trong CBA, lợi ích và chi phí được thể hiện về tiền bạc, và được điều chỉnh cho các giá trị thời gian của tiền, để tất cả các dòng chảy của lợi ích và dòng chảy của chi phí dự án theo thời gian được thể hiện trên một cơ sở chung là giá trị hiện tại ròng của chúng

Phân tích Chi phí - Lợi ích (CBA) ước lượng và tính tổng giá trị bằng tiền tương đương đối với những lợi ích và chi phí của cộng đồng từ các dự án nhằm xác định xem chúng có đáng để đầu tư hay không hay đánh giá dự án hoạt động có hiệu quả hay không

Phương pháp CBA được dùng khi mà các chi phí cũng như lợi ích của

Trang 34

dự án có thể đo đếm được bằng tiền hoặc dễ dàng ước tính bằng tiền Các dự

án kinh tế trong khu vực tư nhân cũng như các dự án chủ đầu tư chú trọng đến lợi ích mà cụ thể là lợi nhuận dự án mang lại thì sẽ dùng phương pháp chi phí – lợi ích để đánh giá dự án đầu tư Bên cạnh đó, một số dự án đầu tư công trong lĩnh vực xã hội nhưng dễ dàng ước tính chi phí, lợi ích bằng tiền thì cũng có thể dùng phương pháp chi phí – lợi ích để đánh giá dự án đầu tư

Ưu điểm của phương pháp CBA là đo lường một cách khá chính xác lợi ích và chi phí của dự án đối với các dự án có nguồn thu Các quyết định đầu tư cũng như đánh giá dự án qua phương pháp CBA có tính chính xác khá cao đối với các dự án có doanh thu và dễ dàng quy đổi các lợi ích và chi phí bằng tiền

Nhược điểm của phương pháp CBA là khó áp dụng đối với các dự án thuộc lĩnh vực xã hội Các dự án với mục đích an sinh xã hội sẽ khó có thể quy đổi được thành tiền để so sánh và dễ dàng bỏ qua các lợi ích mà nó mang lại cho cộng đồng

1.2.2 Phương pháp đánh giá dự án dựa trên phân tích hệ thống đa tiêu chí

Phương pháp này dựa trên việc hệ thống lại các tiêu chí liên quan tới tình hình hoạt động, kết quả đầu ra trực tiếp cũng như tác động xã hội mà dự

án mang lại Trên cơ sở mức độ đạt được của dự án sẽ phân tích, đánh giá và cho điểm các tiêu chí dựa trên thang điểm đã cho trước Phương pháp đánh giá này được OECD sử dụng phổ biến trong công tác đánh giá các dự án đầu

tư công và nhất là các dự án nguồn vốn ODA với mục đích an sinh xã hội

Ưu điểm của phương pháp này là dựa trên việc đánh giá đa tiêu chí có thể phân tích đầy đủ các lợi ích mà dự án mang lại đối với các dự án không có doanh thu và lợi ích chi phí khó quy đổi thành tiền

Đối với dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non, đây là một dự án trong lĩnh vực an sinh xã hội về phát triển giáo dục mầm

Trang 35

non Dự án không có doanh thu và đối tượng hưởng lợi chủ yếu của dự án là trẻ trong độ tuổi mầm non ở vùng đặc biệt khó khăn, trẻ dân tộc thiểu số, trẻ

có hoàn cảnh gia đình khó khăn Lĩnh vực giáo dục mầm non cũng như đối tượng thụ hưởng và địa phương thụ hưởng có tính đặc biệt như dự án SRPP thì về cơ bản cơ chế thị trường thất bại ở 4 lĩnh vực:

(i) Tác động bên ngoài – cha mẹ học sinh thường không chú trọng vào GDMN có chất lượng ở mức mà xã hội mong muốn;

(ii) Thất bại về điều phối – một mặt, cầu về chăm sóc trẻ em thường bị phân khúc và phân tán về mặt địa lý, trong khi, ở mặt khác chi phí của cung cao và cố định theo mức (do ngưỡng trần tự nhiên cũng như pháp lý về nhóm trẻ), làm cho người cung cấp dịch vụ khó có thể đạt được số lượng cần thiết

để có thể kinh doanh có lãi;

(iii) Bất cân xứng về thông tin – cha mẹ học sinh khó có thể xác định được thế nào là dịch vụ chất lượng cao; và

(iv) Thất bại của thị trường về mặt tài chính/tín dụng – cha mẹ học sinh không có khả năng chi trả học phí và các chi phí kèm theo khi trẻ đi học mầm non bán trú

Với những đặc điểm trên, đánh giá dự án SRPP theo phương pháp chi phí – lợi ích sẽ không thể phù hợp và bỏ qua nhiều lợi ích mà dự án mang lại

do không đo đếm được chính xác bằng tiền Phương pháp đánh giá dự án thông qua đánh giá hệ thống các tiêu chí phù hợp với bối cảnh và tính chất của dự án SRPP Chính vì vậy đây chính là phương pháp đánh giá được lựa chọn và sử dụng nhằm đánh giá dự án “Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non”, một dự án phát triển giáo dục mầm non sử dụng nguồn vốn vay ODA

Tài liệu ”guideline for project evaluation” – 2009 của OECD và tài liệu của Dự án Hỗ trợ chuẩn bị và thực hiện Kế hoạch phát triển Kinh tế Xã hội

Trang 36

dựa trên kết quả giai đoạn 2011-2015” đã nêu ra Tiêu chí đánh giá và hệ thống xếp hạng kết quả các chương trình dự án đầu tư công Đây là nguồn tài liệu rất phù hợp, là khung lý thuyết được sử dụng cho luận văn này

1.3 Nội dung đánh giá cuối kỳ dự án

1.3.1 Trọng tâm đánh giá cuối kỳ dự án

Có 4 tiêu chí chính cần được đánh giá đó là tính phù hợp, tính hiệu quả, tính hiệu suất và tính bền vững Trọng tâm đánh giá cuối kỳ của dự án được thể hiện thông qua bảng dưới đây:

Bảng 1.1: Trọng tâm đánh giá cuối kỳ dự án Tiêu chí chính Tiêu chí thành phần

Tính phù hợp

Kết quả thực hiện dự án Mức độ tuân thủ luật pháp và các điều khoản, điều kiện đã được phê duyệt

Tính hiệu quả Tính hiệu quả chung và tính khả thi (vững chắc) của dự án

về tài chính khi hoàn thành Tính hiệu suất Việc đạt được đầy đủ kết quả trực tiếp so sánh với kỳ gốc

Tính bền vững

Triển khai các biện pháp đảm bảo tính bền vững của các kết quả trực tiếp bằng việc giảm thiểu những rủi ro đã được xác định Có những kỹ năng chuyên môn thỏa đáng

“Nguồn: Dự án Hỗ trợ chuẩn bị và thực hiện Kế hoạch phát triển Kinh tế

Xã hội dựa trên kết quả giai đoạn 2011-2015”

1.3.2.Tính phù hợp (10 điểm)

Tiêu chí đánh giá này giúp nhận xét về sự phù hợp của chương trình dự

án tại thời điểm thiết kế cũng như thời điểm đánh giá cuối kỳ về mức độ nhất

Trang 37

quán của mục tiêu Dự án với nhu cầu của đối tượng thụ hưởng Có 4 lĩnh vực cần đánh giá là:

- Đánh giá xem thuyết minh/luận chứng của dự án có còn tiếp tục phù hợp hoặc còn giá trị nữa không (4 điểm) Phát biểu về mục tiêu, phạm vi và kết quả mong đợi của dự án: khung kết quả bao gồm đầu vào, đầu ra, kết quả trực tiếp và tác động, tuân thủ pháp luật, quy định và các quy phạm, quy chuẩn chuyên ngành Có thay đổi gì trong thiết kế, phạm vi và địa điểm dự

án Nếu không có thay đổi gì hoặc thay đổi đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt bằng văn bản thì được điểm tối đa (2 điểm) Liệu khung kết quả có được sử dụng triệt để trong theo dõi và đánh giá không? Nếu sử dụng triệt để khung kết quả thì được điểm tối đa (1 điểm) Liệu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy phạm về hành chính và kỹ thuật, các điều kiện và điều khoản đã thống nhất tại thời điểm phê duyệt hoặc đánh giá giữa kỳ (nếu thích hợp) có được tuân thủ đầy đủ không? Nếu tuân thủ đầy đủ thì được điểm tối đa (1 điểm)

- Đánh giá công tác quản lý thực hiện dự án (2 điểm): Liệu dự án có được triển khai thông suốt và hiệu quả không, tức là các hợp đồng có được trao và giải ngân đúng hạn không (1điểm) Và việc đấu thầu có tổ chức một cách cạnh tranh theo quy trình minh bạch hay không(1 điểm)

- Đánh giá công tác quản lý tài chính (2 điểm) Tổng mức đầu tư và nguồn vốn (phê duyệt cuối cùng và thực tế): Có sự điều chỉnh nào trong tổng mức đầu tư đã được phê duyệt tại thời điểm đánh giá giữa kỳ hoặc sau đó không? Nếu không thay đổi hoặc thay đổi đã được cơ quan thẩm quyền phê duyệt bằng văn bản sẽ được điểm tối đa (1 điểm) Kế hoạch tài chính đã được triển khai như thế nào (1điểm)

Có thể bổ sung mọi tiêu chí thành phần khác đặc thù theo tỉnh hoặc ngành (2 điểm) Nếu không thấy thích hợp thì có thể loại bỏ tiêu chí thành phần này

Trang 38

1.3.3 Tính hiệu quả (40 điểm)

Đánh giá về tính hiệu quả quan tâm đến việc xem xét tính hiệu quả theo quy trình triển khai dự án, sự tiếp tục khả thi về kinh tế, hiệu quả xã hội Trọng số dành cho mỗi tiêu chí thành phần và các chỉ số chính của chúng có điều chỉnh chút ít để tương ứng với tầm quan trọng tương đối của chúng -Tính hiệu quả theo quy trình: (thời gian và chi phí – 4 điểm): chỉ số chính để đánh giá là : quá hạn/trì hoãn (số tháng quá hạn để hoàn thành dự án

so với lịch biểu đề ra dự kiến), ký kết hợp đồng và đấu thầu mua sắm đúng hạn Cho điểm cao nhất đối với những dự án hoàn thành đúng hạn (3 điểm), cho điểm cao thứ nhì (2 điểm) đối với những dự án có trì hoãn ít (không quá 20% so với lịch biểu dự kiến) Những dự án có sự trì hoãn đáng kể nhưng chưa quá 50% quỹ thời gian cho phép được 1 điểm Những dự án hoàn thành nhưng trì hoãn đáng kể so với thời gian dự kiến ban đầu (hơn 50%) thì sẽ nhận 0 điểm

- Tính vững chắc về tài chính (8 điểm) Có 2 chỉ số chính – vượt chi hoặc tiết kiệm chi và tính vững chắc về tài chính

Vượt chi dự án (là tỷ lệ phần trăm số tiền vượt chi tuyệt đối so với kế hoạch được duyệt) Nếu không vượt chi hoặc có tiết kiệm chi thì sẽ được số điểm tối đa (4 điểm); vượt chi nhưng chưa quá 20% tổng mức đầu tư được duyệt cuối cùng sẽ có số điểm cao nhất là 2 điểm Nếu vượt chi trên 20% nhưng không quá 50% thì được 1 điểm, còn dự án hoàn thành với tỷ lệ vượt chi trên 50% thì sẽ nhận 0 điểm

Tính vững chắc về tài chính dựa trên việc tính toán lại dự báo luồng tiền và lợi suất đầu tư tại thời điểm hoàn thành (IRR càng cao càng tốt và tối thiểu cũng không được thấp hơn chi phí vay vốn) hoặc so sánh chi phí đơn vị với các dự án tương tự trong ngành (có chi phí trên một đơn vị đầu ra hoặc kết quả trực tiếp thấp hơn) sẽ nhận số điểm tối đa là 4 điểm Khá vững chắc về tài

Trang 39

chính với IRR thấp hơn một chút so với chi phí vay vốn được 2-3 điểm và không vững chắc lắm được 1 điểm, dự án có mức độ vững chắc về tài chính không đạt yêu cầu nhận 0 điểm

-Tính vững chắc về kinh tế (12 điểm) Mối quan tâm chính về tính vững chắc của dự án đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân (hiệu quả phân bổ

và sử dụng nguồn lực) Việc nhận diện và lượng hóa chi phí và lợi ích kinh tế đóng vai trò căn bản trong trong tiến hành phân tích vững chắc về kinh tế Khi nhận diện và lượng hóa chi phí dự án, cần xem xét chi phí kinh tế chứ không phải chi phí tài chính Chi phí tài chính dự án tương tự như những chi phí đã sử dụng trong tài khoản của dự án Trong khi đó, chi phí kinh tế loại bỏ các khoản mang tính chuyển giao- như thuế, trợ cấp và tương đương,

vì vậy đây không phải là chi phí kinh tế và do đókhông được tính đến Logic kinh tế đứng sau những điều chỉnh kinh tế này nhằm khắc phục những méo

mó về giá cả do tác động có hoặc không có chủ ý từ các chính sách của chính phủ hoặc cơ cấu thị trường độc quyền hay các dạng thất bại khác của thị trường (ở đây là giá cả được quyết định bởi các yếu tố khác ngoài lực lượng thị trường) Về mặt nguyên tắc, chi phí cơ hội kinh tế chỉ được quyết định bởi các lực lượng (cung và cầu) thị trường

Chi phí lao động được điều chỉnh để phản ánh chân thực hơn năng suất lao động hoặc chi phí cơ hội kinh tế của họ - tức là mức thu nhập mà người lao động nhận được nếu họ không làm việc cho dự án đang xét Tương tự, tỷ giá hối đoái cũng được điều chỉnh để phản ánh chi phí kinh tế thực do các lực lượng thị trường (cung và cầu quyết định)

Lượng giá kinh tế lợi ích của dự án cũng tuân thủ cách tiếp cận tương

tự của kinh tế học nhưng chú trọng vào việc phản ánh giá trị kinh tế của đầu

ra và kết quả trực tiếp của dự án Lợi ích kinh tế không phải là giá trị tài chính của các đầu ra hiện vật do dự án tạo ra, chúng được đo bằng giá trị kinh tế của

Trang 40

chúng (mặc dù đều được phản ánh bằng cùng 1 đơn vị tiền tệ) Hơn nữa, nếu hàng hóa và dịch vụ do dự án đang xét rao ra có nguồn cung không ổn định hoặc sẽ không ổn định thì cơ sở để lượng giá lợi ích và chi phí cung ứng cận biên, còn nếu chúng có lượng cung cố định hoặc sẽ cố định thì việc lượng giá chúng sẽ dựa trên mức độ sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng Nếu hàng hóa

và dịch vụ được trao đổi trên thị trường quốc tế thì giá phản ánh chi phí cơ hội của chúng sẽ là giá trao đổi quốc tế hay còn gọi là giá biên giới

Để tham chiếu, cần có một tỷ suất chiết khấu kinh tế, tỷ suất này phản ánh chi phí cơ hội kinh tế của vốn trong nền kinh tế hoặc tỷ suất chiết khấu kinh tế được chỉ định, trong đó bao gồm tỷ suất lợi tức của vốn đầu tư, có tính đến giá trị của tiền theo thời gian, rủi ro và các yếu tố bất định Giá trị của tỷ suất chiết khấu có thể được ước tính bằng cách sử dụng chi phí thực của việc vay nước ngoài – các khoản vay chủ quyền, lãi suất của trái phiếu chủ quyền hoặc tỷ suất hoàn vốn kinh tế cận biên của đầu tư công trong nước

Thông thường, cơ quan kế hoạch quốc gia chịu trách nhiệm cung cấp giá trị của các tham số kinh tế tầm quốc gia hoặc hệ số quy đổi cho lao động,

tỷ giá hối đoái và tỷ suất chiết khấu kinh tế

Trong trường hợp không có những thông tin này, đánh giá dự án có thể

sử dụng hệ số quy đổi kinh tế được sử dụng cho các dự án đầu tư công do nhà nước và các đối tác ODA cùng tài trợ làm biến thay thế Tỷ suất chiết khấu kinh tế chỉ định 12% là tỷ suất thường hay được sử dụng cho những dự án như vậy tại Việt Nam

Khi tất cả các dữ liệu liên quan đã được thu thập và đối chiếu sẽ tiến hành tính toán tỷ suất nội hoàn kinh tế(EIRR)

Hoặc, nếu dự án thuộc lĩnh vực xã hội nên không thể tính được IRR, ta phân tích hiệu suất chi phí – tức là bằng cách so sánh chi phí trên một đơn vị đầu ra hoặc kết quả trực tiếp trong cùng ngành giáo dục, hoặc chi phí của các

Ngày đăng: 05/04/2023, 20:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Chương trình Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học, Báo cáo đánh giá cuối kỳ “Chương trình Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học, "Báo cáo đánh giá cuối kỳ “Chương trình Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học
6. Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non, Báo cáo phát triển trẻ thơ EDI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư sử dụng vốn ODA (2013) Khác
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sổ tay hướng dẫn triển khai hoạt động Dự án Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non (2013) Khác
4. Chương trình phát triển giáo dục trung học, Báo cáo đánh giá cuối kỳ Chương trình phát triển giáo dục trung học Khác
5. Dự án Hỗ trợ chuẩn bị và thực hiện Kế hoạch phát triển Kinh tế Xã hội dựa trên kết quả giai đoạn 2011-2015. Tiêu chí đánh giá và hệ thống xếp hạng kết quả các chương trình dự án đầu tư công tại Việt Nam (2015) Khác
7. Nghị định số 38/2013/NĐ-CP ngày 23 tháng 04 năm 2013 của Chính phủ về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ Khác
8. Quyết định số 239/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ Tiếng anh Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w