Tuy nhiên, một trong những thách thức lớn mà Việt Nam phải đối mặt khi xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ là chính sách thương mại quốc tế của nước này, được thể hiện ở các điều luật thươn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Trang 2TRƯÒNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
HỒ NGỌC BÍCH
CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA HOA KỲ :
C ơ HỘI VÀ THÁCH THỨC Đốl VÓI VIỆC ĐAY m ạ n h
XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH T Ế Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Như Bình
Trang 3LỜI CẢM 0N
Tôi xin được gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới Thầy giáo, PGS TS Nguyễn Như Bình, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi về phương pháp tiến hành, cách thức nghiên cứu các vấn đề trong luận văn Nếu không có sự giúp đỡ của Thầy, bản luận văn này đã không thể hoàn thành được.
Bên cạnh đó, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới PGS TS Đỗ Đức Bình và các Thầy, Cô giáo trong khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân về những ý kiến hướng dẫn, sửa chữa những sai sót trong suốt quá trình hoàn thành luận văn.
Qua đây, tôi cũng xin được bày tỏ sự tri ân sâu sắc đối với những người đã trực tiếp và luôn bên cạnh, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu luận văn, những người mà sự biết ơn và trân trọng của tôi không thể diễn tả hết bằng lời.
Và cuối cùng là sự trân trọng của tôi trước các ý kiến của các bạn đồng nghiệp, các sinh viên đã và sẽ đóng góp cho bản luận văn này.
Trang 4MỤC LỤC
1.1 Lý thuyết về thương mại quốc tê 1
1 2 2 4 Yêu c ẩ u v ề h à m lư ợ n g n ộ i đ ịa 2 3
ỉ 2 2 5 C á c h iện p h á p k h á c c ủ a ch ín h sá c h thư ơng m ạ i q u ố c t ế 24
1 2 2 6 T ó m tắ t c á c ảnh hư ởn g ch ín h c ủ a c á c c ô n g cụ ch ín h sá c h 25
th ư ơ n g m ạ i q u ố c t ế
1 2 3 T ín h kin h t ế ch ín h tr ị c ủ a ch ín h sá c h thư ơng m ạ i q u ố c t ế 26
2.1 Bộ máy hoạch dinh chính sách thương mai của Hoa kỳ 31
2 1 3 H ộ i d ồ n g T h ư ơ n g m ạ i Q u ố c t ế 33
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc lập chính sách của Hoa kỳ 34
2.3 Mục tiêu của chính sách thương mại quốc tế của Hoa kỳ 38
2.4 Các công cụ của chính sách thương mại quốc tê Hoa Kỳ 40
2 4 2 C á c b iệ n p h á p p h i th u ế q u a n 42
2 4 3 C á c q u y đ ịn h c h ố n g b á n p h á g iá v à t h u ế đ ố i k h á n g 43
Trang 52 4 5 C á c c ấ p đ ộ ưu đ ã i tr o n g ch ín h s á c h th ư ơ n g m ạ i c h o c á c q u ố c
g ia c ủ a H o a K ỳ
45 2.5 Sự phát triển của chính sách thương mại quốc tê của Hoa kỳ 46
2.6 Chính sách thương mại quốc tê của Hoa kỳ trong thê kỷ 21 61
CHƯƠNG 3: Cơ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG
3 2 2 2 C á c k h ó kh ăn v ề tìm h iểu th ị trư ờ n g 94
3.3 Vụ kiện cá basa - Bài học kinh nghiệm vê chính sách thương mại
quốc tê của Hoa Kỳ
97
3 3 1 N g u y ê n n h ãn c ủ a nhữ ng c á o b u ộ c 98
3.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu chính sách thương mại quốc tế của
Hoa Kỳ với việc Việt Nam gia nhập vào WTO
105
3 5 Một số đê xuất và kiến nghị về hoàn thiện chính sách thương mại
quốc tế của Việt Nam và đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam sang
Trang 6C Á C CHỮ VIẾT TẮT ĐƯỢC s ử DỤNG TRONG LUẬN VĂN■ ■ ■
Luật chống bán phá giá
Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN
Luật về cơ hội tăng trưởng cho Châu Phi
Viện tiêu chuẩn quốc gia Hoa Kỳ
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Luật ưu đãi Thương mại Anđét
Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo
Chi phí, bảo hiểm và cước vận tải
Luật đối tác thương mại vùng Caribê
Luật Thuê đối kháng
Bộ Thương mại Hoa Kỳ
Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ
Liên minh Châu Âu
Trang 7Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài Free on Board
Giao hàng trên mạn tàu Free Trade Area of America Khu vực Thương mại Tự do Châu Mỹ General Agreement on Trade and Tariff Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan Gross Domestic Product
Tổng Sản phẩm Quốc nội Generalised System of Preference
Hệ thống ưu đãi phổ cập Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ International Convention on State Investment Disputes Công ước Quốc tế về Tranh chấp Đầu tư Nhà nước Information Technology Agreement
Hiệp định Công nghệ Thông tin Most Favoured Nation
Quy chế Tối huệ quốc Merchandise Processing Fee Phí thủ tục hàng hoá
North American Free Trade Agreement Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ National Economic Council
Hội đồng Kinh tế Quốc gia New Industrialised Country Nưóc Công nghiệp mới
Trang 8NIE New Industrialised Economy
Nền Kinh tế Công nghiệp hoá mới
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Công ty dầu tư tư nhân hải ngoại
Hạn chế định lượng
RTA Act Reciprocal Trade Agreements Act
Luật về thoả thuận thương mại có đi có lại
Chương trình trợ giúp điều chỉnh thương mại
Quyền xúc tiến thương mại
Nhóm xem xét chính sách thương mại
Hội đồng cán bộ chính sách thương mại
USITC United States International Trade Council
Hội đồng Thương mại quốc tế Hoa Kỳ
Cơ quan đại diện thương mại Hoa Kỳ
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Hiệp định hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG VÀ HỈNH Được sử DỤNG TRONG LUẬN VĂN
Hoa Kỳ và các nước có nền thương mại lớn ở Châu Âu năm
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ là một bước tiến lớn của Việt Nam trong việc hoà nhập với cộng đổng quốc tế Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã đem lại một kết quả là các thị trường châu Á đã bị thu hẹp Hơn bao giờ hết, Việt Nam giờ đây cần đến các thị trường mới để phát triển kinh tế của mình Trong khi đó thì nền kinh tế Hoa Kỳ, vốn là nền kinh tế lớn nhất và rộng mở nhất trên thế giới vẫn tiếp tục lớn mạnh và tăng trưởng Thực sự là không có một ví dụ nào
về một nước ở Đông Á đã phát triển được trong vòng 30 năm qua mà không nhờ đến tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ sang Hoa Kỳ Năm 2002, Hoa Kỳ đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam và dự báo kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này vẫn tiếp tục tăng mạnh.
Tuy nhiên, một trong những thách thức lớn mà Việt Nam phải đối mặt khi xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ là chính sách thương mại quốc tế của nước này, được thể hiện ở các điều luật thương mại Vụ kiện cá basa của Việt Nam ở thị trường Hoa Kỳ vừa qua là một bài học kinh nghiệm về chính sách thương mại quốc tế của nước này mà Việt Nam cần phải tìm hiểu một cách kỹ lưỡng khi thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ.
Hơn nữa, việc xây dựng hệ thống thương mại và thị trường thế giới trên thực chất là dựa trên cơ sở các nguyên tắc, sáng kiến của Hoa Kỳ và được thể chế hoá bằng các hiệp định của WTO Hầu hết các văn bản pháp lý liên quan đến kinh tế, thương mại trên thế giới đều chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ Với việc chuẩn bị gia nhập WTO của Việt Nam thì Hoa Kỳ đóng vai trò là nước có yêu sách lớn nhất, dóng vai trò lãnh đạo trong WTO Hoa Kỳ là nước nêu câu hỏi nhiều nhất, chiếm 52,7% tổng số câu hỏi mà Việt Nam phải trả lời Do vậy, việc tìm hiểu chính sách thương mại quốc tế của Hoa Kỳ rất quan trọng trong đàm phán của Việt Nam về việc gia nhập vào WTO cũng như trong việc thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ.
Trang 11Chính vì vậy, tác giả đã chọn “Chính sách thương mại quốc tế của Hoa Kỳ:
Co hội và thách thức đối với việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam hiện nay ” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và làm sáng tỏ mục đích, nhân tố ảnh hưởng và sự phát triển của chính sách thương mại quốc tế của Hoa Kỳ trong thế kỷ 20 cũng như xu hướng vận động của nó trong những năm sắp tới.
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc Hoa Kỳ trao quy chế tối huệ quốc cho Việt Nam và các khó khăn của Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ Trên cơ
sở phân tích, đánh giá đó, tác giả gợi ý một số giải pháp về việc hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam và đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chính sách thương mại quốc tế của Hoa
Kỳ và tác động của nó đối với Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu là chính sách thương mại quốc tế của Hoa Kỳ từ đầu thế
kỷ 20 đến nay và tác động của nó với Việt Nam sau khi Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực, đặc biệt đối với việc xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ.
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, các phương pháp thống kê, khái quát hoá để tiếp cận và phân tích những vấn đề có liên quan đến chủ đề của luận văn
Các số liệu của luận văn được lấy từ nguồn của Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền
tệ quốc tế, Bộ thương mại và Cục thống kê của Hoa Kỳ.
5 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về thương mại quốc tế và chính sách Thương mại quốc tế
Trang 12- Hệ thống hoá và làm sáng tỏ bản chất và sự vận động của chính sách Thương mại quốc tế của Hoa Kỳ từ đầu thế kỷ 20 đến nay.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị đối với nhà nước Việt Nam nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của Việt Nam Các kiến nghị này cũng rất
có ý nghĩa trong việc gia nhập vào WTO của Việt Nam.
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, mục lục, danh mục chữ cái viết tắt, bảng và hình được sử dụng trong luận văn, phần kết luận chung và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương I : Một số lý luận chung về chính sách thương mại quốc tế
Chương II : Chính sách thương mại quốc tế của Hoa Kỳ
Chương III : Cơ hội và thách thức đối với việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của
Việt nam sang Hoa Kỳ
Trang 13CHƯƠNG I: MỘT s ố LÝ LUẬN CHUNG VỂ CHÍNH SÁCH THƯƠNG
MẠI QUỐC TÊ
1.1 L Ý T H U Y Ế T V Ề THƯƠNG MẠI QUỐC T Ê
Thương mại quốc tế là sự trao đổi giữa các nước về hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất Trao đổi hàng hoá là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia Thương mại quốc tế là lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế
và làm giàu cho đất nước.
Trong suốt nhiều thế kỷ qua, các nhà kinh tế đã phát triển những lý thuyết khác nhau để giải thích về nguyên nhân và lợi ích của thương mại quốc tế Luận văn
sẽ tập trung trình bày những nội dung cơ bản của một số lý thuyết thương mại quốc
tế chủ yếu.
1.1.1 Chủ nghĩa trọng thương.
Chủ nghĩa trọng thương xuất hiện và phát triển ở châu Âu, mạnh nhất là ở Anh và Pháp từ thế kỷ 15, 16 và thịnh hành vào cuối thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 18 Các học giả tiêu biểu của chủ nghĩa này là Jean Bodin, Melon, (Pháp) và Thomas, Munn, (Anh) Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa trọng thương coi vàng và các kim loại quý là đại biểu cho sự giàu có của các quốc gia Để có sự giàu có này các quốc gia phải tiến hành trao đổi với nhau các sản phẩm đặc thù của mình Lợi nhuận buôn bán theo chủ nghĩa trọng thương là kết quả của sự trao đổi không ngang giá và lường gạt giữa các quốc gia Thương mại quốc tế chỉ có lợi cho một bên và gây ra thiệt hại cho bên kia “dân tộc này làm giàu bằng cách hi sinh lợi ích của dân tộc kia” Theo tư tưởng đó thì chính phủ là chủ thể chủ yếu của quan hệ thương mại quốc tế Để có thể
có nhiều vàng và kim Ịoại quý thì quốc gia này phải bóc lột quốc gia khác, ngoài ra chính phủ phải sử dụng các công cụ để đẩy mạnh xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu bằng cách tăng thuế nhập khẩu.
Lý thuyết về thương mại quốc tế của chủ nghĩa trọng thương đã đạt được những thành tựu đáng kể, tuy nhiên không tránh khỏi những hạn chế Nhìn chung, lý
Trang 14thuyết trọng thương đã sớm đánh giá được tầm quan trọng của thương mại quốc tế,
nó khác với trào lưu tư tưởng kinh tế phong kiến thời bấy giờ đề cao nền kinh tế tự cung tự cấp Vai trò của nhà nước với tư cách là chủ thể điều chỉnh quan hệ buôn bán của một nước với nước khác đã được coi trọng Tuy vậy lý thuyết về thương mại quốc tế này còn đơn giản, ít tính chất lý luận, thường được nêu lên dưới hình thức lời khuyên thực tiễn về chính sách kinh tế, lập luận mang tính chất kinh nghiệm chưa cho phép giải thích bản chất của thương mại quốc tế.
1.1.2 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.
Lý thuyết tuyệt đối của Adam Smith ra đời với 3 cuộc cách mạng: cách mạng công nghiệp, cách mạng Hoa Kỳ và cách mạng Pháp Lý thuyết này được xây dựng trên cở lý thuyết về buôn bán tự do được phát triển vào thời kỳ này Theo Adam Smith các quốc gia sẽ thu được lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế dựa trên lợi thế tuyệt đối của quốc gia đó Một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất một loại hàng hoá nếu như chi phí (về lao động) để sản xuất hàng hoá đó ở quốc gia
đó thấp hơn quốc gia khác.
Việc sử dụng chính khái niệm lợi thế tuyệt đối này là cách giải thích đơn giản nhất về cách ứng xử trong buôn bán Rõ ràng việc buôn bán giữa các quốc gia khác
bị thiệt từ thương mại thì họ sẽ từ chối ngay Giả sử thế giới chỉ có hai quốc gia và mỗi quốc gia chỉ sản xuất hai mặt hàng giống nhau Quốc gia thứ nhất có lợi tuyệt đối trong việc sản xuất hàng hoá X, quốc gia thứ hai có lợi tuyệt đối trong việc sản xuất hàng hoá Y khi so sánh với quốc gia thứ nhất Nếu mỗi quốc gia tiến hành chuyên môn hoá trong việc sản xuất một mặt hàng mà họ có lợi thế tuyệt đối, sau đó trao đổi thì cả hai quốc gia cùng có lợi Trong quá trình này, các nguồn lực sản xuất của cả thế giới sẽ được sử đụng một cách hiệu quả nhất, do đó tổng sản phẩm của thế giới sẽ gia tăng Sự tăng thêm của các sản phẩm của toàn thế giới là nhờ vào sự chuyên môn hoá và được phân bố giưã hai quốc gia theo tỷ lệ trao đổi thương mại quốc tế.
Tuy nhiên lợi thế tuyệt đối chỉ giải thích cho một phần nhỏ của thương mại quốc tế hiện nay, đó là thương mại giữa các nước đang phát triển và các nước phát
Trang 15triển Phần lớn thư ơng m ạ i th ế g iớ i, đ ặc biệt là thương m ại giữ a c á c nước phát triển
k h ô n g th ể g iả i th ích đư ợc bằng lợi th ế tu y ệt đ ố i.
1.1.3 Lý thuyết lợi thế tương đối của David Ricardo
D a v id R ic a r d o c h ỉ ra rằng trong trường hợp m ộ t q u ố c g ia c ó lợi th ế tu y ệt đ ối (h o ặ c k h ô n g c ó lợi th ế tu yệt đ ố i) trong v iệ c sản xuất tất cả c á c m ặt h àn g s o vớ i m ộ t
q u ố c g ia k h á c , th ì thư ơng m ại giữ a hai nước vẫn c ó thể d iễn ra v à m a n g lại lợ i ích
c h o cả hai b ên Ô n g đã đưa khái n iệm m ới v ề n g u y ê n lý lợ i t h ế s o s á n h , m ộ t trong
nhữ n g n g u y ê n lý v ĩ đại nhất củ a kinh t ế h ọ c N g u y ê n lý n ày đã tồn tại su ố t hai th ế k ỷ qua, và n ó vẫn s ẽ tiếp tục tồn tại và g iữ n g u y ê n g iá trị củ a m ình
N ế u như k h á i n iệm lợi th ế tu y ệt đ ố i đư ợc x â y dựng trên c ơ sở sự k h á c biệt về hiệu quả sản xu ất tu y ệt đ ối thì ý tưởng v ề lợi th ế s o sánh lại xuất phát từ sự kh ác biệt
v ề h iệu q u ả sả n xuất tương đ ố i T h eo R ica rd o , m ộ t nước c ó lợi th ế tu yệt đ ố i trong
v iệ c sả n x u ấ t h à n g h oá X nếu như m ộ t đơn vị la o đ ộ n g sẽ sản xuất đư ợc n h iều đơn vị
h àn g hoá đ ó hơn s o với nước khác M ộ t nước sẽ c ó lợ i th ế tương đ ố i tron g v iệ c sản xuất h à n g h oá X n ếu như c h i p h í c ơ h ộ i củ a sả n xuất h àn g hoá X tính th e o h àn g hoá
Y là n h ỏ hơ n s o với nước khác.
R ica rd o c h o rằng khi c ó lợi th ế so sán h , m ộ t nước sẽ thu đư ợ c lợi ích trong thương m ạ i c h o dù nước đ ó c ó h o ặ c k h ô n g c ó lợ i th ế tu y ệt đ ố i trong v iệ c sản xuất
c á c h à n g hoá C ác q u ố c g ia khác nhau c ó lợi th ế so sánh kh ác nhau và bằng v iệc xuất khẩu lo ạ i hàng h oá m à nước m ìn h c ó đư ợc lợi th ế s o sán h , m ỗ i q u ố c g ia c ó thể
c ó đư ợc c á c h àn g hoá m à m ìn h cầ n với ch i p h í thấp hơn s o với trường hợp h ọ phải tự
sả n x u ấ t lấ y
T h u y ết lợi thê s o sánh củ a D avid R ica rd o được m in h h ọ a trong v í dụ v ề m ô hình thư ơ ng m ạ i g iả n đơn giữ a N h ật Bản và V iệ t N a m L ư ợng la o đ ộ n g cần th iế t để sản xu ất ra m ỗ i đơn vị th ép và vải ở m ỗ i nư ớc được c h o trong B ả n g l- 1
Bảng 1-1 Lượng lao động cần thiết để sản xuất cho mỗi đơn vị hàng hoá ở
Nhật Bản và Việt Nam
Nhật Bản Việt Nam
Trang 16C ác s ố liệ u c h o th ấ y , N h ậ t Bản cầ n ít s ố lư ợn g la o đ ộ n g hơn s o vớ i V iệ t N a m
đ ể sả n x u ấ t ra c ả hai m ặt h àn g, th ế nhưng đ iều n ày sẽ k h ô n g cản trở thư ơng m ại c ó
lợi giữ a hai nư ớ c T u y N h ậ t Bản c ó lợ i t h ế tu y ệ t đ ố i v ề cả hai m ặ t h à n g n h ư n g d o
m ứ c lợi t h ế v ề sả n x u ấ t thép lớ n hơn m ứ c lợi th ế v ề sản x u ấ t vải (đư ợc th ể h iệ n qua
bất đ ẳ n g thức 2 /1 2 < 5 /6 ) c h o n ên nước n ày c ó lợi th ế s o sánh v ề m ặt h àn g thép
N g ư ợ c lạ i, V iệ t N a m bất lợi tu yệt đ ố i v ề c ả hai m ặt h à n g , như ng d o m ứ c bất lợi về sản x u ấ t v ả i n h ỏ hơn m ức bất lợi v ề sả n x u ấ t thép, nên V iệ t N a m c ó lợi th ế s o sánh
về vải (6 /5 < 1 2 /2 ) M ộ t cá ch tổ n g quát, N h ật Bản sẽ xu ất khẩu th ép k h i v à ch ỉ khi:
g iá cu ả m ộ t m ặt hàng tính bằng s ố lư ợn g m ặt h àn g kia T rong m ô hình R ica rd o giá
c ả tư ơn g quan được tín h th ô n g q ua y ế u tố trung g ia n là c h i p h í la o đ ộ n g Trên c ơ sở
c á c s ố liệ u tron g B ản g 1-1, c ó thể tính đư ợc c á c m ứ c g iá tương quan c ủ a thép và vải như trong B ả n g 1-2 G iá tương quan cu ả thép ở N hạt B ản và V iệ t N a m tương ứng là
1 th ép = 0,4 v ả i và 1 thép = 2 v ả i, c ò n g iá vải tương ứng là 1 v ả i = 2,5 thép và 1 vải =
0,5 thép C h ín h sự k h á c b iệt giữ a c á c m ứ c g iá tương quan là c ơ sở đ ể x á c định lợ i th ế
Trang 17N h ư đã chỉ ra ở trên, xét theo giác độ tuyệt đối thì N hật Bản c ó hiệu quả hơn
V iệt N am trong sản xuất cả hai m ặt hàng, nhưng nước này chỉ c ó lợi th ế so sánh về thép, và điều này c ó thể thấy được qua v iệ c so sánh giá tương quan cuả thép ở Nhật Bản so với V iệ t N a m , cụ thể là thép ở Nhật Bản rẻ hơn so với ở V iệt N am Tương tự, vải ở V iệ t N am rẻ hơn so với ở Nhật Bản nên V iệt N am c ó lợi th ế so sánh về mặt hàng vải N ế u m ỗ i nước thực h iện ch u y ên m ôn hoá hoàn toàn trong v iệc sản xuất mặt hàng m à m ìn h c ó lợi th ế so sánh và sau đó trao đổi với nhau thì cả hai đểu sẽ trở nên sung túc hơn.
C hẳng hạn, nếu Nhật Bản ch u y ển 5 đơn vị lao đ ộn g từ ngành vải sang sản xuất thép thì sẽ c ó 2 ,5 đơn vị thép được làm ra và khi bán 2,5 đơn vị thép đó sang
V iệt N am với m ức g iá qu ốc tế là lth é p = lv ả i thì Nhật Bản sẽ thu về 2,5 đơn vị vải, nhiều hơn 1,5 đơn vị so với trường hợp Nhật Bản tự sản xuất lấy vải Tương tự, nếu
V iệt N am dùn g 12 đơn vị lao đ ộn g để sản xuất 2 đơn vị vải (thay vì sản xuất 1 đơn vị thép) và bán sang N h ật Bản đổi lấy 2 đơn vị thép thì V iệt N am sẽ lợ i 1 đơn vị thép.
T óm lại, lợi th ế so sánh về m ột sản phẩm X nào đó thể h iện khả năng cạnh tranh của m ột q u ố c g ia trên thị trường th ế giớ i X á c định lợi th ế so sánh giữa hai quốc gia, hay giữ a cá c nước trong cùng khu vực c ó thể được x á c định theo cô n g thức sau:
RCA
Trong đó:
- R C A (R ate o f C om parative A dvantage): hệ số thể h iện lợi th ế so sánh
- E,: K im n g ạ ch xuất khẩu sản phẩm X của qu ốc g ia trong m ột năm
- E c : T ổ n g kim n gạch xuất khẩu của quốc g ia trong m ột năm
- E 2: K im n g ạ ch xuất khẩu của quốc g ia trong m ột năm
- E w : T ổ n g kim n gạch xuất khẩu của th ế giới trong m ột năm
- N ếu: R C A < 1: sản phẩm khôn g có lợi th ế so sánh
1< R C A < 2,5: sản phẩm có lợi th ế so sánh
R C A > 2 ,5 : sản phẩm c ó lợi th ế so sánh rất cao
Trang 181.1.4 Lý thuyết Heckscher-Ohlin về tỷ lệ cân đối của các yếu tố sản xuất
Các g iả định lý thuyết H eck sch er-O h lin là
- T h ế g iớ i c ó hai q u ố c gia, hai hàng hoá, hai yếu tố sản xuất (la o đ ộn g và tư bản); trong hai nước, m ột nước dồi dào tương đối về vốn cò n m ột nước dồi dào tương đ ối v ề lao động.
- C ôn g n g h ệ sản xuất là g iố n g nhau giữa hai qu ốc gia.
- Sản xuất m ỗ i m ặt hàng c ó h iệu suất không đổi theo quy m ô , còn m ỗ i yếu tố sản xuất thì c ó năng suất cận biên giảm dần;
- H àng h oá khác nhau sẽ có hàm lượng (m ức độ sử dụn g) cá c yếu tố sản xuất khác nhau, và kh ôn g c ó sự hoán đổi hàm lượng các yếu tố sản xuất tại bất kỳ
m ức g iả cả yếu tố tương quan nào;
- Cạnh tranh hoàn hảo tổn tại trên cả thị trường hàng hoá lẫn thị trường các yếu
tố sản xuất.
- C huyên m ô n hoá là khôn g hoàn toàn;
- Các y ếu tố sản xuất c ó thể di ch u y ển tự do trong m ỗ i qu ốc gia, nhưng không thể di ch u y ển giữ a cá c quốc gia
Sở thích g iố n g nhau giữa hai quốc gia;
- Thương m ại là tự do
K h ô n g c ó chi phí vận tải, không có hàng rào th u ế quan và cá c trở ngại khác trong buôn bán của các quốc gia.
Hàm lượng các yếu tô và mức độ dồi dào của các yếu tô
M ột m ặt hàng được coi là sử dụng nhiều (m ột cá ch tương đ ố i) lao động nếu tỷ
lệ giữa lượng lao đ ộ n g và cá c yếu tố khác (như vốn hoặc đất đai) sử dụng để sản xuất
ra m ột đơn vị m ặt hàng nào đó lớn hơn tỷ lệ tương ứng các yếu tố đó để sản xuất ra mặt hàng thứ 2 T ương tự, nếu tỷ lệ giữa vốn và cá c yếu tố khác là lớn hơn thì mặt hàng được c o i là c ó hàm lượng vốn cao Chẳng hạn, m ặt hàng X được co i là có hàm lượng lao đ ộ n g ca o nêú:
L x Ly
K x Ky
Trang 19trong đó: Lx và Ly tương ứng là lượng lao động cần thiết để sản xuất ra m ột đơn vị X
và Y , cò n K x và Ky là lư ợng vốn cần thiết để sản xuất ra m ộ t đơn vị X và Y m ột cách tương ứng.
Đ ịn h n g h ĩa v ề hàm lượng vốn (hay hàm lượng lao đ ộ n g ) khôn g căn cứ vào tỷ
lệ giữ a lượng v ốn (h ay lượng lao đ ộ n g ) và sản lượng, cũ n g như s ố lượng tuyệt đối vốn (hay lao đ ộ n g ), m à được phát biểu dựa trên tương quan giữ a lượng vốn và lượng lao đ ộn g cần thiết để sản xuất ra m ột đơn vị sản lượng.
M ột q u ố c g ia được co i là dồi dào về lao đ ộn g (hay về vốn ) nếu tỷ lệ giữa lượng la o đ ộ n g (h ay lượng vốn ) và các y ếu tố sản xuất khác củ a qu ốc gia đó lớn hơn
tỷ lệ tương ứng củ a cá c quốc g ia khác Cũng tương tự như trường hợp hàm lượng các
y ếu tố, m ức độ dồi dào của m ột yếu tố sản xuất củ a m ột qu ốc g ia được đo không phải bằng s ố lư ợng tuyệt đ ố i, m à bằng tương quan giữ a s ố lượng của yếu tố đó với số lượng của các y ế u tố sản xuất khác của quốc gia.
N ư ớc A được co i là dồi dào tương đối về lao đ ộn g nếu:
La Lb
Ka Kb
Định lý Heckscher-Ohlin
Với các giả th iết của mỏ hình, m ột quốc gia dổi dào tương đối v ề m ột yếu tô' sản
xu ấ t s ẽ x u ấ t khẩu hàng hoá có hàm lượng yếu tô'đó cao và nhập khẩu hàng hoá ngược lại.
Đ iề u này c ó n gh ĩa là m ột nước giàu tương đối về lao đ ộ n g sẽ xuất khẩu hàng hoá sử dụng n h iều lao đ ộ n g và nhập khẩu hàng hoá sử dụng nhiều vốn và ngược lại.
1.1.5 Lý thuyết về chu kỳ sống quốc tê của sản phẩm.
L ý thuyết này giải thích nguyên nhân của hoạt đ ộn g thương mại quốc tế thông qua cá c giai đoạn chu kỳ số n g quốc tế củ a sản phẩm K hi sản phẩm ở vào giai đoạn suy g iả m , triệt tiêu trên v ò n g đời của nó thì nó được bán ra nước ngoài để kéo dài v ò n g đời đảm bảo lợ i nhuận ch o doanh nghiệp Đ â y chính là n g u y ên nhân của hoạt đ ộ n g thương m ại q u ố c tế.
Trang 20Hình 1-1: Chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm.
T h eo lý thuyết này, các sán phẩm m ới sẽ trải qua các giai đoạn sau:
- G iai đoạn sản phẩm m ới, thường là g ia i đoạn phát triển sẽ diễn ra ở các nước thu nhập ca o với bí quyết c ô n g ngh ệ cao Sản phẩm sẽ được sản xuất với m ứ c tập trung vốn cao.
- G iai đoạn ch ín m uồi: sản phẩm sẽ có các đặc tính củ a m ột sản phẩm được sản xuất hàng loạt Cầu nước ngoài tăng lên sẽ dẫn đến v iệc xuất khẩu từ nước phát triển sản phẩm này.
- G iai đoạn tiêu chuẩn hoá sản phẩm Khi sản phẩm được sản xuất hàng loạt, chi phí lao đ ộ n g thấp sẽ trở nên quan trọng V iệ c sản xuất sẽ chuyển sang c h o nước c ó chi phí lao động thấp hơn Sản phẩm sẽ trở thành hàng nhập khẩu đ ối với qu ốc gia ban đầu phát triển nó.
V í dụ: (X e m hình 1-1) G iả sử ban đầu N hật Bản c ó lợi th ế tuyệt đối về nhiều mặt hàng so với V iệ t N am Trong tất cả các m ặt hàng đó thì hàng điện tử c ó lợi thế
so sánh hơn cả vì c ó chi phí c ơ h ội thấp hơn Nhật Bản c ó ưu th ế về sản xuất mặt
Trang 21hàng này khi c ó n hiều vốn , c ô n g nghệ cao, lao động lành n ghề Ban đầu, Nhật Bản sẽ tập trung sản xuất m ặt hàng điện tử để thoả m ãn nhu cầu trong nước Khi sản phẩm này đã chín m u ồi ở thị trường trong nước cũng là lúc V iệ t N am c ó nhu cầu ca o về hàng điện tử củ a N hật Bản Nhật Bản sẽ xuất khẩu hàng điện tử sang V iệ t N am Giai đoạn sản xuất h àn g loạt m ặt hàng này d iễn ra ở N hật Bản thì V iệ t N am bắt đầu tiếp cận dần với các c ô n g n g h ệ sản xuất hàng điện tử Đ ế n giai đoạn tiêu chuẩn hoá, với
v iệc nắm bắt c ô n g n g h ệ ca o và lượng nhân c ô n g rẻ, V iệ t N am trở nên c ó lợi th ế so sánh về m ặt h àn g điện tử hơn so với N hật Bản Sản xuất trong nước của Nhật Bản giảm đi và nhập khẩu nhiều hàng điện tử của V iệt N am hơn
1.2 CHÍNH SÁCH THƯƠNG M ẠI QUỐC TÊ
Chính sách thương m ại qu ốc tế hay cò n g ọ i là chính sách n goại thương là m ột
bộ phận củ a ch ín h sách kinh tế đối ngoại nhằm điều chỉnh các hoạt đ ộn g thương m ại quốc t ế củ a m ột q u ố c gia.
C hính sá ch thương m ại quốc tế bao g ồ m m ột hệ thống các n g u y ên tắc, cô n g
cụ và biện pháp thích hợp m à nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt đ ộn g thương
m ại qu ốc tế củ a m ộ t qu ốc g ia trong m ột thời kỳ nhất định nhằm đạt được các m ục tiêu đã định trong ch iến lược phát triển kinh tế - xã hội củ a qu ốc g ia đó.
1.2.1 Công cụ thuế quan của chính sách thương mại quốc tê
T h u ế quan, c ô n g cụ c ơ bản nhất của chính sách thương m ại, là loại thuế đánh vào hàng nhập khẩu T h u ế quan là m ột khoản th u ế đánh vào hàng hoá di chuyển từ
m ột khu vực hải quan này tới khu vực hải quan khác vì m ục đích bảo h ộ hoặc tăng thu nhập thuế T h u ế quan làm tăng giá cả hàng hoá nhập khẩu, vì vậy làm ch o chúng
ít c ó khả năng cạnh tranh hơn trên thị trường nước nhập khẩu trừ khi nước nhập khẩu không sản xuất m ặt hàng bị đánh th u ế này.
T h u ế đ ặ c đ ịn h (sp ec ific tariff) là m ức th u ế quan tính bằng m ột s ố lượng tiền nhất định trên m ột đơn vị hiện vật (v í dụ 3 U S D /m ộ t thùng dầu) T h u ế th e o g iá trị
(ad valorem tariff) là th u ế quan tính trên giá trị, tức là tính bằng phần trăm giá trị hàng ch u y ển khẩu (v í dụ 25% th u ế quan của H oa K ỳ đánh vào ôtô tải nhập khẩu).
Trang 22Thuê quan là hình thức cổ điển nhất của chính sách thương mại quốc tế và từ trước tới nay được sử dụng như một nguồn thu của chính phủ Ví dụ, nguồn thu chủ yếu của chính quyền Hoa Kỳ là từ thuế quan cho tới khi áp dụng thuế thu nhập Tuy nhiên, mục đích thực sự của thuế quan không chỉ là tăng nguồn thu chính phủ mà còn là bảo vệ ngành công nghiệp nội địa Trong những năm đầu thế kỷ 19, nước Anh
sử dụng thuế quan (hệ thống luật Corn nổi tiếng) để bảo vệ khu vực nông nghiệp của
nó khỏi sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu Trong những năm cuối thế kỷ 19, cả Đức
và Hoa Kỳ đều bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ của mình bằng cách đánh thuế quan vào hàng chế tạo nhập khẩu Ngày nay, tầm quan trọng của thuế quan đã giảm
vì các chính phủ thường thích sử dụng các rào cản phi thuế quan hơn như hạn ngạch nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu.Tuy vậy, việc thấu hiểu ảnh hưởng của thuế quan vẫn là nền tảng cơ bản cho việc nắm bắt các chính sách thương mại khác.
Cung, cầu và thương mại trong một nền kinh tê giản đơn
Giả sử có hai nước: nước chủ nhà (H) và nước ngoài (F) Cả hai nước đều tiêu dùng và sản xuất bột mì, một loại hàng hoá ít phải chịu chi phí vận tải giữa hai nước này ở mỗi nước, bột mỳ là ngành cạnh tranh duy nhất trong đó đường cung và dường cầu được điều chỉnh bởi giá cả thị trường Thông thường, cung và cầu của nước H sẽ phụ thuộc vào giá cả của đồng nội tệ nước H; tương tự, cung, cầu của nước F sẽ phụ thuộc vào giá cả của đồng nội tệ nước F Nhưng chúng ta giả định rằng tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền không bị ảnh hưởng cho dù bất kỳ chính sách thương mại nào được áp dụng trên thị trường Do đó, chúng ta ấn định giá cả ở hai thị trường theo đồng nội tệ của nước H.
Thương mại sẽ tăng lên trong một thị trường mà ở đó giá cả là chênh lệch nhau khi không có thương mại Giả sử rằng nếu không có thương mại, giá bột mì của nước H sẽ cao hơn giá bột mì ở nước F Xét trong trường hợp có ngoại thương, vì giá bột mì ở nước H cao hơn giá bột mì ở nước F, chủ tàu có xu hướng vận chuuyển bột
mì từ nước F tới nước H Việc xuất khẩu bột mì sẽ làm tăng giá bột mì ở nước F và giảm giá bột mì ở nước H cho tới khi sự chênh lệch về giá cả ở hai nước này là không còn nữa.
Trang 23Đê xác đinh giá và lượng trong thương mai của thê giới, chúng ta hãy xác đinh them hai đương mơi la đương câu nhâp khâu của nước H và đường cung xuất khau cua nươc F, được vẽ từ đường cung và cầu nôi đia Cầu về nhâp khẩu của nước
H là số dư giữa cầu tiêu dùng nước H với cung của nước H; cung xuất khẩu của nước
F là số dư của cung nước F và cầu tiêu dùng nước F.
Hình 1-2 Xác định đường cầu nhập khẩu của nước chủ nhà H
0 mưc gia p , ta co lượng cung tiêu dùng của nước H là D 1, trong khi mức cung của nước H là s' Do đó cầu nhập khẩu nước H là (D 1 - s1) Nếu ta nâng mức giá lên p2 câu tiêu dung của nước H chỉ là D2, trong khi các nhà sản xuất của nước H sẽ tăng mức cung lên s2 Do đó cầu về nhập khẩu sẽ giảm xuống mức (D 2 - s2) Các mức giá
và lượng này được biểu diễn là điểm 1 và 2 trong đồ thị bên phải của hình 1-2 Đương câu nhập khâu MD có độ dốc âm vì khi giá tăng lên, lượng cầu nhâp khẩu giảm xuống Ở mức giá PA, mức cung và cầu của nước H là cân bằng khi không có thương mại nên đường cầu nhập khẩu của nước H cắt trục giá cả tại PA (cầu về nhập khẩu =0 tại mức giá PA)
Trang 24Hình 1-3 Xác định đường cung xuất khẩu của nước F
Hình 1-3 cho thấy đường cung xuất khẩu của nước F được xác định như thế nào Tại mức giá p 1, cung ở nước F là s*1, trong khi cầu tiêu dùng của nước F chỉ là
D * 1, do vậy lượng xuất khẩu toàn bộ là s*1 — D * 1 Ở mức giá p 2, nước F tăng mức cung lên s*2 và tiêu dùng của nước F giảm còn D*2, do vậy mức xuất khẩu toàn bộ tăng lên là s*2 D *2 Vì lượng hàng hoá xuất khẩu tăng lên khi giá tăng nên đường cung xuất khẩu có độ dốc dương Tại mức giá P*A, cung và cầu bằng nhau trong trường hợp không có thương mại nên đường cung xuất khẩu cắt trục giá cả tại P*A (cung xuất khẩu =0 tại mức giá P*A).
Hình 1-4 Cân bằng của thê giới
Trang 25Cân băng cua thê giới diên ra khi cầu nhâp khấu của nước H bằng cung xuất khẩu của nước F (Hình 1-4) Tại mức giá pw, giao điểm của hai đường, cung thế giới bằng cầu của thế giới Tại điểm cân bằng 1 trong hình 1-4 thì
Cầu nước H — Cung nước H = Cung nước F — Cầu nước F
hay Cầu nước H + Cầu nước F = Cung nước H + Cung nước F
hay Cầu thế giới = Cung thế giới
Ảnh hưởng của thuê quan
Đưng trên quan diêm cua người vân chuyển hàng hoá, thuê quan giống như chi phí vận tải Xét trong một nền kinh tế giản đom, nếu nước H đánh thuế $2 vào bất
kỳ một bao bột mì nào nhập khẩu, chủ tầu không vận chuyển bột mì trừ phi chênh lệch giá cả giữa hai thị trường phải tối thiểu là $2.
Hình 1-5 Ảnh hương của thuê quan
Thi trường nước H Thị trường th ế giới Thị trường nước F
mì Nếu không có thuế quan, giá cả của bột mì sẽ cân bằng tại pw trên cả hai thị trường là điểm số 1 trên đồ thị biểu diễn thị trường thế giới Tuy nhiên với việc đánh thuế, chủ tàu không muốn vận chuyển bột mì từ nước F tới nước H trừ khi chênh lệch giá cả giữa hai thị trường này là $t Nếu không có sự vận tải bột mì thì ở nước H vẫn
Trang 26có dư cầu bột mì và ở nước F vẫn có dư cung bột mì Do đó giá ở nước H sẽ tăng và giá ở nước F sẽ giảm cho tới khi chênh lệch giá cả giữa hai nước là $t
Việc áp dụng thuế quan tạo ra một sự chênh lệch về giá cả giữa hai thị trường Thuế quan làm tăng giá cả ở nước H lên PT và hạ giá ở thị trường F xuống p*f= PT-t
Ớ nước H, các nhà sản xuất sẽ cung cấp nhiều hơn ở mức giá cao hơn này, trong khi cầu tiêu dùng lại giảm đi, dẫn đến yêu cầu về hàng nhập khẩu giảm đi (điểm tiêu dùng trượt từ điểm 1 đến điểm 2 trên đường MD) Ở nước F, giá cả thấp hơn làm giảm cung và tăng cầu dẫn đến cung xuất khẩu giảm đi (trượt từ điểm 1 xuống điểm
3 trên đường XS) Do vậy, khối lượng hàng trong trao đổi thương mại sẽ giảm từ Qw
- khối lượng khi có thương mại tự do - xuống Q j - khối lượng khi có thuế quan Ở mức khối lượng thương mại QT, cầu nhập khẩu của nước H = cung xuất khẩu của nước F khi PT - P*T= t.
Việc tăng giá ở nước H, từ pw lên PT thấp hơn trị giá thuế quan vì một phần của thuế quan được phản ánh trong việc giảm giá xuất khẩu của nước F và vì thế người tiêu dùng của nước H không phải chịu Đây là kết quả thông thường của thuế quan hay bất kỳ một chính sách thương mại nào dùng để hạn chế nhập khẩu Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng tới giá của nhà xuất khẩu trong thực tế thường là rất nhỏ Khi một nước áp dụng thuế quan, ban đầu thị phần của nó đối với loại hàng mà nó
Trang 27nhập khẩu thường là rất nhỏ nên việc giảm nhập khẩu của nước này ít có ảnh hưởng tới giá (xuất khẩu) của thế giới.
Anh hưởng của thuế quan trong trường hợp một nước nhỏ không có khả năng ảnh hưởng tới giá cả thế giới được minh hoạ trong hình 1-6 Trong trường hợp này thuế quan làm tăng giá hàng nhập khẩu ở nước áp dụng thuế quan lên đến toàn bộ giá trị của thuê, từ pw tới Pw+t Sản xuất hàng nhập khẩu sẽ tăng từ s' lên s2 trong khi tiêu dùng hàng này giảm từ D' xuống D2 Kết quả của thuế quan là hàng nhập khẩu giảm ở nước áp dụng thuế quan.
Chi phí và lợi ích cua thuê quan
Thuê quan làm tăng giá cả hàng hoá ở nước nhâp khẩu và giảm giá hàng hoá
đó ơ nước xuất khâu Kêt quả của những thay đổi này là người tiêu dùng ở nước nhập khẩu bị thiệt hại, còn người tiêu dùng ở nước xuất khẩu lại được lợi Ngược lại nhà sản xuất ở nước nhập khẩu lại hưởng lợi, còn ở nước xuất khẩu bị mất mát Để so sánh được các lợi ích và chi phí này, việc lượng hoá là rất cần thiết Phương pháp để tính các chi phí và lợi ích của thuế quan dựa vào hai khai niệm phổ biến mà kinh tế
vi mô phân tích là thăng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất.
Thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất:
Hình 1-7 Minh hoạ của thặng dư tiêu dùng
Thặng dư tiêu dùng là phần diện
tích dưới đường cầu và trên giá cả
p
Trang 28Thặng dư tiêu dùng tính khối lượng mà người tiêu dùng đạt được từ việc mua hàng hoá bằng cách tính sự chênh lệch giữa giá cả mà người tiêu dùng thực tế phải tra va gia ca ma anh ta săn lòng trả V í du, nếu môt người tiêu dùng chỉ muốn trả $8 cho một bao bột mì nhưng giá của bao bột mì đấy chỉ là $3, thì thặng dư tiêu dùng của việc mua bán đó là $5.
Giả sử nếu p là giá của hàng hoá và Q là lượng cầu tại mức giá đó, thì thặng
dư tiêu dùng được tính bằng cách trừ đi phần diện tích (PXỌ) phía dưới đường cầu cho tới Q (hình 1-7) Nếu giá cả là p 1, lượng cầu là Q 1 thì thặng dư tiêu dùng là vùng
a. Nếu giá cả giảm xuống p2, lượng cầu là Q2 thì thặng dư tiêu dùng tăng lên là phần diện tích a thêm phần diện tích h.
Thặng dư sản xuất là một khái niệm tương tự Người sản xuất sẽ sẵn lòng bán
1 loại hang hoa VƠI giá $2 nhưng khi nhân đươc $5 thì thăng dư của người sản xuất là
$3 Cách xác định thặng dư tiêu dùng từ đường cầu cũng vẫn được sử dụng để xác định thặng dư sản xuất từ đường cung Nếu p là giá và Q là lượng cung tại mức giá
đó thì thặng dư sản xuất là p X Q từ diện tích dưới đường cung cho tới Q (hình 1-8) Nêu giá cả là p 1, lượng cung tại mức giá đó là Q 1, thì thặng dư sản xuất được tính bằng diện tích c. Nếu giá cả tăng lên p2, lượng cung tại mức giá đó là Q2, thì thặng
dư sản xuất là diện tích c thêm diện tích d
Hình 1-8 Minh hoạ thặng dư sản xuất
Thặng dư sản xuất là phần diện
tích trên đường cung và dưới giá cả
-
Trang 29-Xác định chi phí và lợi ích
Hình 1-9 minh hoạ chi phí và lợi ích của thuế quan đối vói nước nhập khẩu
Thuê quan làm tăng giá trong nước từ pw lên PT nhưng giảm giá hàng xuất khẩu của nước xuất khẩu từ pw xuống P*T (xem lại hình 1-4) Sản xuất trong nước tăng lên từ s' lên s2 trong khi tiêu dùng trong nước giảm từ D' xuống D2 Chi phí và lợi ích đôi với các đối tượng khác nhau được minh hoa là tổng của các diện tích của
5 vùng được đánh dấu a, b, c, d, e.
Hình 1-9 Chi phí và lợi ích của thuê quan đối với nước nhập khẩu
Trước hêt ta hãy xác định lợi ích đối với người sản xuất trong nước Người sản xuất nhận được giá cả cao hơn và do vậy có thặng dư sản xuất nhiều hon Trong hình 1-8, thặng dư sản xuất là phần diện tích dưới giá cả và trên đường cung Trước khi có thuế quan, thặng dư sản xuẩt là phần diện tích dưới pw nhưng phía trên đường cung Với việc giá cả tăng lên đến PT, thặng dư này tăng thêm phần diện tích a. Đ ó là phần người sản xuất nhận thêm từ thuế quan.
Người tiêu dùng trong nước chịu giá cả cao hơn, làm cho họ bị thiệt hơn Như chúng ta đã thấy trong hình 1-7, thặng dư tiêu dùng là phần diện tích trên giá cả nhưng dưới đường cầu Vì giá cả người tiêu dùng phải chịu tăng từ pw đến PT, thặng
Trang 30dư sản xuất giảm bằng diện tích a+b+c+d. Do vậy, người tiêu dùng bị mất mát do thuế quan.
Khi áp dụng thuế quan, chính phủ được lợi do nhận được nguồn thu Phần này được tính bằng mức thuế quan t 5 Qx (Qý= khối lượng nhập khẩu = D2 — s 2) Vì í =
PT — p*x, nguồn thu của chính phủ bằng c+e
Bởi vì các lợi ích và thiệt hại này là dành cho các nhóm khác nhau, việc đánh giá chi phí và lợi ích của thuế quan dựa vào trị giá lợi ích đối với từng nhóm Ví dụ, nếu lợi ích của người sản xuất chủ yếu qua việc sở hữu nguồn lực dồi dào, trong khi người tiêu dùng lại nghèo hơn mức trung bình, thuế quan sẽ được xem xét khác hơn nếu những người giàư có mua hàng hoá, mà loại hàng này được sản xuất bởi những người công nhân có mức lương thấp Vai trò của chính phủ cũng rất mơ hồ: Liệu chính phủ có sử dụng nguồn thư để tài trợ cho các dịch vụ công cộng hết sức cần thiết hay chỉ hao phí một cách vô ích mà thôi? Đối với các nhà phân tích chính sách thương mại thì họ thường tính toán hiệu quả ròng đối với phúc lợi xã hội bằng cách giả định rằng về mặt giới hạn một đôla chi phí hay lợi ích đối với từng nhóm cũng có nghĩa là giá trị đối với xã hội.
Về mặt hiệu quả ròng đối với phúc lợi xã hội, thì chi phí ròng đối với thuế quan là:
Mất mát của người tiêu dùng - lợi ích của nhà sản xuất - thu nhập của chính phủ
hay (a + b + c + cl) — a — (c + e) = b + d — e
Về mặt hình học, có hai tam giác thể hiện mất mát của xã hội trên tổng thể và một hình chữ nhật thể hiện lợi ích bù đắp cho những mất mát đó Những mất mát đó được gọi là mất mát về hiệu quả (efficiency loss) nảy sinh do thuế quan làm thay đổi động lực đối với người sản xuất và người tiêu dùng, trong khi hình chữ nhật minh hoạ lợi ích từ hệ số thương mại (terms of trade gain) nảy sinh do thuế quan làm giảm giá hàng xuất khẩu của nước ngoài.
Lợi ích phụ thuộc vào khả năng của nước áp dụng thuế quan trong việc giảm giá hàng xuất khẩu Nếu nước đó không thể làm giảm giá thế giới, vùng diện tích e,
minh hoạ lợi ích của hệ số thương mại, sẽ mất đi, và rõ ràng là thuế quan làm giảm phúc lợi xã hội Thuế quan làm thay đổi động lực của nhà sản xuất và người tiêu
Trang 31dùng bằng cách khuyến khích họ hành động như thể hàng nhập khẩu đắt hơn thực tế Chi phí của một đơn vị tiêu dùng thêm vào đối với nền kinh tế là giá của một đơn vị hàng nhập khẩu thêm vào, nhưng bởi vì thuế quan làm giá nội địa cao hơn giá thế giới, người tiêu dùng sẽ giảm nhu cầu của mình xuống tới diểm mà một đơn vị biên đem lại cho họ phúc lợi bằng với giá nội địa sau khi có thuế quan Giá trị của một đơn vị sản xuất thêm vào đối với nền kinh tế là giá của một đơn vị nhập khẩu mà nó tiết kiệm được, nhưng do nhà sản suất trong nước mở rộng việc sản xuất của mình tới điểm mà chi phí biên bằng với giá sau khi có thuế quan Do đó, nền kinh tế nội địa
sẽ sản xuất thêm những đơn vị mà nó có thể mua ở nước ngoài với giá rẻ hơn.
Hình 1-10 Ánh hưởng ròng tới phúc lợi của thuê quan
Khi đó, ảnh hưởng ròng của thuế quan được biểu hiện trong hình 1-10 Những ảnh hưởng tiêu cực là hai hình tam giác b và d. Hình b là mất mát do sản xuất bị lệch lạc (production distortion loss), là kết quả của thực tế là thuế quan làm cho các nhà sản xuất trong nước sẽ sản xuất quá nhiều mặt hàng này Hình d là mất mát do tiêu dùng bị lệch lạc (consumption distortion loss) trong nước, kết quả của thực tế là thuê quan làm cho người tiêu dùng tiêu thụ quá ít loại hàng hoá này Lợi ích của hệ số thương mại được minh hoạ bởi hình e, kết quả của việc giảm giá hàng xuất khẩu từ
Trang 32nước ngoài do thuế quan Trong trường hợp một nước nhỏ không có khả năng tác động đến giá cả nước ngoài, ảnh hưởng cuối, tức là lợi ích của hệ số thương mại sẽ mất đi; lúc đó chi phí của thuế quan chắc chắn sẽ vượt quá lợi ích của nó.
1.2.2 Các công cụ phi thuế quan của chính sách thương mại quốc tê
1.2.2.1 Trợ cấp xuất khẩu:
Trợ cấp xuất khẩu là khoản trả cho một doanh nghiệp hay một cá nhân trong việc vận chuyển hàng hoá ra nước ngoài Giống như thuế quan, trợ cấp xuất khẩu có thể là đặc định (một khoản tiền nhất định trên một đơn vị) hoặc tính theo giá trị (một
tỷ lệ phần trăm trên giá trị xuất khẩu) Khi một chính phủ áp dụng trợ giá xuất khẩu, các nhà xuất khẩu sẽ xuất hàng hoá đó tới điểm mà giá trong nước cao hơn giá nước ngoài một khoản bằng giá trị trợ cấp.
Hình 1-11 Ánh hưởng của trợ cấp xuất khẩu
Trợ cấp xuất khẩu làm tăng giá ở
nước xuất khẩu trong khi làm giảm
giá ở nước nhập khẩu
T rợ cấp
a + b + c = lợi ích đối với nhà sản xuất
a + b = thiệt hại đối với người tiêu dùng
b + c + d + e+ f + g = chi phí của
trợ cấp chính phủ
Các ảnh hưởng của trợ cấp xuất khẩu tới giá cả là hoàn toàn ngược lại các ảnh hưởng của thuế quan (hình 1-11) Giá ở nước xuất khẩu sẽ tăng từ pw tới ps, nhưng vì giá ở nước nhập khẩu giảm từ pw xuống p*s, việc tăng giá này ít hơn là giá trị trợ cấp Ở nước xuất khẩu, người tiêu dùng bị thiệt, còn nhà sản xuất được lợi, và chính phủ bị thiệt vì chính phủ phải chi tiêu cho việc trợ cấp này Thiệt hại của người
Trang 33tiêu dùng được tính là vùng a + b, lợi ích của nhà sản xuất là vùng a + b + C' khoản trợ cấp của chính phủ (= khối lượng xuất khẩu 5 trị giá trợ cấp) là vùng b + c + d + e
+ f + 8- Do đó, thiệt hại ròng đối với phúc lợi là tổng của vùng b + d + e + f + g
Trong số này, b và d là mất mát do tiêu dùng và sản xuất bị lệch lạc giống như trong trường hợp đối với thuế quan Hơn nữa, ngược lại với thuế quan, trợ cấp xuất khẩu làm xâu đi hệ sô thương mại (terms o f trade) bằng cách giảm giá hàng xuất khẩu ở thị trường nước ngoài từ Pw xuống p*s Điểu này làm mất thêm một khoản từ hệ số thương mại e + f + g, (= (Pw — p*s) 5 lượng xuất khẩu khi có trợ cấp) Do vậy, trợ cấp xuất khâu làm cho chi phí của nó lớn hơn lợi ích mà nó đem lai
Mặc dù việc sử dụng rộng rãi trợ cấp hàng xuất khẩu của một nước có thể làm tăng xuất khẩu của nó và hỗ trợ cho cán cân thanh toán, nhưng những khoản trợ cấp như thế bị Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan coi là chính sách buôn bán không công bằng và thường dẫn đến hành vi trả đũa của các nước khác
Hạn ngạch nhập khẩu là hạn chế trực tiếp đến khối lượng hàng hoá có thể được nhập khẩu Việc hạn chế này được thực hiện bằng cách cấp phép cho một số nhóm cá nhân hoặc doanh nghiệp Ví dụ, Hoa Kỳ áp dụng hạn ngạch đánh vào nhập khẩu pho mát Các công ty dược phép nhập khẩu pho mát là các công ty thương mại, mỗi một công ty trong số này được phân bổ quyền được nhập khẩu một khối lượng pho mát nhiều nhất trong một năm Mức độ của hạn ngạch phụ thuộc vào khối lượng pho mát nhập khẩu trước dây Trong một vài trường hợp quan trọng, như đường và quần áo, quyền nhập khẩu hàng hoá vào Hoa Kỳ được phân bổ trực tiếp cho chính phủ của các nước xuất khẩu.
Điều quan trọng ở đây là phải tránh quan niệm sai lầm cho rằng hạn ngạch nhập khẩu ở một mức độ nào đó hạn chế hàng nhập khẩu mà không làm tăng giá nội địa Thực ra, hạn ngạch nhập khẩu luôn luôn làm tăng giá nội địa của hàng nhập
về loại hàng hoá đó sẽ vượt cung nội địa cộng với hàng nhập khẩu Điều này dẫn tới việc giá cả tăng lên cho tới khi cân bằng thị trường Cuối cùng thì, hạn ngạch nhập khẩu sẽ làm tăng giá nội địa với mức bằng với thuế quan hạn chế nhập khẩu (trừ
Trang 34trường hợp độc quyền trong nước, khi đó hạn ngạch làm tăng giá nhiều hơn như
vậy).
Sự khác biệt giữa hạn ngạch và thuế quan là ở chỗ: với hạn ngạch, chính phủ không nhận được nguồn thu nào cả Khi áp dụng hạn ngạch chứ không phải thuế quan để hạn chế nhập khẩu, số tiền đáng ra phải nằm trong nguồn thu của chính phủ thì lại do những người được phân bổ hạn ngạch thu về Những người được phân bổ hạn ngạch có thể mua hàng và bán lại với giá cao hơn trên thị trường trong nước Tiền tô của những người được cấp giấy phép nhập khẩu này được gọi là quota rents
hay tiên tô từ hạn ngạch Trong việc đánh giá chi phí và lợi ích của hạn ngạch nhập khẩu, điều quan trọng là xác định được ai là người nhận được khoản lợi nhuận này Khi quyền được bán trên thị trường nội địa được phân bổ cho chính phủ của các nước xuất khẩu, thường thì việc chuyển khoản lợi nhuận này cho phía nước ngoài hưởng làm cho chi phí của hạn ngạch cao hơn nhiều so với việc áp dựng mức thuế quan tương tự.
Là một công cụ bảo hộ, hạn ngạch có tác dụng hơn thuế quan, đặc biệt khi nhu cầu nhập khẩu không co giãn đối với giá cả Khi nhu cầu nhập khẩu không thay đổi khi giá thay đổi, sự gia tăng giá nhập khẩu ít có tác dụng đối với khối lượng nhập khẩu Trong những trường hợp như vậy, con đường chắc chắn hơn để hạn chế nhập khẩu là sử dụng các hình thức kiểm soát trực tiếp ví dụ như hạn ngạch nhập khẩu.
Một biến thể của hạn ngạch nhập khẩu là hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER), cũng còn được gọi là thoả thuận hạn chế tự nguyện (VRA) VER là hạn ngạch thương mại do nước xuất khẩu áp dụng thay vì nước nhập khẩu V í dụ điển hình nhất là hạn chế tự nguyện của Nhật Bản trong việc xuất khẩu ôtô sang Hoa Kỳ thi hành năm 1981.
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện thường được áp dụng theo yêu cầu của nước nhập khẩu và được nước xuất khẩu chấp thuận để ngăn chặn trước các biện pháp hạn chế thương mại khác Các thuận lợi về mặt luật pháp và chính trị làm cho VER trở thành biện pháp được ưa chuông nhất trong những năm gần đây Tuy nhiên, đứng trên quan điểm kinh tế học, hạn chế xuất khẩu tự nguyện chính xác giống như hạn
Trang 35ngạch nhập khấu trong đó giấy phép được giao cho chính phủ nước ngoài và vì vậy chi phí đối với nước nhập khẩu là rất lớn.
VER đối với nước nhập khẩu luôn luôn có chi phí cao hơn thuế quan ở cùng mức độ Sự khác biệt là ở chỗ những gì sẽ là nguồn thu cho chính phủ trong trường hợp thuê quan trở thành lợi nhuận cho các nhà xuất khẩu nước ngoài trong trường hợp VER, nên VER rõ ràng là gây tổn thất cho nước nhập khẩu.
Một nghiên cứu gần đây về ảnh hưởng của 3 loại hạn chế xuất khẩu tự nguyện chính của Hoa Kỳ trong lĩnh vực dệt may, thép và ôtô cho thấy 2/3 chi phí mà người tiêu dùng phải chịu là nguồn lợi nhuận mà người nước ngoài hưởng Hay nói một cách khác, gánh nặng chi phí thể hiện sự chuyển giao về thu nhập hơn là mất mát về hiệu quả Việc tính toán này cũng nhấn mạnh một điều là trên quan điểm một nước VER trớ nên tốn kém hơn nhiều so với thuê quan Do vậy, việc các chính phủ ưa dùng biện pháp này hơn các biện pháp chính sách thương mại khác cần có sự phân tích thận trọng hơn.
Một vài hiệp định hạn chế tự nguyện không chỉ giới hạn trong phạm vị một nước Hiệp định đa phương nổi tiếng nhất là Hiệp định Sợi Đa biên (Multifiber Arrangment), một hiệp định hạn chế xuất khẩu dệt từ 22 nước.
Yêu cầu về hàm lượng nội địa là một quy định yêu cầu một tỷ lệ nhất định trong thành phẩm cuối cùng phải được sản xuất trong nước Trong một vài trường hợp, tỷ lệ này được cụ thể hoá theo đơn vị vật lý, như hạn ngạch nhập khẩu đối với dầu mỏ của Hoa Kỳ trong những năm 60 của thế kỷ 20 Trong những trường hợp khác, yêu cầu này được quy định theo giá trị, bằng cách một tỷ lệ phần trăm tối thiểu trong giá cả hàng hoá thể hiện giá trị nội địa tăng thêm Luật về hàm lượng nội địa được các nước đang phát triển sử dụng rộng rãi trong việc cố gắng chuyển các cơ sở lắp ráp sản phẩm trung gian sang cơ sở sản xuất Ớ Hoa Kỳ, một dự luật về hàm lượng nội địa của ôtô được trình vào năm 1982 nhưng chưa bao giờ được thông qua.
Đứng trên quan điểm của nhà sản xuất trong nước về phụ tùng, quy định về hàm lượng nội địa là biện pháp bảo hộ giống như hạn ngạch nhập khẩu Tuy nhiên, đứng trên quan điểm của các công ty phải mua hàng trong nước, ảnh hưởng có phần
Trang 36khác đi Hàm lượng nội địa không phải là hạn chế ngặt nghèo về nhập khẩu Nó cho phép các công ty nhập khẩu nhiều hơn với điều kiện là họ phải mua ở trong nước nhiều hơn Đ iều này có nghĩa là giá nguyên liệu đầu vào hợp lý đối với một công ty
là trung bình của giá nguyên liệu đầu vào nhập khẩu và sản xuất nội địa.
V í dụ, hãy xem một chiếc ôtô có giá phụ tùng nhập khẩu là $6000 Giả sử mua phụ tùng tương tự trong nước sẽ mất $10000 nhưng các công ty lắp ráp được yêu cầu mua 50% số phụ tùng trong nước Lúc đó họ sẽ có chi phí trung bình là 0,5 5
$6000 + 0,5 5 $10000 = $8000, đây là giá cuối cùng của chiếc ôtô.
Điều quan trọng ở đây là yêu cầu về hàm lượng nội địa không đem lại nguồn thu nào cho chính phủ cũng như lợi nhuận từ hạn ngạch Thay vào đó, sự khác biệt
về giá cả nhập khẩu và hàng nội địa được bình quân trong giá cuối cùng và phần chênh lệch này do người tiêu dùng chịu.
Một điểm mới của các yêu cầu về hàm lượng nội địa là việc cho phép các công ty đáp ứng yêu cầu về hàm lượng nội địa bằng cách xuất khẩu thay vì sử dụng các phụ tùng đó trong nước V í dụ các công ty Hoa Kỳ hoạt động ở M exico đã chọn xuất khẩu một vài phụ tùng từ M exico sang Hoa Kỳ, mặc dù các phụ tùng này sản xuất ở Hoa Kỳ rẻ hơn nhiều, vì điều này cho phép họ sử dụng ít phụ tùng Mexico trong việc sản xuất ôtô ở M exico cho thị trường này Hiện tại, WTO yêu cầu phải bãi
bỏ các quy định này trong chính sách thương mại của các quốc gia.
Một vài biện pháp khác mà chính phủ thường hay áp dụng là:
l 2.2.5.1 Trợ cấp tín dụng xuất khẩu
Giống như trợ cấp xuất khẩu trừ một điểm là nó dược thực hiện dưới dạng khoản vay trợ cấp cho người mua Hoa Kỳ, như nhiều nước khác, có một định chế tài chính thuộc chính phủ — Ngân hàng Xuất nhập khẩu — cam kết cung cấp các khoản vay được trợ cấp để hỗ trợ xuất khẩu.
1.2.2.52 Mua sắm của chính phủ
Các khoản mua sắm của chính phủ hoặc các công ty có ảnh hưởng lớn có thể định hướng những hàng hoá được sản xuất trong nước thậm chí ngay cả khi các hàng hoá này đắt hơn hàng nhập khẩu V í dụ mang tính cổ điển là ngành viễn thông của
Trang 37Châu Âu Về nguyên tắc, các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu buôn bán tự do với nhau Tuy nhiên, khách hàng chính về thiết bị viễn thông là các công ty điện thoại'
và ở Châu Âu các công ty này đến nay vẫn thuộc sở hữu của chính phủ Các công ty điện thoại thuộc sở hữu chính phủ này mua từ các nhà cung cấp trong nước ngay cả khi các nhà cung cấp này phát giá cao hom các nhà cung cấp ở các nước khác Kết quả là thưomg mại vể thiết bị viễn thông ở Châu Âu là rất ít.
1.22.5.3 Các rào cản về thủ tục hành chính
Đ ôi khi chính phủ có thể hạn chế nhập khẩu mà không phải áp dụng một cách chính thức biện pháp nào Đom giản, chính phủ chỉ cần thắt chặt các quy định về an toàn sức khoẻ và thủ tục thuê quan để đặt ra các rào cản về thủ tục đối với thương mại V í dụ điển hình là Nghị định của chính phủ Pháp năm 1982 quy định rằng các máy thu video của Nhật Bản đều phải qua kiểm duyệt tại Hải quan Cảng Poitier Nghị định này đã hạn chế một cách hiệu quả nhập khẩu trong một thời gian.
Bảng 1-3 Ảnh hưởng của các công cụ chính sách thương mại quốc tê
Hạn chê xuất khẩu tự nguyện
Thặng dư của
người tiêu dùng
Nguồn thu của
chính phủ
Tăng Giảm (chi
tiêu chính phủ tăng)
không thay đổi (lợi nhuận dành cho các công ty được cấp phép)
không thay đổi (lợi nhuận dành cho các công ty được cấp phép) Phúc lợi của
quốc gia về
tổng thể
Không rõ ràng (giảm đôí với nước nhỏ)
Giảm Không rõ ràng
(giảm đôí với nước nhỏ)
Giảm
Trang 381.2.3 Tinh kinh tê chính trị của chính sách thưưng mại quốc tê
Mặc dù rất ít nước áp dụng thương mại tự do, song hầu hết các nhà kinh tế học đều cho rằng thương mại tự do là một chính sách lý tưởng Sự ủng hộ này dựa tren 3 luận diêm chính Thứ nhất, là trường hợp lơi ích hiêu quả có được từ thương mại tự do, la trương hợp phân tích chi phí — lơi ích ngươc lai của các biên pháp chính sách thương mại Thứ hai, nhiều nhà kinh tê hoc tin tưởng rằng thương mai tự
do đem lại nhiều lợi ích hơn là lợi ích mà các phân tích chính thức đã nêu ra V í dụ như tính kinh tế theo quy mô Các thị trường được bảo hộ không chỉ phân đoạn sản xuất về mặt quốc tế, mà bằng việc giảm cạnh tranh và tăng lợi nhuận, chúng còn cho phép quá nhiều công ty tham gia vào ngành công nghiệp được bảo hộ này Với quá nhiều công ty trong một thị trường nội địa nhỏ bé, quy mô sản xuất của từng công ty trở nên kém hiệu quả Ngành công nghiệp ôtô của Argentina là một ví dụ về cách mà việc bảo hộ đã dẫn đến quy mô kém hiệu quả như thế nào Hơn nữa, theo các nhà kinh tê học, băng việc cho các doanh nghiệp đông lưc để xuất khẩu hoăc canh tranh với hàng nhập khẩu, thương mại tự do đem lại nhiều cơ hội hơn cho việc học hỏi và cải tiến hơn là trong một hệ thống mà thương mại bị chi phối bởi chính phủ Cuối cùng, do khó khăn trong việc đưa các phân tích kinh tế phức tạp thành các chính sách hiện thực, các nhà kinh tế vẫn coi thương mại tự do là cơ sở hữu ích cho các quyết định chính sách của họ.
Một trường hợp đáng được xem xét khác từ thương mại quốc tế là về mặt nguyên tắc, các nước có thể cải thiện hệ số thương mại của họ thông qua thuế quan
và thuế xuất khẩu tối ưu Tuy nhiên, lập luận này về mặt thực tiễn là không mấy quan trọng Các nước nhỏ không thể có ảnh hưởng nhiều đến giá xuất khẩu hoặc giá nhập khẩu nên họ không thể sử dụng thuế quan hay các công cụ khác để tăng hệ số thương mại của họ Mặt khác, các nước lớn có thể tác động đến hệ số thương mại của mình, nhưng việc áp dụng thuế quan của họ phải chịu rủi ro phá vỡ các hiệp định thương mại của mình và đối đầu với việc trả đũa của các nước khác.
Một lập luận khác về thương mại tự do dựa trên sự thất bại của thị trường nội địa Nếu một vài thị trường nội địa, như thị trường lao động không thực hiện đúng chức năng của nó, thì thương mại tự do có thể giúp làm giảm bớt các hậu quả của
Trang 39việc thực hiện sai chức năng này Lý thuyết về tính tối ưu thứ hai (the theory o f the second best) chỉ ra rằng nếu một thị trường không hoạt động hiệu quả thì chính phủ không nên ngần ngại can thiệp vào các thị trường khác Thuế quan có thể làm tăng phúc lợi nếu có phúc lợi xã hội cận biên cho việc sản xuất một loại hàng hoá mà các biện pháp về thặng dư của nhà sản xuất không thể đạt được.
Mặc dù thất bại của thị trường là thường xuyên xảy ra, lập luận về thất bại của thị trường nội địa không được áp dụng rộng rãi Thứ nhất, đây là lập luận dành cho các chính sách nội địa chứ không phải cho chính sách thương mại quốc tế; thuế quan trong lập luận này là cách thứ yếu, “tối ưu thứ hai” để bù đắp các kiếm khuyết của thị trường Hơn nữa, thất bại của thị trường là rất khó có thể phân tích sâu để có thể
ra các quyết định chắc chắn về chính sách.
Trong thực tế, chính sách thương mại bị chi phối bởi sự cân nhắc về phân bổ thu nhập Không hề tổn tại một cách thức duy nhất nào cho việc lập mô hình cho tính chính trị của chính sách thương mại, nhưng một vài ý tưởng đã được đề xuất lên Các nhà chính trị học thường lập luận rằng chính sách được xác định bởi sự cạnh tranh của các đảng phái chính trị trong việc giành được càng nhiều phiếu càng tốt Trong trường hợp đơn giản nhất, việc này dẫn tới chấp thuận một chính sách phục vụ lợi ích của các cử tri chiếm đại đa số (median voter) Tuy nhiên, mặc dù rất hữu ích cho việc suy nghĩ về các vấn đề khác, cách tiếp cận này dường như đưa ra những dự đoán không thực tế về chính sách thương mại, những dự đoán này thường chỉ ưu đãi cho một nhóm nhỏ, có quyền lực hơn là cho công chúng nói chung Các nhà kinh tế học
và chính trị học thường giải thích vấn đề này bằng cách đưa ra vấn đề về hành động tập thể (collective action) Vì mỗi cá nhân có ít động lực để hành động một cách chính trị đại diện cho nhóm người mà họ là thành viên, nên các nhóm này thường được tổ chức một cách có hệ thống — thường là các nhóm nhỏ có nhiều quyền lợi —
có khả năng đạt được những chính sách phục vụ cho lợi ích của bản thân họ chứ không phải vì cộng đồng nói chung.
Giả sử chính sách thương mại chỉ được thực hiện trên cơ sở đơn thuần là trong nước, tiến trình về thương mại tự do rất khó có thể đạt được Tuy nhiên, trên thực tế các nước công nghiệp đã thực hiện giảm thuế quan của họ ở mức độ lớn thông qua
Trang 40quá trình đàm phán quốc tế Đàm phán quốc tế giúp giảm thuế quan theo hai hướng:
I1Ó làm tăng số người ủng hộ thương mại tự do bằng cách cho người xuất khẩu quyền lợi trực tiêp và nó giúp chính phủ tránh các cuộc chiến thương mại bất lợi cho cả hai bên, những bất lợi do việc các chính sách không được phối hợp trên bình diện quốc tế.
Mạc du đạt được vai tiên bộ thông qua tự do hoá thương mại thông qua các hiệp định song phương trong những năm 30 của thế kỷ 20, kể từ Đại chiến Thế giới thư 2, sự phôi hợp trên bình diện quốc tê đã diễn ra thông qua các hiêp đinh đa phương dưới sự ủng hộ của Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT) GATT là một tổ chức trung tâm cho hệ thống thương mại quốc tế Thoả thuận mới đây nhất của GATT là thành lập nên một tổ chức mới, Tổ chức Thương mại Thế giới WTO để giám sát và thi hành hiệp định.
Ngoài việc giảm thuế quan về mặt tổng thể thông qua đàm phán đa phương một vài nhóm các quốc gia đã đưa ra Hiệp định Thương mại Ưu đãi, theo đó họ sẽ giảm thuế quan cho nhau mà không phải cho các nước còn lại Có hai loại hiệp định thương mạt ưu đãi dược phép trong hệ thống GATT: liên minh hải quan (customs unions) trong đó các thành viên của hiệp định sẽ thiết lập thuế quan đối ngoại như nhau, và khu vực mậu dịch tự do (free trade areas) trong đó các nước không đánh thuế vào hàng hoá của nhau nhưng sẽ thiết lập mức thuế quan riêng của mình với các nước còn lại Cả hai loại hiệp định này đều có những ảnh hưởng không rõ ràng đối với phúc lợi kinh tê Nêu việc tham gia vào hiệp định như thế dẫn đến thay thế sản xuất trong nước với chi phí cao bằng hàng nhập khẩu từ các nước thành viên trong hiệp định — trường hợp tạo lập thương mại (trade creation), thì nước đó được lợi.
Nhưng nếu việc tham gia lại dẫn đến việc thay thế hàng nhập khẩu giá rẻ từ các nước ngoài hiệp định bằng các hàng hoá giá cao của các nước thành viên - trường hợp chuyển dịch thương mại (trade diversion), nước đó bị thua thiệt.
Trong quá trình hoạch định chính sách thương mại, những người theo chủ nghĩa quốc dân lại có quan điểm lập chính sách theo hướng bảo hộ thị trường trong nước trước sự cạnh tranh dữ dội của hàng hoá ngoại nhập Đây cũng là cách Nhà nước nâng đỡ các doanh nghiệp trong nước tăng cường sức mạnh trên thị trường nội