Trên thực tế, những người làm truyền thông, Quan hệ công chúng trên thế giới đã sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội như Facebook để truyền các thông điệp đến với công chúng.. Do
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xuất hiện ở Việt Nam từ những năm cuối của thế kỷ XX, nghề Quan hệ công chúng đang dần trở thành một trong những ngành nghề được nhiều người quan tâm và đóng góp không nhỏ và sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam
Cùng với những đổi mới của đất nước trong nhiều lĩnh vực, ngành Quan
hệ công chúng đã có những bước tiến để chứng minh vai trò và sự cần thiết của mình đối với hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước Dù vẫn còn là một ngành nghề rất mới nhưng với tính chất năng động, sáng tạo, ngành Quan hệ công chúng nói chung đã gặt hái được nhiều thành công, được xã hội đánh giá cao Trong những năm gần đây, nghề Quan hệ công chúng trở thành một nghề “nóng” trên thị trường Nghề Quan hệ công chúng được báo chí trong nước xếp hạng là một trong mười nghề “nóng” nhất năm 20071
Những người hoạt động trong lĩnh vực này được đào tạo và rèn luyện ngày một tốt hơn, các công cụ Quan hệ công chúng được ứng dụng ngày một linh hoạt và hiệu quả hơn
Cùng với sự chuyên nghiệp ngày một được nâng cao của ngành Quan hệ công chúng, các tổ chức và doanh nghiệp cũng dần nhận thức được rõ hơn tầm trong trọng của việc xây dựng thương hiệu và hình ảnh của mình Đây có thể coi là một dấu hiệu rất đáng mừng cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành Quan hệ công chúng trong tương lai ở Việt Nam
Một trong những yếu tố rất quan trọng có tác động không nhỏ đến nhiều lĩnh vực trong xã hội, trong đó có ngành Quan hệ công chúng là sự phát triển như vũ bão của Internet và các thiết bị khoa học kỹ thuật Trong cuốn sách
“Tiếp thị số: Hướng dẫn thiết yếu cho truyền thông mới và Digital
1
PGS TS Đinh Thị Thúy Hằng (chủ biên), Ngành PR tại Việt Nam, NXB Lao động – Xã hội, 2010, tr28
Trang 2Marketing” của tác giả Kent Wertime và Ian Ferwick (Tín Việt dịch) có đưa
ra thông tin: “Điện thoại mất 35 năm tiếp cận 25% dân số Mỹ, truyền hình mất 26 năm, phát thanh 22 năm, điện thoại dị động mất 13 năm Còn Internet thì sao? Chỉ mất 7 năm, trên toàn cầu đã có khoảng hơn 1,6 tỷ người truy cập vào mạng Internet tính đến tháng 8 năm 2009, chiếm 24,7% dân số, tốc độ tăng trưởng là 362,3% từ năm 2000 đến năm 2009 Tại Việt Nam, số người sử dụng Internet đã lên đến gần 20 triệu, chiếm ¼ dân số quốc gia”2 Đây thực sự
là một con số kỷ lục, đánh dấu sự phát triển vô cùng nhanh chóng của Internet
Đặc biệt, gần đây, các trang mạng xã hội, diễn đàn, đặc biệt là Facebook thu hút được hàng triệu người Việt Nam tham gia mỗi ngày đã tạo ra một xu hướng mới trong truyền thông Trở lại bài toán trên, các phương tiện thông tin truyền thông mất bao lâu để tiếp cận với thế giới? Truyền hình, phát thanh, hay internet… tất cả đều được tính bằng năm Nhưng riêng Facebook, chỉ trong gần 9 tháng đã có 100 triệu người sử dụng Nếu mạng Facebook là một quốc gia thì nó sẽ có số dân đứng thứ tư thế giới: (1) Trung Quốc, (2) Ấn Độ, (3) Hoa Kỳ, (4) Facebook, (5) Indonesia, (6) Brazil, (7) Pakistan, (8) Bangladesh…3
Có thể thấy rằng các trang mạng xã hội nói chung và Facebook nói riêng
có thể tiếp cận với đông đảo người dân ở khắp các quốc gia trên thế giới, tạo
ra một cộng đồng lớn, kết nối nọi người, bất kể không gian, thời gian Thêm vào đó, đứng trước những đòi hỏi về chi phí, hiệu quả, các chuyên gia marketing hiểu rằng họ cần tìm ra những công cụ tiếp thị mới với chi phí hợp
lý nhưng đem lại kết quả tuyệt vời Vậy tại sao những người làm truyền thông, Quan hệ công chúng – những người làm nhiệm vụ kết nối tổ chức,
Trang 3(http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-doanh nghiệp với công chúng – lại không tận dụng những công cụ này để phục vụ cho chính ngành nghề của mình?
Trên thực tế, những người làm truyền thông, Quan hệ công chúng trên thế giới đã sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội như Facebook để truyền các thông điệp đến với công chúng Tuy nhiên, ở Việt Nam, khi Quan
hệ công chúng vẫn còn là khái niệm mới thì việc sử dụng Facebook vào chuyên môn nghề nghiệp vẫn chưa thực sự được đầu tư và áp dụng hiệu quả
Do vậy, nghiên cứu về cách thức sử dụng trang mạng Facebook cho kế hoạch Quan hệ công chúng của các doanh nghiệp sẽ là một đề tài mang tính thực tiễn cao, giúp người làm Quan hệ công chúng có thêm nguồn tài liệu tham khảo và các ý tưởng phục vụ cho việc phát triển thương hiệu và hình ảnh của công ty trên phương tiện truyền thông xã hội rộng lớn này
2 Lịch sử nghiên cứu
Facebook thực sự là một công cụ giúp ích hiệu quả cho truyền thông, đã
có một số tác giả có những bài viết và nghiên cứu bước đầu về cách thức Facebook tác động đến công chúng, tác động đến truyền thông; và những phương pháp để truyền thông tận dụng Facebook Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào mang tính hệ thống và chi tiết về đề tài này
Đã có rất nhiều cuốn sách và bài báo nói về thành công của Facebook, nói về ảnh hưởng của nó trên thế giới Cũng viết về Facebook, trong cuốn sách “Hiệu ứng Facebook và Cuộc cách mạng toàn cầu của mạng xã hội” (Tùng Linh, Nguyễn Linh Giang, Hoàng Ngọc Bích dịch, 2011, NXB Thế giới), tác giả David Kirpatrick – phóng viên kỳ cựu về công nghệ của tạp chí Fortune đã đi sâu vào miêu tả, phân tích về ảnh hưởng và chiến lược của Facebook trong đời sống xã hội Thông qua cuốn sách này, tác giả cho chúng
ta thấy quá trình phát triển không ngừng nghỉ của mạng xã hội này từ khi nó được thai nghén ý tưởng và từng bước đạt được thành công ngày hôm nay, cũng như Facebook ảnh hưởng tới cuộc sống của chúng ta như thế nào Hơn thế nữa, cái nhìn của ông về cách Facebook sử dụng quyền lực và ảnh hưởng
Trang 4của nó mà vẫn làm hài lòng 350 triệu người dùng thường xuyên vô cùng thú
vị và đáng quan tâm
Tác giả Robert L.Dilenschneider (Mỹ) đã nghiên cứu về PR trong thế
giới công nghệ số trong cuốn sách: “Leveraging PR in the Digital World” –
“PR theo kiểu Mỹ, thúc đẩy PR trong thế giới công nghệ số” (Trương Thủy
Anh, Ngô Hương Lan dịch), NXB Lao động xã hội, 2011 Cuốn sách mang
đến một cái nhìn tổng quan về những biến đổi của thế giới kinh doanh, thế
giới công nghệ số trong thời gian gần đây Đồng thời, đem đến những chiến
lược tinh vi, thức thời, hướng dẫn cho các chuyên gia marketing, PR những
cách thức kết hợp hiệu quả truyền thông cổ điển với truyền thông hiện đại dựa
trên nền tảng website, nhờ đó truyền tải thành công thông điệp của doanh
nghiệp đến với khách hàng, bảo vệ khách hàng và doanh nghiệp trước những
tấn công nguy hại của thế giới công nghệ số
Cuốn sách “Quy luật mới của PR và tiếp thị” được dịch từ bản tiếng anh
The New Rules of Marketing and PR: How to Use News Relesases, Blogs,
Podcasting, Viral Marketing and Online Media to Reach Buyers Directly của
tác giả David Meerman Scott Trong đó, tác giả chỉ ra rằng: Internet đã thay
đổi sâu sắc cách mọi người giao tiếp và tương tác với nhau Nó cũng thay đổi
cách mọi người thương thảo trong công việc, làm ăn với khách hàng hiện tại
và tiềm năng Trước đây, giới PR và tiếp thị chỉ có thể truyền tải những thông
điệp của mình thông qua những phương tiện truyền thông truyền thống
Nhưng ngày nay, Internet đã thay đổi hoàn toàn luật chơi Cụ thể hơn, tác giả
có bàn tới sự ảnh hưởng của mạng cộng đồng và hoạt động tiếp thị, trong đó
có My Space, Friendster, Facebook… và cách thức để tối ưu hóa hiệu quả của
các trang cộng đồng, dựa trên nền tảng những quy luật mới của PR và tiếp thị Nhận thấy xu thế và sự hoạt động hiệu quả của Facebook tại Việt Nam,
báo chí cũng đang vào cuộc và tìm hiểu sự phát triển của mạng xã hội nói
chung và Facebook nói riêng Báo Doanh nhân Sài Gòn số 162 (28/9 –
4/10/2011), trang 29, có bài viết: “Vương quốc mới của Facebook” của tác
Trang 5giả Hoàng Hà Bài viết đưa ra những con số ấn tượng về sự phát triển của Facebook và dự đoán một tương lai mới cho mạng xã hội lớn nhất thế giới này
Trên Doanh nhân Sài Gòn số 187 (4 – 10/4/2012), trang 17, tác giả Minh Hào có bài viết: “Mạng xã hội thay đổi PR?” với những nhận định của nhiều chuyên gia về sự phát triển của PR và truyền thông gắn liền với các phương tiện truyền thông xã hội Bên cạnh đó đưa ra lời khuyên cho các doanh nghiệp khi sử dụng PR và mạng xã hội để truyền thông hiệu quả
Các nhà làm marketing và truyền thông tại Việt Nam cũng đã bắt đầu đi sâu vào nghiên cứu định lượng về Facebook Tháng 5/2011, Tác giả Nguyễn Thành Long và Đoàn Duy đã phân tích 155 Fanpage trên Facebook tại Việt Nam trong nghiên cứu mang tên: “Góc nhìn cá nhân về việc sử dụng Fan Page và Cuộc thi trên Facebook tại Việt Nam – 2011” Nghiên cứu đã nghiên cứu từ rất nhiều góc độ khác nhau: số lượng post lên các wall, nội dung, thời gian của các post của tất cả các Fanpage, tìm hiểu về các cuộc thi trên Facebook và mức độ hiệu quả của các cuộc thi này Từ đó, hai tác giả đưa ra những cách thức xây dựng nội dung, đặc biệt là các cuộc thi trên Facebook để tạo được hiệu ứng tốt nhất Đây là một trong những nghiên cứu kỳ công nhất
về Facebook tại Việt Nam của các tác giả Việt Nam Tuy nhiên vẫn còn mang những quan điểm và nhận định của cá nhân tác giả
Icrossing là một công ty tiếp thị công nghệ số toàn cầu của Mỹ Công ty này đã từng làm việc với các thương hiệu đẳng cấp thế giới như Coca Cola, HBOS, TUI hay Virgin… Ông Antony Mayfield, Phó Giám đốc phụ trách nội dung và truyền thông của công ty iCrossing đã có rất nhiều nghiên cứu khách nhau về đề tài mạng xã hội Cuốn eBook của ông mang tên “What is Social Media?” mang đến một cái nhìn tổng quan của một người làm truyền thông
kỹ thuật số về các phương tiện truyền thông xã hội, trong đó có Facebook, My Space, Blog… Đó là những đặc điểm chung nhất về truyền thông xã hội và cách thức hoạt động, vận hành của các mạng xã hội đang phát triển trên thế
Trang 6giới hiện nay Đây thực sự là nguồn tài liệu thực tiễn rất hữu ích cho người làm PR tham khảo
Michael A Stelzner (Mỹ) – người sáng lập, giám đốc điều hành của Social Media Examiner – một trong những blog của doanh nghiệp lớn nhất thế giới với hơn 450,000 người đọc mỗi tháng Ông cũng đã từng nghiên cứu
và viết một số cuốn sách về kinh doanh và tìm hiểu về mạng xã hội Mới đây, tháng 4/ 2011, ông đã thực hiện một nghiên cứu với 3300 người làm marketing trên toàn thế giới để tìm hiểu về mức độ đánh giá, quan tâm cũng như cách thức những người làm truyền thông sử dụng công cụ truyền thông
xã hội: 2011 Social Media Marketing Industry Report (How Marketers Are Using Social Media to Grow Their Businesses) Nghiên cứu đưa ra những con
số cụ thể, minh chứng cho sự phát triển của các mạng xã hội, mức độ và sự lựa chọn phương tiện truyền thông xã hội của những người làm marketing và truyền thông chuyên nghiệp Từ đó, đưa ra những kết luận làm sao để sử dụng những công cụ này một cách hiệu quả nhất
Trước đó, năm 2008, hai tác giả Donald K Wright & Michelle D Hinson cũng thực hiện một nghiên cứu mang tên “How Blogs and Social Media are Changing Public Relations and the Way it is Practiced” (Tạm dịch:
“Blogs và truyền thông xã hội thay đổi PR như thế nào, cách thức ra sao?”) Nghiên cứu này được tiến hành trên quy mô quốc tế với những người làm PR
để tìm hiểu tác động của blogs và các công cụ truyền thông xã hội đối với thực tiễn ngành PR Kết quả cho thấy, blogs và các phương tiện truyền thông
xã hội giúp tăng cường các hoạt động PR, những phương tiện này và chu trình truyền thông truyền thống bổ sung lẫn nhau Sự xuất hiện của blogs và các phương tiện truyền thông xã hội đã làm thay đổi cách thức giao tiếp
“The Essential Guide to Social Media” là cuốn ebook của tác giả Brian Solis Cuốn sách có thể coi là cẩm nang của người làm PR, truyền thông và marketing để khai thác tốt công cụ truyền thông xã hội Trong đó, tác giả đưa
ra các kiến thức chung về truyền thông xã hội, vạch ra các bước và cách thức
Trang 7thực hiện các hoạt động truyền thông trên các kênh này, nhằm thúc đẩy sự phát triển của thương hiệu Trong đó, tác giả có đề cập tới vấn đề ảnh hưởng của cá nhân đối với truyền thông trên các phương tiện truyền thông xã hội Facebook không còn xa lạ trên thế giới, thậm chí còn trở thành một cái tên được đề cập đến rất nhiều trong thời gian gần đây và có khả năng cạnh tranh, trở thành đối thủ rất lớn với Google Tuy nhiên việc sử dụng Facebook nói riêng và mạng xã hội nói chung trong truyền thông chỉ mới được đề cập
và khai thác ở mức độ tổng quan và dừng lại ở mức độ đánh giá hiệu quả
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành nhằm tìm hiểu và đánh giá những cách thức giới truyền thông và Quan hệ công chúng ở Việt Nam hiện nay đang khai thác
công cụ Facebook nói riêng và mạng xã hội nói chung
Nhiệm vụ cụ thể của nghiên cứu là đưa ra những nét khái quát nhất về truyền thông xã hội và Facebook, phân tích và tổng hợp những thông tin về việc sử dụng Facebook của các doanh nghiệp tại Việt Nam Từ đó rút ra bài học, kết hợp với lấy ý kiến tư vấn của các chuyên gia trong lĩnh vực này để đưa ra được những phương pháp hiệu quả nhất nhằm sử dụng Facebook trong truyền thông và hỗ trợ cho các hoạt động Quan hệ công chúng
4 Phương pháp nghiên cứu
Tài liệu thứ cấp: Vì đây là một đề tài mới và chưa có nhiều tài liệu chính
thức để tham khảo, nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc phân tích và tổng hợp các tài liệu của một số nhà nghiên cứu nước ngoài và Việt Nam, đưa ra những thông tin tổng quan về đặc điểm chung, sự hình thành và phát triển của mạng
xã hội nói chung và Facebook nói riêng Cùng với đó là một vài cách thức, hoạt động tiêu biểu của các doanh nghiệp trên thế giới (Giorgio Armani) và Việt Nam đang sử dụng các công cụ này trong hoạt động PR của mình
Cụ thể hơn, nghiên cứu đi vào khảo sát một số kế hoạch PR trên Facebook đã được thực hiện tại Việt Nam: Techcombank, Sunsilk Việt Nam, Ford Fiesta Từ đó đưa ra những nhận định về những thành công và hạn chế trong việc ứng dụng Facebook vào PR của những doanh nghiệp này
Trang 8Tài liệu sơ cấp: Đan xen với việc phân tích các trường hợp cụ thể, sẽ là
những ý kiến của các chuyên gia, những người có uy tín, có kinh nghiệm trong lĩnh vực truyền thông, PR Người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu
và phỏng vấn qua email (thư điện tử) các chuyên gia và dựa vào những nhận định, đánh giá của họ để khai thác sâu hơn các khía cạnh của PR trên Facebook
Nhằm đưa ra những giải pháp đề xuất giúp nâng cao hiệu quả sử dụng Facebook trong PR tại Việt Nam, một khảo sát nhỏ được thực hiện nhằm thăm dò thói quen sử dụng Facebook của người dùng ở Việt Nam, giúp các doanh nghiệp có cái nhìn chung nhất về công chúng mục tiêu trên Facebook của mình Phiếu điều tra được thiết kế với 10 câu hỏi xoay quanh vấn đề thời gian sử dụng Facebook của đối tượng và những nhận định, phản ứng của họ
về các trang Fanpage, Group hiện nay
Phương thức chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản thông qua mối quan hệ của người nghiên cứu trên mạng xã hội Facebook
Bảng hỏi được đưa lên trang cá nhân của người nghiên cứu trên Facebook và mời bạn bè của người nghiên cứu tham gia trả lời Những người được mời là bất kỳ người nào trong danh sách bạn bè (có cả những người quen và không quen)
5 Đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài
Có thể nói, những cơ sở khoa học về truyền thông xã hội ở Việt Nam chưa có nhiều, bởi vậy, việc áp dụng những kiến thức về lĩnh vực này trong hoạt động thực tế của ngành truyền thông nói chung và PR nói riêng chưa đi vào bài bản và chưa thực sự đạt được hiệu quả như mong muốn
Nghiên cứu đề tài về Facebook và ứng dụng của Facebook trong thực tiễn, tác giả mong muốn đây sẽ là một trong những nghiên cứu đầu tiên về mạng xã hội này ở Việt Nam, có thể giúp ngành truyền thông hoàn thiện mảng kiến thức về lĩnh vực còn rất mới này
Trang 9CHƯƠNG 1
TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI – CÔNG CỤ HIỆU QUẢ
CỦA QUAN HỆ CÔNG CHÚNG
1.1 Tổng quan về Quan hệ công chúng
Quan hệ công chúng: hay thường được biết tới với tên gọi PR (tên gọi tắt
từ tiếng Anh “Public Relations” Hiện nay, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về Quan hệ công chúng, và vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất nào cho thuật ngữ này
Trong bài báo “Xây dựng một định nghĩa về PR” đăng trên tạp chí Public Relations Review của Mỹ, nhà nghiên cứu Rex Harlow đã tìm thấy
472 định nghĩa khác nhau về PR được đưa ra trong khoảng thời gian từ năm
1900 – 1976 Chính ông cũng đưa ra một định nghĩa về Quan hệ công chúng:
“PR là một chức năng quản lý đặc trưng nhằm giúp thiết lập và duy trì dòng thông tin, sự hiểu biết, chấp nhận và hợp tác hai chiều giữa một tổ chức và công chúng của tổ chức đó, bao gồm việc quản lý vấn đề hoặc rắc rối; giúp bộ phận quản lý có được thông tin và đáp ứng dư luận công chúng; xác định và nhấn mạnh trách nhiệm của bộ phận quản lý để phục vụ lợi ích công chúng; giúp các nhà quản lý bám sát và giải quyết hiệu quả những đổi thay; phục vụ như một hệ thống cảnh báo sớm để giúp đối phó với những xu thế; và sử dụng nghiên cứu các kỹ năng truyền thông, coi đạo đức nghề nghiệp như là một công cụ có tính nguyên tắc của nghề.”4
Điều lệ của viện Quan hệ công chúng (Chartered Institute of Public Relations – CIPR) định nghĩa: “Quan hệ công chúng là những nỗ lực được lập
kế hoạch và duy trì nhằm thiết lập và duy trì thiện chí và sự hiểu biết lẫn nhau giữa một tổ chức và công chúng của nó”.5
Trang 10F.C Jefkins cũng đưa ra một định nghĩa khác về PR năm 1994: “Quan
hệ công chúng là nghệ thuật và khoa học xã hội của sự phân tích các xu thế,
dự đoán những diễn biến tiếp theo, cố vấn các nhà lãnh đạo của các tổ chức, thực hiện các kế hoạch hành động nhằm phục vụ lợi ích của tổ chức đó lẫn công chúng.”6
Xét một cách tổng quát, có thể hiểu Quan hệ công chúng theo một cách
dễ hiểu: “PR là việc quản lý truyền thông để xây dựng, duy trì mối quan hệ tốt đẹp và sự hiểu biết lẫn nhau giữa một tổ chức, một cá nhân, tạo ra hình ảnh và thông tin tích cực với mục đích quảng bám gây ảnh hưởng có lợi trong công chúng của họ”.7
1.2 Tổng quan về truyền thông xã hội
1.2.1 Truyền thông xã hội là gì?
Truyền thông xã hội phát triển chỉ mới mạnh mẽ trên toàn thế giới mới bắt đầu từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước Cũng đã có khá nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về định nghĩa cho truyền thông xã hội, tuy nhiên chưa có một định nghĩa thống nhất nào cho thuật ngữ này Một số quan niệm được đưa ra và được nhiều người chấp nhận:
Cuốn sách Thuật ngữ Quan hệ công chúng (Key concepts in Public Relations) của tác giả Sandra Cain định nghĩa về truyền thông xã hội:
“Truyền thông xã hội là một thuật ngữ chung cho các hoạt động kết hợp việc
sử dụng các công nghệ và tương tác xã hội.”
Antony Mayfield thì cho rằng: “Phương tiện truyền thông xã hội được hiểu như là một nhóm mới của loại phương tiện truyền thông trực tuyến, chia
sẻ hầu hết hoặc tất cả các đặc điểm sau đây”8: Khuyến thích mọi người tham gia (Participation), mang tính cởi mở (Openness), sự trò chuyện tương tác (Conversation), tính cộng đồng (Community), sự liên kết (Connectedness)
Trang 11Truyền thông xã hội (Social Media) là những sản phẩm truyền thông (tin, bài, hình ảnh, video clips…) do người dùng tạo ra và xuất bản trên Internet thông qua các mạng xã hội hay các diễn đàn, các blog…
Truyền thông xã hội bao gồm: diễn đàn internet, bảng tin, nhật ký web, wikis, podcasts, hình ảnh, video, Twitters”
Có thể thấy rằng mạng xã hội được định nghĩa dựa trên cách thức hoạt động, lan truyền và những đặc điểm của nó Đơn giản, có thể hiểu rằng: mạng
xã hội là những hoạt động được thực hiện trên mạng xã hội, dưới sự hỗ trợ của internet và công nghệ, tạo nên sự tương tác và tính cộng đồng cao giữa người dùng
1.2.2 Sự ra đời và phát triển của truyền thông xã hội
Với lịch sử phát triển khoảng 30 năm, truyền thông xã hội không phải là một lĩnh vực quá mới mẻ, nhưng chỉ mới được ứng dụng trong kinh doanh và truyền thông cho một thời gian rất ngắn Gần như chỉ vài năm trở lại đây, người dân mới được sử dụng các phương tiện truyền thông kỹ thuật số cho xã hội hóa và thu thập thông tin
1978 Sự ra đời của truyền thông xã hội đánh dấu bằng việc Ward
Christensen và Randy Suess, hai anh chàng đam mê máy tính phát minh ra Hệ thống Bảng thông tinh máy tính (Computerized Bulletin Board System – BBS) với chức năng thông báo cho bạn
bè về các cuộc hội họp, các thông tin và chia sẻ thông tin
1993 Sinh viên của trường đại học Illinois tại Urbana – Champaign
phát triển Mosaic, trình duyệt được xem là làm nên sự ra đời của World Wide Web, cũng chính là các trang web như chúng ta thấy ngày nay
Cùng năm đó, Beverly Hills Internet cho ra đời GeoCities, dịch
vụ cho phép người dùng tự tạo ra website của riêng mình
Trang 121994 Internet được gọi là “Siêu xa lộ thông tin” (Information
Superhighway)
1995 Mốc đánh dấu của sự phát triển của Internet với một triệu
website trên toàn cầu
1997 GeoCities vượt qua con số một triệu thành viên
Ra đời AIM (AOL Instant Messenger), một chương trình trò chuyện trực tuyến được phát hành bởi AOL – một công ty chuyên cung cấp dịch vụ Internet toàn cầu
Blog – nhật ký điện tử bắt đầu hoạt động Google ra đời trong năm này
1998 GeoCites được sử dụng rộng rãi trên thế giới
Friends Rounited – mạng xã hội đầu tiên được phổ biến Friends Rounited được thành lập ở vương quốc Anh, giúp kết nối những người bạn học cũ
Yahoo mua GeoCities với giá 3.57 triệu đô la
Ra đời dịch vụ viết nhật ký điện tử
Vụ “nổ bong bóng dot.com” và khiến người ta nghi ngờ ở sự phát triển của Internet trong tương lai
2000 70 triệu máy tính được kết nối Internet Trang mạng xã hội
Friendster ra đời Trang này phát triển tới mức 3 triệu người sử dụng trong 3 tháng Số người sử dụng của Friendster đạt đến đỉnh cao năm 2008
MySpace ra đời
Linden Lab giới thiệu thế giới ảo, thế giới thứ hai (Second Life) LinkedIn ra đời, trở thành một mạng xã hội cho các chuyên gia Facebook ra đời dành cho sinh viên trường Harvard Nó giống
Trang 13như phiên bản của Friendster của trường đại học Một nhà đầu tư giấu tên đã đề nghị trả 10 triệu đô la cho Zuckerberg để mua nó, nhưng ông từ chối
Digg ra đời là một trang thông tin xã hội, mọi người có thể chia
sẻ các nội dung từ mọi nơi lên trang này
Một trang mạng xã hội khác: Bebo, từ viết tắt của Blog Early, Blog Often (tạm dịch: viết nhật ký điện tử sớm và thường xuyên)
ra đời
Viacom đề nghị mua Facebook với giá 75 triệu đô la và Facebook lại từ chối Trang này bắt đầu xâm nhập vào các trường cấp 3
Friends Reunited có 15 triệu thành viên, và được bán cho công ty truyền hình Anh ITV
YouTube bắt đầu lưu trữ và tìm kiếm các videos
MySpace trở thành trang mạng xã hội phổ biến nhất nước Mỹ
2006 Viacom tiếp tục đề nghị mua Facebook với giá 1.5 tỷ đô la,
nhưng lại thất bại Yahoo cũng cố gắng mua Facebook với 1 tỷ
đô và cũng bị từ chối Facebook mở rộng thành viên với tất cả mọi người trên 13 tuổi và ra mắt Facebook Platform, dịch vụ cho phép một bên thứ ba tạo một ứng dụng trên trang này
Google đạt được 400 triệu lượt tìm kiếm mỗi ngày
Twitter ra đời
MySpace cho ra đời Beacon, một hệ thống quảng cáo cho biết hoạt động mua của người dùng MoveOn.org và nhiều người khác phản đối, cho đó là một hành động xâm lược quyền tự do
Trang 14riêng tư Beacon đã kết thúc năm 2009
Google đề nghị mua Facebook với giá 15 tỷ đô la
Apple ra mắt iPhone
2008 Facebook được xếp hạng là mạng xã hội có nhiều người dùng
nhất trên toàn thế giới với hơn 200 triệu người sử dụng Lượt truy cập trang này gấp đôi MySpace
Bebo được mua bởi AOL Facebook cỗ gắng mua Twitter với giá 500 triệu đô la Tumblr ra đời
2009 Twitter nổi bật với những thông tin cập nhật liên tục về vụ máy
bay rơi xuống sông Hudson
“Unfriend” được chọn là từ điển New Oxford Mỹ chọn là “từ của năm”
Microsoft cho ra đời Bing để cạnh tranh với Yahoo và Google ITV bán trang không thành công là Friends Reunited cho Công
ty TNHH Brightsolid
Facebook đạt tới hơn 400 triệu người sử dụng, vượt qua lượt truy cập của Google hàng tuần
MySpace giảm xuống còn 57 triệu người dùng
2010 Để cạnh tranh với Facebook và Twitter, Google cho ra đời Buzz,
một trang mạng xã hội tích hợp với Gmail, trong tuần đầu tiên, hàng triệu người sử dụng Gmail đã tạo nên 9 triệu lượt đăng tải AOL bán Bebo cho đối tác tài chính Criterion
Apple giới thiệu iPad
Số người sử dụng Internet ước tính là 1.97 tỷ, gần 30% dân số toàn cầu
Internet vượt qua báo in và trở thành phương tiện chính mà người Mỹ nắm bắt thông tin Là nền tảng thông tin thứ 3 với
Trang 15nhiều người sử dụng truyền thông xã hội và nguồn dữ liệu cá nhân để thu thập thông tin
2011 MySpace và Bibo được thiết kế lại và cập nhật để cạnh tranh với
Facebook và Twitter đang rất thành công
Facebook đạt được doanh thu 3.7 tỷ đô la hàng năm Apple giới thiệu một mạng xã hội âm nhạc là Ping News Corp bán MySpace cho hãng truyền thông điện tử Specific Media với giá 35 triệu đô la
Có hơn 550 triệu người sử dụng Facebook, 65 triệu người
“tweet” qua Twitter mỗi này và 2 tỷ lượt người xem video mỗi ngày trên YouTube
LinkedIn có 90 triệu chuyên gia sử dụng và trở nên phổ biến Tumlr đạt tới mức 1 tỷ người xem mỗi tháng, 2 triệu người đăng tin mỗi này và dự kiến sẽ bắt đầu có doanh thu
Pinterest ra đời như một trang tìm kiếm nội dung
2012 LinkedIn trở thành kênh truyền thông xã hội phổ biến thứ hai ở
Mỹ với 33.9 triệu người xem mỗi tháng, Twitter cung cấp 33 tỷ Tweets mỗi ngày
Google + ra đời Pinterest hướng nhiều người truy cập đơn lẻ hơn LinkedIn, YouTube và Google +, đạt 10 triệu người truy cập mỗi tháng, nhanh hơn bất kỳ trang đơn lẻ nào
Pinterest cạnh tranh với Snip.it mới ra mắt Facebook đặt lưu trữ tại IPO và dự định tăng lên 10 tỷ đô la vào thời gian bán cổ phiếu và đầu năm, giá trị của công ty khoảng 75 đến 100 tỷ đô la, niêm yết trên sàn chứng khoán
Twitter đạt được 12,233 tweets mỗi giây trong Super Bowl Trong vòng 34 năm, rất nhiều sự thay đổi đã diễn ra trong lĩnh vực truyền thông xã hội, tạo ra những xu thế và trào lưu mới trong truyền thông
Trang 161.2.3 Đặc điểm của truyền thông xã hội
Như đã đề cập ở trên, truyền thông xã hội hội bao gồm những đặc điểm sau đây: Khuyến thích mọi người tham gia (Participation), mang tính cởi mở (Openness), sự trò chuyện tương tác (Conversation), tính cộng đồng (Community), sự liên kết (Connectedness)
Tham gia (Participation)
Phương tiện truyền thông xã hội khuyến khích các đóng góp và phản hồi
từ tất cả mọi người quan tâm Nó làm mờ ranh giới giữa các phương tiện truyền thông và khán giả
Cởi mở (Openness)
Hầu hết các dịch vụ truyền thông xã hội được mở để phản hồi và tham gia, khuyến khích mọi người biểu quyết, đóng góp ý kiến và chia sẻ thông tin Rất hiếm khi có rào cản đối với việc truy cập và sử dụng nội dung
Trò chuyện (Conversation)
Trong khi các phương tiện truyền thông truyền thống về "phát sóng" (truyền thông một chiều, gần như là phân phối đến khán giả), truyền thông xã hội là ưu việt hơn, được xem như là một cuộc đối thoại hai chiều
Tính cộng đồng (Community)
Phương tiện truyền thông xã hội cho phép hình thành nên cộng đồng một cách nhanh chóng và giao tiếp hiệu quả Cộng đồng chia sẻ lợi ích chung, chẳng hạn như tình yêu nhiếp ảnh, một vấn đề chính trị hoặc một chương trình truyền hình yêu thích
Sự liên kết (Connectedness)
Hầu hết các loại phương tiện truyền thông xã hội phát triển mạnh dựa vào tính liên kết của chúng, làm cho việc sử dụng các liên kết khác các trang web, tài nguyên và con người
Hơn hết, cần hiểu rằng, truyền thông xã hội thực sự là một phương tiện truyền thông hai chiều ưu việt Nguồn phát và nhận tin hoàn toàn bình đẳng với nhau, tạo ra những giao tiếp hiệu quả
Trang 17Tác giả Antoni Mayfield có phát biểu rất hay, giúp nhận định rõ nét hơn
về mạng xã hội: “Cách tốt nhất để nghĩ về mạng xã hội là nó thực sự giống như con người Chia sẻ ý tưởng, phối hợp và cộng tác để sáng tạo nghệ thuật, suy nghĩ về giao tiếp, tranh luận và diễn thuyết sôi nổi, tìm những người bạn, người đồng minh tốt và cả những người yêu thương Đó chính là thế giới văn minh mà loài người đang xây dựng Đó là lý do tại sao mạng xã hội đang phát triển vô cùng nhanh chóng, không chỉ vì nhờ có công nghệ cao mà vì nó khiến chúng ta là chính mình, chỉ vậy thôi.”9
1.2.4 Sự phát triển của truyền thông xã hội trong truyền thông trên thế giới
Xu hướng sử dụng mạng xã hội để tiếp thị, bán hàng ở nước ngoài rất phổ biến Phó giáo sư Marc Divine (trường IEA Paris) người có nhiều năm nghiên cứu về mạng xã hội, đã tiến hành khảo sát với 200 công ty quốc tế như IBM, L‟Oreal, Unilever Kết quả cho thấy, hơn một nửa trong số các công ty này đã sử dụng mạng xã hội làm công cụ trong hoạt động tiếp thị Còn tại Mỹ
có 70,3% doanh nghiệp dùng Facebook để quảng cáo, 58% dùng Linkedin, 40% dùng Twitter và 26,8% dùng Youtube.10
Michaela Stelzner thực hiện một nghiên cứu với 3300 người làm marketing trên thế giới, 90% trong số họ nói rằng truyền thông xã hội rất quan trọng với doanh nghiệp của họ11
Một khảo sát khác thực hiện dựa trên phần trả lời của 259 hồ sơ đăng ký tham gia bình chọn Top 50 nữ doanh nhân có doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất do Tổ chức Những nữ Chủ tịch (Women Presidents' Organization)
tổ chức cho kết quả như sau:
Tuy 40% người được hỏi nói rằng họ chưa thấy có sự cải thiện doanh thu
từ truyền thông xã hội nhưng 30% lại tỏ ra rất “kỳ vọng” khi nêu ra những lợi
Trang 18ích như tạo dựng uy tính, củng cố các nỗ lực tuyển dụng Chỉ có 16% trả lời là không sử dụng truyền thông xã hội
4 trong số 10 nữ doanh nhân được hỏi cho rằng những nỗ lực truyền thông xã hội đã góp phần làm tăng doanh thu cho doanh nghiệp của họ, trong
đó 10% trong số này khẳng định truyền thông xã hội tạo nên đà tăng trưởng
“nhảy vọt”
Bà Shelly Sun, đồng sáng lập công ty nhượng quyền BrightStar Franchising (xếp thứ nhất trong danh sách bình chọn), khẳng định công ty mình không thể có thành công như hiện nay nếu thiếu tiếp thị truyền thông xã hội
Tiếp thị truyền thông xã hội không chỉ giúp số lượng khách truy cập trang web của BrightStar tăng gần gấp đôi trong vòng có một năm (từ 33.000 khách/tháng lên tới 55.000 khách/tháng) mà còn góp phần làm doanh thu của công ty đạt 99.6 triệu USD năm 2010, tăng 60% so với năm trước đó Theo
dự đoán của Shelly Sun, năm 2011, doanh thu của BrightStar sẽ tiếp tục đà tăng trưởng và chạm mốc 150 triệu USD.12
Có thể nhận thấy, truyền thông đóng một vai trò không thể thiếu trong việc thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thế giới Trong thế giới cạnh tranh, nếu doanh nghiệp không tự làm nổi bật tên tuổi của mình, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ chết dần Chỉ truyền thông mới giúp doanh nghiệp làm được điều
đó Những đóng góp của các phương tiện truyền thông mới, trong đó có truyền thông xã hội ngày càng được các doanh nghiệp nhận thấy và chú trọng hơn
1.2.5 Sự phát triển của Internet và mạng xã hội ở Việt Nam
Xem xét tổng quan hoạt động truyền thông ở Việt Nam, có thể thấy rằng đây là một lĩnh vực đang phát triển rất mạnh Mặc dù mới xuất hiện nhưng truyền thông nói chung và quan hệ công chúng nói riêng đã thực sự đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế của đất nước, đem lại cho các doanh nghiệp nguồn lợi nhuận lớn
12
http://www.hoclamgiau.vn/worldview/detail.aspx?id=59995
Trang 19Theo xu thế chung của thế giới, truyền thông tại Việt Nam đã biết sử dụng các thành tựu công nghệ thông tin để tạo nên những công cụ phục vụ hữu hiệu cho quá trình truyền thông của mình, đồng thời thúc đẩy quá trình quốc tế hóa và truyền thông toàn cầu
Có thể nói truyền thông xã hội ở Việt Nam đang bắt đầu có được sự quan tâm của các doanh nghiệp Họ dần nhận thức được những hiệu quả mà mạng
xã hội nói chung và Facebook nói riêng mang lại cho mình
Về số lượng: Ở Việt Nam, số lượng người sử dụng Internet ngày càng
tăng, tính đến hết tháng 10-2011, đã có hơn 26 triệu người sử dụng, tương đương với khoảng 31% tổng dân số và đứng đầu các nước ASEAN về số lượng người dùng Internet
Về độ tuổi: Gần 2/3 số người sử dụng Internet tại các thành phố lớn ở độ
tuổi dưới 30
Nhóm dân số sử dụng Internet nhiều nhất là 20-24 tuổi (chiếm hơn ¼)
Về giới tính: Tỷ lệ nam/nữ sử dụng Internet tương đối cân bằng ở nhóm
tuổi 15-19, nhưng khi tuổi càng cao thì tỷ lệ nữ dùng Internet càng giảm Hầu hết người dùng mạng xã hội có độ tuổi từ 15 đến 29 tuổi
72% dân số có độ tuổi từ 18 đến 30 và 43% dân số lớn tuổi sử dụng mạng xã hội để tương tác với bạn bè
Về cách thức: Ở Việt Nam hiện nay, người ta dùng điện thoại di động để
truy cập mạng xã hội thấp hơn nhiều so với dùng máy tính (48% dân số của mạng xã hội truy cập thông qua máy tính, trong khi 33% truy cập thông qua điện thoại di động)
Về mức độ phân bố: Người Việt Nam dùng mạng xã hội chiếm tỷ lệ cao
trong cư dân Với đối tượng 18 tuổi trở lên có tài khoản mạng xã hội thì: 43% người có một tài khoản, 25% có hai tài khoản, 13% có bốn tài khoản trở lên.13
13 Theo Tạp chí cộng sản online ngày 30/11/2011 Traodoi/2011/13918/Mang-xa-hoi-va-bao-chi.aspx)
Trang 20(http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Tình hình phát triển chung: Ở Việt Nam, trước khi mạng xã hội thế hệ
mới ra đời đã tồn tại những cộng đồng trực tuyến lớn, điển hình như ttvnol, vn-zom, webtretho Tháng 6/2011, Công ty Cổ phần kết nối truyền thông Việt Nam - Vinalink (Vinalink media là công ty Online marketing và Online survey (khảo sát thị trường trực tuyến) từ năm 2006), sau hai tháng tiến hành
5000 bảng hỏi trên mạng trực tuyến, đã đưa ra Báo cáo về Mạng xã hội tại Việt nam và tháng 2/2012 Vinalink đưa ra Báo cáp xếp hạng Top 100 Mạng
xã hội và các trang web cộng đồng lớn nhất Việt nam14 Theo đó, trong các loại hình của mạng xã hội:
1 Social Networking: Facebook,
Zing.Me, Go.vn, G+, Bang.vn,
Banbe.net …
15 Social knowledge: Wiki
2 Social News: Linkhay,
19 Social lens: Squidoo
22 22 Social map: Wikimap,
GGmap, diadiem, bando, thodia.vn
14
http://slideshare.net/vinalink
Trang 219 Photo Sharing: Picasa,
Flickr,Tamtay.vn
23 Social chat: Yahoo chatgroup,
Bebo, Paltalk, Yola.vn , Zingchat
10 Social Search: Google vertical
search
24 Social chat: Yahoo chatgroup,
Bebo, Paltalk, Yola.vn , Zingchat
Việt Nam đã có 20/28 loại hình này
Đồng thời Vinalink cũng công bố danh sách 100 mạng xã hội tại Việt Nam:
Trang 24Trong Top 100 mạng xã hội lớn nhất Việt nam, có 90 mạng xã hội là của Việt nam và 10 mạng xã hội là của doanh nghiệp nước ngoài Trong đó:
10 Mạng xã hội của nước ngoài phủ tới 83% lượng người dùng Internet của Việt nam
90 Mạng xã hội của Việt nam phủ tới 75 % lượng người dùng Việt nam
100 Mạng xã hội hàng đầu Việt nam đều nằm trong top 500 website lớn nhất Việt nam chiếm 25% trên tổng số top 500
Mạng xã hội đã thu hút số người dùng lớn thứ 2 chỉ sau đọc tin tức (Trên 90%), mạng xã hội (84%), Tìm kiếm thông tin (79%)
54.3% người dùng Internet ở Việt Nam sử dụng các mạng xã hội
Cũng theo điều tra, hành vi của người dùng Internet khi truy cập chủ yếu cho các mục đích sau:
Trang 251.2.6 Vài nét về tình hình sử dụng mạng xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam
Có thể thấy rằng, tiềm năng về mạng xã hội ở Việt Nam rất lớn, người dùng Internet đặc biệt quan tâm đến mạng xã hội (53,4%), và rất có nhu cầu vào mạng xã hội trao đổi với bạn bè Có đến 35% số người dùng Internet tại Việt Nam từng tham khảo thông tin trên forum và 25,5% từng xem thông tin
từ bạn bè, fanpage, quảng cáo trên các mạng xã hội trước khi mua hàng hay
sử dụng dịch vụ Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thực sự nhìn ra được tiềm năng và hiệu quả của mạng xã hội Báo cáo trên cũng cho thấy rằng chỉ có:
0.4% doanh nghiệp Việt Nam sử dụng Facebook
Lý giải cho điều này, ông Ngô Thanh, Giám đốc Mancom (chuyên về tư
vấn chiến lược marketing) cho biết: nhiều chủ doanh nghiệp có lứa tuổi khá
Trang 26cao, hơn 50% là trên 45 tuổi Lứa tuổi này không những khá lạc hậu về công nghệ thông tin mà còn khá bảo thủ với những trào lưu mới Các chủ doanh nghiệp này nhìn nhận mạng xã hội giống như giới trẻ - những người chưa được họ đặt lòng tin một cách đúng mức
Trong suy nghĩ của nhiều người, đặc biệt là người lớn tuổi, thông tin trên mạng không mang tính chính thống, thiếu sự tin cậy so với các phương tiện truyền thông khác, như tivi, đài báo Đây là những lý do mà doanh nghiệp Việt chưa thực sự coi mạng xã hội như một công cụ truyền thông hiệu quả, nhưng cũng là thiếu sót lớn của họ trong quá trình xây dựng thương hiệu, ông Thanh nhận xét
Trái lại, những chủ doanh nghiệp trẻ lại rất nhanh nhạy trong vấn đề này Thời gian gần đây, sản phẩm cơm kẹp (một dạng fastfood kiểu Việt) VietMac
là một ví dụ điển hình CEO của VietMac là người thuộc thế hệ 8X đã xây dựng thị trường và thương hiệu rất nhanh, chỉ thông qua mạng xã hội
Ông Thanh cho biết, hơn 80% khách hàng của họ biết đến VietMac thông qua Facebook và các diễn đàn Chỉ sau ba tháng, họ đã có thể nhượng quyền cho chính những thành viên của diễn đàn mà vị CEO này tham gia15
Tiểu kết
Có thể thấy rằng truyền thông xã hội đang ngày càng lớn mạnh hơn và là công cụ đắc lực cho giới truyền thông Với lịch sử phát triển hơn 30 năm, là thành quả của những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự ra đời của
“world wide web”, mạng xã hội đã và đang thực hiện sứ mệnh kết nối con người trên toàn thế giới với nhau Việt Nam cũng hòa mình vào xu thế chung
đó Các doanh nghiệp Việt Nam đã biết tận dụng cộng đồng của những mạng
xã hội rộng lớn để truyền thông cho tên tuổi của mình Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp như vậy chưa nhiều và cũng chưa đủ những hiểu biết cần thiết
về mạng xã hội để thực hiện truyền thông một cách hiệu quả
15
http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2011/06/doanh-nghiep-viet-luoi-su-dung-facebook-youtube/
Trang 27CHƯƠNG 2
FACEBOOK VÀ ỨNG DỤNG CỦA FACEBOOK
TRONG HOẠT ĐỘNG PR
2.1 Sự ra đời và phát triển của Facebook
Cái tên Mark Zuckerberg – nhà sáng lập nên mạng xã hội lớn nhất trên toàn cầu: Facebook – không còn xa lạ với thế giới khi anh trở thành một trong những tỷ phú trẻ nhất thế giới Những thông tin dưới đây được thuật lại từ cuốn sách: “Hiệu ứng Facebook và Cuộc cách mạng toàn cầu của mạng xã hội” của tác giả David Kirkpatrick (Tùng Linh, Nguyễn Linh Giang, Hoàng Ngọc Bích dịch), NXB Thế Giới, 2010
“Chúng tôi lập ra TheFacebook để phục vụ nhu cầu đại chúng ở Đại học Harvard” Mark Zuckerberg nói vậy khi anh đang là sinh viên năm thứ hai ngành khoa học máy tính, và ở trong một căn phòng của ký túc xá Kirland, đại học Harvard Tấm bảng trắng cậu đặt trong phòng và những người bạn cùng phòng đã đồng hành cùng cậu với rất nhiều ý tưởng độc đáo khác nhau Anh đã rất thành công với những công trình mang tên Course Match (một công trình đơn giản, giúp sinh viên chọn lớp dựa trên việc những người nào khác đang học lớp đó) và Facemash (một loại mã má tính, mời người dùng so sánh hai gương mặt khác nhau và chọn ra khuôn mặt nào hấp dẫn hơn, và cuối cùng tìm ra người được hâm mộ nhất trường)
Các hình ảnh của trang Facemash đến từ những cái gọi là “facebook”, được duy trì bởi mỗi ký túc xá thuộc Harvard nơi sinh viên sống Trò này được rất nhiều sinh viên yêu thích, thậm chí máy tính của anh bị treo vì quá nhiều người sử dụng Facemash
Trong suốt kỳ nghỉ đông năm 2003, Mark Zuckerberg dấn thân vào mã hóa một công trình và cho ra mắt ngay năm sau đó Ngày 11/1/2004, Zuckerberg lên mạng và trả 35 đô – la cho Register.com để đăng ký sử dụng tên miền Thefacebook.com trong một năm Trang web này mượn ý tưởng từ
Trang 28Course Match và Facemash, cùng một hệ thống có tên Friendster mà Zuckerberg là thành viên Mong muốn của anh là muốn lập nên một danh mục đáng tin cậy dựa trên thông tin thật từ sinh viên, trở thành khái niệm nòng cốt của Thefacebook 4/2/2004, Zuckerberg kích chuột vào tài khoản của anh với Manage.com (một công ty lưu trữ), Thefacebook.com bắt đầu hoạt động, giúp sinh viên Harvard: tìm kiếm sinh viên trong trường, tìm kiếm những người học cùng lớp, tìm kiếm bạn bè, xem hình minh họa mạng xã hội của chính mình Phần mềm này lan truyền rất nhanh, ồ ạt như virus Bốn ngày sau khi ra mắt đã có hơn 650 sinh viên đăng ký, và đến cuối tháng là ¾ sinh viên trong trường
Bảo mật là một phần của thiết kế ban đầu, người ta không thể gia nhập nếu không có một địa chỉ email Harvard.edu và phải dùng tên thật, nó khiến Thefacebook trở thành riêng biệt, nhưng cũng đảm bảo rằng người sử dụng đúng là họ
Thời gian sau đó, Zuckerberg đã tự tìm ra những cách thức để khắc phục dần những hạn chế trong công trình của mình khi người sử dụng ngày một đông hơn Mặc dù Thefacebook đang dần lớn mạnh, nhưng Zuckerberg từ chối bất kỳ động cơ thúc đẩy kinh doanh nghiêm túc nào Anh thể hiện những bản năng chiến lược của một CEO (từ viết tắt của Chief Executive Officer, có nghĩa là giám đốc điều hành), cũng như sẵn sàng cứng rắn đương đầu với cạnh tranh Thefacebook dần dần tiếp cận với các trường Stanford, trường Columbia, Yale, Dartmouth, Cornell… Thậm chí email từ khắp nơi trên nước
Mỹ gửi về tới tấp, đề nghị Zuckerberg và nhóm điều hành mở rộng Thefacebook ra các trường khác
Cuối tháng 3 năm 2004, Thefacebook đã có số lượng người tiêu dùng thường xuyên vượt ngưỡng 30,000 Từ thời điểm đó, Zuckerberg phải đối mặt
và giải quyết được những vấn đề quá tải khi có quá nhiều người lên mạng cùng lúc
Trang 29Cuối tháng 5/2004, Thefacebook đã hoạt động tại 34 trường và có gần
100 nghìn người sử dụng, và bắt đầu tính đến việc bán quảng cáo Họ tìm tới một đối tác là công ty Y2M Tất cả đều ngạc nhiên trước những hiệu quả mà Thefacebook mang lại Zuckerberg không hề có hứng thú với quảng cáo Anh cho phép quảng cáo nhưng phải có điều kiện, các nhà quảng cáo chỉ có thể dùng một ít banner với kích thước trung bình Các nhà quảng cáo không thể đăng nhập vào Thefacebook.com vì Zuckerberg kiên quyết rằng người sử dụng chỉ bao gồm sinh viên, giáo viên và cựu sinh viên của các trường nơi nó từng hoạt động
Thefacebook bắt đầu phát triển có định hướng hơn và quy tụ những người có khả năng nhất giúp Zuckerberg phát triển Thefacebook, không chỉ là một mạng xã hội mà còn dần trở thành một doanh nghiệp theo đúng nghĩa Google đã từng đề nghị mua Facebook với giá 15 tỷ đô la
Cuối mùa hè năm 2004, Thefacebook có hơn 200 nghìn người sử dụng Thời gian sau đó, rất nhiều mạng xã hội đã ra đời và phát triển: MySpace, Friendster, LinkdIn, sixdegrees.com, Tribe.net… Nhưng với hướng
đi đúng cách, Thefacebook đã có được những bước đi đem lại thành công Tại Harvard, Dartmouth, Columbia, Stanford, Yale và các trường khác, Thefacebook nhanh chóng trở thành một công cụ xã hội thiết yếu
Vào khoảng cuối năm 2004, những tính năng mới về profile, tình trạng
cá nhân và thành lập nhóm đã khiến Thefacebook ngày càng được ưa chuộng hơn, các chương trình và hợp đồng quảng cáo cũng được thực hiện tốt hơn Khó khăn lớn về tài chính dần dần được khắc phục
Ngày 30/11/2004, Thefacebook ghi nhận người sử dụng thứ một triệu Lúc đó, nó mới tồn tại chỉ trong mười tháng Bắt đầu từ đây, Thefacebook làm việc nhiều hơn với các nhà đầu tư và cần đến một chiến lược kinh doanh thực sự Họ đã muốn thành lập nên một công ty theo đúng nghĩa Khi đó, Mark Zuckerberg và đồng sự của mình mới có 21 tuổi
Trang 30Số lượng người dùng của Thefacebook tăng từ ba triệu trong tháng 6/2005 lên năm triệu trong tháng 10 Đó quả thật là tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc Ngày càng có nhiều công ty truyền thông và công nghệ chú ý tới tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của Thefacebook và cố gắng tìm cách kiếm lợi từ
đó Trong năm đó, Party Poker, Apple… mang lại cho công ty nguồn lợi rất lớn từ quảng cáo Nội bộ công ty cũng bắt đầu nhận ra rằng họ có cơ sở dữ liệu độc nhất có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau
MTV – công ty con của Viacom đề đạt muốn mua lại TheFacebook với giá 75 triệu đô – la và bị từ chối
Mùa hè năm 2005, công ty quyết định mua lại địa chỉ Internet Facebook.com và chính thức trở thành Facebook vào ngày 20 tháng 9 năm
2005
Mùa thu năm 2005, Facebook chính thức có mặt tại toàn bộ các trường đại học với 85% sinh viên Mỹ trở thành người dùng vào 60% sử dụng trang web hàng ngày Họ bắt đầu kế hoạch mở rộng ra các trường trung học Ban đầu số lượng thành viên tăng rất chậm nhưng đến cuối tháng 10, mỗi ngày có thêm hàng nghìn học sinh trung học tham gia (vào thời điểm đó, trung bình mỗi ngày có khoảng 20,000 người dùng mới đăng ký) Tuy nhiên, dù vẫn đăng nhập vào Facebook.com nhưng trang mạng của người dùng trung học hoạt động như một “Facebook” riêng biệt, họ sẽ không nhìn thấy trang cá nhân của người dùng đại học
Thời điểm này, Zuckerberg và những người bạn của mình lên kế hoạch xây dựng News Feed (một trang không chỉ hiện thị những tấm ảnh mới được tải lên mà là tất cả những thay đổi trong trang cá nhân của bạn bè)
AOL và Facebook đã đi đến một thỏa thuận cho phép các thành viên của AIM có thể mời bạn bè trong danh sách gửi tin nhắn trực tuyến của mình tham gia Facebook và nhanh chóng trở thành nguồn giới thiệu chính
Thời gian tiếp theo, Thefacebook được rất nhiều tên tuổi lớn quan tâm: Viacom, Yahoo, News Corp … Tuy nhiên, Mark Zuckerberg đều từ chối
Trang 31Đến tháng 4/2006, Facebook đã có hơn một triệu người dùng là học sinh phổ thông
Tháng 5/2006, mạng lưới công sở trên Facebook xuất hiện lần đầu, dù không gây được tiếng vang nhưng cũng đủ làm thế giới chú ý Facebook đã tạo ra mạng lưới cho nhiều công ty, mở toang nhiều cánh cửa, nhưng số ít thành công
Dần dần, rất nhiều khách hàng lớn đã tìm đến Facebook: Ngân hàng với thẻ tín dụng Chase, Proter and Gamble… và rồi hợp tác với Microsoft trong việc thiết kế quảng cáo
Đầu tháng 7/2006, Yahoo dự định mua lại Facebook với giá 1 tỷ đô – la tiền mặt Sau đó, do lý do tài chính, Yahoo chỉ đưa ra mức giá 850 triệu đô –
la Và Facebook từ chối, đúng như mong muốn ban đầu của họ
Đến giữa mùa hè, một phiên bản chính thức của News Feed đã đi vào hoạt động Nhờ đó, trang chủ của người dùng bao gồm những mẩu tin được lựa chọn bằng thuật toán angorit giúp người dùng biết được tình hình của bạn
bè Tưởng chừng như đây là một thay đổi mang lại thành công vượt bậc, nhưng từ đây lại bắt đầu cuộc khủng hoảng lớn nhất của Facebook Chỉ có một trong một trăm tin nhắn gửi đến Facebook về News Feed mang nội dung tích cực Thậm chí còn xuất hiện một nhóm phản đối News Feed mang tên
“Sinh viên phản đối News Feed của Facebook” Trong vòng ba giờ đã có 13,000 thành viên của nhóm này Và dần dần xuất hiện thêm 500 nhóm phản đối khác Lý do chính là News Feed gửi quá nhiều thông tin về họ đến người khác Thậm chí, người dùng còn tiến hành biểu tình trước cổng công ty
Facebook sửa chữa bằng cách thêm vào tính năng bảo mật cho News Feed để người dùng có thể kiểm soát được một số thông tin nhất định trên News Feed của mình Từ đây, họ cũng nhìn nhận ra được rằng, News Feed thực sự mang lại một giá trị nhất định
Tháng 10/2006, Facebook đạt số lượng năm triệu người dùng Vào đầu năm học, số lượng trường đại học có Facebook đã tăng gấp đôi, lên tới hơn
Trang 321,800 trường Số lượng sinh viên tham gia dịch vụ nhanh chóng vượt hơn 50% Hơn nửa số người dùng đăng nhập dịch vụ ít nhất một lần một ngày – đây là con số phi thường đối với bất kỳ công ty kinh doanh Internet nào
Mỗi ngày người dùng xem khoản 230 triệu trang trên Facebook và doanh thu của công ty đạt mức một triệu đô – la một tháng, và chủ yếu là từ quảng cáo
Cuối năm 2009, Facebook đã tiến hành cải cách hệ thống kiểm soát tính riêng tư của mình và đầu tư nhiều công sức vào việc giải thích cho người sử dụng cách sắp xếp bạn bè thành từng nhóm và phân chia các mức độ tiết lộ thông tin khách nhau Việc này cũng gây ra khá nhiều dư luận khác nhau Dịch vụ hosting16 ảnh khi đó đang bùng nổ trên Internet (Yahoo mua lại Flickr, dịch vụ tiên phong cho phép người dùng tải ảnh lên mạng miễn phí và rất sáng tạo với một thứ gọi là “tagging” Facebook cũng quyết định thử với ứng dụng này, nhưng có một bước đột phá là chỉ có một cách tag ảnh duy nhất trên Facebook là tag tên của những người trong ảnh Đội ngũ kỹ thuật sử dụng những cách thức giúp người dùng sử dụng dễ dàng nhất, và đăng ảnh nhanh nhất, số ảnh tải lên không giới hạn Đây chính là tính năng khiến Facebook trở thành trang ảnh phổ biến nhất trên mạng cũng như là tính năng phổ biến nhất của Facebook
Một tháng kể từ ngày ra mắt, 85% người dùng dịch vụ được tag vào ít nhất một tấm ảnh Mọi người đều bị lôi kéo tham gia dù muốn hay không Khi đó, khoảng 70% sinh viên ghé thăm trang mạng mỗi ngày và 85% ghé thăm ít nhất một lần mỗi tuần
Đến cuối năm 2006, Facebook đã lưu trữ 30 triệu tấm ảnh và trở thành trang ảnh lớn nhất thế giới cho đến nay
Cuối năm 2007, Facebook mua lại studiAZ của Đức (một trang bắt trước gần như hoàn toàn facebook, chỉ khác về màu sắc và đang năm giữ 1.5 triệu người sử dụng Đức) với 4% tổng số cổ phần của Facebook
16
Hosting là một loại hình lưu trữ trên Internet cho phép các cá nhân, tổ chức truy cập được website của họ thông qua world wide web
Trang 33Với số lượng thành viên tăng nhanh chóng mặt, Facebook cũng liên tục cải tiến nền tảng ứng dụng Một loạt các tính năng như MarketPlace, FB event, các tuỳ chỉnh riêng tư như Friend list privacy, Facebook chat…đã lần lượt ra đời
Tháng 4 năm 2008, Facebook chính thức có mặt trên nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ với 21 ngôn ngữ khác nhau Số thành viên của mạng xã hội này
đã lên tới 100 triệu người
Tầm ảnh hưởng rộng lớn của Facebook đã trở thành công cụ kiếm bội tiền cho Mark Zuckerberg Tháng 10 năm 2007, Facebook chính thức ký hợp đồng quảng cáo với Microsoft và đưa Facebook Ads vào hoạt động
Thành công đến với Facebook nhanh hơn mong đợi khi số lượng thành viên của mạng xã hội này lần lượt chạm mốc 200 triệu vào tháng 4, 300 triệu vào tháng 9 năm 2009, 400 triệu vào tháng 2 năm 2010
Theo kết quả của tổ chức thống kê Internet Hitwise, từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 11 năm 2010, có tới 8.93% lượng người dùng Internet truy cập Facebook; Google đứng thứ 2 với 7.19%, tiếp theo là Yahoo Mail (3.52%) và Yahoo.com (3.3%) Youtube chỉ đứng thứ năm với 2.65% Đây là lần đầu tiên Facebook nhận danh hiệu “website được truy cập nhiều nhất của Hitwise” Danh hiệu này thuộc về Google nhiều năm liên tục
Facebook hiện đang được định giá tới 50 tỷ đô – la và được dự đoán là đến năm 2013, toàn bộ người dùng Internet sẽ dùng Facebook
2.2 Đặc điểm của mạng xã hội Facebook
Facebook ra đời với mục đích kết nối sinh viên của trường đại học Harvard Thành công tột bậc của Facebook phần lớn là nhờ nó đã bắt đầu từ
Trang 34trường đại học Đó là nơi mạng xã hội của mọi người dày đặc nhất và nhìn chung là nơi họ hòa nhập mạnh mẽ nhất so với bất kỳ thời điểm nào khác trong đời
Là một mạng xã hội điển hình, Facebook mang tất cả những đặc điểm của một mạng xã hội: Khuyến thích mọi người tham gia (Participation), mang tính cởi mở (Openness), sự trò chuyện tương tác (Conversation), tính cộng đồng (Community), sự liên kết (Connectedness)
Bên cạnh đó, Facebook có rất nhiều tính năng nổi bật, thuận lợi cho người sử dụng và được họ yêu thích
2.2.1 Tạo Profile cho người dùng
Facebook tạo cho người dùng một trang thông tin cá nhân (profile) Giao diện của “profile” đã trải qua nhiều lần thay đổi:
2005 – The Facebook Trong thời kỳ Facebook chỉ là một mạng xã hội hoạt động trong các trường đại học và trung học, khái niệm “News Feed” chưa hề tồn tại Người
sử dụng chỉ đi “thăm hỏi” lẫn nhau qua những trang profile có hình ảnh và giao diện cá nhân
2006 – Mini-Feed Cùng với sự ra đời của hệ thống “News Feed” vào tháng 9/2006, mỗi trang profile đều có thêm chức năng mini-feed để hiển thị những cập nhật của người sử dụng
2007 – Tương tác lên ngôi Mặc dù trong năm 2007, giao diện của Facebook không có quá nhiều thay đổi, nhưng những người sử dụng lại bắt đầu tương tác với nhau nhiều hơn Cũng trong năm này, hệ thống Facebook Gifts (tặng quà ảo trên Facebook) ra đời
2008 – Kỷ nguyên của các ứng dụng Người sử dụng đã có thể trực tiếp thêm vào trang profile của mình những
“application tab”, trong đó là những trò chơi, ứng dụng khác nhau Bên cạnh
Trang 35đó, Facebook cũng cho ra mắt hệ thống “công cụ xuất bản”, giúp người sử dụng có thể đăng tải những bức hình, đường dẫn cũng như “status” lên
“profile” của chính mình
2009 – Pages Một hình thái mới của profile trên Facebook mang tên “page” đã ra đời trong năm 2009 Người sử dụng có thể “Like” một trang profile nào đó (sau này việc “Like” trở thành “Become a fan”) để cập nhật những thông tin mới của một doanh nghiệp hay một người nổi tiếng
2010 – Tái thiết kế giao diện Facebook Cuối năm 2010, người sử dụng Facebook chứng kiến một cuộc thay đổi giao diện lớn Mọi thứ được sắp xếp theo hướng trực quan hơn Những người
“bạn chung” được Facebook đưa lên góc trên bên phải của màn hình profile
2011 – Ticker Tính năng cập nhật trạng thái trong thời gian thực này có sự thay đổi lớn
và trực tiếp hiện lên trên “profile” của người dùng
2011 – Timeline Giao diện mang tên “timeline” mới này “mô phỏng” một cuốn biên niên ký, trong đó người chủ “profile” chính là nhân vật chính của “cuốn sách”
đó Từng sự kiện, từng đoạn status, từng bức ảnh… sẽ được hiển thị theo dòng thời gian thực, giúp người xem có cái nhìn tổng quan hơn về profile Facebook của mình cũng như bạn bè17
2.2.2 Tính bảo mật
Với Facebook, bảo mật là một phần của thiết kế ban đầu, và có những hạn chế rất lớn: người sử dụng không thể gia nhập nếu không có một địa chỉ email Harvard.edu, và phải dùng tên thật Nó khiến facebook trở thành riêng biệt, nhưng cũng đảm bảo rằng người sử dụng đúng là họ Không nhiều người
17
http://genk.vn/c194n20110923094159734/qua-trinh-tien-hoa-cua-trang-profile-facebook-trong-7-nam.chn
Trang 36đồng ý với quan điểm của người đứng đầu Facebook – Mark Zuckerberg về điều này
Tất cả những thông tin của người sử dụng trên Facebook được công khai, những hoạt động của họ cũng vậy Cũng đã có rất nhiều tai nạn và những sự cố không hay xảy ra khi những bức ảnh không mong muốn của nhiều người được đưa lên trang mạng xã hội có tốc độ lan truyền cực lớn này Facebook có khả năng đặc biệt trong việc giúp người sử dụng kiểm soát được đích đến trong dòng thông tin cá nhân của họ bằng việc bạn có thể kiểm tra xem người muốn kết bạn với bạn có chính xác là một con người thực hay không rồi mới đưa ra quyết định kết bạn với họ
Người sử dụng cũng có thể hạn chế hoặc mở rộng phạm vi xem xét thông tin về mình của người khác cũng như điều chỉnh mức độ thông tin mà mình có thể xem về người khác bằng cách đưa họ vào các nhóm danh sách bạn bè, công việc, gia đình… Tuy nhiên theo giám đốc bảo mật của Facebook, chỉ khoảng 25% thành viên chủ động sử dụng quyền kiểm soát này
EdgeRank được tính từ ba đại lượng:
Afinity (Điểm số lôi cuốn): Mô tả mối quan hệ giữa Fan và những người
tương tác với nội dung của Fanpage
18
http://facebookviet.vn/tim-hieu-chi-so-edge-rank-cua-facebook/
Trang 37Weight (Điểm trọng số tương tác): Những nội dung trên Fanpage sẽ được
đánh giá theo một thang điểm Những post nào có nhiều like, comment sẽ có điểm cao hơn
Time Decay (Yếu tố thời gian): Phản ánh khoảng thời gian từ khi tương
tác tới thời điểm hiện tại, đánh giá sức hấp dẫn của nội dung chia sẻ
Thứ tự quan trọng của bài Post trên Facebook: Photos/ Video Links
Status updates
Những hàng động khác nhau có trọng số tương tác khác nhau (sắp xếp từ cao đến thấp):
Share: thành viên quan tâm, chia sẻ bài viết
Comments: thành viên bình luận về nội dung của bạn
Like: thành viên liên kết tới nội dung của bạn
Click: thành viên click để xem nội dung bài viết
Đây là một thuật toán phức tạp của Facebook, nhưng có thể được giải thích đơn giản bằng ứng dụng của nó ngay trên Facebook:
Bất kỳ ai trên Facebook cũng có tài khoản cá nhân và kết bạn với rất nhiều người khác, có thể like rất nhiều page, tuy nhiên, có vài người thường xuyên hiện thông tin trên Wall của mọi người, và rất nhiều người khác thông tin của họ không bao giờ hiện trên Wall của bạn bè, Fanpage cũng vậy
Facebook đánh giá mỗi người đạt 1 điểm EdgeRank (điểm này có thể hiểu đơn giản như là sự nổi tiếng), nếu thông tin một người thường xuyên đưa lên được nhiều người tương tác, thì người đó sẽ có điểm Edge Rank cao, điểm càng cao thì thông tin của người đó sẽ hiện lên Wall của càng nhiều người Và nếu người đó thường xuyên tương tác với 1 người, họ cũng tương tác lại, thì giữa 2 người có sự quan hệ tốt, Facebook cũng ưu tiên xếp thông tin của họ trên Wall của nhau
Fan Page cũng vậy, cũng được đánh giá bởi điểm này, do vậy thông tin của fan page đăng tải không thể truyền tải đến tất cả người Like
Trang 38Muốn tăng điểm Edge Rank, cách duy nhất là tăng sự tương tác giữa FanPage và Fan, và để làm điều này, đầu tư cho nội dung là điều rất quan trọng Nội dung phù hợp với đối tượng của Fanpage mới thu hút được sự tương tác cao
Talking About This và Reach
Việc duy trì cộng đồng Fanpage được thể hiện ở con số Talking About This và Reach, các Fan Page duy trì nội dung tốt thì 2 chỉ số này sẽ cùng đồng thời đi lên, dù từ từ nhưng đó là hiệu quả Con số talking about this và reach càng cao (đạt từ 10-20% fan), Fanpage càng thành công
GraphRank
GrahpRank là một thuật toán con của thuật toán EdgeRank Các đại lượng trong công thức GraphRankcũng gần như y hệt với công thức EdgeRank
GraphRank sẽ quyết định ứng dụng Facebook nào sẽ xuất hiện tại News Feed của người dùng Một đặc điểm chỉ có ở GraphRank đó là khả năng thay đổi một cách linh hoạt dựa vào sự biến đổi trong thành phần Friend list của người dùng Ví dụ, nó sẽ hiển thị các ứng dụng liên quan tới âm nhạc mà bạn
bè bạn tương tác theo gu âm nhạc mà người dùng đã khai báo trong Profile của mình hoặc dựa vào các tương tác trong quá khứ của họ có liên quan tới chủ đề âm nhạc này
GrapRank chỉ khác so với EdgeRank ở chỗ nó đi sâu và phân tích mối quan hệ về sở thích chung của người dùng và ra quyết định phân phối nội dung của ứng dụng tại News Feed Facebook đã bắt đầu quét nội dung, comment (text) mà bạn post và so sánh nó với nội dung của bạn bè để tìm ra những từ khoá chung, đồng thời so sánh nó với các yếu tố sở thích trong profile và tần suất “gắn bó”, “tương tác” giữa các bạn để quyết định khả năng hiển thị nội dung tại News Feed chứ không đơn thuần là chỉ xét mối quan hệ tương tác (like, comment…) như xưa
Trang 39Thậm chí Facebook bắt đầu mạnh tay hơn khi đã bắt đầu nội dung quảng cáo với nội dung mà người dùng thường xem tại facebook cũng như những chủ đề và từ khoá tương đồng
Ví dụ: Người dùng A và B trên Facebook có cùng sở thích là Bowling Hai người này thường hay tag, chia sẻ các nội dung về môn thể thao này qua lại ở Wall của nhau Và đặc biệt là tần suất của từ khoá Bowling xuất hiện dày đặc trong các nội dung này Kết quả là sau đó một thời gian không post qua lại, người A post một nội dung có lặp lại từ bowling thì thực sự xác suất
mà người B thấy nội dung A post tại news feed rất cao, mặc cho A post ở bất
cứ thời điểm nào trong ngày Thậm chí các bạn bè của người B có cùng like
về bowling cũng tham gia vào tương tác
Theo Giám đốc công nghệ của Facebook Bret Taylor, GraphRank giống như một lưu đồ thể hiện mối quan hệ giữa các sở thích cá nhân của bạn và bạn
bè GraphRank sẽ là yếu tố cực kì quan trọng đối với các nhà phát triển ứng
dụng Facebook trong nỗ lực gia tăng mức độ hiển thị của mình tại News Feed19
2.3 Những kinh nghiệm sử dụng Facebook trong ngành Quan hệ công chúng ở nước ngoài
2.3.1 Facebook và Quan hệ công chúng
Sứ mệnh của Quan hệ công chúng là tạo ra sự hiểu biết chung giữa doanh nghiệp, tổ chức và công chúng của nó Facebook với những ưu thế trong chức năng giao tiếp chính là một công cụ hữu hiệu để giúp người làm Quan hệ công chúng thực hiện được mối quan hệ và truyền thông tin hai chiều đó
Có mối quan hệ gần gũi với Marketing, người làm Quan hệ công chúng
và Marketing có chung một mối quan tâm với mạng xã hội nói chung và Facebook nói riêng
19 http://www.vizum.vn/threads/799-graphrank-thuat-toan-moi-cua-facebook
Trang 40Một nghiên cứu được tiến hành với 3,300 người làm marketing trên khắp thế giới để tìm hiểu những hiểu biết của họ về marketing và cách thức họ sử dụng truyền thông xã hội trong truyền thông Kết quả là:
Facebook luôn luôn giữ vị trí thống trị với 92% người làm Marketing sử dụng, 75% trong số họ chuẩn bị mở rộng hoạt động của mình Chỉ có 3% người được hỏi không định sử dụng Facebook cho chiến dịch của mình Chỉ đứng sau Youtube (nhưng Youtube sử dụng các video), Facebook (tựa như blog) là nơi các nhà marketing cảm thấy họ có thể đạt được những kết quả đáng kể
80% các kế hoạch truyền thông đến khách hàng (B2C) sẽ gia tăng sự ảnh hưởng của Facebook, 83% các doanh nghiệp lớn cũng sẽ tăng thêm các hoạt động trên Facebook của mình Facebook là sự lựa chọn đầu tiên của những người làm marketing mới sử dụng truyền thông xã hội Tuy nhiên, với những người đã sử dụng công cụ này trong thời gian ba năm thì hầu hết sự lựa chọn đầu tiên của họ lại là Twitter
Những người làm marketing muốn tìm hiểu nhiều hơn về Facebook và blogging 70% người được hỏi muốn tìm hiểu về Facebook (Năm 2010, chỉ
có 59% người làm marketing muốn tìm hiểu thêm về Facebook) và 69% muốn học hỏi về blogging
Những công cụ truyền thông xã hội hàng đầu: Facebook, Twitter, LinkedIn and blogs Facebook đã làm lu mờ Twitter và dành vị trí thống trị ngay từ năm 2010
Trong số Top 10 câu hỏi người làm marketing muốn hỏi về truyền thông
xã hội, có 2 câu liên qua đến Facebook:
1) Bao nhiêu “friend” và “fan” trên Facebook thì có giá trị với doanh nghiệp của tôi?