MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU1Chương 1: QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 200091.1.Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của Hải Phòng91.2.Chủ trương, chính sách phát triển khoa học và công nghệ của Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 1996-2000221.3. Quá trình thực hiện đường lối, chính sách phát triển khoa học và công nghệ của thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến năm 200041Chương 2: QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005542.1.Chủ trương, chính sách phát triển khoa học và công nghệ của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2005542.2.Quá trình thực hiện đường lối, chính sách phát triển khoa học và công nghệ của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2001 – 2005712.3. Kinh nghiệm85KẾT LUẬN93DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO95PHỤ LỤC101
Trang 2MỞ ĐẦU 1
Chương 1: QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000 91.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của Hải Phòng 91.2 Chủ trương, chính sách phát triển khoa học và công nghệ của
Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 1996-2000 221.3 Quá trình thực hiện đường lối, chính sách phát triển khoa học và
công nghệ của thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến năm 2000 41
Chương 2: QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI
2.1 Chủ trương, chính sách phát triển khoa học và công nghệ của
Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 2001 đến năm 2005 542.2 Quá trình thực hiện đường lối, chính sách phát triển khoa học
và công nghệ của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2001 – 2005 71
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế đang có tácđộng ngày càng sâu sắc và rộng khắp trên thế giới Cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ hiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sảnxuất, nâng cao năng suất lao động và làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế– xã hội của mỗi quốc gia Do vậy, nhiều nước phát triển và đang phát triển đãchú trọng, tăng cường đầu tư vào khoa học và công nghệ, đồng thời tập trungxây dựng và triển khai chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ quốcgia
Việt Nam “Quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ, bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa…” [30, tr.61] Vì vậy, từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lầnthứ III (năm 1960), Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định xây dựng cơ sở vậtchất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thực hiện cuộc cách mạng khoa học và kỹthuật là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ
Tiếp tục định hướng cho sự phát triển của khoa học và công nghệ, Cương lĩnhxây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (6-1991) nêu rõ: Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự phát triển lực lượng sảnxuất và nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm chất lượng và tốc độ phát triển củanền kinh tế Các chiến lược khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu công nghiệphóa theo hướng hiện đại, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới Sử dụng có hiệuquả và tăng nhanh tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước Phát triển đồng
bộ khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật đi đôi với phát triểngiáo dục và văn hóa, nâng cao dân trí … Khoa học và công nghệ, giáo dục vàđào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu [30, tr.134]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 của Đảng Cộng sản ViệtNam cũng nêu lên 5 đặc điểm tình hình thế giới, trong đó xác định:
Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển nhanh với trình độ ngàycàng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền
Trang 4kinh tế và đời sống xã hội Các nước đều có cơ hội để phát triển Tuy nhiên do
ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường thuộc về các nước phát triển, khiến cácnước chậm phát triển và đang phát triển đang đứng trước những thách thức to lớn[19, tr.16]
Bên cạnh đó, Đại hội nêu rõ:
Phát triển khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh để thúc đẩy sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nắm bắt các thành tựu khoa học vàcông nghệ chuyển giao vào Việt Nam Bước đầu phát triển một số lĩnh vựccông nghệ cao về điện tử, thông tin, sinh học, vật liệu mới và tự động hoá.Nâng tỉ lệ đổi mới thiết bị trong các ngành sản xuất mỗi năm từ 10% trở lên.Tranh thủ tối đa công nghệ tiến bộ, từng bước đưa công nghệ nước ta đạt tớitrung bình của khu vực Tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu bảo vệ và cải thiện môitrường sinh thái [19, tr.37-38]
Nhận thức được vai trò to lớn của khoa học và công nghệ đối với sự phát triểncủa đất nước, sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng Cộng sản ViệtNam đề ra nhiều Nghị quyết chuyên đề nhằm tăng cường và phát triển côngtác khoa học và công nghệ như Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hànhTrung ương Đảng (khoá VIII), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hànhTrung ương Đảng (khoá IX)…
Hải Phòng là thành phố Cảng, là đô thị loại 1 – trung tâm cấp quốc gia Trongnhiều năm qua, thành phố không ngừng vươn lên phát triển về mọi lĩnh vực.Thực hiện đường lối phát triển đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghịquyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XII xác định mục tiêu phát triển củathành phố đến năm 2010 là:
xây dựng Hải Phòng trở thành một thành phố Cảng văn minh, hiện đại,cửa chính thông ra biển và trung tâm công nghiệp, dịch vụ, thuỷ sản ởmiền Bắc, có kinh tế, văn hoá, giáo dục - đào tạo; khoa học - công nghệ,
cơ sở hạ tầng phát triển, quốc phòng an ninh vững chắc, không ngừngnâng cao đời sống nhân dân [51, tr.223]
Trang 5Như vậy, song song với sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninhquốc phòng, công tác khoa học và công nghệ cũng được Đảng bộ thành phốchú trọng.
Với vị trí địa lý và đặc điểm về điều kiện tự nhiên, dân số, nguồn lực, HảiPhòng có lợi thế đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hoá và dịch vụ Đặc biệt với ưu thế cảng biển hiện nay và trong tươnglai, thành phố giữ vai trò to lớn đối với xuất khẩu của vùng Bắc Bộ, có điềukiện tiếp nhận và ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học và công nghệ hiệnđại Như vậy, do có sự quan tâm phát triển khoa học và công nghệ của Đảng
bộ thành phố, cùng với ưu thế sẵn có, ngành khoa học và công nghệ HảiPhòng ngày càng có sự khởi sắc, song cũng gặp không ít những khó khăn, hạnchế Mặc dù Hải Phòng là nơi có tiềm năng chất xám khá dồi dào nhưng cònthiếu nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao, là nơi tiếp nhậnnhanh những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại nhưng những hoạt độngkhoa học và công nghệ chưa thực sự là những cơ quan tư vấn mạnh về khoahọc và công nghệ, chưa thực sự là cầu nối giữa khoa học và công nghệ với sảnxuất và đời sống
Chính vì vậy, việc nghiên cứu, rút ra những kinh nghiệm về phát triển khoahọc và công nghệ là vô cùng cần thiết, giúp chúng ta thấy được những thànhtựu cũng như hạn chế và đưa ra các giải pháp cụ thể cho việc phát triển tiềmlực khoa học và công nghệ ở Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiệnđại hoá và trong xu thế hội nhập quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vấn đề khoa học
và công nghệ đã được Đảng ta coi trọng, từ đó đã trở thành vấn đề nghiên cứucủa nhiều tác giả
Nhằm cung cấp bức tranh toàn cảnh về khoa học và công nghệ Việt Namtrong giai đoạn 1996 – 2000, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã tiến
hành tổ chức biên soạn và xuất bản một số sách: Khoa học và Công nghệ Việt
Nam 1996-2000, Hà Nội, 2001; Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2001, Hà
Trang 6Nội, 2002; Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2002, Hà Nội, 2003; Khoa học
và Công nghệ Việt Nam 2003, Hà Nội, 2004; Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2004, Hà Nội, 2005.
Nội dung cơ bản của các cuốn sách đề cập tới là những chuyển biến và thànhtựu quan trọng trong hoạt động khoa học và công nghệ từng năm Đồng thờitrình bày một cách khái quát phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trong nămtới Từ đó gợi mở viễn cảnh phát triển khoa học và công nghệ trong thời gian
5 năm tiếp theo
Cùng nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả như: V.V Đênixốp, Nguyễn
Duy Thông, Nguyễn Trọng Chuẩn, Cách mạng khoa học kỹ thuật và công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Tiến bộ, 1986; Đặng Ngọc Dinh, Công nghệ năm 2000 đưa con người về đâu; Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà
Nội, 1992; Vũ Đình Cự, Khoa học và công nghệ - lực lượng sản xuất hàng đầu, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1996; PTS Danh Sơn, Quan hệ giữa phát triển
khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế – xã hội trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999.v.v…
Bên cạnh đó, đã có nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về khoa học và côngnghệ, trong đó các tác giả tập trung vào việc nghiên cứu ứng dụng khoa học
và công nghệ đối với các ngành, các lĩnh vực khác nhau Đồng thời, một sốcông trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệcủa cả nước và một số tỉnh như: Luận án Tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Đức Lợi
nghiên cứu về "Vận dụng tiến bộ khoa học – công nghệ trong sự phát triển
nông nghiệp nước ta", Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,
2000; Luận văn thạc sĩ kinh tế của Cao Quang Xứng: "Tiến bộ khoa học và
công nghệ và tiến trình hình thành kinh tế tri thức ở Việt Nam", Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003; Luận Văn Thạc sĩ Lịch sử của
Nguyễn Văn Vinh: "Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lãnh đạo phát triển khoa học và
công nghệ từ 1986 đến 2002", Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội, 2003; Gần đây nhất là Luận văn thạc sĩ Lịch sử của Nguyễn Thị Bích
Trang 7Liên nghiên cứu đề tài: "Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo phát triển khoa
học và công nghệ từ năm 1996 đến năm 2006", Học viện Chính trị – Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008
Cùng với các sách, luận văn, luận án nghiên cứu về khoa học và công nghệ,các tạp chí nghiên cứu khoa học cũng có nhiều bài viết bàn về vấn đề này như:
"Tạo lập và phát triển thị trường khoa học – công nghệ ở nước ta" của tác giả Nguyễn Văn Tuấn, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 11-2004; "Đóng góp của
khoa học – công nghệ vào nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp" của Nguyễn Thị Hường, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 2-2005; "Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của khoa học đối với sự phát triển kinh
tế – xã hội" của Ngô Ngọc Thắng, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 11-2007; "Khoa học và công nghệ đang thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế – xã hội"
của tác giả Minh Đường, Tạp chí Cộng Sản số 789 (tháng 7-2008)
Bên cạnh đó, đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết về vai trò của khoahọc và công nghệ cũng như việc nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học và
công nghệ đối với sản xuất ở Hải Phòng: "Kỷ yếu hoạt động nghiên cứu ứng
dụng khoa học và công nghệ thành phố Hải Phòng giai đoạn 1996 – 2000" của
Sở Khoa học, công nghệ và Môi trường thành phố Hải Phòng, tháng 12/2001;
"45 xây dựng và phát triển (1959-2004)" của Sở Khoa học và công nghệ thành
phố Hải Phòng, năm 2004; "Những giải pháp để phát triển và thu hút nhân lực
khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển thành phố" của TS Bùi Thanh
Tùng, Tạp chí Khoa học và kinh tế, số 80, tháng 4+5/2008 ; "Ứng dụng khoa
học công nghệ trong nông nghiệp Hải Phòng năm 2008: Bước đột phá mới" của
Văn Huy, Thông tin Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Số 1 – 2009
Như vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về khoa học và công nghệ, tuynhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu về vai trò lãnh đạo của Đảng bộthành phố Hải Phòng đối với công tác khoa học và công nghệ trong thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài
“Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo công tác phát triển khoa học và
công nghệ từ năm 1996 đến năm 2005” để nghiên cứu
Trang 83 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
- Mục tiêu:
Luận văn nghiên cứu về qúa trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạocông tác phát triển khoa học và công nghệ từ năm 1996 đến năm 2005 Từ đó,rút ra những kinh nghiệm về công tác phát triển khoa học và công nghệ trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Hệ thống những quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chủtrương, chính sách của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với công tác pháttriển khoa học và công nghệ
+ Các đề tài nghiên cứu khoa học trên các lĩnh vực: khoa học xã hội và nhânvăn, khoa học tự nhiên; khoa học kỹ thuật và công nghệ ở Hải Phòng
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình Đảng bộ thành
phố Hải Phòng lãnh đạo, chỉ đạo phát triển khoa học và công nghệ trong giaiđoạn từ năm 1996 đến năm 2005
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận:
Trang 9- Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Đường lối, chính sách của Đảng về công tác khoa học và công nghệ
* Nguồn tài liệu:
- Các tác phẩm kinh điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh bàn
về vấn đề khoa học
- Các văn kiện, các Nghị quyết Đại hội và Nghị quyết Hội nghị, các Chỉ thị,các Chương trình hành động của Trung ương Đảng, các văn bản pháp luật củaNhà nước
- Các Nghị quyết, Chương trình hành động, Chỉ thị của Thành uỷ, các báo cáotổng kết của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Sở Khoa học và côngnghệ Hải Phòng
- Các công trình nghiên cứu, luận án, luận văn của tập thể, cá nhân đã đượccông bố liên quan đến đề tài
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử và lôgic
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Hệ thống hoá toàn bộ những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng bộthành phố Hải Phòng về công tác phát triển khoa học và công nghệ
- Làm rõ hơn về những kết quả đạt được trong công tác phát triển khoa học
và công nghệ thành phố Hải Phòng giai đoạn 1996 – 2005
- Cung cấp những luận cứ khoa học, góp phần vào việc hoạch định đường lối,chính sách nhằm nâng cao chất lượng khoa học và công nghệ cuả thành phốHải Phòng trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu thành 2 chương, 6 tiết
Trang 11Chương 1 QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TỪ NĂM 1996 ĐẾN 2000
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HẢI PHÒNG
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Hải Phòng là thành phố trẻ, song là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng
Là một trung tâm công nghiệp lớn của đất nước, lại là nơi đầu sóng ngọn gió,Hải Phòng có những đóng góp không nhỏ trong quá trình xây dựng đất nước,đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
* Về vị trí địa lý:
Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm ở phía Đông miền Duyên hải Bắc Bộ,cách thủ đô Hà Nội 102 km, có tổng diện tích tự nhiên là 152.318,49 ha,chiếm 0,45% diện tích tự nhiên của cả nước
Hải Phòng nằm ở toạ độ địa lý: 20030’39” – 21001’15” vĩ độ Bắc và
106023’39” – 107008’39” kinh tuyến đông Ranh giới hành chính Hải Phònggiáp 3 tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bắc Bộ và châu thổ sông Hồng Phía Bắcgiáp Quảng Ninh – khu công nghiệp than lớn nổi tiếng của cả nước; Phía Tâygiáp Hải Dương; Phía Nam giáp Thái Bình gần 40 km theo dòng sông Hoá -một nhánh của sông Luộc Phía Đông là 125 km đường bờ biển chạy hướngĐông Bắc - Tây Nam từ cửa Lạch Huyền đến cửa Thái Bình, mở rộng đón gióVịnh Bắc Bộ
Hải Phòng nằm ở vị trí giao lưu thuận lợi với các tỉnh trong nước và quốc tếthông qua hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông
và đường hàng không
* Về địa hình, địa mạo: Địa hình Hải Phòng thay đổi rất đa dạng phản ánh
một quá trình lịch sử địa chất lâu dài và phức tạp Phía Bắc Hải phòng có dángdấp của một vùng trung du với những đồng bằng xen đồi trong khi phần phía
Trang 12nam thành phố lại có địa hình thấp và khá bằng phẳng của một vùng đồngbằng thuần tuý nghiêng ra biển.
Ở Hải Phòng, đồi núi chiếm 15% diện tích của thành phố, chủ yếu là các dảiđồi núi sót lại, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đãxảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ Cấu tạo địa chất gồm các loại đácát kết, phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau được phân bố thành từng dải liêntục theo hướng tây bắc - đông nam từ đất liền ra biển
* Biển, bờ biển và đảo Hải Phòng:
Hải Phòng có bờ biển dài trên 125 km kể cả bờ biển chung quanh các đảokhơi Bờ biển có hướng một đường cong lõm của bờ vịnh Bắc Bộ, thấp và khábằng phẳng, cấu tạo chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ ra Trên đoạnchính giữa bờ biển, mũi Đồ Sơn nhô ra như một bán đảo, đây là điểm mút củadải đồi núi chạy ra từ trong đất liền, có cấu tạo đá cát kết tuổi Đevon, đỉnh caonhất đạt 125m, độ dài nhô ra biển 5 km theo hướng tây bắc - đông nam
Vùng biển Hải Phòng có nhiều đảo lớn nhỏ, nối liền với vùng đảo và quần đảo
Hạ Long – Quảng Ninh nổi tiếng Lớn nhất là đảo Cát Bà, đồng thời đây cũng
là đảo lớn thứ hai trong Vịnh Bắc Bộ, sau đảo Cái Bầu thuộc tỉnh QuảngNinh Ngoài Cát Bà, Hải Phòng còn có những đảo nhỏ như Cát Hải, Hòn Dáu,Long Châu Xa nhất là đảo Bạch Long Vĩ - một vị trí tiền tiêu, nơi đầu sóngngọn gió trong Vịnh Bắc Bộ, cách thành phố 136 km về phía Tây Bắc, đảo chủyếu là đồi thấp dưới 50m Biển là yếu tố địa lý tự nhiên đặc sắc nhất của HảiPhòng, là nhân tố tác động thuờng xuyên đến nhiều quá trình xảy ra trong thiênnhiên và ảnh hưởng quan trọng đến nhiều hoạt động trong xã hội Đồng thời,biển, bờ biển và hải đảo đã tạo nên cảnh quan thiên nhiên đặc sắc của thành phốduyên hải Đây cũng là một thế mạnh tiềm năng của nền kinh tế địa phương
* Về khí hậu: Hải Phòng nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới Bắc bán cầu,
gần chí tuyến Bắc với đặc điểm của một thành phố đồng bằng ven biển cónhiều hải đảo nên khí hậu Hải Phòng chịu sự chi phối trực tiếp của biển vàphân hoá thành khí hậu ven biển của vùng đất liền và khí hậu biển của vùngđảo ngoài khơi Riêng tại đảo Cát Bà còn có sự phân hoá tiểu khí hậu từ khuvực bến bãi ven biển và các thung áng, núi đá vôi có rừng nguyên sinh Nhưng
Trang 13khí hậu Hải Phòng chủ yếu vẫn là nóng và ẩm, với chế độ khí hậu nhiệt đớithuần tuý.
Do ảnh hưởng của hoàn lưu gió mùa, nhất là sự xâm nhập mạnh của khôngkhí cực đới trong mùa đông nên khí hậu Hải Phòng bị phân hoá thành haimùa: mùa hạ nóng và mùa đông lạnh Tuy nhiên, gió biển thường thổi sâu vàođất liền từ 20 đến 30 km nên ở Hải phòng ít có hiện tượng lạnh quá hoặc khônóng quá như các tỉnh đồng bằng và trung du khác
* Sông Hải Phòng:
Hải Phòng có hệ thống sông phong phú, dày đặc, mật độ trung bình 0,6 – 0,8
km trên 1 km2 Với 16 sông chính tỏa rộng khắp địa bàn thành phố với tổng
độ dài 300 km, trong đó bao gồm sông Thái Bình, dài 35 km, Sông Cấm dàitrên 30 km, Sông Đá Bạch - Bạch Đằng, dài hơn 32 km, sông Hàn nằm ở phíaĐông Bắc huyện Thuỷ Nguyên, … Từ Phả Lại - nơi hợp lưu giữa sông Cầu,sông Thương và sông Lục Nam (sông Thương và sông Lục Nam là nguồn củasông Thái Bình), các dòng sông chảy trên độ dốc ngày càng nhỏ và sông TháiBình đã tạo ra mạng lưới chi lưu các cấp như sông Kinh Môn, Lạch Tray,Kinh Thầy, Văn Úc, Đa Độ… đổ ra biển bằng 5 cửa sông chính
* Về tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản:
Do đặc điểm lịch sử địa chất Hải Phòng ít có dấu vết hoạt động macma nêncho đến nay chưa phát hiện thấy những mỏ khoáng sản lớn ở Hải Phòng Tuynhiên, cũng có một số mỏ cỡ vừa và nhỏ có giá trị phục vụ cho nhu cầu côngnghiệp địa phương
Các loại khoáng sản kim loại: Sa khoáng ven biển là nét đặc trưng cho sắc thái
biển, được phát hiện ở khu bờ biển Cát Hải và Tiên Lãng, thuộc loại hình sakhoáng tổng hợp của các nguyên tố biển, chủ yếu là Titan và Ziacôn Ngoài racòn có những biểu hiện khoáng hoá trên đảo Bạch Long Vĩ gặp dưới dạng kếthạch Xiđêrit, mỏ sắt ở Dưỡng Chính thuộc xã Chính Mỹ, Thuỷ Nguyên
Khoáng sản phi kim loại có mỏ Cao Lanh ở Doãn Lại (Thuỷ Nguyên); Mỏ sét ở
Tiên Hội, Chiến Thắng (Tiên Lãng); Đá vôi phân bố chủ yếu ở Cát Bà, Tràng
Trang 14Kênh, Phi Liệt, phà Đụn; Mỏ quaczit và tectit ở một số núi thuộc Đồ Sơn; phốtphát ở đảo Bạch Long Vĩ; Nước khoáng ở xã Bạch Đằng (Tiên Lãng)…
Tài nguyên biển là một trong những nguồn tài nguyên quý hiếm của Hải
Phòng với gần 1000 loài tôm, cá và hàng chục loài rong biển có giá trị kinh tếcao như tôm rang, tôm he, cua bể, đồi mồi, sò huyết, cá heo, ngọc trai, tu hài,bào ngư… là những hải sản được thị trường thế giới ưa chuộng Nguồn nướcbiển mặn cao và ổn định ở một số vùng biển Cát Hải, Đồ Sơn dùng để sảnxuất muối phục vụ cho công nghiệp hoá chất địa phương và Trung ương cũngnhư đời sống của nhân dân Biển Hải Phòng có nhiều bãi cá, lớn nhất là bãi cáquanh đảo Bạch Long Vĩ với độ rộng trên 10.000 hải lý vuông, trữ lượng cao
và ổn định Tại các vùng triều ven bờ, ven đảo và các vùng bãi triều ở cácvùng cửa sông rộng tới trên 12.000 ha vừa có khả năng khai thác, vừa có khảnăng nuôi trồng thuỷ sản nước mặn và nước lợ có giá trị kinh tế cao
Tài nguyên đất của Hải Phòng có trên 57.000 ha đất canh tác, hình thành từ
phì sa của hệ thống sông Thái Bình và nằm ven biển nên phần lớn mang tínhchất đất phèn và phèn mặn, địa hình cao cấp xen nhau và nhiều đồng trũng.Bên cạnh đó, do những biến động của thời tiết có ảnh hưởng không tốt đến đấtđai, cây trồng gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, nhất là nghề trồng trọt
Tài nguyên rừng của Hải Phòng phong phú và đa dạng, có rừng nước mặn,
rừng cây lấy gỗ, cây ăn quả, tre, mây… Khu rừng nguyên sinh Cát Bà cónhiều loại thảo mộc quý hiếm được xếp loại thực vật cần bảo vệ và nhiều loạicây dược liệu được giới y học trong nước và nước ngoài quan tâm Rừng còn
có nhiều loại chim như hoạ mi, khiếu, vẹt, hải âu… Thú quý trên đảo có khỉmặt đỏ, khỉ mặt vàng, sơn dương, hoẵng, rái cá, sóc đuôi đỏ, sóc bong đỏ,mèo rừng, nhím… đặc biệt là khỉ voọc đầu trắng sống từng đàn, là loài thúquý hiếm trên thế giới chỉ mới thấy ở Cát Bà
Có thể nói, với ưu thế về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đã tạo cho mảnhđất Hải Phòng những cơ hội phát triển thuận lợi, góp phần đưa Hải Phòng trởthành một thành phố công nghiệp, đô thị loại I của đất nước, một cục tăng
Trang 15trưởng của vùng kinh tế động lực phía Bắc; một trọng điểm phát triển kinh tếbiển – đảo, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế và quốc phòng – an ninh.
1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Hải Phòng là thành phố cảng, trung tâm kinh tế, công nghiệp, thương mại,dịch vụ, du lịch của vùng Duyên hải Bắc bộ, cửa chính ra biển của các tỉnhphía Bắc, đầu mối giao thông quan trọng của miền Bắc và cả nước, đồng thời
là một đô thị có vị trí quốc phòng trọng yếu; một trong các cực tăng trưởngcủa vùng kinh tế trọng điểm Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Đặc biệt,năm 2003, Hải Phòng được Chính phủ công nhận là đô thị loại 1 cấp quốc gia
Từ đó, vị thế, vai trò của Hải Phòng tiếp tục được củng cố và nâng cao Ngày
05/8/2003, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 32/NQ–TƯ về xây dựng và phát
triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước Đây là một văn kiện có tính cương lĩnh, định hướng bước đi của thành
phố Hải Phòng trong thế kỷ XXI
Ngay từ đầu những năm 1990, Hải Phòng được Trung ương xác định là mộtcực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Nền kinh tế Hải Phòngchuyển dịch theo hướng lấy kinh tế đối ngoại làm mũi nhọn đã vượt qua khókhăn và có những khởi sắc về công nghiệp, nông nghiệp, đầu tư và xuất khẩu.Tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng được tăng cao, lạm phát được đẩy lùi.Đời sống nhân dân được cải thiện, quốc phòng, an ninh, trật tự, trị an đượcđảm bảo Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp được thay thế bằng cơ chế thịtrường có sự định hướng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam Từ đó,thành phố sắp xếp lại sản xuất, đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực sản xuất
và chất lượng sản phẩm; các lĩnh vực: công nghiệp nặng, công nghiệp chếbiến, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng được ưu tiên đầu tư Từ năm 1996đến năm 2000, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 23,45%/năm, côngnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tới 50% giá trị sản xuất công nghiệpcủa thành phố Bên cạnh đó, nông nghiệp, thuỷ sản cũng bắt đầu có bước phát
Trang 16triển khá Nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệphoá, hiện đại hoá, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ.
Tình hình đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Hải Phòng phát triển hơn trước.Đến năm 2000 có 87 dự án có hiệu lực, với số vốn đăng ký trên 1,3 tỷ đô la
Mỹ Hoạt động sản xuất tăng gấp 3 lần thời kỳ 1991 – 1995 Tốc độ tăngtrưởng kinh tế bình quân trong 10 năm 1996 – 2000 đạt 10,3%, cơ cấu kinh tếcủa thành phố đã chuyển dịch đúng hướng Bên cạnh sản xuất nông nghiệp,thế mạnh của công nghiệp, thương mại, du lịch ngày càng được phát huy, hoạtđộng hướng vào xuất khẩu Cơ sở hạ tầng, đô thị, nông thôn và hải đảo đượcxây dựng và cải tạo rõ rệt
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (tháng 4 năm 2001) của Đảng Cộng sảnViệt Nam đề ra phương hướng phát triển kinh tế – xã hội đất nước, đây làbước mở đầu quan trọng trong việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế –
xã hội 10 năm – Chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng đến năm 2010 nước ta cơ bảntrở thành một nước công nghiệp Đồng thời, thực hiện Nghị quyết Đại hội lầnthứ XII của Đảng bộ thành phố Hải Phòng, Đảng bộ, quân và dân Hải Phòngđoàn kết, phát huy tốt tiềm năng lợi thế, đổi mới công tác lãnh đạo, điều hành,khắc phục những khó khăn và giành được những kết quả khá toàn diện Kinh
tế Hải Phòng có sự tăng trưởng với tốc độ khá cao, lớn hơn mức tăng trưởngbình quân chung của cả nước Tốc độ GDP hàng năm tăng, bình quân trên10%/năm Năm 2005 đạt 11% Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúnghướng, tỷ trọng nhóm ngành nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng nhóm ngànhcông nghiệp, xây dựng, thủy sản, dịch vụ tăng nhanh Ngành công nghiệpngày càng phát triển nhanh và đồng đều, giá trị sản xuất liên tục tăng Cácngành công nghiệp mũi nhọn như: đóng mới và sửa chữa tàu thủy, cán thép, ximăng, cấu kiện thép, giày dép, sơn, chế biến thủy sản được quan tâm đầu tư
và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại Các khu công nghiệp
Trang 17Nomura, Đình Vũ, cụm công nghiệp Vĩnh Niệm có nhiều chuyển biến tíchcực
Cảng là một trong những thế mạnh của Hải Phòng được đầu tư nâng cấp, mởrộng, sản lượng hàng hóa thông qua cảng tăng nhanh Năm 2001 sản lượng đạt8,75 triệu tấn, năm 2002 đạt 10,3 triệu tấn, năm 2003 đạt 10,5 triệu tấn
Nông nghiệp, nông thôn phát triển tương đối toàn diện, các ngành chăn nuôi
và dịch vụ, giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích canh tác không ngừng tăngnhanh Kinh tế trang trại khá phổ triển, xuất hiện nhiều mô hình mới, cách làmmới đem lại hiệu quả kinh tế cao Một số vùng chăn nuôi rau quả được hìnhthành Hầu hết các hộ dân sống ở vùng nông thôn được sử dụng điện lưới, đờisống văn hóa, tinh thần không ngừng nâng cao
Kinh tế du lịch được thành phố quan tâm, đảo Cát Bà và Đồ Sơn được tăngcường đầu tư, nâng cấp từng bước, đã trở thành trung tâm du lịch lớn Công tácquản lý và phát triển đô thị được tăng cường, bộ mặt đô thị Hải Phòng có sựchuyển biến rõ rệt, công tác quy hoạch của thành phố có nhiều tiến bộ Quản lý
và bảo vệ môi trường được tăng cường, góp phần giảm bớt tình trạng ô nhiễm vàsuy thoái môi trường
Hải Phòng có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế biển Đây là lợi thế cơbản của Hải Phòng gồm cảng, nguồn lợi biển và du lịch Kinh tế biển của HảiPhòng phát triển khá toàn diện, hơn hẳn các địa phương ven biển khác ở miềnBắc Đặc điểm này đã, đang và sẽ là một trong những yếu tố quan trọng chiphối định hướng phát triển khoa học và công nghệ của thành phố trên nhiềulĩnh vực
Công tác quản lý và phát triển đô thị có những chuyển biến rõ nét Sự nghiệpphát triển văn hóa – xã hội, đào tạo nguồn nhân lực, xóa đói giảm nghèo, giảiquyết việc làm, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, bảo đảm thực hiệncác chính sách xã hội được quan tâm Trong 5 năm 2001 – 2005, thành phốgiải quyết cho gần 19 vạn lao động, giảm tỉ lệ thất nghiệp xuống còn 5,9% vàonăm 2005 Tỉ lệ sử dụng thời gian lao động trong khu vực nông nghiệp, nông
Trang 18thôn đạt gần 80%, hạ tỉ lệ đói nghèo xuống còn 3%, vượt kế hoạch 0,5%, xâydựng 6.500 nhà tranh vách đất Mặt bằng dân trí, đời sống vật chất tinh thầncủa nhân dân được nâng lên một bước, bộ mặt nông thôn ngoại thành và hảiđảo có nhiều khởi sắc.
Chính trị xã hội ổn định, an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, thếtrận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và việc xây dựng phòng thủ đượccủng cố một bước vững chắc
Công tác giáo dục – đào tạo có những chuyển biến tích cực Quy mô giáo dục– đào tạo tiếp tục ổn định và phát triển, số học sinh các cấp, các bậc học đềutăng Ngoài trường quốc lập, thành phố mở rộng các mô hình đào tạo: báncông, dân lập, tư thục Năm 2001, thành phố đã hoàn thành phổ cập trung học
cơ sở Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giáo dục ngày càng được tăngcường, gần 100% số xã có trường học cao tầng, trên 30% số trường đạt chuẩnquốc gia, không còn tình trạng học 3 ca Công tác đào tạo, bồi dưỡng giáoviên được triển khai mạnh mẽ ở các cấp học, bậc học đáp ứng yêu cầu đổi mớigiáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tính đến năm
2005, thành phố có gần 3 vạn giáo viên, trong đó có trên 100 tiến sĩ, trên 1000thạc sĩ, 20 giáo sư, phó giáo sư Công tác đào tạo nghề được đầu tư phát triển,chất lượng nguồn nhân lực không ngừng nâng lên Công tác xã hội hoá pháttriển mạnh và đúng hướng Các hoạt động văn hoá, y tế, thể dục thể thao pháttriển khá vững về quy mô và chất lượng Các chương trình y tế quốc gia pháthuy tác dụng, công tác y tế cơ sở được tăng cường đầu tư, chất lượng chămsóc sức khỏe nhân dân được cải thiện
Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được coi trọng và tập trunglãnh đạo, chỉ đạo, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ và các tổchức cơ sở đảng được củng cố và nâng cao; công tác kiểm tra, công tác tổchức và công tác cán bộ có tiến bộ; đội ngũ cán bộ có bước trưởng thành vềchất lượng chính trị và năng lực
Những thành tựu về kinh tế - xã hội chính là nguồn lực quan trọng để khoahọc và công nghệ có điều kiện phát triển Cùng với việc thực hiện đường lối
Trang 19lãnh đạo của Đảng về công tác phát triển khoa học và công nghệ, Đảng bộthành phố Hải Phòng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm đưakhoa học và công nghệ ngày càng phát triển, đáp ứng được những nhu cầubức thiết của thành phố.
1.1.3 Thực trạng khoa học và công nghệ thành phố Hải Phòng những năm 1986 - 1996
Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) củaĐảng Cộng sản Việt Nam, Hải Phòng bước vào thực hiện công cuộc đổi mớitoàn diện về kinh tế, văn hóa và xã hội
Tháng 10/1986, Hải Phòng tiến hành Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX đề
ra phương hướng và nhiệm vụ phát triển thành phố trong thời kỳ mới, đó làcần phải đẩy mạnh đổi mới tư duy, đổi mới mạnh mẽ cách nghĩ, cách làm, đổimới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền đối với mọi ngành, mọilĩnh vực Trong đó, Đảng bộ thành phố quan tâm đến đổi mới phát triển khoahọc và công nghệ Do đó, trong 10 năm đổi mới (1986 – 1996), khoa học vàcông nghệ thành phố đã đạt được những thành tựu ban đầu:
Về khoa học xã hội và nhân văn: thành phố đã lựa chọn một số vấn đề mangtính cấp bách, qua đó đã bước đầu đóng góp luận cứ khoa học cho việc hoạchđịnh một số chủ trương phát triển kinh tế – xã hội
Công tác nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn được tổ chức chặt chẽ, từ
năm 1986 đến năm 1996, thành phố thực hiện Chương trình xây dựng con
người mới, đồng thời tiến hành nghiên cứu các đề tài khoa học, trong đó tập
trung đề xuất một số mô hình, giải pháp đổi mới hoạt động trong các lĩnh vựcvăn hoá - tư tưởng, quản lý nhà nước, giáo dục - đào tạo, quốc phòng an ninh,công tác tôn giáo Các đề tài nghiên cứu liên quan đến các lĩnh vực như: giáodục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, hoạt động văn hóa, xãhội, nghiên cứu lịch sử, giáo dục thanh, thiếu niên, phòng chống tội phạm Năm 1986, Ủy ban khoa học và kỹ thuật (nay được đổi tên thành Sở Khoa học
và công nghệ) đã hình thành 3 tổ chuyên viên quản lý các hoạt động nghiêncứu, triển khai khoa học và kỹ thuật, trong đó có một tổ chuyên quản lý các
Trang 20hoạt động về khoa học xã hội Do vậy, từ năm 1987, nhiều Ban, ngành, bộphận trong cơ quan Đảng và Chính quyền thành phố như Hội đồng Lịch sử,Cục Thống kê, Sở Tư pháp, Sở Văn hóa, Ban Tổ chức Thành ủy, đều thamgia đăng ký các đề tài nghiên cứu khoa học với nội dung phong phú hơn,chuyên sâu hơn.
Năm 1988, Ủy ban khoa học và kỹ thuật thành phố được đổi tên thành BanKhoa học và kỹ thuật và thành lập phòng Khoa học xã hội với chức năng giúpTrưởng Ban Khoa học và kỹ thuật quản lý các hoạt động khoa học xã hội toànthành phố Trong đó tập trung nghiên cứu đề xuất phương hướng, nhiệm vụ,biện pháp đẩy mạnh công tác khoa học xã hội, hướng dẫn xây dựng, tổng hợp
và quản lý các hoạt động khoa học xã hội về các mặt, đóng góp ý kiến và đônđốc thực hiện các biện pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ cán bộ và tổchức quản lý công tác khoa học xã hội ở các ngành, tham gia quản lý, quyhoạch đội ngũ cán bộ khoa học xã hội
Các hoạt động khoa học xã hội và nhân văn ngày càng khởi sắc và có bướctiến rõ rệt Các đề tài nghiên cứu, thực nghiệm khoa học xã hội đã được nânglên về quy mô, phạm vi tác động với nhiều nội dung như: Xây dựng mô hìnhphòng thủ vững chắc về quốc phòng và an ninh, mô hình tổ chức và hoạt độngvăn hóa trên địa bàn xã Cùng nhiều sách được xuất bản về khoa học xã hộinhân văn: Địa chí Hải Phòng (tập I), Lược khảo đường phố Hải Phòng
Về khoa học tự nhiên: thành phố tổ chức nghiên cứu, điều tra về điều kiện tựnhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường Hải Phòng, góp phần tạo cơ sởkhoa học, cung cấp dữ liệu xây dựng chiến lược, quy hoạch và các dự án pháttriển kinh tế – xã hội Công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ trong 10năm 1986 - 1996 chú trọng vào việc nghiên cứu ứng dụng, tập trung giảiquyết một số vấn đề do thực tế đặt ra, góp phần quan trọng vào việc nâng caonăng suất, chất lượng và hiệu quả trong các ngành sản xuất nông nghiệp, côngnghiệp, xây dựng, thủy sản, năng lượng, bưu chính – viễn thông và y tế
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, nhiều đề tài khoa học nghiên cứu hiệntrạng môi trường, các hệ sinh thái chính ở Hải Phòng, thẩm định báo cáo tác
Trang 21động môi trường của các dự án sản xuất kinh doanh, đề ra một số chính sách,giải pháp để kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường: Thu thập hệ thống số liệuđiều tra cũ về nguồn lợi biển và ven biển, đất, khoáng sản, điều kiện khí hậu,thủy văn; Nghiên cứu tình hình xói lở vùng cửa sông Văn Úc; Triển khai mộtphần việc xây dựng bản đồ gốc địa hình, địa chất công trình thành phố
Công tác xây dựng và phát triển nguồn lực khoa học và công nghệ bước đầuđược quan tâm Một bộ phận cán bộ khoa học công nghệ và công nhân kỹthuật được bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề, ngoại ngữ, tin học Hệ thốngnghiên cứu – triển khai, dịch vụ – tư vấn khoa học và công nghệ, kiểm định,kiểm nghiệm đang dần được kiện toàn Thông tin khoa học và công nghệ đãgóp phần nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu thông tin khoa học và công nghệ
đa dạng, đồng thời tích cực chuẩn bị xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin khoahọc và công nghệ của thành phố
Quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ được kiện toàn về hệ thống tổchức và hoàn thiện một bước về cơ chế quản lý, tạo sự chuyển biến tích cực
và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ trong điều kiện kinh tếthị trường
Về quản lý tiêu chuẩn – đo lường – chất lượng: Trong giai đoạn bắt đầu côngcuộc đổi mới, thành phố ở trong tình trạng khủng hoảng cho nên thị trường tự
do phát triển mạnh, các hoạt động của Chi cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chấtlượng bị ảnh hưởng nhiều, song vẫn thu được một số kết quả, đó là mở rộngphạm vi kiểm tra đo lường sang các lĩnh vực giao nhận lớn, các điểm mua bánvàng bạc tư nhân, các điểm bán xăng dầu, đo lường điện Đồng thời, số sảnphẩm quản lý chất lượng sản phẩm hàng năm có từ 50 đến 80 sản phẩm, thôngqua các đợt kiểm tra các sản phẩm thuộc diện quản lý chất lượng sản phẩmcủa thành phố, tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng trên thị trường cóphần giảm bớt
Về quản lý sở hữu công nghiệp, đặc biệt là về bảo hộ sáng chế, giải pháp hữuích được duy trì Hoạt động quản lý sáng kiến hướng vào việc nghiên cứu, phổbiến triển khai các sáng kiến có giá trị qua tổng kết của Bộ, ngành Trung ương
Trang 22như: giải pháp tiết kiệm nguyên, nhiên, vật liệu đạt giải cao trong các Hội thiSáng tạo kỹ thuật toàn quốc.
Đạt được kết quả trên, trước hết là do đường lối đúng đắn của Đảng và việctriển khai có kết quả một số chủ trương, chính sách của Trung ương về pháttriển khoa học và công nghệ của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thànhphố Cơ chế quản lý kinh tế, quản lý khoa học và công nghệ bước đầu đượcđổi mới tạo nhu cầu bức thiết phải triển khai, ứng dụng các tiến bộ khoa học
và công nghệ vào sản xuất và đời sống Các nguồn lực khoa học – công nghệtuy nhỏ bé và còn nhiều hạn chế nhưng đã bước đầu phát huy tác dụng tíchcực vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của thành phố
Tuy nhiên, khoa học và công nghệ ở Hải Phòng trong 10 năm 1986 – 1996còn những yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế của địa phương, đó làtrình độ công nghệ thấp, tốc độ đổi mới chậm, ứng dụng tiến bộ khoa học –công nghệ còn mang nặng tính tự phát, công tác kiểm tra, giám sát, giám địnhcông nghệ nhập bất cập, ảnh hưởng không tốt đến năng suất, chất lượng sảnphẩm và môi trường Nhiều vấn đề nảy sinh trong công cuộc đổi mới ở địaphương chưa có luận cứ khoa học vững chắc để giải đáp Còn thiếu những dựbáo khoa học cho nhiều vấn đề kinh tế – xã hội bức xúc Công tác quản lý môitrường yếu kém cả về năng lực lẫn điều kiện triển khai Ý thức bảo vệ môitrường chung của các tầng lớp nhân dân còn thấp; Đội ngũ cán bộ khoa học –công nghệ còn nhiều bất cập về kiến thức năng lực thực tiễn, nhất là phươngpháp luận khoa học, thông tin công nghệ, ngoại ngữ chuyên ngành, còn thiếunhiều cán bộ đầu ngành, chuyên gia giỏi về khoa học quản lý, về lập và thẩmđịnh dự án, về pháp luật, công nghệ và nhiều lĩnh vực khác Công tác đào tạobồi dưỡng cán bộ khoa học – công nghệ còn nhiều mặt yếu kém, tình trạnghẫng hụt là phổ biến Cơ cấu và phân bố cán bộ khoa học – công nghệ còn mấtcân đối và chưa hợp lý Đội ngũ công nhân kỹ thuật thiếu cả về số lượng vàchất lượng, nhất là trước yêu cầu phát triển các khu công nghiệp mới và cácliên doanh với nước ngoài
Lý giải về nguyên nhân yếu kém, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Đảng
bộ thành phố lần thứ 4 (khóa XI) thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2
Trang 23(khóa VIII) về phát triển khoa học - công nghệ thành phố đến năm 2000 ban
hành ngày 18 tháng 3 năm 1997 nêu rõ:
Nhiều cấp uỷ Đảng và chính quyền chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng củakhoa học – công nghệ trong quá trình xây dựng, phát triển thành phố; chưa tậptrung lãnh đạo, chỉ đạo công tác khoa học – công nghệ, việc tổ chức thực hiệncác chủ trương, chính sách về khoa học và công nghệ chưa nghiêm túc
Đầu tư tài chính của thành phố cho khoa học – công nghệ còn thấp, chưa đạtmức tối thiểu 2% tổng chi ngân sách như Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị(khóa VI) và Chỉ thị 33 của Ban Thường vụ Thành uỷ (khoá IX) quy định.Những năm gần đây mức đầu tư cho khoa học – công nghệ thường dưới 1%,năm 1996 có 0,57% tổng chi ngân sách Các cơ sở sản xuất chưa đầu tư đúngmức kinh phí cho nghiên cứu ứng dụng và đổi mới công nghệ
Việc tổ chức nghiên cứu và xây dựng chiến lược khoa học – công nghệ, chiếnlược bảo vệ môi trường còn chậm Do thiếu nhiều điều kiện cơ bản nhưphương pháp luận, tiền vốn, thông tin, kinh nghiệm, nên việc đánh giá, lựachọn, tiếp nhận chuyển giao công nghệ còn lúng túng Vai trò giám định, phảnbiện trong khoa học – công nghệ còn bị xem nhẹ
Cơ chế quản lý và chính sách phát triển khoa học – công nghệ chưa phù hợp,thiếu đồng bộ Mất cân đối giữa đào tạo và sử dụng Chưa có cơ chế khuyếnkhích cán bộ khoa học, thu hút nhân tài, huy động mọi nguồn lực cho pháttriển khoa học – công nghệ
Quản lý khoa học – công nghệ còn yếu kém Quản lý các đề tài, chương trìnhnghiên cứu khoa học còn mang tính hành chính, dàn trải; nhiều đề tài khoahọc – công nghệ chưa thiết thực Việc áp dụng kết quả của các đề tài, chươngtrình chưa được quan tâm Chưa gắn chặt nghiên cứu triển khai, ứng dụng tiến
bộ khoa học – công nghệ với sản xuất, kinh doanh [52,tr.3]
Mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế, song công tác phát triển khoa học và côngnghệ của Hải Phòng bước đầu khắc phục khó khăn của tình trạng của cơ chế
cũ – quan liêu, bao cấp Từ đó từng bước đưa khoa học và công nghệ thànhphố ngày càng đáp ứng được yêu cầu đổi mới của đất nước
Trang 241.2 CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG GIAI ĐOẠN 1996 - 2000
1.2.1 Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phát triển khoa học và công nghệ từ năm 1996 đến 2000
Theo quan điểm của các nhà kinh điển: khoa học, kỹ thuật và công nghệ bắtnguồn từ sản xuất, từ đấu tranh xã hội, từ nhu cầu khám phá và cải tạo thế giớicủa con người Khoa học chân chính bắt nguồn từ những nhu cầu của đời sống
xã hội và có sứ mệnh phục vụ con người, phục vụ xã hội Nhu cầu thực tiễnchính là động lực thúc đẩy khoa học phát triển Mục tiêu của khoa học là đitìm chân lý khách quan, tìm ra bản chất của sự vật, chỉ ra những thuộc tính,
bản chất bên trong của sự vật Trong tác phẩm "Lược thảo phê phán khoa học
kinh tế chính trị” viết năm 1843 – 1844, Ph.Ăngghen cho rằng: "khoa học thì
ngày càng lại càng làm cho các lực lượng tự nhiên phải phục tùng loài người”[38,tr.774] V.I.Lênin chỉ rõ: phải làm cho những người có kiến thức khoa họchiểu hết được sự đê tiện của việc dùng khoa học để làm giàu cho cá nhân, đểbóc lột người khác và hiểu được rằng còn có một nhiệm vụ cao cả hơn, tứcnhiệm vụ dùng khoa học để cho tất cả quần chúng lao động hiểu biết khoa học[35,tr.121-122]
Kế thừa và phát huy những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thờixuất phát từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú của mình, Chủ tịch HồChí Minh đã nhận thức một cách sâu sắc về ý nghĩa và vai trò to lớn của khoahọc, kỹ thuật đối với sự phát triển của đất nước, Người cho rằng: thời đại củachúng ta là thời đại của khoa học phát triển Khoa học là tài sản chung của toàndân chứ không phải của riêng một nhóm người nào Sự tiến bộ của khoa học và
kỹ thuật hướng tới mục đích là giải phóng con người, những thành tựu của khoahọc, kỹ thuật được sử dụng vì sự tiến bộ xã hội và vì lợi ích của nhân dân laođộng: "Chủ nghĩa xã hội gắn liền với sự phát triển khoa học kỹ thuật, với sự pháttriển của văn hóa của nhân dân Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học chắc chắn
sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận" [45,tr.456]
Trang 25Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,Đảng Cộng sản Việt Nam đã vạch ra đường lối phát triển khoa học và côngnghệ một cách toàn diện và sâu sắc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm1996) xác định: "Giai đoạn từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng củathời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước.Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượtqua thách thức, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ,tiếp tục phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chếthị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,phấn đấu đạt và vượt mục tiêu được đề ra trong Chiến lược ổn định và pháttriển kinh tế - xã hội đến năm 2000: tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao
và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảmquốc phòng, an ninh, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao tích luỹ từ nội bộnền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷsau” [19,tr.20] Cùng với việc đề ra đường lối phát triển kinh tế – xã hội trongthời kỳ mới, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nêu rõ phương hướng phát triểnkhoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đó là:
- Vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh; phát triển và kết hợp chặt chẽ các ngành khoa học xã hội và nhân văn,khoa học tự nhiên và công nghệ làm chỗ dựa khoa học cho việc triển khaithực hiện Cương lĩnh, Hiến pháp, xác định phương hướng, bước đi của côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng pháp luật, các chính sách, kế hoạch vàchương trình kinh tế – xã hội
- Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học tự nhiên và côngnghệ tiên tiến trong tất cả các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ, quản lý vàquốc phòng - an ninh Nắm bắt các công nghệ cao như công nghệ thông tin,công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, những công nghệ mới trong chếtạo máy để có thể đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định Đồngthời, đánh giá chính xác tài nguyên quốc gia, từ đó đề xuất một chiến lượcđúng đắn về khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên Bảo đảm cơ sở khoa học
Trang 26và công nghệ cho việc khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo
vệ môi trường sinh thái Áp dụng các công nghệ hiện đại trong việc kiểm soát,đánh giá và xử lý tác động môi trường Ưu tiên các công nghệ sạch, tốn ítnguyên, nhiên liệu Đề xuất các phương pháp khoa học và ứng dụng cácphương tiện kỹ thuật để hạn chế hậu quả thiên tai
- Chú trọng đúng mức nghiên cứu cơ bản về khoa học xã hội, khoa học nhânvăn và khoa học tự nhiên, làm chỗ dựa lâu bền cho nghiên cứu ứng dụng, triểnkhai và tiếp nhận các thành tựu mới về khoa học và công nghệ
- Xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học và công nghệ tiên tiến.Đẩy mạnh các hình thức đào tạo cán bộ khoa học ở trong và ngoài nước Gấprút đào tạo lớp chuyên gia đầu đàn Sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ hiệncó; bổ sung cán bộ cho các cơ quan nghiên cứu triển khai, các trường đại học
Bố trí lại lực lượng khoa học và công nghệ theo hướng gắn khoa học và côngnghệ với giáo dục đào tạo, gắn nghiên cứu triển khai với sản xuất và dịch vụ.Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành khoa học và công nghệ;chú trọng xây dựng hệ thống các phòng thí nghiệm hiện đại ở các trường đạihọc và các viện nghiên cứu; xây dựng và nâng cấp mạng lưới dịch vụ kỹ thuậtnhư đo lường, tiêu chuẩn, thẩm định công nghệ, thông tin khoa học và côngnghệ
- Xây dựng và thực hiện tốt hệ thống chính sách và cơ chế đồng bộ cho pháttriển khoa học và công nghệ, đó là phát huy sự tìm tòi, sáng tạo trong nghiêncứu, đồng thời đề cao trách hiệm xã hội của những người làm công tác khoahọc và công nghệ đối với đất nước Tạo lập thị trường cho các hoạt động khoahọc và công nghệ Kiểm soát các công nghệ nhập Thúc đẩy các doanhnghiệp, nhất là các doanh nghiệp lớn của Nhà nướcđổi mới công nghệ, thu hútlực lượng nghiên cứu – triển khai về các doanh nghiệp
+ Có chính sách chăm lo điều kiện làm việc, lợi ích vật chất và tinh thần củangười nghiên cứu, phát minh và ứng dụng khoa học, công nghệ; bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ; ưu đãi nhân tài có cống hiến quan trọng; khuyến khích cán bộkhoa học làm việc ở vùng sâu, vùng xa Ngăn chặn tình trạng ”chảy chấtxám”
Trang 27+ Đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư cho các hoạt động khoa học và côngnghệ Xây dựng quỹ tín dụng và ngân hàng đầu tư phát triển khoa học và côngnghệ Nâng dần mức đầu tư của ngân sách nhà nước cho khoa học và côngnghệ.
+ Khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trícủa người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậubằng khoa học và công nghệ
Các quan điểm của Đảng về khoa học và công nghệ là cơ sở và tạo tiền đềthúc đẩy khoa học và công nghệ phát triển, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Với mục tiêu: phấn đấu để xây dựng nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thànhnước công nghiệp, khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng và động lựccho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nghị quyết Hội nghị lần thứ haiBan Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) năm 1996 đã nêu rõ thực trạngkhoa học và công nghệ, trong đó tập trung nhấn mạnh những thành tựu và yếukém của khoa học Việt Nam, đồng thời quyết định định hướng chiến lược pháttriển khoa học và công nghệ đến năm 2020 và những nhiệm vụ năm 2000 Nghịquyết nêu rõ: Khoa học xã hội và nhân văn đã góp phần bổ sung, lý giải và làm
rõ thêm những quan điểm của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam; làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc lấy chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng Các vấn đề vềmối quan hệ giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, tăng trưởng kinh tế vàcông bằng xã hội, văn hoá và phát triển cũng đã được nghiên cứu sâu hơn.Việc nghiên cứu các di sản lịch sử, văn hoá, văn minh và con người Việt Namtiếp tục có những phát hiện mới Việc tổng kết kinh nghiệm chiến tranh và pháttriển lý luận nghệ thuật quân sự Việt nam đã đạt một số kết quả
Khoa học tự nhiên có những thành tựu nghiên cứu, điều tra điều kiện tự nhiên,tài nguyên thiên nhiên và môi trường, góp phần tạo luận cứ cho việc xây dựngchiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội
Các ngành khoa học và công nghệ gắn bó hơn với sản xuất và đời sống Nhiềuthành tựu khoa học và công nghệ mới đã được ứng dụng, góp phần rất quan
Trang 28trọng vào việc nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả trong các ngành sảnxuất nông nghiệp, y tế, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, xây dựng,dầu khí, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu ; xây dựng và củng cố quốc phòng Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có bước trưởng thành, có điều kiện đểphát huy khả năng cho sự nghiệp chung Tuy nhiên, Nghị quyết Hội nghị lầnthứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) đưa ra những mặt yếukém của ngành khoa học và công nghệ, đó là: "Nền khoa học và công nghệnước ta phát triển chậm, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, chưa đáp ứngđược yêu cầu phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, còn thuakém so với nhiều nước trong khu vực" [20,tr.51]
Nghị quyết khẳng định nguyên nhân dẫn đến những yếu kém là do: Các cấp
uỷ đảng, các cấp chính quyền chưa thực sự coi phát triển khoa học và côngnghệ là quốc sách hàng đầu, chưa tập trung trí tuệ, công sức cho sự lãnh đạo,chỉ đạo các hoạt động khoa học và công nghệ Nhiều chủ trương đúng đắn vềkhoa học và công nghệ chậm được thể chế hoá về mặt Nhà nước và chưa thựchiện nghiêm túc Bên cạnh đó, quản lý khoa học và công nghệ trong cơ chế thịtrường còn lúng túng, bất cập Việc tổ chức phân bổ lực lượng còn phântán.Việc quản lý các chương trình nghiên cứu còn mang nặng tính hànhchính Công tác đảng, công tác chính trị – tư tưởng trong một số viện nghiêncứu và các trường đại học còn yếu Việc phát triển đảng trong trí thức chưađược quan tâm đầy đủ
Để khắc phục những yếu kém, và thúc đẩy khoa học và công nghệ phát triển,đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết đề rađịnh hướng chung của chiến lược khoa học và công nghệ đến năm 2020:
- Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, kế thừa những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinhhoa trí tuệ của nhân loại, đi sâu điều tra, nghiên cứu thực tế, tổng kết sâu sắcquá trình đổi mới đất nước Xây dựng không ngừng phát triển và hoàn thiện
hệ thống lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; cung cấp
Trang 29luận cứ khoa học cho việc tiếp tục bổ sung hoàn thiện đường lối, chủ trươngchính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xãhội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
- Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trongtất cả các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý và quốc phòng – anninh, nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ của đất nước Coi trọngnghiên cứu cơ bản, làm chủ và cải tiến các công nghệ nhập từ bên ngàoi, tiếntới sáng tạo ngày càng nhiều công nghệ mới ở những khâu quyết định đối với
sự phát triển của đất nước trong thế kỷ 21
- Nâng cao năng lực nội sinh, xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học vàcông nghệ của nước nhà; đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ khoahọc và công nghệ lành nghề; trẻ hoá và phát triển đội ngũ cán bộ khoa học vàcông nghệ có đủ đức, tài, kiện toàn hệ thống tổ chức, tăng cường cơ sở vậtchất – kỹ thuật, mở rộng các nguồn cung cấp thông tin, từng bước hình thànhmột nền khoa học và công nghệ hiện đại của Việt Nam có khả năng giải quyếtphần lớn những vấn đề then chốt được đặt ra trong quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá
Cùng với việc đề ra nhiệm vụ của khoa học và công nghệ trong thời kỳ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ cụ thể của khoa học và công nghệ đếnnăm 2000, Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khoá VIII) nêu rõ mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ từ năm 1996đến năm 2000:
- Nâng cao mặt bằng khoa học và dân trí để tiếp thu và vận dụng các thành tựukhoa học, tiến bộ kỹ thuật trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; đạtđược những chuyển biến rõ nét về các mặt:
+ Đảm bảo luận cứ khoa học cho việc xây dựng các định hướng chiến lược,chính sách, chủ trương, kế hoạch, quy hoạch phát triển đất nước của Đảng vàNhà nước
+ Lựa chọn, tiếp thu và làm chủ các công nghệ nhập từ bên ngoài, kết hợp vớicải tiến và hiện đại hoá công nghệ truyền thống, nâng cao trình độ công nghệ
Trang 30trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, tạo bước chuyển biến mới về năng xuất,chất lượng, hiệu quả của sản xuất; đặc biệt là chất lượng các sản phẩm xuấtkhẩu để có sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới.
+ Đạt trình độ công nghệ trung bình trong khu vực ở những ngành sản xuất vàdịch vụ chủ yếu
- Phát triển tiềm lực khoa học công nghệ:
+ Xây dựng đội ngũ trí thức giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có chíkhí và hoài bão lớn, quyết tâm đưa đất nước lên đỉnh cao mới Phấn đấu đưa
số lượng cán bộ nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ lên gấp rưỡi sovới hiện nay và nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ
+ Tăng cường một bước cơ bản về cơ sở vật chất kỹ thuật cho khoa học vàcông nghệ Tập trung xây dựng một số phòng thí nghiệm cần thiết đạt trình độtiên tiến trong khu vực trên các lĩnh vực công nghệ trọng điểm, như công nghệthông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, hoá dầu, năng lượng, chếtạo máy tự động hoá để phát triển nhanh các lĩnh vực khoa học và công nghệ
ưu tiên
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoáVIII) là bước phát triển mới trong đường lối của Đảng về khoa học và côngnghệ Đây được coi là văn kiện quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc và mang tầmchiến lược lâu dài đối với sự phát triển của khoa học và công nghệ nước tatrong giai đoạn tiếp theo
Ngày 10/1/1997, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 12-CT/TW về việc triển
khai nghiên cứu quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) Chỉ thị nêu rõ: Việc tổ
chức nghiên cứu quán triệt và thực hiện Nghị quyết về khoa học và công nghệ
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bảo đảm cho các lĩnh vực giáo dục - đào tạo,khoa học và công nghệ ở nước ta thật sự là "quốc sách hàng đầu", thúc đẩykinh tế – xã hội phát triển mạnh mẽ, vững chắc theo định hướng xã hội chủnghĩa Chỉ thị yêu cầu các cấp uỷ Đảng, các ngành, các đoàn thể thực hiện tốt
Trang 31việc tổ chức phổ biến và nghiên cứu Nghị quyết; việc triển khai thực hiệnNghị quyết.
Về việc tổ chức phổ biến và nghiên cứu Nghị quyết, Chỉ thị xác định: mụcđích của việc tổ chức phổ biến, nghiên cứu quán triệt Nghị quyết cần đượctiến hàng rộng rãi trong toàn Đảng, toàn dân, trước hết tập trung làm thật tốttrong nội bộ Đảng, trong hệ thống các Viện nghiên cứu, các trường học, cácngành kinh tế, các tổ chức sản xuất, kinh doanh, các nhà doanh nghiệp
Về việc triển khai thực hiện Nghị quyết, Bộ Chính trị chỉ thị: Các cấp uỷĐảng, các ban cán sự đảng, đảng đoàn có trách nhiệm lãnh đạo tổ chức thựchiện đưa Nghị quyết của Trung ương vào cuộc sống một cách tích cực, chủđộng, sáng tạo Các cơ quan nhà nước, trước hết là Bộ Khoa học, Công nghệ
và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và công nghệ) có chương trình hành độngtổng thể, có kế hoạch nhanh chóng thể chế hoá định hướng chiến lược pháttriển khoa học và công nghệ của Đảng thành chiến lược, luật pháp và chínhsách Các tổ chức kinh tế, xã hội ở từng địa phương, cơ sở cần xây dựng chủtrương, biện pháp, bước đi, chương trình hàng động cụ thể đến năm 2000 vàtừng năm Ban Khoa giáo Trung ương làm đầu mối phối hợp, cùng với Ban
Tư tưởng – Văn hoá Trung ương, Ban Kinh tế Trung ương, giúp Bộ Chính trịhướng dẫn triển khai đôn đốc, kiểm tra thực hiện, làm cho Nghị quyết thực sự
đi vào cuộc sống
Nhằm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ươngĐảng (khoá VIII) có hiệu quả, cùng với việc ban hành Chỉ thị số 12-CT/TW,
Bộ Chính trị cũng đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị nhằm tập trung vàophát triển khoa học và công nghệ trên nhiều lĩnh vực: Chỉ thị số 20-CT/TW
ngày 22/7/1997 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Chỉ thị số 63-CT/TW ngày 28/2/1998
của Bộ Chính trị về đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ
phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; Chỉ thị số
36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi
Trang 32trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Chỉ thị số
58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát
triển công nghệ thông tin
Trong những năm qua, việc thực hiện các Nghị quyết Đại hội Đảng và Nghịquyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII),cùng nhiều Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị đã bước đầu nâng cao tiềmlực khoa học và công nghệ của đất nước, thúc đẩy việc đưa các tiến bộ khoahọc và công nghệ vào sản xuất và đời sống, góp phần đưa đất nước ra khỏitình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội, tạo ra những tiền đề cần thiết để bướcvào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2.2 Chính sách phát triển khoa học và công nghệ của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1996 đến 2000
Quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác khoahọc và công nghệ, Đảng bộ thành phố Hải Phòng đã ban hành nhiều chủtrương, chính sách nhằm đưa khoa học và công nghệ thành phố đáp ứng đượcyêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và trở thành động lực đểphát triển kinh tế - xã hội
Đặc biệt, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trungương Đảng (khóa VIII), Đảng bộ thành phố Hải Phòng không ngừng quan tâmphát triển khoa học và công nghệ Trong những năm 1996 – 2000, Đảng bộthành phố đã ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị nhằm cụ thể hoá đường lối đó.Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Đảng bộ thành phố (khóa XI) họp từ ngày 6
đến ngày 8/3/1997 đã đề ra Nghị quyết số 07/NQ-TU nghiên cứu quán triệt
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóaVIII), thống nhất đánh giá thực trạng khoa học và công nghệ trong 10 năm đổimới, đồng thời quyết định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, giải pháp chủyếu phát triển khoa học và công nghệ thành phố trong thời kỳ công nghiệp hóa
và hiện đại hóa
Trên cơ sở đánh giá những kết quả và hạn chế sau 10 năm thực hiện côngcuộc đổi mới của đất nước Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành
Trang 33Đảng bộ thành phố (khóa XI) đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ pháttriển khoa học và công nghệ thành phố đến năm 2000.
Về phương hướng: thành phố cần nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ
và năng lực nội sinh, xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học – công nghệ vớinhững cơ sở vật chất cần thiết để khoa học và công nghệ trở thành nền tảng vàđộng lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố; gắn chặt vớisản xuất kinh doanh theo hướng nghiên cứu ứng dụng là chủ yếu, làm tăngsức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường, chuẩn bị lực lượng cho hội nhậpquốc tế, đóng góp có hiệu quả vào đẩy nhanh quá trình xây dựng Hải Phòngthành thành phố cảng hiện đại, trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch,dịch vụ, có kinh tế – văn hoá - xã hội, khoa học – công nghệ, cơ sở hạ tầng pháttriển, bảo đảm quốc phòng – an ninh vững mạnh, nâng cao đời sống nhân dân
Về mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2000 Nghị quyết nhấnmạnh:
+ Nâng cao một bước mặt bằng khoa học và dân trí, đóng góp tích cực vàoviệc xây dựng luận cứ khoa học cho các quyết định chủ trương, dự án pháttriển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng – an ninh của thành phố
Đẩy nhanh quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng công nghệ, hàng năm phấnđấu đổi mới 13-15% công nghệ với trình độ từ mức trung bình trở lên
Lựa chọn, tiếp thu và làm chủ một số công nghệ tiên tiến thích hợp nhập từbên ngoài, kết hợp với cải tiến và hiện đại hoá công nghệ truyền thống, sángtạo những công nghệ nội sinh từ thực tiễn của địa phương Chọn lọc, ứngdụng, triển khai một số công nghệ cao trong công nghệ thông tin, công nghệsinh học và một số công nghệ mũi nhọn khác
+ Phát triển tiềm lực khoa học – công nghệ:
Phát triển đội ngũ cán bộ khoa học – công nghệ thành phố cả về số lượng vàchất lượng; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học – công nghệ đầungành, các chuyên gia giỏi, từng bước chuẩn bị lực lượng khoa học kỹ thuật
Trang 34cho những năm tiếp theo Tăng cường hợp tác với các cơ quan khoa học trongnước và quốc tế.
Tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật cho khoa học – công nghệ Hình thànhcác đơn vị mạnh về nghiên cứu – triển khai, thông tin, dịch vụ tư vấn khoahọc – công nghệ và môi trưòng, trung tâm kiểm định, kiểm nghiệm cấp thànhphố có đủ năng lực giám định chất lượng sản phẩm, hàng hoá, kiểm nghiệmcác thông số về môi trường
Để khắc phục những hạn chế yếu kém và tập trung để khoa học và côngnghệ phát triển nhanh, mạnh, Nghị quyết vạch ra nhiệm vụ cụ thể để pháttriển khoa học và công nghệ thành phố đến năm 2000 đối với từng ngành,từng lĩnh vực:
Đối với khoa học xã hội và nhân văn:
Nghiên cứu và đề xuất giải pháp về phát triển thị trường, chuyển dịch cơ cấukinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động, phát triển các thành phần kinh tế, cổphần hoá trong các doanh nghiệp; kinh tế hợp tác và hợp tác xã, trước mắt làtrong nông nghiệp; đổi mới công tác tài chính, tín dụng nhằm tích cực tạo vốncho đầu tư phát triển
Tập trung nghiên cứu những vấn đề về cải cách hành chính, an ninh – quốcphòng Tổng kết thực tiễn công cuộc đổi mới tại Hải Phòng, đóng góp vào hệthống lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam Hình thành
bộ môn nghiên cứu Hải Phòng học Đóng góp luận cứ khoa học cho các côngtrình Thông sử Hải Phòng, lịch sử Đảng bộ Hải Phòng tập 3 và các chươngtrình văn hoá - xã hội trọng điểm: Phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo;Chương trình dân số và kế hoạch hoá gia dình; Bảo vệ và tăng cường sứckhoẻ cộng đòng; Bảo vệ và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá, phát huy bảnsắc dân tộc; Giải quyết việc làm; Xoá đói giảm nghèo
Đối với khoa học tự nhiên:
Ứng dụng thành tựu của các ngành khoa học: Toán, Vật lý học, Hoá học, cơhọc, Sinh học, các khoa học về trái đất vào điều kiện cụ thể của thành phố,
Trang 35gắn với các chương trình điều tra cơ bản, bảo vệ môi trường, đổi mới côngnghệ.
Đối với khoa học kỹ thuật và công nghệ
Bám sát thực tiễn kinh tế – xã hội của thành phố, đẩy mạnh nghiên cứu ápdụng những tiến bộ khoa học và công nghệ để nhanh chóng đổi mới và nângcao trình độ công nghệ trong các lĩnh vực; công nghiệp, nhất là những ngànhsản xuất sản phẩm mũi nhọn, quan trọng; phát triển nông nghiệp và nông thôn,thuỷ sản; phát triển cơ sở hạ tầng, nhà ở đô thị; đi thẳng vào công nghệ cao,hiện đại ở ngành và đơn vị có điều kiện; phát triển nguồn lực khoa học – côngnghệ
Để khoa học và công nghệ phát triển theo đúng mục tiêu và nhiệm vụ đề ra,Nghị quyết đưa ra một số giải pháp chủ yếu, đây chính là cơ sở quan trọng đểđẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa:
Một là: tạo động lực cho phát triển khoa học – công nghệ:
- Tạo lập thị trường cho khoa học – công nghệ: triển khai thực hiện các chínhsách khuyến khích của nhà nước đối với khoa học – công nghệ Củng cố vàhoàn thiện hệ thống đơn vị nghiên cứu – triển khai, phát triển mạng lưới dịch
vụ tư vấn khoa học – công nghệ, khuyến khích chuyển giao công nghệ Thựchiện gắn kết nghiên cứu triển khai khoa học – công nghệ với đào tạo, với sảnxuất, kinh doanh, coi khoa học – công nghệ là yếu tố quyết định sự sống còn
và phát triển của doanh nghiệp, thu hút lực lượng cán bộ khoa học – côngnghệ ở các Sở, Ban, ngành, các đơn vị cơ sở tham gia
- Chính sách đối với đội ngũ cán bộ khoa học – công nghệ:
Cần có chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với cán bộ khoa học – công nghệtheo hiệu quả đóng góp cho phát triển kinh tế – xã hội; tạo điều kiện làm việc
để cán bộ khoa học phát huy năng lực; trọng dụng cán bộ khoa học và côngnhân kỹ thuật có tài năng
Thành phố ban hành chế độ khuyến khích cán bộ khoa học – công nghệ làmviệc tại nông thôn và các huyện đảo, chế độ khen thưởng những tập thể và cá
Trang 36nhân có sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, áp dụng thành tựu khoa học – công nghệvào sản xuất và đời sống, chế độ thu hút cán bộ khoa học – công nghệ có tàinăng về làm việc tại Hải Phòng.
- Phát động mạnh mẽ phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học – côngnghệ như: phát huy sáng kiến, sáng chế, cải tiến kỹ thuật, áp dụng thành tựukhoa học – công nghệ vào sản xuất, đời sống
Hai là: Phát triển nguồn lực khoa học – công nghệ:
- Tăng mức đầu tư và đa dạng hoá các nguồn tài chính cho phát triển khoa học– công nghệ:
+ Các chương trình khoa học cấp thành phố tập trung vào những vấn đề cơbản và cấp bách phát triển kinh tế – xã hội; đồng thời tiếp cận các chươngtrình cấp nhà nước, các dự án quốc tế để bổ sung hàm lượng trí tuệ, hàmlượng công nghệ cho các hoạt động nghiên cứu - triển khai Việc tham giathực hiện các chương trình kinh tế – xã hội của thành phố tạo nhu cầu và cungcấp nguồn lực cho khoa học – công nghệ phát triển
+ Kinh phí cho khoa học – công nghệ: dành 2% ngân sách cho phát triển khoahọc – công nghệ, trích một phần vốn các dự án, công trình phát triển kinh tế –
xã hội để giải quyết các nhiệm vụ khoa học – công nghệ liên quan đến nộidung và chất lượng của dự án, công trình Huy động các nguồn vốn ngoàingân sách: Vay tín dụng, vốn viện trợ, quỹ hỗ trợ phát triển khoa học – côngnghệ, vốn tự có của các cơ sở sản xuất – kinh doanh, đóng góp của nhân dân
- Mở rộng quan hệ hợp tác phát triển khoa học – công nghệ và bảo vệ môitrường:
+ Mở rộng hợp tác khoa học – công nghệ với các cơ quan trung ương, với cáctỉnh và thành phố bạn
+ Tranh thủ sự cộng tác và giúp đỡ của các tổ chức quốc tế trên các lĩnh vực:đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và đổi mới công nghệ
Ba là: Tăng cường tổ chức quản lý khoa học – công nghệ:
- Tăng cường kiểm soát, giám định công nghệ, chất lượng sản phẩm và bảo vệmôi trường: Cụ thể là cần quy chế hoá công tác thẩm định các dự án đầu tư
Trang 37phát triển kinh tế – xã hội, về giải pháp công nghệ, về tác động đến môitrường và xã hội Khuyến khích sử dụng các công nghệ sạch Xử lý nghiêmviệc sử dụng công nghệ gây ô nhiễm môi trường Các dự án đầu tư, các quyhoạch phát triển sản xuất, quy hoạch đô thị, khu công nghiệp đều phải thựchiện nghiêm chỉnh báo cáo đánh giá tác động môi trường và phải dành mộtphần vốn đầu tư cho các giải pháp bảo vệ môi trường Tăng cường kiểm trachất lượng sản phẩm, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và đình chỉ sản xuất, lưuthông hàng giả.
- Tăng cường năng lực tổ chức, quản lý và triển khai các hoạt động khoa học –công nghệ:
+ Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về khoa học – công nghệ –môi trường từ thành phố đến các ngành và các quận , huyện, thị xã
+ Kiện toàn và duy trì hoạt động của Hội đồng khoa học – công nghệ cấpthành phố Tạo điều kiện thuận lợi cho các hội khoa học và kỹ thuật chuyênngành, các tổ chức chính trị – xã hội tham gia hoạt động khoa học – côngnghệ, nhất là trong việc tư vấn, phản biện và giám định xã hội
+ Đổi mới cơ chế quản lý khoa học – công nghệ theo hướng thiết thực, hiệuquả Triển khai Luật Khoa học và công nghệ khi Nhà nước ban hành Trên cơ
sở các văn bản pháp quy của Nhà nước, Uỷ ban nhân dân thành phố ban hànhcác quy chế cụ thể theo đặc điểm của Hải Phòng
Xây dựng và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng bước tổ chức thực hiệntốt các chương trình khoa học – công nghệ có mục tiêu sau: Đổi mới và nângcao trình độ công nghệ sản xuất công nghiệp; phát triển nông nghiệp và nôngthôn; phát triển cơ sở hạ tầng; phát triển thuỷ sản; khai thác hợp lý tài nguyên
và bảo vệ môi trường; phát triển nguồn lực khoa học – công nghệ; xây dựng
và triển khai mô hình khu vực phòng thủ vững chắc; ứng dụng công nghệ cao;xây dựng nhà ở; chương trình khoa học, xã hội và nhân văn phục vụ sự nghiệpphát triển kinh tế – xã hội thành phố
Trang 38Tuy nhiên, Nghị quyết nhấn mạnh đến những nhiệm vụ cần tập trung trongthời gian trước mắt, đó là:
- Hoàn thiện và đổi mới công nghệ để nâng cao sức cạnh tranh cho một số sảnphẩm mũi nhọn của sản xuất công nghiệp
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cải biến cơ cấu kinh tế nông thôntheo hướng tăng tỷ trọng chế biến, tăng giá trị nông sản trên một đơn vị diệntích
- Một số vấn đề về nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt thuỷ sản xa bờ
- Giải pháp luồng vào cảng và một số lĩnh vực cơ sở hạ tầng
- Một số vấn đề bảo vệ môi trường
- Một số chuyên đề cấp bách về khoa học, xã hội và nhân văn
Như vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Đảng bộ thành
phố (khóa XI) về phát triển khoa học – công nghệ đến năm 2000 đã đề ra các
nhiệm vụ cũng như giải pháp phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của thành phố.Đây không chỉ đánh dấu bước phát triển mới của ngành khoa học và côngnghệ trong thời gian đến năm 2000 mà còn là động lực quan trọng cho côngtác phát triển khoa học và công nghệ thành phố trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa
Sau hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấphành Trung ương Đảng (khóa VIII) và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Banchấp hành Đảng bộ thành phố (khóa XI) về công tác phát triển khoa học –
công nghệ, Thành uỷ Hải Phòng ra Thông báo số 164-TB/TU về kết luận của
Ban Thường vụ Thành ủy - tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Đảng bộ thành phố (khóa XI), Thông báo đã đưa ra
kết luận: Trong 2 năm qua hoạt động khoa học – công nghệ và môi trường đã
có những chuyển biến đáng kể, góp phần nâng cao nhận thức về vai trò độnglực của khoa học – công nghệ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, thúc đẩyviệc đưa các tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất và đời sống Công tác
Trang 39nghiên cứu triển khai thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học
kỹ thuật và công nghệ, khoa học tự nhiên đã đóng góp những luận cứ khoahọc cho việc xây dựng chiến lược, hoạch định chương trình phát triển kinh tế– xã hội, công tác xây dựng Đảng, củng cố quốc phòng – an ninh Việcnghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất đã gópphần tạo nên thành tựu trong các ngành kinh tế quan trọng Đặc biệt trong lĩnhvực nông nghiệp đã tạo được những sản phẩm có chất lượng, có khả năngcạnh tranh cao Công tác bảo vệ môi trường có chuyển biến về nhận thức,bước đầu thu hút các lực lượng xã hội tham gia và tranh thủ được sự hỗ trợcủa các tổ chức quốc tế Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có bướctrưởng thành mới
Tuy nhiên, những đóng góp của khoa học – công nghệ vào phát triển kinh tế –
xã hội còn nhiều hạn chế, chưa thực sự phát huy vai trò động lực trong côngcuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các đề tài nghiên cứu khoa học, nhất làmột số đề tài trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn còn dàn trải, hiệuquả thấp, chưa tập trung cao cho những vấn đề quan trọng và bức xúc củathành phố Công tác quản lý khoa học – công nghệ và môi trường còn bất cập.Công tác đánh giá, thẩm định công nghệ, nhất là công nghệ của một số dự ánđầu tư chưa thật chính xác Tổ chức thực hiện 10 chương trình có mục tiêucòn lúng túng, không đảm bảo các điều kiện khả thi Các tổ chức nghiên cứutriển khai và lực lượng cán bộ nghiên cứu, nhất là cán bộ đầu đàn còn yếu vàthiếu, chưa được quan tâm đúng mức Công tác xã hội hoá chưa tập trung chỉđạo nên việc huy động nguồn lực đạt hiệu quả thấp Thị trường cho khoa học– công nghệ chậm được tạo lập
Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại trên là do chưa làm tốt công tác quántriệt Nghị quyết để nâng cao nhận thức tư tưởng cho các cấp uỷ Đảng, chínhquyền, các ban, ngành, đoàn thể và nhân dân Nhiều cấp, nhiều ngành chưathấy trách nhiệm của mình và chưa nghiêm túc trong việc tổ chức triển khaiứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ và bảo vệ môi trường vào sản xuất vàđời sống, góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển
Trang 40Chưa tập trung tạo các điều kiện về kinh phí, cơ chế chính sách phù hợp, quihoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để phát triển khoa học – công nghệ và bảo
vệ môi trường Vai trò tham mưu của ngành khoa học – công nghệ và môitrường còn nhiều bất cập
Sau hai năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trungương Đảng (khóa VIII) và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hànhĐảng bộ thành phố (khóa XI), mặc dù khoa học – công nghệ thành phố HảiPhòng đã có những chuyển biến đáng kể, song vẫn còn không ít những khókhăn, bấp cập Trước tình hình đó, Thành uỷ Hải Phòng đã đưa ra những biệnpháp cụ thể để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đólà:
- Tập trung cao hơn nữa cho công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức trongtoàn đảng bộ và nhân dân về vai trò then chốt có ý nghĩa sống còn của khoahọc – công nghệ và bảo vệ môi trường đối với sự nghiệp phát triển kinh tế –
xã hội của thành phố trong bối cảnh nước ta tham gia vào các tổ chức thươngmại quốc tế và khu vực Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phong trào thi đuaphát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong các tổ chức, tập thể, đơn vị, trongcác tầng lớp nhân dân nhằm tăng năng suất, hạ giá thành và nâng cao chấtlượng sản phẩm
- Tăng cường đầu tư, huy động các nguồn lực cho phát triển khoa học và côngnghệ và bảo vệ môi trường Từ năm 2000 hàng năm dành khoảng 2% tổng chingân sách thành phố, đồng thời đẩy mạnh việc đầu tư cho phát triển khoa học– công nghệ và môi trường
- Kiện toàn củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các chương trìnhkhoa học – công nghệ có mục tiêu theo hướng tập trung vào những vấn đềquan trọng, bức xúc, những sản phẩm mũi nhọn, có khả năng cạnh tranh caotrên thị trường trong nước và quốc tế, tạo nhiều việc làm và tăng nguồn thucho ngân sách, thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu và nâng cao hiệu quả kinh