1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật người dân tộc thiểu số từ năm 1996 đến 2004

97 803 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn Thạc sĩ Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật người dân tộc thiểu số từ năm 1996 đến 2004
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các khu vực dân tộc thiểu số
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 544,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC TrangMỞ ĐẦU1Chương 1: ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐĂKLĂK VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ KHOA HỌC-KỸ THUẬT NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ (1996-2004) 71.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Đăklăk71.2. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo cán bộ khoa học-kỹ thuật người dân tộc thiểu số141.3. Sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh Đăklăk về đào tạo cán bộ khoa học-kỹ thuật người dân tộc thiểu số29Chương 2: KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM TRONG QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH ĐĂKLĂK LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ KHOA HỌC-KỸ THUẬT NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ (1996-2004)462.1. Kết quả và nguyên nhân của những thành công và hạn chế462.2. Kinh nghiệm lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ khoa học-kỹ thuật người dân tộc thiểu số71¬KẾT LUẬN 87DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO89

Trang 1

Đảng bộ tỉnh đăklăk lãnh đạo

công tác đào tạo cán bộ khoa học - kỹ thuật ngời dân tộc thiểu số từ năm 1996 đến 2004

HÀ NỘI – 2009

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐĂKLĂK VỀ CÔNG

TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ KHOA HỌC-KỸ THUẬT NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ (1996-2004) 71.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Đăklăk 71.2 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo cán bộkhoa học-kỹ thuật người dân tộc thiểu số 141.3 Sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh Đăklăk về đào tạo cán bộ khoa

Chương 2: KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM TRONG QUÁ TRÌNH ĐẢNG

BỘ TỈNH ĐĂKLĂK LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ KHOA HỌC-KỸ THUẬT NGƯỜI DÂN TỘC

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Trang

Bảng 2.1: Học sinh ĐăkLăk theo học dự bị Đại học Dân tộc Trung

Bảng 2.2: Đội ngũ cán bộ KHKT có trình độ từ cao đẳng trở lên

phân theo giới tính và trình độ đào tạo năm 2004 56

Bảng 2.3: Đội ngũ cán bộ KHKT có trình độ từ cao đẳng trở lên phân

theo hình thức đào tạo và nơi đào tạo năm 2004 57

Bảng 2.5: Đội ngũ cán bộ KHKT có trình độ từ cao đẳng trở lên

phân theo thành phần dân tộc năm 2004 59

Bảng 2.6: Cán bộ có trình độ từ cao đẳng trở lên là người DTTS phân

theo giới tính và trình độ đào tạo năm 2008-2009 60

Bảng 2.7: Cán bộ có trình độ từ cao đẳng trở lên là người DTTS

phân theo chuyên ngành đào tạo năm 2008-2009 61

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác địnhvấn đề dân tộc là một trong những vấn đề có tính chiến lược của cách mạng

và thực hiện chính sách dân tộc với những nguyên tắc cơ bản là: “Bình

đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển” Biểu hiện của

nguyên tắc đó trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH là việc tập trung xâydựng vùng dân tộc và miền núi phát triển nhanh về kinh tế, văn hóa, xã hội,vững mạnh về chính trị, an ninh-quốc phòng, xứng đáng với vị trí chiếnlược đặc biệt quan trọng của cả nước

Để đưa vùng dân tộc và miền núi phát triển nhanh và bền vững tiến kịpmiền xuôi, làm cho đồng bào DTTS được hưởng ngày càng đầy đủ hơn nhữngquyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa thì vấn đề có ý nghĩa quyết định làphải có đội ngũ cán bộ Việt Nam đang ở trong thời kỳ phát triển mới - thời

kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH do đó KHKT là một nguồn lực quan trọng của sựnghiệp CNH, HĐH Điều này khẳng định, vận hội cũng như nguy cơ củavùng dân tộc và miền núi gắn liền với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũcán bộ DTTS nói chung và cán bộ KHKT người DTTS nói riêng đủ về sốlượng đảm bảo về chất lượng Chính đội ngũ cán bộ này là lực lượng nòngcốt, hạt nhân đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đivào cuộc sống, lãnh đạo đồng bào các DTTS từng bước làm chủ quá trìnhphát triển kinh tế-xã hội ở địa phương Họ đem sự hiểu biết KHKT của mìnhtruyền bá rộng rãi cho đồng bào DTTS Họ là những chiến sỹ trên mặt trận tưtưởng, văn hóa và KHKT; góp tài góp sức để cải tiến bộ mặt xã hội của vùngđồng bào DTTS, làm cho đồng bào mình sản xuất và công tác theo khoa học

và đời sống của chính họ được văn minh Cán bộ KHKT người DTTS còn làcầu nối giữa đảng và dân, là một trong những “kênh” làm cho Đảng gắn bó

Trang 6

với dân, gần gũi với dân Vai trò của cán bộ KHKT người DTTS không chỉthể hiện trong phát triển kinh tế mà còn đảm bảo cho việc giữ vững an ninh-quốc phòng.

ĐăkLăk là một tỉnh miền núi thuộc Tây Nguyên, tại thời điểm trước khichia tách thành hai tỉnh (ĐăkLăk và ĐăkNông) có 44 dân tộc anh em chungsống, chiếm 29,5% tổng dân số cả tỉnh, trong đó 19,31% là đồng bào DTTStại chỗ ĐăkLăk có một vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, anninh và quốc phòng

Quán triệt chính sách dân tộc của Đảng cũng như nhận thức được tầmquan trọng của KHKT đối với sự phát triển của tỉnh, trong quá trình lãnh đạoĐảng bộ tỉnh ĐăkLăk đã tập trung chỉ đạo công tác đào tạo cán bộ KHKTngười DTTS nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của tỉnh đểđưa đồng bào các dân tộc thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, từng bước xây dựngcuộc sống văn minh, hạnh phúc, góp phần xây dựng CNXH và đảm bảo quốcphòng, an ninh Tuy nhiên, đây là nhiệm vụ rất khó khăn, từ năm 1996-2004 ởĐăkLăk đã diễn ra hai cuộc bạo loạn chính trị năm 2001 và 2004, điều đó bộc

lộ một số tồn tại, yếu kém trong việc thực hiện chính sách dân tộc ở ĐăkLăk

mà trước hết là sự yếu kém về đội ngũ cán bộ DTTS nói chung và cán bộKHKT người DTTS nói riêng

Nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo công tác đào tạocán bộ KHKT người DTTS một cách khoa học, đúng đắn và toàn diện sẽ giúpchúng ta rút ra được những kinh nghiệm có tính khả thi để lãnh đạo, chỉ đạo việcđào tạo nguồn nhân lực này một cách có hệ thống nhằm phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH bảo đảm cho chính trị, an ninh-quốc phòng được giữ vững, từng bước nângcao chất lượng cuộc sống về vật chất và tinh thần cho đồng bào DTTS

Xuất phát từ những lý do trên, Tôi chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk

lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ khoa học - kỹ thuật người dân tộc thiểu

số từ năm 1996 đến 2004” làm luận văn tốt nghiệp.

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến đề tài như:

- Bộ Khoa học công nghệ và môi trường (1996), Chiến lược CNH,

HĐH đất nước và cách mạng công nghệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

- TS Trịnh Quang Cảnh (2005), Phát huy vai trò đội ngũ trí thức các

dân tộc thiểu số nước ta trong sự nghiệp cách mạng hiện nay, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội

- PGS.TS Trương Minh Dục (2005), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

- GS.TS Lê Hữu Nghĩa (2001), Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán

bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện người các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

- PTS Danh Sơn (1999), Quan hệ giữa phát triển khoa học công nghệ

với phát triển kinh tế-xã hội trong CNH, HĐH ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội

- Ủy Ban khoa học xã hội Việt Nam, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân

ĐăkLăk (1990), Vấn đề phát triển kinh tế xã hội các dân tộc thiểu số ở

ĐăkLăk, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

- TS Lê Phương Thảo, PGS, TS Nguyễn Cúc, TS Doãn Hùng (2005),

Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH - Luận cứ và giải pháp, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.

Một số luận văn, luận án chuyên ngành Triết học, Lịch sử có bàn đếnnội dung của đề tài:

- Trịnh Quang Cảnh (2002), Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt

Nam trong công cuộc đổi mới (chủ yếu ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc),

Luận án tiến sỹ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội

- Phạm Ngọc Đại (2008), Quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân

tộc của Đảng bộ các tỉnh Nam Tây Nguyên từ năm 2001-2006, Luận văn thạc

sỹ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội

Trang 8

- Lê Nhị Hòa (2002), Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo xây dựng đội ngũ

cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị cấp cơ sở thời kỳ đổi mới (1986-2000), Luận văn thạc sỹ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh, Hà Nội

- Phạm Đức Kiên (2006), Đảng lãnh đạo công tác đào tạo đội ngũ cán

bộ khoa học, kỹ thuật ở miền Bắc 1960-1975, Luận văn thạc sỹ Lịch sử, Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội

- Nguyễn Thị Tứ (1993), Mấy vấn đề chủ yếu của chính sách giáo dục

và đào tạo đối với các đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay, Luận

văn thạc sỹ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội

Bài viết của nhiều tác giả được đăng tải trên các tạp chí như:

- Đặng Ngọc Dinh (1998), “Vấn đề định hướng chiến lược phát triển

khoa học công nghệ nước ta”, Tạp chí Cộng sản, (3), tr 35.

- Lại Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Mỹ Trang (2005), “Chính sách cử tuyển

- Một chủ trương đúng trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta về

phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số”, Tạp chí

Dân tộc học, (2), tr 27.

- Nguyễn Đình Hòa (2004), “Vai trò của khoa học, kỹ thuật đối với sự phát

triển của xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản, (21), tr 31.

- GS.VS Đặng Hữu (1990), “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với

khoa học-công nghệ”, Tạp chí Cộng sản, (8), tr 2.

- Nguyễn Hữu Ngà (2005), “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức dân tộc

thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH”, Tạp chí Dân tộc học, (3), tr 50.

- Vũ Thị Hoài Nghiêm (2008), “Phát triển giáo dục và đào tạo trong

vùng đồng bào dân tộc thiểu số”, Tuyên giáo, (2), tr 44.

Những tài liệu nêu trên chỉ đề cập đến việc xây dựng đội ngũ cán bộngười DTTS nói chung ở các cấp và các địa phương khác nhau, cũng như vaitrò của khoa học kỹ thuật trong giai đoạn hiện nay, chưa có công trình khoa

Trang 9

học nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk đối với công tácđào tạo cán bộ KHKT người DTTS từ năm 1996-2004 Tuy nhiên, nhữngcông trình khoa học, bài viết kể trên là cơ sở để tác giả tham khảo và kế thừatrong việc thu thập, xử lý nguồn tài liệu và phương pháp luận trong quá trìnhthực hiện đề tài.

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Mục đích

Tổng kết những kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn có thểbước đầu vận dụng vào việc xây dựng nguồn nhân lực cán bộ KHKT ngườiDTTS trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời kỳđẩy mạnh CNH, HĐH

Nhiệm vụ

- Trình bày một số quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộngsản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk về công tác đào tạo cán bộ KHKT ngườiDTTS từ năm 1996 đến 2004

- Phân tích và làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk chỉ đạocông tác đào tạo cán bộ KHKT người DTTS thời kỳ 1996-2004

- Nêu lên những thành tựu, hạn chế và tổng kết kinh nghiệm của Đảng

bộ trong quá trình lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ KHKT người DTTS ởtỉnh ĐăkLăk thời kỳ 1996-2004

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Thời gian: Từ năm 1996 đến năm 2004

Nội dung: Đường lối lãnh đạo và tổ chức chỉ đạo thực hiện công tácđào tạo cán bộ KHKT người DTTS

Địa bàn khảo sát chủ yếu: 2 cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk làTrường Đại học Tây Nguyên và Trường Cao đẳng Sư phạm; cán bộ KHKTngười DTTS có trình độ từ cao đẳng trở lên đang công tác tại các sở, ban,ngành, viện, trường, các tổ chức, đoàn thể xã hội, doanh nghiệp trên địa bàntỉnh ĐăkLăk (trừ các đơn vị lực lượng vũ trang)

Trang 10

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lốicủa Đảng về chính sách dân tộc, cán bộ dân tộc và KHKT, cán bộ KHKT

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc,kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành như thống kê,

so sánh, đồng đại, lịch đại, phân tích, tổng hợp …

6 Những đóng góp về khoa học của luận văn

- Giải đáp những vấn đề còn tồn tại trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạocủa Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk về công tác đào tạo cán bộ DTTS và cán bộ KHKTngười DTTS - Một vấn đề chưa được nghiên cứu nhiều

- Cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định các chủ trương, chínhsách của Tỉnh ủy, UBND tỉnh ĐăkLăk nói riêng và các tỉnh Tây Nguyên nóichung về công tác đào tạo đội ngũ cán bộ KHKT người DTTS

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Tổng kết những kinh nghiệm có tính định hướng để nâng cao nhậnthức, chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo cán bộ DTTS nói chung vàcán bộ KHKT người DTTS nói riêng ở ĐăkLăk

- Kết quả của luận văn góp phần vào việc nghiên cứu và giảng dạy cácchuyên đề của môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 2 chương, 5 tiết

Trang 11

Chương 1

ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐĂKLĂK VỀ CÔNG TÁC

ĐÀO TẠO CÁN BỘ KHOA HỌC - KỸ THUẬT

NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ (1996-2004)

1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, VĂN HÓA,

XÃ HỘI CỦA TỈNH ĐĂKLĂK

Tỉnh ĐăkLăk nằm ở phía Tây Nam của dãy Trường Sơn, phía Bắc

giáp với tỉnh GiaLai; phía Nam giáp với hai tỉnh Lâm Đồng và Bình Phước;phía Đông giáp với hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, phía Tây giáp với Vươngquốc Cămpuchia ĐăkLăk có nhiều tuyến giao thông quan trọng nối liền vớicác tỉnh Tây Nguyên, duyên hải miền Trung, miền Đông Nam Bộ và tỉnhMunđunkiri (Cămpuchia)

ĐăkLăk nằm ở trung tâm Cao Nguyên, với diện tích là 13.125 km2 và ở

độ cao trung bình là 500m so với mặt nước biển, trong đó diện tích đất lâmnghiệp có 1.019.847ha, đất nông nghiệp diện tích 28.906ha, đất trồng cây lâunăm 160.488ha và hàng vạn hécta đồng cỏ, có nhiều cánh đồng cỏ chạy dài,nhiều đầm hồ rộng lớn (lớn nhất là hồ Lăk với diện tích 750ha, hồ EaSoup vớidiện tích 400ha), Hệ thống sông suối ở ĐăkLăk khá phong phú, lớn nhất làsông Sêrêpốc Do đó, tiềm năng thủy điện cũng là một thế mạnh của ĐăkLăk.Việc xây dựng các công trình thủy điện sẽ làm tăng sản lượng điện, góp phầnphát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu trên địa bàn tỉnh theo hướng tăng dần tỷtrọng công nghiệp, tạo tiền đề cho giao thông phát triển, giao lưu văn hóa xã hội,cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, tạo ra công ăn việc làm và thu nhập chođồng bào các dân tộc Quan trọng nhất là nó mở ra cơ hội cho các dân tộc tiếpxúc với đời sống hiện đại và dần từng bước xóa bỏ các thủ tục lạc hậu

Vùng Cao Nguyên Buôn Ma Thuột và các khu vực phụ cận có địa hìnhtương đối bằng phẳng, đất đai phì nhiêu Diện tích đất đỏ bazan ở ĐăkLăk cóhơn 704.000ha, có diện tích rừng và đất rừng lớn nhất đất nước với

Trang 12

1.215.000ha (chiếm 62,2% diện tích đất tự nhiên), có nhiều tài nguyên sinhvật phong phú, đa dạng như Vườn Quốc gia YokĐôn; Với thế mạnh về tàinguyên đất đai, rừng, lâm sản, ĐăkLăk là vùng đất phù hợp cho phát triển câycông nghiệp dài ngày, đặc biệt là các loại cây có giá trị xuất khẩu cao như cao

su, cà phê … chăn nuôi đại gia súc và kinh doanh tổng hợp nghề rừng

Khí hậu ở ĐăkLăk tương đối ôn hòa, nhiệt độ trung bình hàng năm là

240C Lượng chiếu sáng dồi dào với cường độ tương đối ổn định, lượng mưatrung bình 1700 - 2000mm/ năm Độ ẩm trung bình 81%, khí hậu phân thànhhai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm trên 70% lượng mưa

cả năm, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Mùa khô từ tháng 12 đến tháng

4, độ ẩm giảm, gió đông bắc thổi mạnh từ cấp 4 đến cấp 6, lượng bốc hơi lớngây ra khô hại nghiêm trọng Vì vậy, yếu tố giữ và cấp nước trong mùa khô

có vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh

ĐăkLăk là tỉnh còn trữ lượng lớn tài nguyên, khoáng sản chưa đượckhai thác nhiều như: chì, vàng, sét cao lanh, than bùn, … nhưng đáng kể nhất

là quặng bôxít tự nhiên có trữ lượng khoảng 5,4 tỷ tấn với hàm lượng ôxítnhôm khoảng 35-40%, sét cao lanh trữ lượng 60 triệu tấn phân bổ ở Ma’Đrắc,Buôn Ma Thuột, Sét làm ngói trữ lượng trên 50 triệu tấn tập trung ở huyệnKrôngAna, Buôn Ma Thuột, Ma’Đrắc và nhiều nơi khác trong tỉnh Ngoài racòn có các khoáng sản khác như: vàng ở huyện EaKar, chì ở huyện EaH’leo,phốtpho ở Buôn Đôn, than bùn chủ yếu ở CưM’Gar cùng các loại đá quý, đá

ốp lát, cát đá xây dựng có trữ lượng không lớn phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh

Điều kiện tự nhiên vốn có đã tạo ra thế mạnh cho tỉnh ĐăkLăk, nhưng

do trình độ còn nhiều hạn chế, nên các DTTS bản địa đã không khai thácđược thế mạnh phục vụ cho cuộc sống mà chủ yếu vẫn là dựa vào săn bắt, háilượm những sản phẩm sẵn có trong tự nhiên và canh tác sản xuất nhưng hiệuquả thấp nên đời sống của đại bộ phận các DTTS bản địa còn hết sức khókhăn Để phát huy được nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn có của tỉnh, vấn đề

Trang 13

căn cốt hiện nay là cần có một đội ngũ cán bộ KHKT đặc biệt là cán bộKHKT người DTTS để họ hướng dẫn cho DTTS bản địa, vận dụng những trithức khoa học vào việc khai thác một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên thiênnhiên vốn có của địa phương mình

Trước khi chia tách tỉnh (2004), ĐăkLăk gồm 18 huyện và 1 thành

phố Dân số trên 1,7 triệu người, dân tộc kinh chiếm 44%, DTTS chiếm 56%,mật độ dân số là 135 người/ km2, trong đó số dân làm nông nghiệp và sống ởnông thôn chiếm tỷ lệ khoảng 70%

Kinh tế ĐăkLăk nhìn chung chậm phát triển, công nghiệp, dịch vụ

manh mún thiếu tập trung, tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp trong cơ cấuGDP của tỉnh cao Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong 5 năm2001-2005 đạt 8,05% Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân xấp xỉ 5,18%/năm trong giai đoạn 2001-2005 Sản phẩm xuất khẩu chủ lực của tỉnh gồmcác mặt hàng nông sản như: cà phê, tiêu, điều, ong mật, gỗ, cao su … trong

đó, các mặt hàng cà phê, ngô, gỗ, bông có sản lượng đứng đầu cả nước, đặcbiệt sản phẩm cà phê ĐăkLăk là mặt hàng nổi tiếng trên thế giới đã xuất khẩusang 83 quốc gia và vùng lãnh thổ, thâm nhập được vào cả những thị trườngkhó tính, có yêu cầu cao về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm như EU,

Mỹ, Nhật … Tuy nhiên, những mặt hàng xuất khẩu của ĐăkLăk đều ở dạngthô nên hiệu quả kinh tế không cao, điều đó đòi hỏi cần đầu tư xây dựngnhững nhà máy chế biến những sản phẩm đó ở dạng tinh để xuất khẩu Muốnlàm được vậy cần quan tâm đến chính sách đào tạo và thu hút những cán bộKHKT về lĩnh vực này

Xã hội Tây Nguyên nói chung và ĐăkLăk nói riêng là sự đan xen giữa

những yếu tố của xã hội truyền thống với hiện đại Tính chất cư trú đan xengiữa các tộc người là một hiện tượng phổ biến ở ĐăkLăk, nó không chỉ dừnglại ở cấp độ xã, phường, thị trấn mà còn xuống tận các buôn, làng, thôn, xóm

Và kéo theo là sự đa dạng, phong phú về phong tục, tập quán, truyền thống

Trang 14

văn hóa, truyền thống với đầy đủ tính chất hai mặt của nó Như vậy, sự đadạng về thành phần dân tộc, sự đan xen về địa bàn cư trú là một nét nổi bậtcủa các DTTS ở ĐăkLăk.

ĐăkLăk là một trong những tỉnh có số lượng thành phần dân tộc đôngnhất nước Hiện ĐăkLăk có 44 dân tộc anh em chung sống, chiếm 29,5% tổngdân số cả tỉnh, trong đó 19,31% là đồng bào DTTS tại chỗ (Êđê, M’Nông,GiaJai) Êđê dân tộc bản địa chiếm tỷ lệ cao nhất là 14,8% so với các DTTSkhác Trong các DTTS ở nhiều vùng khác nhau di cư vào thì dân tộc Tày,Nùng chiếm tỷ lệ lớn nhất gần 6% Có 7 dân tộc có số dân trên 1 vạn người làÊđê, M’Nông, GiaJai, Tày, Nùng, Thái, Mường

Khoảng cách về trình độ phát triển giữa các dân tộc tương đối cao Một

số dân tộc đã đạt tới trình độ tiên tiến, nhưng vẫn còn một bộ phận vẫn cònmới chỉ vừa qua giai đoạn canh tác, đốt, phát, chọc, trỉa Chính vì vậy, sựphân hóa giữa các dân tộc thể hiện rõ nét hơn sự phân hóa trong nội bộ từngdân tộc, rõ nét nhất là giữa dân tộc kinh với các DTTS bản địa Sự phân hóađang có xu hướng tăng dần không chỉ giữa các dân tộc và trong nội bộ mộtdân tộc, mà còn giữa các khu vực và các vùng trong tỉnh

Đặc điểm này đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ KHKT người DTTS ởnhiều trình độ khác nhau, nhiều tộc người khác nhau và phải có khả năngnhạy cảm với các vấn đề về dân tộc và quan hệ dân tộc, biết giải quyết nhanh,đúng đắn, có hiệu quả trong quá trình chuyển đổi từ thói quen sản xuất lạchậu sang vận dụng KHKT vào sản xuất không ngừng nâng cao hiệu quả củasản xuất tăng năng xuất lao động Có thể nói đây là một yêu cầu không thểthiếu được đối với người cán bộ KHKT là người DTTS ở ĐăkLăk

ĐăkLăk là một vùng văn hóa giàu bản sắc và phong phú của nhiều

dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Nó vừa đa dạng đanxen; vừa thống nhất, kết hợp hài hòa với nhau tạo nên một bản sắc độc đáo,tinh tế, một phong cách đặc thù với 3 dòng văn hóa chính:

Trang 15

- Văn hóa bản địa của các dân tộc Trường Sơn - Tây Nguyên

- Văn hóa của các DTTS phía Bắc

- Văn hóa của dân tộc Việt, mang đủ sắc thái 3 miền Bắc - Trung - Nam

Cả ba dòng văn hóa này đang phát triển, giao thoa, đan xen, bồi đắpcho nhau tạo nên nền văn hóa ĐăkLăk phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắcdân tộc Văn hóa làng buôn ở ĐăkLăk là sự hội tụ của văn hóa nhà dài (Êđê,M’Nông), văn hóa nhà rông (GiaJai, XêĐăng), văn hóa nhà sàn của các DTTSphía Bắc và văn hóa đình làng của người Việt Nơi đây vừa có hương ước(quy ước) làng thể hiện sự gắn bó trong cộng đồng từ lâu đời, vừa thể hiện sựgiao kết giữa các cộng đồng trong việc thực hiện nếp sống văn minh, gia đìnhvăn hóa trong sự nghiệp đổi mới hiện nay

Nói đến văn hóa các dân tộc ĐăkLăk không thể không nói đến văn hóacồng chiêng hết sức độc đáo, với sự hội nhập của các dàn chiêng Knar (Êđê),GôngPế (M’Nông), Aráp (XêĐăng, GiaJai) tạo nên một bản hợp sướng giàu

âm điệu của núi rừng Tây Nguyên

Là một trong những dân tộc bản địa lâu đời ở ĐăkLăk, người Êđê cómột hệ thống lễ hội dân gian hết sức phong phú, đa dạng và độc đáo Đặc biệt

là lễ nghi nông nghiệp theo nông lịch chu kỳ hàng năm như lễ ăn cơm mới,cúng bến nước, cầu mưa, lễ đâm trâu, lễ mừng được mùa … Vấn đề đặt ra ởđây là, hệ thống lễ hội phong phú như vậy vừa chứa đựng những quan niệm

mê tín dị đoan cần được xóa bỏ nhưng cũng bao hàm chứa đựng ý nghĩa nhânvăn, giáo dục đạo đức và ý thức cộng đồng của các thành viên buôn làng, cầnđược tiếp tục nghiên cứu và cải biến cho phù hợp với nhu cầu đời sống vănhóa mới

Một nét đặc sắc trong văn hóa các dân tộc ở ĐăkLăk là các Sử thi Nộidung của các Sử thi mang đậm tính lịch sử, trong đó các sinh hoạt xã hội, tínngưỡng, phong tục tập quán được miêu tả cụ thể và sinh động bằng những lờivăn vần xúc tích, trau chuốt và mang tính nghệ thuật cao Các Sử thi thường

Trang 16

được kể trong các lễ hội cầu chúc sức khỏe, lễ cơm mới, các lễ hội sau mùagặt hái … phản ánh khát vọng tự do của con người hướng về cội nguồn tổtiên, cội nguồn dân tộc; về ý thức cộng đồng buôn làng Các nội dung này có

ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ, hình thành mối quan hệgiữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên một cách hàihòa, góp phần trong việc tạo dựng phẩm chất khoan dung, sự đoàn kết gắn bó

và tính cộng đồng bền chặt xây dựng quê hương giàu đẹp hơn

Người Êđê theo chế độ mẫu hệ, con cái tính theo dòng mẹ, lấy họ mẹ.Trong cuộc sống gia đình, vai trò của người phụ nữ trở thành chính yếu, từviệc nắm giữ kinh tế, nuôi dạy con cái, tổ chức cuộc sống, còn người đàn ôngchỉ lo nương rẫy Chính sự phân công xã hội từ bản sắc văn hóa cộng đồngnày đã ảnh hưởng đến nhân cách của người DTTS hiện nay theo hai chiều:tâm lý tự ti thụ động Mặt khác, tuy người vợ có vị thế quan trọng trong giađình nhưng trong quan hệ xã hội thì người đàn ông vẫn giữ vị trí quan trọng.Cho nên nam giới vẫn dễ thoát ly, nữ giới vẫn dễ bị cột chặt vào công việc giađình, dòng họ Thực tế này đã ảnh hưởng đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ

nữ người DTTS

Sống trong một xã hội mà ý thức cộng đồng bao giỡ cũng là tính trội

so với ý thức sống và làm việc theo pháp luật; những tàn tích của gia đìnhmẫu hệ vẫn còn tồn tại; những thói quen và tập tục lạc hậu từ ngàn đời vẫnníu kéo con người làm cho người cán bộ DTTS bàng quang trước cái mới

và ngại thay đổi

Yếu tố xã hội truyền thống này ảnh hưởng không nhỏ đến việc hìnhthành nhân cách, tâm lý của người cán bộ DTTS, chỉ dừng lại ở tư duy trựcquan, cảm tính mà không vươn tới tư duy lý luận, tư duy khoa học, làm chonăng lực cá nhân chưa được phát triển một cách đầy đủ

ĐăkLăk chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm tình hình của một địa

bàn miền núi, biên giới, nơi có nhiều thành phần dân tộc và tôn giáo đang

Trang 17

hoạt động; là địa bàn tập trung đầy đủ các yếu tố về dân tộc, tôn giáo, biêngiới hết sức phức tạp và nhạy cảm Tỉnh có 10 xã của 6 huyện tiếp giáp vớitỉnh Munđunkiri với 193km đường biên giới Có 24,6% dân số theo tôn giáo,trong đó Công giáo 214.425 người, Phật Giáo 123.619 người, Tin lành135.836 người, Cao Đài 4.200 người, Hòa Hảo 175 người; có mối liên quan

và ảnh hưởng mật thiết với yêu cầu xây dựng và bảo vệ khu vực Tây Nguyêncũng như của cả nước Sự ổn định và phát triển của ĐăkLăk gắn liền với sự

ổn định và phát triển của cả khu vực Tây Nguyên và trong cả nước

Với vị trí chiến lược của mình, trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, ĐăkLăkluôn là một trong những địa bàn mà các lực lượng thù địch chống phá quyếtliệt, tìm cách chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm suy yếu chế độ XHCN doĐảng ta lãnh đạo Trong thời gian gần đây, các thế lực phản động quốc tế đã

và đang lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để đẩy mạnh việc thực hiện diễnbiến hòa bình kết hợp với âm mưu bạo loạn lật đổ ở ĐăkLăk bằng nhiều thủđoạn chống phá trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, gia tăngviệc truyền đạo tin lành trái phép Núp dưới danh nghĩa dân tộc, tôn giáo, cácthế lực thù địch ra sức xuyên tạc, chia rẽ tổ chức đảng, chính quyền với đồngbào các dân tộc, lừa gạt, dụ dỗ, kể cả đe dọa để lôi kéo đồng bào nhằm gây ra

sự mất ổn định về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội

Vụ bạo loạn mang tính chất chính trị diễn ra vào năm 2001 và 2004nhằm mục đích công khai cái gọi là “Nhà nước Đềgar độc lập” Việc pháttriển tổ chức “Tin lành Đềgar”, lôi kéo kích động lừa phỉnh đồng bào vượtbiên trái phép sang Cămpuchia, phát tán tờ rơi, viết khẩu hiệu chống chínhquyền, chống Đảng … đều nằm trong âm mưu nói trên

Đặc điểm này đòi hỏi và yêu cầu trong quá trình xây dựng, đào tạo độingũ cán bộ DTTS nói chung, đội ngũ cán bộ KHKT người DTTS nói riêngphải hết sức chú ý vấn đề rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đốitrung thành với lý tưởng cách mạng, đề cao cảnh giác, nắm vững và quán triệt

Trang 18

các quan điểm của đảng về chính sách dân tộc, tôn giáo, độc lập dân tộc với

an ninh biên giới, phát triển kinh tế gắn liền với ổn định xã hội và giữ vữngchính trị, an ninh, quốc phòng, có khả năng nhạy bén chính trị, khôn khéo vàkiên quyết trong xử lý, giải quyết công việc khi có “điểm nóng chính trị” xảy

ra Hơn bao giờ hết trong những hoàn cảnh có vấn đề đòi hỏi cán bộ, đảngviên phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh ĐăkLăkvốn rất phức tạp bởi âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch

Tất cả những vấn đề trên cho thấy, cùng với việc học tập, nâng caotrình độ chuyên môn trong nhà trường thì việc giữ vững bản lĩnh chính trị,không ngừng rèn luyện tu dưỡng đạo đức và tư cách có ý nghĩa hết sức quantrọng để đội ngũ cán bộ KHKT người DTTS ở ĐăkLăk đủ sức vươn lên đápứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng đặt ra

Những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnhĐăkLăk là cơ sở thực tiễn của một trong năm tỉnh ở Tây Nguyên để Trungương Đảng đề ra đường lối lãnh đạo khu vực Tây Nguyên phát triển bền vững

Trang 19

và công nghệ cần phải có đội ngũ cán bộ KHKT để biến sức mạnh tiềm tàngvốn có của KHKT thành hiện thực phục vụ cho cuộc sống của con ngườiđồng thời chính họ cũng là những người tham gia vào công việc ngăn ngừa,khắc phục những hiểm họa mà chính KHKT tạo ra

Kế thừa những tư tưởng của Mác và Ăngghen, sau khi giành đượcchính quyền, để đáp ứng được yêu cầu của công cuộc bảo vệ và xây dựngCNXH, và trong sự nghiệp công nghiệp hóa XHCN, một nhiệm vụ rất mới

mẻ đặt ra trước công nhân và Đảng của giai cấp công nhân đó là nhiệm vụquản lý nhà nước, quản lý kinh tế nhằm xây dựng thắng lợi CNXH Lênin đãtiến hành đánh giá, sắp xếp lại, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho phùhợp với tình hình và nhiệm vụ mới Lênin rất chú ý đến việc rèn luyện, đàotạo đội ngũ cán bộ, đảng viên trẻ, đó là những người có khả năng tiếp thunhanh kiến thức về KHKT, quản lý kinh tế-xã hội, quản lý nhà nước, là nhữngngười kế thừa sự nghiệp lãnh đạo đất nước, lãnh đạo cách mạng trong tươnglai, đó là nhiệm vụ chiến lược của Đảng và Nhà nước Xôviết Lênin nêu rõ: Tiếntới xóa bỏ sự phân công giữa người và người, đồng thời giáo dục, huấn luyện vàtrau dồi nên lớp người có tri thức về mọi mặt, nghĩa là những người có khả nănglàm được tất cả mọi việc Chủ nghĩa cộng sản đang đi theo hướng ấy

Còn J.Stalin thì cho rằng: Bản thân chúng ta cần phải trở thành nhữngnhà chuyên môn, những người làm chủ công việc; chúng ta cần phải hướng vềphía những trí thức kỹ thuật; đấy là phía mà cuộc sống đang đẩy chúng ta đitới … Đã đến lúc gấp rút chúng ta phải hướng về kỹ thuật … bản thân chúng

ta phải trở thành những nhà chuyên môn, những người thông hiểu kỹ thuật,bản thân chúng ta phải trở thành những người hoàn toàn làm chủ được côngtác kinh tế

Bình đẳng dân tộc là một nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong Cươnglĩnh về vấn đề dân tộc của Lênin Đây là một sự bình đẳng hoàn toàn, một sựbình đẳng toàn diện giữa các dân tộc trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn

Trang 20

hóa, Lênin đã chỉ rõ rằng: Người nào không thừa nhận và không bảo vệ quyềnbình đẳng giữa các dân tộc và bình đẳng giữa các ngôn ngữ, không đấu tranhchống mọi áp bức hay mọi bất bình đẳng dân tộc, người đó không phải làngười mácxít, thậm chí cũng không phải là người dân chủ nữa Bình đẳng vănhóa có nghĩa là các dân tộc có quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ trong trường học …Mặt khác, Lênin cho rằng nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa sẽ đòi hỏi cácdân tộc sống trong một quốc gia phải học tiếng của dân tộc đa số.

Có thể thấy, theo Lênin vấn đề cán bộ có tri thức về mọi lĩnh vực vàđặc biệt là lĩnh vực KHKT được quan tâm hàng đầu trong công cuộc bảo vệ

và xây dựng chính quyền Xôviết và Người cũng quan tâm đến việc thực hiệnbình đẳng dân tộc trên mọi phương diện cũng như việc phải đoàn kết dân tộc

để chung tay xây dựng chính quyền Xôviết vững mạnh Tuy nhiên, Lêninchưa đề cập rõ nét về việc đào tạo đội ngũ trí thức DTTS chính là tạo điềukiện để các dân tộc vượt lên thực hiện quyền bình đẳng

Bình đẳng dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh có 3 cấp độ: bình đẳnggiữa các quốc gia dân tộc; bình đẳng giữa dân tộc đa số và các DTTS, bìnhđẳng giữa các DTTS với nhau trong một quốc gia đa dân tộc; bình đẳng giữacác cá nhân, giữa các công dân, giữa các thành viên trong xã hội, không phânbiệt nam hay nữ, giàu hay nghèo, địa vị cao hay thấp trong xã hội …

Hồ Chí Minh coi thời đại của chúng ta bây giờ là thời đại vệ tinh nhântạo, nghĩa là thời đại của khoa học phát triển mạnh, thời đại XHCN Tại Đạihội Đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Hội nghị phổ biến KHKT Việt Nam,Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: không phải từ sản xuất mà ra và phải trởlại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng xuất lao động

và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, đảm bảo cho CNXH thắnglợi Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến nhiệm vụ giáo dục KHKTcho nhân dân, coi việc cung cấp tri thức KHKT là một nội dung cơ bản củagiáo dục Người quan tâm đến việc tập hợp trí thức, trọng dụng nhân tài,

Trang 21

chăm lo xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ KHKT Bởi vì, theo Người muốnphát triển văn hóa thì phải cần thầy giáo, muốn phát triển sức khỏe của nhândân thì phải cần thầy thuốc, muốn phát triển kỹ nghệ phải cần các kỹ sư.Chính vì thế, Người đã khẳng định một cách dứt khoát rằng, cách mạngXHCN phải gắn liền với sự phát triển của KHKT, với sự phát triển văn hóacủa nhân dân; đồng thời tin tưởng rằng, CNXH cộng với khoa học chắc chắn

sẽ mang lại cuộc sống hạnh phúc, ấm no cho dân tộc Việt Nam nói chung vàcho đồng bào các DTTS nói riêng

Để cho đồng bào DTTS có cuộc sống ấm no, Hồ Chí Minh khẳng địnhphải làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, Người chỉ rõ Đảng và Chính phủphải có kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở miền núi Đồngbào miền xuôi phải giúp đỡ đồng bào miền núi Đồng thời các DTTS cũngphải không ngừng vươn lên Động viên đồng bào miền núi tăng gia sản xuất,thực hành tiết kiệm Xây dựng hệ thống giao thông, liên lạc thuận lợi hơn.Phát triển nông nghiệp toàn diện, tùy theo điều kiện của từng địa phương màphát triển cây lương thực hay cây ăn quả, cây công nghiệp Đưa tiến bộKHKT vào các ngành nông, lâm nghiệp, đẩy mạnh phong trào cải tiến công

cụ, chống xói mòn đất trồng Kết hợp chặt chẽ công nghiệp địa phương, thủcông nghiệp và nông nghiệp; sản xuất và chế biến, thương nghiệp … Muốnvậy, phải đào tạo được đội ngũ cán bộ DTTS và cán bộ DTTS làm KHKT

Đào tạo DTTS là sự thể hiện nội dung của tư tưởng bình đẳng và chiếnlược con người của Hồ Chí Minh Trong Hội nghị Tuyên giáo miền Núi(1963), Người nói: Hiện nay, lại có hơn 30 trường thanh niên dân tộc vừa họcvừa làm, để đào tạo cán bộ địa phương, vừa có văn hóa, vừa có kỹ thuật, vừagiỏi lao động Loại trường đó rất tốt, cần giúp cho trường đó phát triển đúngphương hướng … đây là trường học để đào tạo cán bộ Hồ Chí Minh cũng rấtchú trọng đến khâu bồi dưỡng cán bộ miền núi về chính trị, văn hóa và nghiệp

vụ bằng nhiều hình thức, phương pháp bồi dưỡng đa dạng Cử đi học văn hóa

Trang 22

để nâng cao trình độ, từ bổ túc, các trường phổ thông, rồi đại học, trên đạihọc Cử đi học các trường kỹ thuật, nâng cao tay nghề, sơ cấp, trung cấp kỹthuật đến đại học kỹ thuật.

Nhận rõ vai trò và tầm quan trọng to lớn của lực lượng cách mạngtrong vùng đồng bào các dân tộc, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản ViệtNam đã có chính sách dân tộc đúng đắn, động viên và tập hợp lực lượng cácDTTS tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và ngày nay là sự nghiệpđổi mới đất nước Trong 79 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, từ Cươnglĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (1930) đến Cương lĩnh xây dựng đất nướctrong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991) Chính sách dân tộc của Đảng được bổsung và hoàn thiện qua mỗi giai đoạn cách mạng, đáp ứng yêu cầu của sựnghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH Nội dung chủ yếu,xuyên suốt và nhất quán trong chính sách dân tộc của Đảng ta là các dân tộcbình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ và phát triển bềnvững Đây là một trong những đặc trưng cơ bản thể hiện bản chất ưu việt củachế độ XHCN ở nước ta

Tinh thần cơ bản trên đã được thể chế vào Hiến Pháp năm 1946, được

cụ thể hóa trong Hiến Pháp năm 1959 và được khẳng định lại ở Hiến Pháp

năm 1992:

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nướcthống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữacác dân tộc; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc … Nhànước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng caođời sống vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS [25, tr 255-256]

Để chính sách dân tộc thực sự đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực,Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị, đề cập đến việc đào tạo, bồi dưỡng và

sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ DTTS

Trang 23

Trong thời kỳ đổi mới đất nước, Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị, ngày27/ 11/ 1989 và Quyết định 72 của Hội đồng bộ trưởng, ngày 13/ 3/ 1990 đều

đề cập đến vấn đề đào tạo, bồi dưỡng và các chính sách đối với đội ngũ cán

bộ DTTS Để thực hiện trên thực tế quyền bình đẳng, giữa các dân tộc, mộtmặt pháp luật phải bảo đảm quyền bình đẳng đó, mặt khác phải có chính sách

và tạo điều kiện để nhân dân các dân tộc miền núi vươn lên mạnh mẽ, pháttriển kinh tế, văn hóa, từng bước nâng cao năng xuất lao động, nâng cao đờisống vật chất và tinh thần cho nhân dân, coi trọng đào tạo cán bộ người dântộc; tôn trọng và phát huy những phong tục, tập quán và truyền thống văn hóatốt đẹp của các dân tộc Nền văn minh ở miền núi phải được xây dựng trên cơ

sở mỗi dân tộc phát huy bản sắc văn hóa của mình, vừa tiếp thu tinh hoa vănhóa của các dân tộc khác và góp phần phát triển văn hóa chung của cả nước

Ngày 16/ 5/ 1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 37/

CT-TW, Chỉ thị nêu cụ thể: Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ KHKT, kinh tế,pháp luật, hành chính, quản lý nhà nước … cán bộ nữ, dân tộc ít người, tôngiáo, vùng sâu, vùng xa Trong các trường đại học cần xây dựng một sốtrường đại học và một số ngành trọng điểm có đủ năng lực đào tạo được cácnhà khoa học và kỹ thuật giỏi cho đất nước

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) của Đảng đãxác định phương hướng đến năm 2000 trong việc thực hiện chính sách dântộc của đảng là, bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, phải thực hiệncho được 3 mục tiêu chủ yếu: xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định và cảithiện được đời sống, sức khỏe của đồng bào các DTTS; nâng cao trình độ dântrí, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của các dân tộc; xâydựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên của các DTTS ở cácvùng, các cấp trong sạch vững mạnh

Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụngđội ngũ cán bộ KHKT, trong đó có cán bộ DTTS Xuất phát từ đặc điểm riêng

Trang 24

của đồng bào DTTS nên chủ trương của Đảng là có chính sách bảo đảm chocon em các gia đình trong diện chính sách, gia đình nghèo được đi học và mởthêm các trường phổ thông dân tộc nội trú ở những vùng khó khăn, vùng đồngbào thiểu số, coi đây là một bộ phận quan trọng trong đường lối cách mạngcủa Đảng Đối với việc phát triển kinh tế-xã hội ở miền núi và vùng đồng bàoDTTS, Đại hội VIII đặt ra chương trình mục tiêu: khai thác mọi tiềm lực ở địaphương và huy động sức của cả nước để tạo bước phát triển nhanh hơn vềkinh tế-xã hội, ổn định đời sống, cải thiện môi trường, môi sinh … tăngtrưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển xã hội, văn hóa, bảo đảmquốc phòng an ninh, phấn đấu giảm bớt khoảng cách giữa các vùng về mặttiến bộ xã hội

Từ các mục tiêu nêu trên, Đảng ta yêu cầu đội ngũ cán bộ KHKT cầnphát huy sáng tạo trong nghiên cứu, đề cao trách nhiệm trước xã hội Về phíaĐảng và Nhà nước:

Có chính sách chăm lo điều kiện làm việc, lợi ích vật chất và tinhthần của người nghiên cứu, phát minh và ứng dụng khoa học, côngnghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tụê; ưu đãi nhân tài có cống hiến quantrọng; khuyến khích cán bộ khoa học làm việc ở vùng sâu, vùng xa.Ngăn chặn tình trạng “chảy máu chất xám” [18, tr 106, 107]

và khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trícủa người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậubằng khoa học và công nghệ

Nhằm từng bước đổi mới giáo dục, Đại hội VIII của Đảng xác định đổimới hệ thống giáo dục chuyên nghiệp và đại học, kết hợp đào tạo với nghiêncứu, tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến Bên cạnhđổi mới giáo dục chúng ta cũng tính đến hiệu quả của việc sử dụng đội ngũcán bộ được đào tạo và từ khâu sử dụng cán bộ cũng là cơ sở để hoạch địnhchiến lược phát triển giáo dục về các lĩnh vực chuyên môn cần chú ý đào tạo

Trang 25

cho trước mắt cũng như lâu dài: “Giải quyết tốt mối quan hệ giữa đào tạo với

sử dụng Xây dựng đội ngũ trí thức đồng bộ về các lĩnh vực khoa học và côngnghệ” [18, tr 109]

Hội nghị Trung ương lần thứ Hai khóa VIII của Đảng cũng đã nhấnmạnh đến việc nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường phát huy cao độtrí tụê và nguồn lực nội sinh, lấy phát triển GDĐT, khoa học và công nghệlàm yếu tố cơ bản coi đó là then chốt đột phá để tiến hành CNH, HĐH đấtnước Thực tế đã chứng minh rằng, khoa học và công nghệ muốn phát triển là

do con người, do đội ngũ trí thức Con người được GDĐT sẽ là động lực của

sự phát triển kinh tế-xã hội Khoa học công nghệ đã đưa GDĐT lên vị tríchiến lược trong sự nghiệp CNH, HĐH ở mỗi quốc gia Chính vì vậy, xu thế

đi lên bằng giáo dục, bằng khoa học công nghệ đã và đang trở thành xu thếcủa thời đại

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trìnhphát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu,vùng xa số 135, ngày 31/ 7/ 1998 chỉ rõ nhiệm vụ của chương trình 135 làphải đào tạo cán bộ xã, bản, làng, phum, sooc, giúp cán bộ cơ sở nâng caotrình độ quản lý hành chính và kinh tế để phục vụ yêu cầu phát triển kinhtế-xã hội tại địa phương Nhà nước sẽ có chính sách phát triển nguồn nhânlực như hỗ trợ kinh phí để mở lớp dạy nghề cho con em đồng bào dân tộcnhằm khai thác tiềm năng tại chỗ, phát triển các ngành nghề phi nôngnghiệp, tăng thu nhập, nâng cao đời sống

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nhấn mạnh:

“Phát huy tính tích cực sáng tạo, tính dân chủ trong hoạt động khoa học vàcông nghệ Đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí thức, trọngdụng và tôn vinh nhân tài” Về công tác cán bộ, Đại hội IX tiếp tục khẳngđịnh quan điểm đổi mới mà Đại hội VI, VII, VIII đã nêu và nhấn mạnh, có cơchế và chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng

Trang 26

dụng những người có đức, có tài và làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồncán bộ, chú ý cán bộ nữ và cán bộ các DTTS, chuyên gia trên các lĩnh vực.Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tácthực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu; có phương phápkhoa học, khách quan, công tâm, theo quy trình chặt chẽ, phát huy dân chủ,dựa vào tập thể và nhân dân để tuyển chọn cán bộ Đổi mới, trẻ hóa đội ngũcán bộ lãnh đạo và quản lý, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, kế thừa

và phát triển

Đại hội IX một mặt tiếp tục khẳng định làm cho văn hóa, giáo dục vàkhoa học thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nhu cầu của từng cánhân, từng cộng đồng của toàn xã hội Mặt khác, các lĩnh vực đó phải là một

bộ phận, một nội dung quan trọng hàng đầu trong toàn bộ kế hoạch phát triểnkinh tế-xã hội của cả nước, từng khu vực và từng địa phương bởi vì đầu tưcho chúng không phải vì sự phát triển của bản thân chúng mà chính vì sự pháttriển bền vững của toàn xã hội của đất nước Vì vậy, phải có chính sách đãingộ đặc biệt đối với các nhà khoa học xuất sắc, khuyến khích cán bộ KHKTbám sát cơ sở sản xuất, phục vụ các vùng khó khăn, vùng nông thôn

Để triển khai các Nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã có quyết định số168-QĐ/ TTg ngày 30/ 10/ 2001 về việc định hướng dài hạn, kế hoạch 5 năm2001-2005 và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế-xã hội vùng TâyNguyên; trong đó về GDĐT phải phấn đấu đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sởcho toàn vùng vào năm 2010 Đầu tư xây dựng đủ phòng học kiên cố và bánkiên cố cho các cấp học, trong đó có khoảng 50% trường học được trang bịcác đồ dùng dạy học, thí nghiệm, thư viện, sân chơi và khu thể thao theo tiêuchuẩn tối thiểu; 80 - 90% các trường có trang thiết bị đạt chuẩn vào năm

2010 Hoàn thành xây dựng trường phổ thông dân tộc nội trú cho tất cả cáchuyện, tăng cường cơ sở vật chất cho các trường trung học phổ thông dân tộcnội trú tỉnh Phát triển các trường bán trú, các trường nuôi dưỡng trẻ em

Trang 27

khuyết tật ở các tỉnh Củng cố và phát triển các cơ sở nhà trẻ, mẫu giáo Tậptrung đầu tư, tăng cường khả năng và quy mô đào tạo cho Trường Đại học ĐàLạt và Trường Đại học Tây Nguyên Mở khoa Dự bị Đại học dành cho họcsinh dân tộc đặt tại Trường Đại học Tây Nguyên.

Nhằm thực hiện công bằng trong giáo dục, Kết luận số 14 – KL/ TW,ngày 26/ 7/ 2002 của Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa

IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương Hai khóa VIII đã khẳng định:

ưu tiên phát triển giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS Chú trọng đàotạo cán bộ vùng dân tộc (cán bộ đảng, chính quyền, đoàn thể từ bản, ấp trở lên

và cán bộ KHKT) Củng cố và tăng cường hệ thống trường nội trú, bán trúcho học sinh DTTS; từng bước mở rộng quy mô tuyển sinh, đáp ứng yêu cầuđào tạo toàn diện đi đôi với cải tiến chính sách học bổng cho học sinh cáctrường này Thực hiện chế độ miễn phí học tập, cung cấp sách giáo khoa chohọc sinh vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS Thực hiện tốt chính sách

cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ đối với vùng DTTS, vùng sâu, vùng xa có nhiềukhó khăn Có chính sách bổ túc kiến thức cần thiết cho số học sinh DTTS đãtốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung học cơ sở mà không có điều kiệnhọc tiếp để các em trở về địa phương tham gia công tác ở cơ sở

Kết luận số 14 còn khẳng định việc hình thành hệ thống trường đào tạo

kỹ thuật thực hành với nhiều trình độ, đẩy nhanh tiến độ xây dựng một sốtrường đại học, trường dạy nghề trọng điểm Tiếp tục sắp xếp, củng cố mạnglưới các trường, nhất là các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyênnghiệp và dạy nghề Đẩy nhanh cơ sở xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội vàĐại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, một số trường trọng điểm khácđặc biệt trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ

Từ năm 2002 thực hiện chính sách giáo dục đối với con em là ngườiDTTS ở Tây Nguyên là: Miễn đóng góp xây dựng trường, học phí, hỗ trợsách giáo khoa và giấy vở học tập Nhà nước chi phí toàn bộ tiền ăn ở, học tập

Trang 28

cho học sinh DTTS tại các trường dân tộc nội trú Đối với con em thuộc diệnhọc ở trường nội trú nhưng không ở nội trú mà tham dự học ở các trườngcông lập, bán công thì được cấp học bổng bằng 50% số học bổng nội trú.Thực hiện chính sách cử tuyển và sử dụng con em đồng bào dân tộc đi đào tạonghề, học trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học, ưu tiên các đốitượng tự nguyện đi học trở về quê hương công tác Các cấp chính quyền phải

có kế hoạch đào tạo và sử dụng, bố trí người dân tộc tại chỗ có đủ điều kiệnvào làm việc ở các cơ quan nhà nước, tổ chức đoàn thể, chính trị-xã hội ở địaphương Từng bước tiến tới đại bộ phận cán bộ làm công tác y tế, GDĐT ởnông thôn vùng đồng bào dân tộc là người DTTS Đặc biệt, Chính phủ nhấnmạnh có chính sách thu hút cán bộ KHKT đến Tây Nguyên công tác

Nghị quyết của Bộ Chính trị số 10 - NQ/ TW, ngày 18/ 1/ 2002 vềphát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyênthời kỳ 2001-2005 Quan điểm chỉ đạo của Đảng là đặc biệt chú ý xây dựngđội ngũ cán bộ người DTTS tại chỗ Cần phát huy tối đa các nguồn lực, chủyếu là nguồn lực trong nước, trước hết là nguồn lực tại chỗ để đầu tư pháttriển, khai thác tốt nhất các tiềm năng, lợi thế của vùng nhằm phát triểnkinh tế-xã hội nhanh, hiệu quả cao và bền vững Đó là biện pháp cơ bản đểphát triển kinh tế-xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh ở Tây Nguyêntrong 10 năm tới cũng như lâu dài phải quán triệt sâu sắc chính sách dântộc của Đảng và Nhà nước

Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh, tích cực đưa tiến bộ KHKT và côngnghệ vào sản xuất, bảo đảm hiệu quả và tính cạnh tranh cao Chủ trương pháttriển các ngành và lĩnh vực trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch chung Coi trọngchuyên môn hóa sản xuất từng vùng, Đảng đã nhấn mạnh: phát triển chănnuôi theo hướng sản xuất hàng hóa có chất lượng cao Phát huy thế mạnh vềrừng, có chính sách để đồng bào, nhất là đồng bào DTTS tại chỗ có thể sốngtốt, ổn định và làm giàu bằng nghề rừng Có các cơ chế, chính sách đối với

Trang 29

công tác khuyến nông khuyến lâm, hình thành đội ngũ cán bộ chuyển giaocông nghệ cho nông dân, nhất là đối với đồng bào các DTTS.

Bên cạnh coi trọng chuyên môn hóa sản xuất từng vùng, Đảng ta cũngkhẳng định vai trò của việc ứng dụng công nghệ sinh học tại các tỉnh TâyNguyên nên đã chủ trương xây dựng các trung tâm phát triển giống cây trồng,vật nuôi (cà phê, cao su, chè, bông, mía, bò lai, lợn hướng nạc, cây lâmnghiệp …) và làm nhiệm vụ hướng dẫn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ cho

cơ sở sản xuất và các hộ gia đình, nhất là chuyển giao công nghệ, hướng dẫnứng dụng tiến bộ KHKT cho đồng bào các DTTS Tăng cường năng lực choTrường Đại học Đà Lạt và Trường Đại học Tây Nguyên trở thành trung tâmvừa đào tạo, vừa nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển Tây Nguyên; huyđộng các cơ quan nghiên cứu khoa học công nghệ trong cả nước nghiên cứucác vấn đề công nghệ phục vụ sản xuất cho Tây Nguyên

GDĐT cũng đóng vai trò to lớn trong sự phát triển của Tây Nguyên do

đó, cần phải xây dựng các trung tâm dạy nghề đào tạo ngắn hạn và các trườngđào tạo nghề cho thanh niên DTTS và phải đào tạo, bồi dưỡng bằng nhiềuhình thức thích hợp; sắp xếp, bố trí, sử dụng và tạo điều kiện cho cán bộngười DTTS tại chỗ đảm nhận tốt trách nhiệm trong các lĩnh vực kinh tế, xãhội, quốc phòng, an ninh

Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Bảykhóa IX, khẳng định:

Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởngkinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dântộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực, chăm lo xâydựng đội ngũ cán bộ DTTS, giữ gìn và phát huy những giá trị, bảnsắc văn hóa truyền thống các DTTS trong sự nghiệp phát triểnchung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thống nhất [4, tr 44]

Trang 30

-Để thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc và sự phát triển đồng đều giữacác vùng miền trong cả nước nên Đảng đã chủ trương:

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế-xã hội các vùng dân tộc vàmiền núi, khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng,

đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực,tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăngcường sự quan tâm hỗ trợ của trung ương và sự tương trợ, giúp đỡcủa các địa phương trong cả nước [4, tr 44, 45]

Để phát triển kinh tế-xã hội ở các vùng dân tộc và miền núi bền vữngphải có chiến lược về công tác cán bộ, Hội nghị cũng khẳng định thực hiệntốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người DTTScho từng vùng, từng dân tộc Trong những năm trước mắt cần tăng cườnglực lượng cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt đến công tác ở vùng dân tộc,nhất là các địa bàn xung yếu về chính trị, an ninh, quốc phòng; coi trọngviệc bồi dưỡng, đào tạo để bổ sung cán bộ cho cơ sở từ các đối tượng làthanh niên sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự; nghiên cứu sửa đổi tiêuchuẩn tuyển dụng, bổ nhiệm và các cơ chế, chính sách đãi ngộ cán bộ côngtác ở vùng dân tộc và miền núi, nhất là những cán bộ công tác lâu năm ởmiền núi, vùng cao

Bên cạnh công tác cán bộ cần có những biện pháp trước mắt giải quyếtnhững vấn đề đang tồn tại ở vùng cao, vùng sâu nơi có nhiều đồng bào DTTSsinh sống, đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống củaDTTS, trọng tâm là đồng bào dân tộc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; trongnhững năm trước mắt tập trung trợ giúp đồng bào nghèo, các dân tộc đặc biệtkhó khăn giải quyết ngay những vấn đề bức xúc như: tình trạng thiếu lươngthực, thiếu nước sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụsinh hoạt tối thiểu, xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực biên giới, vùng sâu,vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn

Trang 31

Kết hợp những biện pháp nêu trên để phấn đấu đến năm 2010 theo tinhthần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban chấp hành Trung ương Đảngkhóa IX, các vùng dân tộc và miền núi cơ bản không còn hộ đói; giảm hộnghèo xuống dưới 10%; giảm dần khoảng cách chênh lệch mức sống giữa cácdân tộc, các vùng.

Qua các văn kiện của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết số 22 (1989)

và Nghị quyết số 10 (2002) của Bộ chính trị, Chỉ thị số 37 ( 1994) của Ban Bíthư, Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Ba khóa VIII, Trung ương Bảykhóa IX và Quyết định số 135 (1998) và 168 (2001) của Thủ tướng Chínhphủ, chúng ta thấy rõ vai trò, vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của khoa học vàcông nghệ cũng như công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộDTTS được thể hiện ở một số nội dung sau:

Thứ nhất, xây dựng đội ngũ cán bộ KHKT người DTTS tức là thực

hiện bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ

Quan điểm về xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ DTTS của đảng ta là rõràng và nhất quán nhằm phát huy tính tích cực cách mạng và khả năng to lớncủa các dân tộc, bồi dưỡng lực lượng các DTTS, nâng cao trình độ mọi mặt

để thực hiện sự đoàn kết chặt chẽ Bên cạnh sự quan tâm, giúp đỡ không thểthiếu của cán bộ người kinh, phải tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để đội ngũcán bộ DTTS phát huy hết mọi khả năng, năng lực vốn có của mình, nổ lựcvượt qua chính bản thân mình Xây dựng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộDTTS làm công tác KHKT là biểu hiện sinh động và cụ thể nhất cho khối đạiđoàn kết giữa các dân tộc, cho sự bình đẳng về mọi mặt, trước hết là bìnhđẳng về kinh tế và chính trị

Riêng về lĩnh vực KHKT và công nghệ, Đảng ta ngày càng có nhữngnhận thức sâu sắc hơn về tầm quan trọng của lĩnh vực KHKT và công nghệđối với sự phát triển của đất nước KHKT và công nghệ là một bộ phận củacuộc cách mạng XHCN và là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, giữ vị trí

Trang 32

then chốt trong sự nghiệp xây dựng CNXH, là động lực to lớn để đẩy nhanhquá trình CNH, HĐH đất nước, và là công cụ chủ yếu để nâng cao năng xuấtlao động, chất lượng và hiệu quả trong các hoạt động kinh tế-xã hội.

Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS phải bảo đảm sự thống nhất

giữa cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ; phải có những ưu tiên trong đào tạo, bồidưỡng trong chế độ, chính sách đãi ngộ

Trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, Nghị quyết Ban chấp hành Trungương Đảng lần thứ Ba (khóa VIII) đã xác định rõ những tiêu chuẩn chung đặt

ra đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp Vấn đề đặt ra là trên cơ

sở nắm vững tiêu chuẩn chung về cán bộ của đảng, phải biết vận dụng mộtcách linh hoạt vào từng địa bàn cụ thể, dân tộc cụ thể để xác định những tiêuchuẩn riêng, có tính đặc thù phù hợp với đặc điểm và điều kiện tự nhiên, kinh

tế, văn hóa, xã hội vùng đồng bào DTTS có cơ cấu hợp lý và đồng bộ Không

vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn cán bộ, ngược lại phải bảo đảm tiêu chuẩntrong cơ cấu đồng bộ

Lực lượng KHKT cần phải được tổ chức, bố trí và sử dụng có hiệu quả,ngày càng đóng góp nhiều chất xám cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Cần có cơ chế, chính sách, biện pháp khuyến khích và tạo điều kiệnthuận lợi cho cán bộ KHKT phát huy lao động sáng tạo

Thứ ba, sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đòi hỏi những người làm công

tác KHKT và công nghệ cống hiến bằng những sáng chế, phát minh, nhữngkết quả đưa nhanh tiến bộ KHKT và công nghệ vào sản xuất, bằng việc đápứng yêu cầu của thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nướchoạch định đường lối, chính sách góp phần xây dựng nền văn hóa mới, conngười mới, thúc đẩy xã hội phát triển

Những quan điểm cơ bản trên đây về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng và sửdụng đội ngũ cán bộ DTTS nói chung và cán bộ DTTS về lĩnh vực KHKT lànhững định hướng quan trọng, có ý nghĩa phương pháp luận để Đảng bộ tỉnh

Trang 33

ĐăkLăk vận dụng đề ra những chủ trương, chính sách phù hợp trong quá trìnhxây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ KHKT người DTTS hiện nay.

1.3 SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐĂKLĂK VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ KHOA HỌC-KỸ THUẬT NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

Trong quá trình xây dựng và phát triển Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk xác địnhGDĐT vùng DTTS là khâu đột phá để nâng cao dân trí, bồi dưỡng nguồnnhân lực và tạo nguồn cán bộ cho tương lai Đó cũng là biện pháp có tínhchiến lược nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng vàbảo vệ tổ quốc Việt Nam nói chung và sự ổn định phát triển bền vững củaĐăkLăk nói riêng

1.3.1 Khái niệm Cán bộ khoa học-kỹ thuật

Cán bộ được chia thành ba loại đó là cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộlàm công tác chuyên môn; cán bộ nhân viên Cán bộ KHKT thuộc cán bộ làmcông tác chuyên môn Cán bộ KHKT là những người được đào tạo và trang bịnhững kiến thức chuyên sâu về cả khoa học lý thuyết và khoa học ứng dụng,

có giác ngộ XHCN, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe, nắm được mộtcách có hệ thống những lý thuyết về khoa học kỹ thuật hoặc nghiệp vụ ngành,nghề đã học và đang làm việc trong các sở, ban, ngành, viện, trường, các tổchức đoàn thể xã hội, doanh nghiệp

Trên cơ sở khái niệm nêu trên, cách hiểu về cán bộ KHKT được diễngiải gồm những người:

- Đã tốt nghiệp đại học – cao đẳng và làm việc trong một ngànhKHKT;

- Đã tốt nghiệp đại học – cao đẳng nhưng không làm việctrong một ngành KHKT nào;

- Chưa tốt nghiệp đại học – cao đẳng nhưng làm một côngviệc trong một lĩnh vực KHKT đòi hỏi trình độ tương đương

Từ điển Bách khoa Việt Nam nêu khái niệm DTTS:

Trang 34

DTTS: dân tộc có số dân ít (có thể là hàng trăm, hàng ngàn vàcho đến hàng triệu) cư trú trong một quốc gia thống nhất có nhiềudân tộc, trong đó có một dân tộc số rất đông Trong các quốc gia cónhiều thành phần dân tộc, mỗi dân tộc thành viên có hai ý thức: ýthức về tổ quốc chung và ý thức về dân tộc mình Những DTTS

có thể cư trú tập trung hoặc rải rác xen kẽ, thường ở những vùngngoại vi, vùng hẻo lánh, vùng điều kiện phát triển kinh tế-xã hộicòn khó khăn Vì vậy, các nhà nước tiến bộ thường thực hiệnchính sách bình đẳng dân tộc nhằm xóa dần những chênh lệchtrong sự phát triển kinh tế-xã hội giữa dân tộc đông người và cácDTTS [50, tr 655]

Vậy, cán bộ KHKT người DTTS là những người thuộc dân tộc có số

dân ít (không phải là dân tộc kinh) được đào tạo và trang bị những kiến thức chuyên sâu về cả khoa học lý thuyết và khoa học ứng dụng, có giác ngộ XHCN, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe, nắm được một cách có hệ thống những lý thuyết về khoa học kỹ thuật hoặc nghiệp vụ ngành, nghề đã học và đang làm việc trong các sở, ban, ngành, viện, trường, các tổ chức đoàn thể xã hội, doanh nghiệp.

1.3.2 Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo việc tạo nguồn cho các trường đại học, cao đẳng

Tạo nguồn cán bộ là một khâu hết sức quan trọng trong quá trình xâydựng chiến lược cán bộ DTTS ở ĐăkLăk Qua các kỳ đại hội Đảng và Hộinghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, vấn đề tạo nguồn cán bộ luôn được quantâm và chú ý đúng mức Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lần thứ XII(1996) đã dự kiến mục tiêu tổng quát từ năm 1996 đến năm 2000 là: “Nângcao đời sống và dân trí, thu hẹp sự chênh lệch giữa các vùng, các tầng lớp dân

cư, nhất là vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa để cùng tiến lên theo mục tiêu:

“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”” [3, tr 44] Việc nâng

Trang 35

cao mặt bằng dân trí, phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ, phát sóng truyềnhình bằng tiếng Êđê ở vùng đồng bào DTTS có ý nghĩa vô cùng to lớn, tạo cơ

sở nền tảng quan trọng trong việc lựa chọn, phát hiện những người thực sự cónăng lực để tạo nguồn cán bộ cho địa phương

Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lần thứ XII (1996) còn chỉ rõ:cấp ủy phải xây dựng ngay kế hoạch đào tạo cơ bản và đồng bộ đội ngũ cán

bộ, đáp ứng yêu cầu từ nay đến năm 2000 và sau những năm 2000 theo hướngtrẻ hóa đồng thời phải kết hợp 3 độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, kế thừa vàphát triển của đội ngũ cán bộ; coi đây là vấn đề chiến lược có ý nghĩa quyếtđịnh Trong quy hoạch đào tạo cần chú ý các đối tượng là công nhân, con emgia đình chính sách, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc Nhằm vào các nguồn trườngnội trú dân tộc, sinh viên và trí thức trẻ, cán bộ cơ sở, bộ đội làm xong nghĩa

vụ quân sự Làm như vậy sẽ đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mớiđang đi vào chiều sâu, xây dựng một đội ngũ cán bộ vươn lên ngang tầmnhiệm vụ

Để thực hiện vấn đề chiến lược có ý nghĩa quyết định nêu trên, Hộinghị Tỉnh ủy ĐăkLăk lần thứ Bảy đã đề ra chương trình hành động số 45 -CTr/ TU, ngày 06/ 01/ 1998: Chương trình Thực hiện Nghị quyết Trung ương

Ba khóa VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.Trên cơ sở quán triệt quan điểm, mục tiêu, tiêu chuẩn cán bộ, những nhiệm vụ

và giải pháp lớn trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ theotinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba của Ban chấp hành Trung ương Đảng(khóa VIII); vận dụng vào điều kiện cụ thể của tỉnh ĐăkLăk, Hội nghị Tỉnh ủylần thứ Bảy đã xác định các quan điểm cơ bản cần quán triệt trong quá trình xâydựng đội ngũ cán bộ ở ĐăkLăk đối với khâu tạo nguồn là: “Thông qua hoạtđộng thực tiễn và phong trào cách mạng của quần chúng nâng cao trình độ dântrí để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ” [48]

Trang 36

Quán triệt sáng tạo Nghị quyết Trung ương Ba khóa VIII về chiến lượccán bộ vào đặc điểm và tình hình cụ thể của ĐăkLăk, chương trình hành độngcũng đã đề ra mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ đến năm 2000 và 2020 là:Xây dựng đội ngũ cán bộ, các cấp từ tỉnh đến cơ sở, trước hết là cán bộ lãnhđạo, quản lý phải có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàngtrên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,phải đặc biệt chú ý cán bộ DTTS, cán bộ nữ và cơ cấu ba độ tuổi, trong độingũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm đảm bảo sự chuyển tiếp liên tục và vữngvàng giữa các thế hệ cán bộ, thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế - xã hội củatỉnh, cũng như thực hiện thắng lợi nhiệm vụ CNH, HĐH, giữ vững độc lập tựchủ và đi lên CNXH.

Muốn có được đội ngũ cán bộ kịp thời và đảm bảo về chất lượng và sốlượng Chương trình hành động cũng nêu rõ cần phải có kế hoạch quy họachcán bộ một cách cụ thể đó là: Phải tập trung vào đối tượng cần quy hoạch lànhững công nhân, nông dân, trí thức, cán bộ và chiến sĩ lực lượng vũ trang ưu

tú, đặc biệt chú trọng cán bộ DTTS, cán bộ nữ, con gia đình có công cách mạng

có trình độ và năng lực thực tiễn trong công tác, trong lao động sản xuất Ngoài

ra cần phải có kế hoạch tạo nguồn cán bộ từ các trường học, nguồn học sinh từcác trường phổ thông dân tộc nội trú, quân nhân các lực lượng vũ trang

Nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộDTTS đạt được mục tiêu đã đề ra, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ĐăkLăk đã ban

hành Chỉ thị Số 19 – CT/ TU, ngày 26/ 7/ 1999 “Về việc đào tạo và sử dụng

cán bộ dân tộc” Nội dung của Bản Chỉ thị được thể hiện trên ba vấn đề cơbản về tạo nguồn như sau:

Lựa chọn số học sinh dân tộc có triển vọng, gia đình có lịch sử chính trị

rõ ràng để đào tạo lâu dài, học sinh tiểu học đưa đi đào tạo ở trường dân tộcnội trú huyện; học sinh trung học cơ sở đưa đi đào tạo ở trường dân tộc nội trú

Trang 37

tỉnh; học sinh trung học phổ thông đào tạo các bậc trung học chuyên nghiệp

và đại học

Tập trung củng cố, xây dựng cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ, giáoviên các trường dân tộc nội trú từ huyện đến tỉnh; đồng thời nghiên cứu sửađổi chế độ học phí cho học sinh dân tộc nội trú, nhằm đảm bảo cho việc dạy

và học đạt chất lượng cao hơn

Chỉ thị đặc biệt nhấn mạnh các cấp ủy, chính quyền xã, phường, thịtrấn rà soát lại số học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học hiện có ở địaphương không có điều kiện đi học các bậc trung học chuyên nghiệp, đại học,cần trú trọng sử dụng số học sinh này tham gia vào các đoàn thể quần chúng,chính quyền ở địa phương; qua đó lựa chọn, phát hiện những người có nănglực và phẩm chất đạo đức kết nạp đảng, đưa đi đào tạo tiếp nhằm tạo nguồnlâu dài Đây là một hướng đi đúng đắn, có tính khả thi nhằm bổ sung một lựclượng cán bộ trẻ có trình độ năng lực và phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán

bộ DTTS các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở

Nhằm cụ thể hóa những quan điểm chỉ đạo trong Chỉ thị số 19 (1999)của Tỉnh ủy ĐăkLăk, Năm 2000 UBND tỉnh đã ra Quyết định Số 429/ QĐ– UB về việc thực hiện Chỉ thị số 19 của tỉnh ủy Đường lối của Chỉ thị số

19 về sửa đổi chế độ học phí cho học sinh dân tộc nội trú cũng đã được cụthể hóa trong thực tiễn bằng Quyết định Số 1314/ QĐ – UB của UBNDnăm 2001, Về việc hỗ trợ sinh hoạt phí cho học sinh Trường phổ thông dântộc nội trú

Đặc biệt từ năm 2001, khi có Thông tư liên tịch số 04/ 2001/ BGD&ĐT-BTCCBCP-UBDT&MN, công tác tuyển sinh vào đại học, caođẳng, trung học chuyên nghiệp theo chế độ cử tuyển được tiến hành một cáchquy cũ, bài bản và chặt chẽ hơn trước UBND tỉnh đã thường xuyên có cácvăn bản chỉ đạo về quy trình tuyển sinh, đối tượng ưu tiên phù hợp với đặc

Trang 38

TTLT-thù của địa phương, xét duyệt phương án phân bổ chỉ tiêu và quyết định danhsách học sinh được chọn cử đi học.

Ngày 20/ 01/ 2002, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tiến hành Sơ kết 2 nămthực hiện Chỉ thị 19-CT/ TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa XII) qua Báocáo Số 28 – BC/ TU với những nội dung chỉ đạo sau đây:

Các huyện, thành phố, các sở, ban, ngành cần làm việc với các trườngcấp 3 để tuyển chọn số con em ở các gia đình có truyền thống cách mạng, họclực khá; đào tạo tiếp để phục vụ tại địa phương mình, ngành mình Trong năm

2002, Ban Tổ chức Tỉnh ủy cùng với Ban Tổ chức Chính quyền tỉnh khảo sátlại nhu cầu cán bộ quản lý nông nghiệp ở cơ sở, làm việc với Trường Đại họcTây nguyên, Bộ GDĐT để mở 1 lớp đại học kinh tế nông lâm nghiệp cho họcsinh DTTS đã tốt nghiệp cấp 3 Số học sinh tốt nghiệp nói trên được bố trícông tác ở tại địa phương giới thiệu đi học

Có kế hoạch đào tạo tiếp số học sinh DTTS sau khi tốt nghiệp cáctrường phổ thông dân tộc nội trú nhưng không theo học ở bậc học cao hơnvào đào tạo nghề, nhằm đào tạo nguồn lao động có tay nghề

Các cấp, các ngành, các đơn vị phải xem công tác quy hoạch cán bộ làmột việc làm thường xuyên của đơn vị và các cấp ủy đảng Khi quy hoạch cán

bộ DTTS không chỉ chú ý đến đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt mà cần quyhoạch đội ngũ cán bộ khoa học, chuyên viên, cán bộ chuyên môn mới khắc phụcđược tình trạng hụt hẫng cán bộ DTTS như hiện nay ở các ngành các cấp

Đối tượng được quy hoạch để đào tạo theo tinh thần của quyết định số

135 của Thủ tướng Chính phủ (1998) cũng đã được tỉnh ủy ĐăkLăk chỉ đạo

và UBND tỉnh cũng đã có liên tiếp hai văn bản đó là Công văn số 2212/

CV-UB (2002) về việc thực hiện dự án đào tạo cán bộ thuộc chương trình 135 vàQuyết định số 1581/ QĐ-UB (2003) về việc phê duyệt dự án đào tạo cán bộ

xã, thôn, buôn thuộc chương trình 135 Cán bộ thuộc chương trình 135 dànhcho những xã đặc biệt khó khăn được gửi đi đào tạo trong đó có con em người

Trang 39

DTTS để phục vụ sự phát triển của địa phương từng bước đưa địa phươngmình ra khỏi danh sách những xã đặc biệt khó khăn của tỉnh, cũng nhằm mụcđích nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào ở địa phương mình.

Tỉnh ủy ĐăkLăk cũng đã ban hành Nghị quyết Số 05 – NQ/ TU về lãnhđạo xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS từ nay đến năm 2010, ngày 14/ 1/ 2005với quan điểm chỉ đạo là: công tác cán bộ DTTS, phải coi trọng việc tạonguồn, tuyển chọn từ con em cán bộ và gia đình cách mạng là người DTTS.Ban Tổ chức Tỉnh ủy và Sở Nội vụ phối hợp với các ngành chức năng khảosát nhu cầu cán bộ ở các ngành, các lĩnh vực và các cấp, hàng năm có kếhoạch cử tuyển, mở lớp đào tạo, đảm bảo mục đích đào tạo gắn với sử dụng

Để tạo nguồn cho các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, trung tâmdạy nghề hàng năm tỉnh ĐăkLăk đã phối hợp với Bộ GDĐT, Sở GDĐT, SởNội vụ để nắm được thực trạng đội ngũ cán bộ công tác trong lĩnh vực KHKT

là người DTTS để từ đó nhận thức được nhu cầu cán bộ cần sử dụng và cóchủ trương cụ thể về công tác đào tạo đội ngũ này thông qua chỉ tiêu của BộGDĐT giao cho các trường và chủ động đề nghị các trường mở thêm các lớpđào tạo theo địa chỉ dựa trên nhu cầu cần sử dụng của tỉnh

Có thể nhận thấy xuyên suốt đường lối của Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk vềkhâu tạo nguồn cán bộ DTTS cho các trường đại học, cao đẳng dựa trên cáctiêu chí sau: người được gửi đi đào tạo phải có lý lịch rõ ràng, cơ bản, con emthuộc diện gia đình chính sách, có bản lĩnh chính trị, mang bản chất giai cấpcông nhân … Trên cơ sở các tiêu chí đó nguồn cán bộ gửi đi đào tạo ở cáctrường được thực hiện thông qua quá trình khảo sát và tuyển chọn từ nhữngngười DTTS bằng những con đường sau: chú ý đào đạo từ cấp học tiểu họclên trung học cơ sở, trung học phổ thông rồi vào đại học; hệ dự bị, cử tuyển;

đã học hết phổ thông trung học không có điều kiện học lên cao, đồng bào làngười DTTS được tuyển dụng vào các tổ chức đoàn thể, chính quyền trong hệthống chính trị sẽ được gửi đi học; thông qua quá trình khảo sát thực trạng đội

Trang 40

ngũ cán bộ DTTS để chủ động gửi cán bộ đến học ở các trường đại học, caođẳng về các chuyên ngành mà tỉnh đang thiếu cán bộ

Xuất phát từ mục tiêu đề ra của Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk là nâng cao trình

độ dân trí, vì vậy, phải đặc biệt quan tâm từ các cấp bậc học cho đồng bàoDTTS Đồng bào DTTS học xong bậc tiểu học thì gửi lên học ở trường nội trúhuyện, xong trung học cơ sở thì gửi lên học ở nội trú tỉnh Làm như vậykhông chỉ nâng cao được trình độ dân trí mà đó còn là cách tạo nguồn tốt nhấtcho các trường cao đẳng, đại học cũng như đảm bảo cho chất lượng của côngtác đào tạo sau này tại các trường cao đẳng, đại học đạt kết quả cao

Tuy nhiên, đường lối lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk về công táccán bộ DTTS nói chung thì khá rõ nét nhưng riêng đội ngũ cán bộ DTTS vềlĩnh vực KHKT thì còn rất mờ nhạt, chỉ đôi chỗ nhắc đến trong các văn kiệnnhư: khi quy hoạch cán bộ DTTS không chỉ chú ý đến đội ngũ cán bộ lãnhđạo chủ chốt mà cần quy hoạch đội ngũ cán bộ khoa học, chuyên viên, cán bộchuyên môn mới khắc phục được tình trạng hụt hẫng cán bộ DTTS như hiệnnay ở các ngành các cấp Tỉnh ĐăkLăk đã phối hợp với Bộ GDĐT, SởGDĐT, Sở Nội vụ để nắm được thực trạng đội ngũ cán bộ công tác trong lĩnhvực KHKT là người DTTS để từ đó nhận thức được nhu cầu cán bộ cần sửdụng và có chủ trương cụ thể về công tác đào tạo đội ngũ này

Trên cơ sở quy hoạch cán bộ đảm bảo đúng quy trình khoa học, côngtác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ DTTS sẽ đạt chất lượng và hiệu quảcao hơn, tránh việc đào tạo tràn lan, dàn trải Đây là hai vấn đề có liên quanchặt chẽ, bổ sung cho nhau nhằm đạt mục đích cao nhất là xây dựng đội ngũcán bộ DTTS ngang tầm đòi hỏi nhiệm vụ cách mạng

1.3.3 Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo công tác giáo dục, đào tạo cán bộ khoa học-kỹ thuật người dân tộc thiểu số ở các trường đào tạo chuyên nghiệp

Ngày đăng: 04/05/2014, 12:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Trương Minh Dục (2008), Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên
Tác giả: Trương Minh Dục
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghị lần thứ Hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ Hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
20. Phạm Ngọc Đại (2008), Quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ các tỉnh nam Tây Nguyên từ năm 2001-2006, Luận văn Thạc sỹ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ các tỉnh nam Tây Nguyên từ năm 2001-2006
Tác giả: Phạm Ngọc Đại
Năm: 2008
21. Bùi Minh Đạo (2002), “Nghèo đói và giảm nghèo ở các DTTS ở Việt Nam- Thực trạng và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Dân tộc học, (5), tr. 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghèo đói và giảm nghèo ở các DTTS ở Việt Nam-Thực trạng và những vấn đề đặt ra”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Bùi Minh Đạo
Năm: 2002
22. Lại Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Mỹ Trang (2005), “Chính sách cử tuyển - Một chủ trương đúng trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng miền núi, vùng DTTS”, Tạp chí Dân tộc học, (2), tr. 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách cử tuyển - Một chủ trương đúng trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng miền núi, vùng DTTS”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Lại Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Mỹ Trang
Năm: 2005
23. Nguyễn Đình Hòa (2004), “Vai trò của khoa học, kỹ thuật đối với sự phát triển của xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản, (21), tr. 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của khoa học, kỹ thuật đối với sự phát triển của xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Đình Hòa
Năm: 2004
24. Lê Nhị Hòa (2002), Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS trong hệ thống chính trị cấp cơ sở thời kỳ đổi mới (1986-2000), Luận văn Thạc sỹ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS trong hệ thống chính trị cấp cơ sở thời kỳ đổi mới (1986-2000)
Tác giả: Lê Nhị Hòa
Năm: 2002
26. Đặng Hữu (1990), “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với khoa học- công nghệ”, Tạp chí Cộng sản, (8), tr. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với khoa học-công nghệ”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Đặng Hữu
Năm: 1990
27. Đặng Cảnh Khanh (2005), Nguồn nhân lực trẻ các DTTS những phân tích xã hội học, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nhân lực trẻ các DTTS những phân tích xã hội học
Tác giả: Đặng Cảnh Khanh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2005
28. Phạm Đức Kiên (2006), Đảng lãnh đạo công tác đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật ở miền Bắc 1960-1975, Luận văn Thạc sỹ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng lãnh đạo công tác đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật ở miền Bắc 1960-1975
Tác giả: Phạm Đức Kiên
Năm: 2006
29. Hoàng Văn Lễ (Chủ biên) (2005), Tây Nguyên ngày nay, tập 2, Nxb văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây Nguyên ngày nay, tập 2
Tác giả: Hoàng Văn Lễ (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb văn hóa dân tộc
Năm: 2005
30. Liên tịch Bộ Giáo dục và Đào tạo-Ban Tổ chức cán bộ chính phủ-Ủy ban dân tộc và miền núi (2001), Thông tư liên tịch Số 04/ 2001/ TTLT- BGD&ĐT-UBDT&MN “Hướng dẫn tuyển sinh vào đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp theo chế độ cử tuyển” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tuyển sinh vào đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp theo chế độ cử tuyển
Tác giả: Liên tịch Bộ Giáo dục và Đào tạo-Ban Tổ chức cán bộ chính phủ-Ủy ban dân tộc và miền núi
Năm: 2001
31. Nguyễn Hữu Ngà (2005), “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức DTTS trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH”, Tạp chí Dân tộc học, (3), tr. 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức DTTS trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Nguyễn Hữu Ngà
Năm: 2005
32. Lê Hữu Nghĩa (2001), Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện người các DTTS ở Tây Nguyên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện người các DTTS ở Tây Nguyên
Tác giả: Lê Hữu Nghĩa
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
33. Vũ Thị Hoài Nghiêm (2008), “Phát triển GDĐT trong vùng đồng bào DTTS”, Tuyên giáo, (2), tr. 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển GDĐT trong vùng đồng bào DTTS”, "Tuyên giáo
Tác giả: Vũ Thị Hoài Nghiêm
Năm: 2008
34. KSor Phước (2005), “Quán triệt nghị quyết hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc, tăng cường hợp tác và nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học về dân tộc”, Tạp chí Dân tộc học, (6), tr. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quán triệt nghị quyết hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc, tăng cường hợp tác và nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học về dân tộc”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: KSor Phước
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Học sinh ĐăkLăk theo học dự bị Đại học Dân tộc Trung ương  Nha Trang từ 1999-2004 - luận văn thạc sĩ Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật người dân tộc thiểu số từ năm 1996 đến 2004
Bảng 2.1 Học sinh ĐăkLăk theo học dự bị Đại học Dân tộc Trung ương Nha Trang từ 1999-2004 (Trang 52)
Bảng 2.2: Đội ngũ cán bộ KHKT có trình độ từ cao đẳng trở lên phân - luận văn thạc sĩ Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật người dân tộc thiểu số từ năm 1996 đến 2004
Bảng 2.2 Đội ngũ cán bộ KHKT có trình độ từ cao đẳng trở lên phân (Trang 60)
Bảng 2.3: Đội ngũ cán bộ KHKT có trình độ từ cao đẳng trở lên phân - luận văn thạc sĩ Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật người dân tộc thiểu số từ năm 1996 đến 2004
Bảng 2.3 Đội ngũ cán bộ KHKT có trình độ từ cao đẳng trở lên phân (Trang 61)
Bảng 2.4: Số lượng cán bộ KHKT qua các năm - luận văn thạc sĩ Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật người dân tộc thiểu số từ năm 1996 đến 2004
Bảng 2.4 Số lượng cán bộ KHKT qua các năm (Trang 62)
Bảng 2.5: Đội ngũ cán bộ KHKT có trình độ từ cao đẳng trở lên phân theo thành phần dân tộc năm 2004 - luận văn thạc sĩ Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật người dân tộc thiểu số từ năm 1996 đến 2004
Bảng 2.5 Đội ngũ cán bộ KHKT có trình độ từ cao đẳng trở lên phân theo thành phần dân tộc năm 2004 (Trang 63)
Bảng   2.6:  Cán   bộ   có   trình   độ   từ   cao   đẳng   trở   lên   là   người   DTTS - luận văn thạc sĩ Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật người dân tộc thiểu số từ năm 1996 đến 2004
ng 2.6: Cán bộ có trình độ từ cao đẳng trở lên là người DTTS (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w