Quan niệm cảnh quan theo kiểu loại: Cho rằng cảnh quan là một đơn vị phân loại trong hệ thống phân chia các thể tổng hợp địa lí tự nhiên lãnh thổ.. Dokuchaev cho rằng đất tác động làm t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Bùi Thị Thanh Dung
PHÂN TÍCH CẤU TRÚC ĐA BẬC CẢNH QUAN
TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC TRÁI ĐẤT
HÀ NỘI - 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Bùi Thị Thanh Dung
PHÂN TÍCH CẤU TRÚC ĐA BẬC CẢNH QUAN
TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành: Địa lý Tự nhiên
Mã số: 9440217
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC TRÁI ĐẤT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Lại Vĩnh Cẩm
HÀ NỘI - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lại Vĩnh Cẩm Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2022
Nghiên cứu sinh
Bùi Thị Thanh Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn khoa học tận tình của PGS.TS Lại Vĩnh Cẩm trong suốt thời gian nghiên cứu và viết công trình Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ lớn lao của thầy
Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của lãnh đạo và các chuyên gia trong Viện Địa lý, sự giúp đỡ của lãnh đạo và các cán bộ trong Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam, sự giúp đỡ của lãnh đạo trường Đại học Sư phạm Hà Nội
và khoa Địa lý trực thuộc trường, các Sở ban ngành tỉnh Lạng Sơn Tôi xin được cảm
ơn sự giúp đỡ rất quý báu đó
Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo, góp ý sâu sắc của chuyên gia về Địa
lý - Môi trường và Cảnh quan PGS.TS Nguyễn Ngọc Khánh trong thời gian hoàn thiện luận án Tôi xin được tri ân tình cảm vô cùng quý giá ấy
Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới GS.TSKH Phạm Hoàng Hải, PGS.TS Nguyễn Đăng Hội, TS Nguyễn Quyết Chiến, TS Đặng Vũ Khắc, TS Lê Thị Thu Hiền, TS Vương Hồng Nhật, TS Nguyễn Văn Hồng, kỹ sư Bùi Vinh Thuận… cùng các chuyên gia trong lĩnh vực Sinh thái cảnh quan, Địa lý tự nhiên, Sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Viễn thám và GIS đã động viên và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thiện luận án
Tôi cũng xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới cán bộ phòng Sinh thái Cảnh quan của Viện Địa lý, đồng nghiệp khoa Địa lý của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cùng bạn bè đã luôn động viên và giúp đỡ trong thời gian thực hiện luận án
Tôi xin được gửi lòng tri ân và kính trọng đến đại gia đình, đặc biệt là chồng tôi đã luôn ủng hộ động viên, chia sẻ và giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án
Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2022
Nghiên cứu sinh
Bùi Thị Thanh Dung
Trang 5CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC PHÂN TÍCH CẤU TRÚC ĐA BẬC
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu cảnh quan 8 1.2 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu chung 20 1.3 Các vấn đề chính trong phân tích cấu trúc đa bậc của cảnh quan 22
1.3.2 Quy mô và tỷ lệ trong nghiên cứu cảnh quan 30
1.3.5 Các cách tiếp cận trong nghiên cứu cảnh quan đa bậc 38 1.4 Quy trình thành lập bản đồ cấu trúc đa bậc cảnh quan 41
1.5.1 Đánh giá theo các đặc điểm của đơn vị cảnh quan 44
Trang 61.6 Các bước nghiên cứu 51
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÂN TỐ HÌNH THÀNH TÍNH ĐA
2.1 Vị trí địa lý và vai trò trong phân bậc cảnh quan 54 2.2 Tính phân bậc trong các yếu tố nền vật chất vô cơ 54 2.3 Tính phân bậc trong các yếu tố nền nhiệt - ẩm 66
2.6 Đặc điểm xã hội - nhân văn tỉnh Lạng Sơn 90
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ PHÂN HÓA ĐA BẬC CẢNH QUAN LÃNH
3.1 Nghiên cứu và thành lập bản đồ cảnh quan lãnh thổ Lạng Sơn
theo hướng của Tây Âu hiện nay được sử dụng trong luận án 97 3.2 Quy trình phương pháp thành lập bản đồ cảnh quan đa bậc tỉnh
3.3 Kết quả phân hóa cảnh quan đa bậc tỉnh Lạng Sơn 99 3.4 Tính toán các chỉ số phân tích cảnh quan tỉnh Lạng Sơn 112 3.5 Định hướng sử dụng hợp lý các đơn vị cảnh quan tỉnh Lạng Sơn 118
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1 Các chỉ số độ đo sử dụng để phân tích cảnh quan tỉnh Lạng Sơn 48 Bảng 2.1 Tóm tắt các bậc cấu trúc và niên đại địa chất tỉnh Lạng Sơn 58 Bảng 2.2 Thống kê diện tích phân bố các cấp độ cao trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 66 Bảng 2.3 Đặc trưng phân bậc nền nhiệt theo các thời kỳ 1961-2020 và 2011-
Bảng 2.9 Dân số trung bình tỉnh Lạng Sơn phân theo huyện/thành phố 90 Bảng 2.10 Dân số và mật độ dân số Lạng Sơn năm 2020 91
Bảng 2.12 Phân bố của đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 93 Bảng 3.1 Diện tích các đơn vị cảnh quan tỉnh Lạng Sơn (ha) 100 Bảng 3.2 Mô tả đặc điểm 40 đơn vị cảnh quan lãnh thổ Lạng Sơn 100 Bảng 3.3 Kết quả tính toán các chỉ số độ đo cảnh quan tỉnh Lạng Sơn 112
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang
Hình 1.2 Phân loại cảnh quan dạng kim tự tháp, xác định đặc tính của các loại
cảnh quan và khu vực theo quy mô không gian và cấp độ khác nhau 29 Hình 1.3 Các thành phần của quy mô nghiên cứu (theo K McGarigal, 2002) 31 Hình 1.4: Mối quan hệ giữa quy mô khảo sát và độ phân giải của dữ liệu (theo K
Hình 1.5 Quan hệ giữa mức độ khái quát và tỷ lệ bản đồ 32
Hình 1.7 Sơ đồ phân cấp không gian các đơn vị CQ theo phương pháp tổng thể 39 Hình 1.8 Quy trình chồng xếp các dữ liệu hợp phần theo phương pháp tham số 40 Hình 1.9 Năm bước trong mô hình phương pháp được sử dụng cho việc thành lập
Hình 2.3 Bản đồ mô hình số độ cao DEM tỉnh Lạng Sơn 67
Hình 2.5 Biến trình mưa năm thời kỳ 1961-2020 và 2011-2020 72
Trang 10Hình 3.7 Chỉ số TCA các đơn vị cảnh quan Lạng Sơn 117 Hình 3.8 Bản đồ định hướng sử dụng hợp lý các đơn vị cảnh quan tỉnh Lạng Sơn 120
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển như vũ bão của kinh tế toàn cầu cùng những tiến bộ xã hội và thành tựu vượt bậc về công nghệ, kỹ thuật đang làm phong phú, đa dạng thêm mối quan hệ nhiều chiều của hệ thống "tự nhiên - xã hội" Do đó việc nghiên cứu cảnh quan cũng đòi hỏi có cách tiếp cận mới đa chiều hơn
Trong lịch sử, trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về cảnh quan và có nhiều hướng nghiên cứu cảnh quan khác nhau, trong đó nổi bật nhất là hai trường phái của các nhà nghiên cứu theo quan điểm nghiên cứu của Nga và Đông Âu, và các nhà nghiên cứu ở Tây Âu và Bắc Mỹ Ở Việt Nam, trong quá trình xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan hàng chục năm qua, có một số hệ thống phân loại đã được nhiều nhà địa lý Việt Nam tiếp nhận một cách hệ thống và áp dụng rộng rãi Thêm vào đó,
sự phát triển của các công ước quốc tế đa dạng về cảnh quan đã dẫn đến nhu cầu ngày càng tăng về phân loại cảnh quan ở tất cả các quốc gia Trong những năm gần đây, Công ước cảnh quan châu Âu khuyến khích các nước xác định và mô tả các cảnh quan bao phủ toàn bộ lãnh thổ của họ Chiến lược cảnh quan châu Âu của Liên minh châu Âu với một sáng kiến về mô hình toàn diện nhất ở quy mô châu Âu
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi thuộc khu vực Đông Bắc của nước ta, nơi chủ yếu là địa hình đồi núi, đặc biệt là địa hình karst phát triển, khí hậu nhiệt đới gió mùa
ẩm vùng núi đặc trưng, lớp phủ thổ nhưỡng và sinh vật phong phú đa dạng Thêm vào đó đây cũng là địa bàn sinh sống của người dân tộc thiểu số chiếm hơn 80% số dân, sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế - xã hội với những đặc thù của văn hóa bản địa, tín ngưỡng, phong tục nơi vùng đất biên ải đã tác động sâu sắc đến bộ mặt cảnh quan của tỉnh Do đó luận án tập trung nghiên cứu bản chất và phân hóa đa bậc của các loại hình cảnh quan tỉnh Lạng Sơn với điểm nhấn là cảnh quan vùng núi đặc sắc có ý nghĩa sâu sắc cả về mặt lí luận và thực tiễn
Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào trước đây về cảnh quan và sự phân hóa cảnh quan của toàn bộ lãnh thổ tỉnh Lạng Sơn theo hướng nghiên cứu cảnh quan của Tây Âu Với những lí do trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn hướng nghiên cứu đề tài “Phân tích cấu trúc đa bậc cảnh quan tỉnh Lạng Sơn” cho luận án Tiến sĩ của mình với cách tiếp cận mới theo Công ước cảnh quan châu Âu nhằm đưa
ra bức tranh phân loại cảnh quan đặc trưng của khu vực miền núi Lạng Sơn, bản đồ đặc tính cảnh quan có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau Với hi vọng
Trang 12sẽ đóng góp phần nhỏ vào sự phát triển hướng nghiên cứu cảnh quan nói chung và sự phát triển bền vững của tỉnh
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Vận dụng được quan điểm phân loại cảnh quan kết hợp với quan điểm mô tả cảnh quan, giữa phương pháp nghiên cứu tổng thể và phương pháp tham số bằng cách tiếp cận từ dưới lên trong nghiên cứu cấu trúc đa bậc cảnh quan
- Đánh giá được sự phân hóa và các chỉ số hình thái của các đơn vị cảnh quan làm cơ sở đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý lãnh thổ tỉnh Lạng Sơn
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ khả năng kết hợp giữa các quan điểm, phương pháp, cách tiếp cận trong nghiên cứu cấu trúc đa bậc cảnh quan;
- Phân tích sự phân hóa đa bậc của các yếu tố hình thành cảnh quan tỉnh Lạng Sơn;
- Thành lập bản đồ kết quả phân hóa đa bậc của cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu;
- Áp dụng phương pháp đánh giá trắc lượng hình thái cảnh quan thông qua phần mềm Fragstats 4.2 để đề xuất sử dụng hợp lý lãnh thổ
3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: được giới hạn trong lãnh thổ của tỉnh Lạng Sơn
- Phạm vi thời gian: các chuỗi số liệu trong nghiên cứu từ năm 2010 đến 2020
- Phạm vi khoa học:
+ Phân tích cấu trúc đa bậc của các yếu tố thành tạo cảnh quan
+ Thành lập bản đồ phân hóa cảnh quan
+ Đánh giá cảnh quan thông qua các chỉ số trắc lượng hình thái của các đơn vị cảnh quan nhằm đề xuât sử dụng hợp lý lãnh thổ tỉnh Lạng Sơn
4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Góp phần phát triển cơ sở lý luận tiếp cận địa lý học và làm phong phú hơn phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu cảnh quan theo hướng tiếp cận mới của Tây Âu ở quy mô cấp tỉnh
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu đạt được có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, giúp các nhà nghiên cứu, nhà quản lí, nhà quy hoạch, v.v, có
Trang 13thêm cơ sở khoa học tin cậy trong hoạch định chính sách phát triển lĩnh vực liên quan tại lãnh thổ tỉnh Lạng Sơn
5 Những điểm mới của luận án
1) Phân tích được tính đa bậc của các nhân tố thành tạo cảnh quan và thành lập bản đồ cảnh quan tỷ lệ 1:100.000 tỉnh Lạng Sơn gồm 40 đơn vị cảnh quan
2) Đánh giá cảnh quan thông qua 8 chỉ số trắc lượng hình thái của 40 đơn vị cảnh quan nhằm cung cấp cơ sở khoa học đề xuất định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ
6 Những luận điểm bảo vệ
- Luận điểm 1: Tính phân bậc của các yếu tố thành tạo cảnh quan với yếu tố trội
là địa hình karst có mùa đông lạnh kéo dài tại khu vực nghiên cứu đã hình thành 40 đơn vị CQ chính trên cơ sở tổng hợp từ 8719 đơn vị CQ bậc 1
- Luận điểm 2: Đánh giá cảnh quan thông qua các chỉ số trắc lượng hình thái của các đơn vị cảnh quan có thể cung cấp cơ sở khoa học đề xuất định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ
7 Cơ sở tài liệu
- Kết quả nghiên cứu thực địa theo tuyến: phân tích đặc điểm và sự phân hoá các yếu tố thành tạo cảnh quan, thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn
- Cơ sở bản đồ chuyên đề gồm:
+ Bản đồ địa chất tỉnh Lạng Sơn tỷ lệ 1:100.000 của Liên đoàn Địa chất Đông Bắc
+ Bản đồ mô hình số độ cao (DEM) tỉnh Lạng Sơn tỷ lệ 1:100.000
+ Bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Lạng Sơn tỷ lệ 1:100.000 của Viện Quy hoạch Thổ nhưỡng
+ Bản đồ hiện trạng rừng tỉnh Lạng Sơn tỷ lệ 1:100.000 của Viện Điều tra quy hoạch rừng thành lập
- Các đề tài nghiên cứu khoa học của NCS có liên quan đến luận án:
Bùi Thị Thanh Dung (chủ nhiệm đề tài), Xây dựng cơ sở dữ liệu kênh hình về Cảnh quan tự nhiên Việt Nam phục vụ việc dạy và học môn Địa lý tự nhiên Việt Nam,
mã số SPHN-12-159, Đề tài Khoa học và Công nghệ cấp Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, 2013
Trang 14- Các đề tài, dự án, báo cáo khoa học về điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội, tài nguyên và môi trường tỉnh Lạng Sơn qua các năm
8 Cấu trúc luận án
Luận án được trình bày trong 132 trang A4, trong đó có 20 bảng số liệu, 17 hình vẽ và đồ thị, 08 bản đồ, 36 tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt và 45 tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học phân tích cấu trúc đa bậc cảnh quan
Chương 2: Đặc điểm các nhân tố hình thành tính đa bậc cảnh quan trên lãnh thổ tỉnh Lạng Sơn
Chương 3: Kết quả phân hóa đa bậc cảnh quan lãnh thổ tỉnh Lạng Sơn
Trang 15Những năm gần đây, hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan ở các nước Tây
Âu có nhiều bước tiến mới và phù hợp với sự thay đổi của bối cảnh thế giới hiện nay
Để thực hiện các nội dung của Công ước cảnh quan Châu Âu, các nhà nghiên cứu tại đây đã xây dựng một hệ thống phân loại cảnh quan, phương pháp nghiên cứu tương đối nhất quán cho các nước thành viên (Van Eetvelde và cộng sự, 2006) Hệ thống phân loại và phương pháp nghiên cứu này được xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa quan điểm phân loại cảnh quan với mô tả cảnh quan, kết hợp giữa phương pháp tổng thể và phương pháp tham số với cách tiếp cận từ dưới lên
Trong chương này NCS trình bày, đánh giá các quan điểm nghiên cứu cảnh quan, cấu trúc đa bậc của cảnh quan, các cách tiếp cận, phân loại cảnh quan và quy trình xây dựng bản đồ cảnh quan theo cấu trúc đa bậc
1.1 Tổng quan về nghiên cứu cảnh quan
1.1.1 Một số quan niệm về cảnh quan
1.1.1.1 Quan niệm cảnh quan theo kiểu loại:
Cho rằng cảnh quan là một đơn vị phân loại trong hệ thống phân chia các thể tổng hợp địa lí tự nhiên lãnh thổ Mỗi cấp phân chia phải dựa trên các chỉ tiêu đặc trưng và có cấu trúc hình thái riêng từ trên xuống hoặc từ dưới lên Quan niệm này được đề xướng bởi một số nhà khoa học của Nga như: L.X Berg, S.V Kalexnik, A.A Xôntxep A.A Grigoriev, N.I Mikhailov, A.G Ixatsenko… cũng như G.Bertrand, Th.Brossard, I.C Wieber của Pháp, Phạm Hoàng Hải, của Việt Nam [1,2]
1.1.1.2 Quan niệm xem cảnh quan là các cá thể:
Coi cảnh quan là một phân khu trên bề mặt Trái đất, có giới hạn lãnh thổ, có không gian cụ thể và không lặp lại trong lãnh thổ Những người theo quan điểm này coi cảnh quan là một trong những đơn vị cấp thấp nhất trong hệ thống phân vùng tổng
Trang 16hợp Những đơn vị đó là đối tượng cơ bản của việc nghiên cứu địa lý cảnh quan Thực hiện nghiên cứu cảnh quan theo quan điểm này thường theo hướng tiếp cận từ dưới lên Điển hình cho quan điểm này có A.G.Ixatsenko, B.B.Polưnov, Vũ Tự Lập và một
số người khác [1,3]
1.1.1.3 Quan niệm xem xét cảnh quan như là một danh từ chung:
Để chỉ các tổng thể lãnh thổ tự nhiên của bất kỳ quy mô nào có sự đồng nhất tương đối về một số hợp phần tự nhiên nào đó và phân loại chúng theo sự đồng nhất
ấy “Cảnh quan là tổng thể gồm những vật thể và những hiện tượng tự nhiên phụ thuộc lẫn nhau, liên quan với nhau và thể hiện dưới dạng quá trình phát triển không ngừng” S.S Neustruev là người đầu tiên hiểu khái niệm cảnh quan theo nghĩa này Ủng hộ quan điểm này có các tác giả F.N.Minkov, D.L.Armand, V.A.Nikolaev, Y.K Prokaev, E.N.Lukasov…[4,5,6]
1.1.1.4 Quan niệm cảnh quan theo Công ước cảnh quan châu Âu (ELC, 2000) và Hiệp ước cảnh quan Mỹ La tinh (LALI, 2012):
a) Công ước cảnh quan châu Âu (ELC, 2000):
Cho rằng cảnh quan vừa là đơn vị phân loại vừa là danh từ chung trên bề mặt Trái đất
Công ước cảnh quan châu Âu trao cho các bên (các quốc gia đã tự phê chuẩn quy ước) xác định cảnh quan của lãnh thổ mình, để phân tích đặc điểm, xác định các tiềm năng và áp lực có thể tác động của chúng và thực hiện các chiến lược quản lý, lập kế hoạch và bảo vệ cảnh quan Với phạm vi quốc gia, có thể cung cấp một khuôn khổ cho nghiên cứu cảnh quan, giám sát, quản lý và lập kế hoạch Công ước cảnh quan châu Âu thể hiện tư duy cách mạng liên quan sự phát triển của khoa học cảnh quan, đặc biệt chú trọng đến ý nghĩa của thuật ngữ "cảnh quan văn hóa” Theo Công ước cảnh quan châu Âu: [7,8]
- "Cảnh quan" có nghĩa là một khu vực, theo cảm nhận của mọi người, có đặc tính là kết quả của hành động và tương tác của các yếu tố tự nhiên và con người;
- "Chính sách cảnh quan" có nghĩa là một biểu hiện của các cơ quan công quyền có thẩm quyền nói chung nguyên tắc, chiến lược và hướng dẫn cho phép thực hiện các biện pháp cụ thể nhằm việc bảo vệ, quản lý và quy hoạch cảnh quan;
- "Mục tiêu chất lượng cảnh quan" có nghĩa là đối với một cảnh quan cụ thể, công thức của cơ quan công quyền có thẩm quyền về nguyện vọng của công chúng liên quan đến cảnh quan các đặc điểm của môi trường xung quanh họ;
Trang 17- "Bảo vệ cảnh quan" có nghĩa là các hành động để bảo tồn và duy trì ý nghĩa hoặc các đặc điểm đặc trưng của một cảnh quan, được chứng minh bằng giá trị di sản của nó bắt nguồn từ tự nhiên và / hoặc từ hoạt động của con người;
- "Quản lý cảnh quan" có nghĩa là hành động, từ góc độ phát triển bền vững,
để đảm bảo bảo trì thường xuyên của một cảnh quan, để hướng dẫn và hài hòa các thay đổi được đưa ra bởi các quá trình xã hội, kinh tế và môi trường;
- "Quy hoạch cảnh quan" có nghĩa là hành động hướng tới tương lai mạnh mẽ
để tăng cường, khôi phục hoặc tạo cảnh quan
Công ước công nhận rằng tất cả các lãnh thổ là một phần của cảnh quan chung bao gồm đô thị, ven đô, nông thôn và đất tự nhiên cũng như các vùng nước và biển Công ước cung cấp một cái nhìn toàn diện về cảnh quan theo tư duy đương đại về tính bền vững, sự hiểu biết về mối liên quan của con người đến các quá trình sinh thái
- hay mối liên quan giữa văn hóa và thiên nhiên - và như vậy nó có ý nghĩa toàn cầu chứ không chỉ riêng biệt cho các quốc gia châu Âu Công ước Cảnh quan Châu Âu
đã đặt ra nhiệm vụ cần có sự hiểu biết toàn diện hơn về cảnh quan Công ước cho thấy những mối quan tâm, suy nghĩ về cảnh quan đã bắt đầu được phản ánh trong công việc của các chính phủ, cơ quan môi trường và một loạt các bên quan tâm trong lĩnh vực cảnh quan ở châu Âu Cảnh quan không nhất thiết phải được phân loại là "tự nhiên" hoặc "văn hóa" bởi vì tất cả các cảnh quan ở châu Âu ở một mức độ nào đó hoặc bị ảnh hưởng bởi con người Do đó, thuật ngữ "cảnh quan văn hóa" có thể được coi là dư thừa, vì tất cả các cảnh quan của châu Âu cũng có thể được mô tả là "văn hóa" ở một mức độ nào đó, tuy nhiên vấn đề ghi nhận để phân loại hay loại bỏ cảnh quan văn hóa thực sự phức tạp cần nghiên cứu nhiều hơn nữa [9,10,11]
b) Hiệp ước cảnh quan Mỹ La tinh (LALI, 2012):
Hiệp ước cảnh quan Mỹ Latinh (LALI) là một tuyên bố về các nguyên tắc đạo đức cơ bản để thúc đẩy việc công nhận, định giá, bảo vệ, quản lý và quy hoạch bền vững các cảnh quan của Mỹ La tinh bằng cách thông qua các thỏa thuận (luật - hiệp định - nghị định - quy định) nhận ra sự đa dạng và giá trị của địa phương, khu vực và quốc gia, hữu hình đến mức vô hình, về cảnh quan, cũng như các nguyên tắc và quy trình để bảo vệ nó
Các nguyên tắc sau đây chi phối Hiệp ước: cảnh quan là một thành phần cơ bản của tự nhiên và văn hóa, góp phần mang lại hạnh phúc cho con người, hình thành văn hóa địa phương và củng cố bản sắc dân tộc; Cảnh quan là một tác nhân cơ bản trong việc bảo tồn lối sống và trong ý thức hệ; Cảnh quan đóng một vai trò quan trọng
Trang 18trong lợi ích chung tạo thành nguồn lực thuận lợi cho việc tạo ra việc làm và tạo ra các công nghệ mới; Cảnh quan, trong tầm nhìn không thể tách rời, tham gia vào sứ mệnh chung là đạt được sự bền vững và thực chất bị ràng buộc với sự thay đổi khí hậu; Cảnh quan không nhận ra biên giới và là một nhà tích hợp phức tạp giữa các quốc gia có chung biên giới; Tầm nhìn cảnh quan đóng góp vào việc bảo vệ khả năng tồn tại của môi trường tự nhiên, các giải pháp dựa trên thiên nhiên, nhằm phát triển
và duy trì môi trường xây dựng nhân đạo ở các thành phố, thị trấn và làng mạc
Hiệp ước cảnh quan Mỹ Latinh (LALI) là một tuyên bố về các nguyên tắc đạo đức cơ bản để thúc đẩy công nhận, đánh giá, bảo vệ, quản lý và lập kế hoạch bền vững của cảnh quan Mỹ La tinh, việc thông qua các thỏa thuận nhận ra sự đa dạng và các giá trị địa phương, quốc gia và khu vực, cả hữu hình và vô hình của cảnh quan, cũng như các nguyên tắc và quy trình liên quan để bảo vệ nó Hiệp ước đề xuất, theo một cách cụ thể, để thống nhất các chính sách đa quốc gia về bảo tồn, bảo vệ, quản
lý và phục hồi các đơn vị cảnh quan nằm trong khu vực xuyên biên giới Mục tiêu chính của Hiệp ước là thúc đẩy công nhận, đánh giá, bảo vệ, quy hoạch và quản lý bền vững cảnh quan, dẫn đến tuyên bố và công nhận sự đa dạng và giá trị của cảnh quan đa dạng của các nước tham gia [12]
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu cảnh quan
1.1.2.1 Theo hướng phân loại cảnh quan
Hướng nghiên cứu này coi cảnh quan là một thực thể tồn tại khách quan trong
tự nhiên, có mối liên kết chặt chẽ và có các chỉ tiêu phân định rõ ràng giữa các bậc phân vị trong một hệ thống phân loại riêng biệt tùy theo vùng lãnh thổ Các công trình nghiên cứu của các nhà địa lý Liên Xô trước đây và Nga hiện nay là những kết quả nổi bật theo hướng nghiên cứu này [1]
Dokuchaev được coi là nhà nghiên cứu lớn về cảnh quan đầu tiên của Nga Là nhà thổ nhưỡng học, ông cho rằng các loại đất nên được xem như một vật thể tự nhiên độc lập, phát triển theo các quá trình đã biết và do đó đất hoàn toàn khác và được phân biệt với các vỏ phong hóa bở rời trên bề mặt Trái đất Ông nghiên cứu mối liên
hệ chặt chẽ giữa tính chất địa lý của thổ nhưỡng, địa lý học thực vật và địa lý học động vật, do đó nhận ra “sự tổng hợp lớn của khoa học tự nhiên mà gần đây được tìm thấy muộn màng trong thuyết của cảnh quan địa lý” Năm đặc trưng của các công trình của ông có những hệ quả rất lớn đối với sự phát triển về sau này của khoa học cảnh quan ở Nga Đầu tiên, Dokuchaev nhấn mạnh đất là một hợp phần cốt yếu kết nối vật chất vô cơ và hữu cơ theo cách mà không một hợp phần nào có thể làm được;
Trang 19Thứ hai, phản ánh sự ảnh hưởng trong khoa học cuối thế kỷ XIX đến khoa học của Darwin và thuyết tiến hóa Dokuchaev cho rằng đất tác động làm thay đổi các hợp phần của nó theo những cách thức liên kết với nhau và sẽ luôn tiếp diễn như thế trong tương lai; Thứ ba, cách tiếp cận của ông nhấn mạnh tầm quan trọng của các cuộc điều tra thực địa, thường đòi hỏi phải có những quan sát và thu thập các loại dữ liệu đa dạng trong thời gian dài; Thứ tư, nghiên cứu của Dokuchaev gần như luôn luôn có một đặc tính được áp dụng rõ ràng, tập trung vào các giải pháp cho các vấn đề môi trường then chốt; Cuối cùng, sơ đồ phân loại đất theo nguồn gốc của ông có dạng không gian hoặc theo dạng đới, theo đó người ta nhận ra rằng, các loại đất chính và các hợp phần tự nhiên quan trọng khác kèm theo có khuynh hướng thay đổi theo các quá trình khí hậu trong quá khứ và hiện tại, điều này có nghĩa là các đai thổ nhưỡng chính sẽ nối tiếp nhau dọc theo đường kinh tuyến trên khắp lục địa Âu - Á Mặc dù đặc tính đới của thổ nhưỡng đã được Dokuchaev ghi nhận trong các nghiên cứu ban đầu của ông về các loại đất đen, nhưng chỉ đến cuối đời ông mới bắt đầu nói về “các đới tự nhiên” toàn cầu theo nghĩa rộng nhất, Dokuchaev cho rằng nhiều khía cạnh của xã hội loài người cũng có thể tương quan với các vùng Cái nhìn sâu sắc này về sau được tiếp nối bởi các học trò của ông Một trong những người kế tiếp công việc của Dokuchaev nổi tiếng nhất là K.D.Glinka (1867-1927) Glinka thành lập cơ sở chính thức của khoa học thổ nhưỡng là Ủy ban Thổ nhưỡng Dokuchaev vào năm
1917 và Viện Thổ nhưỡng năm 1927 Công trình chính của ông năm 1908 về đất theo đới đã được dịch sang tiếng Đức năm 1914 và dịch sang tiếng Anh được công bố ở Hoa Kỳ năm 1927 bởi C.F.Marbut Bằng cách này tác phẩm của Dokuchaev và trường phái của ông lần đầu tiên được đưa vào nhận thức của thế giới nói tiếng Anh V.I.Vernadskii (1863-1945) đã nổi tiếng thế giới với công trình về khoáng vật học và tinh thể học và đặc biệt là công trình nền tảng về địa hóa học và sinh địa hóa học Sự phát triển các quan niệm của ông về sinh quyển và trí quyển đã có một tác động lớn đến nhiều ngành khoa học môi trường ở Nga Những người khác có đóng góp quan trọng cho khoa học cảnh quan gồm G.N.Vysotskii, G.F.Morozov và R.I.Abolin.hai người đã trở thành những nhà địa lý chuyên nghiệp là A.N.Krasnov, người đứng đầu khoa Địa lý ở Đại học Tổng hợp Khar'kov từ năm 1889 và G.N.Tanfil'ev, người chiếm giữ vị trí tương tự ở Odessa từ năm 1905 [1]
Truyền thống khoa học cảnh quan Nga không thể không kể đến Lev Semenovich Berg (1876-1950), giáo sư khoa Địa lý tại Đại học tổng hợp Leningrad (St Petersburg), chủ tịch của Hội Địa lý Liên Xô (1940-1950) và là một thành viên
Trang 20chính thức của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô từ năm 1946 Berg đã trình bày những quan niệm đầu tiên của ông về cảnh quan địa lý trong các ấn phẩm năm 1913 và 1915 Ông cho rằng thuật ngữ “cảnh quan địa lý” dùng để chỉ “đơn vị cơ bản của khoa học của chúng ta, đối tượng trực tiếp của nghiên cứu, cá thể địa lýhay cá thể đặc biệt” Ông không đồng tình định nghĩa của Albrecht Penck về cảnh quan địa lý biểu thị một khu vực thể hiện các cấu tạo địa hình phổ biến, đã biết thông qua các văn liệu địa mạo
và địa lý của Đức, Berg lập luận cho một định nghĩa rộng lớn hơn Ông quan niệm
“Một cảnh quan địa lý là sự kết hợp hay gộp nhóm các đối tượng và hiện tượng trong
đó các đặc thù của địa hình, khí hậu, nước, đất, thực vật và động vật, và một mức nhất định hoạt động của con người, hòa trộn vào một tổng thể hài hòa đơn lẻ, thường lặp lại trong phạm vi của một đới nhất định trên Trái đất” Do đó theo Berg, một cảnh quan là một nhóm các kết hợp tự nhiên của các tính chất vô cơ và hữu cơ, trong đó
sự thay đổi xảy ra trong một tính năng dẫn đến thay đổi trong tất cả các tính năng khác Ông tin rằng nhiệm vụ của nhà địa lý đó là “để hiểu được các bộ phận của tổ hợp phức tạp của cái mà chúng ta gọi là một cảnh quan” Những khoa học chuyên ngành khác nghiên cứu “chỉ có các mảnh riêng biệt của tổ hợp này của những mối liên hệ, từng cá thể tạo thành, nhưng địa lý phải hiểu và giải thích cấu trúc và tổ chức của cảnh quan" Hơn nữa ông giải thích rằng các cảnh quan có thể được nhóm lại thành các vùng cảnh quan kết hợp với các vành đai khí hậu, đất và thảm thực vật Berg đã sử dụng các thuật ngữ “vùng địa lý” hoặc theo Dokuchaev “các vùng tự nhiên” cho thế giới nói tiếng Anh thường được gọi là “quần thể sinh vật” chủ yếu,
“các cộng đồng rộng lớn nhất được các nhà sinh thái học công nhận” Tương tự, các cảnh quan thiên nhiên có thể được phân chia thành các cá thể địa lý (các đơn vị địa
lý có ý nghĩa nhỏ nhất) [1]
Berg quan niệm khoa học cảnh quan là địa lý học, nhưng không được chấp nhận rộng rãi trong các nước thuộc Liên Xô cũ Tuy nhiên, sự hiểu biết thiết yếu của Berg về cảnh quan - rằng cảnh quan là một đơn vị tự nhiên thể hiện mức độ phụ thuộc lẫn nhau rất cao giữa địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, thực vật, động vật và thậm chí ở một mức độ nào đó là hoạt động của con người - là cốt lõi của truyền thống khoa học cảnh quan ở Nga cho đến ngày nay Berg nêu rõ: “Tôi đã phát triển các quan niệm của tôi về các đới địa lý (cảnh quan) một cách độc lập, mặc dù dựa trên cơ sở khoa học về đất của Dokuchaev” Quan niệm về cảnh quan của Berg dường như đã bị ảnh hưởng bởi trường phái Dokuchaev nói chung, nhưng chỉ sau đó ông mới nhận ra rằng chính Dokuchaev đã viết về “các đới tự nhiên” toàn cầu (cái mà
Trang 21Berg gọi là “các đới cảnh quan”) hoặc các quần thể sinh vật tự nhiên Berg dựa trên công trình của Dokuchaev làm nền tảng cho ông nhưng cũng có một chút đối ngược Dokuchaev cho rằng khoa học tổng hợp mới có thể tích hợp các nghiên cứu về các hợp phần của môi trường tự nhiên và xã hội và không thể trùng khớp với địa lý học Địa chất học, thổ nhưỡng học, thực vật học, động vật học và lâm nghiệp là những gì Dokuchaev và hầu hết những người kế tiếp ông đã xác định chủ yếu là những khoa học tự nhiên Địa lý học, đã được Chính phủ ấn định thiết lập trong các trường Đại học Tổng hợp Nga năm 1884 là một môn học chiết trung Quan điểm của Berg là quá khác nhưng là quan trọng đối với sự phát triển của khoa học cảnh quan Nga
Berg đã nghiên cứu về động vật học và địa lý học tại Đại học Tổng hợp Matxcơva và sau đó đã làm việc một số năm ở Trung Á, nơi ông đã dẫn đầu việc nghiên cứu khoa học trong một loạt các vấn đề về địa lý tự nhiên Như một nhà tự nhiên học và giống như Dokuchaev, ông bị ảnh hưởng nhiều bởi Humboldt, nhưng với tư cách là một nhà địa lý học ông cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng của Karl Ritter với trọng tâm của người sau về địa lý tự nhiên, địa lý lịch sử và nhân văn Một ảnh hưởng khác và trung gian của Đức đến Berg là một nhà triết học và phương pháp luận học địa lý lớn là Alfred Hettner (1859-1941), những ý tưởng của ông dĩ nhiên cũng
có ý nghĩa đối với Sauer Đối với Berg và các nhà địa lý Nga khác, sự đóng góp to lớn của Hettner đối với ngành của họ là cung cấp cho nó một đối tượng nghiên cứu duy nhất: vị trí hay khu vực Hettner lập luận rằng không gian và vị trí là đối với nhà địa lý, thời gian là đối với nhà sử học; nói cách khác, địa lý là một môn khoa học về không gian (bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp “chora” có nghĩa là vùng, được sử dụng để tham khảo các nguyên tắc rằng bản chất của địa lý là nghiên cứu về nơi chốn hoặc vùng): “Địa lý có thể là một khoa học độc lập chỉ về không gian, đó là kiến thức về
sự biểu hiện khác nhau của các phần khác nhau trên bề mặt Trái đất” Trong các ấn phẩm của ông năm 1913 và 1915, Berg cho rằng quan niệm về cảnh quan của ông hoàn toàn phù hợp với giáo lý của Hettner về địa lý như là một khoa học về không gian Sự nhấn mạnh tương tự cũng được tìm thấy trong cuốn sách sau này của ông về lịch sử địa lý ở Nga và trong tất cả các nghiên cứu của ông về các đới cảnh quan
Hettner cho rằng địa lý học nghiên cứu các hiện tượng phát sinh và liên kết với nhau như là kết quả của vị trí đặc biệt của chúng trên bề mặt Trái đất Ông sử dụng thuật ngữ “cảnh quan” cùng với các thuật ngữ khác như “các khu vực trên Trái đất”, “đất nước” và “vùng”… nên khái niệm của ông về cảnh quan không thật sự tương đồng so với quan niệm cảnh quan của Berg Berg xem xét những mối tương
Trang 22quan giữa các hiện tượng tự nhiên như là chìa khóa trong nghiên cứu của mình và ông kết hợp giữa những hiểu biết khoa học của trường phái Dokuchaev với các quan niệm thịnh hành của địa lý học Đức Hettner và Berg đều không quan tâm địa lý nghiên cứu về sự phân bố các hiện tượng riêng biệt trong không gian, mà là sự liên kết giữa các hiện tượng khác nhau cùng nằm trong không gian Trong quan điểm của Berg, một cảnh quan là một chủ thể hiện tượng tự nhiên phức tạp theo luật tự nhiên Giá trị của Hettner đối với Berg nằm trong nhận thức rõ ràng của ông về cảnh quan như là trung tâm của địa lý [1]
Thuật ngữ cảnh quan của Nga “landshaft” có nguồn gốc từ tiếng Đức và giống hệt nhau về nghĩa Sự sử dụng sau này của các nhà khoa học tự nhiên Đức là từ thời
kỳ của Von Humboldt, và sau đó thuật ngữ đã được chấp nhận cho việc sử dụng mang tính hàn lâm bởi các nhà địa lý bao gồm Ritter, Ratzel, Schluter và Hettner Thuật ngữ này chắc chắn được biết đến trong các nhóm địa lý của Nga trước khi xuất hiện tác phẩm của Berg về cảnh quan Một trong những học giả người Đức có tiếng đáng
kể là Siegfried Passarge đã nhắc ở trên làm việc tại Viện Kolonial và là một trong những người sáng lập địa lý cảnh quan của Đức Công trình của Passarge về cảnh quan châu Phi xuất bản 1908, mục đích chính là phân tích các cảnh quan tự nhiên về một lục địa khổng lồ Trong công trình tiếp sau, Passarge tiếp tục phát triển sâu hơn
ý tưởng của ông về các loại cảnh quan, sự phân loại và khu vực hóa cảnh quan chính trên thế giới, trong đó sự khác biệt ở thảm thực vật tự nhiên thể hiện rõ rệt
Những ý tưởng của Passarge có nhiều điểm tương đồng với những ý tưởng của Berg và những người Nga khác, và trong cuốn sách của ông về “Các đới địa lý”, Berg nói rằng “sau này sự nghiên cứu về các cảnh quan địa lý đã được phát triển đồng thời
- ở Đức là nhà địa lý Passarge, và trong chúng tôi là tác giả của các công trình hiện tại - dựa trên nền tảng khoa học thổ nhưỡng của Dokuchaev và của những nghiên cứu
về các quần xã thực vật tự nhiên được thực hiện bởi các nhà thực vật học Nga” Đáng chú ý là Berg và các nhà địa lý Liên Xô khác đã chỉ ra những khía cạnh của các công trình của Passarge, cho thấy bản chất tự nhiên của nó đặc biệt đối với các mối tương quan không gian giữa các thành phần cảnh quan, thiếu khía cạnh di truyền và thiếu
sự nhấn mạnh về thổ nhưỡng và động vật Các nghiên cứu của Passarge cuối cùng đã giúp thúc đẩy truyền thống sinh thái cảnh quan của Đức được thảo luận trước đây Ở Đông Âu, bên cạnh nước Nga với bề dày truyền thống cảnh quan lâu đời, có thể kể đến Ba Lan, cảnh quan cũng được sử dụng trong lời nói hàng ngày để chỉ định một quan điểm Trong địa lý tự nhiên thuật ngữ này được sử dụng thường xuyên nhất như
Trang 23một từ đồng nghĩa của một thể tổng hợp địa lý Do đó, cảnh quan chỉ định bất kỳ đoạn nào của không gian địa lý, bất kể kích thước nào, được phân định bởi các đường viền
tự nhiên và tạo thành một tổng thể vì các kết nối và sự phụ thuộc trong cấu trúc của
nó Cảnh quan được hiểu theo cách này được phân loại theo thứ bậc của nhiều tác giả Các loại cảnh quan khác nhau được phân chia theo các loại hữu ích nhất định cho các hình thức hoạt động khác nhau của con người và có thể được sử dụng làm các lĩnh vực cơ bản để lập kế hoạch về cách quản lý tài nguyên thiên nhiên tối ưu [1]
1.1.2.2 Theo hướng mô tả cảnh quan
Quan niệm về cảnh quan trong các nước Tây Âu và Bắc Mỹ thường tập trung vào các cảnh quan nhân tạo bởi con người hoặc theo hiểu biết, nhận thức và thể hiện theo nhiều cách khác nhau Cảnh quan không nhất thiết phải được phân loại là "tự nhiên" hoặc "văn hóa" bởi vì rất khó có cảnh quan tự nhiên thuần túy không có tác động của con người
Ở Hoa Kỳ, nghiên cứu cảnh quan phần lớn là do ảnh hưởng của nhà địa lý Carl Sauer trường phái Berkeley Sauer đã phản ứng chống lại thuyết quyết định môi trường cho rằng nó chỉ là tính thời thượng trong các nhà địa lý học Mỹ thập niên 1920
và 1930 và xây dựng đề xuất “cảnh quan văn hóa” nhằm hình thành ý tưởng cốt lõi của trường phái Berkeley về địa lý văn hóa Trong suy nghĩ của Sauer và trường phái của ông, cảnh quan văn hóa là biểu hiện tự nhiên trên bề mặt Trái đất của sự tương tác giữa con người với thiên nhiên, làm khuôn mẫu trước đây là một cảnh quan “tự nhiên” (tuy nhiên, như những nghiên cứu gần đây hơn đã chỉ ra, chỉ có rất ít hoặc gần như không có những cảnh quan trên Trái đất hiện nay có thể được gọi là “tự nhiên” thực sự) trong những định hình cho nhu cầu của con người Không giống như Berg
và các nhà khoa học Nga, trường phái Berkeley cho rằng con người và các hoạt động của con người là mối quan tâm cốt lõi trong nghiên cứu các cảnh quan Ở Vương quốc Anh, nơi mà ảnh hưởng trực tiếp của Sauer còn hạn chế, một cách tiếp cận nhân văn với ý tưởng cảnh quan cũng đã trở nên nổi bật, phần lớn qua các nghiên cứu địa
lý lịch sử của cảnh quan được các nhà sử học ghi lại bao gồm W.G.Hoskins và các nhà địa lý học gồm Clifford Darby Ở Hoa Kỳ, cách tiếp cận của Sauer với các cảnh quan văn hóa tiếp tục thu hút những người đi theo, đặc biệt trong việc nghiên cứu các cảnh quan địa phương Theo Olwig, cảnh quan bắt đầu được xem ít hơn như là một thực thể tồn tại trong thế giới tự nhiên hơn là một hình ảnh hoặc cảnh quan Sự quay
về “văn hóa” này dẫn đến sự đa dạng hóa rộng rãi của các nghiên cứu cảnh quan
Trang 24Bản thân Sauer đã hiểu rõ truyền thống địa lý học Đức, nhận thức sâu sắc về các khía cạnh tự nhiên của cảnh quan Trong bài tiểu luận cổ điển của ông năm 1925
“Hình thái học của cảnh quan”, Sauer đã có nghiên cứu lâu dài về đặc tính tự nhiên của cảnh quan, có liên quan mật thiết với các đặc điểm văn hóa của cảnh quan Olwig viết: “khái niệm cảnh quan là hầu như không thể tưởng tượng được nếu không có con người” của Sauer Trong bài luận của mình, Sauer trích dẫn tác phẩm của nhà địa lý Đức Siegfried Passarge, một trong những người sáng lập địa lý cảnh quan ở Đức Passarge đã lập luận rằng cảnh quan nên được xem như là một thiết bị trung tâm cho việc tổ chức có hệ thống của cả dữ liệu tự nhiên và con người tập trung trong một khu vực để phân tích khoa học Sauer đã sử dụng phương pháp tiếp cận của Passarge làm
cơ sở cho phương pháp địa lý của mình, mà ông gọi là một “hình thái của cảnh quan” Theo Sauer, không thể bỏ qua hoặc giảm thiểu đặc tính tự nhiên của cảnh quan, mặc
dù xã hội con người là trọng tâm của mối quan tâm của ông Sauer khẳng định rằng
“khu vực tự nhiên là nền tảng cho bất kỳ nghiên cứu địa lý nào bởi vì nó cung cấp vật liệu mà người ta xây dựng nền văn hóa của mình”
Sự quan tâm của Sauer về đặc tính tự nhiên của cảnh quan, cùng với mối quan tâm đối với tác động ngày càng tăng của con người lên môi trường đã tạo ra một động lực thúc đẩy sự phát triển của sinh thái văn hóa Một số học giả đã cho rằng mặc dù Sauer đã không đặc biệt nhấn mạnh khái niệm “sinh thái” để mô tả các nghiên cứu của mình nhưng ông có thể được coi là một trong những người khởi xướng quan điểm
“sinh thái văn hóa” Như Turner đã lập luận rằng sinh thái văn hóa “đại diện cho việc duy trì sự quan tâm các cảnh quan trường phái Sauer (bao gồm cả lịch sử), tập trung lại trong một khuôn mẫu thân thiện với khoa học” Tuy nhiên, theo quan điểm của Turner, tác động của các cách tiếp cận mối liên quan giữa con người - môi trường trong địa lý nói chung đã bị hạn chế (ít nhất ở Hoa Kỳ) bởi sự bá quyền tổng thể của cái mà ông gọi là mô hình “không gian - vùng” [1]
Trong khi đó một sự phát triển song song với sự phát triển của sinh thái văn hóa xảy ra ở Đức Đây là một đóng góp lớn cho địa lý học cảnh quan đã được thực hiện bởi Carl Troll trước chiến tranh thế giới thứ hai, xây dựng trên một truyền thống
có từ thời Alexander von Humboldt và ông bắt đầu mô tả như là “sinh thái cảnh quan” Theo quan niệm này, sinh thái cảnh quan đặc biệt tập trung vào các cảnh quan châu Âu, đã tham gia nghiên cứu về cả hoạt động của con người lẫn các quá trình và cấu tạo tự nhiên mang tính khoa học và được áp dụng trong cách tiếp cận, đồng thời coi khí hậu và các quá trình sinh học như là trung tâm đối với sự nghiên cứu của địa
Trang 25lý tự nhiên Cách tiếp cận địa lý này tiếp tục diễn ra với một số thăng trầm ở vùng Tây Đức sau năm 1945, nhưng một khoa học cảnh quan tương tự cũng đã phát triển
ở Đông Đức, mặc dù chịu ảnh hưởng rõ ràng bởi các nhà địa lý Nga Tuy nhiên, trong thế giới nói tiếng Anh, sinh thái học cảnh quan châu Âu từ lâu vẫn phủ nhận với các cách tiếp cận như sinh thái văn hóa với sự nhấn mạnh vào các xã hội phi phương Tây [1,5,12,13]
1.1.2.3 Theo hướng kết hợp giữa phân loại và mô tả cảnh quan
Gần đây hơn các cách tiếp cận sinh thái cảnh quan dường như đã có tác động rộng hơn ở phương Tây nói chung Trong thập niên 1970 ở Hà Lan đã xuất hiện một cách tiếp cận mới liên ngành về sinh thái cảnh quan như một là phản ứng đối với mối quan tâm ngày càng tăng về tình trạng môi trường Cách tiếp cận này đối với cảnh quan bao trùm các vấn đề về tự nhiên, sinh thái, văn hóa và xã hội, và đã được hỗ trợ rất lớn từ các công nghệ mới như viễn thám và hệ thống thông tin địa lý, trong đó phương pháp ABC (Abiotic - Biotic - Culture) đã được phát triển bằng cách kết hợp phân loại cảnh quan với mô tả cảnh quan thông qua phương pháp tiếp cận tổng thể
và tiếp cận tham số trên ba tỷ lệ phân tích [14,15,16]
Antrop (Bỉ) là một trong những đại diện tiêu biểu cho hướng nghiên cứu mới của cảnh quan Tây Âu, ông cho rằng những kiểu cảnh quan khác nhau không phù hợp với hành chính quốc gia và khu vực qua biên giới không thể so sánh được do cách tiếp cận, nguồn số liệu và phương pháp khác nhau Các vấn đề xuyên biên giới trong phân loại cảnh quan cũng tồn tại trong các tiểu bang, ví dụ như giữa Anh, Scotland
và xứ Wales ở Vương quốc Anh, giữa Flanders, Wallonia và thủ đô Brussel ở Bỉ…
và thậm chí là các đơn vị hành chính nhỏ hơn (các bang, các tỉnh) Hơn nữa, các khu
dự trữ cảnh quan, ví dụ như rừng và các khu vực xây dựng có thể khác nhau ở các vùng, sử dụng các cấp độ, các nguồn dữ liệu và phương pháp lập bản đồ khác nhau, điều này làm cho việc so sánh dữ liệu trở nên khó khăn [17,18] J.G.Zotano (Thổ Nhĩ Kỳ) cũng là một nhà khoa học tiêu biểu theo hướng nghiên cứu mới, thiết kế và phát triển các phương pháp luận và phương pháp mới, là đa phương thức và hiển thị các lớp khái niệm phong phú vốn có cho cảnh quan có dạng kim tự tháp Năm cấp độ đã được mô tả, tập trung vào bảo vệ, quản lý và quy hoạch cảnh quan, với một cách tiếp cận linh hoạt hơn là định lượng Độ dốc cảnh quan kéo dài từ siêu vùng đến địa phương là thành phần chính của nhận thức cảnh quan Zotano cho rằng mục tiêu của nghiên cứu cảnh quan và các sáng kiến bao trùm một phạm vi quy mô là để phục vụ nhu cầu của toàn bộ các hoạt động lập kế hoạch và quy định Điều chỉnh phương pháp
Trang 26cảnh quan cho lĩnh vực can thiệp chính trị để tạo thuận lợi cho việc thực hiện các thỏa thuận quốc tế về vấn đề này, là một nhu cầu được cảm nhận rõ ràng; do đó, việc tìm kiếm các phương pháp lặp và chức năng cho phép sự tham gia của công chúng, nói chung trên cơ sở quy mô và thích nghi với các dạng chính sách khác nhau ở các quốc gia ký kết khác nhau Nghiên cứu của ông đóng góp cho điều này bằng cách thiết lập một khuôn khổ phù hợp với các bối cảnh chính trị và mức độ hội nhập không gian khác nhau (đô thị, quận, vùng, quốc gia), và do đó liên quan đến một loạt các phương thức tham gia xã hội khác nhau [19] Trong tương lai, các mục tiêu của nghiên cứu phân loại phải đóng vai trò là chất xúc tác cho thỏa thuận quốc gia và quốc tế tốt hơn liên quan đến các nguyên tắc phân loại cảnh quan; phát triển thuật ngữ cảnh quan chung với mục đích cải thiện giao tiếp, phối hợp và hiểu biết quốc tế; và làm cho nghiên cứu cảnh quan hiệu quả hơn trên toàn thế giới Thành công của Công ước cảnh quan châu Âu (ELC) và Sáng kiến cảnh quan Mỹ Latinh (LALI) là một dấu hiệu rõ ràng về sự cần thiết phải kết hợp cảnh quan vào các chính sách cho tổ chức lãnh thổ
ở quy mô không gian đa dạng
Bắc Mỹ cùng với Tây Âu là hai trung tâm nghiên cứu sinh thái cảnh quan lớn nhất trên thế giới Tuy nhiên, ở Tây Âu các nhà địa lý có vai trò tích cực nhất trong
sự phát triển khoa học này thì ở Bắc Mỹ các nhà sinh học và sinh thái học có ảnh hưởng quan trọng nhất, nổi bật nhất là Forman, Golley, Turner, Risser,… Ảnh hưởng của các nhà sinh thái học đã dẫn tới tiếp cận hệ sinh thái là định hướng chủ đạo trong phát triển sinh thái cảnh quan ở Bắc Mỹ với bốn hướng nghiên cứu chính: nghiên cứu ảnh hưởng của phân hóa không gian tới một số quá trình hệ sinh thái; phân tích động lực cảnh quan; phân tích ngưỡng sinh thái và sức tải môi trường; quy hoạch, quản lý
và cải tạo cảnh quan Cùng với sự phát triển của các công nghệ mới, một số định hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan ở Bắc Mỹ trong tương lai đã được dự báo: phát triển lý luận về mô hình hóa; đặc tính bất đồng nhất không gian của cảnh quan; ảnh hưởng cấu trúc không gian tới chức năng hệ sinh thái; ảnh hưởng của cấu trúc không gian tới mối quan hệ loài; tích hợp các công nghệ mới về di truyền phân tử; ứng dụng các thiết bị sử dụng sóng radio, GPS; mô phỏng và mô hình hóa thống kê [20,21,22,23]
Đông Á là khu vực có các trung tâm đào tạo và nghiên cứu sinh thái cảnh quan hàng đầu châu Á Tại Đông Á phải nhắc đến những hoạt động tích cực của Chi hội Sinh thái cảnh quan tại Trung Quốc (CALE) và Hội Sinh thái học Nhật Bản Do được tiếp xúc sớm với các nhà sinh thái cảnh quan trên thế giới ngay từ khi thành lập Hiệp
Trang 27hội Sinh thái cảnh quan quốc tế vào năm 1982, nhiều nhà sinh thái cảnh quan Trung Quốc và Nhật Bản đã nắm giữ những cương vị quan trọng trong cơ cấu tổ chức của hiệp hội này, đồng thời đóng góp lớn trong đào tạo và nghiên cứu sinh thái cảnh quan tại các viện nghiên cứu và trường đại học Tùy thuộc vào điều kiện mỗi quốc gia mà sinh thái cảnh quan được phát triển theo các định hướng khác nhau Tại Trung Quốc,
do lãnh thổ rộng lớn và phân hóa sâu sắc nên các nghiên cứu sinh thái cảnh quan được thực hiện thống nhất với đặc điểm phân hóa của các vùng lãnh thổ theo hướng địa lý
và sinh thái ứng dụng Dưới sự tài trợ của quỹ quốc gia cho phát triển lĩnh vực này, các nhà sinh thái cảnh quan Trung Quốc đã đạt được những thành tựu quan trọng về quy hoạch sử dụng đất, phân tích cấu trúc và động lực cảnh quan, mô hình hóa cảnh quan,… Các nghiên cứu trong quá khứ đặc biệt nhấn mạnh vào lý thuyết và ứng dụng cho các cảnh quan đặc thù như cảnh quan đô thị, cảnh quan ngoại ô, vùng và lưu vực, cảnh quan lạnh và khô cằn, cảnh quan rừng, cảnh quan nông nghiệp, cảnh quan ngập nước,…[24,25,26] Sinh thái cảnh quan ở Nhật Bản được phát triển mạnh mẽ bởi những đóng góp tích cực của các nhà sinh thái học ở các trung tâm đào tạo và nghiên cứu mạnh là Đại học Tổng hợp Hirosima, Đại học Quốc gia Yokohama,… Quá trình
đô thị hóa diễn ra lâu đời cùng với nền kinh tế phát triển rất cao của Nhật Bản đã tác động và thúc đẩy mạnh mẽ hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan đô thị [27,28]
1.1.2.4 Nghiên cứu cảnh quan ở Việt Nam và tỉnh Lạng Sơn
Ở Việt Nam, nghiên cứu cảnh quan đã được đề cập từ những năm 60 của thế
kỷ XX, phong phú cả về hướng lý thuyết và ứng dụng, nhiều công trình nghiên cứu chịu ảnh hưởng mạnh của quan điểm cảnh quan Nga và Đông Âu Trong đó, nghiên cứu cảnh quan ứng dụng là một hướng quan trọng của địa lý tự nhiên hiện đại, phù hợp với yêu cầu thực tiễn ở các quốc gia Các nghiên cứu cảnh quan đang chú trọng nhiều đến các vấn đề thực tiễn của từng lãnh thổ cụ thể (kết quả chi tiết hơn) để đưa
ra định hướng phát triển phù hợp Trong nhiều nghiên cứu về cảnh quan ứng dụng, quan niệm cảnh quan là đơn vị kiểu loại được nhiều nhà địa lý sử dụng trong việc xây dựng bản đồ cảnh quan, phục vụ điều tra, nghiên cứu về thiên nhiên, quy hoạch và tổ chức lãnh thổ Nhiều nghiên cứu cảnh quan ngày càng đi sâu vào phân tích cấu trúc, chức năng, động lực và mối quan hệ với việc tổ chức không gian nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn
Đầu thế kỷ XXI đến nay, nhiều nhà nghiên cứu bắt đầu tiếp cận và đi theo hướng nghiên cứu cảnh quan mới của Tây Âu và Bắc Mỹ Nhiều nghiên cứu chú trọng đến xây dựng các hệ thống phân loại và bản đồ cảnh quan cho các lãnh thổ với
Trang 28quy mô khác nhau, trong đó số lượng các cấp phân loại trong hệ thống phân loại cảnh quan các khu vực cụ thể tùy thuộc vào nội dung và mục đích nghiên cứu phù hợp với từng lãnh thổ, phù hợp với sự biến động không ngừng của thế giới khách quan hiện tại
Có thể khái quát thành tựu và các hướng nghiên cứu cảnh quan chính ở Việt Nam như sau:
Hướng nghiên cứu tập trung vào xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan: các nghiên cứu theo hướng này chú trọng vào việc xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan cho các lãnh thổ có quy mô khác nhau ở Việt Nam và thành lập bản đồ cảnh quan (ở tỷ lệ trung bình và lớn), với nhiều công trình tiêu biểu: Nguyễn Đức Chính
và Vũ Tự Lập (1963) đã đưa ra hệ thống phân vị địa lý tự nhiên Việt Nam với 6 cấp
và xây dựng sơ đồ phân vùng địa lý tự nhiên trên cơ sở kế thừa kết quả phân vùng của các nhà địa lý Pháp Trong sơ đồ này, đèo Hải Vân được xác định là ranh giới giữa đới nhiệt đới gió mùa và đới cận xích đạo gió mùa [3] Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Thượng Hùng (1997) đã phát triển những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguyên tắc, phương pháp nghiên cứu cảnh quan, thành lập bản đồ cảnh quan Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000, trong đó hệ thống phân loại cảnh quan gồm 7 cấp (hệ thống cảnh quan, phụ hệ cảnh quan, lớp cảnh quan, phụ lớp cảnh quan, kiểu cảnh quan, phụ kiểu cảnh quan, loại cảnh quan) [29,30,31,32] Bên cạnh đó còn có các nghiên cứu tiêu biểu của Nguyễn Cao Huần (2002, 2003); Phạm Quang Anh (1996), Nguyễn Ngọc Khánh (2002); Hà Văn Hành (2002), Phạm Quang Tuấn (2003), Nguyễn An Thịnh (2006, 2011) [33,34,35,36] Hướng nghiên cứu cấu trúc cảnh quan được chú trọng: Trương Quang Hải (1991) phân tích liên hợp các hợp phần thành tạo cảnh quan miền Nam Việt Nam; Phạm Quang Anh (1996) nghiên cứu mô hình cấu trúc sinh thái cảnh quan; Trương Quang Hải và nnk (2008) đi sâu vào phân tích cấu trúc, chức năng và đánh giá cảnh quan khối karst Tràng An - Bích Động, tỉnh Ninh Bình, Trong việc xác định đặc điểm phân hóa và cấu trúc cảnh quan, một số tác giả như Phạm Hoàng Hải, Phạm Quang Anh, Nguyễn An Thịnh, Trương Quang Hải và nnk đã chú trọng nhiều tới các đặc trưng sinh thái; Nguyễn Cao Huần và Trần Anh Tuấn chú ý nhiều đến đặc điểm nhân sinh, [36,37,38] Hướng nghiên cứu cảnh quan ứng dụng ở các lãnh thổ cụ thể: trước những vấn đề bức xúc về môi trường và sử dụng tài nguyên nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã gắn kết nghiên cứu cơ bản về cảnh quan với nghiên cứu ứng dụng trong sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, nổi bật có những công trình:
Trang 29Phạm Hoàng Hải và nnk (1997) đã phân tích hướng nghiên cứu cảnh quan học ứng dụng trong sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam Nguyễn Cao Huần (2005) đã trình bày cơ sở lý luận và phương pháp đánh giá cảnh quan theo quan điểm kinh tế - sinh thái Các phương pháp đánh giá thích nghi sinh thái, phân tích hiệu quả kinh tế và hệ quả môi trường đã được vận dụng trong nhiều công trình nghiên cứu cảnh quan ứng dụng Sau này, các nghiên cứu cảnh quan ứng dụng gần đây, các tác giả đã làm rõ được tiềm năng sinh thái cho bảo tồn, phương thức khai thác hợp lý tài nguyên đất, nước, rừng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển kinh tế ở khu vực miền núi, đồng bằng, ven biển Hướng nghiên cứu gắn với kinh tế tổng hợp như phát triển nông - lâm - ngư nghiệp trên cảnh quan sinh thái đồng bằng duyên hải và ven biển gồm có các nghiên cứu của Phạm Thế Vĩnh (2002), Nguyễn Cao Huần, Nguyễn An Thịnh (2006), Trương Quang Hải (2008); Hướng phát triển nông - lâm nghiệp và du lịch trên cảnh quan khu vực đồi núi có các nghiên cứu tiêu biểu của Phạm Quang Tuấn (2006) nhằm phát triển cây ăn quả dài ngày trên cảnh quan gò đồi và trung du, của Phạm Quang Anh (1983) và Nguyễn Xuân Độ (2005) nhằm phát triển cây công nghiệp dài ngày trên cảnh quan cao nguyên, của Nguyễn
An Thịnh và Nguyễn Thị Hải (2005) nhằm phát triển du lịch sinh thái ở cảnh quan miền núi; Hướng nghiên cứu địa lý tổng hợp về biển - hải đảo hiện đang được đặc biệt quan tâm do ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng, do đó các nghiên cứu cũng xuất hiện ngày càng nhiều [37,38]
Hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan ngày càng phát triển: Sau khi thành lập Chi hội sinh thái cảnh quan thế giới tại Việt Nam (VN-IALE) vào năm 1992, hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan ở Việt Nam được phát triển mạnh Các nhà cảnh quan học đã chú ý đến hướng nghiên cứu sinh thái cảnh quan ứng dụng, tập trung vào hướng đánh giá sinh thái cảnh quan và phân tích cấu trúc mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường ở Việt Nam Đáng chú ý là các công trình của Phạm Thế Vĩnh (2002), Phạm Quang Anh (1983), Nguyễn Xuân
Độ (2005), Nguyễn Cao Huần, Nguyễn An Thịnh (2006), Phạm Quang Tuấn (2006), Nguyễn An Thịnh, Nguyễn Thị Hải (2005), Trương Quang Hải, Nguyễn An Thịnh (2008) [39,40]
Lạng Sơn là lãnh thổ thuộc vùng núi Đông Bắc có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, phức tạp với nhiều điểm đặc sắc, nên có rất nhiều nghiên cứu có giá trị của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau liên quan đến địa phương Do
đó có khá nhiều nghiên cứu theo hướng tổng hợp về lãnh thổ Lạng Sơn ở nhiều khía
Trang 30cạnh khác nhau, điển hình như luận án Tiến sĩ Địa lý của Phạm Quang Tuấn, Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN (2003) “Nghiên cứu đánh giá điều kiện sinh thái cảnh quan phục vụ định hướng phát triển cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả khu vực Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn” Kết quả của đề tài đã nêu bật vai trò của các nhân tố hình thành cảnh quan, đặc điểm phân hóa lãnh thổ thể hiện qua cảnh quan Đánh giá kinh
tế sinh thái của các đơn vị cảnh quan đối với cây công nghiệp và cây ăn quả, định hướng phân bố hợp lí các cây trồng theo không gian [36]
1.2 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Các quan điểm nghiên cứu
1.2.1.1 Quan điểm hệ thống và tổng hợp
Quan điểm tổng hợp được vận dụng để nghiên cứu đồng bộ, toàn diện các yếu
tố thành tạo cảnh quan tỉnh Lạng Sơn Đó không chỉ là các nhân tố tự nhiên mà còn quan tâm đến các hoạt động của con người trong lãnh thổ đó Quan điểm này cho phép tác giả luận án nghiên cứu đầy đủ, khái quát các điều kiện của lãnh thổ
Quan điểm hệ thống cho phép luận án không chỉ nghiên cứu tổng hợp các yếu
tố thành tạo mà còn xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa các yếu tố đó, đồng thời xác định vai trò nổi trội hay vai trò thứ yếu của các nhân tố thành tạo cảnh quan và đặc trưng cảnh quan của lãnh thổ Quan điểm này còn cho phép nhìn nhận lãnh thổ Lạng Sơn nằm trong tổng thể lớn hơn trong mối quan hệ biện chứng và cho biết từ các mối tương tác đó có sự thay đổi gì về lượng khi hình thành tính chất mới dưới tác động của hoạt động kinh tế - xã hội
Như vậy, việc sử dụng phối hợp quan điểm hệ thống và tổng hợp khi nghiên cứu cảnh quan lãnh thổ Lạng Sơn giúp luận án đánh giá đầy đủ các nhân tố thành tạo cảnh quan và mối quan hệ giữa các nhân tố đó cũng như mối quan hệ với các lãnh thổ lớn hơn
1.2.1.2 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Mỗi đơn vị cảnh quan đều trải qua một thời gian hình thành và phát triển Trong quá trình phát triển các đặc trưng riêng có thể đã bị biến đổi, do vậy, các số liệu thống kê từng đối tượng đều gắn với một giai đoạn phát triển nhất định Sử dụng quan điểm này cho phép luận án đánh giá chính xác hiện trạng cũng như quá trình phát triển của cảnh quan
Trang 311.2.1.3 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến các thế hệ tương lai cũng có được các nhu cầu đó Phát triển bền vững của một quốc gia phải đảm bảo đồng thời 3 yếu tố: kinh tế, xã hội và môi trường Trên quan điểm phát triển bền vững, luận án xác định rõ mỗi khu vực trong lãnh thổ Lạng Sơn trong quá trình khai thác tiềm năng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội thì cần đặt mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế - xã hội và môi trường lên hàng đầu
Trong các quan điểm nghiên cứu được sử dụng trong luận án, quan điểm hệ thống và tổng hợp là quan điểm chủ đạo Trên cơ sở các quan điểm này, lãnh thổ Lạng Sơn được nhìn nhận một cách khái quát, toàn diện trong mối quan hệ chặt chẽ với các hệ thống lớn hơn, trở thành cơ sở để đánh giá phân tích cấu trúc đa bậc của cảnh quan
1.2.2 Các phương pháp nghiên cứu
1.2.2.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp và xử lý dữ liệu thứ cấp
Để thực hiện đề tài luận án, tác giả cần thu thập các tài liệu, số liệu, báo cáo,
các bản đồ,…có liên quan đến lãnh thổ nghiên cứu tỉnh Lạng Sơn và hướng nghiên cứu cảnh quan đa bậc, tính toán các chỉ số phục vụ đánh giá cảnh quan Lạng Sơn.”
Các tài liệu, số liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, nên cần phải qua quá trình nội nghiệp phân loại, chọn lựa, xử lý và tổng hợp để biên tập hệ thống các bản đồ cho luận án Các dữ liệu trên sau khi xử lý sẽ là cơ sở cho quá trình nghiên cứu đánh giá cảnh quan, đề xuất định hướng để quy hoạch sử dụng hợp lý cảnh quan lãnh thổ địa phương.”
1.2.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Để hoàn thành luận án, việc thu thập các dữ liệu là chưa đủ Nên việc khảo sát thực địa là rất cần thiết để có thể thu thập thêm những tư liệu thực tế và chính xác nhất của lãnh thổ nghiên cứu Tác giả thực hiện 3 tuyến chính nghiên cứu ngoài thực địa và chọn một số điểm chìa khóa ở mỗi tuyến có ý nghĩa đối với đề tài: tuyến Tràng Định - Văn Lãng - Tp Lạng Sơn - Lộc Bình - Đình Lập theo đường tỉnh lộ 4B; tuyến Cao Lộc - Chi Lăng - Hữu Lũng theo đường quốc lộ 1B; tuyến Tp Lạng Sơn - Văn Quan - Bắc Sơn theo đường tỉnh lộ 279 Mục đích phân bố các tuyến để thấy được sự phân hóa cảnh quan Lạng Sơn từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, từ đồng bằng đến khu vực đồi núi và núi cao.”
Trang 321.2.2.3 Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lý (GIS)
Phương pháp bản đồ luôn luôn là phương pháp cần thiết và không thể thiếu đối với nghiên cứu địa lý Phương pháp này được sử dụng từ những giai đoạn đầu tiên để thu thập dữ liệu, thông tin, chuẩn hóa phân tích, tổng hợp các nguồn tư liệu
về các yếu tố thành tạo cảnh quan, cho đến giai đoạn thành lập bản đồ phân hóa cấu trúc đa bậc cảnh quan tỉnh Lạng Sơn
Để thực hiện kết quả luận án, tác giả sử dụng phương pháp bản đồ truyền thống kết hợp sử dụng các phần mềm GIS (chủ yếu phần mềm Mapinfo 15.0, ArcGIS 10.5)
để tiến hành hiệu chỉnh và biên tập các bản đồ hợp phần thành tạo cảnh quan lãnh thổ nghiên cứu cũng như bản đồ cảnh quan đa bậc tỉnh Lạng Sơn
1.3 Các vấn đề chính trong phân tích cấu trúc đa bậc của cảnh quan
1.3.1 Cấu trúc cảnh quan
1.3.1.1 Cấu trúc chung của cảnh quan
Cấu trúc cảnh quan là một trong những khái niệm quan trọng trong khoa học cảnh quan X.V Kalexnik (1978) định nghĩa: “Cấu trúc cảnh quan là tính tổ chức của các bộ phận cấu thành trong không gian và tính điều chỉnh trạng thái theo thời gian (được xem như là cấu trúc không gian và thời gian của địa hệ)” [Kalexnik X.V, Những quy luật địa lí chung của Trái đất, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội (1978)] Cấu trúc của CQ được xem xét ở 3 khía cạnh gồm cấu trúc đứng, cấu trúc ngang và cấu trúc thời gian
a Cấu trúc đứng của CQ:
Được hiểu là sự phân bố và mối quan hệ của các thành phần thống nhất phức tạp theo tầng tạo thành lớp vỏ địa lý Các thành phần tự nhiên cấu tạo nên cảnh quan được sắp xếp theo quy luật: dưới cùng là nền địa chất, trên là kiểu địa hình, lớp phủ thổ nhưỡng, địa chất thủy văn, thảm thực vật và trên cùng tầng đối lưu khí quyển Đây cũng chính là phạm vi giới hạn của lớp vỏ địa lý Trái đất mà CQ chỉ là đơn vị cấp thấp và cảnh diện có cấu trúc thẳng đứng đơn giản hơn và rõ ràng hơn [1,3]
b Cấu trúc ngang của CQ:
Gồm các đơn vị cảnh quan cùng cấp hay khác cấp cấu tạo nên cùng những mối quan hệ phức tạp giữa các đơn vị cảnh quan đó với nhau Bản thân mỗi một đơn vị cảnh quan là một hệ thống hoàn chỉnh, nên cấu trúc ngang thường được mô hình hóa
đa hệ thống Cũng như cấu trúc thẳng đứng, mỗi một cấp phân vị có một cấu trúc ngang riêng, đồng thời cấu trúc ngang của mỗi cá thể thuộc cùng một cấp phân vị
Trang 33cũng có những nét riêng Cấu trúc ngang bị thay đổi không chỉ do ảnh hưởng của các quá trình tự nhiên mà còn do hoạt động kinh tế của con người [19]
c Cấu trúc động lực của CQ:
Được biểu hiện thông qua sự biến đổi trạng thái của cảnh quan theo thời gian Phân tích cấu trúc thời gian thực chất là phân tích những biến đổi cảnh quan theo thời gian (tính nhịp điệu của CQ) Kết quả nghiên cứu động lực cảnh quan nhằm đưa ra được các nhận định và hiểu biết về động lực và kiểu biến đổi của CQ, hỗ trợ định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ [19]
1.3.1.2 Cấu trúc đa bậc các loại hình cảnh quan
Khái niệm về cấu trúc đa bậc cảnh quan (multi-scaled landscape typology) được các nhà nghiên cứu cảnh quan Tây Âu dùng nhiều trong những năm gần đây (Veerle Van Eetvelde, Marc Antrop, 2008; David Serrano Giné, 2008)
Cấu trúc đa bậc của cảnh quan được hiểu là sự phân hóa thành các bậc trên dưới của các đơn vị cảnh quan cũng như các yếu tố thành tạo cảnh quan, là sự tổng hợp của cả cấu trúc đứng, cấu trúc ngang và cấu trúc động lực của cảnh quan theo quy mô hoặc tỷ lệ nghiên cứu Khi nghiên cứu cấu trúc đa bậc cảnh quan cần xem xét các hợp phần tự nhiên tạo thành cấu trúc đứng của cảnh quan một cách cụ thể trong điều kiện thời gian và không gian xác định, tùy thuộc vào từng cấp phân vị và từng
cá thể trong mỗi cấp, trong đó hợp phần trội cần phải được phát hiện một cách khách quan trong quá trình phân tích mối liên hệ giữa các hợp phần Đối với cấu trúc ngang, các đơn vị cảnh quan đồng cấp và các đơn vị khác cấp là những hệ thống độc lập, có mối quan hệ bên trong riêng, khi đánh giá vai trò của các đơn vị cảnh quan đồng cấp hoặc khác cấp trong cấu trúc đa bậc phải phân biệt đơn vị chủ yếu và thứ yếu Đơn vị chủ yếu là đơn vị chiếm diện tích lớn nhất làm nền tảng cho cảnh quan, được gặp nhiều ngoài thực địa
Cấu trúc đa bậc cảnh quan được thể hiện qua tính đa bậc của các hợp phần trong cấu trúc đứng, tính đa bậc cúa các đơn vị cảnh quan khác cấp trong cấu trúc ngang của cảnh quan Theo mỗi quy mô hoặc tỷ lệ nghiên cứu, các hợp phần trong cấu trúc đứng, tính đa bậc cúa các đơn vị cảnh quan khác cấp trong cấu trúc ngang của cảnh quan có thể được phân chia thành các cấp đơn vị có thứ bậc khác nhau mà trong đó không nhất thiết phải có đầy đủ các bậc phân vị của hệ thống phân loại cảnh quan Ví dụ đối với hợp phần địa hình, tính phân bậc khá rõ ràng từ thấp đến cao, tuy nhiên phụ thuộc vào tỷ lệ và quy mô nghiên cứu, trong một lãnh thổ ở quy mô nhỏ rõ ràng sẽ không có đủ các bậc địa hình mà có thể chỉ có một hoặc hai bậc và cũng
Trang 34không có đủ các cấp phân vị các đơn vị cảnh quan theo hệ thống phân loại mà có thể chỉ có một cấp hoặc hai cấp phân vị mà thôi
Nghiên cứu cấu trúc đa bậc cảnh quan chính là dung hòa hay kết hợp giữa các quan điểm cảnh quan là kiểu loại, quan điểm cảnh quan là cá thể, quan điểm cảnh quan là danh từ chung, theo đó tại một quy mô và tỷ lệ nhất định cần tập trung vào nghiên cứu các tổ hợp không gian độc đáo của các hợp phần thành tạo cảnh quan với một bản sắc riêng biệt, thường là duy nhất, được phản ánh bởi một tên thích hợp đặt cho cảnh quan đó, có nghĩa là có thể chỉ có một hoặc hai bậc cảnh quan được phân chia cho khu vực nghiên cứu theo quy mô và tỷ lệ đã xác định trước phù hợp mục đích nghiên cứu
Các kết quả nghiên cứu của 3 công trình dưới đây có thể xem là những ví dụ
cụ thể cho hướng nghiên cứu này
a Marc Antrop (Bỉ):
Đã đưa ra phương pháp tích hợp trong nghiên cứu loại hình cảnh quan bằng cách kết hợp phương pháp tiếp cận toàn diện và sử dụng tham số hay nói khác đi là kết hợp giữa phân loại cảnh quan đa bậc với phân tích cơ sở dữ liệu GIS Tiếp cận đa bậc cũng là cơ sở để tích hợp nghiên cứu cảnh quan xuyên biên giới Loại hình cảnh quan mới phù hợp với quy ước cảnh quan châu Âu để mô tả đặc điểm cảnh quan hiện đại trong bối cảnh chuyển vùng và ranh giới Xác định các loại hình cảnh quan trong thành lập bản đồ và phân loại cảnh quan ở quy mô quốc gia cũng cho phép hội nhập khu vực và đưa ra giải pháp cho các vấn đề xuyên biên giới, có nghĩa là bản đồ cảnh quan được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau Phân bố cảnh quan tập trung vào các mô hình không gian được hình thành bởi các loại cảnh quan khác nhau để tạo thành các tổ hợp không gian độc đáo với một bản sắc riêng biệt Chúng thường là duy nhất, được phản ánh bởi một tên thích hợp đặt cho khu vực Phân bố cảnh quan là một phần của các khu vực địa lý xác định Nó là một phân loại không gian phân cấp
ở các cấp độ quy mô khác nhau [17,18]
b Aslıhan Tirnaçi và Serkan Zer (Thổ Nhĩ Kỳ):
Một số nhà nghiên cứu thực hiện phương pháp đánh giá đặc tính cảnh quan Trong nghiên cứu của Aslıhan Tirnaçi và Serkan Zer (2018) được thực hiện trong 3 giai đoạn cơ bản: (1) xác định các biến và lựa chọn cơ sở dữ liệu, (2) khảo sát thực địa, (3) phân loại các loại ký tự cảnh quan và trường Sử dụng phương pháp đánh giá đặc tính cảnh quan đã được thử nghiệm ở quy mô huyện ở Savsat, nằm ở gần vùng Biển Đen phía đông Thổ Nhĩ Kỳ Ngoài ra, vai trò của đánh giá đặc tính cảnh quan ở
Trang 35quy mô cấp huyện trong việc xác định tiềm năng du lịch và bảo vệ các khu vực đặc tính cảnh quan, phát triển chính sách khu vực và tích hợp chúng vào các chính sách
sử dụng đất hiện tại cũng được thảo luận trong nghiên cứu Các dữ liệu tự nhiên và văn hóa được thu thập trong các khu vực nghiên cứu Việc xác định các khu vực đặc tính của cảnh quan và các phân tích sinh thái đã được đánh giá trong GIS; hơn nữa, các khu vực đặc tính của cảnh quan đã được xác định bằng dạng biểu mẫu khảo sát chính Theo kết quả của phân tích, 854 loại đặc tính cảnh quan khác nhau và 13 khu vực đặc tính cảnh quan đã được xác định Kết quả là, tầm quan trọng của phương pháp đánh giá đặc tính cảnh quan trong việc bảo vệ đa dạng sinh học, phát triển nông thôn và các chiến lược du lịch đã được nhấn mạnh trong nghiên cứu (hình 1.1) [41]
Cấp I: Xác định các loại cảnh quan
Đơn vị cảnh quan cấp I là đơn vị cơ sở của phân loại đa bậc, tỷ lệ được sử dụng là 1: 10.000 Đây là tỷ lệ chính xác để phân định độ đồng nhất của đơn vị cảnh quan Diện tích của các đơn vị này tương đối nhỏ có các đặc điểm hiện trạng và thậm chí cả động lực học tương đối đồng nhất có thể phân biệt được trên thực địa Chúng được miêu tả bằng cách mô tả ưu thế của các yếu tố hiện trạng và động lực học (ví
dụ đất cây bụi bị suy thoái trên sườn dốc), chúng có thể tồn tại nhiều hơn một lần ở một khu vực Các yếu tố cảnh quan là các hạng mục vật lý (địa mạo, đất, thảm thực vật, v.v.) và các hạng mục xã hội (văn hóa, đô thị, các địa điểm di sản, v.v.) và chúng được kết hợp lại để định hình đơn vị cảnh quan sao cho sự phân loại này không bị nhầm lẫn với độ che phủ đất hoặc sử dụng đất Phần mềm GIS giúp quản lý cơ sở dữ liệu liên quan và trực quan hóa chúng trên bản đồ Độ chính xác của cấp độ này yêu cầu dữ liệu phải rất chi tiết và công việc thực địa thường là cần thiết Mục tiêu chính của cấp độ là làm nổi bật cấu trúc cảnh quan bằng cách hiển thị các yếu tố chính của
nó một cách chính xác nhất có thể vì xác định các cảnh quan bậc I là cơ sở để phân chia các cảnh quan bậc trên
Trang 36Hình 1.1 Phương pháp nghiên cứu cảnh quan ABC
Phương pháp nghiên cứu cảnh quan ABC
2 Đơn vị cấp II được khái quát từ đơn vị cấp I
Hợp phần cảnh quan chính và các chỉ tiêu thực tế được xem xét
Kết quả phân chia cấp phân vị cảnh quan
Các loại cảnh quan và dấu hiệu nhận biết được khái quát theo tính đồng nhất, động lực và tiêu chí không gian
Các loại cảnh quan cuối cùng được phân chia theo đặc tính ưu thế và động lực của chúng
1 Một tập hợp các loại cảnh quan được xác định bởi tham số bằng cách phân tích các thành phần chính của cảnh quan Kết quả phân chia cấp phân
vị cảnh quan
Các loại cảnh quan và dấu hiệu nhận biết được mô ta theo tính ưu thế và động lực cảnh quan Các hợp phần cảnh quan chính bao gồm vô cơ, hữu
cơ và văn hóa
A Nền tảng khí hậu
B Lớp phủ thực vật
C Đô thị hóa Các yếu tố văn hóa
Các đơn vị cảnh quan
Loại cảnh quan
Loại cảnh quan
Trang 37Ở mỗi cấp độ trong ba cấp độ, một thang đo cụ thể về tỷ lệ được sử dụng để
mô tả đặc điểm, mô tả và lập bản đồ các đơn vị cảnh quan với tiêu chí phù hợp với từng cách tiếp cận không gian Mức tỷ lệ đầu tiên (1: 10.000) là tỷ lệ rất chi tiết để xác định các đơn vị cảnh quan bằng cách sử dụng phân loại cảnh quan theo cách tiếp cận tham số, mặc dù cũng áp dụng cách tiếp cận tổng thể rất chi tiết Cấp độ thứ hai (1: 20.000) bao gồm các phân định cấp độ đầu tiên và vì vậy là ít chính xác hơn; ở cấp độ này, các đơn vị cảnh quan là được mô tả bằng cách sử dụng quy trình tham số
và hình ảnh các chỉ số và cách tiếp cận chung là tổng thể Tại cấp độ thứ ba (1: 25.000), độ chính xác thấp hơn nhưng ý nghĩa địa lý lớn hơn vì các đơn vị cảnh quan được xác định bởi quy trình tổng thể Ba cấp độ này được phân cấp: đầu tiên được chứa trong thứ hai và thứ hai chứa trong thứ ba, tạo thành một loạt các cấp độ lồng ghép với nhau Như vậy việc phân cấp này cũng là một cách phân loại và kết quả là bảng phân loại cảnh quan từ đó xây dựng bản đồ cảnh quan
c Zotano (Tây Ban Nha):
Đã đề xuất một quy trình chung để tích hợp giữa xác định các đơn vị cảnh quan và mô tả cảnh quan, dựa trên phương pháp phân tích đặc tính cảnh quan, đáp ứng nhu cầu thiết lập một cách tiếp cận phân cấp để phân tích một hiện tượng liên tục cảnh quan Khái niệm cốt lõi trong phân tích cảnh quan là đặc tính cảnh quan, một
mô hình đặc biệt và rõ ràng của các yếu tố luôn hiện diện trong một phần không gian nhất định, nói cách khác, những yếu tố phân biệt nó với một yếu tố khác Điều này hàm ý nhấn mạnh vào nội dung quan hệ của cảnh quan, được hình thành như một sự tương tác giữa con người và địa điểm, từ đó đưa ra một câu trả lời thực tế cho câu hỏi phân vùng cảnh quan thông qua phân tích có hệ thống các yếu tố tự nhiên và xã hội
và khớp nối lặp đi lặp lại bằng cách phân chia theo khu vực và loại Phân loại kết quả
Trang 38kết hợp các yếu tố cụ thể (mỗi khu vực là một môi trường có tên) hoặc thông tin trừu tượng (mỗi loại bao gồm một loạt các tính năng có liên quan đến các bối cảnh khác nhau) Sự phân biệt giữa không gian (khu vực) và chủ đề (loại) là quan trọng Các khu vực cung cấp một phân khu hài hòa của lãnh thổ trong các đơn vị dễ nhận biết; các loại cung cấp sự gắn kết theo chủ đề, tiết lộ tính đồng nhất có thể được giải quyết bằng một chính sách chung Các khu vực thường bắt nguồn từ nhận thức và công nhận tập thể, như được phản ánh bởi một tên địa danh ám chỉ, trong khi các loại là kết quả của tổng hợp hoặc cảm ứng, phản ánh các ảnh hưởng hoặc yếu tố chi phối trong một cảnh quan nhất định Tuy nhiên, trong thực tế, quy trình có xu hướng bỏ qua việc áp dụng nghiêm ngặt các đặc điểm này: đặc biệt ở các cấp độ nhỏ hơn, cụ thể hơn, các cân nhắc thực dụng (đạt được các đơn vị rõ ràng, dễ nhận biết) có xu hướng chiếm ưu thế so với phương pháp khái niệm thuần túy [19]
Một đề xuất toàn diện cho việc phân loại cảnh quan là phân loại dạng kim tự tháp xác định đặc tính của các loại cảnh quan và khu vực theo quy mô không gian và cấp độ khác nhau, phân loại cảnh quan dưới dạng cấu trúc đa bậc, hiển thị năm mức
tỷ lệ tham chiếu của nó Phương pháp này cung cấp một biểu thị trực quan có cấu trúc tốt về sự phức tạp của cảnh quan và cho thấy một số tính chất chỉ có thể được phát hiện ở các mức tỷ lệ nhất định Một phân loại lồng nhau như đề xuất cho phép khái niệm lãnh thổ như một bức tranh lặp trong tranh khảm Cần phải nhấn mạnh rằng chỉ trong những trường hợp tối ưu mới có thể đạt được toàn bộ phạm vi của mô tả đa bậc Trong hầu hết các nghiên cứu về cảnh quan, không nhất thiết phải suy ngẫm tất cả các cấp vì các phiên bản rút gọn của kim tự tháp có thể thực tế hơn tùy bối cảnh [19]
Cách tiếp cận dạng kim tự tháp cung cấp một biểu thị trực quan có cấu trúc tốt
về sự phức tạp của cảnh quan và cho thấy một số tính chất chỉ có thể được phát hiện
ở các mức tỷ lệ nhất định Sơ đồ cho thấy mức độ phụ thuộc giữa các biến cảnh quan khác nhau Một số ổn định hơn và tự quyết định, trong khi những người khác phụ thuộc rất nhiều Các thành phần tự nhiên (khí hậu, thạch học, địa mạo, thủy văn và sinh khí hậu) tương đối độc lập và xác định các thành phần sinh học (thảm thực vật, động vật hoang dã và đất) Sự phụ thuộc tăng lên khi chúng ta lên cao hơn trên kim
tự tháp, vì vậy các biến nằm ở trên cùng phụ thuộc vào những người hoạt động như nền tảng Các thủ tục xác định cảnh quan phải đặc biệt chú ý đến mô hình này khi xem xét hoạt động của con người Điều này có thể xảy ra ở tất cả các cấp vì tầm quan trọng của sự can thiệp của con người vào cảnh quan đã tăng liên tục trong lịch sử Theo truyền thống, hoạt động của con người có tác động ít phổ biến hoặc mạnh mẽ
Trang 39hơn đối với các thành phần độc lập hơn (khí hậu, địa chất) nhưng các ví dụ gần đây như biến đổi khí hậu, biến đổi nền do khai thác dầu khí hoặc vĩ mô hơn đang làm thay đổi quan điểm của chúng tôi về tiền đề này Ở đầu trên của kim tự tháp, ảnh hưởng của con người tăng lên, đặc biệt là trong các yếu tố do con người tạo ra, được sử dụng làm biến số trong quá trình (sử dụng đất, mô hình định cư, mạng lưới hạ tầng) và thường phụ thuộc nhiều nhất (Hình 1.2)
Phân tích chuyên gia
Sở hữu SDĐ
ĐV hiện tại
Mạng lưới dân cư
Khía cạnh thị giác
Phân tích đa biến Các đơn vị có liên
quan tới đặc trưng
ĐH, thạch học,
KH, TV-thổ nhưỡng
Đối tượng
sử dụng đất, tài nguyên khoáng sản
Phân tích chuyên gia Các đơn vị hành chính, đơn vị vùng tồn
tại từ lâu đời hay ranh giới được quy định bởi ngôn ngữ sử dụng
Danh mục kiểu đối tượng
Phân tích chuyên gia
Biên giới, ranh giới về mặt hành chính hoặc chính trị
Trang 401.3.2 Quy mô và tỷ lệ trong nghiên cứu cảnh quan
Phần lớn các nhà khoa học đều công nhận vai trò trung tâm của quy mô và tỷ
lệ trong các nghiên cứu, quan sát tự nhiên (Levin 1992, Schneider 1994, Peterson và Parker 1998) Những hoạt động trong các đơn vị tự nhiên mà Hutchinson (1965) đã gọi là "nhà hát sinh thái" (ecology theatre) được diễn ra trên nhiều khía cạnh quy mô không gian và thời gian khác nhau Để hiểu “những cảnh trong nhà hát này”, chúng
ta phải xem chúng trên một quy mô thích hợp "Vấn đề cấu trúc, quy mô và tỷ lệ là vấn đề trọng tâm trong sinh thái cảnh quan, kết hợp sinh thái học cơ bản và ứng dụng Những thách thức trong ứng dụng kết quả đòi hỏi xem xét sự giao thoa của các hiện tượng xảy ra ở các quy mô khác nhau về không gian, thời gian và cấu trúc sinh thái Hơn nữa, không có hiện tượng sinh thái cảnh quan nào có thể được nghiên cứu chỉ tại một quy mô riêng lẻ mà thông thường các đặc tính của cảnh quan thay đổi mạnh
mẽ về quy mô không gian, thời gian và cách thức tự tổ chức của chúng" (Levin 1992)
Marceau (1999) định nghĩa quy mô là kích thước không gian mà tại đó các thực thể, mô hình và quy trình có thể được quan sát và mô tả Nếu chúng ta sử dụng khung tương đối, tỷ lệ sẽ trở thành cửa sổ nhận thức, bộ lọc hoặc công cụ đo lường
mà qua đó nhà nghiên cứu chọn để xem không gian; về bản chất nó được liên kết với các thực thể không gian, mô hình, hình thức, chức năng và quy trình Nhiều nghiên cứu đã nhận ra rằng cảnh quan không chỉ được thu nhỏ trong không gian mà còn theo thời gian Wu (1999) nhấn mạnh rằng các quá trình khác nhau có xu hướng chiếm ưu thế trong các lĩnh vực và quy mô đặc biệt theo thời gian và không gian, cần phải ngoại suy thông tin từ thang đo này sang thang đo khác; do đó, cách tiếp cận đa bậc là không thể tránh khỏi và là cách tiếp cận khả dĩ nhất [27]
Để hiểu rõ vai trò của quy mô, tỷ lệ trong nghiên cứu cảnh quan trong bối cảnh công nghệ GIS đã có nhiều phát triển, khả năng ứng dụng trong nghiên cứu, đời sống được mở rộng cần xem xét các khía cạnh sau: