MỤC LỤCTrangMỞ ĐẦU1Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ SƠ THẨM ĐỐI VỚI BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM 81.1. Hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự và đặc điểm của hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự đối với bị cáo là người dân tộc thiểu số81.2. Các yếu tố ảnh hưởng, các yêu cầu và điều kiện bảo đảm các yêu cầu trong hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với bị cáo là người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay38Chương 2: TÌNH HÌNH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ PHẠM TỘI VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ PHẠM TỘI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN (2004-2008)612.1. Tình hình kinh tế - xã hội và tình hình người dân tộc thiểu số phạm tội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên612.2. Thực trạng hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với bị cáo là người dân tộc thiểu số của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên74Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 953.1. Quan điểm bảo đảm hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với bị cáo là người dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp953.2. Giải pháp bảo đảm hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với bị cáo là người dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp100KẾT LUẬN118DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO122
Trang 1Cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với bị cáo là ngời dân tộc thiểu số của viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
ở tỉnh Thái Nguyên
hà nội - 2009
Trang 2Mục lục
Trang
Chơng 1: cơ sở lý luận về hoạt động kiểm sát xét xử án
hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là ngời dân tộc
1.1 Hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự và đặc điểm của hoạt động
kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự đối với bị cáo là ngời dân tộc
1.2 Các yếu tố ảnh hởng, các yêu cầu và điều kiện bảo đảm các yêu
cầu trong hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với bị cáo là
ngời dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay 38
Chơng 2: Tình hình ngời dân tộc thiểu số phạm tội và
thực trạng hoạt động kiểm sát xét xử án hình
sự đối với ngời dân tộc thiểu số phạm tội của viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ở tỉnh thái
2.1 Tình hình kinh tế - xã hội và tình hình ngời dân tộc thiểu số phạm
2.2 Thực trạng hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với bị cáo là
ngời dân tộc thiểu số của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện ở
Chơng 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm hoạt động kiểm
sát xét xử án hình sự đối với bị cáo là ngời dân tộc thiểu số của viện kiểm sát nhân dân cấp
3.1 Quan điểm bảo đảm hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với
bị cáo là ngời dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu cải cách t pháp 953.2 Giải pháp bảo đảm hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với
bị cáo là ngời dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu cải cách t pháp 100
Danh mục các chữ viết tắt
BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
Trang 3TANDTC : Toµ ¸n nh©n d©n tèi cao
VKSNDTC : ViÖn KiÓm s¸t nh©n d©n tèi caoXHCN : X· héi chñ nghÜa
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng
và lãnh đạo trong hơn 20 năm qua đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đặc biệt làtrong lĩnh vực kinh tế, đã đem lại cho đất nước một sự thay đổi cơ bản, toàn diệnlàm cho thế và lực của nước ta không ngừng lớn mạnh trên trường quốc tế
Trong những lĩnh vực đổi mới thì đổi mới hệ thống chính trị, trong đóđổi mới tổ chức hoạt động của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng góp phầnngày càng hoàn thiện cơ cấu và cơ chế tổ chức hoạt động, chất lượng hoạtđộng lập pháp, hành pháp và tư pháp ngày càng được bảo đảm Nhà nướcthực hiện quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xãhội ngày càng hiệu quả, tính pháp quyền ngày càng rõ rệt phù hợp với bốicảnh mới của đất nước thời đại
Nhất quán đường lối đổi mới tại Đại hội Đảng IX, tại Đại hội X ĐảngCộng sản Việt Nam đã tiếp tục chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa (XHCN) của dân, do dân, vì dân, thực hiện tất cả quyền lựcthuộc về nhân dân, đồng thời gắn việc thực hiện chủ trương này với việc thựchiện ba cuộc cải cách lớn về bộ máy nhà nước, gồm cải cách lập pháp, cảicách hành chính và cải cách tư pháp Thực hiện cải cách tư pháp là nhằm
“Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệcông lý, bảo vệ quyền con người, kiện toàn các cơ quan tư pháp theo hướngnâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả lấy cải cách tổ chức và hoạt độngxét xử làm trung tâm”
Thực hiện mục tiêu trên các hoạt động cải cách tư pháp đã diễn ramạnh mẽ, trên tất cả các yếu tố cấu trúc của nền tư pháp, với nhiều chuyểnbiến tích cực, góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân, góp phần thực hiện công bằng xã hội, phục vụ tích cực vào côngcuộc xây dựng và đổi mới đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCNcủa dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân
Trang 5Tuy nhiên, những kết quả đó mới chỉ là bước đầu, và mới chỉ tập trungvào giải quyết những vấn đề bức xúc nhất Hoạt động tư pháp còn bộc lộnhiều hạn chế Đối với hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp, trong đó cóhoạt động kiểm sát xét xử (KSXX) sơ thẩm án hình sự của Viện kiểm sátnhân dân (VKSND) còn có những hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu côngtác đấu tranh phòng chống tội phạm, trong thực tế còn xảy ra tình trạng oansai, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong xét xử, đội ngũ Kiểm sát viên(KSV), kiểm sát xét xử án hình sự còn nhiều yếu kém về nhận thức pháp luật,
về năng lực trình độ, chưa phát huy được hết vai trò trách nhiệm khi thực hiệnchức năng, nhiệm vụ được giao Việc nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị tài liệu, nộidung đề cương, thẩm vấn tại phiên toà của KSV chưa được chú trọng Hoạtđộng tranh tụng giữa KSV với luật sư, người bào chữa và những người thamgia tố tụng chất lượng chưa cao Những tồn tại nêu trên do nhiều nguyênnhân, cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan đòi hỏi phải có
sự nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để có các quan điểm, giải pháp tháo gỡ cótính đồng bộ, khả thi Mặt khác, về phương diện lý luận, quan điểm của Đảng
về những định hướng lớn đổi mới tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp,nhất là việc chuyển tổ chức Toà án theo đơn vị hành chính sang theo thẩmquyền xét xử, tiến tới Viện kiểm sát sẽ trở thành Viện Công tố, thực hiện chỉđạo điều tra đã và đang đặt ra những vấn đề lý luận, đòi hỏi phải giải quyết để
có những phương án cải cách mang tính khoa học và thực tiễn
Đối với VKSND cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên việc thực hiện cải cách tưpháp những năm qua đã có nhiều đổi mới, chất lượng công tác kiểm sát hoạtđộng tư pháp và thực hành quyền công tố trong giải quyết các vụ án hình sự,trong đó có các vụ án mà bị cáo là người dân tộc thiểu số (DTTS) ngày càngđược bảo đảm Tuy nhiên, thực tế cho thấy Thái Nguyên với dân số hơn 1triệu người, có 10 dân tộc cùng sinh sống (Kinh, Tày, Nùng, Dao, Cao Lan,Sán Chỉ, Sán chay, H'mông, Hoa), tình hình tội phạm hình sự vẫn đang diễn
ra hết sức phức tạp, đối tượng phạm tội là người DTTS chiếm tỷ lệ cao, nhiềutrường hợp phạm tội nghiêm trọng, như cướp tài sản, giết người, cố ý gây
Trang 6thương tích, hiếp dâm, cưỡng đoạt tài sản ngày càng tăng Chất lượng hoạtđộng KSXX án hình sự còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót, nhất là trong hoạtđộng kiểm sát xét xử án hình sự mà đối tượng phạm tội là người DTTS Trướcthực trạng và yêu cầu nghiên cứu lý luận trên, đề tài luận văn Thạc sĩ nghiên cứu
"Cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với bị
cáo là người Dân tộc thiểu số của VKSND cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên" là
hết sức cần thiết và cấp bách đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, đặc biệt là từ khi có Nghị quyết 08-NQ/TWngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị "về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tưpháp", vấn đề áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật hình sự tronghoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự nói riêng của ngành kiểm sátluôn là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học pháp lý, và đã cónhiều công trình khoa học được công bố đến vấn đề này, đáng chú ý là cáccông trình sau:
- VKSND tối cao "Những giải pháp xây dựng đội ngũ KSV cấp huyện
đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay" (2002) Đề tài khoa học cấp Bộ
do Vụ Tổ chức cán bộ chủ trì đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về độingũ KSV xác định những nguyên nhân, tồn tại, đề ra biện pháp khắc phụcnhằm nâng cao chất lượng đội ngũ KSV cấp huyện, đáp ứng yêu cầu cải cách
tư pháp hiện nay
- Trịnh Khắc Triệu, "Nâng cao trách nhiệm của KSV trong việc thực
hành quyền công tố tại các phiên toà xét xử án hình sự", Tạp chí Kiểm sát số
08 năm 2002 Bài viết đã nghiên cứu làm rõ hoạt động thực hành quyền công
tố của KSV tại phiên toà, những vấn đề KSV cần thực hiện tốt trong kiểm sáttại các phiên toà xét xử án hình sự
- Vũ Mộc, "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn đổi mới thủ tục tranh
luận tại phiên toà" (2004) đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học VKSND tối cao chủ
trì đề tài làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn vận dụng tranh tụng tại phiên toà,
Trang 7đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới tranh tụng tại phiên toà hình sự theotinh thần Nghị quyết 08/NQTW của Bộ Chính trị khoá IX
- Dương Thanh Biểu, "Tranh luận của KSV tại phiên toà hình sự,
những vấn đề lý luận và thực tiễn", Tạp chí Kiểm sát số 24 năm 2005 Bài
viết đã tập trung trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng hoạtđộng tranh luận của KSV tại phiên toà hình sự và đề xuất phương hướngnhằm nâng cao chất lượng hoạt động tranh luận của KSV tại phiên toà hình
sự Luận văn đã phân tích những vấn đề lý luận về tố tụng hình sự trong bảođảm quyền con người, trong đó có những vấn đề lý luận liên quan đến vai tròcủa KSV qua thực hiện quyền công tố và KSXX để bảo vệ có hiệu quả quyềncon người của bị can, bị cáo
- Nguyễn Mạnh Hà, "Trách nhiệm của Kiểm sát viên VKSND trong
thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay", Luận văn Thạc sĩ Luật, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2008) Luận văn đã xây dựng khái niệmtrách nhiệm của KSV, những yêu cầu đối với KSV trong thực hiện tráchnhiệm thực hành quyền công tố và KSXX trong các phiên toà hình sự, cácgiải pháp bảo đảm trách nhiệm đó theo yêu cầu cải cách tư pháp
- Nguyễn Đức Phúc, "Đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự
ở Việt Nam hiện nay" Luận văn Thạc sĩ Luật, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, 2004
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chíchuyên ngành, các sách chuyên khảo của các nhà khoa học pháp lý nghiêncứu những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài của luận văn Tuy nhiên có thểthấy cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách
có hệ thống, đầy đủ dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật hoạtđộng kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự đối với bị cáo là người DTTS, nhất
là lại ở một tỉnh có nhiều DTTS như tỉnh Thái Nguyên hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trang 8- Mục đích: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên
quan đến hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với bị cáo là người DTTS củaVKSND cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên, từ đó đề xuất các luận chứng các quanđiểm, giải pháp bảo đảm hoạt động đó đáp ứng những yêu cầu đặt ra hiện nay
- Nhiệm vụ: Phù hợp với mục đích trên luận văn có các nhiệm vụ sau
+ Phân tích cơ sở lý luận hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với
bị cáo là người DTTS, như khái niệm, đặc điểm và những yếu tố ảnh hưởngtới hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với bị cáo là người DTTS
+ Xác định các yêu cầu và điều kiện bảo đảm cho hoạt động kiểm sátxét xử án hình sự đối với bị cáo là người DTTS của VKSND cấp huyện ở tỉnhThái Nguyên đáp ứng các yêu cầu đặt ra hiện nay
+ Khảo sát thực tiễn hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với bịcáo là người DTTS của VKSND cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên, thông quahoạt động của KSV ở các giai đoạn chuẩn bị xét xử; giai đoạn xét xử và giaiđoạn kết thúc phiên toà, xác định những nguyên nhân của những ưu điểm vàtồn tại cần khắc phục
+ Đề xuất luận chứng, quan điểm, và giải pháp nhằm bảo đảm hoạtđộng kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự đối với bị cáo là người DTTS củaVKSND cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên đáp ứng yêu cầu hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn của các quan điểm, giải pháp bảo đảm hoạt động kiểm sát xét xử ánhình sự đối với bị cáo là người DTTS theo BLHS, BLTTHS Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về mặt lý
luận và thực tiễn hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với bị cáo là ngườiDTTS của VKSND cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên, và chỉ giới hạn ở giaiđoạn xét xử (gồm: các hoạt động trước, trong và sau xét xử) Về thời gian,trong khoảng thời gian 5 năm (2004 - 2008), cả về phương diện lý luận vàthực tiễn đều cho thấy hoạt động KSXX và hoạt động thực hành quyền công
tố của KSV tại phiên toà hình sự có quan hệ chặt chẽ với nhau không thể táchrời Vì lẽ đó, luận văn trong nhiều vấn đề không thể không đề cập đến việc
Trang 9thực hành quyền công tố của KSV nhất là những vấn đề trực tiếp liên quanđến KSXX án hình sự.
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các quan điểm mangtính lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước và pháp luậttrong thời kỳ đổi mới, về cải cách tư pháp và chính sách dân tộc Luận văncũng dựa trên cơ sở lý luận của các bộ môn khoa học pháp lý chuyên ngành,trực tiếp là bộ môn lý luận chung về nhà nước và pháp luật, khoa học luậthình sự, tố tụng hình sự Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của
triết học Mác - Lênin, trực tiếp sử dụng các phương pháp phân tích và tổnghợp, lịch sử cụ thể, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn Ngoài ra, luận văn còn
sử dụng một số các phương pháp của các bộ môn khoa học khác, như phươngpháp của lý thuyết hệ thống, phương pháp của khoa học thống kê, phươngpháp xã hội học
Các phương pháp của triết học Mác-Lênin có ý nghĩa phương phápluận, được luận văn sử dụng đồng thời để giải quyết các nhiệm vụ được đặtra: phương pháp của khoa học thống kê, xã hội học, được sử dụng chủ yếutrong khảo sát tình hình phạm tội và đánh giá thực trạng, phương pháp lýthuyết hệ thống bảo đảm tính toàn diện, nhất quán, sự cân đối và liên thônggiữa các nội dung của luận văn
6 Những điểm mới về mặt khoa học của luận văn
Từ kết quả đạt được luận văn có những điểm mới về mặt khoa học sau:
- Phân tích làm nổi bật các đặc điểm của hoạt động KSXX án hình sựđối với bị cáo là người DTTS
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng, những yêu cầu, điều kiện bảo đảmhoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với bị cáo là người DTTS ở ViệtNam hiện nay
Trang 10- Đánh giá thực trạng hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với bịcáo là người DTTS của VKSND cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên, rút ra nhữnghạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế đó hiện nay.
- Luận chứng và đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm hoạt độngkiểm sát xét xử án hình sự đối với bị cáo là người DTTS của VKSND cấphuyện ở tỉnh Thái Nguyên đáp ứng yêu cầu đặt ra hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên những cơ sở lý luận và thựctiễn hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với bị cáo là người DTTS củaVKSND cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên Do vậy kết quả nghiên cứu của luậnvăn góp phần phát triển cơ sở lý luận nhằm bảo đảm cho hoạt động kiểm sát xét
xử án hình sự đối với các bị cáo là người DTTS, có giá trị tham khảo trực tiếpcho VKSND tỉnh Thái Nguyên Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu thamkhảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu luật ở tỉnhThái Nguyên cũng như các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khác trên phạm vi cả nước
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT XÉT XỬ
ÁN HÌNH SỰ SƠ THẨM ĐỐI VỚI BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
1.1 HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1.1 Khái niệm hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự
Hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự là hoạt động kế tiếp hoạt độngkiểm sát điều tra, là quá trình kiểm tra lại các kết quả của hoạt động điều tra
và hoạt động kiểm sát điều tra, nhằm bảo vệ quan điểm truy tố của VKSND
Trang 11Hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự được bắt đầu khi hồ sơ vụ ánđược chuyển đến Toà án nhân dân, TAND quyết định đưa vụ án ra xét xử tạiphiên toà, VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạtđộng xét xử của Toà án và thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên toà Hoạtđộng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố là loại hình hoạtđộng đặc trưng của VKSND được Hiến pháp và pháp luật qui định.
Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và Điều 16Luật Tổ chức VKSND (năm 2002) qui định: “Trong hoạt động kiểm sát xét
xử các vụ án hình sự VKSND có trách nhiệm thực hành quyền công tố đảmbảo việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và kiểm sát việc xét xửcác vụ án hình sự, nhằm bảo đảm xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh, kịpthời" [17]
Như vậy, trong giai đoạn kiểm sát xét xử án hình sự, VKSND thực hiệnđồng thời hai hoạt động là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theopháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân Hoạt động thực hànhquyền công tố trong giai đoạn xét xử là truy tố người có hành vi phạm tội ratrước Toà án nhân dân, còn hoạt động kiểm sát xét xử là bảo đảm việc thựchiện theo pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng,người tham gia tố tụng thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất theo đúng qui địnhcủa pháp luật và đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Để làm rõkhái niệm hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự, cần làm rõ một sốvấn đề sau:
- Hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự là một trong các hoạtđộng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND.Theo qui định tại Điều 137Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001), chức năng của VKSND đã được điều chỉnh,theo đó là VKSND không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo phápluật trong lĩnh vực hành chính - kinh tế - xã hội mà chỉ tập trung thực hiệnchức năng "thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp" Luật
Tổ chức VKSND (năm 2002) qui định kiểm sát hoạt động tư pháp gồm:
+ Hoạt động kiểm sát điều tra
Trang 12+ Hoạt động kiểm sát xét xử.
+ Hoạt động kiểm sát thi hành án
+ Hoạt động kiểm sát tạm giam, tạm giữ, cải tạo phạm nhân
Như vậy, kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là chức nănghiến định của VKSND, có nội dung giám sát mọi hoạt động của các cơ quan
tư pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, nhằmđảm bảo cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện nghiêm chỉnh và thốngnhất [18, tr.62]
Khác với hoạt động thực hành quyền công tố nhà nước, kiểm sát cáchoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự của VKSND không chỉ được tiếnhành trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử mà còn được tiến hành ở cả giaiđoạn thi hành án, trong đó hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự cómục đích là nhằm phát hiện kịp thời những vi phạm pháp luật của các cơ quantiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng để bảo đảmviệc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh và kịp thời
- Đối tượng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm ánhình sự là kiểm sát việc tuân thủ pháp luật nghiêm chỉnh và thống nhất của cơquan tiến hành tố tụng (Toà án nhân dân), của người tiến hành tố tụng (thẩmphán, thư ký, hội thẩm nhân dân), và những người tham gia tố tụng gồm: (bịcáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụliên quan đến vụ án, người làm chứng, người bào chữa, người giám định,người phiên dịch) Trong quá trình kiểm sát, VKSND ngoài việc xem xétTAND có tuân thủ chấp hành các qui định của BLTTHS (năm 2003) như:các qui định về thủ tục tố tụng ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, các qui định tốtụng chung tại phiên toà như: xét hỏi, tranh luận, nghị án mà còn xem xétviệc áp dụng pháp luật hình sự và đường lối xử lý của Toà án có đảm bảođúng pháp luật qui định hay không, nếu có vi phạm, thì tiến hành kiến nghị,kháng nghị nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tốtụng BLTTHS (năm 2003) qui định trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự
có các trình tự thủ tục như: Xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, và việc xét lạibản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái
Trang 13thẩm Ở những giai đoạn xét xử khác nhau thì nhiệm vụ quyền hạn và nộidung kiểm sát xét xử của VKSND có những đặc điểm khác nhau, bởi do tínhchất pháp lý của từng hình thức phiên toà qui định.
- Phạm vi hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự
Phạm vi hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự đang là một vấn
đề có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng hoạt động kiểm sát xét xử
sơ thẩm án hình sự chỉ bắt đầu khi Toà án có quyết định đưa vụ án ra xét xử,tức là khi Toà án xác định một vụ án đã có đủ điều kiện để đưa ra xét xử.Điều đó có nghĩa ở giai đoạn chuẩn bị xét xử Toà án có thể đình chỉ vụ ánhoặc VKS có thể rút quyết định truy tố, và đó không thuộc phạm vi kiểm sátxét xử sơ thẩm án hình sự Có ý kiến lại cho rằng theo quy định tại Điều 17Luật Tổ chức VKSND (năm 2002) thì hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự chỉ bắt đầu khi TAND bắt đầu mở phiên toà xét xử, vì lúc nàyVKS mới có điều kiện thực hiện hoạt động buộc tội đối với bị cáo và đồngthời kiểm sát các hoạt động của những người tiến hành tố tụng, người thamgia tố tụng một cách công khai Như vậy theo ý kiến này, phạm vi hoạtđộng kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự còn hẹp hơn ý kiến ban đầu, mặc dùvậy các ý kiến ấy điều cho thấy có sự hợp lý ở một góc độ nhất định
Để xác định chính xác phạm vi của hoạt động Kiểm sát xét xử sơ thẩm
án hình sự đòi hỏi phải nhìn nhận một cách đầy đủ và toàn diện trên cơ sở cácqui định của Hiến pháp, pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn củaVKSND Theo qui định của BLTTHS xác định giai đoạn quyết định việc truy
tố nằm trong giai đoạn hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, khi cơquan điều tra, kết thúc điều tra bằng bản kết luận và chuyển hồ sơ cho VKS
đề nghị truy tố, VKS xét thấy có đủ dấu hiệu phạm tội thì truy tố bị can raTAND bằng bản cáo trạng, hành vi pháp lý đó đã kết thúc giai đoạn hoạt độngkiểm sát điều tra, mở ra một giai đoạn tố tụng tiếp theo, đó là giai đoạn hoạtđộng kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự
Như vậy theo các qui định này, có thể xác định phạm vi của hoạt độngkiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự được bắt đầu từ khi Toà án có thẩm quyền
Trang 14nhận và thụ lý hồ sơ vụ án kèm theo quyết định truy tố của VKSND và kếtthúc khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật Việc xác địnhgiới hạn như trên chỉ hiểu là tương đối, bởi lẽ hoạt động xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự của TAND có thể bị chấm dứt ngay trong quá trình xét xử khi
có căn cứ qui định tại Điều 105 BLTTHS "khởi tố theo yêu cầu người bị hại"khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố trước khi mở phiên toà, thì Toà án phải raquyết định đình chỉ vụ án, hoặc khi VKS ra quyết định rút quyết định truy tố,hoặc khi bản án, quyết định của TAND có kháng cáo hoặc bị kháng nghị theotrình tự phúc thẩm
Quan điểm về phạm vi hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luậtnhư đã nêu trên, được Điều 2 Qui chế thực hành quyền công tố và kiểm sátviệc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự (năm 2008) vàĐiều 3 Qui chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sựban hành năm 2007 thể hiện rõ với các nội dung:
- Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo phápluật trong việc điều tra các vụ án hình sự bắt đầu từ khi phát hiện có dấu hiệuphạm tội xảy ra đến khi kết thúc việc điều tra
- Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án hình sự đượcbắt đầu từ khi chuyển bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rútgọn cùng với hồ sơ vụ án sang TAND để xét xử và kết thúc khi bản án vàquyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật không bị kháng cáo, kháng nghị
- Theo qui định của BLTTHS (năm 2003) hoạt động kiểm sát xét xử sơthẩm án hình sự có một số vấn đề cần chú ý sau: Về thẩm quyền thực hiệnhoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự Tại Điều 170 BLTTHS qui định,TAND cấp huyện được xét xử sơ thẩmnhững vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêmtrọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ một số tội phạm khác theo qui định.TAND cấp tỉnh được xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạmkhông thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện hoặc những vụ án thuộc thẩmquyền của TAND cấp dưới mà cấp trên lấy lên để xét xử
Trang 15Như vậy, qua sự phân tích trên chúng ta có thể hiểu: Hoạt động kiểmsát xét xử sơ thẩm án hình sự là việc VKSND sử dụng quyền năng pháp lý dopháp luật qui định để kiểm tra, giám sát tính hợp pháp, tính có căn cứ, đúngpháp luật những hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngườitiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự, nhằm bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh, kịpthời Hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự theo quan niệm đó đượcthực hiện trong cả giai đoạn chuẩn bị xét xử, giai đoạn xét xử công khai vàgiai đoạn sau khi xét xử xong vụ án
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự đối với bị cáo là người dân tộc thiểu số
Hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự đối với bị cáo là ngườiDTTS có những đặc điểm chung của hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm ánhình sự, đồng thời còn có những đặc điểm riêng, được qui định chủ yếu do bịcáo là người DTTS cụ thể như sau:
1.1.2.1 Các đặc điểm chung của hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm
Trang 16Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, giai đoạn xét xử được xác định làgiai đoạn quan trọng nhất, nó mang tính quyết định đối với vụ án, điều nàyđược khẳng định tại Điều 9 BLTTHS (năm 2003) với nội dung "không ai bịcoi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã
có hiệu lực pháp luật" [19]
Hoạt động tố tụng hình sự luôn có ba chức năng: gồm chức năng buộctội, chức năng bào chữa, chức năng xét xử Chức năng tố tụng buộc tội thựcchất là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Ở ViệtNam, Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam qui định: VKSND là cơquan duy nhất thay mặt Nhà nước thực hiện chức năng buộc tội, có tráchnhiệm và có quyền đưa ra lời cáo buộc đối với người phạm tội và bảo vệ sựbuộc tội đó tại phiên toà, nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được
xử lý nghiêm minh, kịp thời, không bỏ lọt tội phạm, lọt người phạm tội vàkhông làm oan người vô tội Những hoạt động đó được diễn ra tại phiên toàxét xử sơ thẩm hình sự, bởi đây là xét xử lần đầu, do TAND có thẩm quyềntiến hành theo qui định của pháp luật, tuy nhiên không phải mọi trường hợpxét xử sơ thẩm đều là xét xử lần đầu Trong thực tiễn có các trường hợp Toà
án có thẩm quyền xét xử đã ra quyết định huỷ án để điều tra hoặc xét xử lạidựa trên qui định pháp luật cụ thể là: theo các Điều 250 BLTTHS (Toà án cấpphúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại), Điều 287BLTTHS (Hội đồng giám đốc thẩm huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệulực pháp luật để điều tra hoặc xét xử lại), Điều 300 BLTTHS (Hội đồng táithẩm quyết định huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điềutra lại hoặc xét xử lại vụ án) thì việc xét xử sơ thẩm trong các trường hợp nàykhông thể được coi là xét xử lần đầu Thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ ánhình sự trong các trường hợp trên theo BLTTHS qui định chủ yếu thuộc vềTAND cấp huyện, một số vụ án thuộc về TAND cấp tỉnh và tương đương
Với quan niệm trên, hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự cónhững đặc điểm sau:
Trang 17Một là: Kiểm sát xét xử tại phiên toà sơ thẩm là buộc tội bị cáo, bảo vệ
cáo trạng, đấu tranh cho quan điểm pháp chế thống nhất tại phiên toà VKSND,nhân danh Nhà nước thực hiện quyền lực để truy tố người phạm tội ra trướcTAND và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên toà xét xử sơ thẩm án hình sự
Hai là: Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ
thẩm án hình sự của Toà án nhân dân, chỉ duy nhất thuộc về VKSND đượcthực hiện trên cơ sở các qui định cụ thể của Hiến pháp và pháp luật hình
sự, Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức VKSND, hoạt động đó được tiến hànhthông qua hoạt động của KSV được giao nhiệm vụ kiểm sát xét xử sơ thẩm
án hình sự
Trong quá trình xét xử các vụ án hình sự theo trình tự sơ thẩm, sự tuânthủ pháp luật của HĐXX và những người tham gia tố tụng là đối tượng củahoạt động kiểm sát Căn cứ vào các qui định của pháp luật, KSV thực hiệnnhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình xét xử vụ án, nhằmbảo đảm xét xử của TAND được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảođảm cho tất cả các chủ thể trong các quan hệ pháp luật phát sinh trong quátrình xét xử đều thực hiện được đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theoqui định của pháp luật và đều bình đẳng trước pháp luật
Mặt khác, hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự còn đảm bảomọi trường hợp oan sai đều phải được giải quyết kịp thời, có những biện phápkhắc phục nhanh chóng những thiệt hại có thể xảy ra đúng theo Nghị quyết số388/NQ/ Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá X ngày 17 tháng 3 năm 2003 quiđịnh về "bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền tronghoạt động tố tụng hình sự gây ra"
Ba là: Về nội dung hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự gồm:
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc chuẩn bị xét xử Chuẩn bị xét xử
là việc chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đưa một vụ án ra xét xử theođúng qui định của pháp luật, thực hiện tốt việc chuẩn bị xét xử sẽ nâng caochất lượng xét xử vụ án, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử các cơ quan tiếnhành tố tụng (Toà án nhân dân, VKSND) và những người tiến hành tố tụng
Trang 18(thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký, KSV, phải tiến hành các hoạt độngnhất định, tuỳ theo chức năng tố tụng của mình theo pháp luật qui định.
Đối với thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà, trong giai
đoạn này phải tiến hành các hoạt động như: nghiên cứu hồ sơ vụ án, giảiquyết việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn, các yêu cầu,khiếu nại của những người tham gia tố tụng, đình chỉ, tạm đình chỉ vụ ánnếu có các căn cứ theo luật định và tiến hành các công việc cần thiết khác choviệc mở phiên toà
Đối với KSV khi được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sátxét xử vụ án hình sự thì việc kiểm sát các hoạt động chuẩn bị xét xử của Toà
án là một trong những nhiệm vụ quan trọng Hoạt động này được bắt đầu từkhi Toà án nhận được hồ sơ vụ án và kết thúc khi vụ án được đưa ra xét xử tạiphiên toà Căn cứ vào Qui chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sátxét xử các vụ án hình sự, ban hành kèm theo Quyết định số 960 ngày 17 tháng
9 năm 2007 của VKSND tối cao, thì trong giai đoạn này KSV phải kiểm sátviệc tuân theo pháp luật các việc sau: Đó là về kiểm sát thẩm quyền xét xử,việc chuyển vụ án, về thời gian chuẩn bị xét xử, việc ra quyết định đưa vụ án
ra xét xử, quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, việc giao các quyếtđịnh này cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa chậmnhất là mười ngày trước khi mở phiên toà theo Điều 182 BLTTHS
Khi thực hiện những công việc trên, KSV có quyền yêu cầu Toà án khắcphục vi phạm hoặc báo cáo Viện trưởng VKSND cùng cấp đề xuất việc kiếnnghị Toà án khắc phục những vi phạm trong khi chuẩn bị xét xử, hoặc đề xuấtkháng nghị các quyết định của Toà án cấp sơ thẩm khi có vi phạm nghiêmtrọng BLTTHS
Thông thường ngay từ khi kiểm sát việc khởi tố vụ án, KSV đã phải xácđịnh ngay thẩm quyền tiến hành tố tụng của VKSND và tương ứng là thẩmquyền của cơ quan điều tra và Toà án nhân dân Sau khi kết thúc giai đoạntruy tố, VKS chuyển hồ sơ sang Toà án có thẩm quyền theo qui định Tuynhiên nhiều khi việc xác định chính xác thẩm quyền tố tụng nói chung và
Trang 19thẩm quyền xét xử nói riêng cũng rất phức tạp, nhiều trường hợp không xácđịnh được ngay bởi có thể còn có các quan điểm khác nhau xung quanh việcToà án nào là cơ quan có thẩm quyền xét xử vụ án Do vậy, trong thực tiễncòn có những trường hợp xảy ra việc khi nhận hồ sơ, thụ lý vụ án mà khôngthuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp mình mà phải chuyển hồ sơ choTAND khác giải quyết theo thẩm quyền.Trong trường hợp này theo qui địnhtại Điều 174 BLTTHS trong thời hạn hai ngày kể từ ngày Toà án ra quyếtđịnh chuyển vụ án, Toà án có trách nhiệm thông báo cho VKSND cùng cấpbiết Khi nhận được thông báo về việc chuyển vụ án, KSV phải kiểm tra lại
hồ sơ vụ án, kiểm tra lại các căn cứ xác định thẩm quyền việc chuyển vụ ántheo thẩm quyền xét xử có đúng pháp luật qui định hay không, đồng thờikiểm sát việc quyết định chuyển vụ án đã được gửi tới bị can, bị cáo và nhữngngười có liên quan
Trong giai đoạn kiểm sát thời hạn chuẩn bị xét xử đây là khoảng thờigian luật định để TAND tiến hành các hoạt động chuẩn bị cần thiết cho việcxét xử, thời hạn chuẩn bị xét xử cũng là thời hạn để thẩm phán được phâncông chủ toạ phiên toà ra một trong các quyết định cần thiết để đưa một vụ án
ra xét xử Tuỳ theo tính chất của tội phạm là ít nghiêm trọng, nghiêm trọng,rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn ra một trong các quyếtđịnh như: đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án, trả hồ sơ để điều tra bổ sunghoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng khác nhau Vì vậy KSV, kiểm sátthời hạn chuẩn bị xét xử phải xác định chính xác thời điểm bắt đầu chuẩn bịxét xử, nhất là đối với những trường hợp bị can tại ngoại, phải kiểm sát việctống đạt cáo trạng cho bị can và việc chuyển hồ sơ sang Toà án Điều 176BLTTHS quy định trong vòng 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án
ra xét xử Toà án phải mở phiên toà, trong trường hợp có lý do chính đáng thìToà án có thể mở phiên toà trong thời hạn 30 ngày Khi kiểm sát thời hạnchuẩn bị xét xử của Toà án KSV không chỉ có trách nhiệm kiểm tra xem thờigian ra các quyết định có đúng theo qui định tại Điều 176 BLTTHS haykhông mà còn phải đôn đốc thẩm phán, chủ toạ phiên toà tuân thủ thời hạn
Trang 20chuẩn bị xét xử để hoạt động được tiến hành nhanh chóng, đúng thời hạnluật định
Về thẩm quyền trong kiểm sát việc chuẩn bị xét xử, VKSND có quyềnyêu cầu TAND cùng cấp chuyển hồ sơ những vụ án sẽ xét xử theo thủ tục sơthẩm để tiến hành kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự, quyền yêu cầu Toà ánxét xử sơ thẩm đưa vụ án hình sự ra xét xử đúng thời hạn pháp luật qui định.Theo Điều 16 Luật Tổ chức VKS (năm 2002) VKSND, kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạmpháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, ápdụng những biện pháp do bộ luật này qui định để loại trừ vi phạm pháp luậtcủa những cơ quan hoặc cá nhân này, đồng thời nhằm bảo đảm mọi hành viphạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xửđúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, không lọt tội phạm
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử trong giai đoạn
này, KSV ngoài việc thực hiện các hoạt động kiểm sát, còn thực hành quyềncông tố tại phiên toà, buộc tội bị cáo, bảo vệ cáo trạng, đấu tranh cho quanđiểm pháp chế thống nhất tại phiên toà Theo qui định tại Điều 16 Luật Tổchức VKSND (năm 2002) và các Điều 206, 207, 208, 217, 221 BLTTHS, tạiphiên toà xét xử vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm, sau phần thủ tục phiêntoà, KSV đọc cáo trạng, trình bày những ý kiến bổ sung cáo trạng của VKSnếu có, trình bày quan điểm của VKS về việc đánh giá tính chất, mức độ nguyhiểm hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Toà án xét xử vụ án đúng qui địnhcủa pháp luật Trình tự xét hỏi được thực hiện theo Điều 207 BLTTHS saukhi Hội đồng xét hỏi, KSV tiến hành thẩm vấn, xét hỏi bị cáo, người bị hại,những người có liên quan đến vụ án, khi kết thúc phần thẩm vấn, KSV trìnhbày bản luận tội và tiến hành tranh luận tại phiên toà, kết luận của KSV có thể
đề nghị TAND kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng,hoặc kết luận về một tội danh khác nhẹ hơn Trường hợp qua xét xử công khaitại phiên toà nếu xét thấy không có căn cứ để chứng minh hành vi phạm tộicủa bị cáo thì KSV rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị HĐXX căn cứ
Trang 21khoản 2 Điều 107 BLTTHS, tuyên bố hành vi không cấu thành tội phạm,KSV phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những quyết định của mình và
có quyền thực hiện những biện pháp theo pháp luật qui định để thực hiệnchức năng kiểm sát hoạt động xét xử tại phiên toà sơ thẩm
Trong trường hợp phát hiện có vi phạm thì KSV có quyền kiến nghị vớiTAND cùng cấp khắc phục, đồng thời qua kiểm sát các hoạt động trên KSVkiến nghị với các cơ quan hữu quan, tổ chức, khắc phục những vi phạm và ápdụng những biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật Điều 18Luật Tổ chức VKSND (năm 2002) qui định, trong quá trình thực hiện kiểmsát xét xử sơ thẩm án hình sự phát hiện HĐXX có những vi phạm pháp luậtthì KSV yêu cầu HĐXX khắc phục và sửa chữa kịp thời, cũng trong hoạtđộng kiểm sát xét xử, nếu phát hiện các cơ quan, tổ chức xã hội thiếu sóttrong việc quản lý, làm phát sinh vi phạm và tội phạm, thì VKS thực hiệnquyền kiến nghị với các cơ quan, các tổ chức xã hội, có những biện pháp khắcphục sửa chữa những thiếu sót, trong việc quản lý chỉ đạo điều hành để loại
bỏ nguyên nhân, điều kiện phạm tội và vi phạm pháp luật
Như phần mở đầu đã phân tích, trong giai đoạn KSXX án hình sự, KSVđồng thời thực hiện cả hai chức năng thực hành quyền công tố và KSXX.Trên thực tế đây là hai nhiệm vụ thống nhất và quan hệ chặt chẽ với nhau,thực hành quyền công tố tốt sẽ giúp cho KSV kiểm sát xét xử tốt vụ án vàngược lại
Bốn là: Trong hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự, VKSND có
quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án và quyết định củaTAND chưa có hiệu lực pháp luật, khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêmtrọng BLHS, BLTTHS
Căn cứ Điều 19 Luật Tổ chức VKSND (năm 2002) và các Điều 232,Điều 233, 234, 239 BLTTHS, sau khi kết thúc việc xét xử công khai thìTAND ra một bản án, quyết định Trong trường hợp bản án, quyết định củaToà án đã tuyên có vi phạm và vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng phápluật về định tội danh, lượng hình phạt, hoặc HĐXX khi tiến hành tố tụng vi
Trang 22phạm pháp luật thì VKSND cùng cấp ra quyết định kháng nghị phúc thẩmtrong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm và kháng nghị trong thờihạn 7 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định đối với vụ án Những bản án,quyết định của Toà án có vi phạm nhưng không nghiêm trọng, hậu quả xảy rakhông đáng kể, có thể khắc phục được thì VKSND kiến nghị yêu cầu TANDkhắc phục sửa chữa Trong hoạt động xét xử án hình sự, VKSND thực hiện cácquyền hạn và nhiệm vụ nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời những vi phạm, tộiphạm, phát hiện những nguyên nhân và điều kiện phạm tội Trong quá trình thựchiện hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự, KSV phải chú trọng thực hiện đầy đủcác nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định nhằm bảo đảm tính thống nhất củapháp chế XHCN trong hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự, đặc biệt là cấphuyện hiện nay đã được tăng thẩm quyền theo Điều 170 BLTTHS.
1.1.2.2 Đặc điểm riêng của hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình
sự đối với bị cáo là người dân tộc thiểu số
Cộng đồng dân tộc Việt Nam gồm 54 dân tộc anh em được hình thànhtrong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước Dựa trên quan điểm của chủnghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta luôn coitrọng vấn đề dân tộc và đề ra đường lối chính sách dân tộc đúng đắn tạo sứcmạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng đất nước Việt NamXHCN Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: "vấn đề dân tộc vàđoàn kết các dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng ViệtNam" [7]
Quan điểm và định hướng dân tộc của Đảng đã được thể chế hoá trongHiến pháp và pháp luật Điều 5 Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam xác định: "Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nướcthống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam, Nhà nướcthực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêmcấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Các dân tộc có quyền dùng tiếng nóichữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục tập quán truyềnthống văn hoá tốt đẹp của mình" Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về
Trang 23mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bàoDTTS Trong BLTTHS qui định "Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụnghình sự là tiếng Việt" [19] Điều này có nghĩa là người tham gia tố tụng cóquyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình Tại Điều 10 Luật Trợ giúppháp lý qui định: "người được trợ giúp pháp lý, là người DTTS thường trú ởvùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn" Mặc dù quyền bìnhđẳng giữa các dân tộc và chính sách tương trợ giúp đỡ đồng bào DTTS đượcĐảng, Nhà nước chỉ đạo thực hiện kiên quyết song thực tế đến nay cuộc sống
và sinh hoạt của đồng bào DTTS còn chịu sự chi phối mạnh mẽ của rất nhiềuyếu tố khác nhau, bởi đa phần họ cư trú ở vùng rừng núi, vùng sâu, vùng xa,vùng đặc biệt khó khăn, địa hình phức tạp với nhiều nhóm địa phương, xatrung tâm văn hoá, phương tiện đi lại khó khăn, vẫn còn có những dân tộcsống du canh, du cư, trình độ văn hoá thấp thậm chí còn không biết chữ, cácphương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh, truyền hình, báo chí,phim ảnh, văn hoá văn nghệ nhìn chung ít được tiếp cận, công tác tuyêntruyền giáo dục pháp luật của các cơ quan chức năng không được thườngxuyên, chất lượng hạn chế Trong đời sống và sinh hoạt của đồng bào dân tộcluật tục vừa là một hiện tượng văn hoá phản ánh bản sắc văn hoá của dân tộcđồng thời vừa là qui tắc ứng xử phổ biến truyền thống trong quan hệ conngười với con người, con người với cộng đồng, thêm vào đó tín ngưỡng, tôngiáo cũng tác động rất mạnh mẽ đối với đời sống của họ Không ít nhữnghành vi được xử theo luật tục, tín ngưỡng, trái với yêu cầu của pháp luật Vì lẽ
đó, bên cạnh việc thực hiện chính sách ưu tiên, ưu đãi, nhằm phát triển nângcao đời sống kinh tế, văn hoá của đồng bào dân tộc, đặc biệt là đồng bào vùngsâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải quantâm công tác giáo dục vận động đồng bào, giúp đỡ các DTTS ở vùng sâu,vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn từ bỏ những tập tục lạc hậu, xây dựng đờisống văn hoá mới phù hợp với đạo đức truyền thống, pháp luật, đồng thờituyên truyền giáo dục pháp luật để mọi người dân hiểu và tự giác thực hiệnbảo đảm pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất
Trang 24Tuy nhiên, cùng với quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thịtrường, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật trong đồng bào DTTS còn xảy
ra nhiều, nhất là ở các vùng Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.Những đối tượng tội phạm là người DTTS có những đặc điểm riêng như sau:
- Do trình độ văn hoá thấp, nhận thức rất hạn chế, hạn chếtrong quan hệ xã hội, trong giao tiếp, bản chất thật thà
- Cuộc sống không ổn định, đa phần đời sống khó khăn vàchịu ảnh hưởng nặng nề của các luật tục, tập quán lạc hậu
- Không hiểu biết pháp luật nói chung, nhất là không biết rõđược hành vi phạm tội là hành vi mà pháp luật hình sự nghiêm cấm
- Không biết khi phạm tội họ được bảo đảm các quyền vànghĩa vụ theo Hiến pháp và pháp luật qui định như quyền yêu cầu luật
sư bào chữa, quyền dùng tiếng nói, chữ viết, quyền được trợ giúppháp lý
Với những đặc điểm trên, việc giải quyết các vụ án hình sự mà đối tượngphạm tội là DTTS trong hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự có những đặcđiểm riêng như sau:
- Những đặc điểm trong nghiên cứu, kiểm tra hồ sơ vụ án:
Để tham gia phiên toà có kết quả, trước hết người KSV, phải kiểm tra,nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách toàn diện, từ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án đến việc áp dụng các thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, đến quyếtđịnh truy tố, nắm vững các tài liệu của vụ án là yêu cầu thường xuyên đối vớingười KSV Trong mọi trường hợp, đặc biệt là đối tượng phạm tội là ngườiDTTS, KSV phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, các tài liệu trong vụ án, các thủ tục tốtụng, các quyền và nghĩa vụ mà các bị cáo được đảm bảo thực hiện như, thủtục mời luật sư, việc tống đạt hợp lệ các quyết định của cơ quan điều tra, cơquan truy tố, cơ quan xét xử, các chứng cứ, các lời khai, đảm bảo thu thậptheo trình tự tố tụng, KSV luôn tính đến những khả năng việc điều tra công
Trang 25khai tại phiên toà không được thuận lợi, dễ dàng, thậm chí tính đến nhữngtình tiết mới phát sinh trong khi đang tiến hành xét xử làm thay đổi một phầnhoặc toàn bộ bản chất của vụ án hình sự.
KSV phải kiểm tra sự có mặt của những người tham gia tố tụng, kiểmtra xem việc mở phiên toà xét xử có đúng qui định của pháp luật hay không,trên cơ sở đó phát biểu về việc vụ án có được đưa ra xét xử hay không khivắng mặt của bị cáo, người bị hại, người làm chứng hoặc những người thamgia tố tụng khác như người giám định, đặc biệt là người phiên dịch do bị cáo
là người DTTS, không hiểu biết tiếng Việt, hoặc có biết chút ít nhưng khôngthông thạo, nếu vắng người phiên dịch thì phải hoãn phiên toà Người phiêndịch là người do cơ quan Điều tra, VKS hoặc Toà án yêu cầu trong trườnghợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng việt, người phiêndịch phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan Điều tra, VKS, Toà án vàphải dịch trung thực, không được tiết lộ bí mật điều tra, nếu dịch gian dối thìngười phiên dịch phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 307 BLHS Ý kiếncủa KSV được nêu lên trong việc kiểm sát hoạt động xét xử là bảo đảm đúngpháp luật do đó đòi hỏi người KSV phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án một cáchđầy đủ, toàn diện và khách quan, việc nghiên cứu kỹ tất cả các lời khai của bịcáo, người bị hại, người làm chứng, người phiên dịch trong hồ sơ vụ án, kếtluận của giám định viên , cho phép KSV chủ động đánh giá chứng cứ vụ án.Trong thực tiễn trường hợp quá tin vào lời khai nhận tội của bị cáo thông quaphiên dịch viên tại cơ quan điều tra, không chú ý nghiên cứu một cách toàndiện trên cơ sở các tài liệu khác nên không phát hiện ra các mâu thuẫn trong
hồ sơ, dẫn đến việc đánh giá vụ án bị sai lệch Một hồ sơ vụ án gồm nhiều tàiliệu, được thu thập theo một trình tự tố tụng nhất định, trong đó có những tàiliệu mâu thuẫn với nhau như các lời khai của người làm chứng mâu thuẫn vớicác lời khai của bị cáo hoặc lời khai của bị cáo mâu thuẫn với các tài liệukhác như biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi Vì vậy khinghiên cứu các tài liệu này, KSV phải đối chiếu, so sánh, chắt lọc các nộidung hợp lý để phân tích, đánh giá một cách tổng hợp về các tình tiết của vụ án,
Trang 26do vậy đòi hỏi người KSV không những nghiên cứu hồ sơ một cách toàn diện
mà còn biết phân tích, so sánh, tổng hợp để xác định những tình tiết có thực của
vụ án, để loại trừ các tình tiết không có thực trong vụ án để xem xét Do đốitượng bị cáo phạm tội là người DTTS, khi nghiên cứu hồ sơ cần tập trung sâuvào những vấn đề như xem xét các chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, xem xét
có hành vi phạm tội xảy ra hay không, hậu quả của hành vi phạm tội đó đến mức
độ nào, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, động cơ, mục đíchphạm tội, nhân thân, hoàn cảnh điều kiện phạm tội Đặc biệt chú ý đối với bị cáo
là người DTTS chưa thành niên phạm tội thì cần kiểm tra giấy khai sinh và cácgiấy tờ khác liên quan để xác định tuổi của bị cáo khi phạm tội theo qui định củaBLTTHS Thông qua việc kiểm tra hồ sơ vụ án để xem xét việc chấp hành cácthủ tục tố tụng hình sự từ giai đoạn khởi tố vụ án, khởi tố bị can, đến việc ápdụng các biện pháp ngăn chặn, thu giữ tang vật nhằm bổ sung đầy đủ trước khi
mở phiên toà, đồng thời yêu cầu Toà án đưa vụ án ra xét xử bảo đảm đúng thờihạn luật định Đặc biệt là những trường hợp phải có người bào chữa, người giám
hộ, người phiên dịch, cần bảo đảm được triệu tập đến phiên toà để việc tiến hànhxét xử công khai vụ án, dân chủ và khách quan
- Đặc điểm trong việc chuẩn bị đề cương tham gia xét hỏi và chuẩn bị
bản luận tội đối với vụ án
Việc tham gia xét hỏi của KSV tại phiên toà vừa là quyền, vừa là trách
nhiệm, do vậy trước khi tham gia phiên toà, KSV cần dự thảo đề cương thamgia xét hỏi sao cho đơn giản, mạch lạc, dễ hiểu phù hợp với trình độ nhậnthức hạn chế của bị cáo là người DTTS, nhất là trong trường hợp bị cáokhông biết tiếng Việt hoặc chỉ biết vài tiếng đơn thuần mà vẫn đạt được mụcđích của luận tội Trong trường hợp bị cáo được xác định là không biết tiếngViệt và không biết chữ, KSV cần chú ý thái độ, tâm lý của bị cáo, khả năngkhai báo, sự thay đổi lời khai, cách khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiêntoà đồng thời dự báo trước những vấn đề luật sư sẽ hỏi Đối với những vụ ánnghiêm trọng phức tạp KSV phải gặp bị cáo, nhân chứng, người phiên dịch đểtìm hiểu tâm lý, thái độ khai báo trước toà Trong thực tế khi nhận được quyết
Trang 27định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo thường có những diễn biến tâm lý, tư tưởngnhiều khi có sự thay đổi đột biến tạo lời khai tại phiên toà không được thốngnhất Nếu KSV không nắm bắt kịp thời thì dễ dẫn đến sự bị động, lúng túngtrong quá trình xét xử công khai tại toà
Do bị cáo là người DTTS, bản luận tội phải đảm bảo từ ngữ pháp lý dễhiểu, cụ thể, rõ ràng Phân tích rõ nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị cáo,yếu tố xã hội, hoàn cảnh gia đình, nhận thức xã hội và nhận thức pháp luật, từ
đó phân tích các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vận dụngchính sách, đường lối xử lý của Đảng và Nhà nước trong việc áp dụng phápluật, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo, việc đề nghị áp dụng hình phạtchính, hình phạt bổ sung, bồi thường thiệt hại và các biện pháp tư pháp khác
Đề nghị của KSV phải bảo đảm chính xác theo các điều, khoản, điểm củaBLHS, BLTTHS và các văn bản Thông tư hướng dẫn của ngành, liên ngànhCông an - Toà án - Kiểm sát và các nghị quyết của Hội đồng thẩm phánTANDTC hướng dẫn thi hành BLHS, BLTTHS
- Đặc điểm trong hoạt động kiểm sát tại phiên toà
Theo qui định Luật Tổ chức VKSND và BLTTHS, khi thực hiện hoạt
động kiểm sát xét xử tại phiên toà, KSV có nhiệm vụ và quyền hạn "kiểm sátviệc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của HĐXX, kiểm sát việctuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng tại phiên toà" Phiên toà
sơ thẩm là phiên toà đầu tiên đưa một vụ án ra xét xử công khai, trên cơ sở đóHĐXX ra một bản án đối với bị cáo Do vậy KSV được phân công thực hànhquyền công tố, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự phải kiểm sát việc chấp hànhcác thủ tục tố tụng tại phiên toà như: bảo đảm việc xét xử trực tiếp, bằng lờinói và liên tục theo đúng qui định tại Điều 184 BLTTHS, do bị cáo là ngườiDTTS, KSV phải chú ý kiểm sát chặt chẽ lời khai của bị cáo thông qua ngườiphiên dịch hoặc người bào chữa cho bị cáo, nhằm bảo đảm việc xét xử chínhxác, khách quan để HĐXX ra những bản án, quyết định trên cơ sở nhữngchứng cứ đã được điều tra, tranh luận công khai tại phiên toà, HĐXX phải xác
Trang 28định các tình tiết của vụ án, kiểm tra xem xét đầy đủ các chứng cứ kể cảchứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án cũng như chứng cứ, tài liệu mới được đưa
ra tại phiên toà Đối với những chứng cứ chưa được đưa ra xem xét tại phiêntoà thì không được làm căn cứ để ra bản án Việc xét xử của HĐXX phải bằngcách hỏi và nghe ý kiến của những người tham gia tố tụng như: lời khai của bịcáo tại phiên toà, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch,nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến
vụ án…, nếu trong trường hợp người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên toàthì HĐXX chỉ được tiến hành xét xử trong những trường hợp pháp luật chophép và sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc chứng minh xác định
sự thật khách quan của vụ án, và không trở ngại cho việc xét xử Việc xét xửphải được tiến hành liên tục từ khi bắt đầu phiên toà đến khi tuyên án, trừ thờigian nghỉ để hội ý hoặc lý do khách quan khác, khi chưa kết thúc phiên toà thìthẩm phán, Hồi đồng xét xử không được tiến hành tố tụng đối với những vụ
án khác Tại phiên toà, KSV phải kiểm sát chặt chẽ sự có mặt, vắng mặt củanhững người tham gia tố tụng như bị cáo, người bào chữa, người bị hại,nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến
vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng, người giámđịnh, người phiên dịch theo đúng qui định tại các Điều 187, 190, 191, 192,
193 BLTTHS
KSV phải kiểm sát việc tuân theo pháp luật của HĐXX về thủ tục bắtđầu phiên toà như đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, thư ký báo cáo kết quảtriệu tập những người tham gia tố tụng đến phiên toà, ai có mặt, vắng mặt lý
do, kiểm tra căn cước lý lịch đối với những người tham gia tố tụng, giải thíchquyền và nghĩa vụ của họ tại phiên toà Bởi bị cáo là người DTTS, KSV phảichú ý việc kiểm tra kỹ căn cước đối với họ và nghe các ý kiến yêu cầu, đề đạtcủa họ trong phần thủ tục để yêu cầu HĐXX thực hiện thủ tục bắt đầu phiêntoà theo qui định tại Điều 201 BLTTHS
Trường hợp tại phiên toà, những người tham gia tố tụng như bị cáo, bịhại luật sư bào chữa, yêu cầu thay đổi thẩm phán, hội thẩm, thư ký phiên toà,
Trang 29người giám định, người phiên dịch, thì KSV phải căn cứ vào những qui địnhtại các Điều 42, 43, 46 BLTTHS để xem xét và đề nghị HĐXX quyết định.KSV cần đề nghị hoãn phiên toà trong các trường hợp
Một là: Bị cáo vắng mặt tại phiên toà Do bị cáo là người DTTS có một
số trường hợp bị cáo được tại ngoại nhưng có lý do chính đáng như, ốm cóxác nhận của cơ sở y tế, hoặc không nhận được giấy triệu tập của Tòa án hoặc
có nhận được song do thiên tai lũ quét, lở đường, giao thông bị ách tắc, đường
xá đi lại khó khăn trở ngại không thể đến phiên toà được
Hai là: Sự vắng mặt của một trong số những người tham gia tố tụng Sự
vắng mặt những người này sẽ không bảo đảm khách quan và gây trở ngại choviệc xét xử vụ án như người bào chữa, người phiên dịch Đây là điều hết sứcquan trọng do bị cáo là người DTTS trình độ văn hóa thấp, tiếng Việt khôngthông thạo thậm trí không biết tiếng Việt nên không tự bào chữa cho chính mìnhđược, để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của bị cáo thì cần phải hoãn phiên tòa
Ba là: Sự vắng mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc đại diện hợp pháp của
họ vắng mặt tại phiên toà và sự vắng mặt đó gây trở ngại cho việc xét xử như
về các chứng cứ, lời khai có mâu thuẫn, về phần bồi thường dân sự do bị hạiyêu cầu quá cao mà không thoả thuận được trong quá trình giải quyết vụ án,hoặc yêu cầu các khoản bồi thường trái với qui định của pháp luật Ngườigiám định vắng mặt tại phiên toà, mà kết luận giám định về các tình tiết có ýnghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ án, nhưng chưa rõ ràng hoặc mâuthuẫn với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà không thể khắc phụcđược như vụ án cố ý gây thương tích, hoặc vụ án hiếp dâm, vụ án giao thông
Bốn là: Thành phần HĐXX không đúng với qui định tại Điều 185
BLTTHS, hoặc việc giao quyết định đưa vụ án ra xét xử không đúng qui địnhtại Điều 182 BLTTHS (quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được giao cho bịcáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa chậm nhất là 10 ngàytrước khi mở phiên toà) thì cần phải hoãn phiên toà Trường hợp xét xử vắngmặt bị cáo, thì quyết định đưa vụ án ra xét xử và bản cáo trạng phải giao cho
Trang 30người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của họ và quyết định đưa vụ án
ra xét xử còn phải được niêm yết tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn,nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo, nếu vì một lý do nào đó màToà án không thực hiện đúng việc giao quyết định đưa vụ án ra xét xử thìKSV đề nghị HĐXX hoãn phiên toà Trường hợp tại phiên toà KSV đề nghịhoãn phiên toà mà không được chấp nhận, HĐXX vẫn tiếp tục đưa vụ án raxét xử thì KSV vẫn tiếp tục tham gia phiên toà, nhưng sau khi kết thúc phiêntoà phải báo cáo ngay lãnh đạo viện cùng cấp để xem xét quyết định khángnghị theo thủ tục phúc thẩm KSV phải kiểm sát chặt chẽ thủ tục thay đổithành viên HĐXX, trong trường hợp vụ án đang trong quá trình xét xử màphải thay đổi thành viên HĐXX thì Toà án chỉ được thay đổi thẩm phán hoặchội thẩm nhân dân, khi có thẩm phán và hội thẩm nhân dân dự khuyết đã cómặt từ đầu phiên toà xét xử, trường hợp không có thẩm phán và hội thẩm dựkhuyết thì vụ án được tiến hành xét xử lại từ đầu [19]
- Đặc điểm về kiểm sát thủ tục xét hỏi đối với bị cáo là người DTTS tại phiên toà
Do bị cáo là đối tượng người DTTS, trình độ văn hoá thấp, nhận thức
pháp luật còn hạn chế, không hiểu biết các quyền và nghĩa vụ của mình khitham gia tố tụng, hơn nữa còn chịu ảnh hưởng nặng nề những tập tục lạc hậunên trong kiểm sát hoạt động này KSV phải hết sức chú ý thực hiện theo quiđịnh tại các Điều 206, 207, 208, 209, 210… 218 của BLTTHS và các Điều 16
và 17 Luật Tổ chức VKSND (năm 2002), nhất là trong các việc sau:
+ Kiểm sát việc chấp hành qui định của BLTTHS về giới hạn xét xử củaHĐXX tại phiên toà sơ thẩm Điều 196 BLTTHS qui định "Toà án chỉ xét xửnhững bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS đã truy tố và Toà án đãquyết định đưa ra xét xử" Toà án chỉ có thể xét xử bị cáo theo khoản khác vớikhoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằnghoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố Bởi Toà án không có chức năng buộc tộinên Toà án chỉ xét xử những bị cáo với những hành vi theo tội danh mà VKS
Trang 31đã truy tố và Toà án quyết định ra xét xử Kiểm sát chặt chẽ giới hạn xét xửcủa Toà án nhằm đảm bảo cho bị cáo là người DTTS thực hiện đầy đủ quyềnbào chữa của mình, quyền tự mình bào chữa hoặc mời luật sư bào chữa Toà
án không được xét xử người mà VKS không truy tố, và cũng không được xét
xử hành vi mà VKS không truy tố, cũng không được xét xử bị cáo về tội danhnăng hơn tội danh mà VKS đã truy tố
+ Kiểm sát việc chấp hành thủ tục xét hỏi của HĐXX Sau khi KSV đọcbản cáo trạng HĐXX tiến hành thủ tục xét hỏi Chủ toạ phiên toà hỏi trước rồiđến hội thẩm nhân dân, sau đó đến KSV, người bào chữa cho bị cáo, ngườibảo vệ quyền lợi cho các đương sự Việc xét hỏi được tiến hành từng ngườimột, nếu vụ án có nhiều bị cáo thì việc xét hỏi được tiến hành riêng từng bịcáo, nếu lời khai của bị cáo này có ảnh hưởng đối với bị cáo khác thì HĐXXphải cách ly họ, bị cáo bị cách ly có quyền được thông báo lại nội dung khaibáo của bị cáo trước và có quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo khai trước đó,HĐXX phải đảm bảo quyền được hỏi của người bào chữa về những vấn đềliên quan đến việc bào chữa cho thân chủ của họ [19]
Xét hỏi là giai đoạn trung tâm của quá trình xét xử một vụ án hình sự nóichung, nhưng cũng là giai đoạn đặc biệt khó khăn đối với bị cáo là ngườiDTTS nói riêng, bởi phải thẩm tra tất cả các chứng cứ do cơ quan điều tra thuthập, các chứng cứ vụ án phải được kiểm tra, đánh giá với nhiều chủ thể thamgia một cách công khai, dân chủ khách quan theo một trình tự, thủ tục doBLTTHS qui định, xét hỏi tại phiên toà là thẩm tra toàn bộ lời khai tại cơquan điều tra của bị cáo, người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợinghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự Các lời khai đó khôngnhững được thẩm tra lại mà còn được đối chiếu giữa các lời khai với nhau,đối chiếu với vật chứng, tài liệu thu thập được với kết luận của giám địnhviên, trên cơ sở đó so sánh, lựa chọn, đánh giá một cách toàn diện kháchquan, dân chủ các chứng cứ nhằm tìm ra sự thật của vụ án Ngoài ra việc xéthỏi còn nhằm làm sáng tỏ các tình tiết khác mà trước đó cơ quan điều tra chưađược làm rõ như tội phạm mới hoặc đồng phạm của bị cáo được phát hiện
Trang 32thông qua xét hỏi tại phiên toà Thực tiễn xét xử án hình sự cho thấy, trườnghợp bị cáo là người DTTS, không biết tiếng phổ thông, hoặc chỉ biết vài từngữ thông thường nên trong quá trình tham gia tố tụng cần có người phiêndịch, việc lựa chọn người phiên dịch là do Hội đồng xem xét quyết định,nhiều trường hợp người phiên dịch đã không dịch được chính xác lời khai của
bị cáo nên gây không ít khó khăn cho quá trình xét hỏi tại phiên toà Do vậyKSV phải hết sức chú ý trường hợp phiên dịch không đáp ứng được yêu cầuthì đề nghị Hội đồng thay đổi người phiên dịch
Về trình tự xét hỏi, theo Điều 207 BLTTHS thì KSV chỉ tham gia xét hỏisau khi chủ toạ phiên toà và các hội thẩm đã hỏi xong Pháp luật qui địnhnhư vậy là xuất phát từ việc chứng minh vụ án, xác định sự thật khách quantại phiên toà là trách nhiệm chính của HĐXX, thông qua xét hỏi tại phiên toàHĐXX phải xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án để làm cơ sở cho việcquyết định về tội danh, hình phạt và các quyết định khác đối với vụ án Chủtoạ phiên toà có quyền quyết định thứ tự xét hỏi hợp lý đối với từng vụ án,từng bị cáo trong vụ án, tuy vậy vấn đề này không làm hạn chế tính chủ độngcủa các thành viên khác trong HĐXX và KSV trong việc thực hiện xét hỏi tạiphiên toà Do đó, tuỳ từng trường hợp cụ thể khi được phép của chủ toạ phiêntoà, KSV hoàn toàn có quyền hỏi bị cáo nào trước, bị cáo nào sau trong cùngmột vụ án theo chủ ý của mình mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ toạphiên toà Đối với trường hợp tại phiên toà bị cáo không nhận tội, lời khai củanhững người được triệu tập đến phiên toà mâu thuẫn với lời khai trong giaiđoạn điều tra thì KSV càng phải chủ động xét hỏi để bảo vệ cáo trạng màVKS đã truy tố [19] Do bị cáo là người DTTS, hiểu biết pháp luật rất hạn chếnên người KSV trong quá trình xét hỏi cần hỏi những tình tiết của vụ án liênquan đến việc buộc tội, gỡ tội của bị cáo theo luật định KSV chỉ được xét hỏisau khi HĐXX đã hỏi đối với từng bị cáo, do vậy trong khi HĐXX hỏi, KSVphải chú ý lắng nghe và ghi chép đầy đủ những câu hỏi, những nội dung xéthỏi của HĐXX, nội dung xét hỏi của người bào chữa, ý kiến của bị cáo hoặcthông qua lời người phiên dịch cho bị cáo để chủ động tham gia xét hỏi nhằm
Trang 33làm sáng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo Khi xét hỏi KSV phải đặt câu hỏi rõràng, rành mạch, ngắn gọn dễ hiểu trực tiếp liên quan đến việc làm sáng tỏcác tình tiết buộc tội hoặc gỡ tội, tránh việc giải thích dài dòng, trừu tượngkhó hiểu, dùng từ ngữ địa phương để giải thích, tránh việc gây căng thẳngtrong khi xét hỏi, nếu bị cáo im lặng không khai báo thì KSV phải giải thích
và động viên bị cáo thật thà khai báo và khai đúng như bị cáo đã thực hiệnhành vi phạm tội Tuy nhiên, không được ép buộc hoặc doạ dẫm và buộc bịcáo phải khai báo, hoặc dùng từ “không biết cũng phải nhận” gây oan sai chongười dân Những yêu cầu này đối với KSV là hết sức quan trọng cần đặc biệtchú ý, bởi bị cáo là người DTTS, trình độ văn hoá thấp, thậm chí còn mù chữ,không thông thạo tiếng Việt, không hiểu biết pháp luật, do vậy cần bảo đảmtiếng nói chữ viết của dân tộc mình trước phiên toà
Trường hợp bị cáo không khai báo tại phiên toà hoặc lời khai của bị cáotại phiên toà mâu thuẫn với lời khai tại cơ quan điều tra, thì KSV phải công
bố lời khai của họ tại cơ quan điều tra., để bị cáo nhớ lại và tự khẳng định lờikhai nào là chính xác, đồng thời KSV cũng cần hỏi rõ thêm lý do vì sao bị cáolại có sự khai báo bất nhất, có bị ép cung, bức cung, mớm cung hay không, từ
đó xem xét việc đánh giá lời khai nào của bị cáo phù hợp với sự thật kháchquan của vụ án, phù hợp với các chứng cứ, tình tiết, hành vi phạm tội của bịcáo để HĐXX làm căn cứ quyết định ra một bản án đúng đắn Trường hợp vụ
án có nhiều đồng phạm, phức tạp có nhiều bị cáo, KSV nên yêu cầu HĐXXthực hiện cách ly các bị cáo để việc khai báo của các bị cáo là khách quan,không ảnh hưởng đến lời khai của nhau tại phiên toà Đối với các bị cáo bịcách ly, khi bị cáo đó được dẫn giải vào phòng xử án, mà HĐXX chưa thôngbáo lại nội dung bị cáo trước đã khai báo thì KSV yêu cầu HĐXX thông báolại lời khai của các bị cáo trước đó đã khai báo tại phiên toà và cho phép bịcáo bị cách ly có quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo đã khai báo trước đó
Để làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo khi xét hỏi người làm chứng,người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụliên quan, khi hỏi KSV cũng cần phải đặt câu hỏi rõ ràng, cụ thể ngắn gọn dễ
Trang 34hiểu và cần tránh thái độ xét hỏi gây căng thẳng, ép họ trình bày, khai báo.Đối với người làm chứng nếu phát hiện thấy họ có những lời khai mâu thuẫnnhau thì KSV có thể thực hiện việc đối chất giữa họ ngay tại phiên toà, bởi vì
về mặt tâm lý, người làm chứng thường chịu nhiều áp lực của các mối quan
hệ nên dễ dẫn đến việc khai báo sai sự thật, thiếu khách quan cho bị cáo hoặccho rằng là người dân tộc khai báo thế nào thì họ thì phải chịu thế đó Do vậyKSV phải hết sức chú ý những mối quan hệ này khi đánh giá lời khai củangười làm chứng tại phiên toà, yêu cầu người làm chứng phải cam đoan khaitrung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án, nếu khai báo gian dốithì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 307 BLHS
+ Kết thúc việc xét hỏi tại phiên toà theo qui định tại Điều 217 BLTTHS,KSV thực hiện luận tội đối với bị cáo, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ haymột phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về một tội danh nhẹ hơn nếu thấykhông có căn cứ để kết tội thì KSV rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghịHĐXX tuyên bố bị cáo không phạm tội Trong lời luận tội, KSV phải căn cứvào những chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên toà mà đánh giá chính thứcxác định những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, những tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị HĐXX quyết định bị cáo có tội haykhông có tội và ấn định mức hình phạt đối với từng bị cáo cùng với tráchnhiệm bồi thường dân sự VKS là cơ quan buộc tội, nhưng có trách nhiệmxem xét vụ án một cách khách quan cả hai mặt buộc tội và gỡ tội, để gópphần xử lý vụ án một cách chính xác đúng người đúng tội
Do bị cáo là người DTTS để có sức thuyết phục cao bản luận tội củaKSV phải thể hiện đầy đủ những tài liệu đã được điều tra trong hồ sơ vụ án và
đã được kiểm tra, đánh giá tại phiên toà, đồng thời luận tội phải thể hiện sựđồng tình hay bác bỏ những tài liệu, chứng cứ, lập luận của bị cáo, người bịhại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quantrong giai đoạn thẩm vấn mà họ trình bày, xuất trình, đặc biệt là cần lập luận,thực hiện đầy đủ quan điểm về buộc tội, chứng cứ tài liệu chứng minh tộiphạm và hành vi phạm tội của bị cáo, phải đưa ra được quan điểm của KSV
Trang 35đối với những yêu cầu, luận điểm của luật sư, người bào chữa của bị cáo nêu
ra trong phần thẩm vấn, phải phân tích, đánh giá chứng cứ một cách khoa học,chặt chẽ, xác định rõ hành vi phạm tội của bị cáo, và áp dụng pháp luật để đềnghị một mức hình phạt theo đúng pháp luật qui định, đồng thời bảo đảm tính
có căn cứ, hợp pháp, có tính thuyết phục, giáo dục tuyên truyền pháp luật,kiên quyết đấu tranh đối với những quan điểm sai trái vi phạm pháp luật Khitrình bày lời luận tội, KSV phải thể hiện lời buộc tội rõ ràng, mạch lạc, diễnđạt chuẩn xác các thuật ngữ pháp lý và các thuật ngữ chuyên môn, liên quanđến hành vi phạm tội của bị cáo, lời nói đĩnh đạc, chắc chắn và thể hiện niềmtin nội tâm đối với vụ án Sau khi xét hỏi tại phiên toà, KSV có quyền rút mộtphần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về một tội danh nhẹ hơntheo Điều 195 BLTTHS nhưng HĐXX vẫn xét xử toàn bộ vụ án Trongtrường hợp HĐXX thấy có căn cứ xác định bị cáo không có tội thì tuyên bố bịcáo không phạm tội theo các căn cứ qui định tại Điều 107 BLTTHS
Kết thúc luận tội KSV thực hiện việc tranh luận với luật sư, người bàochữa và những người tham gia tố tụng khác Việc tranh luận của KSV tạiphiên toà cũng hướng vào nội dung buộc tội, bảo vệ tính có căn cứ và tínhhợp pháp của cáo trạng, hoặc cũng có thể làm rõ thêm các tình tiết khác của
vụ án liên quan đến việc rút một phần quyết định truy tố, liên quan đến việc
đề xuất mức hình phạt hoặc mức bồi thường thiệt hại Vì vậy, tranh luận tạiphiên toà là một phần rất quan trọng của phiên toà hình sự nhằm giúp choHĐXX đánh giá chứng cứ một cách khách quan để ra một bản án đúng đắn.Đây là yêu cầu rất quan trọng để bảo đảm dân chủ trong xét xử tạo ra nhữngtiến triển tốt để thực hiện quan điểm chỉ đạo cải cách tư pháp của Đảng, vớiquan điểm chuyển xét xử theo mô hình xét hỏi sang mô hình tranh tụng Đối với bị cáo là người DTTS, để việc tranh luận đạt chất lượng có tínhthuyết phục đòi hỏi KSV phải nắm vững và đánh giá chứng cứ vụ án mộtcách khách quan, tổng hợp tất cả các chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội,phải kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của các tài liệu, chứng cứ được thuthập trong quá trình điều tra, xét hỏi Đối với các tài liệu, chứng cứ, đồ vật,
Trang 36mới xuất trình tại phiên toà, KSV phải kiểm tra xem xét thận trọng để có kếtluận chấp nhận hay bác bỏ Việc chấp nhận hay bác bỏ những tài liệu, vậtchứng phải có các căn cứ, do đó KSV phải hỏi kỹ và kiểm tra kỹ về nguồngốc, nội dung tài liệu, đồ vật mới xuất trình để có một kết luận chính xác.Trường hợp chưa đủ điều kiện kết luận mà những tài liệu đồ vật mới đó có thểlàm thay đổi nội dung, tính chất vụ án thì KSV có quyền đề nghị HĐXX hoãnphiên toà để xem xét quyết định.
- Đặc điểm kiểm sát hoạt động xét xử sau khi kết thúc phiên toà sơ thẩm:
+ Kiểm tra biên bản phiên toà
Kiểm sát hoạt động giai đoạn xét xử vụ án hình sự nhằm mục đích bảo
đảm các hoạt động của Toà án sau phiên toà được thực hiện đúng pháp luật
Vì vậy sau phiên toà kết thúc KSV phải kiểm tra biên bản phiên toà, nếu pháthiện thấy biên bản phiên toà còn thiếu sót KSV có quyền yêu cầu ghi nhữngsửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên toà và ký xác nhận theo qui định tại Điều
200 BLTTHS Trên thực tế do diễn biến quá trình xét xử tương đối nhanh nênThư ký không ghi chép kịp những nội dung đã được xét hỏi công khai tạiphiên toà, ý kiến tranh luận của người bào chữa, của KSV, cũng có trườnghợp do ý thức chủ quan của Thư ký nên việc ghi chép, diễn biến tại phiên toà
có phần phiến diện, không đầy đủ, không đúng thực tế, dẫn đến làm thay đổinội dung vụ án, nội dung diễn biến phiên toà, do đó KSV phải theo dõi quátrình xét hỏi, tranh luận để sau phiên toà kiểm tra, đối chiếu với biên bảnphiên toà yêu cầu sửa đổi, bổ sung Do bị cáo là người DTTS, khi cần thiếtphải nghi âm toàn bộ diễn biến phiên toà, kết hợp với người phiên dịch kiểmtra lại và chỉnh sửa biên bản phiên toà cho chính xác
+ Kiểm tra bản án và quyết định của Toà án sơ thẩm
Do bị cáo là người DTTS nên khi nhận được bản án hoặc quyết định củaToà án, KSV phải kiểm tra bản án, quyết định nhằm phát hiện những sai sót
và vi phạm của Toà án trong việc ra bản án, quyết định Đây là một trong
Trang 37những nội dung quan trọng của công tác kiểm sát xét xử sau khi kết thúcphiên toà sơ thẩm, để đảm bảo cho bản án quyết định của Toà án có căn cứ,đúng pháp luật, KSV phải kiểm sát xem xét sự phù hợp, nhất quán giữa phầnnhận định, phần quyết định và những vấn đề khác trong nội dung bản án, như
về tội danh, khung hình phạt mà hội đồng đã tuyên, các tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phần trách nhiệm bồi thường dân sự, hình phạt
bổ sung, phần quyết định quyền kháng cáo, kháng nghị của những người thamgia tố tụng có phản ánh đúng quá trình xét xử hay không, đúng pháp luật haykhông hoặc về tính hợp pháp các quyết định của Toà án, qua kiểm sát pháthiện có vi phạm pháp luật thì kiến nghị với Toà án để sửa chữa, nếu phát hiện
vi phạm nghiêm trọng thì VKS kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
+ Kiểm tra việc giao bản án và quyết định của Toà án
Khi nhận được bản án hoặc quyết định của Toà án, KSV phải mở sổ theodõi ký nhận giữa KSV và cán bộ Toà án, nếu Toà án gửi qua đường bưu điệnthì KSV phải lưu dấu bưu điện trên phong bì để làm căn cứ theo dõi, kiếnnghị với Toà án đối với những trường hợp bản án, quyết định bị gửi chậm sovới quy định tại Điều 229 BLTTHS, Điều luật này qui định trong thời hạn 10ngày kể từ ngày tuyên án Toà án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, choVKS cùng cấp, người bào chữa, phải thông báo bằng văn bản cho chínhquyền xã, phường, thị trấn, cơ quan, tổ chức nơi bị cáo cư trú hoặc làm việc,nếu xử vắng mặt bị cáo thì trong 10 ngày sau khi xét xử, bản án phải đượcniêm yết tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi làmviệc cuối cùng của bị cáo Toà án phải cấp trích lục bản án hoặc bản sao bản
án nếu người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợinghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ yêu cầu.Khi phát hiện bản án quyết định của Toà án sơ thẩm có vi phạm pháp luậtnhư định tội danh, áp dụng hình phạt, quyết định mức bồi thường dân sự,thành phần Hội đồng không đúng, bị cáo là vị thành niên nhưng không cóngười bào chữa, hoặc bị cáo không thông thạo tiếng việt yêu cầu người phiên
Trang 38dịch nhưng không được Toà án chấp nhận mà vẫn tiến hành xét xử thì Việnkiểm sát phải kháng nghị theo trình tự phúc thẩm
+ VKS kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định mà bị cáo làngười DTTS có vi phạm nghiêm trọng BLTTHS, BLHS dựa trên một trongcác căn cứ sau:
Việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà phiến diện một chiều, chỉ nặng về mộtphía buộc tội hoặc gỡ tội, khi có những tình tiết mới tại phiên toà có ý nghĩa
cơ bản làm thay đổi tội danh mà chưa được làm sáng tỏ Có vụ án không tiếnhành giám định trong trường hợp pháp luật buộc phải tiến hành giám địnhnhư bị cáo khai tại phiên toà do bị bệnh tâm thần nhưng chưa được giám định,xác định độ tuổi của bị cáo, nhiều trường hợp họ không xác định được chínhxác ngày tháng năm sinh của mình và kể cả gia đình họ, do sinh sống ở vùngsâu, vùng xa, không có đăng ký khai sinh, không có đăng ký hộ khẩu thườngtrú, đặc biệt bị cáo là vị thành niên, người già phạm tội hoặc không thu thậpđầy đủ các vật chứng, chứng cứ quan trọng về hành vi phạm tội, xác định vềnhân thân của bị cáo
Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiếtkhách quan của vụ án, đó là trường hợp kết luận trong bản án không phù hợpnhững chứng cứ đã được xét hỏi tại phiên toà, các chứng cứ có mâu thuẫn liênquan đến sự quyết định đối với vụ án, hoặc những chứng cứ này làm ảnhhưởng đến việc xác định bị cáo phạm tội hay không phạm tội, áp dụng điềuluật, quyết định hình phạt đối với bị cáo
Có sự vi phạm nghiêm trọng BLTTHS trong khi điều tra hoặc xét xử
Do bị cáo là người DTTS có những trường hợp bị bức cung, nhục hình trongkhi điều tra, xét xử lấy lời khai, thu thập chứng cứ không khách quan dẫn đếnoan sai
Có những vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS, đó là nhữngtrường hợp kết án người không có hành vi phạm tội, không cấu thành tộiphạm, thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng, bỏ lọt hành vi phạm tội, bỏ lọtngười phạm tội, áp dụng không đúng khung, khoản, điểm của BLHS Quyết
Trang 39định kháng nghị phải được gửi cho Toà án đã xét xử sơ thẩm, Toà án cấp sơthẩm có trách nhiệm thông báo bằng văn bản việc kháng nghị cho nhữngngười tham gia tố tụng trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được khángnghị, KSV có trách nhiệm kiểm sát việc Toà án thông báo kháng nghị theođúng luật định.
1.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG, CÁC YÊU CẦU VÀ ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM CÁC YÊU CẦU TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ ĐỐI VỚI BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đối với hoạt động kiểm sát xét xử án hình sự đối với bị cáo là người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay
1.2.1.1 Những yếu tố khách quan
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhất là từ khi cóNghị quyết số 22 NQ- TW ngày 27-11-1989 của Bộ Chính trị “ về một số chủtrương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi” thì tình hình miềnnúi và các vùng đồng bào DTTS có sự chuyển biến quan trọng Quyền bìnhđẳng giữa các dân tộc cơ bản đã được Hiến pháp xác định và được thể hiệntrên mọi lĩnh vực đời sống xã hội Đoàn kết giữa các dân tộc tiếp tục đượccủng cố, nền kinh tế ở miền núi và vùng các dân tộc từng bước được hìnhthành và phát triển, đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân ở nhiều vùng đồngbào dân tộc được cải thiện rõ rệt, một phần xoá được đói, giảm được nghèomục tiêu phổ cập giáo dục và xoá nạn mù chữ đã được thực hiện, đời sốngvăn hoá tinh thần được nâng lên từng bước Tuy nhiên, nhìn chung đời sốngkinh tế - văn hoá - xã hội ở miền núi và các vùng đồng bào dân tộc còn kémphát triển, tình trạng du canh du cư, di cư tự do còn diễn biến phức tạp, kinh
tế nhiều vùng dân tộc và miền núi còn kém phát triển, vẫn mang nặng tính tựcấp, tự túc, các thế lực thù địch trong và ngoài nước luôn tìm cách lợi dụng sựkhó khăn về đời sống kinh tế, trình độ dân trí thấp của đồng bào dân tộc kíchđộng, lôi kéo vào các hoạt động, chia rẽ các dân tộc nhằm phá hoại khối đạiđoàn kết toàn dân, vi phạm pháp luật, gây mất trật tự an ninh chính trị và antoàn xã hội
Trang 40Hoạt động tội phạm đối với đối tượng là người DTTS trong thời gian qua
có những diễn biến hết sức phức tạp, nhiều tội phạm trước đây ít xảy ra thìnay lại có chiều hướng gia tăng đáng kể, với một số loại tội phạm có tính chấtnghiêm trọng như: giết người, cướp tài sản, cố ý gây thương tích, vi phạm quiđịnh về giao thông đường bộ, trộm cắp tài sản, tham nhũng, ma tuý
Theo đánh giá tình hình tội phạm đối với đối tượng phạm tội ngườiDTTS ở nước ta mấy năm gần đây có tỷ lệ tăng, năm sau tăng cao hơn nămtrước, tính quy luật này cho thấy, tình hình tội phạm trên đất nước ta còn diễnbiến phức tạp, điều này bắt nguồn từ các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Do điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội ở miền núi và các vùng dân tộccòn chậm phát triển, lúng túng trong việc sản xuất và phát triển kinh tế, tậpquán canh tác lạc hậu vẫn ăn sâu vào nhận thức của đồng bào các dân tộc tìnhtrạng du canh, du cư, di dân tự do còn diễn biến phức tạp, có nơi thiếu đất sảnxuất canh tác đời sống đồng bào các dân tộc còn gặp rất nhiều khó khăn, đặcbiệt là ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng ở nhiềuvùng dân tộc và miền núi nhân dân còn nghèo đói, hiện còn chiếm tỷ lệ cao sovới bình quân của cả nước, khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa cácvùng giữa các dân tộc ngày càng tăng, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đàotạo còn thấp, việc đào tạo nghề chưa được quan tâm, công tác chăm sóc sứckhoẻ cho đồng bào vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, công tác thôngtin đại chúng, truyền thông, tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng,pháp luật của Nhà nước chưa được quan tâm đúng mức Hệ thống chính trị ở
cơ sở nhiều vùng dân tộc và miền núi còn yếu kém, bất cập, đội ngũ cán bộ cótrình độ thấp các tổ chức Đảng, chính quyền, lãnh đạo, chỉ đạo không sát dân,không có hiệu quả, không tập hợp được đồng bào Cùng với một số nơi tôngiáo, tín ngưỡng phát triển không bình thường, trái pháp luật và tuyên truyềnphong tục, tập quán lạc hậu, cổ hủ trong nhân dân Có một số nơi đồng bào bịcác thế lực thù địch và kẻ xấu lợi dụng sự khó khăn về đời sống kinh tế, trình
độ dân trí thấp của đồng bào dân tộc để kích động lôi kéo vào các hoạt động