Nội dung của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cũng sẽ được kế thừa và có điều chỉnh cho phù hợp với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trong cơ sở đào tạo bồi dưỡng tr
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC Ở CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO BỒI DƢỠNG TRỰC THUỘC BỘ
Mối quan hệ giữa học tập của người trưởng thành và đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trực thuộc Bộ
Ở mục này, luận văn làm rõ ba nội dung: Đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức ở các cơ sở đào tạo bồi dưỡng cán bộ trực thuộc bộ, Học tập của người trưởng thành, Yêu cầu đối với đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức
1.1.1 Đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức ở các cơ sở đào tạo bồi dưỡng cán bộ trực thuộc bộ
Tại khoản 2 Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”
Tại Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”
Tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức mà Bộ Nội vụ đang trình Quốc Hội năm 2019, khái niệm công chức đang được chỉnh sửa như sau:
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”
Tại dự thảo mới này khái niệm viên chức được giữ nguyên Điểm mới ở dự thảo đó là sửa đổi khái niệm “vị trí việc làm” của viên chức là “công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng trong đơn vị sự nghiệp công lập, là căn cứ để xác định số lượng người làm việc, thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và trả lương đối với viên chức”
Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng có nhiều cách biểu đạt khác nhau, có một cách dễ hiểu về đào tạo và bồi dưỡng đó là đào tạo là thực hiện chương trình, khóa học dài hạn (đại học, sau đại học) mà văn bản chứng minh hoàn thành là văn bằng cử nhân, thạc sỹ, tiến sĩ… còn bồi dưỡng là thực hiện khóa học ngắn hạn nhằm nâng cao nghiệp vụ (theo ngạch, theo chức danh, theo vị trí công tác…) và kết quả là chứng nhận, chứng chỉ Tuy nhiên, khái niệm đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức dẫn đến việc phải làm rõ thế nào là đào tạo cán bộ, công chức, viên chức và thế nào là bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức Các văn bản quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức hiện nay chưa đưa rõ ra khái niệm và phân biệt giữa hai khái niệm này vì hiện nay đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức đều đang là những hoạt động mà ngân sách nhà nước phải chi trả
Ngày 5/3/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức Tại nghị định này khái niệm đào tạo và bổi dưỡng được hiểu như sau: Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc
Trong các văn bản về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức, đào tạo và bồi dưỡng hay được sử dụng và sắp xếp bên cạnh nhau Vì thế có thể hiểu đào tạo bồi dưỡng chính là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp bậc đào tạo, đồng thời vừa trang bị, cập nhật, rèn luyện để nâng cao kiến thức, kỹ năng cần thiết cho một đối tượng học tập
Mục tiêu của đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức: phát triển năng lực cho cán bộ, công chức thông qua việc thực hiện một loạt các hoạt động nhằm xác định những “khoảng trống” trong năng lực của cán bộ, công chức để “lấp đầy”, đồng thời xác định được những năng lực cần có trong giai đoạn tiếp theo nhằm giúp họ thực hiện tốt nhiệm vụ
Nguyên tắc của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức theo Nghị định số 101/2017/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức “là phải căn cứ vào tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; vị trí việc làm; gắn với công tác sử dụng, quản lý cán bộ, công chức, viên chức, phù hợp với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị”
1.1.1.3 Nhiệm vụ của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trực thuộc Bộ
Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trực thuộc Bộ là Trường của cơ quan nhà nước Theo Điều 49 Luật Giáo dục năm 2005 đã chỉ rõ “Trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức” Bên cạnh đó, Nghị định số 125/2011/NĐ-CP ngày 30/12/2011 của Chính phủ quy định về trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân đã chỉ rõ các Trường đào tạo, bồi dưỡng của tổ chức chính trị, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội là đơn vị sự nghiệp công lập có 4 nhiệm vụ và quyền hạn:
Thứ nhất: Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động khác theo mục tiêu, chương trình đào tạo, bồi dưỡng do cấp có thẩm quyền giao; cấp văn bằng, chứng chỉ theo quy định
Thứ hai: Tổ chức nghiên cứu khoa học; tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận làm cơ sở khoa học phục vụ công tác hoạch định đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; tham gia giải quyết các vấn đề về kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh của địa phương và đất nước
Thứ ba: Thực hiện quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật
Thứ tư: Các nhiệm vụ và quyền hạn khác do người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp hoặc Thủ trưởng cơ quan chủ quản của Trường quy định theo quy định của pháp luật
Hoạt động đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức tại cơ sở đào tạo bồi dưỡng trực thuộc Bộ
sẽ chịu tác động mạnh mẽ và toàn diện của nó Triết lý giáo dục của các quốc gia sẽ có nhiều biến chuyển Quản trị trường học, mô hình tổ chức lớp học, vai trò của thầy và trò sẽ thay đổi bởi sự xuất hiện của nhiều khái niệm mới như phòng học ảo, thầy giáo ảo, thiết bị ảo
Hiện nay, Nhà nước đang triển khai xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, việc giữ một hình thức đào tạo bồi dưỡng truyền thống tập trung đào tạo thông qua tổ chức lớp học sẽ không còn khả thi và tiện lợi Vì thế hoạt động đào tạo bồi dưỡng trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải đa dạng hóa hình thức đào tạo
Ngoài hình thức đào tạo truyền thống: Đào tạo tập trung (tổ chức lớp học), bán tập trung … thì hình thức đào tạo trực tuyến: quá trình học tương tác thông qua việc sử dụng máy tính và các kỹ thuật truyền thông để đào tạo và học tập Nội dung đào tạo được truyền tải bằng phương tiện điện tử qua trình duyệt web, thông qua mạng Internet/Intranet hay qua các hình thức khác như CD-ROM, nội dung theo yêu cầu hay lớp học ảo cũng phải được phát triển, áp dụng song song với hình thức đào tạo truyền thống
1.2 Hoạt động đào tạo bồi dƣỡng công chức, viên chức tại cơ sở đào tạo bồi dƣỡng trực thuộc Bộ
Theo định nghĩa của Uỷ ban Nhân lực của Anh, hoạt động đào tạo bồi dưỡng công chức viên chức là: một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức hoặc kỹ năng thông qua việc học tập rèn luyện để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hay trong một loạt các hoạt động nào đó Mục đích của nó, xét theo tình hình công tác ở tổ chức, là phát triển nâng cao năng lực cá nhân và đáp ứng nhu cầu nhân lực hiện tại và tương lai của cơ quan
Từ khái niệm trên có thể hiểu hoạt động đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức là quá trình tổ chức thực hiện các hoạt động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để đạt được mục tiêu của đào tạo bồi dưỡng
Các hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong tổ chức một khóa đào tạo bồi dưỡng là: xác định nhu cầu và thiết kế chương trình đào tạo bồi dưỡng; xây dựng kế hoạch; tổ chức thực hiện đào tạo bồi dưỡng và đánh giá hoạt động đào tạo bồi dưỡng
Hình 1.3 Mối quan hệ giữa các hoạt động trong đào tạo bồi dƣỡng
Nguồn: Tác giả tổng hợp Để cụ thể hóa nội dung hoạt động trong đào tạo, bồi dưỡng ta có bảng 1.2 dưới đây:
Tổ chức thực hiện ĐTBD
Xác định nhu cầu ĐTBD Đánh giá hoạt động ĐTBD
Bảng 1.2: Mục tiêu của các hoạt động trong đào tạo bồi dƣỡng
Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
Xác định kiến thức, kỹ năng cần thiết cho vị trí công việc
Xác định những kiến thức, kỹ năng cần thiết mà công chức, viên chức hiện có
Xác định kiến thức, kỹ năng còn thiếu của công chức, viên chức đối với vị trí công việc
Xác định đúng những thiếu hụt đó
Cần tổ chức khóa học nào để khắc phục những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng cho công chức, viên chức
Xây dựng kế hoạch Xác định mục tiêu kế hoạch, nội dung là gì, ai thực hiện, thời gian và địa điểm tiến hành, cách thức thực hiện, kinh phí, kiểm tra đánh giá như thế nào?
Tổ chức thực hiện đào tạo, bồi dưỡng
Xác định được khi tổ chức có những hoạt động cụ thể nào? Phân công phối hợp như thế nào cho có hiệu quả? Tổ chức sao cho chi phí phù hợp để kết quả cao? Đánh giá hoạt động đào tạo bồi dưỡng
Xác định hoạt động đào tạo bồi dưỡng có đạt mục tiêu không? Nội dung chương trình có phù hợp không? Giảng viên có đáp ứng được yêu cầu không? Học viên có tham gia vào quá trình đào tạo bồi dưỡng không? Công tác tổ chức có tốt không? Học viên học được những gì và họ có áp dụng được những điều đã học vào thực tế Hiệu quả của chương trình đào tạo, bồi dưỡng
Nguồn: Tác giả tổng hợp
1.2.2 Nội dung của hoạt động đào tạo bồi dưỡng
1.2.2.1 Xác định nhu cầu đào tạo bồi dưỡng
Xác định nhu cầu đào tạo bồi dưỡng là bước cơ bản, quan trọng để xác định xem công chức, viên chức cần đào tạo bồi dưỡng cái gì, loại năng lực nào cần và loại nào không cần đào tạo bồi dưỡng
Nhu cầu đào tạo bồi dưỡng = Năng lực cần có của công chức viên chức – Năng lực hiện có của công chức viên chức
Nhu cầu đào tạo là khoảng cách giữa năng lực cần có và năng lực hiện có để thực hiện có chất lượng công việc Để xác định được nhu cầu đào tạo cần phải xác định rõ đối tượng đào tạo bồi dưỡng trước khi đánh giá nhu cầu Xác định nhu cầu đào tạo bồi dưỡng theo mô hình đào tạo năng lực được thực hiện trên cơ sở phân tích và mô tả vị trí việc làm, gắn với cá nhân và vị trí làm việc của cá nhân đó Phải xác định rõ đối tượng đào tạo bồi dưỡng để tiến hành phân tích và so sánh với mô tả vị trí việc làm nhằm xác định được điểm thiếu hụt năng lực của cá nhân
Xác định nhu cầu đào tạo là quá trình thu thập và xử lý thông tin nhằm xác định khoảng cách giữa năng lực cần có và năng lực hiện có để thực hiện công việc có chất lượng Xác định rõ đối tượng đào tạo, cần xác định trên cơ sở chức danh Việc xác định đối tượng càng cụ thể bao nhiêu thì việc đánh giá nhu cầu đào tạo càng chính xác bấy nhiêu Để bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy của thông tin, cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như: Đối tượng đào tạo (người thực thi công việc), Người liên quan (bao gồm: nhà quản lý cấp trên, nhân viên cấp dưới (nếu có), đồng nghiệp, khách hàng (đối tượng phục vụ), những người có hiểu biết sâu về công việc của đối tượng đào tạo: chuyên gia, giảng viên, các nhà quản lý đào tạo, các cán bộ quản lý nguồn nhân lực…) Việc tổng hợp và phân tích dữ liệu cho phép xây dựng khung năng lực cho đối tượng đào tạo, xác định khoảng cách năng lực, xác định quy mô và phương thức đào tạo
Sau khi xác định được nhu cầu đào tạo bồi dưỡng từ đó xây dựng chương trình, tài liệu bồi dưỡng phù hợp Yêu cầu đối với các chương trình,tài liệu bồi dưỡng đó là phải được xây dựng theo lý thuyết chuỗi kết quả, phải xuất phát từ tiêu chuẩn “năng lực” của người học để xác định những nội dung, cách thức đào tạo, bồi dưỡng Phải có mục tiêu rõ ràng, cụ thể; có cấu trúc hợp lý, được thiết kế có hệ thống đáp ứng yêu cầu của chế độ đào tạo, bồi dưỡng quy định Xây dựng theo quy trình khoa học, theo thông lệ quốc tế, nhất là phải bảo đảm sự tham gia của các đối tượng tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng trong tương lai
1.2.2.2 Xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng
Xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cần làm rõ được những nội dung sau: + Mục đích tổng thể
+ Các mục tiêu cụ thể
+ Đối tượng: đối tượng học viên, tiêu chuẩn học viên tham gia đào tạo bồi dưỡng
+ Nội dung chính (các chủ đề)
+ Người dạy: giảng viên, báo cáo viên, cộng tác viên…
+ Hỗ trợ đối với việc học tập, trang thiết bị
+ Phương pháp đào tạo bồi dưỡng
+ Các kết quả, tiêu chí cần đạt
Một kế hoạch đào tạo bồi dưỡng khả thi thì các mục tiêu phải xây dựng theo kỹ thuật SMART: Specific – Cụ thể, Measurable – đo lường được, Achievable – có thể đạt được, vừa sức, Realistic – Thực tiễn, khả thi, Time-bound – thời hạn
1.2.2.3 Tổ chức thực hiện đào tạo bồi dưỡng
Sau khi xây dựng được kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, việc triển khai và tổ chức đào tạo bồi dưỡng để người học đạt hiệu quả cao nhất đóng vai trò quan trọng trong hoạt động đào tạo bồi dưỡng công chức viên chức Tổ chức đào tạo bồi dưỡng phải phù hợp với kế hoạch đào tạo bồi dưỡng đã xây dựng Để thực hiện kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cần phân tích kế hoạch đào tạo bồi dưỡng thành các công việc cụ thể: từ ra quyết định tổ chức khóa học, triệu tập học viên, in ấn tài liệu, mời giảng viên, tổ chức chọn địa điểm, điều phối chương trình, theo dõi các hoạt động giảng dạy, chi phí thanh toán, đánh giá, báo cáo sơ tổng kết, thanh quyết toán
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC TẠI TRƯỜNG ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI TỪ NĂM 2015 ĐẾN NAY
Tổng quan chung về Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Lao động - Xã hội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội là đơn vị sự nghiệp, phục vụ chức năng quản lý nước của Bộ và thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy định tại Nghị định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ từ năm 2010 Giai đoạn trước 2015, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Bộ được đặt tại Trường Đại học Lao động - Xã hội
Từ ngày 01/3/2015, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội được chính thức thành lập và đi vào hoạt động theo Quyết định số 244/QĐ- BLĐTBXH ngày 02/02/2015 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội Năm 2018, Bộ ban hành Quyết định số 762/QĐ-LĐTBXH ngày 18/6/2018 quy định lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trường, thay thế Quyết định 244
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ
Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, có chức năng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước, kiến thức pháp luật, kiến thức quản lý chuyên ngành, chuyên môn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực lao động, người có công và xã hội đối với cán bộ, công chức, viên chức của Ngành Lao động - Thương binh, xã hội; nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng
Trường có nhiệm vụ xây dựng chương trình, kế hoạch dài hạn và hàng năm về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, tổ chức thực hiện sau khi được Bộ phê duyệt Biên soạn chương trình, tài liệu bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức ngành Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy định
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng các chương trình như: chương trình quản lý nhà nước bổ nhiệm đối với chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp phòng và tương đương; chương trình quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch cán sự và tương đương, ngạch chuyên viên và tương đương, ngạch chuyên viên chính và tương đương; theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; theo yêu cầu của vị trí việc làm, kiến thức, kỹ năng chuyên ngành đối với cán bộ, công chức, viên chức của Bộ, của ngành theo quy định Trường tổ chức bồi dưỡng cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng hành chính, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành, hội nhập quốc tế thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho cán bộ, công chức, viên chức ngành Lao động - Thương binh và Xã hội Ngoài ra còn tổ chức các lớp tập huấn, cập nhật kiến thức, pháp luật có liên quan quản lý nhà nước của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học, kiến thức khác cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động
Hợp tác, liên kết với các tổ chức liên quan trong và ngoài nước để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức, viên chức của Bộ, của ngành và cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan, đơn vị khác có nhu cầu Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, cung cấp các dịch vụ về đào tạo, bồi dưỡng theo chức năng, nhiệm vụ được giao và quy định của pháp luật
Ngoài ra, với tư cách một đơn vị độc lập, Trường thực hiện quyền tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý của Bộ; quản lý tài chính, tài sản, nhân sự được giao theo quy định của Nhà nước và của Bộ
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy
Về cơ cấu tổ chức, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động – xã hội gồm Ban Giám hiệu (Hiệu trưởng và 02 Phó hiệu trưởng) cùng 4 phòng chức năng (Tổ chức – Hành chính, Quản lý Đào tạo, Tài chính – Kế toán, Hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học) và 03 khoa (Quản lý hành chính nhà nước, Bồi dưỡng lãnh đạo quản lý, Bồi dưỡng chuyên ngành)
Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trường
Nguồn: Quyết định số 762/QĐ-LĐTBXH ngày 19/6/2018 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Lao động –
Tổng số cán bộ, viên chức của Trường hiện tại là 27 người trong đó có 02 tiến sĩ, 03 nghiên cứu sinh, 13 thạc sỹ, 07 cử nhân và 02 trình độ khác
Khoa Quản lý hành chính nhà nước
Khoa Bồi dưỡng chuyên ngành
Khoa Bồi dưỡng lãnh đạo quản lý
Phòng Hợp tác quốc tế và Nghiên cứu khoa học
Phòng Quản lý Đào tạo
Tiến sĩ Nghiên cứu sinh
Tiến sĩ Nghiên cứu sinh Thạc sĩ Cử nhân Khác
Hình 2.2: Trình độ đội ngũ công chức, viên chức của Trường
Nguồn: Tác giả tổng hợp
2.2 Thực trạng hoạt động đào tạo bồi dƣỡng công chức, viên chức tại Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động – xã hội giai đoạn
Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động – xã hội từ khi thành lập năm 2015 đến nay đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên chức của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội nói riêng và ngành Lao động – Xã hội nói chung Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của Trường gồm các khóa đào tạo bồi dưỡng trong ngân sách và các khóa đào tạo bồi dưỡng ngoài ngân sách
Khóa đào tạo bồi dưỡng trong ngân sách là các khóa đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên chức của Bộ theo kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm
Bộ phê duyệt Căn cứ vào nhu cầu của các đơn vị và công chức, viên chức của Bộ cùng với nguồn ngân sách được Bộ cấp mỗi năm cho đào tạo công chức, viên chức mà Trường lên kế hoạch và tổ chức các khóa đào tạo này, gọi chung là khóa đào tạo trong ngân sách.
Thực trạng hoạt động đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức tại Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động – xã hội giai đoạn 2015 đến nay
Mặc dù các khóa đào tạo bồi dưỡng có những đặc thù khác nhau về thời gian, kinh phí … nhưng hoạt động đào tạo bồi dưỡng của Trường đều được tổ chức với một quy trình thống nhất chung nhằm đảm bảo tính khoa học và dễ quản lý, giám sát
2.2.1 Tình hình thực hiện hoạt động đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức
Quy trình tổ chức và quản lý các khóa đào tạo, bồi dưỡng của Trường quy định thống nhất trình tự, cách thức lập kế hoạch và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng các lớp do Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động – xã hội tổ chức Quy trình gồm 5 bước như sau:
Hình 2.3: Quy trình tổ chức hoạt động đào tạo bồi dưỡng của Trường
Nguồn: Quy trình tổ chức hoạt động đào tạo bồi dưỡng của Trường ĐTBDCBCCLĐXH
Bước 2: Xây dựng kế hoa ̣ch tổ chức lớp Bước 1: Xây dựng kế hoa ̣ch đào ta ̣o, bồi dưỡng
Bước 3: Triển khai thực hiện
Bước 4: Chấm thi và cấp chứng chỉ
Bước 5: Tổng kết khóa đào tạo, lưu hồ sơ
Bước 1: Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
Các Phòng/Khoa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và năng lực của cán bộ, giảng viên xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng gửi về Phòng Quản lý Đào tạo để tổng hợp kế hoạch của các đơn vị trình Ban Giám hiệu phê duyệt
Bước 2: Xây dựng kế hoa ̣ch tổ chức lớp
Căn cứ kế hoạch đào tạo được phê duyệt và sự phân công nhiệm vụ của Ban Giám hiệu, đơn vị được giao chủ trì phối hợp với các đơn vị trong và ngoài Trường xây dựng kế hoạch chi tiết tổ chức lớp/khóa đào tạo, bồi dưỡng, dự kiến phân công nhiệm vụ phối hợp giữa các Phòng/Khoa trong Trường và các đơn vị liên quan ngoài Trường (nếu có)
Bước 3: Triển khai thực hiện
Sau khi có Quyết định mở lớp và công văn triệu tập hoặc công văn chiêu sinh, đơn vị chủ trì thực hiện các nội dung như kế hoạch đã xây dựng Phối hợp với các phòng/ban có liên quan để thực hiện các hoạt động tổ chức đào tạo, bồi dưỡng Bước 4: Chấm thi và cấp chứng chỉ Đơn vị được giao chủ trì gửi các điều kiện cần để cấp chứng nhận/chứng chỉ về Phòng Quản lý Đào tạo Phòng Quản lý Đào tạo sẽ kiểm tra, rà soát và tiến hành cấp giấy chứng nhận/chứng chỉ hoàn thành chương trình, khóa học cho các học viên theo quy định
Bước 5: Tổng kết khóa đào tạo, lưu hồ sơ
Khi kết thúc khóa học, đơn vị được giao chủ trì chuyển các hồ sơ khóa học về phòng Quản lý Đào tạo lưu trữ Phòng Quản lý Đào tạo lưu hồ sơ các khóa (lớp) học trong năm và chuyển hồ sơ lên kho lưu trữ hồ sơ của Trường khi kết thúc năm 2.2.1.1 Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của Trường
Phòng/Khoa xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của năm sau gửi về Phòng Quản lý Đào tạo trước ngày 30/7 (đối với các lớp/khóa trong ngân sách) hoặc trước ngày 30/11 (đối với các lớp/khóa ngoài ngân sách) để tổng hợp Đơn vị đề xuất tổ chức lớp xây dựng kế hoạch kèm thuyết minh với những thông tin sau cho từng lớp: Sự cần thiết tổ chức khóa đào tạo, bồi dưỡng; Đối tượng tham gia khóa học; Thời gian, thời lượng dự kiến của khóa học; Địa điểm tổ chức dự kiến (ở địa phương nào, khu vực nào); Giảng viên; Đơn vị phối hợp thực hiện và dự kiến vai trò, trách nhiệm của mỗi bên (nếu có); Dự kiến mức thu/học viên hoặc theo giá trị hợp đồng khóa học (nếu có); Phương pháp chiêu sinh (nếu là lớp phải chiêu sinh); Khả năng tổ chức thực hiện; Lợi nhuận, khả năng về mặt tài chính có thể đạt được
Phòng Quản lý Đào tạo tổng hợp kế hoạch của các đơn vị trình Ban giám hiệu Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trong ngân sách chậm nhất ngày 08/8 và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng ngoài ngân sách chậm nhất ngày 08/12 hàng năm Khi Kế hoạch không được phê duyệt, phòng Quản lý Đào tạo gửi lại các đơn vị xem xét và chỉnh sửa lại kế hoạch đào tạo, gửi bản kế hoạch mới đến phòng Quản lý Đào tạo tổng hợp xin ý kiến chỉ đạo của Ban Giám hiệu và chỉnh sửa tiến hành trình lần tiếp theo Sau khi kế hoạch được Ban Giám hiệu phê duyệt, các đơn vị chủ trì phối hợp với các đơn vị trong và ngoài Trường tổ chức lớp/khóa đào tạo, bồi dưỡng theo kế hoạch
Việc xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng hàng năm của Trường hiện nay đang triển khai theo từng bước trong quy trình tuy nhiên với kế hoạch đào tạo bồi dưỡng trong ngân sách hiện nay mới dừng ở việc trao đổi nhu cầu đào tạo bồi dưỡng của các đơn vị thuộc Bộ với Trường, sau đó Trường tổng hợp, đề xuất trình
Bộ phê duyệt Kế hoạch này sẽ được Bộ cân đối giữa nguồn kinh phí được cấp hàng năm về đào tạo bồi dưỡng và yêu cầu từ các đơn vị thuộc Bộ để rà soát và đưa ra bản Kế hoạch cuối cùng Đối với các lớp đào tạo bồi dưỡng ngoài ngân sách, các lớp được các Phòng/Khoa đề xuất trong kế hoạch hầu như khi xây dựng chưa gắn với việc khảo sát nhu cầu người học và tính khả thi khi triển khai Khoảng 40% các lớp đưa ra trong kế hoạch này không được tổ chức vì không khả thi hoặc khi triển khai không có học viên tham dự Các lớp ngoài ngân sách triển khai trong năm có nhiều lớp phát sinh ngoài kế hoạch, không trong kế hoạch xây dựng ban đầu vì thế việc đánh giá việc thực hiện kế hoạch đào tạo bồi dưỡng của Trường rất khó
Hoạt động đào tạo bồi dưỡng của Trường không bắt đầu bằng mục tiêu lấp khoảng trống “năng lực” Để lấp được khoảng trống phải xác định năng lực cần có và năng lực hiện có Năng lực cần có phải theo yêu cầu khung năng lực theo vị trí việc làm, năng lực hiện có phải tiến hành khảo sát, điều tra trước mỗi khóa học Tuy nhiên hoạt động đào tạo của Trường không có khâu xác định nhu cầu đào tạo bồi dưỡng.Việc xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng của Trường căn cứ vào nhiệm vụ chính trị được giao và giải ngân nguồn ngân sách đào tạo bồi dưỡng hàng năm dẫn đến kế hoạch đào tạo bồi dưỡng hiện nay không xuất phát từ nhu cầu
2.2.1.2 Xây dựng kế hoa ̣ch tổ chức lớp của Trường
Sau khi kế hoạch năm được phê duyệt, các đơn vị Phòng/khoa được giao chủ trì tổ chức lớp sẽ tiến hành xây dựng kế hoạch tổ chức lớp để trình Ban Giám hiệu
Kế hoạch tổ chức lớp phải nêu được các nội dung chính gồm: Mục đích, yêu cầu, đối tượng, số lượng học viên dự kiến, tóm tắt nội dung bồi dưỡng, thời gian và địa điểm tổ chức, thông tin về giảng viên giảng dạy, dự kiến kinh phí và bảng phân công tổ chức, phối hợp thực hiện giữa các đơn vị
Kế hoạch tổ chức lớp khi xây dựng sẽ có sự tham gia góp ý của các phòng chức năng như Phòng Tài chính - Kế toán về dự toán kinh phí, Phòng Tổ chức – Hành chính về thời gian và địa điểm tổ chức, phòng Quản lý Đào tạo sẽ kiểm tra tổng thể kế hoạch Sau khi được các phòng chức năng phối hợp hoàn thiện, kế hoạch sẽ được trình lên Ban Giám hiệu phê duyệt và triển khai thực hiện
Hiện nay, 100% các lớp đào tạo, bồi dưỡng của Trường đều có kế hoạch tổ chức theo quy trình Kế hoạch tổ chức lớp đào tạo bồi dưỡng đều đưa ra cụ thể các nội dung, chương trình của lớp học, nêu rõ trách nhiệm của đơn vị chủ trì và các phòng, khoa phối hợp trong từng khâu vì thế các lớp tổ chức khá khoa học và vận hành tốt Việc xây dựng một kế hoạch tổ chức cụ thể và thực tế sẽ giúp tổ chức lớp thành công và đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các đơn vị trong và ngoài Trường
2.2.1.3 Triển khai thực hiện các lớp đào tạo, bồi dưỡng của Trường
Thực trạng nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo bồi dưỡng của Trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động – xã hội
2.3.1 Nhóm nhân tố từ cơ sở đào tạo bồi dưỡng
Với đội ngũ giảng viên, mặc dù Trường không có giảng viên cơ hữu (chỉ có
03 giảng viên kiêm nhiệm), tuy nhiên Trường đã xây dựng và phát triển được một đội ngũ giảng viên thỉnh giảng khá đông đảo và có trình độ chuyên môn cao Trường đã xây dựng cơ sở dữ liệu về đội ngũ giảng viên thỉnh giảng 38 người, phần lớn đều là các nhà giáo, các nhà nghiên cứu, các nhà lãnh đạo, quản lý, các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm thực tiễn và có nghiệp vụ sư phạm tốt trong các lĩnh vực khác nhau thường xuyên tham gia giảng dạy Cụ thể:
Về trình độ, trong tổng số 38 giảng viên của trường hiện nay (bao gồm cả giảng viên kiêm nhiệm và giảng viên thỉnh giảng) có 07 Phó giáo sư, 18 tiến sĩ, 13 Thạc sĩ
Hình 2.6: Tỷ lệ đội ngũ giảng viên phân theo trình độ
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ báo cáo hoạt động đào tạo bồi dưỡng hàng năm của Trường Đội ngũ giảng viên có học hàm, học vị tham gia giảng dạy cho Trường chiếm tỷ lệ phần trăm lớn, lên đến 66% Điều này phản ánh đúng quan điểm của Trường về việc mời các chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực làm giảng viên thỉnh giảng cho Trường Với 34% giảng viên có trình độ thạc sĩ thì hầu hết các giảng viên đều đang thực hiện các công việc chuyên môn trực tiếp liên quan đến lĩnh vực giảng dạy, với kiến thức thực tế khi làm việc sẽ đảm bảo bài giảng cho học viên sát với nhu cầu và liên hệ thực tiễn trong công việc
Hình 2.7: Tỷ lệ đội ngũ giảng viên phân theo lĩnh vực chuyên môn
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ báo cáo hoạt động đào tạo bồi dưỡng hàng năm của Trường
Giảng viên có chuyên môn giảng dạy về quản lý hành chính nhà nước chiếm tỷ lệ phần trăm cao nhất, 47%, điều này dễ lý giải do đội ngũ giảng viên thỉnh giảng này được đào tạo và giảng dạy tại các trường như Học viện hành chính quốc gia, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh … Giảng viên có chuyên môn về bồi dưỡng chuyên ngành chiếm tỷ lệ thấp, chỉ 18%, do hiện nay lĩnh vực chuyên ngành
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội mới chỉ ban hành quy định một số tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp ở một số lĩnh vực ví dụ như Công tác xã hội, An toàn lao động… cũng như mới ban hành các bộ chương trình, tài liệu cho các vị trí chuyên ngành này, việc có những giảng viên am hiểu chuyên môn và giảng dạy đúng chương trình đã ban hành đang còn hạn chế Thiếu đội ngũ giảng viên thực hiện các chương trình đào tạo bồi dưỡng chuyên sâu; Đối tượng giảng viên kiêm chức hiện được coi là đội ngũ có trình độ thực tế và chuyên môn khá tốt; tuy nhiên hầu hết đối tượng này chưa được huấn luyện về phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, nhất là các phương pháp đào tạo người lớn cho đối tượng người học là công chức, viên chức Một số giảng viên từ các cơ sở đào tạo khác có khuynh hướng duy trì cách giảng bài truyền thống, tương tự như các bài giảng cho sinh viên đại học Đây là một trong những hạn chế trong việc xây dựng đội ngũ giảng viên của Trường và cần phải phối hợp với các đơn vị đào tạo thêm những giảng viên đúng tiêu chuẩn…
Ngoài đội ngũ giảng viên có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động giảng dạy, đội ngũ quản lý đào tạo bồi dưỡng của Trường cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động đào tạo, bồi dưỡng Ban giám hiệu của Trường gồm hai tiến sỹ, một nghiên cứu sinh/chuyên viên cao cấp có kinh nghiệm quản lý và giảng dạy lâu năm tại các đơn vị khác như Trường Đại học Lao động – Xã hội chuyển về, đây là một thuận lợi trong việc vận hành và quản lý các hoạt động đào tạo bồi dưỡng Ngoài ra, đội ngũ quản lý đào tạo bồi dưỡng từ các phòng, khoa đều có kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng Trường luôn xây dựng hình ảnh và thực hiện các khóa đào tạo, bồi dưỡng với tâm thế phục vụ người học vì đào tạo, bồi dưỡng cũng là một dịch vụ cần phải đáp ứng nhu cầu của người học và đảm bảo sự hài lòng nhất của người học
2.3.1.2 Cơ sở vật chất Đối với cơ sở vật chất của Trường hiện nay, Trường bị hạn chế do không có đủ diện tích để thiết kế lớp học Các khóa đào tạo, bồi dưỡng của Trường 100% là thuê địa điểm học Điều này sẽ tăng kinh phí khi tổ chức lớp học Một số thông tin cụ thể về cơ sở vật chất của Trường như bảng dưới đây:
Bảng 2.5: Thống kê cơ sở vật chất của Trường Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động – xã hội
TT Nội dung Đơn vị tính Số lƣợng
Tổng diện tích đất đang sử dụng (Tầng 17 và tầng 8 Toà nhà làm việc liên cơ quan Bộ
Lao động - Thương binh & Xã hội) m 2 260
1 Số lượng phòng làm việc phòng 09
2 Trang thiết bị phòng làm việc a Trung bình máy vi tính/người 01 máy vi tính/người 27 b Trung bình máy điều hòa/phòng Điều hòa tổng 01
III Phòng học (Hiện tại chưa được bố trí, khi có nhu cầu Trường thuê hoặc mượn của Bộ hoặc các đơn vị khác)
1 Số lượng phòng học phòng 0
2 Trang thiết bị phòng học a Trung bình máy chiếu/phòng máy chiếu/phòng 0 b Trung bình máy điều hòa/phòng điều hòa/phòng 0
IV Phòng hội trường, hội thảo (Sử dụng hội trường chung của Bộ)
1 Số lượng hội trường hội trường 0
2 Số lượng phòng hội thảo hội thảo 0
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ báo cáo cơ sở vật chất của Trường
Trước thực tế về mặt địa điểm học của Trường, Trường đã xây dựng và thiết kế Phần mềm đào tạo trực tuyến để song song đào tạo cùng với hình thức tổ chức lớp học Trong kế hoạch đào tạo những năm tới, xu hướng đào tạo trực tuyến qua hệ thống mạng của Trường sẽ được tăng lên và sẽ sớm thay thế phần nhiều hình thức đào tạo truyền thống Mặc dù vậy, ngoài việc thiếu cơ sở vật chất đáp ứng cho hình thức đào tạo truyền thống thì với hình thức đào tạo trực tuyến hiện nay Trường cũng còn nhiều hạn chế Để thực hiện đào tạo trực tuyến cần đáp ứng được những yêu cầu như hạ tầng truyền thông và mạng (các thiết bị đầu cuối người dùng, thiết bị tại cơ sở cung cấp, mạng …), hạ tầng phần mềm, hạ tầng thông tin (nội dung các khóa học…) Hiện nay, Trường mới xây dựng được các bài giảng điện tử và đáp ứng được một phần hạ tầng thông tin, đối với phần mềm và hạ tầng truyền thông và mạng Trường phải mua của một đơn vị cung cấp khác theo gói hàng năm, điều này cũng ảnh hưởng đến việc triển khai và đẩy mạnh hình thức đào tạo trực tuyến này 2.3.1.3 Hệ thống học liệu
Trường xác định việc xây dựng và ban hành các chương trình, tài liệu là việc quan trọng trong đào tạo bồi dưỡng Tính đến hết năm 2018, Trường đã xây dựng
6 bộ chương trình và 8 bộ tài liệu đào tạo bồi dưỡng Cụ thể như sau:
Bảng 2.6: Thống kê chương trình, tài liệu của Trường đã xây dựng
STT Chương trình Tài Liệu
Chương trình bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về quan hệ lao động và tiền lương (1773/QĐ -
Tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành Kỹ thuật viên kiểm định kỹ thuật an toàn lao động (hạng IV) (763/QĐ-ĐTBD ngày 24/12/2018)
2 Chương trình bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ bình đẳng giới
Tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức
11/12/2018) chuyên ngành Kiểm định viên kỹ thuật an toàn lao động (hạng III) (763/QĐ-ĐTBD ngày 24/12/2018)
Chương trình "Bồi dưỡng chuyên sâu về công tác lao động, người có công và xã hội cho công chức Văn hóa - Xã hội xã" (1319/QĐ-
Tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành Kiểm định viên chính kỹ thuật an toàn lao động (hạng II) (763/QĐ-ĐTBD ngày 24/12/2018)
Chương trình "Bồi dưỡng một số kỹ năng chuyên sâu về an sinh xã hội và việc làm cho công chức
Văn hóa - Xã hội xã" (1747/QĐ -
Tài liệu bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành công tác xã hội viên chính (hạng II) (779/QĐ-ĐTBD ngày 28/12/2018)
Chương trình bồi dưỡng giảng viên nguồn về trẻ em (1800/QĐ -
Tài liệu bồi dưỡng một số kỹ năng chuyên sâu về an sinh xã hội và việc làm cho công chức Văn hóa - Xã hội xã (744/QĐ-ĐTBD ngày 27/12/2018)
Chương trình Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành công tác xã hôi (hạng III, hạng IV) và chương trình bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cộng tác viên công tác xã hội (1751/QĐ-LĐTBXH
Tài liệu "Bồi dưỡng chuyên sâu về công tác lao động, người có công và xã hội cho công chức Văn hóa - Xã hội xã" (380/QĐ-ĐTBD ngày 30/9/2018)
Tài liệu bồi dưỡng giảng viên nguồn về trẻ em (776/QĐ-ĐTBD ngày 27/12/2018)
8 ngày 08/11/2017) Tài liệu đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo cấp Phòng ngành Lao động - Thương binh và Xã hội (1905/QĐ-LĐTBXH ngày 28/12/2015)
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ báo cáo đào tạo hàng năm của Trường
Hiện tại, hệ thống học liệu của Trường khá đa dạng và phong phú, tuy nhiên số lượng chương trình, tài liệu vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu đào tạo bồi dưỡng do
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý khá rộng với 11 lĩnh vực khác nhau trong khi Trường mới xây dựng chương trình tài liệu ở 7 lĩnh vực do Bộ quản lý Điều này yêu cầu Trường đẩy nhanh việc xây dựng các chương trình, tài liệu ở các lĩnh vực quản lý khác của Bộ như Việc làm, Quản lý lao động ngoài nước…
Ngoài ra, các chương trình tài liệu xây dựng hiện nay chủ yếu là chương trình có thời lượng đào tạo, bồi dưỡng dài từ 5-7 ngày đến 2 tháng phục vụ cho nhu cầu cấp chứng chỉ của học viên Trường chưa xây dựng được các gói chương trình đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn đáp ứng nhu cầu của người học
Đánh giá chung về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng tại Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Lao động - Xã hội
Thứ nhất, Hoạt động đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức hiện nay của Trường đã đã đảm bảo thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Bộ giao trong việc đào tạo, bồi dưỡng công chức viên chức thuộc Bộ
Thứ hai, Trường đã tiến hành xây dựng bài giảng điện tử và phát triển hệ thống học trực tuyến mặc dù phạm vi chưa triển khai rộng nhưng cũng đang ủng hộ xu hướng đa dạng hóa hình thức đào tạo bồi dưỡng của Trường
2.4.2 Mặt hạn chế và nguyên nhân
Từ thực tế hoạt động đào tạo bồi dưỡng của Trường nếu đánh giá theo các yêu cầu về đào tạo bồi dưỡng, hoạt động đào tạo bồi dưỡng của Trường không đáp ứng được
Thứ nhất: Cách tổ chức hoạt động đào tạo bồi dưỡng của Trường không theo
4 bước: Xác định nhu cầu – Xây dựng kế hoạch – Tổ chức thực hiện – Đánh giá hoạt động đào tạo bồi dưỡng Hiện nay Trường thực hiện đào tạo bồi dưỡng theo quy trình 5 bước nhưng không có bước xác định nhu cầu
Thứ hai: hoạt động đào tạo bồi dưỡng của Trường không tiến hành tổ chức đánh giá năng lực Trường chưa xác định được khoảng trống năng lực của người học trước khi tiến hành đào tạo, bồi dưỡng
Thứ ba, các khóa đào tạo bồi dưỡng chưa được sử dụng nhiều phương pháp giảng dạy dành cho đối tượng đặc thù là công chức viên chức hay là phương pháp giảng dạy cho người trưởng thành
Thứ tư, chưa quản lý hoạt động đào tạo bồi dưỡng theo mô hình quản lý theo kết quả Đánh giá kết quả sau khi đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức không được thực hiện
Thứ năm, việc đa dạng hóa hình thức đào tạo bồi dưỡng đã được triển khai nhưng còn chậm trong việc phát triển hình thức đào tạo trực tuyến Mặc dù đã triển khai Đề án đào tạo trực tuyến từ cuối năm 2015 nhưng đến năm 2018 Trường mới xây dựng được 12 bài giảng điện tử Tháng 6 năm 2019 mới bắt đầu thử nghiệm áp dụng một số bài giảng điện tử vào đào tạo bồi dưỡng
Từ các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thấy được nguyên nhân của các điểm hạn chế trên là do:
Một là nguyên nhân từ phía Chính phủ chưa xây dựng được khung năng lực tương ứng với từng vị trí việc làm Điều này tác động đến cả cơ sở đào tạo bồi dưỡng lẫn công chức, viên chức Cơ sở đào tạo bồi dưỡng sẽ khó khác định được khoảng trống năng lực còn người học sẽ không xác định được mình cần gì để đáp ứng được yêu cầu của vị trí việc làm dẫn đến không chủ động trong việc nâng cao năng lực cá nhân
Hai là từ cơ sở đào tạo bồi dưỡng Về con người thì Trường chưa xây dựng một đội ngũ giảng viên vừa có chuyên môn sâu vừa đảm bảo giảng dạy theo phương pháp giảng dạy cho người trưởng thành Về cơ sở vật chất Trường chưa đáp ứng được yêu cầu đối với cả hình thức đào tạo truyền thống dưới dạng lớp họ và hình thức đào tạo trực tuyến do thiếu kinh phí Về học liệu, học liệu của Trường vẫn chưa phong phú, nặng lý thuyết, chưa xây dựng học liệu dựa trên nhu cầu người học
Ba là từ phía người học, công chức, viên chức còn nặng tâm lý tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng để lấy chứng chỉ Ngoài ra công chức, viên chức chủ yếu là vừa học vừa làm nên chưa dành nhiều thời gian cho việc học tập, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng Công chức, viên chức chưa xác định được mục tiêu học tập của mình do chưa có khung năng lực cho từng vị trí việc làm.