1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH CÀ MAU TỪ 1997 - 2007

111 3,3K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của Đảng bộ tỉnh Cà Mau từ 1997 - 2007
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 560 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCTrangMỞ ĐẦU1Chương 1: ĐẢNG BỘ TỈNH CÀ MAU TIẾN HÀNH XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XĂ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU TÁI LẬP ( 1997 – 2001 )71.1. T́nh h́nh kinh tế xă hội và đặc điểm đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xă ở tỉnh Cà Mau trước những yêu cầu đặt ra khi tái lập71.2. Chủ trương, biện pháp và quá tŕnh xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xă của Đảng bộ Cà Mau trong những năm đầu tái lập (1997 – 2001)25Chương 2: CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XĂ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH CÀ MAU NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI ( 2002 – 2007 )372.1. Yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xă ở Cà Mau trong t́nh h́nh mới372.2. Quá tŕnh lănh đạo, tổ chức, thực hiện, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xă của Đảng bộ Cà Mau ( 2002 - 2007)49Chương 3: THÀNH CÔNG VÀ KINH NGHIỆM XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XĂ Ở TỈNH CÀ MAU ( 1997 - 2007)663.1. Những thành công bước đầu trong công tác xây dựng đội ngũcán bộ chủ chốt cấp xă ở tỉnh Cà Mau663.2. Một số kinh nghiệm trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xă ở tỉnh Cà Mau (1997 - 2007)89KẾT LUẬN98DANH MỤC CÁC CÔNG TR̀NH CỦA TÁC GIẢ101DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO102PHỤ LỤC108

Trang 1

Hµ néi - 2009

Trang 2

Chương 1: ĐẢNG BỘ TỈNH CÀ MAU TIẾN HÀNH XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ

CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU TÁI

1.1 Tình hình kinh tế xã hội và đặc điểm đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở

tỉnh Cà Mau trước những yêu cầu đặt ra khi tái lập 71.2 Chủ trương, biện pháp và quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt

cấp xã của Đảng bộ Cà Mau trong những năm đầu tái lập (1997 – 2001) 25

Chương 2: CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ

CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH CÀ MAU NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tớnh cấp thiết của đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Cán bộ là cái gốc của mọi côngviệc; muụn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém Trong cáchmạng giải phóng dân tộc, do làm tốt công tác cán bộ, Đảng ta đã có đợc đội ngũcán bộ có đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực tổchức thực tiễn ngang tầm nhiệm vụ Đội ngũ cán bộ các cấp đã đa chủ trơng, đ-ờng lối của Đảng thâm nhập vào quần chúng, tổ chức, lãnh đạo quần chúng vợtqua mọi khó khăn, thử thách, chiến đấu anh dũng, làm nên thắng lợi lịch sử củacách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc

Mỹ xâm lợc, giành độc lập, tự do cho dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đa cả nớc đilên chủ nghĩa xã hội

Hơn hai mơi năm qua, đất nớc ta tiến hành công cuộc đổi mới, đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh Đảng ta chủ trơng phát triển nền kinh tế thị trờng định hớngxã hội chủ nghĩa, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; mở rộngdân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới hệ thống chính trị; xây dựng nền văn hoá ViệtNam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; củng cố quốc phòng và an ninh, mở rộngquan hệ đối ngoại, v.v…Để nâng cao sự lãnh đạo của Đảng lên ngang tầm vớinhiệm vụ chính trị, chủ động nắm thời cơ, vợt qua thách thức và nguy cơ, thựchiện thắng lợi mục tiêu chiến lợc và đờng lối của Đảng đề ra trong giai đoạn hiệnnay, công tác cán bộ của Đảng trở thành "khâu then chốt của vấn đề then chốt"

Nhận thức được việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đóng vaitrò hết sức quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nớc hiện nay, Hội nghị Banchấp hành Trung ơng năm khoá IX đã ra Nghị quyết :Về đổi mới và nâng caochất lợng hệ thống chính trị ở cơ sở Nghị quyết đã chỉ ra nhiệm vụ xây dựng đội

ngũ cán bộ ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay là: Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở

có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đờng lối của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nớc, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, khôngtham nhũng, không ức hiếp dân

Trang 4

Trong thụứi gian vừa qua, ở nước ta đội ngũ cỏn bộ ở cơ sở núi chung và độingũ cỏn bộ chủ chốt ở cơ sở núi riờng đó được Đảng, Nhà nước và cỏc cấp uỷđảng, chớnh quyền quan tõm xõy dựng và củng cố Từ đú chất lượng đội ngũ cỏn

bộ từng bước được nõng lờn Tuy nhiờn so với yờu cầu của sự nghiệp đổi mớiđất nước hiện nay đặt ra một đũi hỏi cấp bỏch là phải đổi mới, nõng cao chấtlượng đội ngũ cỏn bộ của Đảng, đặc biệt là đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó

Cà Mau là tỉnh mới đợc tái lập (năm 1997), có nhiều tiềm năng, nhng trớcmắt điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn Tuy vậy, với sự quan tâm củacác cấp uỷ đảng, đội ngũ chủ chốt của các xã trong tỉnh đã có bớc trởng thành

đáng kể, là nhân tố quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn

định chính trị, quốc phòng và an ninh ở địa phơng trong những năm qua Song,

so với yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay và thời gian tới, đội ngũ cán bộ này còn bấtcập về nhiều mặt: trình độ, năng lực tổ chức thực tiễn, phẩm chất đạo đức Vìvậy, việc nghiên cứu và đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộchủ chốt cấp xã trên địa bàn tỉnh Cà Mau hiện nay là vấn đề vừa cần thiết, cấpbách, vừa có ý nghĩa cơ bản lâu dài

Trước yờu cầu của cụng cuộc đổi mới toàn diện đất nước; thực hiện đồng

bộ cải cỏch hành chớnh nhà nước; xõy dựng nhà nước phỏp quyền xó hội chủnghĩa, nhà nước của dõn, do dõn, vỡ dõn, thỡ đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó ởtỉnh Cà Mau cũn nhiều hạn chế, bất cập như: trỡnh độ trớ tuệ, phẩm chất, đạo đức,năng lực trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao Để thực hiện thắnglợi mục tiờu, nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh đề ra, Đảng bộ tỉnh Cà Mau phải xõydựng hệ thống chớnh trị cỏc cấp, trong đú coự hệ thống chớnh trị ở cơ sở vữngmạnh Muốn đạt được mục tiờu đú, Đảng bộ tỉnh Cà Mau phải chỳ trọng giảiquyết đồng bộ nhiều vấn đề, trong đú phải xõy dựng được đội ngũ cỏn bộ chủ chốtcấp xó cú bản lĩnh và trỡnh độ trớ tuệ, cú phẩm chất đạo đức, cú năng lực tổ chứchoạt động thực tiễn

Từ thực tế đú, tụi chọn đề tài: "Cụng tỏc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ

chốt cấp xã của Đảng bộ tỉnh Cà Mau từ 1997 - 2007" làm luận văn thạc

Trang 5

sỹ Đây cũng là vấn đề cấp bách, là phù hợp với yêu cầu cải cách nền hànhchính nước ta hiện nay, phù hợp với thực tiễn của địa phương.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề cán bộ và cơng tác cán bộ, trong đĩ cơng tác xây dựng đội ngũ cán

bộ cơ sở là nội dung được các nhà lãnh đạo, các cấp ủy đảng và được nhiềunhà khoa học nghiên cứu ở những gĩc độ, phạm vi khác nhau Trong nhữngcơng trình, đề tài nghiên cứu đĩ, đã cĩ những đĩng gĩp nhất định trong việcvạch ra chủ trương và tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ chủ chốt của hệ thống chính trị ở cơ sở Cĩ thể tập hợp theo từng nhĩm đề tàisau:

- Nhóm đề tài về những yêu cầu đối với cán bộ cơ sở: Học viện Nguyễn

Aùi Quốc: “Mẫu hình và con đường hình thành người cán bộ lãnh đạo chính trị

chủ chốt cấp cơ sở”, 1992; Tiến sĩ Nguyễn Văn Tích (chủ biên): “Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở (xã, phương, thị trấn)”, Nhánh đề tài KT-XH 05-11-06, 1993; Trần Văn Phòng “Tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay”…

- N hóm đề tài về nội dung, phương pháp, cách thức xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở: Hồ Bá Thâm: “Nâng cao năng lực tư duy của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Triết học, 1994; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân Sầm chủ biên: “ Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Phạm Công Khâm: “ Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ, 1998; Phan Thị Ngọc Dung: “Đảng bộ SaĐéc (Đồng Tháp) chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở (1975 – 1996) Luận án Tiến sĩ, 2000; Trần Trung Trực: “ Xây dưng đội ngũ cán bộ chủ chốt hệ thống chính trị cấp xã ở huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ , 2000; Trần Dũng Khanh: “Đảng

Trang 6

boọ Thanh Hoaự laừnh ủaùo xaõy dửùng ủoọi nguừ caựn boọ chuỷ choỏt caỏp cụ sụỷ (1986 – 1999), Luaọn vaờn Thaùc sú, 2008; ẹoó Hoaứi Thanh : “ẹaỷng boọ caực tổnh taõy nam boọ laừnh ủaùo coõng taực ủaứo taùo, boài dửụừng caựn boọ chuỷ choỏt caỏp cụ sụỷ tửứ naờm 1997 ủeỏn 2005” Luaọn vaờn Thaùc sú , 2006; Nguyeón Thũ Vaõn Haống:

“ẹaỷng boọ Tổnh Laứo Cai laừnh ủaùo coõng taực ủaứo taùo, boài dửụừng caựn boọ chuỷ choỏt cuỷa heọ thoỏng chớnh trũ caỏp cụ sụỷ (1991 – 2005).

Nhỡn chung cỏc cụng trỡnh nờu trờn cú đề cập đến đội ngũ cỏn bộ cấp cơ sở,nhất là đội ngũ cỏn bộ chủ chốt Tuy nhiờn chưa cú cụng trỡnh nào nghiờn cứu về

đề tài: “Cụng tỏc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của Đảng bộ

tỉnh Cà Mau từ 1997 - 2007” một cỏch cú hệ thống, toàn diện tại Cà Mau chođến nay Từ đú đưa ra những bài học kinh nghiệm, giải phỏp cú tớnh khả thinhằm nõng cao chất lượng đội ngũ cỏn bộ chủ chốt xó ở tỉnh Cà Mau trong giaiđoạn mới Từ yeõu caàu ủoự, tỏc giả chọn nghiờn cứu vấn đề này trờn cơ sở kế thừa

cú chọn lọc cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu nờu trờn và căn cứ vào thực trạng đội ngũcỏn bộ chủ chốt cấp xó của tỉnh, nhằm gúp phần nõng cao kiến thức đó học vàgúp phần xõy dựng đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó ở tỉnh Cà Mau ngang tầmnhiệm vụ mới

3 Mục đớch, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đớch của luận văn

Trờn cơ sở đỏnh giỏ một cỏch khỏch quan thực trạng của cụng tỏc xõy dựngđội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó ở tỉnh Cà Mau từ khi tỏi lập cho đến năm 2007,luận văn làm rừ vai trũ quan trọng của cụng tỏc xõy dựng đội ngũ cỏn bộ chủchốt cấp xó ở một địa phương cực nam của tổ quốc cú vị trớ quan trọng về kinh

tế, chớnh trị của đất nước “ mónh đất đứng mũi chịu sào” Từ đú gúp phần tổngkết thực tiễn về cụng tỏc xõy dựng đội ngũ cỏn bộ ở địa phương, đỳc rỳt nhữngkinh nghiệm chủ yếu làm cơ sở lịch sử cho cụng tỏc xõy dựng đội ngũ cỏn bộchủ chốt cấp xó trong thời gian tới đỏp ứng với yờu cầu mới của đất nước

Trang 7

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Làm rõ vai trị, đặc điểm của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của Đảng bộ

tỉnh Cà Mau trong giai đoạn 1997 – 2007 Hệ thống hĩa các quan điểm, chủtrương của Đảng và của Đảng bộ tỉnh Cà Mau về cơng tác xây dựng đội ngũ cán

bộ chủ chốt cấp xã

- Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã và cơng tác xây dựngđội ngũ cán bộ này của Đảng bộ tỉnh Cà Mau, nêu rõ ưu điểm, hạn chế, nguyênnhân của thực trạng và những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn

- Đúc rút một số kinh nghiệm chủ yếu về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốtcấp xã ở tỉnh Cà Mau gĩp phần làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về xây dựng độingũ cán bộ trong thời kỳ mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là cơng tác xây dựng đội ngũ cán bộchủ chốt cấp xã Bao gồm một số chức danh chủ yếu như: Bí thư Đảng ủy, phĩ

bí thư trực Đảng ủy, Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân, phĩ chủ tịch Uỷ Ban NhânDân, chủ tịch Mặt Trận tổ quốc, Bí thư đồn thanh niên, Hội trưởng hội phụ nữ,Chủ tịch hội cựu chiến binh…

- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn: Luận văn nghiên cứu thực trạng độingũ cán bộ và cơng tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã từ năm 1997 -

2007 Đồng thời, nêu ra kinh nghiệm, bài học, để định hướng xây dựng đội ngũcán bộ này trong thời kỳ mới

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cán bộ vàcơng tác cán bộ

5.2 Cơ sở thực tiễn

Trang 8

Thực tiễn xõy đội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xó của tỉnh Cà Mau ở tất cả cỏc

xó trờn địa bàn tỉnh từ 1997 - 2007

5.3 Phương phỏp nghiờn cứu

Trờn cơ sở phương phỏp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử, Luận văn sử dụng phương phỏp lịch sử, phương phỏp logic và kết hợp vớikhảo sỏt thực tế, thống kờ, đặc biệt coi trọng phơng pháp khảo sỏt thực tế

6 Đúng gúp khoa hoùc vaứ yự nghúa thửùc tiễn của luận văn

- Gúp phần làm rừ cơ sở lý luận và thực tiễn xõy dựng đội ngũ cỏn bộ chủchốt cấp xó ở tỉnh Cà Mau giai đoạn 1997 - 2007

- Ruựt ra keỏt quaỷ vaứ neõu leõn moọt soỏ kinh nghieọm trong quaự trỡnh xaõy dựngđội ngũ cỏn bộ chủ chốt cấp xaừ ở tỉnh Cà Mau, goựp phaàn nghieõn cửựu vieọc taờngcửụứng vaứ ủoồi mụựi coõng taực caựn boọ ụỷ cụ sụỷ

- Keỏt quaỷ nghieõn cửựu cuỷa luaọn vaờn coự theồ laứm taứi lieọu tham khaỷo boồ ớchcho caực ủaỷng boọ huyeọn, thaứnh phoỏ vaứ xaừ trong coõng taực xaõy dửùng ủoọi nguừ caựnboọ cụ sụỷ

7 Kết cấu của luận vaờn

Ngoài cỏc phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,luận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Chương 1

Trang 9

ĐẢNG BỘ TỈNH CÀ MAU TIẾN HÀNH XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU TÁI LẬP

Diện tích phần đất liền 5.329,5 km2 (bằng 13,13% diện tích đồng bằngsông Cửu Long) bằng 1,58 % diện tích cả nước) Ngoài phần đất liền, Cà Mau

có các đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối và Hòn Đá Bạc, diện tích các đảo xấp xỉ 5

Km2 Địa hình toàn tỉnh thuần nhất là đồng bằng, có nhiều sông, rạch, độ caobình quân 0,5 m so với mặt nước biển Hàng năm ở vùng Mũi Cà Mau bồi rabiển 50 m; bờ biển phía đông từ của sông Gành Hào đến vùng của sông RạchGốc bị xói lở, có nơi mỗi năm 20m

Chiều dài bờ biển Cà Mau 254 km Vùng biển Cà Mau rộng trên 71.000

km2, tiếp giáp với vùng biển của các nước: Thái Lan, Malaysia, Indonesia Biển

Cà Mau có vị trí nằm ở trung tâm vùng biển các nước Đông - Nam Á nên có

Trang 10

nhiều thuận lợi giao lưu, hợp tác kinh tế bằng đường biển, phát triển kinh tế biển,khai thác dầu khí và tài nguyên khác trong lòng biển.

Khí hậu Cà Mau là khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệtcao, rất thuận lợi cho việc phát triển đa dạng cây, con trong sản xuất nông nghiệp

và nuôi thủy, hải sản Nhiệt độ trung bình 26,50c Nhiệt độ trung bình cao nhấttrong năm vào tháng 4 khoảng 27,60c; nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 01khoảng 250c Biên độ trung bình trong một năm là 2,70c Trong năm có hai mùa,mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.300mm Số giờ nắng trong năm2.500 giờ Độ ẩm tương đối 82%

Toàn bộ diện tích đất đai Cà Mau chịu ảnh hưởng của hai chế độ nhật triều.Nhật triều không đều ở biển Tây và bán nhật triều ở biển Đông Do ảnh hưởngchế độ thủy triều, dẫn đến việc xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền vào mùakhô, gây úng lụt một số vùng vào mùa mưa Cà Mau là vùng đất thấp, thườngxuyên bị ngập nước, đặc biệt là vào mùa mưa Trong đó, có khoảng 90% diệntích đất ngập mặn có chứa phèn Những đặc trưng này đã hình thành nên nhữngvùng đất và môi sinh rất đặc trưng của Cà Mau, quyết định đến nhiều hệ thốngcanh tác nông nghiệp của tỉnh Cà Mau là vùng đất trẻ của đồng bằng sôngCửu Long có sự lắng bồi từ Rạch Mũi đến Tiểu Dừa (biển Tây) và xói lở từRạch gốc đến Gành Hào (Biển đông) Đất canh tác gồm 4 loại chính: Đấtnhiễm phèn khoảng 60% diện tích đất tự nhiên, đất nhiễm mặn khoảng 37%,đất bãi bồi khoảng 1,5%, đất than bùn 1,5% Do đặc trưng thổ nhưỡng và chế

độ thủy văn như trên nên việc sử dụng đất ở Cà Mau đã hình thành các vùng.Vùng trồng cây lương thực, thực phẩm, vùng trồng cây lâu năm, vùng trồng tràm

và trồng cây công nghiệp, vùng nuôi trồng thủy sản Trong đó, diện tích đất vàmặt nước nuôi trồng thủy sản 229.190 ha, đất nông nghiệp 142.428 ha, đất lâmnghiệp 106.085 ha Nguồn nước ngọt cung cấp cho nông nghiệp chủ yếu là nướcmưa Nước ngọt cung cấp cho sinh hoạt và công nghiệp là nước ngầm Nước mặn ở

Trang 11

Cà Mau là tài nguyên quý giá, rất thích hợp cho việc phát triển lâm, ngư nghiệp,nuôi tôm cá

Cà Mau có 9 đơn vị hành chính cấp huyện và 97 đơn vị xã, phường, thịtrấn Dân số 1.234.896 người bao gồm ba dân tộc, kinh 96%, Hoa 1,5% , Khmer2,5% Tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm 1,55% Mật độ 232 người/ 1 km2.Dân số nông thôn 975.641 chiếm 79% Toàn tỉnh có 211.820 hộ dân (thời điểmnăm 2007)

Mặt bằng văn hóa của nhân dân còn thấp, nguồn nhân lực còn nhiều hạnchế, cán bộ khoa học kỹ thuật của tỉnh theo thống kê cuối năm 2007 cho thấy,trình độ cao đẳng trở lên có khoảng 4.921 người/1.234.896 triệu dân, trong đó số

có 02 tiến sĩ, 95 thạc sỹ Lao động ở Cà Mau dồi dào nhưng đa số có học vấnthấp, trình độ, kỹ năng lao động hầu như không cao, chủ yếu lao động giản đơn.Khu vực đô thị dân cư khá tập trung, số còn lại rất phân tán và rải rác, nơi tậptrung chủ yếu các vùng trung tâm xã, đầu mối giao thông và dọc theo các trụckênh chính, các dòng sông, con rạch

Cà Mau là tỉnh có nhiều tôn giáo và giáo phái Hai tôn giáo ra đời sớmnhất, có tín đồ đông nhất là Đạo phật và Thiên chúa Các Tôn giáo khác ra đờichậm hơn như Cao đài, Tin lành Các giáo phái gồm có Cao Đài Minh Chơnđạo, Tiên thiên, Tây Ninh, thiên lâm, tịnh độ cư sĩ, khất sĩ, ni giới Việt Nam

Về mặt lịch sử, Cà Mau là vùng đất trẻ được hình thành trên 300 năm Dân

cư Cà Mau không hình thành từ các lũy tre làng như các tỉnh phía Bắc, mà dân

cư Cà Mau là dân khắp nơi trong cả nước về cùng chung sống Đặc điểm nổi bậccủa cư dân nông thôn Cà Mau là họ định cư rải rác trên các bờ sông, kênh rạch,nhà gắn với vườn, vườn gắn với ruộng Người Hoa, Kinh, Khmer sống đan xennhau, luôn tương trợ đoàn kết khi hoạn nạn, chân thành cởi mở, phong cách ứng

xử của người dân Cà Mau mang tính nông dân chất phát, tính bộc trực, thẳngthắn, phản kháng mạnh mẽ trước bất công của xã hội

Trang 12

Sau khi được tái lập, bên cạnh những thuận lợi, Đảng bộ và nhân dân CàMau gặp không ít khó khăn Thuận lợi cơ bản là Cà Mau tiếp tục kế thừa và pháthuy những kinh nghiệm, thành quả của quá trình xây dựng, phát triển kinh tế, xãhội của tỉnh Minh Hải để lại; nhân dân Cà Mau có truyền thống cách mạng kiêncường, cần cù, năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất, công tác học tập.Đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện, thử thách và trưởng thành trong đấutranh cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tâm huyết với bao công việckiến thiết xây dựng quê hương.

Khó khăn nổi rõ nhất là Cà Mau vẫn còn là tỉnh nghèo, mặt bằng phát triểnkinh tế - xã hội còn thấp so với các tỉnh trong khu vực, kết cấu hạ tầng phục vụcho sản xuất, đời sống còn nhiều yếu kém Còn 38 xã chưa có đường ô tô đếntrung tâm Hệ thống thủy lợi phục vụ cho sản xuất ở các vùng, tiểu vùng khôngbảo đảm Nền sản xuất của tỉnh phổ biến vẫn còn là sản xuất nhỏ lẻ, manh mún,năng suất, sản lượng, hiệu quả còn thấp, tính cạnh tranh yếu Đời sống nhân dân,nhất là nông dân ở những vùng nông thôn xa xôi còn rất nhiều khó khăn Hầuhết các cơ sở đào tạo nằm ở tỉnh Bạc Liêu; đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở cấp tỉnh bịbiến động, thiếu nghiêm trọng, chỗ nơi phương tiện làm việc không thuận lợi

Có lúc nội bộ lãnh đạo ở tỉnh có nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết, việc tậptrung lo cho công việc chung hạn chế

Đánh giá đúng những thuận lợi và những khó khăn đó, được sự chỉ đạocủa Trung ương, sự nổ lực khắc phục những khó khăn, yếu kém, Đảng bộtỉnh tăng cường đoàn kết thống nhất, phát huy truyền thống cách mạng vẻvang, tính năng động sáng tạo, khai thác phát huy nguồn lực tại chỗ, đẩymạnh khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương, tập trung lãnh đạo, chỉđạo chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp; sớm ổn định, kiện toàn

bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ lãnh đạo Từ những việc làm thiết thực đó,sau hơn 10 năm được tái lập, Đảng bộ Cà Mau đã giành được những thành

Trang 13

quả rất quan trọng và khá tồn diện Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch đúnghướng, những vùng chuyển đổi sản xuất từ trồng lúa sang nuơi tơm, tơm -lúa phát huy hiệu quả rất rõ, năng lực, quy mơ chế biến xuất khẩu hàng hĩathủy sản tăng vọt, Cà Mau gĩp phần ¼ giá trị kim ngạch xuất khẩu hàngthủy sản của cả nước; tăng trưởng GDP của tỉnh đạt khá, tăng dần qua hàngnăm (bình quân từ năm 1997 - 2007 đạt trên 10%); thu nhập bình quân đầungười từ khoảng 150 USD/năm 1997 lên trên 785 USD/năm 2005 Kết cấu

hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống phát triển khá nhanh, nhất là hệthống giao thơng bộ Đến nay, đã cĩ đường ơ tơ đến 7 huyện (năm 1997 làkhơng cĩ), 43 xã (năm 1997 cĩ 3 xã) Thu hút đầu tư ngồi tỉnh cĩ nhiềutriển vọng, khu cơng nghiệp khí - điện - đạm đã tạo động lực mạnh mẽ thúcđẩy quá trình phát triển của Cà Mau trong thời gian tới

Những năm đầu tái lập tỉnh, tình hình kinh tế, xã hội ở tỉnh Cà Mau cĩbước phát triển khá, kinh tế tăng khá cao (12,35 %/năm), tình hình chính trị - xãhội ổn định, đời sống nhân dân được nâng lên; việc xây dựng, chỉnh trang đơ thịđược quan tâm đầu tư, v.v…Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, tỉnh

Cà Mau vẫn cịn một số lĩnh vực phát triển chậm, thiếu bền vững, chậm triểnkhai quy hoạch tổng thể các đơn vị hành chính một cách lâu dài So với khi mớitái lập tỉnh, số lượng cấp huyện, xã cĩ tăng nhưng khơng đồng bộ với sự pháttriển đơ thị Tỉnh Cà Mau cĩ 8 phường chủ yếu ở thành phố Cà Mau và 8 thị trấn

ở 7 huyện (huyện Ngọc Hiển được thành lập và đi vào hoạt động 01-01-2004đến nay, nhưng chưa cĩ thị trấn trung tâm huyện lỵ)

Từ thực trạng nêu trên tỉnh Cà Mau cĩ những đặc điểm sau:

Một là, trong số các đơn vị hành chính cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) ở

tỉnh Cà Mau, thì đơn vị xã chiếm tỷ lệ cao nhất trong tồn tỉnh, được bố trí đềukhắp các huyện và thành phố Cà Mau, chiếm 83,5% (81/97 xã, phường, thị trấn).Tỉnh xác định cơ cấu kinh tế của địa phương là Ngư - nơng - lâm nghiệp, cơng

Trang 14

nghiệp, dịch vụ và du lịch; coi sản xuất nơng nghiệp là ngành kinh tế trọng yếu,sản xuất thủy sản là thế mạnh và mũi nhọn trong phát triển nền kinh tế của địaphương Vì vậy, lĩnh vực nơng nghiệp - nơng thơn ở Cà Mau giữ vai trị trọngyếu trong phát triển nền kinh tế - xã hội của tỉnh.

Đồng thời, để phát triển kinh tế một cách bền vững và cĩ hiệu quả, tỉnhquy hoạch vùng kinh tế của tỉnh thành vùng kinh tế nội địa, vùng kinh tế venbiển và vùng kinh tế biển Nơng thơn ở Cà Mau nằm trong vùng kinh tế nội địacủa tỉnh, chủ yếu là nuơi trồng thủy sản, sản xuất nơng nghiệp kết hợp nuơi cánước lợ, nuơi tơm, trồng cây ăn trái,.v.v…Trong vùng sản xuất này, tỉnh phân rathành hai tiểu vùng rõ rệt là: Tiểu vùng chuyên sản xuất nuơi trồng thủy sản,gồm các huyện: Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân, Năm Căn, Ngọc Hiển và 3 xãcủa huyện Trần Văn Thời Tiểu vùng sản xuất nơng nghiệp kết hợp nuơi trồngthủy sản, nuơi cá nước lợ và trồng cây ăn trái, rau, quả, gồm thành phố Cà Mau,các huyện U Minh, Thới Bình và một phần huyện Trần Văn Thời Mặc khác, ởnơng thơn Cà Mau nơng dân chiếm 79 % dân cư trong tồn tỉnh và trên 70% laođộng xã hội, là nguồn nhân lực dồi dào cho phát triển các ngành, nghề sản xuấtkhác nhau của tỉnh

Hai là, tỉnh Cà Mau là phần lãnh thổ được bồi tụ và nâng lên trong thời

gian gần đây, là vùng đất trẻ duy nhất cĩ 3 mặt tiếp giáp biển ở khu vực đồngbằng Sơng Cửu Long (phía Tây giáp biển Tây, phía Đơng Nam và Nam giápbiển Đơng, Vịnh Thái lan) Là tỉnh, cĩ nhiều sơng ngịi chằng chịt, cĩ tổngchiều dài hệ thống sơng rạch trên 7.000 km, với tổng diện tích mặt nước 15.756

ha, chiếm 3,02 % diện tích tự nhiên tồn tỉnh

Về giao thơng đường bộ, do điều kiện địa lý tự nhiên, tuy được trungương quan tâm đầu tư phát triển, nhưng vẫn gặp khơng ít khĩ khăn Hiện nay,tồn tỉnh cĩ hai tuyến quốc lộ do trung ương quản lý (quốc lộ 1A và quốc lộ 63)

Trang 15

với chiều dài 108 km; tỉnh quản lý 74 tuyến với tổng chiều dài 525 km, bằng7,53 % chiều dài sơng rạch trong tỉnh (525 km/7.000 km).

Các xã của tỉnh Cà Mau giao thơng đi lại chủ yếu bằng đường thủy,phương tiện đi lại đa phần bằng phương tiện thủy gia dụng, kết hợp các phươngtiện dịch vụ Tồn tỉnh cĩ 99.379 phương tiện thủy nội địa (bình quân 0,55phương tiện/hộ dân), cĩ 263 tàu khách và các phương tiện dịch vụ khác Đây làđặc điểm nổi bật ở vùng sơng nước Đồng bằng Sơng Cửu Long nĩi chung và ởtỉnh Cà Mau nĩi riêng

Ba là, tỉnh Cà Mau cĩ 3 mặt tiếp giáp biển, do đĩ cĩ 24 xã, thị trấn nằm

tiếp giáp bờ biển đơng, biển tây và các sơng cửa biển lớn thơng ra biển Vì vậy,những đơn vị này trong phát triển kinh tế - xã hội vừa phải khai thác cĩ hiệu quảkinh tế nội địa (tức đầu tư cho nuơi trồng thủy sản nội địa); Vừa tập trung đầu tưcho khai thác hải sản ven biển và biển Cĩ thể nĩi đây là một vị thế, một thếmạnh để phát triển kinh tế của các xã vùng phía Bắc tỉnh Cà Mau

Bốn là, về sản xuất, kinh doanh nội địa, Cà Mau là vùng đất được thiên

nhiên ưu đãi; kinh tế phát triển khá nhanh, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăngbình quân 4,48% thời kỳ 1986 - 1990, đến năm 2007 GDP tăng 12,35 % , tăng

so thời kỳ 1986 - 1990 là 275,67% Từ đĩ, lượng dân di cư tự do đến đất CàMau sinh sống, lập nghiệp ngày càng đơng Đến nay cĩ thể nĩi, dân di cư từ 63tỉnh, thành trong cả nước về đây sinh sống, lập nghiệp trải trên tất cả các huyện,thành phố Cà Mau, trong đĩ cĩ huyện cĩ dân di cư từ 37 tỉnh, thành trong cảnước như các huyện Năm Căn, Ngọc Hiển

Vấn đề dân di cư tự do đến Cà Mau, một mặt gĩp phần tích cực vào quátrình phát triển kinh tế, văn hố, xã hội trên địa bàn tỉnh Nhưng mặt khác, cĩnhững ảnh hưởng, tiêu cực đến quá trình phát triển nền kinh tế, an ninh trật tự,các hoạt động khác ở vùng nơng thơn trong tỉnh, do nạn phá rừng, hủy hoại mơitrường và các tệ nạn xã hội khác

Trang 16

Năm là, về lĩnh vực văn hĩa, xã hội: tỉnh Cà Mau cách xa các thành phố

lớn trong cả nước; cách thủ đơ Hà Nội 2.085 km, cách thành phố Hồ Chí Minh

350 km và thành phố Cần Thơ 180 km Từ đĩ, sự giao lưu, học hỏi và chịu sựtác động tích cực của các Trung tâm đơ thị lớn gập nhiều khĩ khăn - nhất là lĩnhvực văn hĩa và các vấn đề về xã hội Nhưng về văn hĩa bản địa, Cà Mau nằmtrong quần thể văn hĩa của khu vực Đồng bằng Sơng Cửu Long, đã lưu giữ mộtnền văn hĩa phong phú, đặc sắc, với nhiều di tích lịch sử, văn hĩa, kiến trúc,nghệ thuật…như: di tích đảo Hịn Khoai, chứng tích tội ác Mỹ - Ngụy “Biệt khuHải Yên - Bình Hưng”, di tích đình Tân Hưng, di tích Sắc tứ Quan âm cổ tự CàMau…Tuy nhiên, việc bảo tồn, gìn giữ, hưởng thụ và phát triển nền văn hĩa CàMau, nhất là ở cơ sở cịn nhiều bất cập, lúng túng

Về lĩnh vực xã hội: Bên cạnh mặt tích cực là ổn định xã hội, nhưng anninh trật tự đang nổi lên một số vấn đề như: Các băng cướp trên sơng cĩ tổchức, trộm cắp, ma tuý, mại dâm, an ninh trên biển và trật tự an tồn giao thơng(nhất là giao thơng đường thủy), diễn ra phức tạp và diện rộng trên phạm vitồn tỉnh An ninh nơng thơn và các vụ thưa kiện trong nội bộ nơng dân, tranhchấp đất đai ngày càng tăng, làm cho tình hình diễn biến phức tạp hơn

Sáu là, các xã ở tỉnh Cà Mau là đơn vị chính trị, kinh tế, văn hĩa, thương

mại, dịch vụ ở cơ sở Là nơi tập trung nhiều thành phần kinh tế, thương gia trong

và ngồi tỉnh về đây tham gia sản xuất, kinh doanh Đây là điều kiện rất thuậnlợi để thiết lập mối quan hệ với các cơ quan tỉnh, huyện đĩng trên địa bàn trongquá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở và tạo điều kiệncho các xã ở Cà Mau gần gũi với các thành phần kinh tế, thương gia; giúp đở,tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong qúa trình sản xuất, kinh doanh, gĩp phầncùng cơ sở phát triển, hoạt động đạt kết quả cao hơn

Bảy là, hệ thống chính trị các xã ở Cà Mau được tổ chức một cách chặtchẽ, đều khắp Các tổ chức của hệ thống chính trị bao gồm: Đảng bộ cơ sở,

Trang 17

Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận tổ quốc, Đoàn thanh niênCộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên Hiệp Phụ Nữ, Hội Nơng Dân và Hội Cựuchiến binh Trong đó có 81 Đảng bộ, với 903 chi bộ trực thuộc (còn 49 ấp cótừ 1-2 đảng viên) và có 15.268 đảng viên, chiếm 61,72% đảng viên trong toàntỉnh; có 81 Hội đồng nhân dân cấp xã, mỗi ấp, khóm đều có tổ đại biểu Hộiđồng nhân dân; có 75 đơn vị, Ủy ban nhân dân cấp xã được bố trí 5 thành viênvà 6 đơn vị được bố trí 3 thành viên; mỗi xã trong tỉnh đều được thành lập ỦyBan Mặt Trận Tổ Quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị Ở mỗi ấp, khóm cóBan công tác Mặt trận, Chi đoàn Thanh niên, chi hội: Phụ nữ, Nông dân, Cựuchiến binh; đồng thời hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức cho đại diệnnhân dân bầu trực tiếp trưởng ấp, khóm để quản lý, điều hành cộng đồng dâncư.

Các xã ở tỉnh Cà Mau cĩ vai trị hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp tổchức triển khai thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước trong thực tiễn; là cầu nối liền giữa Đảng, Nhà nước với nhândân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; nơi kiểm nghiệmtính đúng đắn của đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước;đĩng gĩp những kinh nghiệm quý báu giúp cho Đảng sửa đổi, bổ sung và đề rađường lối, chủ trương, chính sách phù hợp với thực tiễn Ngồi ra, các xã cĩnhững đặc điểm gắn liền với điều kiện tự nhiên, phân bổ dân cư, phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh Nắm và xác định được vai trị, đặc điểm của cơ sở nêu trên

là vấn đề cĩ ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở địaphương ổn định, bền vững, cĩ bước đi thích hợp Đó cũng là, gĩp phần phát triển

đơ thị ở tỉnh Cà Mau nhanh hơn; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhândân, đảm bảo vệ sinh mơi trường, ổn định an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hộiv.v…Để đảm bảo hồn thành nhiệm vụ nêu trên, Cà Mau phải tập trung xây dựngđội ngũ cán bộ cơ sở nĩi chung và đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốtcấp xã nĩi riêng một cách chủ động, đồng bộ, đủ số lượng, cĩ chất lượng, cĩ cơ

Trang 18

cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài ở cơ sở và bổ sung lực lượng cán

bộ có đầy đủ phẩm chất, đạo đức, năng lực cho các cấp trong tỉnh

1.1.2 Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở Cà Mau

Chủ tịch Hồ Chí Minh, là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, trong suốtquá trình lãnh đạo đấu tranh cách mạng, người luôn coi trọng đến vai trò to lớncủa cán bộ, công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, nănglực và trình độ Xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên” đủ sức đápứng yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước,đưa cả nước bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội Người luôn xác định: “Cán bộluôn là cái gốc của mọi công việc” [48, tr.269 ] Người cũng lý giải một cách cặn

kẽ, dễ hiểu vai trò “cái gốc” của cán bộ thông qua những bài nói, bài viết và việclàm của Người Vai trò đó, theo Người được thể hiện trong các mối quan hệ chủyếu: cán bộ với đường lối, chính sách; cán bộ với tổ chức bộ máy; cán bộ vớicông việc và cán bộ với quần chúng Như vậy, theo quan niệm của Chủ tịch HồChí Minh, cán bộ không chỉ là người vạch ra đường lối mà còn có vai trò quyếtđịnh trong việc tổ chức thực hiện đường lối đó Người nói: “Cán bộ là ngườiđem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, neáu cán

bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”, “cán bộ là dây chuyềncủa bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy,toàn bộ máy cũng tê liệt” [48, tr.54] Điều đó, khẳng định chất lượng cán bộ lànhân tố quyeát định việc thực hiện cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng vàođời sống xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ không phải là ngườituyên truyền, giải thích và tổ chức cho quần chúng thực hiện chủ trương, chínhsách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, mà phải sâu sát quần chúng, nắm bắt vàphản ánh kịp thời tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân vớiĐảng và Nhà nước để đề ra chủ trương, chính sách phù hợp thực tiễn kháchquan, hợp lòng dân Người viết: “Cán bộ là những người đem chính sách của

Trang 19

Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thờiđem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặtchính sách cho đúng” [48, tr.269] Đối với cán bộ ở cơ sở, nhất là đội ngũ cán bộchủ chốt, vai trị này là rất quan trọng, là cấp gần gũi nhân dân, hàng ngày tiếp xúcvới dân, thường xuyên nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của dân Do đĩ, người luơnnhắc nhở cán bộ “sự lãnh đạo trong mọi cơng tác thiết thực của Đảng, ắt phải từtrong quần chúng mà ra và trở lại nơi quần chúng” [48, tr.290] và Người kết luận:

“Muơn việc thành cơng hay thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém” [48, tr.273]

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ phải là người từ phong tràocách mạng của quần chúng, là người lãnh đạo, dẫn dắt quần chúng nhằm thựchiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng, người hết lịng, tận tụy phục vụ nhân dân,luơn chăm lo cho lợi ích của nhân dân, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnhphúc cho nhân dân Trong di chúc, Người căn dặn tồn Đảng ta rằng: “Phải giữgìn Đảng ta, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thànhcủa nhân dân” [47, tr.131]

Cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ gắn liền với cơng tác tổ chức,

bộ máy Cán bộ tốt sẽ làm cho tổ chức mạnh, chất lượng cán bộ phụ thuộc vàokết quả của cơng tác tổ chức cán bộ Cĩ tổ chức mạnh, cơng tác cán bộ làm tốt sẽhạn chế và sửa chữa những khuyết điểm, giúp đở phát huy những ưu điểm củacán bộ, ngược lại nếu cơng tác cán bộ trì trệ, làm cho cán bộ khơng phát huy tácdụng Người khẳng định: “Lãnh đạo khéo, tài nhỏ cĩ thể hĩa ra tài to, lãnh đạokhơng khéo, tài to cũng hố thành tài nhỏ” [48, tr.280 ]

Quán triệt và thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh về xây dựng Đảng kiểu mới nĩi chung và vấn đề cán bộ nĩi riêng Từ khithành lập đến nay, Đảng ta luơn xác định coi vấn đề cán bộ cĩ tầm quan trọngchiến lược đối với cách mạng Việt Nam Từ đĩ, Đảng ta đặc biệt quan tâm xâydựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với địi hỏi của từng thời kỳ cách mạng, đĩ lànhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Xác định được tầm

Trang 20

quan trọng đĩ, trong mỗi giai đoạn cách mạng, qua mỗi lần Đại hội và Hội nghịTrung ương, Đảng ta đều cĩ chủ trương, nghị quyết xây dựng đội ngũ cán bộphù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới Đảng ta khẳng định: “Vấn đề cán bộ làvấn đề rất quan trọng trong cơng tác tổ chức của Đảng, bởi vì cán bộ là người cĩnhiệm vụ đem đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng tuyên truyền, giáodục quần chúng và tổ chức quần chúng thực hiện” [16, tr.160] và Đảng ta xácđịnh phải: “cĩ một đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực xây dựng đường lốichính trị đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, đĩ là vấn đề cốt tửcủa lãnh đạo, là sinh mệnh của Đảng cầm quyền” [23, tr.127] Bước vào thời kỳđẩy mạnh cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa đất nước, Đảng ta càng nhấn mạnh đếnvai trị của cán bộ Nghị quyết Trung ương ba khĩa VIII xác định: “Cán bộ là nhân

tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đấtnước và chế độ, là khâu then chốt trong xây dựng Đảng” [23, tr.166] Từ quan điểm

trên, Đảng ta quan tâm lãnh đạo xây dựng cho được đội ngũ cán bộ một cách đồng

bộ, đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng Trong đĩ, đặc biệt chú trọngxây dựng đội ngũ cán bộ cốt cán, trước hết là ở cấp chiến lược và cấp cơ sở

Trong đĩ đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, cĩ những vị trí hết sức quantrọng Họ thực sự là người thay mặt Đảng, nhà nước giải quyết cơng việc thườngngày cho nhân dân và cũng là những người cĩ quyết định trực tiếp đưa chủtrương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước vào địa bàn cơng tác Họ lànhững người được bầu cử, tuyển chọn, bổ nhiệm, đề bạt hay phân cơng giữ chức

vụ trọng trách trong hệ thống cơ sở; được hưởng lương hoặc chính sách đãi ngộcủa Đảng và Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống cơ sở Đĩ chính lànhững cán bộ chủ chốt ở cơ sở Cán bộ chủ chốt cấp xã là người: cĩ quyền ranhững quyết định về chủ trương, cĩ trách nhiệm và quyền điều hành một tập thể,một đơn vị, một tổ chức để thực hiện nhiệm vụ của tập thể và tổ chức ấy, thậmchí cĩ thể chi phối, dẫn dắt tồn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định Trên cơ

Trang 21

sở ấy hiểu rằng: đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là những người đứng đầu quantrọng nhất trong hệ thống của tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc vàđồn thể chính trị - xã hội ở xã là bộ phận quan trọng quyết định phương hướngphát triển ở cơ sở, chịu trách nhiệm chính trong việc quán triệt các chủ trương,nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước và tổ chức thực hiệncác nhiệm vụ phát triển kinh tế trên địa bàn họ phụ trách Từ chức năng vànhiệm vụ trên, cán bộ chủ chốt cấp xã gồm các chức danh sau:

- Bí thư, phĩ bí thư Đảng ủy xã

- Chủ tịch, phĩ chủ tịch Hội Đồng Nhân Dân xã

- Chủ tịch, phĩ chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân xã

- Chủ tịch Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã

- Chủ tịch Hội Nơng Dân xã

- Chủ tịch Hội Phụ nữ xã

- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã

- Bí thư Đồn thanh niên xã

Do đĩ, cĩ được đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vững mạnh là nhân tốđảm bảo và tăng cường vai trị lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của nhànước, đồng thời phát huy vài trị năng động, sáng tạo của các tổ chức chính trị

- xã hội cũng như đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân trên địa bàn cấp xã Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, trước yêu cầu phát triển của tỉnh, vaitrị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của tỉnh Cà Mau cĩ vị trí quan trọng,thể hiện trên các phương diện sau:

- Đội ngũ cán bộ chủ chốt xã giữ vai trị quyết định trong việc triển

khai tổ chức thực hiện và đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật củaNhà nước vào đời sống xã hội tại cơ sở Là những người giữ vai trị “trungtâm”, “trụ cột” tại cơ sở, họ khơng những cĩ trách nhiệm nắm vững đườnglối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đem chủtrương, chính sách tuyên truyền, phổ biến, tổ chức cho quần chúng thực hiện

Trang 22

mà cịn phải cĩ khả năng nắm bắt, am hiểu đặc điểm tình hình của cơ sở để đề

ra những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể hĩa đường lối, chủ trương, chính sách đĩcho phù hợp với điều kiện, đặc điểm từng cơ sở và đi vào cuộc sống, việc tổchức thực hiện đạt hiệu quả cao

Hiện nay, tình hình kinh tế - xã hội và các lĩnh vực khác ở nơng thơn

Cà Mau phát triển khá nhanh, việc đơ thị hĩa trên cơ sở quy hoạch phát triểnmạnh Địi hỏi đội ngũ cán bộ ở cơ sở cĩ bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩmchất, đạo đức tốt và tư duy năng động, sáng tạo để cụ thể hĩa chủ trương,chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước phù hợp với cơ sở và thực tiễncuộc sống Nhưng vấn đề này, đội ngũ cán bộ cơ sở ở tỉnh Cà Mau cịn nhiềuhẫng hụt, bất cập, chưa theo kịp yêu cầu, nhiệm vụ mới, dẫn đến một số cơ sởlãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội khơng hiệu quả, chưa khai thác hết tiềmnăng kinh tế ở địa phương v.v…

- Đội ngũ cán bộ chủ chốt xã là những người trực tiếp, gắn bĩ với nhân

dân, cĩ mối quan hệ chặc chẽ với nhân dân Họ là người thường xuyên, trựctiếp triển khai, hướng dẫn và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước Trong quá trình đĩ, họ

đã tạo ra “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và ý Đảng lịng dân tạothành một khối thống nhất, làm cho Đảng và Nhà nước ăn sâu bám rễ trongquần chúng, tạo nên mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, trực tiếpcủng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ Mặc khác,qua phong trào cách mạng của quần chúng, giúp cho cán bộ cơ sở rút kinhnghiệm, tổng kết thực tiễn gĩp phần vào xây dựng và hồn thiện đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Như vậy, đườnglối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cĩ đi vào đờisống xã hội và trở thành hiện thực trên địa bàn tỉnh Cà Mau hay khơng là tùythuộc vào sự vận động, tuyên truyền nhân dân thực hiện của đội ngũ cán bộ

Trang 23

cơ sở trong tỉnh, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán

bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Cà Mau là một mắc xích gĩp phần thúc đẩy quá trìnhcơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa nơng nghiệp - nơng thơn của tỉnh Cà Mau

- Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã nói riêng cĩ vai trị quan trọng trongviệc xây dựng, củng cố tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị ở cơ sở Thựctiễn chứng minh, cĩ lúc, cĩ nơi hệ thống chính trị ở cơ sở mạnh, yếu và phongtrào cách mạng của quần chúng cĩ phát triển hay khơng đều gắn với vai trịcủa đội ngũ cán bộ ở cơ sở Về tổ chức bộ máy, họ là trụ cột, là trung tâmđồn kết nội bộ, là lực lượng huy tụ lực lượng tổ chức, sắp xếp, kiện tồn các

tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở Mặc khác, cán bộ cơ sở ở Cà Mau cĩvai trị quyết định đến năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng;năng lực quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền và mọi hoạt động củađồn thể quần chúng của cơ sở Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ởtỉnh Cà Mau cĩ đầy đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm với nhiệm vụ mới lànhằm xây dựng, củng cố, tăng cường vai trị lãnh đạo của Đảng; điều hành,hoạt động của Nhà nước, đồn thể quần chúng ở cơ sở và phát huy mạnh mẽquyền làm chủ xã hội của quần chúng nhân dân, gĩp phần thúc đẩy phát triểnkinh tế, xã hội của tỉnh Cà Mau

- Xuất phát từ vai trị của cơ sở và cán bộ ở cơ sở, việc xây dựng độingũ cán bộ chủ chốt cấp xã vững mạnh, cĩ đầy đủ phẩm chất, năng lực, nhất

là năng lực trong thực tiễn là một trong những nguồn quan trọng cung cấp cán

bộ cho các cấp trong tỉnh Bởi vì, thơng qua hoạt động thực tiễn ở cơ sở, độingũ cán bộ này đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, sự năng động và sáng tạocủa họ không ngừng được bổ sung và nâng cao Trong thực tế, một số cán bộchưa được rèn luyện từ thực tiễn ở cơ sở, nên khi được phân cơng đảm nhậncác vị trí lãnh đạo ở cấp cao hơn thường khơng thích ứng với nhiệm vụ và sẽgặp nhiều khĩ khăn Ngược lại, cán bộ được thơng qua cơng tác ở cơ sở, thì

Trang 24

khi luân chuyển hay điều động về huyện, thành phố Cà Mau với vị trí caohơn, thì sẽ vững vàng, cĩ bản lĩnh trong quyết đốn, xử lý cơng việc, thích ứngnhanh với nhiệm vụ mới, đúng như Lênin khẳng định: “Cần đề bạt một cách cĩ

hệ thống những người đã được thử thách qua thực tiễn” [41, tr.178] Thực tiễnnước ta, khi đề cập đến vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán

bộ cơng chức cơ sở khơng những là cái khâu liên hệ mà cịn là cái kho dồi dàocho Đảng lấy thêm lực lượng mới Nếu đội ngũ này phát triển và củng cố thìĐảng sẽ phát triển và củng cố, bằng khơng Đảng sẽ khơ héo” [52, tr.237]

Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Cà Mau vững mạnh làmột mắt xích quan trọng đặc biệt trên các lĩnh vực và là cơ sở thực hiện chiếnlược cán bộ của thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa ở tỉnh Cà Mauhiện nay, gĩp phần thúc đẩy tỉnh Cà Mau hồn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ pháttriển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phịng một cách bền vững và ổn định

Cấp xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở, nơi thiết lập và hoạt động của hệthống chính trị cơ sở và các tổ chức kinh tế, xã hội khác nhau, đặt dưới sựlãnh đạo trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng Xã phát triển tồn diện và vữngmạnh thì huyện mạnh; huyện mạnh thì tỉnh mạnh và tỉnh mạnh gĩp phần cùng

cả nước phát triển mạnh, bền vững sánh vai cùng các nước trong khu vực vàtrên thế giới Ngược lại, cấp cơ sở yếu kém, khơng ổn định, phát triển thiếubền vững, tình hình an ninh chính trị diễn biến phức tạp, thì sẽ ảnh hưởng rấtlớn và trực tiếp đến huyện, thành phố và tỉnh Điều đĩ khẳng định chủ trươngcủa Đảng ta hướng mạnh về cơ sở; khắc phục tình trạng hành chính hĩa, xadân, phơ trương, hình thức là đúng đắn

1.1.3 Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở Cà Mau trong những năm đầu tái lập tỉnh

Cà Mau là tỉnh tuyến đầu cực Nam tổ quốc, địa bàn rộng và phức tạp,giao thơng chủ yếu là đường thủy, cơ sở hạ tầng kinh tế yếu kém, bị thiên tai

Trang 25

gây hậu quả nặng nề về người và của vào cuối năm 1997 đến nay tạm thờikhắc phục được một phần, đời sống nhân dân nói chung và đội ngũ cán bộ,đảng viên gặp không ít khó khăn, gây trở ngại nhất định đến việc thực hiệnnhiệm vụ chính trị của địa phương Đảng bộ tỉnh Cà Mau được chia tách từĐảng bộ tỉnh Minh Hải và đi vào hoạt động từ ngày 01-01-1997, đội ngũ cán

bộ biến động sau khi chia tách tỉnh, song với tinh thần chỉ đạo tích cực củacấp ủy, công tác tổ chức, cán bộ sớm ổn định và đi vào nền nếp, hoạt động cóhiệu quả

Toàn tỉnh có 66 xã; 799 ấp, khóm; dân số gần 1,1 triệu người; có 66đảng bộ cơ sở, 9.656 đảng viên.Về học vấn của cán bộ xã: Tiểu học cơ sởchiếm 4,54%; cấp trung học cơ sở chiếm 51,53%; cấp Phổ thông trung họcchiếm 43,93%; chuyên môn nghiệp vụ: trung cấp chiếm 10,17%; đại học, caođẳng chiếm 4,62%; lý luận chính trị sơ cấp chiếm 26,33%, trung cấp chiếm25,68%; cử nhân, cao cấp chiếm 1,89%

Hệ thống tổ chức đảng, nhà nước được sắp xếp kiện toàn, cơ cấu cán bộbước đầu có đổi mới, phù hợp với yêu cầu của địa phương; từng bước thựchiện trẻ hóa đội ngũ cán bộ; trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị của độingũ cán bộ được nâng lên; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ bằng nhiềuhình thức (tập trung, tại chức, học từ xa, tự học …) ngày càng được quan tâmcủa các cấp, các ngành Tinh thần tích cực học tập, rèn luyện của phần đôngđội ngũ cán bộ đảng viên đã tạo những tiền đề và điều kiện thuận lợi đối vớicông tác cán bộ và hình thành đội ngũ cán bộ của tỉnh, đáp ứng yêu cầu,nhiệm vụ chính trị trong những năm tới

Tuy nhiên công tác cán bộ nói chung và công tác quy hoạch cán bộnhững năm đầu tái lập tỉnh còn thiếu đồng bộ, chấp vá, chưa gắn công tác quyhoạch cán bộ với việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ, chínhsách cán bộ còn nhiều bất cập, hiệu quả công tác quy hoạch đào tạo, bồidưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ còn nhiều mặt hạn chế Nhận thức về côngtác cán bộ nói chung và công tác quy hoạch cán bộ ở một số cấp ủy, đảng

Trang 26

đồn, ban cán sự đảng, lãnh đạo sở, ban ngành tỉnh chưa thật đầy đủ, chưa coicơng tác cán bộ và cơng tác quy hoạch cán bộ là trách nhiệm của cấp ủy, đảngđồn, ban cán sự đảng.

Chưa làm tốt việc nhận xét, đánh giá cán bộ hằng năm nên chậm pháthiện đào tạo, bồi dưỡng và sự dụng cán bộ, chưa kịp thời phát hiện xử lý, thaythế những cán bộ năng lực hạn chế hoặc cĩ thiếu sĩt, khuyết điểm Cơng tácquản lý cán bộ cịn nhiều mặt hạn chế, lõng lẻo

Riêng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của tỉnh Cà Mau những năm đầutái lập cĩ những đặc điểm cơ bản sau:

- Đội ngũ cán bộ chủ chốt các xã ở tỉnh Cà Mau phần lớn là trưởngthành sau miền Nam hồn tồn giải phĩng, thống nhất đất nước, nhất là trongcơng cuộc đổi mới (902/1.058 người, bằng 85,26 %) Từ đĩ, họ được đào tạo,bồi dưỡng một cách cơ bản và nhạy bén, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo,điều hành, quản lý, tiếp cận trình độ khoa học – kỹ thuật và những vấn đềmới rất nhanh Đồng thời, họ được kế thừa truyền thống cách mạng của chaơng và được sự giúp đở, hướng dẫn của thế hệ cán bộ đi trước, nên trưởngthành nhanh chĩng, trở thành nguồn bổ sung cán bộ lãnh đạo cao hơn ở cơ sởhoặc cho huyện, thành phố Cà Mau và cho tỉnh Cà Mau Bên cạnh đĩ, đội ngũcán bộ này đại bộ phận là người dân tại địa phương, gắn liền với điều kiện sảnxuất, kinh doanh tạo cuộc sống gia đình (người tại cơ sở cĩ 996/1.058 người,bằng 94,14 %) Mặc khác, đội ngũ cán bộ này ở tỉnh Cà Mau chủ yếu làđương chức, phần đơng là làm cơng tác chuyên trách, ít kiêm nhiệm; chứcdanh kiêm nhiệm chủ yếu là Chủ tịch Hội đồng nhân dân (Bí thư hoặc Phĩ Bíthư thường trực Đảng cấp xã kiêm nhịêm) Điều này rất thuận lợi cho việc chỉđạo chuyên sâu từng lĩnh vực cơng tác được phân cơng

- Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Cà Mau trưởng thành sau giảiphĩng đất nước và trong điều kiện một tỉnh cĩ truyền thống cách mạng, nênđại bộ phận họ là đảng viên (1038/1058, bằng 98,11% là đảng viên) Trong

Trang 27

đĩ, cĩ 739/1058 bằng 69,8% là cấp uỷ viên cơ sở; tham gia đại biểu Hội đồngnhân dân các cấp chiếm tỷ lệ khá cao, 780/1058 bằng 73,72% Cĩ thể nĩi vềchất lượng chính trị, đội ngũ cán bộ này tham gia nhiều tổ chức trong hệthống chính trị ở cơ sở và cấp trên, nên họ là lực lượng nắm vững đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và vận dụng phùhợp vào điều kiện cụ thể từng cơ sở, gĩp phần phát triển nền kinh tế, xã hộicủa huyện, thành phố Cà Mau và tỉnh Cà Mau khá nhanh (năm 1998 nền kinh

tế của tỉnh tăng 12,35 %)

- Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Cà Mau cơ cấu khơng đồng

bộ Tuy tỉnh rất quan tâm đến quy hoạch, đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ, nữ,nhưng tỷ lệ nữ đạt rất thấp (nữ 120/1058, chiếm 11,34 %), việc bố trí, phâncơng khơng đồng đều (chủ yếu là Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ xã); tỷ lệ nữtham gia làm cơng tác Đảng, quản lý nhà nước thấp (tồn tỉnh cĩ 2 đồng chí

là Phĩ Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân xã) Về cơ cấu độ tuổi được các cấp uỷđảng quan tâm, qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng và bầu cử Hội đồng nhândân, Uỷ ban nhân dân, các đoàn thể quần chúng đều cĩ định hướng về cơ cấu

độ tuổi mang tính kế thừa liên tục Tuy nhiên, lực lượng cán bộ trẻ đến nay vẫncịn thấp, dưới 30 tuổi chỉ chiếm 8,03 % (chủ yếu là Bí thư Đồn thanh niên)

- Trình độ của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở Cà Mau được nâng lênmột bước và được trưởng thành trong thực tiễn qua các phong trào cách mạngcủa quần chúng Nhưng về trình độ học vấn chưa được đào tạo, bồi dưỡngmột cách tồn diện, chủ yếu tập trung đào tạo chính trị (cán bộ cĩ trình độ từtrung cấp đến cao cấp 593/1058 bằng 56,04 %); về chuyên mơn nghiệp vụchưa qua đào tạo, bồi dưỡng chiếm tỷ lệ khá cao 65,60 %; tỷ lệ được đào tạoquản lý hành chính và tin học, ngoại ngữ rất thấp (trình độ quản lý hành chínhđạt 15,51 % và tin học, ngoại ngữ đạt 19,09 %) Từ đĩ, ảnh hưởng rất lớn đến kỹnăng điều hành, quản lý thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở Đặc biệt đến năm

2000 cịn 471 cán bộ chủ chốt cĩ trình độ văn hĩa phổ thơng từ tiểu học cơ sở

Trang 28

đến trung học cơ sở (chiếm 44,52 % so tổng số toàn tỉnh Cà Mau) Điều đĩ làmcho cơng tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ này gặp nhiều khĩ khăn.

1.2 CHỦ TRƯƠNG, BIỆN PHÁP VÀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ CỦA ĐẢNG BỘ CÀ MAU TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU TÁI LẬP (1997 - 2001)

1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Cà Mau về cơng tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã những năm đầu tái lập tỉnh

Đổi mới cơng tác cán bộ là một địi hỏi khách quan

Kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của Mác và Ăngghen về Đảngcủa giai cấp cơng nhân, V.I.Lênin đã đề ra những quan điểm quan trọng vềcán bộ trong quá trình xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp cơng nhân TheoV.I Lênin, vai trị quan trọng của đội ngũ cán bộ trước hết là ở chỗ đảm bảo

tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng Bởi vì họ vừa làngười xây dựng đường lối, vừa tiến hành lựa chọn phương pháp chỉ đạo, tổchức thực hiện và kiểm tra quá trình vận động cách mạng, hướng tới mục tiêu

đã đề ra Vì thế, Người nhấn mạnh: "Mấu chốt là vấn đề người, vấn đề lựachọn người" [43, tr.132] và "trong lịch sử, chưa hề cĩ một giai cấp nào giànhđược quyền thống trị, nếu nĩ khơng đào tạo ra được, trong hàng ngũ củamình, những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong cĩ khả năng tổ chức

và lãnh đạo phong trào" [37, tr.473]

V.I Lênin, lãnh tụ thiên tài của giai cấp cơng nhân, nhân dân lao độngNga, của phong trào cộng sản và cơng nhân quốc tế đã tổ chức và lãnh đạoCách mạng tháng Mười Nga giành thắng lợi to lớn Khi giành được chínhquyền, Đảng kiểu mới của V.I Lênin trở thành Đảng cầm quyền Lúc này,vấn đề cán bộ càng trở nên quan trọng và cấp bách hơn Ở giai đoạn này,nhiệm vụ mới vơ cùng khĩ khăn của Đảng Cộng sản và giai cấp cơng nhân làquản lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội nhằm xây dựng thành cơng xã hộimới, xã hội xã hội chủ nghĩa V.I Lênin yêu cầu đội ngũ cán bộ phải nỗ lực

Trang 29

cao hơn thời nội chiến để hoàn thành sứ mệnh mới là quản lý nhà nước, quản

lý xã hội Người khẳng định: "Nghiên cứu con người, tìm ra cán bộ có bảnlĩnh; hiện nay đó là then chốt, nếu không thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyếtđịnh sẽ chỉ là mớ giấy lộn" [42, tr.449]

Để có được đội ngũ cán bộ am hiểu nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vựcquản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng chủnghĩa xã hội, một nhiệm vụ lâu dài, khó khăn và phức tạp, V.I Lênin đã coitrọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, lựa chọn, đề bạt cán bộ vào các cương vịcông tác, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của họ, chú ý giáo dục,rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng và năng lực công tác cho cán

bộ, chống bệnh quan liêu, xa dân, kiêu ngạo, thoái hóa biến chất

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam,trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, luôn coi trọng công tác cán

bộ nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng, vừa chuyên, đủ sức đáp ứng yêucầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cảnước tiến lên chủ nghĩa xã hội Người coi: "Cán bộ là cái gốc của mọi côngviệc" [48, tr.269] Vai trò của người cán bộ, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đượcthể hiện trong bốn mối quan hệ chủ yếu: cán bộ với đường lối chính sách, cán

bộ với tổ chức bộ máy, cán bộ với công việc và cán bộ với quần chúng Trongquan niệm của Người, cán bộ không chỉ là người vạch ra đường lối mà còn cóvai trò quyết định trong việc tổ chức thực hiện đường lối Người nói: "Cán bộ

là người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhândân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được"; "Cán

bộ là dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thìđộng cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt" [48, tr.54]

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn yêu cầu cán bộ phải sâu sát quần chúng,nắm bắt kịp thời và phản ánh tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của

Trang 30

nhân dân với Đảng và Nhà nước để quyết định đường lối, chủ trương, chínhsách hợp lòng dân Đối với cơ sở, điều này càng đặc biệt quan trọng Ngườichỉ rõ: "Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trongquần chúng mà ra và trở lại nơi quần chúng" [48, tr.290 ] Và Người kết luận:

"Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém" [48, tr.273].Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ phải là người lãnh đạo, dẫn dắtquần chúng nhân dân thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng, là người tận tụyphục vụ nhân dân, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.Trong Di chúc, Người căn dặn toàn Đảng ta rằng: "Mỗi đảng viên và cán bộphải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính,chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta trong sạch, phải xứng đáng là người lãnhđạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" [47, tr.131]

Thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đềcán bộ, trong suốt hơn 70 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn chútrọng và đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với đòi hỏi củatừng thời kỳ cách mạng, đó chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cáchmạng Việt Nam Đảng ta xác định phải "có một đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất vànăng lực xây dựng đường lối chính trị đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợiđường lối, đó là vấn đề cốt tử của lãnh đạo, là sinh mệnh của Đảng cầm quyền"[23, tr.27] Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa, Đảng ta nhấn mạnh vai trò của cán bộ trong chiến lược cán bộthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa: "Cán bộ là nhân tố quyết định

sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước vàchế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng" [23, tr.66] Theo quanđiểm của Đảng, trong khi phải xây dựng đội ngũ cán bộ một cách đồng bộ, đápứng với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng, cần đặc biệt chú trọng xây dựngđội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược và cấp cơ sở

Trang 31

Như vậy, bất kỳ lúc nào và ở đâu, vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốtcũng rất quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Trong giai đoạn hiện nay,vai trò của cán bộ chủ chốt xã càng đặc biệt quan trọng Từ những nội dung

đã được trình bày trên, chúng ta có thể thấy rõ từ trước đến nay cả về lý luận

và thực tiễn, đổi mới công tác cán bộ luôn là một đòi hỏi khách quan Điều đóxuất phát từ vị trí và vai trò của cán bộ cũng như công tác cán bộ đối với sựnghiệp cách mạng của Đảng cộng sản Đặc biệt ở mốc chuyển giai đoạn củacách mạng, khi mà nhiệm vụ và phương thức hoạt động thay đổi, đội ngũ cán

bộ hiện có đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới thì đổi mới công

tác cán bộ lại càng trở nên vô cùng cần thiết và đó là một đòi hỏi khách quan.

Nhận thức và chủ trương của Đảng bộ Cà Mau về công tác cán bộ

Căn cứ chị thị số 18 – CT/TW ngày 10 tháng 7 năm 1997 của Bộ chínhtrị về việc triển khai, nghiên cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện nghị quyếtHội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII và tình hìnhcán bộ, công tác cán bộ và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của thời kì công nghiệphóa, hiện đại hóa của tỉnh nhà Ban chấp hành đảng bộ tỉnh Cà Mau thực hiệnnghị quyết lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII và đề ra chiếnlược cán bộ thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nội dung chủ yếutập trung vào việc tổng kết công tác cán bộ những năm qua và trong thời kìđổi mới, trên cơ sở đó đề ra mục tiêu, phương hướng cơ bản, nhiệm vụ giảipháp lớn nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, đánh giá tình hình cán bộ từ sau khitách tỉnh (1997) đó là:

Tình hình cán bộ:

Mặt mạnh: Đội ngũ cán bộ từ tỉnh đến cở sở phần đông được trưởng

thành trong quá trình đấu tranh cách mạng, chịu đựng giang khổ, khó khăn, cóbản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, con đường được đảng, Bác

Hồ và nhân đân ta lựa chọn; từng bước thích ứng với tình hình phát triển của

Trang 32

sự nghiệp cách mạng, hăng hái thực hiện đường lối, chủ trương, chính sáchcủa đảng và nhà nước.

Một bộ phận cán bộ trưởng thành trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ tổquốc đã tỏ ra năng động, sáng tạo và phát huy được tác dụng trong công cuộcđổi mới Trình độ kiến thức và năng lực của phần đông đội ngũ cán bộ đượcnâng lên, ngày càng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đảng bộ

Đại đa số cán bộ có đạo đức, phẩm chất cách mạng, lối sống lànhmạnh, giản dị, gắn bó với nhân dân

Một số cán bộ chủ chốt các cấp chưa nghiêm túc phê bình, tiếp thu vàsữa chữa khuyết điểm khi được phê bình

Đáng chú ý là một bộ phận không nhỏ cán bộ còn có biểu hiện chưaquan tâm và dành thời gian thích đáng cho học tập, nghiên cứu nâng cao trình

độ, kiến thức lãnh đạo quản lý, thiếu tổng kết thực tiễn, một số ít cán bộ học

để chạy theo phong trào, cốt để lấy được bằng cấp

Đội ngũ cán bộ còn thiếu đồng bộ, trình độ năng lực chưa ngan tầm sovới yêu cầu nhiệm vụ, nhất là lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý xã hội, phápluật Cán bộ có trình độ đại học trở lên trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản

lý chủ chốt từ tỉnh đến cơ sở chiếm tỷ lệ rất thấp

Công tác cán bộ:

Ưu điểm:

Trang 33

Việc đánh giá, bố trí đề bạt, sử dụng cán bộ được tiến hành dân chủ, tậpthể và khách quan, đúng quy trình Cơ cấu bố trí cán bộ có kết hợp các độtuổi, các loại cán bộ, các thế hệ cán bộ.

Công tác quy hoạch cán bộ được khá đồng bộ theo hướng tiêu chuẩnhóa và trẻ hóa đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ chủ chốt các cấp, chú trọng cả

số lượng và chất lượng Phương thức đào tạo được tiến hành bằng nhiều hìnhthức phong phú, đa dạng, việc thực hiện chính sách cán bộ từng bước đượcquan tâm hơn

Hạn chế:

Bố trí một số trường hợp còn nhiều biểu hiện chủ quan, chưa đáp ứngnhu cầu nhiệm vụ của tổ chức, còn xem nhẹ tiêu chuẩn, bị động chấp vá,phương thức sử dụng cán bộ còn thiếu chặt chẽ, khoa học, chưa quan tâmđúng mức đến việc đào tạo và đề bạt cán bộ trẻ

Thực hiện chính sách cán bộ còn những mặt chưa hợp lý, thiếu côngbằng, chưa nhất quán và đồng bộ, như: chính sách nhà ở, đất ở, nghỉ hưu,khen thưởng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ… từ đó chưa tạo động lực để pháthuy hết tài năng cán bộ, chưa khuyến khích, động viên cán bộ an tâm phấnkhởi công tác ở cơ sở

Công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn nhiều hạn chế, chưathật gắn với yêu cầu

Nguyên tắc Đảng lãnh đạo, quản lý công tác cán bộ và nguyên tắc tậptrung dân chủ từng lúc, từng nơi chưa nhận thức đầy đủ và thực hiện nhấtquán Công tác kiểm tra, quản lý cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ ở nhiều nơi bịbuôn lỏng Hệ thống làm công tác tổ chức cán bộ còn phân tán, chức năng,nhiệm vụ chưa rõ ràng, đơn giản, cơ sở vật chất còn yếu kém, chưa đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ đặt ra

1.2.2 Quá trình thực hiện công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của Đảng bộ tỉnh Cà Mau (1997 - 2001)

Trang 34

Xuất phát từ tình hình thực tế về đội ngũ cán bộ và và công tác cán bộ,yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

ở tỉnh Cà Mau việc xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ chủchốt cấp xã nhìn chung cần quán triệt yêu cầu, mục tiêu cơ bản sau đây:

Yêu cầu:

Các cấp ủy Đảng, các ngành phải nhất quán, vận dụng sáng tạo, linhhoạt các quan điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ được nêutrong nghị quyết trung ương 3 (khóa VIII) Quá trình triển khai, tổ chức thựchiện các quan điểm đó phải cụ thể hóa bằng chương trình, kế hoạch về côngtác xây dựng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của các cấp ủy Đảng

Nắm vững cán bộ trong thời kỳ mới được nêu trong chiến lược cán bộ.Trên cơ sở tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn của từng loại cán bộ, các cấp ủyĐảng cần xây dựng tiểu chuẩn chức danh cụ thể đối với từng đối tượng cán

bộ ở các cấp, các ngành

Mục tiêu:

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ

sở, đặc biệt là cán bộ chủ chốt cấp xã có đủ phẩm chất và năng lực, có bảnlĩnh chính trị vững vàng trên lập trường của giai cấp công nhân, đủ về sốlượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữacác thế hệ cán bộ nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, giữ vững độc lập tự chủ, đi lên chủ nghĩa xã hội

Xây dựng nguồn cán bộ dự bị cho mỗi chức danh có từ 2 đến 3 cán bộ

để kịp thời thay thế khi có yêu cầu, mỗi kì đại hội cần có sự đổi mới từ 30%trở lên số cán bộ lãnh đạo Đảng , nhà nước, đoàn thể và lực lượng vũ trang

Phấn đấu đến năm 2000 các bộ chủ chốt cấp xã phải tốt nghiệp phổthông trung học và có từ 10 đến 20 % có trình độ đại học Đặc biệt coi trọngđào tạo cán bộ theo chuyên ngành

Xây dựng quy hoạch cán bộ:

Trang 35

Quy hoạch cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị, xácđịnh rõ chức danh cán bộ cần quy hoạch, nguồn cán bộ đưa vào quy hoạch,thời gian quy hoạch (ngắn hạn, dài hạn) Đặc biệt chú trọng quy hoạch đầuvào và cả đầu ra của đội ngũ cán bộ.

Trước khi tiến hành quy hoạch cần soát xét, đánh giá đúng thực trạng

về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ để có kế hoạch tạo nguồn cán bộ đủtiêu chuẩn, kịp thời đáp ứng yêu cầu thay thế khi cần thiết, đặc biệt là tậptrung vào các chức danh cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể lực lượng

vũ trang, khoa học kinh tế từ tỉnh đến cơ sở

Mỗi cấp ủy Đảng, mỗi ngành cần quy hoạch cán bộ cho cấp mình,ngành mình Nguồn cán bộ quy hoạch gồm:

Cán bộ lãnh đạo quản lý, công chức hiện đang hoạt động trong các tổchức thuộc hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, có thành tích và triển vọng,tuổi đời không quá 45 đối với cấp tỉnh, không quá 40 đối với cấp huyện,thành phố và cơ sở

Quá trình quy hoạch cán bộ, các cấp ủy, các ngành cần theo dõi kiểmtra, tổng kết, điều chỉnh, bổ sung, nâng cao chất lượng công tác quy hoạchcán bộ

Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ:

Lấy tiêu chuẩn cán bộ làm căn cứ xây dựng nội dung, chương trình đàotạo, bồi dưỡng cán bộ Nội dung đào tạo phải thiết thực, phù hợp với yêu cầu,đối tượng từng loại cán bộ

Tranh thủ và kết hợp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ bằng nhiều hình thức,phù hợp với từng loại đối tượng đã quy hoạch, vừa tăng nhanh số lượng vừađảm bảo chất lượng, phải gắn với thực tiễn cuộc sống

Động viên, khuyến khích và bắt buộc cán bộ đảng viên phải tự học tập,

tự nghiên cứu và có kiểm tra, sát hạch định kỳ với từng loại cán bộ, có khenthưởng và kỷ luật thỏa đáng

Trang 36

Xây dựng các quy chế về công tác cán bộ:

Trong năm 1997, Tỉnh ủy Cà Mau đã giao cho Ban tổ chức tỉnh ủycùng Ban tuyên giáo, Ban dân vận, Ủy ban kiểm tra, Trường chính trị tỉnhnghiên cứu các quy chế của Bộ chính trị, các hướng dẫn của trung ương vàcăn cứ vào tình hình thực tế đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của tỉnh để xâydựng 10 quy chế về công tác cán bộ trình Tỉnh ủy quyết định ban hành, gồm:

1 Quy chế về đánh giá cán bộ

2 Quy chế về tuyển chọn cán bộ

3 Quy chế về bầu cử

4 Quy chế về bổ nhiệm và miễn nhiệm cán bộ

5 Quy chế về luân chuyển cán bộ

6 Quy chế về học tập

7 Quy chế về việc nhân dân tham gia xây dựng và giám sát cán bộ

8 Quy chế về chế độ kiểm tra

9 Quy chế về bảo vệ chính trị nội bộ

10 Quy chế về phân công, phân cấp quản lý cán bộ

Tỉnh ủy Cà Mau đã chủ trương đổi mới và hoàn thiện hệ thống chínhsách cán bộ:

Nhanh chóng xây dựng quỹ đào tạo cán bộ của tỉnh Nguồn lập quỹ đàotạo cán bộ từ ngân sách nhà nước cấp, từ kinh phí đảng, các đoàn thể, các doanhnghiệp nhà nước, động viên nguồn tài trợ tổ chức trong nước và quốc tế

Đầu tư thích đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng những người ưu tú cóthành tích trong công tác, lao động và học tập Chú trọng con em gia đìnhdiện chính sách, công nhân, nông dân trí thức, lực lượng vũ trang, cán bộ nữ,con em dân tộc, vùng căn cứ cánh mạng Áp dụng chính sách học bổng, miễngiảm học phí và khen thưởng kịp thời những học sinh, sinh viên hiếu học vượtkhó và học giỏi, đặc biệt khuyến khích đối với ngành sư phạm Có chính sách

Trang 37

khuyến khích, thu hút cán bộ có trình độ nghiệp vụ chuyên môn khoa học, kỹthuật về công tác tại tỉnh nhà.

Sớm thành lập Trường Cao Đẳng sư phạm, Trường trung học y tế vàchuẩn bị điều kiện để thành lập Trường đại học của tỉnh, Trường dân tộc nộitrú kết hợp với bổ túc văn hóa cho cán bộ

Các cấp ủy đảng, các ngành cần quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ thuộccấp mình quản lý, trên cơ sở đó mà bố trí, sử dụng tốt đội ngũ cán bộ nhằmphát huy hết khả năng của họ, đồng thời kỷ luật nghiêm minh những cán bộsai phạm; không bố trí, sử dụng những cán bộ không có năng lực

Triển khai và tổ chức tốt các chế độ chính sách của Trung ương banhành về công tác cán bộ Cải tiến và quy định lại những khoản trợ cấp cho cán

bộ khám chữa bệnh, cán bộ có hoàn cảnh khó khăn

Thực hiện chính sách về nhà ở, đất ở đối với diện chính sách và đối vớicán bộ đúng quy định, hợp lý, công bằng, phù hợp với khả năng và điều kiệncủa tỉnh

Nhiệm vụ công tác cán bộ từ năm 1997 đến năm 2001 là:

Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ Rà soát, sắp sếp, sử dụng tốt đội ngũcán bộ hiện có; khẩn trương quy hoạch đào tạo lại và bồi dưỡng, rèn luyện,sớm hình thành đội ngũ cán bộ kế cận có phẩm chất và năng lực, đủ tiêuchuẩn; chuẩn bị tốt nhân sự cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhândân các cấp nhiệm kỳ sau

Kiên quyết đưa ra khỏi cơ quan lãnh đạo, quản lý các cấp, các banngành, các đoàn thể những người vi phạm nghiệm trọng đường lối của Đảng,pháp luật của nhà nước, thoái hóa biến chất, cá nhân, bè phái gây mất đoànkết nội bộ, cục bộ, tham nhũng …

Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, mở rộng phạm vi, quy mô đàotạo và kết hợp tốt nội dung, chương trình, hình thức đào tạo phù hợp với từng

Trang 38

loại cán bộ Ban tuyên giáo tỉnh ủy, Trường chính trị tỉnh, kết hợp với cáchuyện, thành phố, các ban ngành có liên quan soạn thảo nội dung, chươngtrình để đào tạo, bồi dưỡng kiến thức toàn diện, thiết thực cho cán bộ chủ chốtcấp xã Đối với cán bộ còn hạn chế kiến thức, năng lực phải xem xét, sắp xếpsớm đưa đi đạo tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, trường hợp cần thiết thì

có thể điều chỉnh, phân công lại công tác cho thích hợp

Thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê và phê bình đối với cán bộ, trướchết các bộ lãnh đạo phải gương mẫu thực hiện tự phê và phê bình và phê bìnhnghiêm túc Cần có hình thức thích hợp để cán bộ, nhân dân nơi đơn vị cư trútham gia phê bình cán bộ Mọi hiện tượng trấn áp, trù dập người thẳng thắnđấu tranh, phê bình cũng như lợi dụng phê bình để đã kích cá nhân, vu cáo,gây rối, làm mất đoàn kết nội bộ… đều bị xử lý nghiêm

Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tệ tham nhũng, lãng phí, buôn lậu vàcác hiện tượng tiêu cực khác là việc làm cấp bách hiện nay Trước hết cần tậptrung vào các hành vi: tham ô, hối lộ, đòi hối lộ chiếm đoạt công quỹ, làmthất thoát tài sản nhà nước

Đẩy mạnh cải cách hành chính, đấu tranh chống tệ quan liêu, cữaquyền, sách nhiễu nhân dân, nâng cao hiệu lực và hiệu quả của bộ máy nhànước, bảo đảm và phát huy quyền tối đa giám sát của nhân dân đối với cán

bộ, công chức, viên chức của bộ máy nhà nước

Qua 5 năm xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Cà Mau đã

có sự chuyển biến tích cực, nhất là phát huy vai trò hạt nhân chính trị, lãnhđạo thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, phápluật của nhà nước, quán triệt quan điểm xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trọngtâm, xây dựng đảng là then chốt; quan tâm khối đại đoàn kết toàn dân, pháthuy quyền làm chủ của nhân dân Đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cấp xã đã nângcao một bước về trình độ năng lực, hiệu quả hoạt động được nâng lên, dânchủ cơ sở được phát huy, từng bước đổi mới về phương thức lãnh đạo Vai trò

Trang 39

của chính quyền cơ sở đã có chuyển biến tích cực trong việc triển khai thựchiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà nước, thực hiện

có kết quả mục tiêu kinh tế, xã hội Tổ chức bộ máy được xếp tinh gọn, chấtlượng hoạt động được nâng lên

Từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã có năng lực tổchức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của đảng, pháp luật của nhànước, công tâm, thạo việc, tận tụy với nhân dân, biết phát huy sức dân, khôngtham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ cán bộ, chăm lo công tác đàotạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở

H¹n chÕ:

Đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cấp xã còn nhiều mặt yếu kém, bất cập trongcông tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quần chúng Tìnhhình tham nhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vừa vi phạm quyền làm chủcủa nhân dân vừa không giữ đúng kỹ cương, phép nước xảy ra ở nhiều nơi

Đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cấp xã nhìn chung năng lực còn hụt hẫng sovới yêu cầu phát triển của xã hội; một số bộ phận cán bộ còn yếu kém về đạođức lối sống; trách nhiệm trước đảng, trước dân chưa cao Công tác đào tạo,quy hoạch và chính sách đối với cán bộ cơ sở chưa phù hợp và chưa đượcquan tâm thực hiện chưa tốt

Chính sách đối với cán bộ cơ sở chưa hợp lý, chậm nghiên cứu bổ sungđiều chỉnh; công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ cơ sở, chưa quan tâmđúng mức, chưa đáp ứng yêu cầu

Chương 2 CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CHỦ CHỐT CẤP XÃ CỦA ĐẢNG

BỘ TỈNH CÀ MAU NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI (2002 – 2007)

2.1 YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ

Ở CÀ MAU TRONG TÌNH HÌNH MỚI

2.1.1 Yêu cầu của tỉnh Cà Mau về đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã trong thời kì mới

Trang 40

Chịu sự tác động của tình hình chung cả nước, Tỉnh Cà Mau trongthời gian tới cần phải xác định cho được việc đổi mới công tác cán bộ ở cơ

sở là một việc làm hàng đầu hết sức cần thiết và phải thực hiện tốt nhữngvấn đề cơ bản sau đây:

Một là, đổi mới quan điểm đánh giá cán bộ: Đánh giá cán bộ phải

khách quan, công tâm, lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làm thước

đo phẩm chất và năng lực của cán bộ

Hai là, việc lựa chọn, bố trí, sử dụng cán bộ phải xuất phát từ lợi ích

chung của cách mạng; từ chính sách cán bộ thống nhất của Đảng; từ nhucầu công tác và tính chất, nhiệm vụ của từng tổ chức; từ phẩm chất vànăng lực của từng người Tuyển chọn cán bộ phải căn cứ vào tình hình thựctế và đòi hỏi bức xúc của từng địa phương Cán bộ được tuyển chọn phảihội đủ cả đức lẫn tài

Phải từ lợi ích chung của cách mạng, từ chính sách cán bộthống nhất của Đảng mà lựa chọn cán bộ một cách công minh.Mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, đầu óc địa vị, tư lợi, chủnghĩa địa phương, chủ nghĩa cục bộ và bệnh quan liêu trong côngtác cán bộ đều gây ra những hậu quả xấu đối với việc thực hiệnnhiệm vụ chính trị và sự đoàn kết trong đảng [18, tr.133]

Ba là, đổi mới đội ngũ cán bộ bao hàm ý nghĩa trẻ hóa Trên cơ sở

bảo đảm tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực, công tác lựa chọn cán bộcần tăng thêm những cán bộ trẻ trong các cơ quan lãnh đạo và quản lý ởtất cả các ngành, các cấp nhằm tăng cường sức chiến đấu, tính năng độngcủa đội ngũ cán bộ, bảo đảm tính kế thừa liên tục ở các cơ quan lãnh đạocủa Đảng và Nhà nước

Bốn là, lựa chọn, chuẩn bị đôïi ngũ cán bộ kế tục là nhiệm vụ thường

xuyên của các tổ chức đảng và phải được tiến hành theo quy hoạch

Ngày đăng: 04/05/2014, 11:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Chính phủ (1975), Nghị định số 130/CP, ngày 20/6 về bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 130/CP, ngày 20/6 về bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1975
5. Chính phủ (2003), Nghị định số 114/2003/NĐ-CP, ngày 10/10 về cán bộ công chức xã, phường, thị trấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 114/2003/NĐ-CP, ngày 10/10 về cán bộ công chức xã, phường, thị trấn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
6. Chính phủ (2003), Nghị định số 121/2003/NĐ-CP, ngày 21/10 về chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã phường, thị trấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 121/2003/NĐ-CP, ngày 21/10 về chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã phường, thị trấn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Văn kiện Hội nghị lần thứ III Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ III Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1992
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ III, BCHTW Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ III, BCHTW Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 25/01 của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 25/01 của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5, BCHTW khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5, BCHTW khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
30. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Báo cáo kiểm điểm việc thực hiện công tác tổ chức và cán bộ theo 3 Nghị quyết của BCHTW (Nghị quyết TW3 khóa 7; Nghị quyết TW3 và Nghị quyết TW7 khóa VIII) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kiểm điểm việc thực hiện công tác tổ chức và cán bộ theo 3 Nghị quyết của BCHTW (Nghị quyết TW3 khóa 7; Nghị quyết TW3 và Nghị quyết TW7 khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
31. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 30/11 của BCT về công tác qui hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 30/11 của BCT về công tác qui hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2004
35. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2004), Hướng dẫn số 64- HD/BTC về thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 của BCHTW Đoàn khóa III về “công tác cán bộ Đoàn trong thời kỳ mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn số 64-HD/BTC về thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 của BCHTW Đoàn khóa III về “công tác cán bộ Đoàn trong thời kỳ mới
Tác giả: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Năm: 2004
36. Nguyễn Duy Hùng (2008), Luận cứ khoa học và một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học và một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường hiện nay
Tác giả: Nguyễn Duy Hùng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
37. V.I.Lênin (1974), Toàn tập, tập 4, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1974
38. V.I.Lênin (1975), Toàn tập, tập 5, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1975

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w