MỤC LỤCTrangMỞ ĐẦU1Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN81.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân 81.2. Thẩm quyền, thời hạn, căn cứ, thủ tục, hậu quả của kháng nghị phúc thẩm hình sự trong tố tụng hình sự Việt Nam251.3. Các điều kiện bảo đảm thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử nói chung và công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự nói riêng31Chương 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN372.1. Tình hình giải quyết án có kháng nghị 372.2. Thực trạng áp dụng pháp luật trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự những năm gần đây39Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG THỜI GIAN TỚI633.1. Dự báo tình hình kinh tế, xã hội và tình hình tội phạm trong thời gian tới633.2. Một số giải pháp763.3. Một số kiến nghị81KẾT LUẬN96DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO99 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮTBLTTDS :Bộ luật tố tụng dân sựBLTTHS :Bộ luật tố tụng hình sựVKS:Viện kiểm sátVKSND:Viện kiểm sát nhân dân
Trang 1c¬ së lý luËn vµ thùc tiÔn vÒ kh¸ng nghÞ phóc thÈm h×nh sù cña viÖn kiÓm s¸t nh©n d©n
ë viÖt nam hiÖn nay
HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC
Trang 2Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò kháng nghị phúc thẩm hình sự của
1.2 Thẩm quyền, thời hạn, căn cứ, thủ tục, hậu quả của kháng nghị
phúc thẩm hình sự trong tố tụng hình sự Việt Nam 251.3 Các điều kiện bảo đảm thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử nói chung và công tác
Chương 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM
2.1 Tình hình giải quyết án có kháng nghị 372.2 Thực trạng áp dụng pháp luật trong công tác kháng nghị phúc
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG KHÁNG
NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
3.1 Dự báo tình hình kinh tế, xã hội và tình hình tội phạm trong
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự
VKSND : Viện kiểm sát nhân dân
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh phòng và chống tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng
và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm,không làm oan người vô tội là vấn đề hết sức quan trọng trong xã hội, đồngthời cũng là mục đích của tố tụng hình sự
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Luật tổchức Viện kiếm sát nhân dân năm 2002 thì Viện kiểm sát thực hiện chức năngthực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Mục đích hoạtđộng của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự là nhằm bảo đảm mọi hành viphạm tội đều phải được khởi tố, điều tra, xử lý kịp thời; việc truy tố, xét xử,thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm vàngười phạm tội, không làm oan người vô tội Thông qua việc thực hiện chứcnăng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát bảo đảm cho pháp luật nói chung vàpháp luật hình sự nói riêng được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất
Theo quy định của BLTTHS năm 2003, Viện kiếm sát cùng cấp vàViện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặcquyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân Đây là một quyền năng pháp lýquan trọng nhằm bảo đảm cho bản án, quyết định của Toà án có căn cứ, đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật
Cải cách tư pháp ngày càng được chú trọng và đẩy mạnh cùng với côngcuộc đổi mới của đất nước Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2 tháng 6 năm
2005 của Ban chấp hành trung ương về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 nêu rõ mục tiêu “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dânchủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân,phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọngtâm là hoạt động xét xử được tiến hành hiệu quả và hiệu lực cao” [23, tr.2]
Cùng với phương hướng:
Trang 5Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp vớinền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhândân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, đảm bảo tínhđồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền conngười [23, tr.2- 3].
Theo tinh thần Nghị quyết 49 về nhiệm vụ hoàn thiện chính sách, phápluật hình sự, trong đó có nhiệm vụ quy định chặt chẽ những căn cứ khángnghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị để khắc phục tìnhtrạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ
Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày 19 tháng 6 năm 2008 về
"Tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự " của Viện trưởng Việnkiểm sát nhân dân tối cao cũng đã nêu rõ Viện kiểm sát nhân dân các cấp thựchiện một số nội dung theo quy định của pháp luật nhằm nâng cao chất lượngkháng nghị phúc thẩm hình sự trong thời gian tới
Trong thời gian qua, công tác kháng nghị phúc thẩm đối với bản án,quyết định sơ thẩm hình sự của Toà án nhân dân đã đạt được những kết quảnhất định Chất lượng kháng nghị đã từng bước được nâng lên, nhìn chung đãbảo đảm về hình thức, nội dung có căn cứ pháp lý; tỷ lệ kháng nghị đượcViện kiểm sát cấp phúc thẩm bảo vệ và Toà án cấp phúc thẩm chấp nhậnđược tăng lên rõ rệt
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác kháng nghịphúc thẩm hình sự còn không ít bất cập Tỷ lệ kháng nghị được Toà án cấpphúc thẩm chấp nhận thường chỉ chiếm 65%; số lượng kháng nghị phúc thẩm
có chiều hướng giảm trong khi số án sơ thẩm phải cải sửa, huỷ án thông quakháng cáo chiếm tỷ lệ không nhỏ (từ 15% đến 20% số vụ án xét xử phúcthẩm) hay có một số Viện kiểm sát trong nhiều năm liền không có kháng nghịphúc thẩm hình sự
Những tồn tại, thiếu sót nêu trên có nhiều nguyên nhân từ nguyên nhânchủ quan đến nguyên nhân khách quan Do năng lực và trách nhiệm của cán bộ,
Trang 6kiểm sát viên; lãnh đạo một số đơn vị chưa thật sự quan tâm tới công tác khángnghị phúc thẩm hình sự; mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát các cấp vềcông tác kháng nghị phúc thẩm chưa cao; Bộ luật tố tụng hình sự chưa có quyđịnh cụ thể về căn cứ kháng nghị phúc thẩm, thời hạn kháng nghị trên một cấpcòn ngắn, việc sao gửi bản án sơ thẩm của Toà án cấp sơ thẩm cho Viện kiểm sátcấp trên chưa được quy định; trang thiết bị hỗ trợ cho công tác thực hành quyềncông tố và kiểm sát xét xử chưa đáp ứng yêu cầu… những nguyên nhân trên làmcho chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm bị ảnh hưởng không nhỏ.
Viện kiểm sát phải nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sựnói riêng, làm tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử nóichung để đáp ứng theo yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới và thựchiện tốt Chỉ thị số 03 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Do vậy việc nghiên cứu luận văn “Cơ sở lý luận và thực tiễn về
kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay” là cần thiết trong thời điểm hiện nay Thông qua việc nghiên cứu
cơ sở lý luận về kháng nghị phúc thẩm hình sự và thực trạng của công táckháng nghị phúc thẩm hình sự trong những năm gần đây, tìm ra nguyên nhâncủa hạn chế và tồn tại, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị để nâng cao chấtlượng kháng nghị phúc thẩm hình sự theo tinh thần Chỉ thị 03/2008 ngày 19tháng 6 năm 2008 về “Tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự”của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, qua đó thực hiện tốt chứcnăng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử của ngành đáp ứng yêu cầucông cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng pháp lý quan trọngcủa Viện kiểm sát trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát cáchoạt động tư pháp Thông qua kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sátbảo đảm cho mọi hoạt động tư pháp được tiến hành đúng người, đúng tội,đúng pháp luật, khắc phục tình trạng bỏ lọi tội phạm và người phạm tội,không làm oan người vô tội Yêu cầu cải cách tư pháp đặt ra đối với công tác
Trang 7đổi mới tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân theo quan điểm của Đảng
về cải cách tư pháp trên tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị thìviệc nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự là một vấn đề cầnthiết, chính vì vậy:
Công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự nói riêng, việc thực hiện chứcnăng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đã được chú trọng hơn trongnhững năm gần đây thông qua việc tổ chức những hội nghị, hội thảo chuyên
đề, tổng kết rút kinh nghiệm Chính vì vậy chế định kháng nghị phúc thẩmhình sự đã được một số tác giả, công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ, khíacạnh khác nhau:
- Một số vấn đề về Tố tụng hình sự của tác giả Võ Thọ, Nxb tư pháp Hà
- Hoàn thiện pháp luật về xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự của
Th.s Nguyễn Nông (Tạp chí TAND số 8/1994)
- Chuyên đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm hình sự của Toà án nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Viện Phúc thẩm 1- Viện kiểm sát nhân
dân tối cao năm 2006
Và một số bài viết về công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, cơ sở lýluận; căn cứ để kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hình sự; những vấn đề cầnchú ý để nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự…đăngtrên Tạp chí kiểm sát số 8 tháng 4 năm 2007
Tuy nhiên các nghiên cứu, bài viết và chuyên đề nêu trên đề cấp đếnnhững khía cạnh nhất định hoặc những vấn đề chung nhất Mỗi bài viết, côngtrình nghiên cứu chỉ tập trung giải quyết một hoặc vài nội dung cụ thể liênquan đến chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự, chưa có bài viết hay công
Trang 8trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết dưới góc độ lý luận, thực trạngcủa công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, lý giải các yếu tố ảnh hưởng, rồiđưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục và nâng cao hơn nữa chất lượngkháng nghị phúc thẩm hình sự trong thời gian tới.
Luận văn tập trung nghiên cứu đến chế định kháng nghị phúc thẩmhình sự của Viện kiểm sát nhân dân trong pháp luật tố tụng hình sự, từ kháiniệm, đặc điểm, vai trò, trình tự, thủ tục kháng nghị phúc thẩm hình sự (trong
đó có nêu lịch sử hình thành, phát triển chế định này, so sánh với quy định vềkháng nghị phúc thẩm hình sự một số quốc gia trên thế giới); thực trạng củacông tác kháng nghị phúc thẩm hình sự trong những năm gần đây Tìm ranguyên nhân và đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chấtlượng kháng nghị phúc thẩm hình sự trong thời gian tới
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Thông qua thực trạng của công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự,những ưu điểm, hạn chế trong quy định của pháp luật hình sự về kháng nghịphúc thẩm cũng như việc áp dụng quy định này trên thực tế xét xử hiện naynhằm góp phần hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 2002 đáp ứng yêucầu cải cách tư pháp mà Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của
Bộ Chính trị Ban đề ra
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm
vụ sau:
Một là, làm rõ cơ sở lý luận của kháng nghị phúc thẩm hình sự: Khái
niệm, đặc điểm, vai trò và các yếu tố bảo đảm chất lượng kháng nghị phúcthẩm hình sự, trình tự, thủ tục kháng nghị phúc thẩm hình sự
Hai là, đánh giá thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự.
Những mặt tích cực và hạn chế của pháp luật thực định về kháng nghị phúc thẩmhình sự cũng như việc áp dụng quy định này trên thực tế xét xử hiện nay
Trang 9Ba là, đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác
kháng nghị phúc thẩm hình sự trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
+ Về đối tượng: Quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm
sát các cấp (trừ Viện kiểm sát quân sự các cấp) nhằm bảo đảm cho pháp luậtnói chung và pháp luật hình sự nói riêng được tuân thủ nghiêm chỉnh và triệt
để, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xét xử của Toà án
+ Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu một số vấn đề cơ bản
về lý luận và thực tiễn trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Việnkiểm sát nhân dân ở Việt Nam Đề tài không nghiên cứu kháng nghị phúcthẩm dân sự, kinh tế, hành chính, lao động…
+ Về thời gian nghiên cứu: Luận văn xác định nghiên cứu trong
khoảng thời gian 5 năm từ năm 2004 đến năm 2008
5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu dựa trên nền tảng cơ sở lý luận của chủ nghĩaMác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Đường lối,quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
Luận văn được thực hiện theo phương pháp luận của triết học Mác Lênin sử dụng các phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn, phân tích, tổnghợp, lịch sử cụ thể, hệ thống, thống kê, so sánh…
-6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn hệ thống hoá, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về khángnghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân và đặt ra một số kiếnnghị góp phần sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Việnkiểm sát nhân dân năm 2002 theo hướng cụ thể, rõ ràng hơn về chế địnhkháng nghị phúc thẩm hình sự
Trang 10- Luận văn nghiên cứu chuyên sâu qua đó phân tích và đánh giá thựctrạng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Việt kiểm sát nhân dân,những mặt được và chưa được, tìm ra những nguyên nhân.
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất một số giải pháp, kiến nghị cụ thểnhằm nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương, 8 tiết
Trang 11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1.1 Khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
Tố tụng hình sự là trình tự tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quyđịnh của pháp luật Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của các cơ quantiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng cũng như cácnhân, cơ quan, tổ chức khác góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy địnhcủa pháp luật
Để bảo đảm cho việc phát hiện, xác định tội phạm và người phạm tộiđược chính xác, xử lý nghiêm minh, không để lọt tội phạm, không làm oanngười vô tội đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Nhànước, tổ chức Quá trình giải quyết một vụ án phải trải qua nhiều giai đoạnkhác nhau từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Mỗi một giai đoạnthể hiện những hoạt động tố tụng khác nhau, có nhiệm vụ riêng, mang tính đặcthù về chủ thể, phạm vi, hành vi tố tụng và quyết định tố tụng khác nhau Mỗimột giai đoạn tố tụng gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của một cơ quan tiếnhành tố tụng , tuy độc lập nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Giai đoạntrước là tiền đề cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn tiếp theo, giai đoạnsau kiểm tra kết quả của giai đoạn trước Kết thúc từng giai đoạn các cơ quantiến hành tố tụng phải ra Quyết định theo qui định của tố tụng hình sự để giảiquyết vụ án; hoặc đình chỉ hoặc tiếp tục đưa ra giải quyết ở các giai đoạn kế tiếp
Bộ luật tố tụng hình sự ngoài việc quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điềutra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự còn quy định chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng Để bảo vệ các
Trang 12nguyên tắc của tố tụng hình sự nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tộiphạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và kịp thời mọi hành vi phạm tội,không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội thì bảo đảm pháp chế xãhội chủ nghĩa là nguyên tắc đầu tiên và là một trong những nguyên tắc cơ bảnnhất xuyên suốt toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự Nói đến hoạt động tố tụnghình sự, trước hết phải kể đến hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng,người tiến hành tố tụng Trong quá trình tiến hành tố tụng, người tiến hành tốtụng phải nghiêm chỉnh và triệt để tuân thủ các quy định của BLTTHS bởi lẽmọi vi phạm pháp luật hoặc việc áp dụng pháp luật không đầy đủ có thể dẫnđến việc xử lý oan, sai, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của côngdân, gây tổn hại đến uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật và làm giảm lòngtin của nhân dân vào hiệu lực và sự công minh của pháp luật Việc nghiêmchỉnh và triệt để tuân thủ các quy định của BLTTHS không chỉ là nhiệm vụcủa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng mà còn là nhiệm vụcủa những người tham gia tố tụng Viện kiểm sát là một trong những cơ quan
tư pháp tiến hành các hoạt động tố tụng xuyên suốt ngay từ khi khởi tố vụ ánđến khi bản án, quyết định được thi hành, thông qua việc thực hiện chức năng,nhiệm vụ của mình Viện kiểm sát bảo đảm cho mọi hoạt động của các cơquan tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng nghiêmchỉnh, thống nhất theo quy định của pháp luật
Ở Việt Nam, từ thời Pháp thuộc, Viện Công tố đã được thành lập, môhình này tiếp tục tồn tại sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trong cơ cấu hệthống tổ chức của Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hoà Hiến pháp năm
1946 tuy không đề cập đến Viện công tố nhưng trong cơ cấu của Toà án cócác Công tố viên làm nhiệm vụ buộc tội nhân danh Nhà nước trước phiên toàtrong các vụ án hình sự Từ năm 1958 Viện công tố được tách ra khỏi Toà ánnhưng trực thuộc Chính phủ và hình thành hệ thống cơ quan Nhà nước độclập với Toà án từ trung ương tới địa phương, hoạt động chủ yếu vẫn là hoạtđộng công tố trước Toà án Theo Hiến pháp năm 1959, Viện kiểm sát ngoàichức năng công tố còn thực hiện một chức năng thứ hai là kiểm sát việc tuân
Trang 13theo pháp luật Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 tuy có sửa đổimột số quy định về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhưng chứcnăng công tố vẫn giao cho Viện kiểm sát đảm nhiệm Theo quy định củaHiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Luật tổ chức Viện kiểm sátnhân dân năm 2002 thì Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng: Thựchành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020 vẫn khẳng định: “Viện kiểm sát nhân dân giữnguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát cáchoạt động tư pháp” [23, tr.5] Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểmsát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.Phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ
án hình sự và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp vụ
án bị tạm đình chỉ, đình chỉ hoặc có kháng cáo, kháng nghị theo quy địnhcủa pháp luật) Kiểm sát các hoạt động tư pháp hình sự là chức năng hiếnđịnh của Viện kiểm sát, có nội dung giám sát mọi hoạt động của các cơquan tư pháp và các cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạtđộng tư pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sựnhằm bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cáchnghiêm chỉnh và thống nhất Phạm vi của kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong các hoạt động tư pháp hình sự cũng bắt đầu từ khi vụ án hình sự đượckhởi tố và kết thúc khi người phạm tội đã thi hành xong bản án Với chứcnăng trên vai trò của Viện kiểm sát trong suốt quá trình tố tụng rất quantrọng Sự xuất hiện của Viện kiểm sát trong quá trình tố tụng nhằm bảođảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra, xử lý kịp thời;việc truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không
để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
Trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, bảo vệquan điểm truy tố theo cáo trạng và bảo đảm việc xét xử đúng người, đúngtội, đúng pháp luật; mức hình phạt đối với các bị cáo phải phù hợp với tính
Trang 14chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo Ngoài ra, Viện kiểmsát còn thực hiện chức năng giám sát hoạt động xét xử của Toà án Nếu việcxét xử của Toà án vi phạm nghiêm trọng về hình sự và tố tụng hình sự hoặcsau phiên toà xét xử sơ thẩm mà phát hiện thấy trong suốt quá trình từ khởi tố
vụ án hình sự, điều tra, truy tố, xét xử vì lý do chủ quan hay khách quan có viphạm pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát cùng cấp vàViện kiểm sát cấp trên trực tiếp sử dụng một quyền năng pháp lý đặc biệt để
yêu cầu Tòa án cấp trên tiến hành xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm; đó
là quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự Đây là quyền năng pháp lý đặc biệt
mà chỉ duy nhất Viện kiểm sát mới có quyền này Quyền kháng nghị phúcthẩm hình sự được thực hiện ở cả hai cấp là cùng cấp và cấp trên trực tiếp Sở
dĩ, quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự được thực hiện cả hai cấp để Việnkiểm sát thực hiện chức năng công tố của mình và bảo đảm cho mọi vi phạmcủa các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm đều được phát hiện và giảiquyết tại cấp xét xử thứ hai
Để hiểu rõ hơn về khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự, cần phảihiểu một số khái niệm và vấn đề sau Trước hết, về khái niệm kháng nghịphúc thẩm, thì:
Theo từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “Kháng nghị” là bày tỏ ý kiến chống lại điều đã quyết nghị "Phúc thẩm" là xét lại những vụ án do toà án dưới đưa lên [46].
Theo Từ điển Luật học, thì: "Kháng nghị" của Viện kiểm sát là việc
Viện kiểm sát khi thực hành quyền kiểm sát hoạt động tư pháp không đồng ývới toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Toà án, gửi văn bản đến Toà
án có thẩm quyền làm ngưng hiệu lực thi hành đối với toàn bộ hoặc một phầnbản án đó để xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đảmbảo cho vụ án được xét xử chính xác, khách quan, đúng pháp luật [47]
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm chỉ có Viện kiểm sát cùng cấp,
cùng lãnh thổ với Toà án đã ra bản án, quyết định sơ thẩm và Viện kiểm sát
Trang 15cấp trên trực tiếp của Viện kiểm sát này mới có quyền kháng nghị những bản
án, quyết định sơ thẩm [47]
Trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, ngay từ những văn bản pháp
lý đầu tiên khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, quyền khángnghị của Viện kiểm sát nhân dân được quy định tại:
Điều thứ 34 Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng giêng năm 1946 của Chủtịch nước “Toà đại hình sơ thẩm, Ông Biện lý có quyền chống án lên ToàThượng thẩm” [13, tr.7]
Tiếp đến, tại điểm c Điều 1 mục II Thông tư số 141-HCTP ngày 5tháng 12 năm 1957 của Bộ Tư pháp “Ông công tố uỷ viên, dưới sự lãnh đạocủa Bộ Tư pháp có nhiệm vụ kháng nghị đối với bản án hoặc nghị quyết củatoà án không đúng pháp luật” [6, tr.3]
Kháng nghị phúc thẩm hình sự được ghi nhận một cách chính thức tạiĐiều 17 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 “Viện kiểm sát nhândân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương có quyền: kháng nghịnhững bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân cùng cấp và dướimột cấp” [28, tr.6]
Tại Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 quy định:
Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử, các viện kiểm sát nhândân có quyền: …
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và quyết định sơthẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cùng cấp vàdưới một cấp, khi thấy có vi phạm pháp luật [28, tr.7]
Kháng nghị phúc thẩm hình sự, từ chỗ được quy định là một vài điềutrong các Sắc lệnh, Thông tư, Luật Tổ chức Viện kiểm sát của Nhà nước ViệtNam dân chủ cộng hoà, sau đó được quy định thành những chế định riêngtrong BLTTHS Qua từng giai đoạn cụ thể, kháng nghị phúc thẩm hình sựngày càng được thay đổi, bổ sung và hoàn thiện hơn, đáp ứng ngày càng tốthơn trong hoạt động thực hiện chức năng của ngành kiểm sát Chế định kháng
Trang 16nghị phúc thẩm hình sự được sửa đổi, bổ sung rất nhiều lần cho phù hợp vớitình hình thực tế của mỗi thời kỳ cách mạng Việt Nam.
Khi chưa có BLTTHS năm 1988 ra đời, chế định kháng nghị phúc
thẩm hình sự được thực hiện theo “Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng phúc thẩm về hình sự kèm theo Thông tư số 19-TATC ngày 2 tháng 10 năm 1974 của Toà án nhân dân Tối cao”
Tiếp đến, chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự được quy định tạiPhần thứ tư, chương XXII tại các Điều 206, Điều 207, Điều 208, Điều 210,Điều 211, Điều 212, Điều 213 của BLTTHS 1988 BLTTHS năm 2003 chếđịnh này được quy định tại các Điều 232, Điều 233, Điều 234, Điều 236, Điều
237, Điều 238 và Điều 239 cũng tại Phần thứ tư, chương XXII
Luật Tố tụng hình sự của một số quốc gia trên thế giới đều quy địnhkháng nghị của Viện kiểm sát /Viện công tố là căn cứ để đưa vụ án ra xét xửtheo thủ tục phúc thẩm Các nước trên thế giới cho dù theo mô hình tố tụngtranh tụng (Anh, Mỹ, Nhật ), tố tụng thẩm vấn (Pháp, Đức, Ý…) hay tố tụngđan xen (Trung Quốc, Hàn Quốc…) theo quy định tố tụng hình sự của cácnước đều quy định về một quyền năng pháp lý đặc biệt chỉ dành cho kiểm sátviên (công tố viên), Viện kiểm sát hay Viện công tố Đó là quyền kháng nghịphúc thẩm hình sự đối với những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lựcpháp luật mà có vi phạm Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các
vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân/Viện công tố có quyền kháng nghị theothủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dânchưa có hiệu lực pháp luật (như tại Việt nam, Trung Quốc, Liên bang Nga)hay tại Đức, Pháp, Nhật thì Công tố viên có quyền kháng nghị phúc thẩm nếuthấy bản án sơ thẩm không đúng hay có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật.Điểm chung nhất về quyền kháng nghị được tố tụng hình sự của các quốc giaquy định, về bản chất đây là một quyền năng pháp lý đặc biệt mà chủ thể thựchiện nó chỉ có thể là Kiểm sát viên (công tố viên) hay Viện kiểm sát (ViệnCông tố) mà thôi Khi thực hiện quyền này Viện kiểm sát (Viện Công tố) vừa
Trang 17thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình vừa đảm bảo cho hoạt động của các
cơ quan tư pháp nói chung, của Toà án nói riêng được tiến hành đúng người,đúng tội, đúng pháp luật
Tại Anh, cơ quan công tố Hoàng gia Anh là cơ quan độc lập, cơ quantrực thuộc chính phủ thuộc nhánh quyền lực hành pháp, thực hiện chức năngchính là truy tố tội phạm Công tố viên có trách nhiệm tham gia phiên toà tạitoà án cấp sơ thẩm nhưng không có quyền tham gia phiên toà tại toà án hoànggia Sau khi kết thúc phiên toà Công tố viên có quyền: Kháng nghị bản án,quyết định của toà án cấp cơ sở liên quan đến các vấn đề về pháp luật lên toà
án cấp cao; Kháng nghị bản án của toà án hoàng gia liên quan đến việc tuyênhình phạt nếu cho rằng hình phạt đấy quá nhẹ; Kháng nghị quyết định của toàphúc thẩm lên Thượng nghị viện nếu xét thấy có liên quan đến vấn đề phápluật chung cần có sự xem xét của Nghị viện
Tại Pháp, Viện công tố Pháp được đặt bên cạnh hệ thống toà án nhưngkhông lệ thuộc vào toà án, hoạt động độc lập với toà án Bộ tư pháp giám sáthoạt động của Viện công tố.Viện công tố là cơ quan truy tố tội phạm và là cơquan đại diện cho xã hội bảo vệ lợi ích chung, đảm bảo áp dụng pháp luật.Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà sơ thẩm có quyền kháng nghị phúcthẩm bản án của Toà tiểu hình, Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà Phúcthẩm có quyền kháng nghị tất cả những bản án của Toà vi cảnh; Viện công tố
có quyền kháng nghị nếu toà án tha bổng bị cáo hoặc ra lệnh điều tra bổ sung
mà Viện công tố không đồng ý; Công tố viên cấp quận, công tố viên trưởng vàcán bộ truy tố bên cạnh Toà án cảnh sát và Toá án công cộng có quyền khángnghị phán quyết của Toà vi cảnh Công tố viên có quyền kháng nghị độc lậphoặc kháng nghị kèm theo kháng cáo của bị cáo phán quyết của Toà tiểu hình
Tại Liên bang Nga, Viện kiểm sát Liên bang Nga là hệ thống cơ quanđược xây dựng theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành,theo đó các kiểm sát viên phải phục tùng Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểmsát cấp dưới phục tùng Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên, Viện trưởng Việnkiểm sát các cấp phục tùng Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga.Viện kiểm
Trang 18sát Liên bang Nga thực hiện các chức năng: Kiểm sát việc chấp hành phápluật của các bộ, các tổng cục thuộc Liên bang, của các cơ quan lập pháp vàhành pháp của các chủ thể thuộc Liên bang Nga; Kiểm sát việc chấp hànhpháp luật của các cơ quan tiến hành các hoạt động trinh sát nghiệp vụ, các cơquan điều tra ban đầu và điều tra dự thẩm; Kiểm sát việc chấp hành pháp luậtcủa các cơ quan thi hành án; Điều tra các vụ án hình sự theo quy định; Phốihợp hoạt động với các cơ quan trong hoạt động đấu tranh phòng chống tộiphạm Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga, các kiểmsát viên tham gia vào quá trình xét xử của Toá án có quyền thực hiện việckháng nghị đối với các bản án, quyết định, các nghị quyết và phán quyết có viphạm pháp luật của Toà án Trong quá trình xét xử vụ án, Kiểm sát viên thựchành quyền công tố nhà nước, bảo đảm việc buộc tội có căn cứ và đúng phápluật Trong giai đoạn tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án Kiểm sát viên cóquyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và có trách nhiệm tham gia phiêntoà phúc thẩm.
Qua phân tích nêu trên thấy chế định kháng nghị phúc thẩm hình sựquy định trong BLTTHS Việt Nam là sự kế thừa kinh nghiệm lập pháp củacha ông cùng với sự tiếp thu có chọn lọc trong quy định về kháng nghị củapháp luật các nước trên thế giới
Theo quy định của BLTTHS năm 2003, kháng nghị phúc thẩm hình sự
là một quyền năng pháp lý đặc biệt duy nhất mà Nhà nước chỉ trao cho Việnkiểm sát nhân dân Lịch sử từ khi thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộnghoà cho đến nay, hơn 60 năm qua thì chỉ có Viện kiểm sát mới có quyềnkháng nghị phúc thẩm hình sự, đây là quyền năng pháp lý mà Nhà nước chỉtrao cho Viện kiểm sát và chỉ có Viện kiểm sát mới có quyền này, sở dĩ cóquy định như vậy là vì những lý do sau:
Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về các giai đoạn tố tụng
hình sự đó là điều tra, truy tố, xét xử trong đó thì xét xử tại phiên toà là giaiđoạn quan trọng nhất vì suy cho đến cùng thì việc xử lý một người phạm tội
Trang 19thể hiện và tập trung nhất ở giai đoạn xét xử của Toà án Việc Toà án ra mộtbản án khẳng định bị cáo có tội hoặc không có tội, nếu phạm tội thì phạm tội
gì, theo quy định tại điều khoản nào của Bộ luật hình sự, áp dụng hình phạthay không và đó là hình phạt gì Suy cho đến cùng, phán quyết của Toà ánquyết định sinh mạng chính trị của một con người nên nó có ý nghĩa cực kỳquan trọng Đồng thời, Toà án quyết định các biện pháp tư pháp đối với bị cáocũng như yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra hoặc kiếnnghị với cơ quan, tổ chức xã hội sửa chữa những thiếu sót trong quản lý kinh
tế, quản lý con người nếu có căn cứ…
Giống như các quốc gia trên thế giới, Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003 quy định nguyên tắc đối với hoạt động xét xử của Toà án, đó là nguyên
tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử: cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm (Giám đốc
thẩm hoặc tái thẩm không phải là một cấp xét xử mà chỉ là xét lại bản án,quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật khi phát hiện có vi phạm phápluật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới) Theo Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình
sự thì xét xử phúc thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặcquyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa cóhiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Xét xử phúc thẩm là việc xét xửlần thứ hai (cấp thứ hai) Tính chất của xét xử phúc thẩm là xét xử lại chứkhông phải là xem xét như giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vì có như vậy mới
bảo đảm nguyên tắc “hai cấp xét xử” Xét xử phúc thẩm là thủ tục quan trọng
và có tính quyết định trong hoạt động xét xử của Toà án
Xét xử phúc thẩm có hai nhiệm vụ: xét xử lại vụ án về mặt nội dung;kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật cả về nội dung và hình thức
Ngoài kháng cáo của những người có quyền kháng cáo thì kháng nghị
là điều kiện pháp lý quan trọng để tiến hành xét xử phúc thẩm, xét xử lại vụ
án ở cấp thứ hai Khác với kháng cáo, chỉ cần không đồng ý với quyết địnhcủa bản án sơ thẩm là những người có quyền kháng cáo sẽ thực hiện kháng
Trang 20cáo, còn đối với kháng nghị thì phải chỉ ra những vi phạm trong bản án, quyếtđịnh sơ thẩm thì mới được kháng nghị Khi thực hiện quyền kháng nghị phúcthẩm, Viện kiểm sát phải tuân theo những quy định của pháp luật về chế địnhnày, không được kháng nghị tuỳ tiện, tràn lan theo ý chí của kiểm sát viên.Đây là một quyền năng pháp lý đặc biệt duy nhất mà Nhà nước chỉ trao choViện kiểm sát
Thứ hai, theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân thì Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duynhất có quyền truy tố người phạm tội ra trước Toá án để xét xử Đồng thờiViện kiểm sát cũng thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động điều tra, hoạtđộng xét xử nhằm bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúngpháp tội, đúng pháp luật Khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có viphạm pháp luật, Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp cóquyền kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án.Viện kiểm sát bảo vệ quan điểm truy tố của mình đồng thời để bảo đảm chohoạt động điều tra, truy tố, xét xử của cấp sơ thẩm đúng người, đúng tội, đúngpháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vôtội thông qua việc thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm Kháng nghị phúcthẩm là một trong những quyền năng pháp lý thông qua đó Viện kiểm sátđồng thời thực hiện hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát cáchoạt động tư pháp Đây vừa là quyền, vừa là trách nhiệm của Viện kiểm sát
nhân dân
Thứ ba, hoạt động xét xử của Toà án là hoạt động mang tính quyết
định Chính vì vậy mà Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2 tháng 1 năm 2002
của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” xác định nhiệm vụ:
Khi xét xử, các toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bìnhđẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; thẩm phán và
Trang 21hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của toà
án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ
sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên,của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn vànhững người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyếtđịnh đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luậtquy định [21, tr3, 4]
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã xác định mục tiêu:
Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêmminh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân,phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp
mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả vàhiệu lực cao [23, tr.2]
Toà án nhân dân là cơ quan xét xử có tính độc lập nhưng để cho hoạtđộng xét xử đạt hiệu quả cao, bảo đảm việc ra một bản án đúng người,đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, khônglàm oan người vô tội, thì hoạt động xét xử phải được đặt dưới sự giám sátcủa một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đó chính là Viện kiểm sát Khikiểm sát xét xử mà phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm thìViện kiểm sát có quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự để yêu cầu Toà áncấp trên xét xử lại vụ án
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất có quyền truy tố ngườiphạm tội ra trước Toà án để xét xử Đồng thời Viện kiểm sát thực hiện chứcnăng kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử nhằm bảo đảm cho việc truy tố, điềutra, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Vì vậy, khi phát hiện bản án,quyết định sơ thẩm có vi phạm Luật hình sự hoặc Bộ luật tố tụng hình sự
Viện kiểm sát sử dụng quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự để yêu cầu
Toà án cấp trên xét xử lại vụ án
Trang 22Từ những phân tích trên đây, có thể đưa ra đưa ra khái niệm: Kháng nghị phúc thẩm là một quyền năng pháp lý đặc biệt, một hoạt động quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân và chỉ Viện kiểm sát mới có quyền kháng nghị phúc thẩm Thông qua kháng nghị phúc thẩm hình sự Viện kiểm sát bảo
vệ quan điểm truy tố của mình đồng thời bảo đảm cho mọi hoạt động tư pháp được tiến hành đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, khắc phục tình trạng
bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.
Từ những phân tích và lý giải nêu trên và những quy định về khángnghị phúc thẩm hình sự trong pháp luật tố tụng hình sự, có thể rút ra một sốvấn đề liên quan đến quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự, đó là:
Chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự: Đó là Viện kiểm sátcùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp với Toà án đã tuyên bản án,quyết định sơ thẩm
Đối tượng của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự: Bản án hoặc quyết
định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm
Mục đích của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự: Khi thực hiệnquyền kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát bảo vệ quyền truy tố củamình đồng thời bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụngđúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạmtội, không làm oan người vô tội
1.1.2 Đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam
1.1.2.1 Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý đặc biệt, duy nhất mà Nhà nước chỉ trao cho Viện kiểm sát
Lịch sử phát triển của đất nước cũng như lịch sử phát triển của Việnkiểm sát nhân dân, từ khi mới thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộnghoà cho đến nay đã chứng minh một điều, trong tất cả những văn bản pháp lý
sơ khai nhất cho đến quy định tại BLTTHS năm 2003 đều quy định: Quyềnkháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý đặc biệt duy nhất chỉ có
Trang 23Viện kiểm sát mới có Hơn 60 năm qua Viện kiểm sát đã thực hiện tốt quyềnnăng pháp lý này.
Viện kiểm sát là cơ quan chức năng thực hành quyền công tố và kiểmsát các hoạt động tư pháp, kiểm sát đối với quá trình áp dụng pháp luật của tất
cả các chủ thể trong hoạt động tư pháp, trong đó có Toà án nhân dân Toà ánnhân dân là cơ quan xét xử có tính độc lập, nhưng hoạt động xét xử của Toà
án chỉ có thể đạt hiệu quả cao và không có những sai phạm nghiêm trọng khiđặt dưới sự giám sát của Viện kiểm sát nhân dân Để bảo đảm cho việc quyếtđịnh truy tố của mình, cũng như bảo đảm cho việc xét xử được đúng phápluật, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm, Viện kiểm sátkháng nghị phúc thẩm và chỉ có Viện kiểm sát mới có quyền kháng nghị phúcthẩm để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án
Trong một khoảng thời gian trước đây, hoạt động điều tra, kiểm sátđiều tra được chú trọng, công tác xét xử, kiểm sát xét xử nói chung và khángnghị phúc thẩm nói riêng chưa được chú tâm BLTTHS năm 2003 quy định
nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử cùng với Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về “ Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” xác định mục tiêu hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử
được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao, công tác xét xử, kiểm sát xét xử nóichung và công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự được đặc biệt quan tâm
1.1.2.2 Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một trong những điều kiện pháp lý để vụ án được xét xử lại ở cấp thứ hai
Xét xử phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai, nhưng không có nghĩa mọi vụ
án đều phải qua hai cấp xét xử mà chỉ tiến hành xét xử phúc thẩm khi cókháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật.Khi có kháng nghị phúc thẩm Toà án cấp trên phải mở phiên toà xét xử phúcthẩm Mục đích của việc kháng nghị phúc thẩm là nhằm khắc phục những viphạm của bản án, quyết định sơ thẩm, đảm bảo tính có căn cứ và hợp phápcủa bản án, quyết định của Toá án Thông qua kháng nghị phúc thẩm, Việnkiểm sát bảo đảm cho mọi hoạt động tư pháp được tiến hành đúng người,
Trang 24đúng tội, đúng pháp luật, khắc phục tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạmtội, không làm oan người vô tội Viện kiểm sát chỉ thực hiện quyền khángnghị phúc thẩm khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lựcpháp luật có sai lầm trong việc đánh giá chứng cứ hoặc áp dụng pháp luật.Đối với kháng nghị, khi kháng nghị phúc thẩm Viện kiểm sát phải chỉ ra được
lý do tại sao kháng nghị và vi phạm của Toà án trong bản án sơ thẩm là gì, viphạm đến đâu…đó chính là bản chất của kháng nghị phúc thẩm, là việc Việnkiểm sát chỉ ra được những vi phạm pháp luật trong bản án sơ thẩm
1.1.2.3 Hệ quả của kháng nghị phúc thẩm hình sự là để tiến hành một phiên toà xét xử cấp thứ hai (cấp phúc thẩm)
Theo quy định của BLTTHS thì Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểmsát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơthẩm chưa có hiệu lực pháp luật khi có vi phạm Khi Viện kiểm sát đã khángnghị phúc thẩm thì buộc Toà án cấp trên phải mở phiên toà xét xử (có sự thamgia của Toà án, Viện kiểm sát, bị cáo, bị hại…) theo thủ tục phúc thẩm vớimột Hội đồng xét xử được thành lập Hậu quả pháp lý của việc kháng nghịphúc thẩm hình sự là những phần của bản án bị kháng nghị thì chưa được đưa
ra thi hành (trừ một số trường hợp theo quy định của luật) [5, tr.251] Thẩmquyền của Toà án cấp phúc thẩm là được giữ nguyên bản án sơ thẩm, sửa bản
án sơ thẩm, huỷ bản án để điều tra, xét xử lại, huỷ án và đình chỉ vụ án
Khác với kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm là kháng nghị bản án,quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc
có những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án Khángnghị giám đốc thẩm thì cả Viện kiểm sát và Toà án đều có quyền kháng nghị,kháng nghị tái thẩm thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, tuy nhiên khángnghị giám đốc thẩm hay kháng nghị tái thẩm thì chỉ có cấp trên được quyềnkháng nghị, không có kháng nghị ngang cấp như kháng nghị phúc thẩm Khi
có kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì người có quyền kháng nghịcũng đồng thời có quyền ra quyết định tạm đình chỉ bản án hoặc quyết định bịkháng nghị Phiên toà giám đốc thẩm hoặc tái thẩm chỉ có sự tham gia của
Trang 25Viện kiểm sát và Toà án (trừ trường hợp cần thiết mới có những người liênquan đến kháng nghị được triệu tập) Thẩm quyền của Hội đồng giám đốchoặc tái thẩm là không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, huỷ án
để để điều tra hoặc xét xử lại, không có quyền sửa án
1.1.2.4 Kháng nghị phúc thẩm hình sự là công cụ đặc biệt của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ
án hình sự Kháng nghị phúc thẩm là một trong những biểu hiện rõ nhất quyền năng công tố của Viện kiểm sát
Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố vàkiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi hoạt động điều tra, truy
tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Trong quá trình Viện kiểm sátthực hiện chức năng kiểm sát xét xử, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có
vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị phúc thẩm để yêu cầuToà án cấp trên xét xử lại vụ án Thông qua kháng nghị phúc thẩm Viện kiểm sátbảo vệ quyền truy tố của mình đồng thời bảo đảm cho Toà án ra một bản ánchính xác, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Đây là một trongnhững quyền năng pháp lý thông qua đó Viện kiểm sát đồng thời thực hiện haichức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Đây vừa
là quyền, vừa là trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân
Kháng nghị phúc thẩm là thể hiện rõ nét nhất quyền năng công tố củaViện kiểm sát Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sáttruy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để làm được điều này,
cơ quan công tố có trách nhiệm thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác địnhtội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó để truy tố bị can ra trước toà án vàbảo vệ sự buộc tội đó trước phiên toà Theo quy định của pháp luật hiện hànhthì quyền công tố gắn liền với hoạt động điều tra và hoạt động xét xử cho nênquyền công tố chỉ được thực hiện bởi một cơ quan duy nhất đó là Viện kiểmsát Trong giai đoạn xét xử, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có viphạm thì Viện kiểm sát có quyền hạn và trách nhiệm kháng nghị để xét xử lại
vụ án theo trình tự phúc thẩm ở Toà án cấp trên trực tiếp của Toà án xét xử sơ
Trang 26thẩm Thực hiện tốt việc kháng nghị phúc thẩm sẽ góp phần nâng cao hiệuquả công tác kiểm sát, thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố củaViện kiểm sát theo quy định của pháp luật.
1.1.3 Vai trò của kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam
1.1.3.1 Kháng nghị phúc thẩm hình sự là công cụ hữu hiệu để bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động xét xử của Toà án
Pháp chế là một chế độ và trật tự pháp luật trong đó tất cả các cơ quanNhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiệnpháp luật một cách nghiêm chỉnh và triệt để Nó đòi hỏi việc tổ chức và hoạtđộng của bộ máy Nhà nước phải được tiến hành theo đúng quy định của phápluật, mọi công chức Nhà nước phải nghiêm chỉnh và triệt để tôn trong phápluật khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, mọi vi phạm pháp luật đềuphải bị xử lý nghiêm minh Tính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩađòi hỏi bộ máy Nhà nước, các địa phương và mọi công dân trong cả nướcphải nhận thức và thực hiện giống nhau đối với toàn bộ hệ thống pháp luật đãban hành “Pháp chế và trình độ văn hoá minimum thống nhất, chứ không phảicủa tỉnh Ca-lu-ga” Nó không cho phép mỗi nơi có luật lệ riêng, duy trì tìnhtrạng “phép vua thua lệ làng”, thực hiện pháp luật của nhà nước theo cách vậndụng riêng của mình bảo đảm tính thống nhất của pháp chế là điều kiện khôngthể thiếu để thực hiện dân chủ đối với mọi công dân và quyền lực nhà nước
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ đặc biệt của đời sống chính trị xãhội, trong đó mọi cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, nhânviên nhà nước, nhân viên của các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phảituân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để Tôn trọng tính tối cao củaHiến pháp và Luật, đảm bảo tính thống nhất của pháp chế trên quy mô toànquốc Viện kiểm sát thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, thực hiệnquyền kháng nghị nói chung và quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự nóiriêng để đảm bảo cho hoạt động xét xử nói riêng của Toà án và hoạt động củacác cơ quan tư pháp tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh , bảo đảm cho
Trang 27mọi sai sót, mọi vi phạm đều bị phát hiện và xử lý kịp thời Thông qua thựchiện quyền kháng nghị của mình, Viện kiểm sát thể hiện và bảo vệ quan điểmtruy tố của mình, đảm bảo cho mọi hành vi vi phạm pháp luật bị phát hiện, xử
lý, không để lọt tội phạm, người phạm tội, không làm oan người vô tội Mọihành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh và công bằng trongphạm vi cả nước Đồng thời thông qua việc thực hiện quyền kháng nghị củamình, Viện kiểm sát cũng bảo đảm cho hoạt động xét xử của Toà án đượccông bằng, việc xử lý đối với những loại tội giống nhau, hành bi phạm tộigiống nhau tại tất cả mọi vùng miền trong cả nước phải bảo đảm bị trừng trịnhư nhau, không có sự nhân nhượng, ưu ái hơn cho một nhóm đối tượng hoặcmột bộ phận nào đó, bảo đảm tính việc áp dụng thống nhất pháp luật trênphạm vi toàn quốc
1.1.3.2 Thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm hình góp phần không nhỏ vào việc thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Việt kiểm sátnhân dân năm 2002, Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạtđộng tư pháp trong giai đoạn xét xử, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm
có vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị phúc thẩm đểyêu cầu Toà án xét xử lại vụ án Thông qua quyền kháng nghị phúc thẩm hình
sự của mình, Viện kiểm sát bảo vệ quan điểm truy tố, đồng thời bảo đảm chohoạt động của các cơ quan tư pháp được đúng người, đúng tội, đúng phápluật Qua đó để Toà án ra được một bản án chính xác, có căn cứ pháp luật
Thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự có vai trò rất lớntrong việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạtđộng tư pháp trong giai đoạn xét xử
Trang 281.2 THẨM QUYỀN, THỜI HẠN, CĂN CỨ, THỦ TỤC, HẬU QUẢ CỦA KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự được quy định tạiBLTTHS năm 1988 và có sửa đổi, bổ sung trong BLTTHS năm 2003.(Khi chưa có BLTTHS năm 1988 ra đời, việc thực hiện chế định khángnghị phúc thẩm hình sự được thực hiện theo Thông tư số 09-TATC ngày
2 tháng 10 năm 1974)
1.2.1 Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự
Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyềnkháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm (kể cả trước và sau khi cóBLTTHS ra đời)
Theo Điều 36 Bộ luật tố tụng hình sự thì người có thẩm quyền quyếtđịnh việc kháng nghị phúc thẩm là Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểmsát các cấp Điều 32 Quy chế số 960/2007/VKSTC-V3 về công tác thực hànhquyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự nêu cụ thể là: Việntrưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có quyền khángnghị đối với những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật củaToà án nhân dân cấp huyện; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhândân cấp tỉnh có quyền kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơthẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh;Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao uỷ quyền cho Viện trưởng, Phóviện trưởng Viện thực hành quyền công tố và xét xử phúc thẩm kháng nghịnhững bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhândân cấp tỉnh [35, tr.13] Đối với các Viện kiểm sát phúc thẩm thuộc Việnkiểm sát nhân dân tối cao thì theo Điều 32 Quy chế số 960/2007/VKSTC-V3Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã uỷ quyền cho các Viện trưởngViện kiểm sát xét xử phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵngkháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án nhândân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
1.2.2 Thời hạn kháng nghị kháng nghị phúc thẩm hình sự
Trang 29Theo quy định của BLTTHS thì thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát
cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án Đây là điểm khác so với quy định tại Thông tư số 19-TATC
ngày 2/10/1974 đó là thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự trên một cấp là
30 ngày nhưng tính từ ngày nhận được bản sao bản án Mục đích của việc
sửa đổi, rút ngắn thời hạn kháng nghị phúc thẩm này là để bảo đảm tính ổnđịnh của bản án Tuy nhiên trên thực tế cho thấy việc sao gửi bản án của Việnkiểm sát nhân dân cấp dưới cho Viện kiểm sát cấp trên còn chậm trễ, thậm chí
có đơn vị còn không gửi bản án ảnh hưởng tới hoạt động kiểm sát bản án sauphiên toà, nhiều vi phạm không được phát hiện hoặc khi phát hiện vi phạm thìkhông còn thời hạn kháng nghị làm cho công tác kháng nghị phúc thẩm hình
sự không đạt được hiệu quả
1.2.3 Căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự
Từ trước đến nay trong quy định của Thông tư 19, BLTTHS năm 1988,
2003 không có quy định cụ thể về những căn cứ để kháng nghị phúc thẩmhình sự Tuy nhiên, những căn cứ này được quy định tại Quy chế về thựchành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự năm 1996, 2004, 2007 (có 4căn cứ để bản án, quyết định sơ thẩm hình sự chưa có hiệu lực pháp luật bịkháng nghị phúc thẩm về cơ bản các căn cứ này giống nhau)
Tại Điều 33 của Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử năm
2007, xác định bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bịkháng nghị theo thủ tục phúc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
Việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ; Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm khôngphù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án;
Có vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự;
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật địnhhoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng [35, tr.13]
Trang 30Việc Viện kiểm sát nhân dân tối cao có hướng dẫn về căn cứ khángnghị phúc thẩm như trên là cần thiết, giúp Viện kiểm sát các cấp có nhận thứcthống nhất để xem xét, quyết định việc kháng nghị hay không kháng nghịphúc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm Tuy nhiên, đómới chỉ là quy định đơn phương của ngành Kiểm sát nên trong thực tế xét xử
có khá nhiều trường hợp chưa có sự hiểu thống nhất giữa Toà án và Việnkiểm sát trong việc nhận xét, đánh giá vi phạm của Toà án sơ thẩm trong việc racác bản án và quyết định sơ thẩm Viện kiểm sát thì xác định là bản án, quyếtđịnh sơ thẩm có vi phạm là quyết định kháng nghị nhưng Toà án lại cho rằngkhông vi phạm hoặc vi phạm có mức độ nên không chấp nhận kháng nghị
1.2.4 Hậu quả của việc kháng nghị phúc thẩm hình sự
Theo quy định của BLTTHS thì những phần của bản án bị kháng nghịthì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp, bị cáo đang bị tạm giam màToá án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, không kết tội, miễn tráchnhiệm hình sự, miến hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là tù giamhoặc hình phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hoặcquyết định của Toà án được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng nghị
Khi có kháng nghị đối với toàn bộ bản án thì toàn bộ bản án chưa đượcđưa ra thi hành
1.2.5 Thủ tục bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị phúc thẩm hình sự
Quy định của BLTTHS năm 2003 (sửa đổi, bổ sung) về trình tự, thủ tụcthay đổi, bổ sung, rút kháng nghị có tác dụng tạo điều kiện cho Viện kiểm sátnghiên cứu, cân nhắc để có được bản kháng nghị đúng pháp luật, có chấtlượng Vì vậy, mặc dù Viện kiểm sát đã kháng nghị và gửi cho Toà án cấpphúc thẩm, nhưng rõ ràng trong thời gian chờ mở phiên toà phúc thẩm là 60ngày hoặc 90 ngày tương ứng với cấp phúc thẩm tại Toà án cấp tỉnh, Toàphúc thẩm Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát vẫn có quyền xem xét hoànthiện bản kháng nghị của mình
Trang 31* Đối với việc bổ sung, thay đổi kháng nghị thì cần phải phân biệt rõ các trường hợp sau
Nếu việc bổ sung, thay đổi kháng nghị đối với một phần hoặc toàn
bộ bản án được thực hiện trong thời điểm mà thời hạn kháng nghị vẫn cònthì theo nguyên tắc có thể bổ sung, thay đổi kháng nghị theo cả hướng cólợi hoặc không có lợi cho bị cáo; kể cả trường hợp Viện kiểm sát đã rútmột phần hoặc toàn bộ bản kháng nghị nhưng sau đó lại kháng nghị lại thìvẫn được chấp nhận để xét xử phúc thẩm Nói khác đi, trong thời hạnkháng nghị còn thì Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghịtheo bất kỳ hướng nào
Trong trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị, thì trước khi bắt đầuhoặc tại phiên toà phúc thẩm, Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi khángnghị nhưng chỉ theo hướng không làm xấu đi tình trạng của bị cáo Quy địnhnhư vậy là nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của bị cáo Bởi vì, nếu thay đổi, bổsung theo hướng không có lợi cho bị cáo trong trường hợp thời hạn khángnghị đã hết thì bị cáo không thể thực hiện quyền bào chữa của mình vì khôngđược thông báo trước
* Đối với trường hợp rút kháng nghị
Đối với việc rút kháng nghị, theo quy định của Thông tư số 19-TATCngày 2 tháng 10 năm 1974 của Toà án nhân dân Tối cao, khi phiên toà phúcthẩm đã mở, việc rút kháng nghị vẫn có thể đề ra nhưng chấp nhận hay không
là do Toà án xét và quyết định Đây là một quy định không đúng, bởi lẽ, Việnkiểm sát là cơ quan duy nhất có quyền truy tố hay không truy tố một người ratrước Toà án để xét xử, thể hiện rõ chức năng công tố của ngành nên khi Việnkiểm sát đã rút kháng nghị phúc thẩm trong bất kỳ trường hợp nào thì Toà ánphải đình chỉ xét xử phúc thẩm Chính vì vậy quy định này đã được sửa đổitrong BLTTHS năm 1988, 2003 là Viện kiểm sát rút kháng nghị thì Toà án raquyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm
Trang 32Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì chỉ khi bản án sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật mà bị kháng nghị, kháng cáo thì Toà cấp trên phải mởphiên toà phúc thẩm để xem xét lại Vì thế, khi Viện kiểm sát đã kháng nghị
mà rút toàn bộ kháng nghị thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ Nếuviệc rút kháng nghị trước khi mở phiên toà thì thẩm phán chủ toạ phiên toà raquyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm, còn rút tại phiên toà thì Hội đồng xét
xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử
Theo hướng dẫn của hội đồng thẩm phán tại Nghị quyết số HĐTP thì xác định bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ khi thẩm phánđược phân công làm chủ toạ phiên toà ra quyết định đình chỉ xét xử phúcthẩm Hướng dẫn như vậy là đúng nhưng chưa thật đầy đủ và chính xác Nóchỉ đúng khi việc ra quyết định của thẩm phán trong thời điểm mà thời hạnkháng nghị đã hết Vấn đề đặt ra ở đây là mặc dù Viện kiểm sát đã rút mộtphần hay toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên toà phúc thẩm nhưng thờihạn kháng nghị vẫn còn, Viện kiểm sát vẫn có quyền kháng nghị lại Vì thế,trong trường hợp này, nếu thẩm phán chủ toạ phiên toà ra quyết định đình chỉxét xử phúc thẩm ngay sau khi Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị mà trongkhi thời hạn vẫn còn, thì không thể ra quyết định đình chỉ xét xử được vì theonguyên tắc vẫn còn thời hạn kháng nghị thì bản án chưa có hiệu lực pháp luật,vẫn còn có thể bị kháng nghị
05/NQ-Đối với trường hợp rút một phần kháng nghị trước khi hoặc bắt đầuphiên toà phúc thẩm thì Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ xem xét phần khángnghị không được rút, trừ những trường hợp cần thiết có thể xem xét nhữngphần khác của bản án không bị kháng nghị (kể cả những phần Viện kiểm sát
Trang 33có tội, tha miễn trách nhiệm hình sự hay tha miễn hình phạt Đây là quy địnhtại Thông tư số 19-TAT ngày 2/10/1974.
Tuy nhiên đến BLTTHS năm 2003 tại khoản 2 điểm b Điều 250 quyđịnh: Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm
với thành phần Hội đồng xét xử mới trong trường hợp “Người được Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội” [5, tr.258] (Bản chất của xét xử phúc thẩm là không được làm xấu
đi tình trạng của bị cáo, chính vì vậy quy định này được sửa đổi cho phù hợp,mặt khác đây là quy định bảo đảm quyền con người hơn so với những quyđịnh trước đó)
1.3 CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT CÁC HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ NÓI CHUNG VÀ CÔNG TÁC KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ NÓI RIÊNG
1.3.1 Sự đồng bộ, hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật
Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử nói chung và thực hiệnquyền kháng nghị phúc thẩm hình sự nói riêng của Viện kiểm sát là hoạt độngthực hiện quyền lực Nhà nước Cơ sở pháp lý để thực hiện quyền kháng nghịphúc thẩm hình sự là hệ thống các quy phạm pháp luật Để bảo đảm cho việcthực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự thì hệ thống các quy phạm vềkháng nghị phúc thẩm và thủ tục xét xử phúc thẩm phải thật đồng bộ, hoànchỉnh Cụ thể phải tiếp tục khẳng định thực hành quyền công tố và kiểm sátcác hoạt động tư pháp là chức năng Hiến định của Viện kiểm sát nhân dân,tiếp tục khẳng định các quyền của Viện kiểm sát nhân dân được quy địnhtrong BLTTHS năm 2003 Các Nghị quyết của Đảng trong thời gian qua đãchỉ rõ: Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án vàtrong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và ngườiphạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những sai phạm củanhững người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ Nâng cao chất lượngcông tố của kiểm sát viên tại phiên toà Như vậy, Đảng đã chủ trương xâydựng một nền công tố mạnh, phục vụ thiết thực và hiệu quả cuộc đấu tranh
Trang 34phòng, chống tội phạm, trong đó Viện kiểm sát giữa vai trò quan trọng đối vớihoạt động xét xử Để thực hiện các quan điểm của Đảng, đòi hỏi các nhà lậppháp phải thể chế hoá các Nghị quyết, đường lối của Đảng theo hướng tăngcường vai trò của kiểm sát viên đối với hoạt động kiểm sát xét xử và cơ chếbảo đảm trách nhiệm của Toà án nhân dân trong việc thực hiện các yêu cầucủa Viện kiểm sát, bảo đảm Viện kiểm sát có vai trò chủ động hơn trong hoạtđộng kiểm sát xét xử nhằm hạn chế tới mức xảy ra oan, sai, loạt tội phạmtrong các hoạt động điều tra, truy tố và xét xử.
Bên cạnh đó phải thường xuyên làm tốt công tác hệ thống hoá các vănbản quy phạm pháp luật trong tất cả mọi lĩnh vực liên quan đến việc giảiquyết các vụ án hình sự để kịp thời loại bỏ những quy phạm pháp luật khôngcòn phù hợp, sửa đổi, bổ sung, thay thế những quy phạm pháp luật mới sátthực tiễn, theo kịp tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam trong mỗithời kỳ cách mạng
1.3.2 Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng
Pháp luật là sự thể chế hoá đường, lối, quan điểm của Đảng Sự lãnhđạo của Đảng là yếu tố bảo đảm hoạt động có hiệu quả của pháp luật nóichung và công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự nói riêng Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: Phải bảo đảm và tăng cường sự lãnh đạocủa Đảng đối với cơ quan tư pháp, hoạt động tư pháp Đó là yêu cầu kháchquan trong quá trình thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự nói riêng,thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạnxét xử nói chung
Để bảo đảm thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự có hiệu quả,Đảng bộ trong cơ quan Viện kiểm sát phải quan tâm tới các nội dung sau:
Đề ra chiến lược toàn diện về nâng cao chất lượng công tác kháng nghịphúc thẩm hình sự nói riêng, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sátcác hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử nói chung
Bố trí, sắp xếp các Đảng viên có năng lực nhiệt tình, gương mẫu và tráchnhiệm thực hiện công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự Phát huy sự gươngmẫu của đội ngũ Đảng viên trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự
Trang 35Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện công tác kháng nghịphúc thẩm hình sự nói riêng và công tác thực hành quyền công tố và kiểm sátcác hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử nói chung.
1.3.3 Về cơ cấu tổ chức, cán bộ cơ quan Viện kiểm sát nhân dân
Cơ cấu tổ chức cơ quan Viện kiểm sát nhân dân có tác động trực tiếpđến hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
Do vậy, bảo đảm về cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát là điều kiện bảo đảmcho thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử kiểm sát xét xử nói chung,công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự nói riêng Nghị quyết số 49-NQ/TW
ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” xác định: Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống
tổ chức của Toà án [23, tr.5] theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vàođơn vị hành chính Như vậy để phù hợp với hệ thống của Toà án, hệ thống cơquan Viện kiểm sát cần được tổ chức thành 4 cấp: Viện kiểm sát khu vực(tương đương với Toà án sơ thẩm khu vực), Viện kiểm sát tỉnh (tương đươngvới Toà án phúc thẩm), Viện kiểm sát cấp cao (tương đương với Toà thượngthẩm) và Viện kiểm sát tối cao (tương đương với Toà án tối cao)
- Nhân tố con người giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng.
Vì lẽ đó, để bảo đảm thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử nói chung,nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm nói riêng cần phải xây dựng độingũ cán bộ, kiểm sát viên có năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức và bảnlĩnh chính trị vững vàng
1.3.4 Các điều kiện bảo đảm khác
- Giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân cũng như các tổ chức xã hội
và của công dân là một trong những yếu tố quan trọng bảo đảm thực hànhquyền công tố và kiểm sát xét xử của Viện kiếm sát nhân dân cũng như toàn
bộ hệ thống các cơ quan tư pháp Một mặt nó thể hiện tính công khai, dânchủ, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiếnhành tố tụng, trong đó có Viện kiểm sát Mặt khác, nó phát huy được sức
Trang 36mạnh tổng hợp của các cơ quan, đại biểu dân cử và toàn xã hội đối với công tácđấu tranh, phòng chống tội phạm, bảo đảm mọi hành vi vi phạm đều được pháthiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời, theo đúng quy định của pháp luật Trongcông cuộc cải cách tư pháp hiện nay hiện nay, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâmđến vấn đề này, coi đây là giải pháp quan trọng nâng cao chất lượng hoạt động
tư pháp ở nước ta Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định:
Tăng cường sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, củacác tổ chức xã hội và của công dân đối với công tác tư pháp Công tácgiám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân đối với các cơ quan tư pháptập trung vào việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực bắt, tạm giữ, tạmgiam, truy tố, xét xử, thi hành án và giám sát việc ban hành các vănbản quy phạm pháp luật về lĩnh vực tư pháp [22, tr.7]
Hay quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Nghị quyết số 49-NQ/TW của BộChính trị: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong quá trình cảicách tư pháp Các cơ quan tư pháp, cơ quan bổ trợ tư pháp phải đặt dưới sựgiám sát của các cơ quan dân cử và nhân dân” [23, tr.2] Thể chế hoá Nghịquyết của Bộ chính trị, BLTTHS năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung Điều 8BLTTHS năm 1988 thành Điều 23 BLTTHS năm 2003 về giám sát của cơquan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tốtụng, người tiến hành tố tụng Đây được coi là một nguyên tắc của hoạt động
tố tụng hình sự
- Công tác quản lý, chỉ đạo điều hành và công tác thanh tra, kiểm tra
trong ngành kiểm sát nhân dân Giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dâncũng như các tổ chức xã hội và nhân dân là hình thức giám sát từ bên ngoài
Về mặt lý luận, đây là những hình thức đem lại hiệu quả rất cao song trênthực tế lại không được như mong muốn Bởi lẽ, Quốc hội, Hội đồng nhân dânchủ yếu thực hiện quyền giám sát thông qua xem xét báo các của các cơ quan
tư pháp, trong đó có Viện kiểm sát tại các kỳ họp của mình Thông qua chấtvấn các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tại các kỳ họp của hai
Trang 37cơ quan này đối với người đứng đầu các cơ quan tư pháp Trong điều kiện đa
số trình độ của các đại biểu dân cử chưa được nâng cao, còn nặng nề về cơcấu thành phần, như vậy chất lượng giám sát của các cơ quan dân cử vẫn làmột bài toán chưa có lời giải Hơn nữa, trình độ dân trí của nhân dân ta hiệnnay nhìn chung còn thấp, đặc biệt về trình độ nhận thức pháp luật, ý thứctrách nhiệm công dân với xã hội chưa cao nên hoạt động giám sát của tổ chức
xã hội và của công dân vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra
Chính vì vậy, tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành và côngtác thanh tra, kiểm tra trong ngành kiểm sát được coi là yếu tố đặc biệt quantrọng bảo đảm thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nóichung trong giai đoạn xét xử
- Ngoài ra, còn nhiều điều kiện khác bảo đảm thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử nói chung và thựchiện quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự nói riêng của Viện kiểm sát nhândân Đó là tăng cường cơ sở vật chất và hoàn thiện chế độ chính sách đối vớicán bộ, kiểm sát viên đối với hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sátcác hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử; tăng cường mối quan hệ phốihợp giữa cơ quan Toà án và Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử
Trang 38Kết luận chương 1
Tóm lại, chế định về kháng nghị phúc thẩm cũng như thủ tục xét xửphúc thẩm được quy định rất sớm trong các văn bản quy phạm pháp luật củaNhà nước ta Ngay từ những Sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước Việt nam dânchủ cộng hoà quyền năng pháp lý đặc biệt mà duy nhất chỉ có của Viện Công
tố (Viện kiểm sát) đã được thiết lập Lần lượt qua các quy định của Thông tư
số 19-TATC ngày 2/10/1974, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tốtụng hình sự năm 2003 chế định về kháng nghị phúc thẩm hình sự, thủ tục xét
xử phúc thẩm ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn Quy định của phápluật về chế định kháng nghị đã phù hợp, thích nghi với từng giai đoạn kinh tế,chính trị, xã hội của đất nước Đây là một trong những yếu tố giúp nhữngngười làm công tác pháp luật, công tác kháng nghị phúc thẩm làm tốt nhiệm
vụ của mình Khắc phục những thiếu sót và hạn chế của các quy định trướckhi BLTTHS ra đời, quy định về chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự đã
cụ thể, rõ ràng hơn trong BLTTHS năm 1988 và năm 2003 Qua mỗi lần sửađổi, bổ sung thì chế định kháng nghị phúc thẩm ngày càng hợp lý hơn, gầnhơn với thực tế xét xử
Tuy nhiên, qua thực tế xét xử ( từ khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lựcđến nay) chế định về kháng nghị phúc thẩm vẫn bộc lộ những hạn chế nhấtđịnh như thẩm quyền, căn cứ, thời hạn, việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghịphúc thẩm hình sự Đây là những quy định về kháng nghị phúc thẩm hình sựcần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế xét xử nhằm nâng cao chấtlượng công tác xét xử trong thời gian tới
Trên cơ sở lý luận về kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sátnhân dân, tác giả trình bày thực trạng về công tác kháng nghị phúc thẩm hình
sự ở Việt Nam trong những năm gần đây trong chương sau của luận văn
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Đối với các vụ án đã đưa ra xét xử phúc thẩm thì tỷ lệ giữa số bị cáo bịkháng nghị và số bị cáo đã xét xử có nhỉnh hơn một chút, tuy nhiên vẫn làthấp Cụ thể như sau: từ năm 2004 đến năm 2008 tổng số bị cáo đã xét xửphúc thẩm là 89.170 bị cáo/61.241 vụ, số bị cáo bị kháng nghị đưa ra xét xửphhúc thẩm là 6.443 bị cáo /4.104 vụ Tỷ lệ phần trăm trung bình trong cácnăm này giữa số bị cáo bị kháng nghị đưa ra xét xử so với tổng số bị cáo đãxét xử là xấp xỉ gần 7,2% ( năm 2004 là 6,3%; năm 2005 là 7%; năm 2006 là7,3%; năm 2007 là 7,4%; năm 2008 là 8,3 %)
Đồng thời, bên cạnh đó cũng qua số liệu thống kê, tổng hợp cho thấy cónhững “điểm trống” về công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự Chỉ tính riêngtrong ba năm từ năm 2004 đến năm 2006 có 03 tỉnh không có kháng nghịphúc thẩm đối với bản án, quyết định của toà án cấp tỉnh, có 06 tỉnh, thànhphố không có kháng nghị phúc thẩm trên cấp trực tiếp, có 127 viện kiểm sátcấp huyện không có kháng nghị phúc thẩm Thực tế xét xử phúc thẩm trongnhững năm qua có bình quân từ 17% đến 20% số án phải cải sửa ở cấp phúcthẩm, qua đó để thấy thực sự công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự chưađược quan tâm đúng mức
Thực tế cho thấy nhiều vụ án cấp phúc thẩm phải cải sửa tội danh, tănghoặc giảm mức hình phạt khá lớn theo kháng cáo của bị cáo hoặc người bị hại
Trang 40nếu so sánh với số bị cáo bị cải, sửa qua kháng nghị phúc thẩm hàng năm Tỷ
lệ giữa số bị cáo bị cải sửa qua kháng nghị phúc thẩm so với số bị cáo bị cải,sửa qua kháng cáo thường chỉ chiếm gần một phần tư Số liệu thống kê chothấy số bị cáo bị cải sửa do kháng cáo từ năm 2004 đến năm 2008 là 27.955
bị cáo, nếu so với tổng số bị cáo đã xét xử phúc thẩm thì tương đương 31.3%(tức là được gần ba phần mười), trong khi đó số bị cáo bị cải sửa thông quakháng nghị là 7.466 bị cáo, nếu so với tổng số bị cáo đã xét xử phúc thẩm thìtương đương 8.3% (chưa được một phần mười) Như vậy số bị cáo bị cải sửavẫn chủ yếu thông qua kháng cáo, trong số đó có việc cải sửa do có tình tiếtmới ở cấp phúc thẩm nhưng không nhiều mà chủ yếu vẫn do sai sót trong việcđánh giá chứng cứ, việc áp dụng pháp luật của cấp sơ thẩm nhưng chưa đượcphát hiện để kháng nghị hoặc do viện kiểm sát cấp sơ thẩm cũng thống nhấtvới nhận định của toà án cấp sơ thẩm nên không kháng nghị Theo báo cáocủa Viện kiểm sát tỉnh Kiên Giang qua công tác kiểm sát xét xử án hình sựcủa Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc trong năm 2006 cho thấy có14/89 vụ chiếm 15,7% đã xét xử có sai sót lẽ ra phải kháng nghị phúc thẩm.Một số vụ án cấp sơ thẩm đã có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự,cấp phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm phải huỷ án nhưng viện kiểm sát cấp sơthẩm không kháng nghị Đáng chú ý là trong một số trường hợp, Toà án sơthẩm nhận định thiếu căn cứ, quyết định áp dụng tội danh và mức hình phạtkhác với quan điểm Viện kiểm sát truy tố và bảo vệ tại phiên toà nhưng Việnkiểm sát lại không kháng nghị phúc thẩm
Ngoài ra, một số vụ án được báo chí và dư luận quan tâm, toà sơ thẩmxét xử còn nhẹ nhưng Viện kiểm sát không kháng nghị như vụ Đặng Văn Tỷ
Em phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hay vụ Ngô Xuân Phương phạmtội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, vụ án Vũ Văn Võ phạm tội “Cố ý gâythương tích”…những vụ án này Viện Phúc thẩm đã kháng nghị trên một cấp
2.2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG CÔNG TÁC KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
2.2.1 Ưu điểm và nguyên nhân
2.2.1.1 Ưu điểm