1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ Tìm hiểu nền văn hóa phong kiến Nhật Bản từ thế kỷ VII đến cuối thế kỷ XIX

134 782 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu nền văn hóa phong kiến Nhật Bản từ thế kỷ VII đến cuối thế kỷ XIX
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn hóa Nhật Bản
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 303 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCTrangMỞ ĐẦU1Chương 1: NHẬT BẢN - ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI71.1.Đất nước Nhật Bản71.2.Con người Nhật Bản8Chương 2: VĂN HÓA NHẬT BẢN TỪ CẢI CÁCH TAIKA ĐẾN TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CHẾ ĐỘ MẠC PHỦ (TỪ THẾ KỶ VII ĐẾN THẾ KỶ XII)112.1.Bối cảnh lịch sử của Nhật Bản trong giai đoạn từ cải cách Taika đến trước khi thành lập chế độ Mạc Phủ112.2.Văn hóa Nhật Bản từ cải cách Taika đến trước khi thành lập chế độ Mạc Phủ15Chương 3: VĂN HÓA NHẬT BẢN THỜI KỲ ĐẦU CỦA CHẾ ĐỘ MẠC PHỦ (TỪ CUỐI THẾ KỶ XII ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XVI)603.1.Bối cảnh lịch sử Nhật bản thời kỳ đầu của chế độ Mạc Phủ603.2.Văn hóa Nhật Bản thời kỳ đầu của chế độ Mạc Phủ64Chương 4: VĂN HÓA NHẬT BẢN THỜI KỲ CUỐI CHẾ ĐỘ MẠC PHỦ (TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XIX)904.1Bối cảnh lịch sử trong thời kỳ cuối của chế độ Mạc Phủ904.2Văn hóa Nhật Bản thời kỳ cuối của chế độ Mạc Phủ92Chương 5: MỘT SỐ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG KHÁC1085.1Trà đạo (nghi thức uống trà)1085.2.Ngắm hoa anh đào ở Nhật Bản1145.3.Nghệ thuật cắm hoa (Ikebana) ở Nhật Bản1175.4.Uống rượu sakê ngắm tuyết rơi1215.5.Tục lệ tặng quà của người Nhật1235.6.Tết Trung thu ở Nhật Bản125KẾT LUẬN127DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO130

Trang 1

Chơng 3: Văn hóa nhật bản thời kỳ đầu của chế độ

mạc phủ (từ cuối thế kỷ xii đến cuối thế

kỷ xvi)

60

3.1 Bối cảnh lịch sử Nhật bản thời kỳ đầu của chế độ Mạc Phủ 603.2 Văn hóa Nhật Bản thời kỳ đầu của chế độ Mạc Phủ 64

Chơng 4: văn hóa nhật bản thời kỳ cuối chế độ mạc

phủ (từ thế kỷ xvii đến cuối thế kỷ xix)

90

4.1 Bối cảnh lịch sử trong thời kỳ cuối của chế độ Mạc Phủ 904.2 Văn hóa Nhật Bản thời kỳ cuối của chế độ Mạc Phủ 92

Chơng 5: một số văn hóa truyền thống khác 108

5.3 Nghệ thuật cắm hoa (Ikebana) ở Nhật Bản 117

Trang 2

KÕt luËn 127

Trang 3

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Nhật Bản và Việt Nam là hai quốc gia ở Châu á, hai nớc không chỉgần nhau về mặt địa lý mà còn có nhiều điểm tơng đồng về văn hóa và tínhdân tộc Xuất phát từ tình cảm thân thiết đó, từ lâu hai dân tộc đã hìnhthành sự giao lu trên nhiều lĩnh vực

Mặc dù, mối quan hệ giữa hai dân tộc trong lịch sử cũng có nhữnglúc thăng trầm, nhng tình cảm hữu nghị giữa hai nớc vẫn mãi mãi trờng tồncùng với thời gian

Trong những năm gần đây, chính sách mở cửa và xu hớng xích lạigần nhau của các quốc gia dân tộc trong khu vực và trên thế giới đang đặt

ra nhu cầu giao lu và hòa nhập trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và đờisống xã hội Cùng với xu hớng đó, quan hệ giữa hai nớc Nhật Bản và ViệtNam đang ngày càng đợc tăng cờng mở rộng, trao đổi với nhau về nhiềuphơng diện Trong đó, sự giao lu văn hóa giữa hai nớc đợc coi là vấn đềquan trọng, nhằm để tìm ra tiếng nói chung và để tìm thấy nét đẹp trongnhững nét riêng biệt về văn hóa của nhau Mục tiêu đó đã đợc Hội nghị lầnthứ 5 Ban chấp hành Trung ơng Đảng khóa VIII nêu rõ: "Văn hóa là nềntảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực, vừa là mục tiêu, vừa là tấm g ơngphản chiếu để điều tiết sự phát triển kinh tế xã hội"

Ngoài những giá trị chuẩn mực xã hội, văn hóa còn là một thực thểtinh thần luôn ở trạng thái giao lu, học hỏi Đặc biệt là trong thời đại bùng

nổ thông tin nh hiện nay, đó là điều kiện cần thiết để nắm bắt những cáitiến bộ, loại trừ những cái xấu xa, lỗi thời, để tự mình vơn lên chứ không tự

đánh mất mình, hòa nhập mà không hòa tan và hiểu ngời để hiểu mình

Do vậy, chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần củaxã hội Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ lành mạnh, không quan tâm giải

Trang 4

quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xãhội thì không thể có sự phát triển kinh tế xã hội bền vững Điều đó, Tổng Bí

th Đỗ Mời đúc kết một câu rằng: Quá trình tiến hóa của một Quốc gia luônluôn phải gắn với cội nguồn, phát triển trên nền bản sắc văn hóa dân tộc đi

đôi với việc tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Nếu phát triển táchkhỏi cội nguồn, xa rời những giá trị văn hóa truyền thống, nhất định sẽ lâmvào nguy cơ đánh mất bản thân, chẳng những không thể đóng góp cho nềnvăn hóa chung của nhân loại mà còn trở thành bản sao mờ nhạt của dân tộckhác

Chính bởi vậy, nhận thức đúng về văn hóa là một điều kiện khôngthể thiếu trong việc trang bị hành trang tiến vào tơng lai Để bớc sang thế

kỷ XXI này, làm cho mối quan hệ sâu sắc hơn theo tinh thần "Việt Nammuốn làm bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa

bình độc lập và phát triển" cũng nh mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật

Bản nói riêng cần phải phát huy hơn nữa thì việc tăng cờng sự hiểu biết lẫnnhau giữa các dân tộc và nhân dân Việt Nam - Nhật Bản là điều cần thiết

Bằng những ý nghĩa thực tiễn nh trên, chúng tôi chọn đề tài "Tìm

hiểu nền văn hóa phong kiến Nhật Bản (Từ thế kỷ VII đến cuối thế kỷ XIX)" làm đề tài nghiên cứu.

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xãhội của các quốc gia dân tộc thì việc tìm hiểu, giao lu văn hóa giữa cácQuốc gia với nhau trở thành một vấn đề quan trọng Cũng nh nhiều quốcgia khác, đặc biệt là sự thành công về kinh tế của Nhật Bản sau những thập

kỷ chiến tranh thế giới thứ hai đã thu hút sự quan tâm của các quốc gia trênthế giới và khu vực ở Việt Nam, việc nghiên cứu Nhật Bản đã đợc quantâm từ lâu và đã có những công trình đợc xuất bản, những bài đăng trên tạpchí

Trang 5

Cùng với quá trình đổi mới, sự quan tâm của các nhà lãnh đạo vànhân dân Việt Nam ngày càng tăng Đặc biệt là hiện nay, mối quan hệ NhậtBản - Việt Nam ngày càng đợc tăng cờng thì nhu cầu tìm hiểu về Nhật Bảncàng trở nên cần thiết.

Vì thế, khi nghiên cứu về Nhật Bản đã đạt đợc nhiều thành tựu đáng

kể, một số các tác giả đã có những công trình nghiên cứu trên nhiều lĩnhvực Trong đó nghiên cứu về văn hóa nh chữ viết, văn học, nghệ thuật, tôngiáo, tín ngỡng cũng đã đợc nhiều tác giả đề cập đến Tiêu biểu nh: Năm

1989 tác giả Hữu Ngọc trong cuốn "Hoa Anh Đào và điện tử" đã có nhiềugợi ý về những thành tựu đã đạt đợc của nền văn hóa đó qua các giai đoạnlịch sử Năm 1990 San Som tác giả của hai tập "Lợc sử văn hóa Nhật Bản"

đã miêu tả sơ lợc về nguồn gốc và những đặc điểm của tín ngỡng dân tộc ởchơng III, quá trình tiếp thu, phát triển về t tởng Nho giáo và Phật giáo ởchơng VI Chơng XII bàn về sự hình thành và Nhật Bản hóa hệ thống t tởngnày Ngoài ra, tác giả còn lý giải về quá trình ra đời và sự hình thành củachữ viết, văn học, nghệ thuật Nhật Bản ở chơng VI và chơng XII Sự pháttriển phổ biến của nền văn hóa Nhật Bản mang màu sắc dân tộc đợc tác giảbàn tới ở chơng XVI và XVIII Năm 1991 tác giả Vĩnh Sính trong cuốn

"Nhật Bản cận đại" đã đa ra những khẳng định khái quát về những thànhtựu văn hóa trong từng giai đoạn lịch sử của chế độ phong kiến Nhật Bản.Năm 1995, các tác giả Rechard Bowring và Peter Nikki trong cuốn "Báchkhoa toàn th Nhật Bản" đã đa ra những đặc điểm, mục đích khái quát về vănhọc, nghệ thuật, tôn giáo kiến trúc, hội họa điêu khắc v.v

Năm 1997, các tác giả Lơng Duy Thứ, Phan Nhật Chiêu, Phan ThuHiền trong "Đại cơng văn hóa phơng Đông" đã viết:

Văn hóa Nhật Bản chịu ảnh hởng cả hai nền văn hóa ấn Trung và sau này của phơng Tây mà vẫn kiến tạo đợc một bản sắc

Trang 6

-độc đáo, Nhật Bản là một biểu mẫu của thân hóa, dung hợp vàphát triển các ngọn nguồn văn minh khác nhau [35, tr 223] Trong các công trình ấy, đều nói về các tiêu đề văn học, nghệ thuật,tôn giáo, kiến trúc hội họa, điêu khắc đã đợc các tác giả đề cập đến.

Ngoài các công trình nghiên cứu trên, các tác giả: Nguyễn Thị ViệtThanh đã đóng góp nhiều ý kiến trong việc nghiên cứu về hệ thống chữKana của Nhật Bản Trần Hải Yến trong "Một số nét đặc trng của văn họcNhật Bản" đã viết:

Văn học Nhật Bản có những nét đặc trng liên quan tới vănhọc Trung Quốc và văn học phơng Tây, những đặc trng này gắnliền với 5 nhân tố chính đó là: Vai trò của văn học trong văn hóaNhật Bản với t cách một tổng thể, mô hình phát triển của lịch sửvăn học, ngôn ngữ Nhật Bản và hệ thống chữ viết của nó, cơ sở xãhội của văn học và những yếu tố tôn giáo và triết học [34]

Trong "Tìm hiểu Đạo Phật ở Nhật Bản", Nguyễn Thị Thúy Anh đãchia quá trình hình thành và phát triển của Đạo Phật Nhật Bản ra 3 thời kỳ

"Truyền bá, Nhật Bản hóa, Tồn tại" [4]

Các công trình nghiên cứu trên là những t liệu quý có ý nghĩa quantrọng trong việc gợi ý, hớng dẫn chúng tôi thực hiện đề tài

Nh vậy, vấn đề mà đề tài đặt ra còn mới mẻ Theo suy nghĩ củachúng tôi, nghiên cứu để góp thêm một ý kiến nhằm đáp ứng phần nào đó

về nhu cầu tìm hiểu nền văn hóa phong kiến Nhật Bản là điều cần thiết và

bổ ích

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của đề tài là nghiên cứu, tìm hiểu về nền văn hóa thờiphong kiến Nhật Bản, nhằm nâng cao hơn nữa về sự hiểu biết nền văn hóa,

và những nét truyền thống nổi bật của đất nớc Nhật Bản

Trang 7

Để thực hiện đợc mục đích đó, chúng tôi đã nghiên cứu về các vấn

đề văn hóa nh chữ viết, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngỡng thông quacác giai đoạn lịch sử, thiết chế chính trị thời phong kiến Nhật Bản Qua việcnghiên cứu cho thấy, quá trình hình thành và phát triển Nhật Bản nói chung,

là một dân tộc gặp nhiều khó khăn Do sự tác động của điều kiện địa lýcũng nh chịu sự ảnh hởng nền văn hóa bên ngoài Nhng nhân dân Nhật Bản

đã tự vợt qua mọi khó khăn, từng bớc vơn lên trở thành một biểu tợng củamột quốc gia phát triển nhất ở phơng Đông thời hiện đại Quá trình ảnh h-ởng, tiếp thu và xây dựng đó là cơ sở cho đề tài chúng tôi cần nghiên cứu

Chúng tôi hy vọng rằng, đề tài thành công sẽ đóng góp một phầnnhỏ bé vào việc nghiên cứu, trao đổi với nhau trong mối quan hệ giữa hainền văn hóa Nhật Bản và Việt Nam Theo mục tiêu thúc đẩy sự phát triểnnền kinh tế, văn hóa mà Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ơng Đảngkhóa VIII đề ra

- Khi nghiên cứu đề tài, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp thống

kê, phơng pháp này dùng để thống kê, phân loại các t liệu đã thu thập đợc,giúp ngời nghiên cứu nhìn nhận, phân tích, đánh giá tính khả thi của vấn đề

mà đề tài đặt ra

- Quan sát là phơng pháp không thể thiếu khi nghiên cứu đề tài này.Chúng tôi sử dụng phơng pháp quan sát để nhìn nhận khái quát một cách

Trang 8

toàn diện về văn hóa Nhật Bản, để đi sâu vào nghiên cứu từng giai đoạn nhỏtrong thời kỳ lịch sử phong kiến Nhật Bản.

- Ngoài các phơng pháp trên, đề tài còn kết hợp sử dụng phơng pháplôgic và phơng pháp lịch sử Hai phơng pháp này có tác dụng bổ sung hỗ trợlẫn nhau giúp ngời nghiên cứu nhìn nhận vấn đề một cách lôgic, khoa họctrong việc xử lý tài liệu, so sánh, đối chiếu theo hệ thống thông tin đã thuthập đợc Dựa trên cơ sở đó để giải thích, đánh giá và tìm ra những kết luận

đúng mang tính khách quan

5 Phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, vấn đề quan tâm trớc tiên là sự hình thành, tiếpthu và phát triển của nền văn hóa phong kiến Nhật Bản Chúng tôi đãnghiên cứu về tất cả các mặt của nền văn hóa Nhật Bản nh văn học, nghệthuật, kiến trúc, hội họa, điêu khắc, tôn giáo theo các giai đoạn phát triểnlịch sử

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, và Danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn đợc kết cấu thành 5 chơng

Trang 9

Xét về mặt địa lý, Nhật Bản nằm ở một vị trí biệt lập cách xa đạilục, khoảng cách từ Nhật Bản đến Trung Quốc là 800km, vùng gần miềnNam bán đảo Triều Tiên là đảo Kyushu cách tới 180km Có thể nói rằng,Nhật Bản đủ xa châu á để thoát khỏi các đột biến của lục địa nhng lại đủgần để có thể hởng những thành quả của nền văn minh đó Từ xa xa, quần đảoNhật Bản giữ mối quan hệ với lục địa châu á qua ba con đờng: Phía Bắc từmiền Đông Xibia đến Hokkaido qua Sakhalin; Phía Đông từ bán đảo TriềuTiên đến Honshu và đờng phía Nam từ đất Trung Hoa đến đảo Kyushu qua

Đài Loan và quần đảo Ryukyu Từ ba con đờng này, Nhật Bản có mối quan

hệ giao lu kinh tế, văn hóa từ lâu với thế giới Tuy nhiên, tính chất "đảo" ấy

đã tạo nên ở Nhật Bản một hoàn cảnh địa lý đặc biệt Nếu nh nữ thầnAmatêraxu đã u ái phú cho Nhật Bản những ngời con gái đẹp và khí hậu ônhòa, thì ngời lại dồn cho Nhật Bản nhiều thử thách thiên nhiên mà trong đóthờng trực tai họa khủng khiếp nh: Bão tố, sóng thần thờng xuyên ập đến,nhất là khi giao thông còn sơ khai, là một trở ngại lớn đối với Nhật Bảntrong việc quan hệ giao lu với các nớc xung quanh và thế giới Nhng sự biệt

Trang 10

lập của tính chất "đảo" lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và bảo

vệ nền độc lập dân tộc, giúp cho ngời Nhật chủ động cải tạo và xây dựngnền văn minh thống nhất và độc đáo của mình

Điều kiện tự nhiên Nhật Bản tuy đẹp nhng quả thật khắc nghiệt đốivới con ngời Những hòn đảo nghèo nàn này không đợc hởng những thiênthời và địa lợi ở Nhật Bản, đất đai canh tác ít chỉ chiếm 15% diện tích, cònlại là đồi núi Nhật Bản không những không có con sông lớn, không cónhững cánh đồng phù sa màu mỡ nh ở Ai Cập, Lỡng Hà hay Trung Quốc

mà còn là đất nớc phải chịu đựng nhiều nét khắc nghiệt và dữ dội của mộtvùng đất đầy núi lửa, động đất, sóng thần, bão lụt và hạn hán Cho đến ngàynay, ở Nhật Bản còn hơn 30 ngọn núi lửa đang hoạt động trong số 196 ngọnnúi Hàng năm có tới hàng nghìn lần rung chuyển địa chất và thỉnh thoảnglại có những trận động đất lớn, có khi thiêu hủy cả thành phố

Ngời Nhật đã ý thức sớm đợc những khó khăn bất lợi trong điềukiện địa lý và tự nhiên Cho nên, từ thời cổ đại, Nhật Bản đã nhanh chóngtiếp thu những tinh hoa tiến bộ từ bên ngoài vào, đặc biệt là ảnh hởng củavăn hóa Trung Hoa để tạo điều kiện cho bớc phát triển của mình Nh vậy,việc tìm hiểu vị trí địa lý và tự nhiên của Nhật cho chúng ta thấy, Nhật Bản

đã vơn lên thật là mạnh mẽ nh thế nào để trở thành một trong những dân tộc

đứng hàng đầu thế giới về kinh tế, kỹ thuật Sự thành công đó đã chứng tỏ làmột thắng lợi của con ngời đối với thiên nhiên

1.2 Con ngời Nhật Bản

Ngời Nhật Bản có nguồn gốc nh thế nào? Hay ngời Nhật từ đâu

đến? Đây là một vấn đề còn đang đợc tranh luận Nhng có một số điểm gần

nh đợc nhiều nhà nghiên cứu và nhiều nhà khảo cổ học thống nhất với nhaurằng, tổ tiên xa xa của ngời Nhật là từ nhiều nơi đến Đặc biệt là nhóm di c

từ phía Bắc lục địa châu á xuống và có một bộ phận từ các miền duyên hải

Trang 11

Nam á lên Những phát hiện trên quần đảo cho thấy, từ thời đại đồ đá cũ

khoảng 10 vạn năm trớc đây có các nhóm c dân săn bắn và hái lợm, rải rác

từ miền Đông Xibia di c sang phía Bắc Nhật Bản qua đờng Hokkaido vàSakhalin Nền văn hóa thuộc thời đại này đợc phát hiện nằm rải rác trênkhắp nớc Nhật nh: Những chiếc cầu bằng đất, những kiểu nhà ở và các câuchuyện truyền thuyết gợi lên nguồn gốc đại dơng, các đặc điểm văn hóa đadạng có nhiều nét tơng tự nh ở phía Nam Trung Quốc, các lăng mộ và việcchế tác đã gợi đến mối liên hệ với việc di c của ngời dân từ vùng Triều Tiên

và vùng phía Bắc Trung Quốc Tất cả điều đó đã cho thấy: "Chủng tộc NhậtBản là kết quả của sự pha trộn các yếu tố của các miền khác nhau trên lục

địa châu á từ thời tiền sử" [26, tr 14] Trong đó, nòi giống phơng Bắcchiếm một phần khá mạnh, chủ yếu là ngời Mông Cổ, ngoài ra còn các yếu

tố Trung Hoa và ngời Ainu Trải qua nhiều thời đại lịch sử, sự pha trộn ấy

đã sản sinh ra một dân tộc tơng đối thuần nhất để phân biệt với các nớc lánggiềng nh Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ, cả trong ngôn ngữ, sinh hoạt,tôn giáo, cơ cấu chính trị và xã hội Những nét riêng đó đã sớm trở thànhbản chất của ngời Nhật Bản

Trong lịch sử phát triển của mình, yếu tố Trung Hoa đóng một vaitrò quan trọng Từ xa xa, ngời Nhật đã có sự khát khao đối với các nền vănminh khác, và trong lịch sử tiến hóa của mình, ngời Nhật hoan nghênh cácyếu tố văn hóa nớc ngoài mà không gạt bỏ các tập tục truyền thống đã có

Có thể nói, nhân dân Nhật Bản đã hấp thụ có chọn lọc nhiều phát kiến vănhóa của các nền văn minh trên thế giới Ngay từ thời tiền sử, văn hóa TrungHoa đã thấm đợm trong văn hóa Nhật Bản Do sự kết hợp giữa con ngời,

điều kiện địa lý và thiên nhiên độc đáo, tạo nên tính cách đặc trng của conngời Nhật Bản

Trớc tiên là tính hiếu kỳ, nhạy cảm với văn hóa nớc ngoài Điều đó

có thể nói, không có một dân tộc nào nhạy bén về văn hóa nớc ngoài nh

Trang 12

ng-ời Nhật, họ không ngừng phát triển, theo dõi những biến đổi của thế giớibên ngoài Khi họ biết trào lu nào đang thắng thế thì họ sẵn sàng chấp nhận,học hỏi, nghiên cứu để bắt kịp trào lu đó không để lỡ thời cơ Ví nh: Khithấy văn hóa Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, ngời Nhật đã nhanh chóngtiếp thu nền văn hóa ấy, nhng họ rất ý thức về tài sản văn hóa của họ, mộtnền văn hóa đã đợc trang trọng bồi dỡng và tích lũy qua các thời đại lịch sửvì thế ngời Nhật rất trân trọng nó.

Ngời Nhật cũng có óc thẩm mỹ, sự bền bỉ, kiên trì cũng là tính cáchcủa ngời Nhật Họ a chuộng cái đẹp, điều đó đợc thể hiện trong tính cách ănmặc, kiến trúc và lối sống Những đặc trng trong tính cách ngời Nhật là

điều kiện thuận lợi cho sự tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, đồng thời

nó giúp cho ngời Nhật Bản chủ động nắm bắt và cải tiến nền văn hóa ấymang màu sắc dân tộc mình

Trang 13

đoạt nhiều ruộng đất và nhiều bộ dân, đó là chớng ngại chủ yếu trên con ờng xây dựng và củng cố Nhà nớc Trung ơng tập quyền ở Nhật Bản Vì vậychỉ có thủ tiêu thế lực Soga thì việc cải cách mới có thể thực hiện đợc Năm

đ-645, trong khi tiếp kiến với sứ giả Triều Tiên, quan nhiếp chính Soga Iruca(Tô Ngã Nhập Lộc) đã bị ám hại Những ngời đảo chính sau đó bao vây và

đốt cháy dinh phủ, giết hại những ngời thuộc dòng họ Soga Quyền lực thực

sự trả về cho Thiên hoàng Kotoku (Hiếu Đức), đặt niên hiệu là Taika (ĐạiHòa)

Khi lên nắm chính quyền Thiên hoàng Kotoku đã ban hành một loạtcải cách, vào tháng giêng năm 646 (năm Taika thứ hai) Thiên hoàng Kotokuhạ chiếu cải cách và tiếp đó ban hành một số luật lệnh cụ thể dựa trên cơ sởcủa chế độ chính trị và tô thuế nhà Đờng Những cuộc cải cách này tronglịch sử Nhật Bản gọi đó là cuộc cải cách Taika (Đại Hòa Cách Tân)

Nội dung chủ yếu của cuộc cải cách Taika là thiết lập một hệ thốngchính trị từ trung ơng đến địa phơng theo mô hình nhà Đờng ở Trung Quốc,

đồng thời tuyên bố xóa bỏ chế độ sở hữu t nhân về ruộng đất của các quý

Trang 14

tộc thị tộc Trừ ruộng đất của các đền chùa, còn lại tất cả ruộng đất trong

n-ớc đều thuộc quyền sở hữu của Nhà nn-ớc Chế độ bộ dân (những ngời dânbán tự do) cũng bị xóa bỏ và bộ dân đợc giải phóng, đợc tự do bình đẳng

nh những ngời dân tự do khác Nhng tất cả mọi ngời đều trở thành thần dânchịu sự quản lý của Thiên hoàng

Sau cải cách Taika, xã hội Nhật Bản có sự chuyển biến lớn lao, vớicuộc cải cách này, chế độ bộ dân bị xóa bỏ, sức lao động của bộ dân đợcgiải phóng và đợc coi nh dân tự do Thực chất là xác lập quan hệ sản xuấtphong kiến, tức là Nhà nớc có quyền sở hữu tối cao về ruộng đất Chínhsách "ban điền" của Nhà nớc đã đem lại ruộng đất cho nông dân, kể cả bộdân đợc giải phóng cũng đợc chia ruộng đất, họ có kinh tế và gia đình nên

họ hứng thú sản xuất hơn Tuy nhiên, họ phải chịu nộp mức thuế cố địnhtheo chế độ bóc lột Tô-Dung-Điệu của Nhà nớc Những nguyên tắc chínhcủa chế độ này đã đợc cụ thể hóa trong bộ luật Taiho Retsurgo Các gia

đình, những ngời nông dân đợc chia ruộng đất nhng họ không có quyền rờikhỏi phần ruộng đất đợc chia của mình và họ phải trả tô thuế cho Nhà nớc

và các nghĩa vụ lao động bắt buộc khác

Nh vậy, chế độ "ban điền" sau cải cách Taika đã xác nhận quan hệ

sản xuất phong kiến ở Nhật Bản Mặc dù những biện pháp trên giải phóng

đợc chế độ bộ dân và đem lại ruộng đất cho nông dân, nhng đồng thời nócũng trói chặt nông dân vào ruộng đất để Nhà nớc và bọn chủ ruộng thốngtrị, nô dịch họ

Bên cạnh việc chia ruộng đất cho nông dân, Nhà nớc còn phânphong đất đai cho tầng lớp quý tộc tùy theo tớc vị, chức sắc và công lao của

họ Những phần đất đặc quyền này đợc quy định theo ba loại là: tớc vị vàchức sắc chỉ đợc ban tặng tạm thời một hoặc hai, ba đời Còn công lao là tối

đa, phần lớn đất đai này là của con cháu giới quý tộc có quyền thế trong bộmáy chính quyền ở trung ơng và địa phơng, nên đã dần dần biến ruộng đất

Trang 15

đợc ban cấp thành ruộng đất t hữu ở những vùng đất đặc quyền có nôngdân sinh sống thì những ngời nông dân đã trở thành "phong hộ" cho giaicấp quý tộc, họ phải nộp phần lớn thu nhập sản phẩm của mình cho giai cấpquý tộc Ngoài ra, chúng còn cớp đoạt ruộng đất của nông dân để mở rộngthêm phần đất của mình.

Do vậy, quy mô và hình thức sở hữu đất đai ngày càng lớn và đadạng, đó là tiền đề làm cho cuộc cải cách Taika trong thực tế đã bị thất bại.Thêm vào đó, sự yếu kém của chính quyền từ trung ơng đến địa phơng,quyền lực bị chia cắt nhỏ trong việc quản lý đất đai, thu thuế cũng là nhữngbối cảnh dẫn đến hệ quả trên Chế độ ban điền đã bị bãi bỏ từ năm 850 Lợidụng chính sách khai khẩn đất hoang của triều đình, lại đợc sự che chở củagiới quý tộc ở kinh đô, nên tầng lớp địa chủ ở địa phơng đã chiếm đoạtnhiều ruộng đất Các thế lực mạnh lên nhanh chóng, họ muốn có quyền sởhữu vĩnh viễn đối với đất đai của họ Cùng với thời gian, các phần đất đợcchia bị biến thành trang viên (Shoen) phong kiến Các Tự Viện (đền chùa)cũng đợc Thiên hoàng và quý tộc ban tặng nhiều ruộng đất và cũng trởthành các trang viên, đợc miễn thuế hoàn toàn Các chủ trang viên đã trởthành các chúa đất độc lập, họ không chịu sự kiểm soát của triều đình

Những ngời nông dân trở thành sở hữu riêng của các chủ lãnh địaphong kiến Sự bóc lột tàn bạo, tô thuế cao cùng với việc chiếm đoạt ruộng

đất của nông dân đã gây ra những cuộc phản kháng rõ rệt, những ngời nôngdân chạy trốn khỏi lãnh địa Một số ngời chạy trốn đã tổ chức thành các độichuyên đi ăn cớp, từ đó xuất phát các cuộc khởi nghĩa chống phong kiến đ-

ợc hình thành

Từ sau cuộc đảo chính năm 645, chính quyền trở về tay Thiênhoàng Đến năm 710, kinh đô thờng trực đầu tiên của Nhật Bản đợc xâydựng hoàn thành theo lệnh của nữ hoàng Genmei, đó là kinh đô Nara (NạiLơng) Trong suốt 70 năm, từ năm 710 đến năm 794, Nara trở thành trung

Trang 16

tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của Nhật Bản Tuy nhiên, có những cuộc đấutranh giữa tầng lớp quý tộc cũ, muốn khôi phục lại quyền lợi và địa vị trớckia với tầng lớp quan lại diễn ra thờng xuyên Đại diện cho tầng lớp quý tộc

cũ là họ Otomo và tầng lớp quan lại mới là họ Fujiwara Vì dòng họ này cócông trong việc tiêu diệt họ Soga trong cuộc cải cách Taika, nên đợc Thiênhoàng u đãi, nh đợc giữ chức vụ cao trong triều đình, phong cấp nhiều bổnglộc làm cho dòng họ Fujiwara ngày càng mạnh lên Cuối cùng họFujiwara đã đánh bại hoàn toàn tầng lớp quý tộc cũ và lên nắm chínhquyền, chấm dứt thời Nara

Sau khi đánh bại những tàn d quý tộc cũ, dòng họ Fujiwara ngàycàng độc đoán về quyền lực, họ lấn át cả Thiên hoàng, buộc Thiên hoàngphải rời đô từ Nara đến Heian-Kyo (Bình An kinh), từ đó đợc gọi là thời kỳHeian

Trong thời kỳ Heian, dòng họ Fujiwara càng trở nên lớn mạnh,chiếm lĩnh mọi quyền lực thực tế của Thiên hoàng, và không ngừng củng cố

địa vị thống trị của mình Từ giữa thế kỷ IX đến giữa thế kỷ XI, họ Fujiwara

kế tiếp nhau chiếm đoạt quyền hành của nhà vua Trên thực tế chính quyềntrung ơng ngày càng trở nên suy yếu về mọi mặt

Sự chấp chiếm quyền lực của dòng họ Fujiwara đã gây ra tình trạngthù địch lẫn nhau giữa các phe phái phong kiến, những cuộc xung đột xảy

ra thờng xuyên ở kinh đô, các thế lực phong kiến thù địch với dòng họFujiwara ngày càng gay gắt Từ thế kỷ XI, các Thiên hoàng đã tìm mọicách thoát khỏi sự khống chế và ràng buộc của dòng họ Fujiwara nhằm đểkhôi phục lại quyền lực của mình bằng cách dựa vào tầng lớp quý tộc quanlại bị sa sút, tầng lớp s sãi Phật giáo có thế lực, đồng thời bãi bỏ chế độnhiếp chính, không tuyển hoàng hậu thuộc họ Fujiwara, thiết lập chế độnghị chính Theo chế độ này, Thiên hoàng nhờng ngôi cho con và trở thànhThợng hoàng rồi lên Pháp hoàng

Trang 17

Vào năm 1086, khi Thiên hoàng Shirakawa nhờng ngôi cho con và

ông trở thành Thợng hoàng Cùng năm đó, ông thiết lập một cơ quan mớigọi là Isne (Viện chính) Thực chất của Viện chính là một tổ chức theo dõiviệc chính trị của triều đình để giúp đỡ Thiên hoàng, và là cơ sở của Hoànggia để chống lại họ Fujiwara Đến đầu thế kỷ XII, Viện chính của Thiênhoàng dựa vào hai họ Taira và Minamoto để đấu tranh với họ Fujiwara, cũnglàm cho thế lực này ngày càng giảm sút Trong khi đó họ Taira lại nhanhchóng phát triển thế lực của mình, nắm lấy mọi quyền hành Điều đó, làmcho mâu thuẫn giữa Viện chính và họ Minamoto diễn ra gay gắt Vào năm

1181, cuộc nội chiến giữa họ Taika và Minamoto nổ ra nhằm tranh giành báquyền với nhau Năm 1185, họ Minamoto đánh bại hoàn toàn họ Taikatrong trận Dannoura, từ đó quyền hành chuyển sang tay dòng họ Minamoto

2.2 Văn hóa Nhật Bản từ cải cách Taika đến trớc khi thành lập chế độ Mạc Phủ

2.2.1 Tôn giáo

2.2.1.1 Thần đạo

Từ xa xa, ngời Nhật luôn luôn gắn bó đời sống của mình với lễ bái,thờ phụng thiên nhiên, các ch thần, tổ tiên Nói chung việc lễ bái, thờphụng ấy không bị ảnh hởng bất cứ một dòng tôn giáo nào Cho nên, lúc

đầu nó cha có tên gọi Đến thế kỷ VI, khi Phật giáo du nhập vào Nhật Bản

Để phân biệt với Đạo Phật, các nhà t tởng học Nhật Bản mới đặt tên cho tôngiáo đó là Thần đạo

Thần đạo là tôn giáo sơ khai bản địa của ngời Nhật, do ngời Nhậtsáng tạo ra từ thời nguyên thủy và tồn tại cho đến ngày nay Nó hình thành

từ niềm tin, từ lòng thành kính của mỗi ngời dân Nhật Bản đối với tổ tiên,thiên nhiên và thánh thần Họ tin rằng, tất cả mọi sự vật, hiện tợng trong tựnhiên đều do thánh thần sinh ra, kể cả tổ tiên của họ cũng là con cháu của

Trang 18

thánh thần Từ đó, họ coi là một thế giới thần quyền, có quyền quyết định

đến số phận của con ngời trong một xã hội nông nghiệp Thế giới ấy đợcphản ánh qua các thần núi, thần ma, gió, thần sông, thần suối, thần mặttrăng, mặt trời và cần phải thờ phụng nó

Đối với ngời Nhật, thế giới thánh thần là biểu hiện tình cảm cao quýcủa nhân dân Nhật Bản Tình cảm đó giống nh một phần nào của tín ngỡng

đa thần giáo ở Hy Lạp, La mã cổ đại, nó cha phải là tôn giáo theo đúng giáo

lý có nguồn gốc lịch sử, nó cũng không phải là sản phẩm của một cuộc cáchmạng về ý thức Không giống nh Đạo Hồi, Đạo Phật và Đạo Kitô, nó không

có ngời sáng lập, không có các vị thánh thần có tên tuổi cụ thể, và những kẻ

tử vì đạo, không có kinh thánh và thầy tu, nó là một "tập tục không đợc một

tổ chức hay một đạo giáo nào hớng dẫn mà chỉ là dân gian tập tục" [38, tr.4]

Do vậy, có thể coi đây là một hình thái tín ngỡng tự nhiên xuất phát

từ nhận thức con ngời cho rằng, tất cả mọi sự vật đều có linh hồn và đều cótình cảm Những biểu hiện của tự nhiên lớn hay nhỏ đều do sự hiện diệncủa thánh thần hay linh hồn "Kami" Kami sẽ căn cứ vào sự đối xử của conngời mà đáp lại một cách thuận lợi hay không thuận lợi Vì thế, tất cả mọi

sự vật và linh hồn đều đợc thờ cúng để nó phù hộ cho con ngời

Đối với ngời Nhật, "Kami" (Thánh thần) để chỉ "ngời trên" hoặc

"cấp trên" và ai đợc phong là Kami có nghĩa là ngời đó có một số phẩmchất và quyền lực cao hơn ngời thờng, là tổ tiên vĩ đại, là những anh hùng vĩ

đại Tuy nhiên, từ ngữ "Kami" không chỉ dùng cho ngời mà còn dùng chocả thiên nhiên nh: Cây cối, tảng đá, khu rừng và các vật dụng, nh một sốcông cụ, thanh gơm Từ những ý nghĩa trên, ta thấy sự tôn thờ thần thánhcủa ngời Nhật cũng giống nh tất cả các dân tộc trong giai đoạn sơ khai Nh-

ng, sự tôn thờ thánh thần đối với ngời Nhật là những thế lực vô hình, không

có hình ảnh cụ thể nh các tôn giáo khác Chẳng hạn Phật giáo có Thích Ca

Trang 19

Mâu Ni, Kitô giáo, có Giêsu Đối với "Kami", nó mang lại cho con ngời no

ấm, che chở cho con ngời khỏi thiên tai, dịch bệnh, khiến cho ngời Nhật tinyêu hơn là sợ sệt

Trong việc tôn thờ "Kami" (Thánh thần) của ngời Nhật thì việc tônthờ thần Mặt trời là đặc trng tiêu biểu nhất Theo truyền thuyết, có hai vịthần Izanagi và nữ thần Izanami, vừa là anh em, vừa là vợ chồng đã sinh ramọi thứ trong vũ trụ Trong đó có những hòn đảo sẽ là lãnh thổ của NhậtBản Nhng đến khi sinh ra vị thần lửa thì nữ thần Izanami bị thiêu chết.Nam thần Izanagi đi theo bà xuống dới âm phủ, vì quá muộn nên xác bà đãbắt đầu thối rữa, Izanagi hoảng sợ bỏ chạy để khỏi nhìn thấy cảnh chết rụccủa vợ, về đến trần gian chàng vội vã tẩy uế thân thể bằng cách nhảy xuốngbiển tắm Tất cả quần áo của chàng cởi ra đều là thánh thần "Kami" củaThần đạo Trong số những vị thần đó thì Amateraxu đợc tôn là đại thần đãphái xuống trần gian 800 vị thần để phò tá Thiên hoàng Về sau Amateraxunhờng ngôi trị vì các đảo Nhật Bản cho con cháu của mình và đó chính làThiên hoàng Dòng dõi hoàng tộc đó vẫn trị vì ở Nhật Bản cho tới ngày nay

Có lẽ, chính vì tôn sùng thần Mặt trời nên ngời Nhật thờng gọi đất nớcmình là "Đất nớc Mặt trời mọc" Cùng với thời gian, những tín ngỡng nàyngày càng ăn sâu vào đời sống tinh thần của ngời Nhật Dần dần phát triểnlên gọi là Thần đạo

Nh vậy, Thần đạo là kết quả của sự pha trộn từ những tín ngỡng từthời tiền sử, hay nói cách khác là có nguồn gốc bái vật giáo Đối tợng chínhtrong các nghi lễ của Thần đạo là những vị thần đợc gọi là Kami Kami cóthể có nhiều loại khác nhau và đợc phân biệt bằng những tên riêng, nhng lại

có đặc điểm chung Kami không có hình dạng cố định và chỉ biểu lộ hìnhthức khi đợc mời gọi trú ngụ trong những vật cụ thể nh cái bình, gậy, tảng

đá Những ngời có khả năng về tâm linh sẽ đóng vai trò cầu nối giữaKami với thế giới loài ngời Kami sống ở thế giới riêng và hàng năm đợc

Trang 20

mời đến với thế giới loài ngời vào các mùa thông qua các nghi lễ để mong

đợc ban phớc lành

Đặc điểm chủ yếu của nghi lễ Thần đạo là chú ý đến sự trong sạch,

vi phạm điều này có nghĩa là xúc phạm đến Kami, nh vậy sẽ là có tội Do

đó, muốn tránh đợc tội thì phải kiêng giữ sạch sẽ khi đến gần Kami Trớckhi hành lễ, phải tắm rửa, thay quần áo sạch sẽ, vì ngời bẩn là điều tối kỵ.Tuyệt đối không đợc hành lễ khi phải mang trong ngời những thứ bẩn nh

đang hành kinh hay trong thời kỳ sinh đẻ Trong những truyện thần thoại có

nói đến "những lều đẻ" hay "lều cới" phải làm cách xa nhà nhằm tránh cho

nhà khỏi bị bẩn Ngoài ra, bệnh tật, ngời chết ốm đau cũng là nguồn gâybẩn Vì thế, ngay từ thời cổ đại đã có một danh sách những tội cần đợc rửatrong các kỳ lễ

Đó là việc cơ bản, trớc khi tiến hành nghi lễ đều đợc thực hiện bacách sau: "Trừ tà" - do thầy cúng thực hiện nhằm tẩy trừ sự ô uế do tội lỗigây ra, bằng cách ngời làm lễ phải nộp tiền phạt về tội lỗi của mình "Tẩyuế" (Misogi), là nghi lễ nhằm tẩy trừ sự ô nhiễm do đụng chạm với nhữngthứ bẩn thỉu từ cái chết và bệnh tật Thông thờng là tắm rửa hoặc vẩy nớcmuối, nghi thức này còn tồn tại cho đến ngày nay "Trai giới", là phơngpháp chủ yếu liên quan đến các thầy cúng, họ phải tuân thủ những điều cấm

kỵ, không đợc đụng chạm đến bệnh tật, cái chết, tang ma, chỉ đợc mặc quần

áo đã đợc tẩy uế cẩn thận, "phải cách ly với bên ngoài và ăn kiêng gồmnhững sản vật từ cây, nớc lã" [5, tr 4]

Nói chung, nghi lễ của Thần đạo với mục đích chủ yếu là mongmuốn mùa màng bội thu Nghi lễ này, đợc biểu hiện qua rất nhiều lễ hội,những lễ hội quan trọng nhất đều có liên quan ít nhiều đến nghề nông nh:

Lễ hội hoa quả đầu mùa (Niiname), Hội thần nếm (Kanname) đợc tổ chức

tại cung điện của Thiên hoàng và các đền miếu, Hội cùng nếm (Ainame) làThiên hoàng cùng với các thần nếm cơm gạo mới và rợu mới nấu

Trang 21

Trong các nghi lễ đó, có lễ lớn nhất là hội cùng nếm hoa quả đầumùa, lễ hội này thờng đợc tiến hành sau lễ lên ngôi chính thức của Thiênhoàng Lễ hội đợc tiến hành ở cung điện của Thiên hoàng trong tòa nhàbằng gỗ đợc dựng lên một cách đặc biệt, sau khi kết thúc lễ hội ngôi nhà đó

đã bị phá hủy ngay "Những nghi lễ đó đã giữ lại đợc từ thời cổ với một kỹthuật nguyên thủy về sản xuất và cất giữ lơng thực và đậm nét quan tâm đếnviệc bảo vệ cho sự phong phú mùa màng" [5, tr 4] Bên cạnh những nghi lễcầu tạ ơn về mùa màng, còn có những nghi lễ chống lại hoặc xua đuổi dịchbệnh, rủi ro, ô uế

Tóm lại: Thần đạo là thứ tôn giáo sơ khai bản địa của ngời Nhật, nó

đợc hình thành từ thời tiền sử trên quần đảo Nhật Bản Thần đạo không phải

là quốc giáo của Nhật Bản, vì nó không cấu thành nổi một triết lý, không kinh

kệ, giáo điều của màu sắc cá tính Thần đạo Trên thực tế, thần đạo cũng khôngphải là thứ tôn giáo riêng của ngời Nhật Bản Vì cũng giống nh ngời TrungQuốc, Việt Nam đều thờ cúng trời đất, vua chúa, tổ tiên, thần thánh củamình Nhng t tởng tôn giáo trong đạo đức của ngời Nhật đợc đồng hóa vớitín ngỡng ngay từ tiền khởi của nền tôn giáo sơ khai

Đạo Phật đã du nhập vào Triều Tiên, và từ đó đợc truyền bá sang Nhật Bảnvào thế kỷ VI

Theo sử sách, vào năm 552, vua Triều Tiên Bách Tế (Packeche) cửhai học giả Achiki và Wani, sang cầu viện triều đình Yamato giúp đỡ vềmặt quân sự và hy vọng Nhật Bản sẽ trợ giúp mình chống lại kẻ thù Cho

Trang 22

nên, đã gửi cho Thiên hoàng Yamato một tợng phật bằng vàng và nhiềutặng phẩm khác Trong đó, có một số bộ kinh phật và kèm theo một bức thhết lòng tán dơng Phật giáo rằng: "Phật giáo tuy khó giải thích và khó hiểu,

đây là một thứ học thuyết hay nhất và có thể giúp thực hiện mọi nguyệnvọng" [26, tr 75] Điều này đã tác động lớn đến tầng lớp quý tộc Nhật Bản,

đặt vấn đề có nên tiếp nhận tôn giáo mới hay không? Do đó, đã thờngxuyên xảy ra những cuộc xung đột giữa hai phe phái, đại diện cho pháichống đối là họ Nakatomi và Mononobe, còn phái ủng hộ Phật giáo là họSoga, cuộc đấu tranh giữa hai phái diễn ra trong suốt gần nửa thế kỷ Cuốicùng, phái Soga giành thắng lợi Đến cuối thế kỷ VI, Phật giáo đã trở thànhtôn giáo chính thức của Nhật Bản, khi đó mới chấm dứt đợc những mâuthuẫn giữa thần đạo và Phật giáo Thật ra Phật giáo cũng có nhiều yếu tốgần giống với thần đạo ở Nhật Bản, các thần (Kami) cũng trở thành thầnbảo vệ chùa chiền

Sau khi giành đợc sự bảo trợ của triều đình thì Phật giáo dờng nh đã

mở rộng cửa đón nền văn minh đại lục sâu xa hơn trớc Một trong nhữngnhân vật lịch sử xuất hiện để hoàn thành sứ mệnh văn hóa ấy, đó là Thái tửShotoku (574-622) Ông là một ngời có học vấn uyên thâm, nhãn quanchính trị sáng suốt, trở thành nhiếp chính cho nữ Thiên hoàng Suiko vàonăm 593 Trong 30 năm hoạt động, Thái tử đã biến đổi nớc Nhật trên nhiềuphơng diện Trong đó, Nho giáo và Phật giáo đợc khuyến khích, nâng đỡ vàngày càng phát triển nhanh chóng Ngay trong bộ luật 17 điều của Thái tửShotoku cũng nêu ra quy định, những ngời phục vụ Thiên hoàng phải tôntrọng và đi theo tín ngỡng Phật giáo Ngoài ra, Thái tử cũng là ngời hiểu rấtsâu sắc về phật học Trong tác phẩm đầu tiên do Thái tử Shotoku viết vàonăm 599 là cuốn Sankyogisho (Tam kinh nghĩa sớ) để giải thích những triết

lý về Phật giáo Thái tử còn cho xây dựng rất nhiều chùa Phật ở khắp nơi.Trong đó, nổi tiếng nhất là chùa Horyuji (Pháp Long Tự) ở IkarugaYamato Đây là ngôi chùa đợc xây dựng bằng gỗ cổ nhất thế giới còn tồn

Trang 23

tại cho đến ngày nay Tính đến cuối năm 624, ở Nhật Bản đã có 46 ngôichùa, 816 s sãi và 569 tăng ni, đồng thời triều đình Nhật Bản còn mời nhiềuthầy dạy từ Triều Tiên và Trung Quốc sang truyền bá Đạo Phật.

Cùng với việc tiếp thu và tôn sùng Đạo Phật Thái tử còn gửi nhiềuhọc sinh sang học tập, tiếp thu nền văn hóa của Trung Quốc Phái đoàn đầutiên lên đờng vào năm 607, mang theo quốc th của Thái tử Shotoku viếtrằng: "Đợc biết Phật giáo tại quý quốc đơng hồi hng thịnh, tệ quốc gửi sứsang triều bái và đa theo mấy chục sa môn để học thêm giáo lý cao thâmcủa Phật pháp" [35, tr 243] Trong thời Thái tử, ba phái đoàn đã thực hiện

sứ mệnh văn hóa ấy

Từ cải cách Taika năm 645, Nhật Bản đã xây dựng Nhà nớc theo môhình của Trung Quốc, đồng thời trong cải cách Thái tử Kotoku đã tiến hànhban bố nhiều sắc lệnh Trong đó, Phật giáo đợc công nhận là quốc giáo,khuyến khích mỗi quận, mỗi làng đều xây dựng chùa chiền, mỗi ngành,mỗi nhà đều phải có ngời xuất gia và tăng ni trụ trì ở đền chùa Những nơithiếu phơng tiện còn đợc triều đình giúp đỡ Vì thế nhiều đền chùa nguynga đợc dựng lên nhờ sự giúp đỡ của Nhà nớc, những nghi lễ sang trọngcũng đợc tổ chức dới sự bảo trợ của triều đình hay quý tộc Vì vậy, đến cuốithế kỷ VII trong cả nớc đã có trên 450 ngôi chùa

Đến thế kỷ VIII, hệ thống chính quyền Nhà nớc theo mô hình nhà

Đờng đợc hoàn thành, mở đầu cho thời kỳ Nara Trong thời kỳ này, do triều

đình muốn khuếch trơng Phật giáo nhằm thống nhất uy quyền chính trị màtrớc kia bị phân tán bởi chế độ thị tộc, đồng thời cũng muốn xóa nhòa tôngiáo thị thần ở địa phơng để quy các giai tầng hào tộc vào chung một hệthống, chịu sự chi phối của nhà nớc Để làm đợc điều đó, đối với triều đình,Phật giáo trở thành một thế lực quan trọng, là một quyền lực thiêng liêngbảo vệ xứ sở Một ngôi chùa vĩ đại kiến tạo ở Nara mang tên là Todaiji(Đông Đại Tự) với tợng Đại Phật uy nghi, làm trung tâm của Phật giáo, liên

Trang 24

kết và điều khiển chùa chiền ở các địa phơng Ngoài ra, triều đình còn cónhững u tiên đặc biệt đối với các nhà s, nh: Phong tớc cho các nhà s, cònnhà chùa thì đợc ban cấp nhiều ruộng đất, miễn thuế Điều này đã thúc đẩycho Phật giáo phát triển nhanh chóng Nhng dần dần các chùa và giới tănglữ do đợc u tiên đã tự do lộng quyền câu kết với các quý tộc ở địa phơng,giúp cho tầng lớp này không phải đóng thuế rồi chia nhau lợi tức Do đó, đãlàm cho ngân sách của Nhà nớc ngày càng giảm sút, đời sống nhân dân đóikhổ bên cạnh cuộc sống giàu sang của tầng lớp quý tộc và s sãi Hơn nữa,

do sự u đãi của triều đình về kinh tế nên các s sãi đã vợt ngoài giới hạn củalĩnh vực tôn giáo, can thiệp sang lĩnh vực chính trị Do đợc nữ Thiên hoàngShotoku sủng ái, Dokyo trở thành đại thần Thiền s và đợc phong tớc hiệu làPháp Vơng, nhng vẫn cha hài lòng, âm mu chiếm cả ngôi Thiên hoàng.Hành động này đã làm đảo lộn chính trị trong triều đình và cả hệ thốngHoàng gia, dẫn đến cuộc đảo chính năm 770 do nhà quý tộc Fujiwara lãnh

đạo và đã đoạt đợc quyền từ tay nhà s tên là Dokyo

Nh vậy, ở thời Nara Đạo Phật đã trở thành quốc giáo, tăng lữ trởthành một thế lực chính trị, trong số đó không thiếu những ngời mang đầytham vọng quyền lực nh trờng hợp Dokyo

Thời Nara còn hình thành nhiều tông phái khác nhau của Đạo Phật,các tông phái từ ấn Độ vào Trung Quốc rồi truyền sang Nhật Bản và hầu

nh về giáo lý của các tông phái này không có sự chống đối gì với nhau, nóchỉ là những biến thể của một chủ đề chung gọi là sáu tông phái Nara

Tông phái đầu tiên là Tam Luận Tông (Sanron), do nhà s Triều Tiêntên là Eikwan truyền bá vào Nhật Giáo lý của tông phái này dựa theo bộTrung luận của Nagarjuna (Long Thọ Bồ Tát) mang một triết lý hết sức duytâm và tuyệt đối, cho rằng: Mọi hiện tợng là không thực, không tồn tạiriêng biệt mà chỉ tồn tại trong đối với nhau mà thôi, một quan niệm rất khóhiểu đối với ngời Nhật học nó Tuy nhiên là tông phái đầu tiên, nên vẫn tồn

Trang 25

tại và đến cuối thời Nara đã bị sa sút Sau Tam Luận Tông là Thành ThựcTông (Jojitsu) du nhập từ Triều Tiên Các giáo lý của Tông phái này cũnggiống nh Tam Luận Tông, vì thế Tông phái này hầu nh không phải là riêngbiệt mà lẫn vào Tam Luận Tông Một Tông phái nữa ở Nhật là Pháp TớngTông (Hosso) còn gọi là Duy Thực Tông (Yuishiki) Tông phái này dựatheo bộ luận Joyuishiki-ron (Thành duy thức luận) là một bộ tóm tắt nhữnglời bình luận về một bài phát biểu ngắn bằng thơ triết học duy tâm củaVashubundhu (Thiên thần Bồ Tát) và những vấn đề khác, do nhà s HuyềnTrang nổi tiếng ngời Trung Quốc sắp xếp năm 648 Toàn bộ tác phẩm này

đa ra học thuyết cho rằng thực tại duy nhất chính là tâm thức của con ngời

Câu Xá Tông (Kusha) cũng không phải là một Tông phái riêng biệt,các giáo lý của nó dựa trên một bộ luận có tính chất bách khoa củaNannubandhu Bộ luận này là một bản trình bày về t tởng siêu hình của cáctrờng phái phật học ban đầu Tông phái này chép từ bộ luận đó gọi là Kusha(Câu Xá Luận) nghĩa là kho tàng của phép siêu hình, cho rằng mọi sự vật

đều tồn tại và coi những yếu tố tâm lý, vật lý trong hoạt động sống của mọivật thể là vĩnh hằng

Một trong những Tông phái khác biệt so với những tông phái khác,

nó không phải là vì giáo lý siêu hình mà vì tính chất thiết yếu đặc biệt của

nó Đó là Luật Tông (Ritsu), đúng nh tên gọi của nó Tông phái này khôngquan tâm nhiều đến các vấn đề triết lý, mà chỉ chuyên chú vào giới luật, saocho đúng sự kế thừa các bậc tu hành Thực ra nhánh của tông phái này pháttriển nh một sự phản ứng lại với những cái tinh tế siêu hình của các tôngphái khác, và nh một sự phản đối với lối sống buông thả của Tăng Lữ lúc

đó Vì thế, họ rất coi trọng những cuộc lễ thụ giới, chủ trơng rằng chỉ cócác nhà s nào đợc thụ giới đúng đắn thì mới có thể thụ giới đúng cho ngờikhác đợc

Trang 26

Cuối cùng là Hoa Nghiêm Tông (Kegon), dựa vào một số triết lýcủa Kinh Hoa Nghiêm, đợc du nhập từ Trung Quốc vào Nhật Bản năm 736.

Là một trờng phái triết học, Hoa Nghiêm Tông không cạnh tranh nh cáctông phái khác Nhng ở Nhật, nó vợt các tông phái khác về sự phát triểnnghi lễ và một phần nào đó có những nét độc đáo về những lời bình giải của

nó Nên làm cho Hoàng gia thấy hấp dẫn và tiếp thu Chủ trơng của tôngphái này là thờ Đức Phật L Xá Na (Roshana), hiện thân trong toàn vũ trụ

mà các Đức Phật trong lịch sử chỉ là một hóa thân của ngài Trong kinh củatông phái này có miêu tả tợng phật L Xá Na ở trên một tòa sen có 1000cánh Mỗi cánh hoa là một vũ trụ, và trong mỗi vũ trụ lại có vô vàn thế giới.Trên mỗi cánh hoa là một vị Thích Ca, hiện thân của L Xá Na Còn trongthế giới của vô vàn thế giới kia lại có một vị Phật nhỏ, hiện thân của Thích

Ca, Triều đình và Tăng lữ đã thấy sự giống nhau giữa các tôn ti trật tự nàyvới cái tôn ti của Nhà nớc Vì thế kinh Hoa Nghiêm đợc triều đình trọngdụng và đợc coi là kinh có quyền uy

Đến thế kỷ IX, để tránh ảnh hởng của Phật giáo, Thiên hoàng Kamuchủ trơng dời đô từ Nara đến Heian ở đó, Thiên hoàng đã đặt ra các quy

định chặt chẽ đối với Phật giáo, nh quy định lại vị trí của tăng ni trong xãhội chủ trơng "Đạo dời dị biệt" Ngoài ra, còn quy định một loạt các điềukhoản khác nhằm hạn chế quyền lực của Phật giáo nh: Quy định việc phongtớc, tăng quan, quy định hình phạt cho những ngời vi phạm Do có cácbiện pháp nh vậy, nên hơn nửa thế kỷ đầu của thời Heian, quyền lực củaThiên hoàng đợc toàn vẹn, không bị giáo quyền xâm phạm

Cũng trong giai đoạn này, bản thân nội bộ Phật giáo cũng có sự thay

đổi cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ Bên cạnh sự suy thoáicủa các tông phái Phật giáo thời Nara dẫn đến phong trào "Tân hng Phậtgiáo", tuy các tông phái cũ vẫn còn tồn tại nhng hầu nh đều khuất chìm trớclàn sóng mới ở đầu thế kỷ IX, đó là do hai hòa thợng Saicho lập ra phái

Trang 27

Tendai (Thiên Thai) và Kukai lập ra phái Shingon (Chân Ngôn) Hai vịtăng trởng này, sau khi đắc đạo từ Trung Quốc trở về nớc đúng vào thời củathịnh của Pháp Tớng Tông và Nghiêm Hoa Tông Vì bị hai phái này chèn

ép, nên phải dựng chùa trên núi với chủ trơng "Đời là dục vọng, đạo làthanh" [19, tr 40], xa lánh chốn phồn hoa đô hội và các nhà quyền quý,rút vào rừng núi tĩnh tu, khi nào "nhập đạo" mới hạ sơn cứu nhân độ thế,tiếp xúc với bình dân lam lũ Chủ trơng của hai Tông phái này rất phù hợpvới ý tởng của triều đình Nhà vua dời đô với lý do là để xa lánh Pháp TơngTông, "vì tăng giới này tại cựu đô rất phức tạp trong quan niệm giáo lý,nên Trẫm đã chứng kiến nhiều hành động phi pháp và phi đạo của họ" [19,

tr 40] Vì thế, trong những năm Thiên hoàng Kamu còn trị vì, chỉ tănggiới Thiên Thai Tông và Chân Ngôn Tông đợc triều đình và nhân dân quýmến

Nhìn chung, Phật giáo thời Heian trở thành một tôn giáo có vai trò

to lớn, ảnh hởng đến đời sống của mọi tầng lớp trong xã hội Nhật Bản Vìthời kỳ này, Phật giáo trở về với bản chất đích thực của nó là để cầu nguyệnhơn là truyền bá giáo lý

Đối với giai cấp quý tộc thì Phật giáo không bị lợi dụng với ý nghĩa

là phơng tiện thực hiện ý đồ chính trị của họ Về cơ bản, nó cũng khôngmâu thuẫn, đối lập với tầng lớp thống trị

Đối với tầng lớp nông dân, Phật giáo trở thành điểm tựa về mặttinh thần Mặc dù, họ không hoàn toàn hiểu sâu triết lý về Đạo Phật, nhngvẫn mong ớc đợc Phật giáo phù hộ cho cuộc sống của họ tốt đẹp hơn Họtin rằng, kiếp này có liên hệ với kiếp trớc và có ảnh hởng đến kiếp sau, điều

đó đã tác động đến t tởng hớng thiện của ngời dân trong cuộc sống củamình

Tuy nhiên, thời Heian cũng là thời kỳ vàng son về mặt Nhà nớc, làthời kỳ cực thịnh của giai cấp quý tộc, giai cấp này đang ở đỉnh cao của sự

Trang 28

giàu sang về quyền lực chính trị Vì vậy, ảnh hởng của nó đối với mọi mặttrong đời sống xã hội là rất lớn Trong đó, Đạo Phật cũng không nằm ngoài

sự ảnh hởng đó

Từ thế kỷ X trở đi, Phật giáo Nhật Bản đã bắt đầu có sự thay đổi, haiTông phái ban đầu dần dần bị phân hóa Các giáo phái bắt đầu chuyển sangmột khuynh hớng mới, bắt đầu tham gia hoạt động nh các tổ chức xã hộikhác Sự mâu thuẫn giữa các Tông phái trong việc tranh giành gây ảnh hởngcủa phái mình dẫn đến xung đột mâu thuẫn ngày càng tăng Lúc đầu mâuthuẫn về giáo lý, sau đó là xung đột về bạo lực, khiến cho các Tông pháituyển mộ quân lính để giải quyết mâu thuẫn với nhau Đây là đặc điểmriêng của Phật giáo Nhật Bản

Trong thời kỳ này, các chùa đợc u đãi và có sự tham gia của các quýtộc Vì vậy, các s sãi trở nên rất giàu có, nhà chùa cũng trở thành các trangviên giống nh các trang viên của các quý tộc Trong khi đó, nhân dân vẫn

đói khổ, họ phải đến chùa làm thuê và trở thành lực lợng bảo vệ chùa, khicần phải ra trận Họ đại diện cho các Tông phái khác nhau, chống lại nhau

để tranh giành quyền lực và của cải, sau đó cùng tiến về kinh đô để gây áplực triều đình

Nh vậy, Phật giáo lại trở lại với chiều hớng cũ, can thiệp vào lĩnhvực chính trị và đang dần dần trở thành phơng tiện của giai cấp quý tộctrong việc tranh giành quyền lực Các cuộc xung đột đều núp dới danhnghĩa là bảo vệ Đạo Phật, nhng thực chất là cuộc đấu tranh giành quyền lực

và của cải giữa các Tông phái với nhau Từ năm 950 đến năm 1150, cácTông phái hầu nh đã hạ ngọn cờ đạo lý để lao vào cuộc tranh giành quyềnlực đẫm máu Trừ một số đền chùa nhỏ ở những vùng xa xôi hẻo lánh là

đứng ngoài cuộc, còn có thiện chí bảo vệ cái đẹp của Phật giáo

Tình hình đó, đã phản ánh sự rối ren của xã hội Nhật Bản, và chothấy sự suy yếu của triều đình, đành phải bó tay, bất lực

Trang 29

Nhìn chung, vào cuối thời Heian, nội chiến xảy ra khắp nơi Tạikinh đô, xảy ra những cuộc rối loạn Vua chúa thì nhu nhợc, giới quý tộc thìbạo ngợc và ngông cuồng, Tăng lữ thì tham lam và hay sinh sự, tình hìnhkinh tế bất ổn gây ra cảnh khốn cùng phổ biến trong dân chúng "T cách đạo

đức đã trở nên vừa lỏng lẻo, vừa thô tục đến mức trở thành một nguy cơ xãhội" [26, tr 270] Thêm vào đó là sự rối loạn trong các Giáo phái, tạo ra sựkhủng hoảng về tinh thần Giới tu hành nghĩ rằng, cần phải thay đổi các tr -ờng phái cũ để làm chỗ dựa về mặt tinh thần cho ngời dân trong bầu khôngkhí bi quan của nội chiến Do vậy, Phật giáo đợc chấn hng với chiều hớngmới Trong các đền chùa, ngời ta chuyển sang thờ Phật A Di Đà Về cơ bản,giáo lý của Đức phật A Di Đà không mâu thuẫn với Thiên Thai và ChânNgôn, mà chỉ đơn giản và dễ hiểu hơn Do vậy, nó hấp dẫn đợc phật tử, kểcả ngời nghèo Việc thờ phật A Di Đà là con đờng cứu vớt linh hồn, đi tìmhạnh phúc trong cuộc đời, nâng đỡ niềm tin Đặc biệt là trong thời loạn lạc,con ngời mất đi niềm tin vào cuộc đời thực Vì thế, phật A Di Đà ra đời phùhợp với tâm t nguyện vọng của những ngời đang cần sự an ủi về mặt tinhthần Một trong những đại biểu xuất sắc của tín ngỡng này là Genshin (942-1017), ông thuộc giáo phái Tendai và là một ngời có học thức uyên bác.Tác phẩm của ông là Ojo Yeshu (Vãng Sinh yếu tập) tức là những yếu tốcần thiết của sự cứu vớt linh hồn Ông cho rằng, những kẻ lỗi lầm dễ đợccứu vớt hơn những ngời thiện tâm, muốn đợc cứu vớt chỉ cần niệm tên ĐứcPhật A Di Đà là sẽ giúp con ngời tái sinh Những ý tởng về cực lạc và địangục của Genshin đã ảnh hởng lâu dài đối với Phật giáo và nghệ thuật NhậtBản trong nhiều thế kỷ

2.2.1.3 Nho giáo

ảnh hởng của Nho giáo đối với ngời Nhật rất sâu nặng, t tởng Nhogiáo đã chiếm một vị trí quan trọng trong các thời kỳ lịch sử Nhật Bản Giaicấp thống trị ở Nhật Bản có ngời coi đó là phơng tiện để giáo dục nhân dân,

Trang 30

có ngời sử dụng nó làm căn cứ để chế định "luật lệnh" giải thích những quyphạm đạo đức.

Theo sử sách cho rằng, Nho giáo từ Trung Quốc theo con đờngTriều Tiên du nhập vào Nhật Bản khoảng từ thế kỷ IV-V Lúc đó Yamato là

bộ tộc mạnh nhất, hầu nh nắm toàn quyền trị vì trên đất Nhật Họ đã nhiềulần sang xâm lợc Triều Tiên, nhiều ngời Triều Tiên bị bắt và đa về NhậtBản Trong số đó có cả ngời Trung Quốc, nhiều ngời có tri thức khoa học,thông thạo về triết lý Nho giáo, t tởng chính trị của Trung Quốc, từ đó Nhogiáo đợc truyền bá vào Nhật Bản

Đến nửa đầu thế kỷ V, Thiên hoàng và giai cấp quý tộc Nhật Bản đãtiếp thu Hán tự của Trung Quốc và tiếp nhận luôn t tởng học thuyết chínhtrị Nho giáo Đồng thời mở nhiều lớp học ở kinh đô cũng nh các địa phơng,mời những ngời Trung Quốc và Triều Tiên làm thầy dạy học

Nh vậy, Nho giáo ra đời gắn liền với quá trình ra đời của Nhà nớc.Vì thế Nho giáo đã kịp thời đáp ứng cho ngời Nhật xây dựng nền móngchính trị, hành chính, pháp luật của Nhà nớc Hệ quả đầu tiên của việc dunhập Nho giáo là việc ban hành Hiến pháp 17 điều của Thái tử Shotoku(574-622) Đơng thời khi đó, Thái tử Shotoku tôn thờ Phật giáo và cũng tônsùng Nho giáo Ông đã theo học tới trình độ cao s, và cử nhiều học sinhsang lu học ở Trung Quốc, chuyên nghiên cứu về Nho giáo và trở về nớc đểtruyền bá nó

Sau khi Thái tử Shotoku mất, dòng họ Soga lên nắm chính quyền.Tình hình xã hội thay đổi, mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc Nhữngnhân vật cách tân trong hàng ngũ mới nổi lên nh Nakaokyo, NakazikenShoku đợc sự ủng hộ của nhiều học sinh lu học từ Trung Quốc trở về.Tháng 6 năm 642 đã lật đổ chính quyền quý tộc chủ nô của dòng họ Soga.Chẳng bao lâu, họ đã bắt chớc thể chế chính quyền Trung Quốc (Nhà Đ-ờng) và vận dụng Nho học thực hiện cải cách Taika với những cách tân nh:cách thức phong cấp đất đai, quốc hữu hóa ruộng đất, cách thu thuế

Trang 31

Năm 701, Nhật Bản bắt đầu xây điện thờ Khổng Tử, ban hành luậtlệnh "Đại Bảo" quy định việc giáo dục Trong đó Nho giáo đợc coi là một

bộ môn quan trọng, phải đợc giảng dạy ở Đại học Quốc học Lấy "Chudịch", "Nghi lễ", "Chu lễ", "Lễ ký", "Xuân Thu" làm giáo trình căn bản

"Luận ngữ", "Hiếu kinh" đợc quy định là giáo trình bắt buộc, thậm chí cònquy định chế độ xử phạt buộc học sinh phải tiếp thu

Đến thời kỳ Nara, giao thông giữa Trung - Nhật tơng đối phát triển,việc giao lu giữa học giả hai nớc khá thờng xuyên Bởi vậy, ảnh hởng của t t-ởng Nho giáo Trung Quốc ngày càng sâu sắc, đã vợt ra khỏi phạm vi củagiai cấp thống trị và phổ biến đến mọi giai tầng trong xã hội Nhật Bản

Tuy nhiên, Nho giáo du nhập vào Nhật Bản không còn là một thứgiáo lý cứng nhắc, ngời Nhật phát huy tinh thần nhập thế của Nho giáo đểgiáo dục nhân dân Mỗi ngời phải làm hết sức mình trên cơng vị và quãng đờingắn ngủi của mình để đóng góp cho xã hội Họ phát huy đạo hiếu củaKhổng Tử giáo dục con cái phải ăn ở có hiếu đức đối với cha mẹ Trongviệc tiếp thu các bộ Tứ th ngũ kinh của Trung Quốc, ngời Nhật đặc biệt coitrọng Hiếu kinh, họ đa Hiếu kinh vào áp dụng trong đời sống Cuối thế kỷVIII, Hiếu kinh trở thành một bộ phận trong chơng trình học ở mỗi trờng

Họ học những điều giáo huấn của Khổng Tử nh: "Luật hiếu là ngời ta phảiphụng dỡng cha mẹ nh phụng dỡng Trời", "chừng nào cha mẹ còn sống thìlàm gì cũng phải học và đợc phép" "Phải vâng lời cha mẹ khi cha mẹ cònsống, và khi cha mẹ qua đời thì ngời con phải làm nh cha mẹ đã làm" Những

điều này bất cứ đứa trẻ nào đã đọc đợc chữ đều phải thuộc lòng

Giai cấp thống trị Nhật Bản đã lợi dụng Nho giáo để duy trì quyềnlực của mình Vào năm 707, Thiên hoàng Fumitake đã nhấn mạnh trongchiếu th của mình "phàm là đạo của quốc gia phải lấy lễ làm trọng" Điều

đó hoàn toàn phù hợp với cái gọi là "lễ" mà Nho giáo vô cùng trọng thị.Trong suốt thời kỳ Nara, đã lần lợt xuất hiện những tác phẩm Kojiki (Cổ sử

Trang 32

ký), Nihonshoki (Nhật Bản th kỷ), Vạn Diệp tập trong đó phản ánh ítnhiều t tởng Nho giáo Thời kỳ này tồn tại hai phái Nho giáo và Phật giáo, cónhiều lớp học cũng đợc xây dựng ở nhà chùa Nhng t tởng Nho giáo vẫn t-

ơng đối chiếm u thế Năm 768, Thiên hoàng Kotoku (Xng Đức) lệnh cho cảnớc tôn Khổng Tử là "Văn Tuyên Vơng" Đó là biểu hiện tôn sùng Khổng

Tử, coi là bậc thánh nhân quan trọng nhất của Nhật Bản

2.2.1.4 Sự kết hợp giữa Thần Đạo với Nho giáo và Phật giáo

Thần Đạo, Phật giáo và Nho giáo là những tôn giáo lớn ở Nhật Bản.Cùng với sự phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ Nara cũng nh thời Heian,Phật giáo tuy rằng đã phần nào đáp ứng đợc tâm t, nguyện vọng của quầnchúng nhân dân lao động khi họ không còn niềm tin vào cuộc sống thực tại

mà họ đang sống Nhng không phải vì thế mà trong t tởng của quần chúngnhân dân đã mất đi tín ngỡng bản địa của họ, đó là Thần đạo Vì thế, trongquá trình truyền bá, Đạo Phật cũng nh các tôn giáo khác đều không thểtránh khỏi sự cạnh tranh gay gắt và sự chèn ép quyết liệt của các tôn giáo ở

địa phơng

Lúc đầu, Phật giáo và Nho giáo có một số mâu thuẫn đối với tôngiáo địa phơng là thần đạo Do các kinh phật và các tác phẩm của Khổng

Tử cùng các môn đệ là một hệ thống triết lý phát triển đã có một trình độkiến thức và hiểu biết cao hơn so với Thần đạo Nhng sau một thời gianxung đột với Thần đạo, Đạo Phật đã đi theo con đờng hòa nhập với Thần

đạo Phật giáo có lúc đã trở thành một công cụ tinh thần của Thiên hoàng vàquý tộc trong giai đoạn đầu của chế độ phong kiến Nhật Bản, khi đó Thần

đạo tạm thời lắng xuống để rồi lại phát triển song song với Đạo Phật Vớitính chất là một tôn giáo địa phơng, Thần đạo tuy bị Phật giáo lấn át, nhng

nó vẫn tồn tại và trong một số mặt còn phát triển đợc Đó là vì nó có khảnăng thỏa hiệp với những tín điều của Phật giáo, đặc biệt là hình thức hớngdiện của nó

Trang 33

Mặc dù, quan niệm và giáo lý của Thần đạo và Đạo Phật khác nhau.Nhng Thần đạo và Phật giáo đã có điều chỉnh để hòa hợp với nhau, cùngnhau tồn tại gọi là Thần phật tập hợp Phật đợc xem là một Kami (Thần) th-ợng đẳng và các Kami cũng là những thần hộ pháp bảo vệ chùa chiền.Nhiều vị thần đợc đa vào điện thờ Phật giáo và nhiều chùa chiền cũng đợcxây quanh các đền thần Các hòa thợng cũng đợc cử đến các đền thờ thần

đạo tụng kinh, niệm phật, cầu nguyện để tránh tai họa trong những dịp thiêntai Trớc sự phát triển mạnh mẽ của Đạo Phật, giai cấp thống trị đã lợidụng để thực hiện ý đồ chính trị của mình, song nhìn chung nó chịu ảnh h-ởng rất lớn trong việc tôn thờ của ngời Nhật đối với Thần đạo Điều đó,xuất phát từ tình cảm của ngời Nhật đối với thiên nhiên rất sâu đậm mà dovậy tín ngỡng cổ truyền của Nhật Bản vẫn tồn tại bên cạnh sự ảnh hởngmạnh mẽ của các dòng t tởng khác nhau, nhng lại có sự tác động qua lại lẫnnhau giữa Phật giáo, Nho giáo và Thần đạo Phật giáo có tác động tới sựhình thành của Đạo thần và các triết lý của Nho giáo Ngợc lại, Thần đạo vàNho giáo ở một mức độ nào đó có ảnh hởng tới tính chất của đạo phật,trong đó "Ryobu-shinto" chính là sự tổng hợp các giáo lý và nghi lễ củaThần đạo và Nho giáo Những ngời dân và thậm chí cả quan chức mặc dùtheo Đạo Phật, đồng thời mang trong ngời nhng t tởng nghiêm khắc nhng

họ vẫn thờ cúng thần (Kami) của Thần đạo hay các võ sĩ trớc khi ra trận họ

đều đến đền thờ để thờ cúng các Kami cầu may mắn và ban cho họ giànhthắng lợi Điều này chứng tỏ ngời Nhật vẫn giữ đợc bản sắc truyền thốngcủa mình trớc những ảnh hởng của các dòng t tởng ngoại nhập Khôngnhững thế, chính sự kết hợp này đã làm phong phú thêm đời sống t tởng củamỗi cá nhân trong cộng đồng xã hội Nhật Bản

Tóm lại, Sự kết hợp giữa Thần đạo với Nho giáo và Phật giáo ở Nhật

Bản có vai trò to lớn, nó xác định tơng lai, tính chất thích nghi với các điềukiện sở tại của xã hội, cũng nh sự chuyển hóa của tôn giáo nói chung phùhợp với các tình thế của nớc Nhật

Trang 34

2.2.2 Chữ viết

Nhật Bản cũng nh Việt Nam, Triều Tiên, đều chịu ảnh hởng của nềnvăn minh Trung Quốc Dấu hiệu rõ rệt nhất của ảnh hởng này là sự vay mợnchữ Hán, một loại hình văn tự vuông của Trung Quốc, để sử dụng ở nớcmình Hơn nữa, cả ba nớc này sau một thời gian vay mợn chữ Hán, mỗi nớc

đều tự tạo ra cho mình một loại hình văn tự riêng trên cơ sở chữ Hán theoyêu cầu riêng cho phù hợp với đặc trng ngôn ngữ của từng nớc

Trong thời kỳ cải cách Taika, Nhật Bản cha có hệ thống chữ viết củariêng mình, mà còn dùng chữ Hán của Trung Quốc Họ tiếp nhận chữ Hánqua các thầy tăng Triều Tiên và Trung Quốc đa Phật giáo vào Nhật Bảntrong khoảng thời gian từ thế kỷ IV đến thế kỷ VII

Vào khoảng thế kỷ V, những ngời Nhật Bản vợt biển sang lu học ởTrung Quốc Có thể nói, "họ đã bị choáng ngợp bởi sự kỳ diệu của loại hìnhvăn tự vuông ghi ý của Trung Quốc, họ đã nghĩ ngay đến việc mợn chữ Hán

để ghi tiếng Nhật" [31, tr 1] Nhng giữ vai trò quan trọng nhất đối với việc

đa chữ Hán vào Nhật Bản, lại là một số ngời đến từ bán đảo triều Tiên Bởi

lẽ, Triều Tiên là nơi vay mợn và sử dụng chữ Hán sớm hơn so với Nhật Bản.Hơn nữa, tiếng cổ Triều Tiên lại rất gần với tiếng Nhật Lúc đầu, việc sửdụng chữ Hán để ghi tiếng Nhật gặp rất nhiều khó khăn Vì chữ Hán là văn

tự khác với tiếng Nhật Tiếng Nhật thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính, vớicách cấu tạo riêng và là một ngôn ngữ khác biệt, cho nên chỉ đợc sử dụnghạn chế trong các văn bản cổ của Trung Quốc Nhng khi muốn ghi âm củamột từ Nhật thì họ buộc phải dùng chữ Hán để làm ký hiệu ngữ âm, khôngcần để ý đến nghĩa

Từ rất xa, ngời Nhật rất cần đến điều này Vì một trong những việc

sử dụng trong nớc đầu tiên khi dùng chữ Hán của Trung Quốc là ghi các tênngời, tên địa phơng Điều này có nghĩa là phải đa thêm vào chữ Hán mộtcách phát âm mới Nh vậy, việc lựa chọn chữ Hán để biểu thị các âm tiết

Trang 35

của tiếng Nhật, lúc đầu có thể là do cá nhân tự nghĩ ra Sau đó, lịch sử pháttriển chữ viết ngữ âm của Nhật Bản trở thành một quá trình dần dần tiến tớithống nhất Vì thế chữ Hán của Trung Quốc đợc dùng trong các hoạt độngcủa Nhà nớc Vào năm 701, Thiên hoàng ban bố đạo sắc chỉ niên hiệu "ĐạiBảo" quy định việc giáo dục Đại học viện đợc thiết lập ở kinh thành,chuyên đào tạo, dạy dỗ con em các nhà quý tộc quan lại Nội dung giảngdạy và học tập chủ yếu trong các trờng là văn hóa và pháp lý của TrungQuốc Điều đó chứng tỏ rằng, trong nền giáo dục ở Nhật Bản cũng bớc đầu

có sự biến đổi Tiêu biểu cho những tác phẩm đầu tiên bằng tiếng Nhật màchúng ta đợc biết đến là cuốn Kojiki (Cổ sử ký) xuất bản năm 712 Và tậpNihonshoki (Nhật Bản th kỷ) ra đời năm 720 Hai tác phẩm này đã ghi chépcác sự kiện lịch sử, phản ánh về xã hội Nhật Bản cho đến trớc năm 700 Tácgiả của hai tác phẩm này đều chịu ảnh hởng văn hóa, t tởng của Trung Quốc

Họ đều cố gắng chứng minh rằng, các thị tộc Yamato là những thị tộc u việt

về chính trị và văn hóa, đều xem Thiên hoàng nh là con cháu của thầnthánh Đây là tài liệu rất quý giá về lịch sử chữ viết của Nhật Bản, đánh dấu

sự sáng tạo trong việc sử dụng chữ Hán, nhng chỉ thuần túy là sử dụng âm

đọc chứ không sử dụng về mặt ý nghĩa của chúng

Tuy nhiên, việc dùng chữ Hán cũng không phải là loại chữ viết đơngiản đối với ngời Nhật, đặc biệt là đối với tầng lớp trung lu và ngời dân lao

động Do vậy, ngời Nhật luôn có ý thức sửa đổi chữ Hán vay mợn theo ớng đơn giản hóa, đặc biệt là những cố gắng tìm cách thức thích hợp để ghicác phụ tố của danh từ, động từ hay các trợ từ và ngữ pháp Ngoài ra, dùngphơng pháp mợn âm Hán để biểu thị một âm nào đó của tiếng Nhật, lại cóthể dùng nhiều chữ Hán đồng âm khác nhau Điều đó, gây nhiều khó khăncho ngời đọc và hiểu nh thế nào cho thích hợp Đó là nhu cầu thực tế thúc

h-đẩy sự sáng tạo của chữ viết Nhật Bản, tìm cách làm sao cho chữ viết dễ

đọc, dễ nhớ, chính xác và thống nhất

Trang 36

Từ cuối thế kỷ IX, khi quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc bị

ng-ng lại thì văn hóa nội địa đã có sự gạn lọc những-ng yếu tố ng-ngoại lai, ghép vàovốn dân tộc, hun đúc nên một nền văn hóa mang bản sắc riêng biệt củaNhật Bản Điển hình về phơng diện này, là quá trình sáng tạo ra một thứchữ viết riêng, để phiên âm ngôn ngữ Nhật Bản theo kiểu chữ Nôm của ViệtNam Nhng xuất phát từ nguyên tắc khác, "do chữ Hán quá phức tạp, cácnhà s, nhà Nho đã dựa vào chữ Hán mà nghĩ ra chữ viết đơn giản hơn gọi làKana" [18, tr 121] Chữ Kana đợc hoàn thiện dần và mở đờng cho sự pháttriển của chữ viết Nhật Bản khác phong cách của Trung Quốc

Nh vậy, từ cuối thế kỷ IX, ngời Nhật Bản bắt đầu có văn tự riêng(Kana) của mình Theo truyền thống Nhật Bản, việc sáng tạo ra văn tự Kana

là do đại s Kukai, ngời sáng lập ra phái Chân Ngôn Tông ở Nhật Bản Ôngvốn là một học giả về tiếng Sanskrit (Phạn ngữ), có thể việc sáng tạo ra chữviết Kana bắt nguồn từ sự nghiên cứu tiếng Phạn của các nhà s khi họ chú ý

đến các chữ cái của ấn Độ Tuy rằng, chữ Kana không phải là một hệ thốngchữ cái (âm tố) mà là một hệ thống âm tiết Vì thế, từ khi ra đời, loại hìnhchữ viết này đợc sử dụng thay thế cho chữ Hán, nhng sau đó chữ Hán vàKana lại đợc sử dụng chung một hệ thống

Ngời Nhật đã phát minh ra 50 ký hiệu, có khả năng ghi lại mọi âmvần của tiếng Nhật, đồng thời dựa vào cách viết mô phỏng của chữ Hán,

đơn giản hóa đi để phiên âm tiếng Nhật Trong tác phẩm Manyoshu (VạnDiệp tập) ra đời vào thế kỷ VIII cũng đợc viết theo hệ thống văn tự Kana

Kana là loại hình văn tự mô phỏng chữ Hán, đầu tiên có nghĩa làloại chữ tạm Kana là tên chung của cả hai loại Katakana và Hiragana Cảhai loại này, đều đợc tạo nên trên cơ sở chữ Hán theo hai nguyên tắc khácnhau Katakana (Phiến Giả tự) là loại hình văn tự, đợc tạo nên bằng hìnhthức vay mợn một mảnh của chữ Hán nào đó để đọc cho âm quốc ngữ củaNhật Bản, mảnh âm đó có thể đợc ghép ở bất kỳ chỗ nào của ngữ âm tiếng

Trang 37

Nhật để cho dễ đọc Khi mới hình thành vào giai đoạn đầu thời kỳ Heian,chữ Katakana có nhiều cách viết không hoàn toàn giống nhau Sau đó dầndần đợc thống nhất, ai cũng có thể hiểu và đọc nh nhau Trong một thờigian khó dài, chữ Katakana thờng đợc viết nhỏ với đờng nét cứng cỏi, ở bêncạnh chữ Hán để ghi nhớ âm của chữ Hán đó.

Hiragana (Bình Giả tự) là loại chữ viết thảo hay viết đơn giản hóacủa chữ Hán Loại hình này đã loại bỏ những đờng nét cong phức tạp củachữ Hán, thay vào đó là những đờng nét mềm mại, mang tính mô phỏngtheo Hán tự, lúc đầu có tên gọi là Onnade tức là loại chữ của phụ nữ, dànhriêng cho phụ nữ, ngay cả trong văn bản trao đổi có tính cá nhân thì phụ nữlại dùng chữ Hiragana để viết th, làm thơ hay sáng tác văn học, Sự phátminh ấy đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền văn hóa Nhật Bản

Cùng với thời gian, những quy định về sử dụng các hệ chữ đã trảiqua bao sự biến đổi Lúc đầu, chữ Kana chỉ đợc coi là loại chữ viết củanhững ngời ít học, những ngời thuộc tầng lớp bình dân và phụ nữ, đối lậpvới chữ Hán cao sang của tầng lớp trên và đàn ông Vào giai đoạn đầu thời

kỳ Heian, chữ Katakana và Hiragana cha đợc phân biệt rạch ròi và mang tên

chung là chữ "thảo Kana" Đến giữa thời Heian, phạm vi sử dụng của

chúng mới đợc phân định rõ ràng Khi đó, số lợng chữ Hiragana đợc sửdụng nhiều hơn so với chữ Katakana Nguyên nhân là do xã hội quý tộc, coinhững văn bản chép các bài hát hay chuyện dân gian là đồ dùng trang trí

Đó là những sản phẩm có tính nghệ thuật nên trong bản viết cùng một từ ờng đợc viết theo nhiều cách khác nhau, lúc thì bằng chữ Hán, lúc thì bằnglối viết thảo Ngay trong dạng chữ viết thảo cũng có nhiều cách viết khônghoàn toàn giống nhau Đến cuối thời Heian, bắt đầu xuất hiện những vănbản dùng lẫn lộn cả hai loại văn tự, trong đó chữ Hán đợc viết cùng với chữHiragana Đến thời Kamakura cách viết này càng trở nên phổ biến, đặc biệttrong giới s sãi Các bài hát, các truyện dân gian, trớc kia đợc ghi bằng chữ

Trang 38

th-Hiragana thì nay đã đợc ghi lẫn cùng chữ Hán Sau đó một thời gian lại cónhững văn bản đợc viết bằng hai loại, chữ Hán và chữ Katakana là đặc trngcho cách viết của các học giả, các nhà tri thức thời đó để ghi dòng văn báchọc Dần dần, sự xuất hiện chữ Hán ở trong các văn bản Hán-Kana ngàycàng nhiều Đặc biệt ở thời kỳ Edo, các cuốn tiểu thuyết, ca kịch đều đợcviết bằng chữ Hán-Kana Nhng để giúp cho ngời đọc dễ hiểu ý nghĩa vàcách đọc, bên cạnh chữ Hán còn ghi ký hiệu âm đọc Kích thớc của từngloại chữ cũng thay đổi qua các thời kỳ khác nhau Trớc đây chữ Kana đợcviết nhỏ, còn chữ Hán đợc viết to Sau này dần dần chữ Kana cũng đợc viếtvới kích thớc ngang gần bằng chữ Hán.

Đến thời Edo, sự phân biệt chữ viết vẫn còn tồn tại với hai kiểu sửdụng văn tự tách biệt nhau Loại văn tự Hán-Kana chỉ đợc dùng trong cácvăn bản không chính thức, mang tính cá nhân Còn các tài liệu, công văn,pháp luật của Nhà nớc vẫn đợc viết hoàn toàn bằng chữ Hán, theo kiểuhành văn bên Trung Quốc

Thời Minh Trị, Nhà nớc mới thực sự đa ra những quy định thốngnhất về việc sử dụng văn tự nói chung, trong đó loại chữ Hán-Kana đợc mởrộng sử dụng trong phạm vi cả nớc do kết quả của phong trào vận độngthống nhất ngôn văn

Cũng nh các nớc sử dụng chữ Hán, vấn đề cải cách chữ viết đã đợc

đa ra thảo luận nhiều lần tại Nhật Bản Có không ít ý kiến phản đối việc sửdụng chữ Hán, muốn la tinh hóa hoàn toàn chữ viết hoặc chăng chỉ dùngchữ Kana Nhng ý kiến này không đợc đáp ứng Ngày nay vẫn đợc dùngpha trộn, có chữ dùng nguyên Hán và có chữ dùng Kana Thực tế số lợngchữ Hán đợc sử dụng trong báo chí, sách vở ấn phẩm lên tới khoảng trên d-

ới 5.000 chữ, nhng theo quyết định của bộ giáo dục Nhật Bản (tháng 10năm 1981) Một danh sách gồm 1.945 chữ Hán đợc công nhận là có tínhthông dụng phổ cập

Trang 39

Tóm lại: Việc tạo ra hệ văn tự ghi âm tiết phù hợp với đặc điểm ngữ

âm của tiếng Nhật, là một bớc tiến rất lớn trong lịch sử Nhật Bản, mở ramột thời kỳ ngời Nhật có thể ghi ngôn ngữ của mình bằng chữ viết củamình, khắc phục những bất tiện khi sử dụng chữ Hán Đồng thời trong giai

đoạn lịch sử nhất định, nó có tác dụng mở rộng phạm vi những ngời biếtchữ ở Nhật

2.2.3 Văn học

Nhìn một cách tổng quát, văn học Nhật Bản có một số đặc điểm nổibật Văn học viết ra đời khá sớm, đã khẳng định cá tính về thơ vào thế kỷVIII, về tiểu thuyết vào thế kỷ IX Cũng nh nhiều lĩnh vực khác, văn họcNhật Bản có sự vay mợn của nớc ngoài, ảnh hởng quyết định nhất là củaTrung Quốc Nhng sau khi tiếp thu, ngời Nhật đã sáng tạo ra thành nhữngsản phẩm riêng biệt, và mang dấu ấn bản sắc của dân tộc, kể cả văn xuôisau này cũng vậy "Các thể loại nh tiểu thuyết, tùy bút, nhật ký nở rộ sauthời Nara đã thật sự đi trớc cả Trung Quốc và thế giới" [35, tr 249]

Sau khi chữ viết đợc sử dụng phổ biến ở Nhật Bản, triều đình ra lệnhcho tập hợp các truyền thuyết, văn học dân gian biên soạn thành sách Đếnnăm 712 tác phẩm đầu tiên đợc ra đời mang tên là Kojiki Đó cũng là năm

có thể nói là mở đầu cho sự phát triển nền văn hóa Nhật Bản

Tác phẩm Kojiki (chữ Hán là Cổ sử ký) nghĩa là ghi chép chuyện

x-a Đây là một sự tổng hợp biên soạn lại các huyền thoại và truyện kể truyềnmiệng của dân gian, đợc viết bằng tiếng Nhật qua dạng chữ Hán Tác phẩmnày trộn lẫn những huyền thoại về quá trình xây dựng đất nớc và nguồn gốccủa dân tộc, cùng với những biến cố lịch sử đã xảy ra ở Nhật Bản xoayquanh các quốc gia cho đến thế kỷ VII Truyện đợc chắp vá nhiều truyềnthuyết, huyền thoại, và nhiều biến cố lịch sử đã xảy ra ở các miền, các địaphơng Vì thế mà nó không chỉ là một bộ quốc sử riêng biệt mà còn là mộttác phẩm văn chơng Chủ biên là Yasumaro, một trong những học giả u tú

Trang 40

nhất đơng thời Trong tác phẩm của mình, Yasumaro đã cố gắng dò theodấu vết thần linh trong tâm tởng của dân tộc và dấu vết của các Thiên hoàng

đầu tiên Tác phẩm này không chỉ chứa đựng những sự kiện đơn thuần màcòn chứa đựng những sự thật tâm lý đầy kịch tính nhân bản, về suy nghĩ vàphản ứng của con ngời trớc nghịch cảnh, đôi khi trào lộng và bi đát

Trớc hết nó mô tả tình trạng hỗn độn của tất cả các yếu tố tạo thànhthế giới hay nh ngời ta thờng gọi là tình trạng "hỗn mang buổi đầu" Ngoài

ra, trong tác phẩm Kojiki còn nói về huyền thoại của nữ thần Amateraxulánh vào thiên nham động của mình, không chịu soi sáng thế giới nữa, làmcho toàn bộ trời và đất bị dìm và bóng tối, tai họa đủ loại xuất hiện, thế màmột hôm nàng bỗng nghe tiếng cời đùa ầm ĩ của tám trăm vạn thần linh

đang tụ tập trớc động của mình Tức giận, nàng lên tiếng "ta tởng vắng tathì tăm tối âm u sầu, thế mà các ngời lại thản nhiên cời cợt đợc ?" Thật racác thần đang thực hiện một phơng kế để lừa nữ thần Amateraxu ra khỏihang động, và cuối cùng nữ thần đã bị mắc bẫy

Nh vậy, tác phẩm Kojiki là một bức tranh sống động về xã hội vàtâm hồn của ngời Nhật Bản thời cổ xa Tiếng cời và giọt lệ, mồ hôi và máu,bớc chân và hơi thở của một thời dựng nớc và cũng là những giấc mơ củadân tộc Kojiki là chìa khóa không chỉ để hiểu thần thoại, tôn giáo, lịch sửvăn hóa Nhật Bản mà để hiểu chính dân tộc và con ngời Nhật Bản Qua đóchúng ta có thể biết về thế kỷ của các thần linh, về thời đại Temmu, và quátrình dựng nớc của ngời Nhật

Sau tác phẩm Kojiki, văn học Nhật Bản đã có sự hng khởi, nhiều tácphẩm thơ ca, văn học dân gian, văn xuôi lần lợt ra đời

Tuyển tập thơ ca đầu tiên của Nhật Bản - Manyoshu (Vạn Diệp tập),

có khoảng 4.500 bài thơ Nhật từ thế kỷ IV đến thế kỷ VIII Sách đợc hoànthành vào năm 767, mang đậm dấu ấn của văn hóa Trung Quốc Manyoshuhầu nh quy tụ vào trong nó mọi tâm hồn trên bờ cõi Phù Tang, từ Thiên

Ngày đăng: 04/05/2014, 13:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Almanach - Nh÷ng nÒn v¨n minh thÕ giíi (1999), Nxb V¨n hãa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Almanach - Nh÷ng nÒn v¨n minh thÕ giíi
Tác giả: Almanach - Nh÷ng nÒn v¨n minh thÕ giíi
Nhà XB: Nxb V¨n hãa - Thông tin
Năm: 1999
2. Đặng Đức An, Phạm Hồng Việt (1980), Lịch sử thế giới Trung đại, Q1. Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới Trung đại
Tác giả: Đặng Đức An, Phạm Hồng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1980
3. Đặng Đức An (chủ biên) (1998), Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, tập 1. Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mẩu chuyện lịch sử thế giới
Tác giả: Đặng Đức An (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1998
4. Nguyễn Thị Thúy Anh (1999), "Tìm hiểu Đạo Phật ở Nhật Bản", Nghiên cứu Nhật Bản, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Đạo Phật ở Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Anh
Năm: 1999
5. Richard Bowring và Peter (1995), Bách khoa toàn th Nhật Bản. Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa toàn th Nhật Bản
Tác giả: Richard Bowring và Peter
Năm: 1995
6. Trần Tất Chủng (1995), "Tết Trung Thu ở Nhật Bản". Nghiên cứu Nhật Bản, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tết Trung Thu ở Nhật Bản
Tác giả: Trần Tất Chủng
Năm: 1995
7. Lê Phụng Hoàng (chủ biên) (1999), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới
Tác giả: Lê Phụng Hoàng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1999
8. Hồ Hoàng Hoa - Kamishibai (1997), "Nghệ thuật truyền thống của Nhật Bản", Nghiên cứu Nhật Bản, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật truyền thống của Nhật Bản
Tác giả: Hồ Hoàng Hoa - Kamishibai
Năm: 1997
9. Nguyễn Tuấn Khanh (1995), "Mashubasho - Nhà thơ lớn của thể thơ Haiku". Nghiên cứu Nhật Bản, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mashubasho - Nhà thơ lớn của thể thơ Haiku
Tác giả: Nguyễn Tuấn Khanh
Năm: 1995
10. Nguyễn Tuấn Khanh (1998), "Đạo đức học Khổng giáo t tởng phơng Tây". Nghiên cứu Nhật Bản, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức học Khổng giáo t tởng phơng Tây
Tác giả: Nguyễn Tuấn Khanh
Năm: 1998
11. Trần Văn Kinh (1998), "Tìm hiểu đặc điểm của văn hóa Nhật Bản", Nghiên cứu Nhật Bản, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đặc điểm của văn hóa Nhật Bản
Tác giả: Trần Văn Kinh
Năm: 1998
12. Nguyễn Văn Kim (1998), "Văn hóa và phong tục truyền thống của Nhật Bản", Nghiên cứu lịch sử, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và phong tục truyền thống của Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Năm: 1998
13. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (1997), Lịch sử Nhật Bản. Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1997
14. Bùi Thị Liên (1998), "Mùa hoa Anh Đào của Nhật Bản", Nghiên cứu Nhật Bản, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa hoa Anh Đào của Nhật Bản
Tác giả: Bùi Thị Liên
Năm: 1998
15. Hoàng Minh Lợi (1995), "Trà đạo Nhật Bản", Nghiên cứu Nhật Bản, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trà đạo Nhật Bản
Tác giả: Hoàng Minh Lợi
Năm: 1995
16. Hoàng Minh Lợi (1997), "Nghi lễ Thần đạo ở Nhật Bản", Nghiên cứu Nhật Bản, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ Thần đạo ở Nhật Bản
Tác giả: Hoàng Minh Lợi
Năm: 1997
17. Đỗ Văn Minh (1965), Cá tính và tâm linh ngời Nhật, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá tính và tâm linh ngời Nhật
Tác giả: Đỗ Văn Minh
Năm: 1965
18. Hữu Ngọc (1989), Hoa Anh Đào và điện tử. Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa Anh Đào và điện tử
Tác giả: Hữu Ngọc
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1989
19. Nguyễn Ngọc Nghiệp (1997), "Phật giáo thời Heian". Nghiên cứu Nhật Bản, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo thời Heian
Tác giả: Nguyễn Ngọc Nghiệp
Năm: 1997
20. Nhật Bản Ngày Nay (1993), Hiệp hội Quốc tế về Thông tin giáo dục xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản Ngày Nay
Tác giả: Nhật Bản Ngày Nay
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w