Vì vậy đề tài “Ảnh hưởng của sinh kế đến bảo tồn tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai” được thực hiện nhằm xác định các loại hình
Trang 1cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Hà Nội, tháng 12 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Hồng Dương
Trang 2tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế quốc dân, các bạn bè đồng nghiệp và cơ quan chính quyền địa phương nơi tác giả thực hiện nghiên cứu Với lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm
ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và quý báu đó
Trước hết, tác giả xin đặc biệt gửi lời cảm ơn đến GS – TS Ngô Thắng Lợi
đã tận tình hướng dẫn tác giả trong quá trình thực hiện đề tài này
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học và các thầy, cô giáo Trường Đại học Kinh tế quốc dân đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức
và giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả trong suốt khóa học
Đồng thời tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ơn Lãnh đạo Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp nơi tác giả đang công tác; Lãnh đạo Hạt kiểm lâm huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai; Lãnh đạo Ban quản lý KBTTN Hoàng Liên – Văn Bàn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2017
Nguyễn Hồng Dương
MỤC LỤC
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU i
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: KHUNG NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG 7
CỦA SINH KẾ ĐẾN BẢO TỒN TÀI NGUYÊN RỪNG 7
Ở CÁC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN 7
1.1 Khu bảo tồn thiên nhiên và yêu cầu đặt ra với Khu bảo tồn thiên nhiên 7
1.1.1 Khu bảo tồn thiên nhiên 7
1.1.2 Yêu cầu đặt ra với KBTTN 9
1.2 Các hoạt động sinh kế tại khu vực các xã vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên 12
1.2.1 Vùng đệm của KBTTN 12
1.2.2 Các hoạt động sinh kế tại khu vực các xã vùng đệm 14
1.2.3 Ảnh hưởng của các hoạt động sinh kế vùng đệm đến bảo tồn TNR 19
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa sinh kế và bảo tồn TNR 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA SINH KẾ ĐẾN BẢO TỒN TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN HOÀNG LIÊN VĂN BÀN, 28
HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI 28
2.1 KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn và khu vực dân cư vùng đệm 28
2.1.2 Khu vực dân cư vùng đệm 34
2.2 Thực trạng và ảnh hưởng của sinh kế đến tài nguyên rừng tại KBTTN Hoàng Liên – Văn Bàn 39
Trang 42.2.4 Hoạt động chăn nuôi 54
2.3 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của sinh kế tới bảo tồn TNR tại KBTTN Hoàng Liên – Văn Bàn và nguyên nhân dẫn tới những tác động tiêu cực 56
2.3.1 Đánh giá ảnh hưởng tích cực 56
2.3.2 Đánh giá ảnh hưởng tiêu cực 57
2.3.3 Nguyên nhân 57
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM KẾT HỢP HÀI HÒA SINH KẾ VỚI BẢO TỒN TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN HOÀNG LIÊN VĂN BÀN 61
3.1 Định hướng về sinh kế kết hợp với bảo tồn TNR 61
3 1.1 Căn cứ xây dựng định hướng 61
3.1.2 Định hướng cho hoạt động sinh kế kết hợp với bảo tồn TNR của người dân vùng đệm 61
3.2 Đề xuất giải pháp kết hợp sinh kế với bảo tồn TNR 62
3.2.1 Giải pháp về kinh tế 63
3.2.2 Giải pháp về xã hội 65
3.2.3 Giải pháp về thể chế và quản lý 65
3.2.4 Giải pháp về Khoa học – kỹ thuật 66
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 73
Trang 5UBND Ủy ban nhân dân
VQG Vườn quốc gia
Trang 6Bảng 2.1: Phân bố và thành phần dân tộc ở các xã vùng đệm 34
Bảng 2.2: Dân số và mật độ dân số các xã vùng đệm 35
Bảng 2.3: Cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi lao động các xã vùng đệm 35
Bảng 2.4: Tình hình cơ sở Y tế các xã vùng đệm 38
Bảng 2.5: Cơ cấu sử dụng đất xã vùng đệm khu bảo tồn 40
Bảng 2.6: Diện tích canh tác của các HGĐ trên rừng và đất rừng KBT 41
Bảng 2.7 Số lần đốt nương của các HGĐ canh tác nương rẫy khu vực vùng đệm 43
Bảng 2.8: Mức độ khai thác gỗ của các HGĐ 46
Bảng 2.9: Mức độ khai thác củi của người dân địa phương 48
Bảng 2.10: Mức độ khai thác và nhu cầu sử dụng LSNG, hoạt động săn bắn tại khu vực nghiên cứu 51
Bảng 2.11: Đàn gia súc của các xã vùng đệm 54
Bảng 2.12: Hình thức chăn thả gia súc trên rừng 55
Bảng 2.14 Hoạt động tuần tra rừng của dân cư vùng đệm KBTTN Hoàng Liên – Văn Bàn 6 tháng đầu năm năm 2017 56
Bảng 2.15: Cơ cấu đất đai trung bình của HGĐ khu vực nghiên cứu 58
Trang 7Hình 2.1 Sơ đồ vị trí KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn và các xã vùng đệm 28Hình 2.2: Số hộ tham gia khai thác LSNG, săn bắn động vật rừng theo thành phần dân tộc 52Hình 2.3 Cơ cấu đất đai trung bình của HGĐ khu vực nghiên cứu……… 61
Trang 8TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
KBTTN được thiết lập vì mục đích chung của Quốc gia đó là bảo vệ đa dạng sinh học, hệ sinh cảnh và quần thể sinh vật sống bên trong nó Góp phần bảo đảm cân bằng hệ sinh thái, điều hòa, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo đảm phát triển bền vững của quốc giamang, lại nhiều lợi ích trực tiếp cho cuộc sống hàng ngày của con người từ nguồn tài nguyên của chúng, đặc biệt đối với cộng đồng cư dân sống trong và gần rừng Tuy nhiên, với thói quen, phong tục tập quán phát nương làm rẫy, săn bắn, khai thác và sinh sống phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng của cộng đồng dân cư nơi đây đã gây ra ảnh hưởng rất lớn đến công tác bảo tồn tài nguyên rừng Vì vậy đề tài “Ảnh hưởng của sinh kế đến bảo tồn tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai” được thực hiện nhằm xác định các loại hình và mức độ tác động đối với KBT, đề xuất các giải pháp gắn liền sinh kế với bảo tồn tài nguyên rừng tại KBT thông qua việc điều tra, nghiên cứu, phân tích các tác động của người dân khu vực vùng đệm của Khu BTTN nơi đây
Mục tiêu của đề tài làxác định được hình thức tác động tích cực và tiêu cực của sinh kế đến bảo tồn tài nguyên rừng Từ đó, đánh giá mức độ ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp đối với hoạt động sinh kế để thực hiện tốt công tác bảo tồn TNR Đối tượng nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu tại các xã vùng đệm của KBTTN Hoàng Liên – Văn Bàn bao gồm Nậm Xây, Nậm Xé, Liêm Phú thuộc huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
Nội dung nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng tiêu cực và tích cực của sinh kế đến công tác bảo tồn TNR tại KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn
- Về phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp:
+ Phương pháp làm việc tại bàn: nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các tài liệu tại bàn và đúc rút ra các kinh nghiệm, lý thuyết qua đó làm cơ sở cho luận văn Đây
là phương pháp chủ yếu được sử dụng để xây dựng khung lý thuyết cho chương một của luận văn
Trang 9+ Phương pháp khảo sát thực tế: sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA) Phỏng vấn 97 hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu trong đó có cả trưởng thôn, cán bộ chính quyền về các vấn đề bảo tồn và hoạt động sinh kế của người dân Phương pháp được sử dụng cho chương hai của luận văn, để thu thập thông tin làm cơ sở thực hiện các phân tích về ảnh hưởng của hoạt động sinh kế tới công tác bảo tồn TNR tại khu vực nghiên cứu
+ Phương pháp xử lý, phân tích số liệu: Số liệu thu thập được sẽ được tổng hợp, phân tích qua các bảng biểu, sơ đồ và phần mềm để đánh giá một cách tổng hợp, tìm ra các nguyên nhân dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực của sinh kế đến công tác bảo tồn và đề ra giải pháp khắc phục Phương pháp được sử dụng phân tích cho chương hai của luận văn và trên cơ sở kết quả phân tích này, các giải pháp sẽ được
đề xuất để đảm bảo sinh kế của cộng đồng dân cư vùng đệm phát triển bền vững, công tác bảo tồn tài nguyên rừng thực hiện có hiệu quả
Về phần kết cấu, ngoài phần mở đầu, tổng quan nghiên cứu, kết luận thì luận văn gồm có 3 chương chính:
Chương 1: Khung nghiên cứu về vấn đề ảnh hưởng của sinh kế đến bảo tồn tài nguyên rừng ở các KBTNN
Chương 2: Ảnh hưởng của sinh kế đến bảo tồn Tài nguyên rừng tại KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
Chương 3: Định hướng và các giải pháp nhằm gắn liền sinh kế với bảo tồn tài nguyên rừng tại KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn
Kết quả nghiên cứu của các chương như sau:
Chương 1: Khung nghiên cứu về vấn đề ảnh hưởng của sinh kế đến bảo tồn tài nguyên rừng ở các KBTNN
Bằng phương pháp nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các tài liệu tại bàn và đúc rút các kinh nghiệm, luận văn đã đưa ra khái niệm về KBTTN, các đặc điểm và yêu cầu đặt ra với KBTTN Theo đó, KBTTN bao gồm 4 đặc điểm: (i) Tính toàn
Trang 10diện, “đại diện và cân bằng” (ii) “Tính đầy đủ” (iii)“tính gắn kết” (iv) “tính hiệu quả, hiệu suất và công bằng.”
KBTTN cần phải thỏa mãn 3 yêu cầu: (i) là vùng “đất tự nhiên có dự trữ tài nguyên thiên nhiên” và có “giá trị đa dạng sinh học cao”, (ii) “có diện tích đủ rộng để chứa được một hay nhiều hệ sinh thái,” trong đó “tỷ lệ diện tích cần bảo tồn cao” (trên 70%) và“có các loài động thực vật đặc hữu, các loài động vật hoang” dã quý hiếm, (iii) Khu BTTN phải có giá trị về khoa học – giáo dục, du lịch
Luận văn đã đưa ra khái niệm vùng đệm và phân tích mối quan hệ, ảnh hưởng của khu vực vùng đệm tới KBTTN Các hoạt động sinh kế tại khu vực vùng đệm ảnh hưởng tới công tác bảo tồn tài nguyên rừng bao gồm:(1) Canh tác nương rẫy (2) Khai thác gỗ, gỗ củi (3) Khai thác các LSNG và săn bắn (4) Chăn thả gia súc trên rừng và đất rừng Các mô hình sinh kế này ảnh hưởng trực tiếp tới các giá trị của KBTTN đó là tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng, giá trị khoa học – du lịch, nguy cơ suy giảm, tuyệt chủng của các loài động, thực vật quý hiếm và diện tích rừng của các Khu BTTN
Và cuối cùng, để phân tích và tìm hiểu nguyên nhân gây ra các ảnh hưởng đã nêu, luận văn đưa ra các nhóm nguyên tố ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa sinh kế
và công tác bảo tồn rừng bao gồm 4 nhóm nhân tố: kinh tế, xã hội, quản lý và thể chế, khoa học – kỹ thuật
Chương 2: Ảnh hưởng của sinh kế đến bảo tồn Tài nguyên rừng tại KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
Luận văn đã khái quát các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế, dân tộc, dân số của các xã khu vực vùng đệm của KBTTN Hoàng Liên – Văn Bàn Qua đó, giúp đánh giá một cách tổng thể về những thuận lợi, khó khăn trong các hoạt động sinh kế của người dân và ảnh hưởng đến mức độ tác động vào tài nguyên rừng
Khu vực nghiên cứu có 3 dân tộc sinh sống (Tày, Dao, Mông), tỷ lệ hộ nghèo đói cao, dân trí thấp, trình độ canh tác còn nhiều hạn chế
Trang 11Canh tác nông nghiệp là nghề chủ đạo trong khu vực, tuy nhiên diện tích đất lúa nước ít, yếu tố mùa vụ còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, năng suất lúa thấp Sản xuất lâm nghiệp chưa được chú trọng, đóng góp từ lâm nghiệp cho tổng thu nhập của HGĐ còn thấp chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của khu vực
về lĩnh vực này Các giải pháp đi làm thuê; buôn bán; tác động vào TNR được người dân lựa chọn để bù đắp nhu cầu lương thực và sinh hoạt hàng ngày, trong đó tác động vào TNR là giải pháp được đa số các HGĐ lựa chọn bởi sức hấp dẫn về lợi nhuận và khả năng chủ động
Có 4 hình thức tác động từ các hoạt động sinh kế của người dân vùng đệm đến TNR tại KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn đó là: (1) Sử dụng đất rừng để canh tác nương rẫy (2) Khai thác gỗ, gỗ củi (3) Khai thác các LSNG và săn bắn (4) Chăn thả gia súc trên rừng và đất rừng Các tác động chủ yếu là tiêu cực, tác động tích cực chưa nhiều và mang tính hỗ trợ cho hoạt động tuần tra bảo vệ rừng
Các nhân tố kinh tế hộ, dân tộc, mức độ gần rừng, mức độ thuận tiện giao thông, số khẩu, độ cao, học vấn của chủ hộ, số lần vào rừng khai thác gỗ, củi, thu hái cây thuốc, rau rừng/tuần, hình thức chăn thả gia súc có ảnh hưởng rõ rệt và quyết định đến mức độ tác động vào rừng
Chương 3: Định hướng và các giải pháp nhằm gắn liền sinh kế với bảo tồn tài nguyên rừng tại KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn
Định hướng về sinh kế cho cộng đồng dân cư vùng đệm của KBTTN dựa trên các quy định của Nhà nước về quản lý rừng, luật bảo vệ và phát triển rừng đối với khu rừng đặc dụng thuộc phạm vi quản lý của KBTTN hiện nay; dựa trên tình hình phát triển kinh tế, đặc điểm xã hội của người dân nơi đây và mức độ ảnh hưởng của các hoạt động sinh kế tới công tác bảo tồn TNR Đề tài đưa ra 3 định hướng chính
là (1) Khống chế diện tích đất canh tác xâm lấn tới KBTTN, (2) Hướng đến các mô hình sinh kế tận dụng các ưu thế tự nhiên của địa phương và (3) Thúc đẩy các mô hình sinh kế hỗ trợ cho công tác bảo tồn TNR
Dựa trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến “mức độ tác động của người” dân vào TNR, nguyên nhân - hậu quả; hài hoà giữa phát triển
Trang 12kinh tế HGĐ với quản lý TNR bền vững, đề tài đã phân tích và đề xuất 4 nhóm giải pháp tương ứng với 4 nhóm nhân tố ảnh hương như sau:
+ Giải pháp về kinh tế: khuyến khích người dân sử dụng bếp củi đun, tiết kiệm củi; thực hiện quy hoạch chăn thả gia súc hộ gia đình; phát triển kinh tế trang trại tổng hợp, mô hính sản xuất lương thực thâm canh
+ Giải pháp về xã hội: Đầu tư phát triển hạ tầng nông thôn (đường giao thông, thông tin liên lạc, cầu cống ) cho khu vực vùng đệm tạo, điều kiện thuận lợi để người dân triển kinh tế hàng hóa nâng cao thu nhập; tăng cường tuyên truyền kết quả của công tác duy trì và phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng
+ Giải pháp về quản lý và thể chế: Có quy hoạch tổng thể để phân biệt rõ ranh giới KBT với khu vực canh tác của người dân bằng cách cắm mốc ranh giới để người dân nắm rõ khu vực không được xâm phạm; Có chính sách thu hút nguồn vốn
từ bên ngoàiđể hỗ trợ ngườ dân có vốn đầu tư sản xuất; Phát triển du lịch sinh thái + Giải pháp về khoa học, kỹ thuật: Áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, Đẩy mạnh thực hiện hỗ trợ cho người dân nâng cao kỹ thuật nông, lâm nghiệp
Mặc dù có nhiều cố gắng để đạt được những kết quả nhất định tuy nhiên đề tài vẫn còn một số tồn tại sau:ảnh hưởng của sinh kế đến công tác bảo tồn tài nguyên rừng là đề tài rộng, mang tính đa ngành và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Tuy nhiên do hạn chế về thời gian và điều kiện thực hiện nên đề tài chỉ đi sâu phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng của các hoạt động sinh kế ảnh hưởng như thế nào tới việc quản lý, bảo tồn tài nguyên rừng ở Khu Bảo tồn theo phương pháp kế thừa tư liệu, đánh giá nhanh nông thôn và phương pháp chuyên gia là chủ yếu
Tính định lượng của tư liệu sử dụng trong đề tài còn hạn chế nên việc đánh giá không thể tránh khỏi những thiếu sót, tồn tại ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu
Vì vậy, có những giải pháp được đề xuất trong luận văn chỉ mang tính định hướng
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng đã đề ra được những mô hình sinh kế điển hình,
có ảnh hưởng trực tiếp tới tính đa dạng sinh học, hệ sinh thái rừng và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao những ảnh hưởng tích cực; giảm thiểu những tác động tiêu
Trang 13cực từ các hoạt động sinh kế giúp cho công tác bảo tồn tài nguyên rừng ở KBTTN Hoàng Liên – Văn Bàn ngày một hiệu quả hơn Mặc dù có cố gắng, nhưng trong phạm vi luận văn tốt nghiệp không thể giải quyết một cách triệt để và thấu đáo mọi vấn đề, nhất là những vấn đề mang tính vĩ mô Vì vậy, tác giả rất mong được sự góp
ý của các thầy cô giáo trường Kinh tế Quốc dân cùng bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn!
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Sự cấp thiết của đề tài:
Các Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và Vườn quốc gia (VQG) không chỉ
có vai trò to lớn trong việc bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học, góp phần bảo đảm cân bằng hệ sinh thái, điều hòa và bảo đảm phát triển bền vững của quốc gia, của cả nhân loại mà còn mang lại nhiều lợi ích trực tiếp, quan trọng cho cuộc sống hàng ngày của con người từ nguồn tài nguyên của chúng, “đặc biệt đối với cộng đồng dân
cư sống trong và gần rừng và những nước đang phát triển Hiện nay, công tác quản
lý các KBT đã và đang gặp rất nhiều khó khăn từ phía người dân sinh sống trong khu vực vùng đệm Với sức ép từ việc số lượng dân cư liên tục gia tăng cùng với phong tục tập quán lạc hậu, sinh sống chủ yếu bằng việc khai thác nguồn TNR dẫn đến việc các KBTTN luôn trong tình trạng bị đe dọa suy giảm tính đa dạng, diện tích rừng và các giá trị bên cạnh khác Đối với họ, KBTTN được thành lập chưa đem lại lợi ích gì và còn làm họ không được tự do khai thác như trước đây
Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn “được thành lập theo Quyết định số 702/QĐ – UBND ngày 27 tháng 3 năm 2007 của UBND tỉnh Lào Cai có diện tích 25.669 ha Trong đó, phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 21.629 ha, phân khu phục hồi sinh thái là 4.040 ha, dịch vụ hành chính 0,5 ha, vùng đệm 13.966 ha Khu bảo tồn rất đa dạng về hệ sinh thái với thành phần dân tộc chủ yếu là Mông, Tày và Dao Họ sinh sống với những tập quán truyền thống như canh tác nương rẫy,”du canh du cư, đời sống của người dân địa phương phần lớn dựa vào chính là nguồn tài nguyên rừng, từ đó đã tạo nên một sức ép khá lớn đối với Khu bảo tồn Từ những thực tế trên cho thấy việc tìm ra các giải pháp quản lý bảo vệ, phát triển TNR theo hướng bền vững đồng thời đảm bảo đời sống của người dân sống ở gần và trong Khu bảo tồn là vấn đề cấp thiết Chính vì vậy, đề tài “Ảnh hưởng của sinh kế đến bảo tồn tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai” được thực hiện nhằm xác định các loại hình và mức độ tác động đối với KBT, đề xuất các giải pháp gắn liền sinh kế với bảo tồn tài nguyên
Trang 15rừng tại Khu bảo tồn thông qua việc điều tra, nghiên cứu, phân tích các tác động của người dân địa phương
2 Tổng quan nghiên cứu:
Trong nhiều thập kỷ qua, cộng đồng quốc tế cũng như trong nước đã có những công trình nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lược bảo tồn Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBT gắn với cộng đồng người dân địa phương.Theo đó, công tác quản lý, bảo tồn các KBTTN cần thiết có sự tham gia của cộng đồng trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng nền văn hoá và bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học Một số nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề này có thể đề cập tới đó là:
a) “Nguyễn Danh (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai) Nguyễn Văn Vũ (Trường trung học Lâm nghiệp Tây Nguyên), “Nghiên cứu hoạt động sinh kế củacộng đồng dân cưvùng đệm đếntài nguyên rừngVườn quốc gia Kon Ka ” Kinh, Tỉnh Gia Lai- Tạp chí Khoa học trường Đại học sư phạm Hà nội số 2/2012.”Theo tác giả Nguyễn Danh và Nguyễn Văn Vũ, trong “Nghiên cứu tác động của các hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư vùng đệm đến tài nguyên rừng Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai” Tác giả “đã xác định được các hoạt động sinh kế của cồng đồng dân cư vùng đệm tác động đến tài nguyên rừng (TNR)
ở VQG Kon Ka Kinh, phân tích nguyên nhân dẫn đến sự hình thành” những hoạt động sinh kế đặc biệt những ảnh hưởng tiêu cực và đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết những nguyên nhân này góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, giảm thiếu tác động tiêu cực từ hoạt động sinh kế hướng đến phát triển bền vững TNR Theo đó, tác giả đã đưa ra hai hình thức tác động của cộng đồng dân cư vùng đệm tác động đến TNR đó là (i) Tác động đến TNR bằng chất thải và hóa chất và (ii) Tác động đến TNR do các hoạt động sinh kế gây ra rủi ro (mang bật lửa, diêm, tàn thuốc vào rừng phục vụ cho hoạt động sinh kế gây cháy rừng) Từ những phân tích thực trạng, những ảnh hưởng đến tài nguyên rừng diễn biến trong thời gian vừa qua tác giả đã đưa ra các nhóm nguyên nhân của những ảnh hưởng này và từ đó đề
ra các nhóm giải pháp tương ứng [6]
Trang 16b) Nguyễn Thị Thu Hà, “Nghiên cứu hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc Bahnar vùng đệm tác động đến đa dạng sinh học vườn quốc gia Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai- Tạp chí Khoa học trường Đại học sư phạm Hà Nội số 3/2013.”
“Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Hà, trong “Nghiên cứu hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc Bahnar vùng đệm tác động đến đa dạng sinh học vườn quốc gia Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai” đã đi sâu “phân tích những hoạt động sinh kế của dân tộc Bahnar ảnh hưởng như thế nào tới đa dạng sinh học của VQG Các hoạt động
sinh kế ảnh hưởng đến bảo tồn TNR đó là canh tác nương rẫy, khai thác đa dạng sinh học VQG phục vụ nhu cầu tại chỗ và cuối cùng là khai thác đa dạng sinh học VQG làm hàng hóa ”Đề tài đã đưa ra thêm được những hoạt động sinh kế đặc trưng của dân tộc bahnarnhư tập quán khai thác mật ong rừng, gỗ Trắc và đưa ra bốn nguyên nhân chính dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động sinh kế đến TNR là (i) Do cơ cấu sử dụng đất, phân bố lao động vùng đệm chưa hợp lý, (ii) Sự gia tăng dân số và tỷ lệ nghèo cao, (iii) Trình độ dân trí thấp, tiếp thu khoa học công nghệ còn hạn chế, (iv) Chính sách khoán bảo vệ rừng chưa hợp lý Từ đó, tác giả đã
đề xuất các giải pháp để giải quyết các vấn đề còn tồn tại nêu trên [7].”
c) “Nguyễn Huy Sơn (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), Nguy cơ tổn thất tài nguyên lâm sản ngoài gỗ và giải pháp bảo tồn, phát triển- Tạp chí Khoa
học công nghệ Việt Nam số ra ngày 31/7/2015.”
“Theo tác giả Nguyễn Huy Sơn trong “Nguy cơ tổn thất tài nguyên lâm sản ngoài gỗ và giải pháp bảo tồn, phát triển” “Tác giả đã giới thiệu về các LSNG và dạng sống của nó trong tự nhiên, phân tích được vai trò quan trọng của LSNG đối với hệ sinh thái rừng và ảnh hưởng của sinh kế trong việc khai thác LSNG tới TNR Qua đó, đề xuất các giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ một cách hiệu quả về mặt kinh tế nhưng cũng đảm bảo đa dạng sinh học, bền vững [8].”
Một số kết luận phục vụ cho nghiên cứu và khoảng trống:
Mối quan hệ giữa sinh kế với công tác bảo tồn ở các KBTTN và Vườn quốc gia
đã và đang được nghiên cứu dưới nhiều phương diện khác nhau Qua một số nghiên
Trang 17cứu trên, đã cho ta thấy được một thực tiễn khá đầy đủ cũng như đã lượng hóa được hình thức và mức độ tác động của cộng đồng dân cư vùng đệm tới tài nguyên rừng của các khu rừng đặc dụng Cho chúng ta hình dung được mối quan hệ ảnh hưởng của sinh kế tới công tác bảo tồn tài nguyên rừng.Tuy nhiên, có thể thấy rằng khoảng trống cần hoàn thiệnđó là chưa chỉ ra rõ được khung lý thuyết của nghiên cứu cũng như xác định những nhân tố ảnh hưởng tới việc gắn liền sinh kế với bảo tồn TNR làm tiêu chí đánh giá, tìm hiểu nguyên nhân gây ra những ảnh hưởng tiêu cực từ các hoạt động sinh kế đến TNR tại địa phương mà chỉ đánh giá và phân tích từ số liệu điều tra thực tế Hơn nữa, các phân tích chưa đề cập tới ảnh hưởng tích cực Đề tài nghiên cứu
về lâm sản ngoài gỗ là một phần trong hệ sinh thái rừng, để có thể nghiên cứu một cách tổng quát ảnh hưởng của sinh kế đối với bảo tồn TNR tác giả cần nghiên cứu thêm nhiều hoạt động sinh kế khác tại khu vực dân cư vùng đệm cũng như khu vực nằm trong phạm vi bảo tồn TNR.Hiện nay, các nghiên này cứu đã được thực hiện ở nhiều nơi với những điều kiện khác nhau, là cơ sở để nghiên cứu tuy nhiên KBTTN Hoàng Liên – Văn Bàn có những đặc điểm riêng, điều kiện tự nhiên riếng nên việc nghiên cứu nội dung ảnh hưởng của sinh kế đến bảo tồn TNR vẫn rất cần thiết Trên
cơ sở kế thừa những luận điểm, phân tích thực tiễn của các nghiên cứu trên, đề tài sẽ tiếp tục hoàn thiện và bổ sung những khoảng trống cần nghiên cứu để góp phần nâng cao khả năng áp dụng những kết quả thu được vào thực tiễn; làm tăng tính đa dạng sinh học và bảo tồn được TNRtại KBTTN Hoàng Liên – Văn Bàn
3 Mục tiêu nghiên cứu:
3.1 Mục tiêu chung
Xác định và hình thức hóa được những ảnh hưởng của sinh kế đến bảo tồn TNR từ đó vận dụng phân tích ở KBTTN Hoàng Liên – Văn Bàn để thấy được những tác động tích cực, tiêu cực và chỉ ra được những nguyên nhân từ đó để xuất các giải pháp đối với hoạt động sinh kế để thực hiện tốt công tác bảo tồn TNR
3.2 Mục tiêu cụ thể
- Hình thành được khung lý thuyết giúp xác định, đánh giá được các hình thức sinh kếtác động đến công tác bảo tồn tài nguyên rừng,
Trang 18- Xác định được hình thức, mức độ tác động “của các hoạt động sinh kế” từ cộng đồng địa phương vào TNR tại KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn
- “Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới việc kết hợp sinh kế với bảo tồn TNR tại KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn.”
- “Phân tích, đánh giá được thực trạng sinh kế của người dân vùng đệm của KBTTN Hoàng Liên – Văn Bàn và ảnh hướng của sinh kế đến KBTTN (cả tích cực
và tiêu cực); xác định được các vấn đề đặt ra liên quan đến ảnh hưởng của sinh kế đến bảo tồn TNR và nguyên nhân của các vấn đề đó.”
- “Đề xuất các giải pháp giảm” thiểu “tác động tiêu cực, tăng cường ảnh hưởng của các tác động tích “cực từ hoạt” động sinh kế đến bảo tồn TNR tại KBTTN Hoàng Liên – Văn Bàn.”
4 Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu ảnh hưởng của sinh kế đến bảo tồn TNRtại các xã Nậm Xây, Nậm Xé, Liêm Phú thuộc huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai (Các xã vùng đệm của KBTTN Hoàng Liên – Văn Bàn)
- Nội dung nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng tiêu cực và tích cực của sinh kế đến công tác bảo tồn TNR tại KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu từ thời gian thành lập KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn (năm 2007) đến nay
4.2.Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp làm việc tại bàn: nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các tài liệu tại bàn và đúc rút ra các kinh nghiệm, lý thuyết qua đó làm cơ sở cho luận văn Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng để xây dựng khung lý thuyết cho chương một của luận văn
- Phương pháp “thu thâp số liệu thực tế: sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA) có sự tham gia của người dân Phỏng vấn 97 hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu trong đó có cả trưởng thôn, cán bộ chính quyền về các
Trang 19vấn đề bảo tồn và hoạt động sinh kế của người dân Phương pháp được sử dụng cho chương hai của luận văn, để thu thập thông tin làm cơ sở thực hiện các phân tích về ảnh hưởng của hoạt động sinh kế tới công tác bảo tồn tài nguyên rừng tại”khu vực nghiên cứu
- Phương pháp xử lý, phân tích số liệu: Số liệu thu thập được sẽ được tổng hợp, phân tích qua các bảng biểu, sơ đồ và phần mềm để đánh giá một cách tổng hợp, tìm ra các nguyên nhân dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực của sinh kế đến công tác bảo tồn và đề ra giải pháp khắc phục
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, tổng quan nghiên cứu, kết luận luận văn kết cấu gồm 3 chương chính:
Chương 1: Khung nghiên cứu về ảnh hưởng của sinh kế đến bảo tồn tài nguyên rừng ở các KBTNN
Chương 2: “Ảnh hưởng của hoạt động sinh kế đến bảo tồn Tài nguyên rừng tại KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai”
Chương 3: Định hướng và các giải pháp nhằm kết hợp sinh kế với bảo tồn tài nguyên rừng tại KBTTN Hoàng Liên - Văn Bàn
Trang 20CHƯƠNG 1: KHUNG NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA SINH KẾ ĐẾN BẢO TỒN TÀI NGUYÊN RỪNG
Ở CÁC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
1.1 Khu bảo tồn thiên nhiên và yêu cầu đặt ra vớiKhu bảo tồn thiên nhiên
1.1.1 Khu bảo tồn thiên nhiên
1.1.1.1 Khái niệm
Theo định nghĩa của IUCN (Hội bảo vệ thiên nhiên và các nguồn tài nguyên
quốc tế): “KBTTN là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản
lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác”[5]
“Hiện nay, các KBTTN trên thế giới đang có chiều hướng tăng dần cả về diện tích và số lượng Trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 100.000 KBTTN chiếm khoảng 11,7% diện tích đất liền trên thế giới Trong đó, VQG chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các KBT loài và sinh cảnh [5] Công ước ĐDSH (1992) xác định:“các KBTTN là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học tại chỗ Tại điều 8 Bảo tồn tại chỗ của Công Ước có các mục (a), (b) và (c) qui đinh rõ các nước tham gia công ước ĐDSH có trách nhiệm thành lập hệ thống KBTTN, xây dựng các hướng dẫn lựa chọn, thành lập và quản lý các KBTTN, quản lý các tài nguyên sinh học bên trong các KBTTN để đảm bảo bảo tồn và sử dụng bền vững”[1]
Theo Luật đa dạng sinh học Việt Nam được ban hành tháng 11 năm 2008:
“KBTTN là khu vực địa lý được xác lập ranh giới và phân khu chức năng để bảo tồn đa dạng sinh học"
+ Về phân hạng của các KBTTN Việt Nam được chia như sau:
Theo Điều 16 mục 1 chương III của Luật đa dạng sinh học Việt Nam thì KBT gồm: “a) Vườn quốc gia ; b) Khu dự trữ thiên nhiên ; c) Khu bảo tồn loài - sinh
Trang 21cảnh; d) Khu bảo vệ cảnh quan Trừ vườn quốc gia, các loại sau được chia ra cấp quốc gia và cấp tỉnh theo tiêu chí ghi trong Luật Đa dạng sinh học” [11]
Hiện nay, nước ta có hệ thống các KBT bao gồm165 khu Các KBTTN được quản lý một cách có hệ thống và đáp ứng các mục tiêu quốc gia đề ra đó là:“Bảo vệ đời sống hoang dã, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên của hệ sinh thái tự nhiên, bảo vệ các đặc điểm tự nhiên và văn hóa, “nghiên cứu khoa học”, “bảo vệ đa dạng loài và nguồn gen”, “duy trì các dịch vụ môi trường, du lịch sinh thái,” giáo dục,
“gìn giữ các bản sắc” văn hóa truyền thống.”
1.1.1.2Đặc điểm của KBTTN
KBTTN được thiết lập vì mục đích “chung của quốc gia là “quản lý và bảo vệ các tài” nguyên sinh học bên trong KBTTN, đảm bảo cho “công tác bảo tồn và sử dụng tài nguyên” một cách bền vững Các KBTTN đóng vai trò chính trong công tác”
“bảo tồn đa dạng sinh học tại chỗ” Tuy nhiên, các KBTTN không thể đạt “được mục “tiêu đề ra nếu “quản lý một cách độc lập” Quy hoạch hệ thống KBTTN chú trọng tới mối quan hệ giữa các KBTTN và đặt hệ thống KBTTN trong bối cảnh và mối quan hệ với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa của đất nước Do đó,
hệ thống KBTTN cần đảm bảo đầy đủ các đặc điểm chung, mang tính thống nhất để đảm bảo hiệu quả của mạng lưới KBTTN quốc gia.” KBTTN đơn lẻ nằm trong hệ thống KBTTN quốc gia cần có các đặc điểm sau:
a) Tính toàn diện, đại diện và cân bằng
Các KBTTN “cần được lựa chọn căn cứ vào” giá trị “về đa dạng sinh học của nó, mang tính chất đại diện cho khu vực của đất nước, có tính cân bằng và thể hiện toàn diện ở các mặt như: loài, nguồn gen, sinh cảnh (hệ sinh thái),cảnh quan và cả văn hoá Do đó, cần tiến hành điều tra xác định các kiểu sinhcảnh và đa dạng sinh học với mục đích rà soát, quy hoạch và hình thành các KBTTN đảm bảo tínhtoán diện, đại diện và cân bằng.”
b) Tính đầy đủ
Trang 22KBTTN cần được xem xét và đảm bảo đầy đủ các yếu tố về vị trí, ranh giới và diện tích sau:
+ Khu vực cư trú của các loài động thực vật quý hiếm, quy mô cần thiết để các loài này có thể tồn tại.”
+ Khả năng liên kết “với các KBTTN khác cho phép sự di chuyển, hoạt động của động vật
+ Mối liên “kết với hệ thống tự nhiên và ranh giới KBTTN
+ Khả năng “tổ chức quản lý và phát hiện các tác động tiềm ẩn”
+ Các “mối đe dọa từ bên ngoài và nguy cơ thoái hóa, suy giảm đa dạng sinh học”+ Chi phí “cho việc thành lập KBTTN
c) Tính gắn kết
“KBTTN cần phải có tính gắn kết với các KBTTN trong hệ thống của quốc gia Cần phải tăng cường được cả số lượng diện tích và chất lượng đa dạng sinh học, tính toàn diện cho hệ thống các Khu bảo tồn của đất nước Tránh tình trạng riêng lẻ, độc lập, thành lập KBTTN nhưng không đóng góp được nhiều về giá trị đa dạng sinh học và còn gây lãng phí nguồn lực của nhà nước.”
d) Tính hiệu quả, hiệu suất và công bằng
Việc thành lập “và quản lý KBTTN” cần đảm bảo sự “cân đối giữa chi phí” và lợi ích có được, “và sự công bằng trong phân bổ chi phí” và lợi ích giữa các “bên có liên quan, trong đó” chú trọng đảm bảo lợi “ích của cộng đồng dân cư địa phương” và đồng bào dân tộc “thiểu số Hiệu suất thể hiện ở số lượng” tối thiểu các KBTTN cần có để đảm bảo mục “đích bảo tồn của toàn hệ “thống quốc gia.”
“Thành lập “và quản lý các KBTTN cần” được coi là một “ ”loại hoạt động kinh tế -
xã hội KBTTN “được thành lập nhằm mục đích đem” lại một số lợi ích cho “xã hội và
sự nghiệp bảo” tồn thiên nhiên Do vậy, hoạt động “của các khu BTTN phải bảo đảm
có hiệu quả,” tương xứng với chi phí bỏ “ra và được quản lý sao cho các tác động và lợi ích được” phân bổ và chia sẻ công bằng với “các cộng đồng và các bên có” liên quan.”
1.1.2 Yêu cầu đặt ra với KBTTN
Trang 23(1) Khu BTTN “là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm” ” ,
do đó Khu BTTN phải là vùng đất tự nhiên có dự trữ tài nguyên thiên nhiên và có giá trị đa dạng sinh học cao Trong đó, giá trị đa dạng sinh học cao là sự phong phú
về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái tự nhiên bên trong nó
“Nguồn tài nguyên “đa dạng sinh học trong tự nhiên tập trung ở 3 hệ sinh thái”
(HST) chính là: HST trên cạn (HST rừng), “HST đất ngập nước và HST biển.”Ở nước ta, các hệ sinh thái “của rừng rất đa dạng, mỗi hệ sinh thái rừng” thực chất là một phức hệ rất phức “tạp, được vận hành và chi phối bởi” các quy luật nội vi và ngoại vi “Một số hệ sinh tháirừngnhư: rừng trên núi đá vôi,” rừng rụng lá “và nửa rụng lá, rừng thường xanh núi thấp, núi trung bình, núi cao”, HST ruộng nương, HST đồng cỏ đây là những HST “có giá trị đa dạng sinh học cao” và có ý nghĩa “rất lớn đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học của”nước ta Việt Nam “là đất nước có diện tích rừng lớn” so với diện tích đất “nước, tuy nhiên độ che phủ” lại có “nhiều biến động Theo thống kê của tác” giả Paul” Maurand (1943): “năm 1943 Việt Nam có diện tích rừng là 14,3 triệu hecta, đạt tỷ lệ che phủ lãnh thổ là 43% Từ năm 1943-
1975, diện tích rừng đã bị suy giảm còn 11,2 triệu hecta với tỷ lệ che phủ là 34% (Viện Điều tra quy hoạch rừng, năm 1976) Giai đoạn 1976 đến 1990 là thời kỳ tài nguyên rừng bị khai thác mạnh để phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước sau chiến tranh Diện tích rừng trong giai đoạn này tiếp tục giảm xuống, diện tích rừng năm 1990 chỉ còn chưa đầy 9,2 triệu hecta với tỷ lệ che phủ chỉ đạt 27,8%”
Về HST biển:“Việt Nam có vùng lãnh hải gắn với bờ biển rộng khoảng 226.000 km2 Do vậy hệ sinh thái biển cũng rất phong phú, có 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, có tính đa dạng và năng suất sinh học cao Trong lãnh hải của nước ta đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú Thành phần quần xã trong hệ sinh thái giàu, có cấu trúc phức tạp, thành phần loài phong phú Đây là môi trường sản xuất thuận lợi và rộng lớn có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống của hàng triệu
cư dân sống ven biển của Việt Nam” [3] “
Trang 24Đối với yêu cầu cần có sự phong phú về nguồn gen và loài sinh vật, yêu cầu này thể hiện qua số lượng loài sinh vật, số lượng gen có sẵn tại các KBTTN Đồng thời, để tăng cường tính đa dạng sinh học thì khả năng thuần hóa các loài sinh vật mới, lai ghép để phát hiện ra nguồn gen mới cũng rất cần thiết Theo đánh giá của Jucovski (1970):“Việt Nam là một trong 12trung tâm nguồn gốc giống cây trồng và cũng là trung tâm thuần hóa vật nuôi nổi tiếng thế giới.Các loài cá nuôi có nguồn gốc từ nước ngoài được nhập và thuần dưỡng ở Việt Nam khoảng 50 loài Trong đó
có 35 loài cá cảnh còn lại là các loài cá nuôi lấy thịt Các giống cây trồng ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú Hiện nay đã thống kê được 802 loàicây trồng phổ biến thuộc 79 họ” [8]
(2) Khu BTTN cần có diện tích đủ rộng “để chứa được một hay nhiều hệ sinh thái, trong đó tỷ lệ diện tích cần bảo tồn cao (trên 70%) và có các loài động thực vật đặc hữu, các loài động vật hoang dã quý hiếm Ở nước ta, hệ thống các KBTTN hiện có phân bố rộng khắp trên các vùng sinh thái của đất nước Trong đó có 165 KBT rừng đặc dụng, 16 KBT biển, 45 vùng nước nội địa và nhiều vùng đất ngập nước “Tuy nhiên hệ thống “KBTTN hiện nay có đặc điểm là phần lớn” các khu “rừng đặc dụng đều có diện tích nhỏ, phân bố”còn phân tán Trong số “165 KBT có 31 khu
có diện tích nhỏ hơn 1000 ha,” chiếm 18,7% Các khu “có diện tích nhỏ hơn 10.000
ha là 52 khu,” chiếm 40,6% các khu bảo tồn, “bao gồm VQG 5 khu, 15 khu dữ trữ thiên nhiên,” 9 khu bảo vệ loài, “51 khu bảo vệ cảnh quan.” Chỉ có 15“khu có diện tích
từ 50.000 ha trở lên.” Nhiều khu bảo tồn có “ranh giới còn chưa được xác định rõ ràng, vẫn còn tính trạng tranh chấp,” tính liên kết các “khu yếu, chưa hình thành được các hành lang liên kết,” bên trong diện tích vẫn còn có cả diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư, các KBT nhỏ và có nhiều đặc điểm giống nhau.”
(3) Khu BTTN phải có giá trị về khoa học – giáo dục, du lịch Đây là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu và là môi trường phục vụ cho công tác nghiên cứu để phát hiện ra các loài, nguồn gen mới Kết hợp với khai thác du lịch một cách hợp lý, Khu BTTN vừa đem lại hiệu quả kinh tế vừa đem lại tri thức mới cho đất nước và
xã hội
Trang 25Đối với ngành giáo dục, du lịch, giá trị của KBTTN thể hiện nhiều qua hình thức du lịch sinh tháiđặc thù củanơi đây.“Đây là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, mang tính giáo dục môi trường cao, đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững có sự tham gia của cộng đồng dân cư bản địa Du lịch sinh thái bền vững sẽ đem lại nguồn tài chính phục vụ bảo tồn và cộng đồng địa phương, thúc đẩy các hoạt động giáo dục môi trường làm cho du khách nhận thức được giá trị của thiên nhiên và tôn trọng khu vực họ tham quan và những khu vực khác Hơn nữa, du lịch sinh thái cũng đòi hỏi các hoạt động bảo tồn phải có hiệu quả để thu hút du khách tới tham quan, nâng cao tinh thần trách nhiệm của bộ phận quản lý KBTTN và ý thức của cộng đồng dân cư vùng đệm.”
Đối với ngành khoa học, KBTTN là nơi lưu giữ hàng triệu nguồn gen và các loài động thực vật của hệ sinh thái Là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu đểxây dựng
“và hình thành các “ngân hàng giống bảo tồn” nguồn gen của các loài động “thực vật,
dự trữ lâu dài,” hổ trợ cho công nghệ sinh học “và phát triển nông lâm nghiệp, “phục
vụ cho công tác nghiên cứu khoa học ”
1.2 Các hoạt động sinh kế tại khu vực các xã vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên
Trang 26quan tâm Chính vì vậy,cần có một khu vực bao quanh KBTTN tạo thành một vành đai bảo vệ cho hệ sinh thái rừng giảm thiểu sức ép bên ngoài.”Tuy nhiên, ở nước ta khu vực giáp ranh với các Vườn quốc gia, KBTTN này lại là những khu vực gây áp lực nặng nề tới hệ sinh thái rừng do thói quen phụ thuộc vào rừng từ bao đời nay, nguồn thu nhập chính của họ đều bắt đầu từ rưng Vì vậy, một nhu cầu thực tế đặt ra
là cần giải quyết những khó khăn mà người dân gặp phải nhưng vẫn phải bảo đảm được yêu cầu về bảo tồn rừng của quốc gia Vùng đệm được hình thành chính là để giải quyết các khó khăn đó, với mục đích nhằm nâng cao mức sống cho các cộng đồng dân cư đại phương, tạo ra thêm nguồn thu nhập để họ giảm bớt sức ép lên các kBTTNđồng thờituyên truyền, nâng cao ý thức, động viên họ tham gia vào công tác bảo tồn
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN định nghĩa vùng đệm như sau:
“Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của KBT và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của KBT và chính vùng đệm đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh KBT Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế – xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm” [4]
Theo (D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản – IUCN Việt Nam 1999): “ởcác nước có nền kinh tế phát triển, sinh kế của con người không phụ thuộc vào Khu bảo tồn và người dân có một nhận thức cao về giá trị giải trí, văn hoá, bảo tồn đa dạng sinh học; đồng thời pháp luật được tôn trọng thì vùng đệm được xây dựng và phát triển một cách bình thường, hiếm có các tác động tiêu cực của con người tấn công vào rừng.Ngược lại, các nước có nền kinh tế chưa phát triển, đời sống kinh tế, văn hoá, dân trí thấp, sức ép dân số ngày càng gia tăng, coi thường pháp luật… thì vùng đệm trở nên rất quan trọng Bởi vì sự tồn tại, phát triển hay huỷ diệt đối với Khu bảo tồn phụ thuộc vào nhân dân vùng đệm là chủ yếu” [9]
Ở nước tavùng đệm được định nghĩa như sau: “Vùng đệm của VQG và KBTTN là vùng rừng hoặc vùng đất đai có dân cư nằm sát ranh giới các VQG, các
Trang 27KBTTN được thành lập nhằm giảm áp lực của dân địa phương đối với khu rừng phải bảo vệ nghiêm ngặt Diện tích của vùng đệm không tính vào tổng diện tích của VQG hay KBTTN”.Như vậy, “vùng đệm được xác định nằm ngoài ranh giới KBT, không thuộc KBT
Khái niệm ùng đệm được cũng đã được thể chế hoá trong Quyết định số 08/2001/QĐ – TTg của Chính phủ như sau: “Vùng đệm là vùng rừng hoặc vùng đất đai, mặt nước nằm sát ranh giới với các VQG và Khu BTTN; có tác động ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắt, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ” Như vậy,“vùng đệm được xác định nằm ngoài KBT và không thuộc KBT
1.2.2 Các hoạt động sinh kế tại khu vực các xã vùng đệm
1.2.2.1 Hoạt động canh tác nương rẫy
Canh tác nương rẫy là hình thái nông nghiệp cổ xưa nhất, đó là phương thức
“phát” và “đốt” Vấn đề nương rẫy, canh tác trên đất dốc của đồng bào các dân tộc vùng cao đã hình thành, tồn tại hàng nghìn năm nay và là một loại hình canh tác truyền thống nằm trong hệ sinh thái nông nghiệp của vùng núi đồi Nương rẫy và canh tác trên đất dốc luôn gắn với công tác bảo vệ rừng Trong một chừng mực có thể kiểm soát được thì nương rẫy không làm tăng thêm nguy cơ phá rừng tự nhiên,
mà nó góp phần ổn định tình hình dân cư sinh sống, tạo nguồn lương thực tại chỗ nhằm thực hiện các chính sách của Đảng Tuy nhiên, cho đến những năm gần đây, công tác nương rẫy của đồng bào các dân tộc miền núi cơ bản vẫn nằm ngoài sự quản lý của các cơ quan chức năng Một số diện tích rừng tự nhiên vẫn bị phá để sản xuất lương thực và các loại cây công nghiệp khác
Để thực hiện quản lý đối với hoạt động canh tác nương rẫyđầu tiên cần phải tuyên truyền, vận động bà con áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới vào canh tác để nâng cao năng suất lao động và thu nhập, giảm thiểu áp lực khai hoang đất mới thì
Trang 28mới đạt năng suất cao Do đó, vai trò của các cán bộ hỗ trợ kỹ thuật nông nghiệp (cách thức và quy trình canh tác có hiệu quả, nguồn giống tốt ) và sự quan tâm của các cơ quan chính quyền địa phương là hết sức quan trọng Bên cạnh đó, cần phải quy hoạch, khoanh vùng khu vực canh tác, có thể canh tác và phổ biến tới bà con
để bà con yên tâm sản xuất Cân phải tuyên truyền để một số dân tộc ít người bỏ tập quán du canh du cư vì tập quán này không giúp bà con ổn định kinh tế và đời sống
mà còn gây sức ép lên diện tích rừng cần được bảo vệ
1.2.2.2Hoạt động khai thác gỗ, củi
* Khai thác gỗ:
Việc khai thác gỗ thường hướng tới ba mục đích: một là khai thác gỗ phục vụ nhu cầu làm nhà, bếp, chuồng trại và các đồ dùng sinh hoạt; hai là khai thác gỗ tích trữ để bán; ba là khai thác gỗ thuê cho các ông chủ buôn bán gỗ
Hình thức đầu tiên, người dân thường khai thác gỗ để xây nhà mới, trang bị đồ dùng sinh hoạt và sản xuất Theo như phong tục của một số dân tộc vùng Tây Bắc, khi có con cái lớn cần phải dựng nhà tách hộ cho con, hoặc khi có ma chay cần phải lên rừng đốn gỗ loại to và cứng để làm quan tài Do đó, nhu cầu lấy gỗ của người dân sống quanh các xã vùng đệm của Khu BTTN là rất lớn trong khi thu nhập lại ít nên cách duy nhất là họ sẽ lên rừng khai thác gỗ
Hình thức thứ hai chủ yếu chỉ khai thác các loại gỗ quý hiếm, có giá trị cao và người dân sẽ khai thác khi có cơ hội, gỗ khai thác sẽ được tích lũy trong nhà hoặc dưới ao, trong rừng và bán ra ngoài khi có điều kiện thuận lợi
Hình thức thứ ba là khai thác gỗ thuê cho các đầu nậu Hình thức này diễn ra quanh năm mỗi khi có “điều kiện thuận lợi” và chủ yếu tập trung chủ yếu ở vùng cao Đối tượng được thuê chủ yếu là thanh niên nam giới khỏe mạnh, thông thạo địa hình trên rừng và khai thác bằng những công cụ từ thô sơ cho đến hiện đại
* Khai thác củi:
Chất đốt chủ yếu của người dân sinh sông trong vùng đệm của Khu BTTN chủ yếu là gỗ củi Gỗ củi là loại nhiên liệu không thể thiếu trong cuộc sống sinh
Trang 29hoạt hàng ngày của người dân địa phương Việc sử dụng củi đã trở thành thói quen, tập quán và là nét đặc trưng không thể thiếu của cộng đồng dân tộc người thiểu số Với đặc điểm sống gần rừng, cuộc sống đã gắn bó với rừng từ nhiều đời nay, họ cho rằng sử dụng gỗ làm chất đốt là điều hiển nhiên mà họ được hưởng bởi nó luôn tồn tại quanh họ và là mặt hàng không mất tiền mua Thu lượm củi được thực hiện quanh năm, vào những tháng nông nhàn có khi cả hộ gia đình đều đi lấy củi
Theo nghị định số 117/2010/NĐ-CP về việc tổ chức và quản lý rừng đặc dụng:
“các hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong rừng đặc dụng phải đảm bảo chức năng bảo tồn, duy trì và phát triển sự đa dạng sinh học của rừng, đảm bảo môi trường sống của các loài thực vật rừng, động vật rừng đặc hữu, quý hiếm; loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị cao về khoa học, giáo dục; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, các giá trị cảnh quan, văn hóa, lịch sử và môi trường Thủ tục, biện pháp kỹ thuật khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong rừng đặc dụng phải tuân theo quy chế quản lý rừng theo quy định của Thủ tướng Chính phủ
và hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đối với vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài và sinh cảnh được khai thác, thu dọn, làm
vệ sinh những cây gỗ đã chết, cây gẫy đổ, thực vật rừng trong phân khu dịch vụ hành chính theo quy định của Nhà nước; được tận thu gỗ, củi, thực vật rừng trong phạm vi giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình theo dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; được khai thác, sử dụng bền vững các loài thực vật ngoài gỗ và không thuộc danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm trong phân khu phục hồi sinh thái và phân khu dịch vụ hành chính theo đề án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định” Vì vậy, hoạt động khai thác gỗ cây gỗ còn sống trong KBTTN là vi phạm pháp luật, cần phải ngăn chặn kịp thời Đối với hoạt động khai thác củi, cần tuyên truyền phổ biến để người dân trong quá trình thu lượm không gây cháy rừng đặc biệt là vào các mùa hanh khô Tuyên truyền chỉ khai thác củi đối với các cây đã chết, các khu vực giải phóng mặt bằng để làm công trình xây dựng theo chủ chương của Nhà nước [11]
1.2.2.3 Hoạt động tiêu thụ lâm sản ngoài gỗ, săn bắn động vật rừng
Trang 30Theo tổ chức FAO (1999): “Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ được khai thác từ rừng, đất có cây rừng và cây
ở ngoài rừng” LSNG là một tiềm năng “và đóng vai trò quan trọng trong đời sống của nhân dân, đặc biệt là đối với những người dân sống trong và xung quanh rừng Giá trị kinh tế, xã hội và sinh thái của LSNG thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau như: cung cấp lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho ngành thủ công mỹ nghệ, dược liệu…” Đối với người dân sống gần rừng, họ có thể kiếm được nhiều loại thức ăn ở trong rừng như thịt thú rừng, chim rừng, bò sát, các loại rau, củ, quả, măng, nấm, mọc nhĩ… Người dân chỉ cần phân biệt cây ăn được, không ăn được và mất công săn bắn, thu hái là có thể đủ thức ăn quanh năm, không cần mua sắm Bên cạnh đó, một số LSNG có giá trị được đem bán, bổ sung vào tổng thu nhập của hộ gia đình, đồng thời giúp cải thiện nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người dân
LSNG trước đây được coi là lâm sản phụ nên chưa được quản lý một cách chính thống bằng luật pháp Nhiều công trình khoa học đã chứng minh, ngày nay LSNG có giá trị quan trọng cả về kinh tế, xã hội và môi trường không kém lâm sản chính là gỗ Vì vậy, việc quản lý tài nguyên LSNG phải được chú trọng tương đương với các loại lâm sản khác và phải được đưa chính thức vào Luật Bảo vệ rừng Trong thời gian này, việc khai thác, sử dụng và tiêu thụ các sản phẩm ngoài gỗ cũng phải được kiểm soát chặt chẽ, cần phải phân loại LSNG theo giá trị tổng hợp và có quy hoạch để bảo tồn và phát triển Đối với các loại LSNG quý hiếm đang có nguy
cơ tuyệt chủng, cần tuyên truyền phổ biến đến bà con thông qua các kênh thông tin của chính quyền địa phương giảm hoặc tạm dừng khai thác loại LSNG đó
Cũng như khai thác gỗ và LSNG, săn bắn cũng là một trong những hoạt động khai thác nằm trong phong tục tập quán của người dân sinh sống quanh các Khu BTTN Tất cả các loài thú, rùa, rắn và một số loài chim đều là đối tượng bị săn bắn Những người này săn bắn bằng nhiều cách khác nhau: bằng súng hơi, súng cao
su, bẫy đặt trên mặt đất và bẫy bằng đèn ánh sáng Các loài hiện nay thường bị săn bắt hoặc gài bẫy là các loài thú như chồn, sóc, dúi, cầy, hươu, nai, rắn, rùa và các
Trang 31loài chim Thời điểm săn bắn thường vào mùa khô, khi người dân lên rừng kết hợp
cả khai thác các nguồn lợi khác từ rừng
Đối với hoạt động săn bắn, cần xử lý nghiêm các trường hợp săn bắn các loài thú quý hiếm “có giá trị cao, có nguy cơ tuyệt chủng và nằm trong danh sách cấm săn bắn của Nhà nước Cần kiện toàn, bổ sung khung pháp lý, cơ chế, chính sách về quản lý và bảo vệ các loài đông vật hoang dã (ĐVHD), nhằm bảo đảm tính răn đe
và nghiêm minh của pháp luật “Tăng cường phối hợp liên ngành trong quản lý buôn bán, tiêu thụ ĐVHD.” Đẩy mạnh tuyên truyền” nâng cao nhận thức, phổ biến pháp luật” về bảo vệ ĐVHD tới cộng “đồng dân cư; công khai thông tin” về các vụ vi phạm
và đối “tượng vi phạm trong các vụ buôn bán,” vận chuyển trái phép ĐVHD trên “các phương tiện thông tin đại chúng Đồng thời,” có cơ chế “khen thưởng kịp thời,” nhằm khuyến khích người dân tố “giác vi phạm và các cán bộ” tích trong “việc bắt giữ” các đối tượng buôn bán trái phép ĐVHD
1.2.2.4 Hoạt động chăn nuôi
Chăn thả gia súc trên rừng là thói quen được hình thành từ lâu đời nay của người dân sống trong và gần rừng Các loại gia súc được chăn thả trên rừng chủ yếu
là trâu, bò Trâu, bò được chăn nuôi chủ yếu xuất phát từ nhu cầu sử dụng sức kéo Người dân ở đây quan niệm, trâu, bò sinh sống, tồn tại theo quy luật tự nhiên, chỉ cần ăn cỏ, uống nước suối là sống nên phần lớn các hộ không làm chuồng trại, lán… mà thả rông chúng trên rừng Có 3 hình thức chăn thả chính đó là:
- Chăn dắt, một hình thức chăn thả có kiểm soát của con người
- Chăn dắt kết hợp thả rông, đây là hình thức bán kiểm soát của con người Phần lớn thời gian trong năm trâu, bò được người dân chăn dắt; từ tháng 10 năm trước đến tháng 1 năm sau (thời điểm nông nhàn và đã thu hoạch mùa màng xong) thả rông vào rừng
- Thả rông hoàn toàn, là hình thức ít có sự kiểm soát của con người Trâu, Bò được thả vào rừng ở 3 dạng chính: một là thả rông trong ngày (sáng thả, chiều tối tìm về); hai là thả rông trong một số ngày nhất định thường là 1 tuần mới đi tìm về;
Trang 32ba là thả rông trong một thời gian dài, thường là cả 1 mùa, người dân thỉnh thoảng mới lên rừng kiểm tra và chỉ cho về nhà khi nào cần sức kéo hoặc bán
Để quản lý hoạt động chăn nuôi gia súc ở khu vực vùng đệm, cần phải quy hoạch diện tích chăn thả gia súc: áp dụng cho các xã, thôn ở các vùng phân khu của KBT đểtận dụng các nguồn quỹ đất chưa được sử dụng Với chủ chương quy hoạch hợp lý, chính quyền địa phương và người dân mới có thể có biện pháp xử lý kịp thời khi xảy ra dịch bệnh, thiên tai để đảm bảo đời sống cho bà con
1.2.3 Ảnh hưởng của các hoạt động sinh kế vùng đệm đến bảo tồn TNR
Do khu vực sống ngay tại vùng đệm của các Khu BTTN, các hoạt động sinh
kế của người dân cũng diễn ra ngay tại đây hoặc ngay trong rừng, nguồn thu nhập của họ cũng phụ thuộc rất lớn vào TNR Vì vậy, những tác động của các hoạt động sinh kế tới công tác bảo tồn TNR là trực tiếp, diễn ra hàng ngày Quá trình tác động này đã trải qua nhiều thế hệ, ngay từ khi người dân có mặt và sinh sống ở vùng đệm của các Khu BTTN Đề tài sẽ đề cập tới những ảnh hưởng chủ yếu, mang tính quyết định đến sự bền vững và phát triển đối với công tác quản lý các Khu BTTN Các hoạt động sinh kế ảnh hưởng tới các giá trị sau:
1.2.3.1 Tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng
Tính đa dạng sinh học là sự phong phú về các loài gen, các loài động thực vật
và hệ sinh cảnh Trong quá trình sinh kế của mình, người dân nơi đây là một chủ thể tác động trực tiếp cũng như gián tiếp tơi hệ sinh thái cũng như hệ sinh cảnh của Khu BTTN như các loài sinh vật khác Tùy vào mức độ và hình thức tác động mà giá trị
đa dạng sinh học bị suy giảm, tăng lên hay cân bằng Tuy nhiên, do thói quen sống dựa vào rừng nhiều, các nguồn tài nguyên bị khai thác quá mức để đổi lấy phát triển kinh tế mà hiện nay tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng đang bị tụt giảm nghiêm trọng Chính phủ đã phải ra lệnh đóng cửa rừng khu vực Tây Nguyên vào năm 2016 nhằm chắn đứng nguy cơ chảy máu tài nguyên rừng và có chiến lược dài hơi để rừng phục hồi, tái sinh
1.2.3.2 Giá trị khoa học, du lịch
Trang 33Ngày nay, “giá trị khoa học, du lịch của các Khu BTTN ngày càng được chú trọng và phát triển Các loài cây, nguồn gen mới được phát hiện và đưa vào trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng vào đời sống Có rất nhiều VQG, KBT có nguồn thu từ du lịch rất lớn (VQG Phong Nha Kẻ Bàng, VQG Ba Vì ) Các hoạt động sinh kế của người dân vừa có thể tác động tiêu cực tới giá trị khoa học, du lịch, vừa
có thể có tác động tích cực.” Nếu giá trị đa dạng sinh học bị suy giảm do các hoạt động sinh kế, diện tích rừng bị thu hẹp và không còn các loài động thực vật quý hiếm, cơ hội đưa nguồn tài nguyên này vào khoa học, du lịch càng thu hẹp lại và mất đi một nguồn thu kinh tế lớn Ngược lại nếu ý thức của người dân được nâng cao, với quy hoạch và hỗ trợ bài bản từ các cấp chính quyền thì các hoạt động sinh
kế của người dân kết hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng phong phú sẽ là điểm đến hấp dẫn đối với khách du lịch cũng như các nhà khoa học Một Ví dụ như tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, xung quanh KBTTN Bát Xát là khu vực trồng ruộng bậc thang với quy mô lớn của các hộ gia đình sống quanh khu vực vùng đệm của Khu bảo tồn Giá trị đa dạng sinh học cao với rất nhiều cảnh đẹp tự nhiên núi rừng cũng như cảnh nương ruộng hùng vỹ, phong tục tập quán đặc sắc của người dân nơi đây thu hút rất nhiều khách du lịch tới thăm quan hàng năm
1.2.3.3Nguy cơ suy giảm, tuyệt chủng của các loài động, thực vậtquý hiếm
Chính thói quen săn bắn trên rừng, tận diệt các loài sinh vật mang lại hiệu quả kinh tế cao đã dẫn đến việc tuyệt chủng các loài động vật quý hiếm Năm 2010, cá thể tê giác Java còn lại duy nhất của nước ta đã qua đời khiến Việt Nam trở thành quốc gia tuyệt chủng loài Tê giác Các loài gỗ lớn do thói quen đốn về để làm nhà, mua bán nên ngày càng ít và có rất nhiều loài đã nằm trong sách đỏ của thế giới (Bách tán Đài Loan, Sao đỏ ) Tuy nhiên, các hoạt động sinh kế không hoàn toàn chỉ có những tác động tiêu cực Nếu quản lý tốt, đây sẽ là nguồn lực hỗ trợ với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng trong công tác giám sát, bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm Quá trình thu nhặt củi, gỗ, trồng các loại cây rừng cũng của người dân là nguồn nhân lực nếu được sẽ thực hiện rất tốt công tác tuần tra bảo vệ rừng, khai báo với cơ quan chính quyền nếu có nạn săn bắn, khai thác gỗ
Trang 34trái phép hoặc cháy rừng để giảm nguy cơ tuyệt chủng của các loài động thực vật quý hiếm
1.2.3.4 Diện tích rừng của các Khu BTTN
Đối với các hoạt động chăn nuôi gia súc, làm nương rẫy Có một thực trạng
mà trước đây trong công tác quản lý chúng ta chưa sâu xát được khiến cho tình trạng khai hoang, lấn chiếm diện tích rừng tại các Khu BTTN để làm nương và bãi chăn thả gia súc diễn ra rất phổ biến và cũng không có sự can thiệp, xử lý vi phạm kịp thời của các cơ quan chức năng Khiến cho diện tích rừng ngày càng thu hẹp lại, các ruộng nương ngô, bãi chăn thả này sau nhiều năm không còn khả năng canh tác
bị bỏ hoang trở thành đồi trọc đất trống Đây là một thách thức trước những thói quen canh tác của bà con mà các cơ quan chức năng cần tuyên truyền, vận động và khuyến khích bà con áp dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp để tận dụng được tài nguyên đất trước đây Chỉ có canh tác nông, lâm nghiệp một cách hiệu quả, áp dụng khoa học kỹ thuật thì diện tích rừng mới được gìn giữ, giảm bớt sự phụ thuộc của người dân vào TNR
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa sinh kế và bảo tồn TNR
Qua những phân tích ảnh hưởng của sinh kế tới bảo tồn TNR ở trên, ta có thể thấy hoạt động sinh kế của người dân là hoạt động kinh tế - xã hội và tác động tới
hệ thống tự nhiên theo quy luật của vận động
Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế, bởi vì mức độ tác động của người dân gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người như sử dụng đất rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc, khai thác LSNG Sự tác động này phụ thuộc vào sinh kế, mức sống, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận trước mắt và hiệu quả kinh tế đem lại thường quyết định đến hình thức sử dụng TNR của người dân địa phương Ngược lại, mức
độ giàu có và đa dạng của TNR “cũng tác động mạnh mẽ đến nguồn thu của người dân Chính vì mối quan hệ chặt chẽ giữa những tác động của người dân địa phương đến TNR với các yếu tố nêu trên nên có thể làm giảm thiểu tác động bất lợi tới TNR
Trang 35bằng cách tác động vào những yếu tố kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ cũng như pháp luật Đây là lý do đề tài chia ra các nhân tố ảnh hưởng tới mối quan hệ này theo bốn nhân tố kinh tế, xã hội, quản lý và thể chế và cuối cùng là khoa học công nghệ, từ đó để nghiên cứu và tìm ra các đề xuất, giải pháp để giảm thiểu các tác động tiêu cực, phát huy các tác động tích cực giúp cho công tác bảo tồn TNR ngày”một hiệu quả hơn
Trang 36Bảng 1.1 Các nhân tố ảnh hường tới mối quan hệ của sinh kế và bảo tồn TNR
Các hoạt động sinh kế ảnh hưởng tới bảo tồn TNR
Nhân tố Kinh tế Nhân tố xã hội Nhân tố quản lý và thể chế Nhân tố KH-CN
&
khả năng đáp ứng tiền mặt
Nhu cầu
sử dụng
gỗ, chất đốt
Nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa tăng thu nhập
Vốn đầu tư vào sản xuất
Cơ hội sinh
kế của cộng đồng
Gia tăng dân
số
Phong tục, tập quán
Chênh lệch mức sống giữa các cộng đồng
Cơ cấu sử dụng đất đai
Công tác QLBVR của KBTTN
Chính sách
hỗ trợ vùng đệm của
cơ quan Nhà nước
Sự phối hợp QLBVR giữa các
tổ chức ở địa phương
Kỹ thuật sản xuất
Công tác khuyến nông, lâm
Trang 371.2.4.1 Nhân tố kinh tế
Nhân tố kinh tế là nhân tố đầu tiên tác động tới mối quan hệ giữa sinh kế và công tác bảo tồn tài nguyên rừng Tại các khu vực vùng đệm, cơ cấu thu nhập thường không cân đối, phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, nguồn thu từ khai thác các tài nguyên từ rừng.Tuy nhiên trong số đó, chỉ một số hộ gia đình có nguồn thu nhập cao, không còn phụ thuộc quá nhiều vào tài nguyên rừng nhờ biết cách áp dụng kỹ thuật vào canh tác, chăn nuôi tuy nhiên phần lớn số hộ gia đình có thu nhập thấp thường xuyên phải khai hoang, xâm lấm diện tích rừng để làm nông nghiệp và sống phụ thuộc hoàn toàn vào rừng Do đó, tác động của họ tới rừng là rất lớn và vì không có kỹ thuật, muốn có lợi ích cao nên tác động của các hoạt động sinh kế này chủ yếu mang tính tiêu cực Với nguồn thu nhập thấp, trong khi các hộ dân của khu vực vùng đệm phải đối mặt với rất nhiều nhu cầu kinh tế đó là nhu cầu về lương thực thực phẩm, nhu cầu về sử dụng chất gỗ, chất đốt Tập quán sinh nhiều con cái khiến cho nhu cầu lương thực, thực phẩm sử dụng của các hộ gia đình cũng nhiều hơn, sử dụng nhiều chất đốt hơn nên hệ lụy là họ phải lên rừng săn bắn, khai thác nhiều lầm sản và thậm chí sẵn sàng vi phạm pháp luật để săn bắn “các loài động vật hoang dã quý hiếm, khai thác các loài gỗ quý có giá trị kinh tế cao Với vai trò quản
lý của mình, Nhà nước và các cơ quan chính quyền địa phương cần có những biện pháp để dần có thể cân bằng cơ cấu thu nhập cho người dân Khi thu nhập ổn định, sinh kế được phát triển theo hướng bền vững, sức ép lên tài nguyên rừng từ các hoạt động sinh kế của người dân sẽ giảm.”
Một yếu tố nữa đó là nhu cầu và khả năng đáp ứng tiền mặt còn hạn chế của cộng đồng dân cư vùng đệm Nhu cầu tiền mặt để chi trả cho các nhu cầu sinh hoạt, chi trả tiền học, tiền ốm đau đột xuất hay xảy ra trong khi người dân lại thường không có nhiều tiền mặt dẫn đến việc họ phải lên rừng khai thác các nguồn lợi từ rừng đế có tiền phụ vụ cho nhu cầu cấp bách của mình Khả năng đáp ứng tiền mặt chênh lệch nhiều với nhu cầu tiền mặt của người dân là một áp lực rất lớn đối với đời sống của họ và là một trong những nguyên nhân gây ra ảnh hưởng tiêu cực Để
bù vào lượng thiếu hụt tiền mặt, người dân cần có nhiều giao dịch mua bán, trao đổi
Trang 38hàng hóa với bên ngoài hay các thị trường khác nhưng đây cũng là một điểm khó khăn khi địa hình của khu vực vùng đệm thường cách xa vùng trung tâm buôn bán, văn hóa, giao thông đi lại rất khó khăn Đối với các hộ nông nghèo thì lựa chọn buôn bán, trao đổi hàng hóa của họ rất hạn chế
Vốn đầu tư vào sản xuất cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mỗi quan hệ giữa sinh kế và bảo tồn Thiếu vốn, người dân sẽ không thể đầu tư vào các hình thức sinh kế mới mang tính bền vững hơn Họ chỉ có thể thực hiện các hoạt động sinh kế không cần vốn như thu lượm củi, khai thác gỗ, làm thuê cho các đầu nậu khai thác gỗ, săn bắn đây là những công việc có nhiều tác động tiêu cực đến tài nguyên rừng và đa dạng sinh học Chỉ khi có nguồn vốn để đầu tư vào các hình thức sinh kế bền vững khác, sức ép lên rừng của công đồng dân cư vùng đệm mới được giảm xuống Thậm chí một số loại hình sinh kế như du lịch sinh thái, nuôi trồng và thuần hóa các giống loài mới có hiệu quả kinh tế cao còn giúp cho công tác bảo tồn thực hiện tốt hơn, giá trị đa dạng sinh học của các KBTTN ngày một cao hơn
1.2.4.2 Nhân tố xã hội
Gia tăng dân ở các khu vực vùng đệm của các KBTTN là áp lực ngày càng lớn lên hệ sinh thái rừng Do trình độ dân trí còn thấp, các hộ gia đình thường cho con cái kết hôn từ khi còn chưa đủ tuổi vị thành niên Điều này dẫn đến việc không có kiến thức cũng như ý thức thực hiện sinh đẻ kế hoạch, một gia đình có quá nhiều con thì nhu cầu vê lương thực, thực phẩm, tiền mặt, nhu cầu về chất đốt, gỗ càng nhiều hơn trong khi trữ lượng rừng ngày càng cạn kiệt, sinh kế của người dân còn chưa ổn định Cơ hội sinh kế của người dân quanh khu vực vùng đệm thường ít hơn so với các khu vực khác như thành thị, nông thôn vì lý do nơi đây có vị trí địa lý xa trung tâm buôn bán, địa hình đồi núi phức tạp và giao thông không thuận lợi Do đó khả năng tiếp cận với các nguồn lực, khoa học kỹ thuật và tri thức cũng khó khăn hơn
Một yếu tố khác nữa đó là phong tục tập quán của cộng đồng dân cư vùng đệm còn lạc hậu Một số dân tộc người Mông đỏ, Mông đen của vùng Tây Bắc nước ta chỉ sinh sống ở khu vực núi cao, hiểm trở và ngay sát chân rừng đặc dụng để thuận tiện cho việc làm nương ngô, nuôi dê Vì vậy việc tiếp cận nơi sinh sống của người
Trang 39dân tộc này rất khó khăn, người dân chủ yếu tự cung tự cấp các nhu cầu thiết yếu của mình, kỹ thuật thâm canh lạc hậu Những khó khăn nêu trên dẫn đến việc chênh lệch về mức sống giữa các dân tộc khu vực vùng đệm; họ hài lòng với mức sống có ngô ăn ngô có gạo ăn gạo, không có nhu cầu tiết kiệm, tiếp cận với tri thức, nâng cao mức sống của mình
1.2.4.3 Nhân tố quản lý và thể chế
Chính “sách quản lý và thể chế là công cụ của Nhà nước nhằm hỗ trợ, định hướng cho phát triển sinh kế vùng đệm một cách bền vững và hiệu quả Trong đó, bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa sinh kế và bảo tồn tài nguyên rừng là cơ cấu sử dụng đất, công tác quản lý bảo vệ rừng của ban quản lý KBTTN, chính sách hỗ trợ vùng đệm của cơ quan Nhà nước,sự phối hợp quản lý bảo vệ rừng của các cơ quan chính quyền địa” phương
Cơ cấu sử dụng “đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở và đất sử dụng mục đích khác cần được quy hoạch hợp lý, rõ ràng và phổ biến tới cộng đồng người dân Vì đất đai là tiền đề đầu tiên của mọi quá trình sản xuất, là tư liệu sản xuất đặc biệt; đối với người nông dân đất đai mang ý nghĩa to lớn, là tư liệu sản xuất không thể thay thế Số lượng diện tích đất đai đưa vào canh tác bị giới hạn bởi không gian nhất định Không phải tất cả diện tích đất tự nhiên đều đưa vào canh tác được, tùy thuộc điều kiện đất đai, địa hình mà diện tích đất nông nghiệp đưa vòa canh tác chỉ chiếm một
tỷ lệ nhất định Ở khu vực vùng đệm của các KBTTN, diện tích đất lâm nghiệp chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu đất đai, đặc biệt là gấp nhiều lần diện tích đất nông nghiệp nhưng lại chiếm một tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu đất đai của hộ gia” đình
Công tác “quản lý bảo vệ rừng của ban quản lý KBTTN đóng vai trò rất quan trọng đối với mối quan hệ giữa sinh kế và bảo tồn Ban quản lý KBTTN là cơ quan nhà nước gần cộng đồng nhất, có trách nhiệm giám sát, hướng dẫn cộng đồng thực hiện bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái Vì vậy, Ban quản lý KBTTN có thực hiện đầy đủ, đúng vai trò của mình, nghiêm mình đối với mọi đối tương, trong mọi trường hợp mới có thể khiến người dân bỏ những hình thức sinh kế tác động tiêu cực tới tài nguyên rừng, vi phạm pháp luật của Nhà nước Cùng với đó, sự phối hợp
Trang 40giữa KBTTN, chính quyền địa phương, các cơ quan hỗ trợ phi chính phủ cần chặt chẽ và kịp thời Tránh tình trạng đùn đấy trách nhiệm, không phối hợp dẫn đến không quản lý được rừng, xảy ra vi phạm nhưng không thể xử lý, gây mất niềm tin của cộng đồng và không đủ mức răn đe đối với các đối tượng gây tác động tiêu cực tới tài nguyên” rừng
Sự hỗ trợ của Chính phủ cho cộng đồng dân cư vùng đệm chính là nguồn lực giúp cộng đồng dân cư nơi đây phát triển sinh kế bền vững, bảo tồn được tại nguyên rừng tại nơi mình sinh sống Chính phủ có thể hỗ trợ bằng tiền mặt, hỗ trợ kỹ thuật phát triển sinh kế, tuần tra bảo vệ rừng Tuy nhiên, để đảm bảo nguồn lực này có hiệu quả cần có sự tham gia của các cơ quan ban ngành chức năng và cộng đồng dân cư một cách nghiêm túc, không để xảy ra tình trạng tham nhũng, thất thoát lãng phí
1.2.4.4 Nhân tố khoa học – công nghệ
Khoa học công nghệ là một trong những nhân tố quyết định đến năng suất và hiệu quả canh tác Với trình độ kỹ thuật cao, năng suất lao động của người dân cũng được nâng cao, tránh được các rủi do và tăng thêm thu nhập Công tác khuyến nông, khuyến lâm cho cộng đồng dân cư vùng đệm cần đưa ra những kỹ thuật khoa học phù hợp, áp dụng hiệu quả cho các mô hình sinh kế nơi đây để người dân đạt được sinh kế bền vững, giảm bớt phụ thuộc vào tài nguyên rừng