MỤC LỤCTrangMỞ ĐẦU1Chương 1: CƠ SỞ Lí LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG XẫT XỬ ÁN HèNH SỰ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN 81.1. Khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án h́nh sự của Ṭa án nhân dân 81.2. Vai tṛ của áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án h́nh sự của Ṭa án nhân dân 241.3. Các giai đoạn của áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án h́nh sự của Ṭa án nhân dân 261.4. Nội dung của áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án h́nh sự của Ṭa án nhân dân 311.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án h́nh sự của Ṭa án nhân dân 50Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG XẫT XỬ ÁN HèNH SỰ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI 542.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên - xă hội và cơ cấu tổ chức của Ṭa án nhân dân tỉnh Lào Cai542.2. Kết quả áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án h́nh sự của Ṭa án nhân dân tỉnh Lào Cai602.3. Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong hoạt động xét xử án h́nh sự của Ṭa án nhân dân tỉnh Lào Cai672.4. Phương hướng, giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án h́nh sự của Ṭa án nhân dân tỉnh Lào Cai76KẾT LUẬN98DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO101
Trang 1hµ néi - 2009
Trang 2Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG
HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ CỦA TOÀ ÁN
1.1 Khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật trong hoạt động xét
1.2 Vai trò của áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự
1.3 Các giai đoạn của áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án
1.4 Nội dung của áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng pháp luật trong hoạt động xét
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP
BẢO ĐẢM ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ CỦA TOÀ ÁN NHÂN
2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên - xã hội và cơ cấu tổ chức của Tòa
2.2 Kết quả áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của
2.3 Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong hoạt động xét
xử án hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai 672.4 Phương hướng, giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật trong hoạt
động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai 76
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng Nhà nước theo định hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của dân, do dân, vì dân là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước cộngḥòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Chủ trương xây dựngNhà nước pháp quyền của Đảng lần đầu tiên được đề cập tới tại Nghị quyếtHội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII và được ghi nhận chính thức tạiđại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Chủ trương này được Nhà nước thể chếhóa tại điều 2, Hiến pháp năm 1992:
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhândân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng làliên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũtrí thức, quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phốihợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lậppháp, hành pháp và tư pháp [37]
Trong Nhà nước pháp quyền, tư pháp có vai trò đặc biệt quan trọngđảm bảo cho các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đượcthực hiện đầy đủ, toàn diện Vì vậy, kiện toàn và nâng cao chất lượng, hiệuquả hoạt động của hoạt động tư pháp nói chung và của ngành Tòa án đượcNhà nước đặc biệt quan tâm
Trong nền tư pháp Việt Nam, Tòa án được xác định là trụ cột, hoạtđộng của Tòa án là nơi thể hiện rõ nhất chất lượng hoạt động và uy tín của hệthống cơ quan tư pháp nói chung và quyền lực nhà nước nói riêng Để cảicách, nâng cao chất lượng hoạt động của Tòa án, trong đó trọng tâm là hoạtđộng xét xử là khâu đột phá của quá trình cải cách tư pháp nước nhà trongtiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Vì vậy, cải cách
Trang 4tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan Tư pháp trong đó cóngành Tòa án là một đ ̣òi hỏi có tính cấp bách của Đảng và Nhà nước ta tronggiai đoạn hiện nay.
Nghị quyết 08 - NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị về “Một số
nhiệm vụ trọng tâm của công tác Tư pháp trong thời gian tới” đã nhận định:
"Chất lượng công tác tư pháp nhìn chung chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội; vi phạm các quyền tự do, dân chủ công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và các cơ quan Tư pháp" [5].
Nghị quyết 49 - NQ/ TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến
lược cải cách Tư pháp đến năm 2020, xác định mục tiêu chiến lược là: "Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công
lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao" [6].
Hoạt động xét xử của Toà án thực chất là hoạt động áp dụng pháp luật.Các quyết định và bản án của Toà án đều phải dựa vào Hiến pháp và Luật củaQuốc hội, vì đó là những hoạt động áp dụng pháp luật Hoạt động áp dụngpháp luật nói chung và áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án Hình sựcủa ngành Toà án nói riêng là nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên của ngànhToà án Hoạt động xét xử có hiệu quả và đúng pháp luật vừa là nhiệm vụ, vừa
là trách nhiệm, vừa là đạo đức của người cán bộ Toà án nói chung và củangười Thẩm phán nói riêng
Những năm vừa qua, tình hình tội phạm trên cả nước nói chung và tỉnhLào Cai nói riêng có nhiều diễn biến phức tạp, tính chất mức độ và hậu quảcủa tội phạm ngày càng nghiêm trọng, hành vi phạm tội ngày càng tinh vi xảoquyệt hơn Quá trình áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự củaToà án nhân dân tỉnh Lào Cai đã đạt được nhiều kết quả khả quan, góp phầnquan trọng vào việc giữ gìn an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương;
Trang 5bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức vàcông dân trên địa bàn tỉnh Lào Cai Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luậttrong hoạt động xét xử của ngành Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai vẫn còn cónhững hạn chế nhất định Tình trạng các bản án, quyết định của ngành Toà ánnhân dân tỉnh Lào Cai vẫn còn có những sai sót bị cấp phúc thẩm, giám đốcsửa án, huỷ án, nên đã phần nào ảnh hưởng đến uy tín của ngành Toà án, ảnhhưởng đến nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Trước tình hình đó đã đặt ranhững yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài để không ngừng nâng cao chất lượngxét xử trong quá trình thực hiện cải cách tư pháp theo định hướng xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.
Từ thực trạng áp dụng pháp luật như trên, bản thân tác giả cũng là mộtcông chức hiện đang công tác tại ngành Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai,mong muốn được đóng góp tiếng nói và suy nghĩ của mình vào việc tìm ranhững nguyên nhân dẫn đến những sai sót trong các bản án, quyết định, đềxuất những giải pháp dưới góc độ lý luận chung góp phần hạn chế nhữngsai sót về áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Toà án
nhân dân cấp tỉnh Vì vậy, em chọn đề tài: Áp dụng pháp luật trong xét xử
án hình sự của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai làm đề tài luận văn thạc sỹ
của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp luật trong hoạt độngxét xử án hình sự luôn là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học
và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị được công bố kết quảnghiên cứu về vấn đề áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự của Tòa ánnhân dân Những công trình đó đã góp phần rất quan trọng trong việc nângcao chất lượng xét xử của cơ quan Tòa án, nhất là trong giai đoạn thực hiệncải cách tư pháp theo chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam Đó là cáccông trình:
Trang 6- Luận án tiến sỹ của tác giả Lê Xuân Thân: Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án Hình sự của Toà án nhân dân ở Việt nam hiện nay, năm 2004.
- Luận án tiến sỹ của tác giả Tô Văn Hòa: Tính độc lập của Tòa án,
- Bài viết của tác giả Phạm Công Bày về: Áp dụng một số quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự trong giải quyết các vụ án Lao động" Tạp chí Toà án
nhân dân số 14 tháng 7/2005
Trang 7- Bài viết của tác giả Vũ Hồng Thêm: Bàn về áp dụng một số tình tiết định khung tăng nặng trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác Tạp chí Toà án số 13 tháng 7/2005
- Bài viết của tác giả Vũ Thành Long: Về áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp Tạp chí Toà án nhân dân số 20 tháng 10/2006.
- Bài viết của tác giả Chu Thị Vân Trang về: Vai trò sáng tạo của Tòa án trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự Tạp chí Lập pháp số 27 tháng 9/2007.
- Bài viết của tác giả Nguyễn Đình Huề về: Áp dụng tình tiết tăng nặng định khung giết trẻ em theo điểm c khoản 1 điều 93 Bộ luật hình sự Tạp chí
Toà án nhân dân số 13 tháng 7 năm 2008
- Bài viết của Nguyễn Đăng Khuê về: Thực tiễn áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và những vướng mắc Tạp chí Toà án nhân dân số 22 tháng 11
năm 2008
Những công trình và bài viết trên tuy đã nghiên cứu việc áp dụng phápluật trong xét xử nói chung và đề xuất những giải pháp khoa học nhằm bảođảm chất lượng áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự nói riêng Một sốtỉnh như Thái Nguyên, Ninh Bình đã đưa ra một số giải pháp bảo đảm chấtlượng áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự, nhưng do mỗi địa phương cónhững đặc thù khác nhau nên ngoài những giải pháp chung, Toà án nhân dântỉnh Lào Cai vẫn cần có những giải pháp riêng để bảo đảm chất lượng ápdụng pháp luật trong xét xử của ngành Toà án ngày càng được nâng cao
Kế thừa và phát huy các kết quả nghiên cứu nêu trên, tác giả mạnhdạn tiếp cận vấn đề áp dụng pháp luật dưới góc độ lý luận chung về nhà nước
và pháp luật để nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân tỉnhLào Cai, với mong muốn tìm ra giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật của Tòa
án nhân dân trong công tác xét xử các vụ án nói chung và trong xét xử án hình
sự nói riêng
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Trang 83.1 Mục đích của luận văn
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạtđộng xét xử các vụ án hình sự của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai, nêu ranhững phương hướng, giải pháp nhằm góp phần bảo đảm áp dụng pháp luậttrong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai đượccông bằng, khách quan và chính xác
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Một là: Phân tích khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật, các giai
đoạn áp dụng pháp luật và các yếu tố bảo đảm áp dụng pháp luật trong xét xửcác vụ án hình sự
Hai là: Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự
của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai trong thời gian vừa qua Làm rõ những ưuđiểm, tồn tại và những nguyên nhân của ưu điểm, tồn tại của áp dụng phápluật trong xét xử án hình sự của Ṭòa án nhân dân tỉnh Lào Cai
Ba là: Đề xuất phương hướng, giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật
trong hoạt động xét xử án Hình sự của ngành Tòa án nhân dân tỉnh Lào Caiđáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo chủ trương của Đảng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu việc áp dụng pháp luật tronghoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh ở tỉnh Lào Cai
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Nghiên cứu hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử
án hình sự của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai (ở cả cấp tỉnh và cấp huyện, baogồm xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm )
+ Về thời gian:Trong khoảng thời gian năm từ 2004 đến tháng 9/2009
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Trang 9Luận văn được thực hiện trên cơ sở của lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
-về Nhà nước và Pháp luật, -về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, dodân, vì dân; các quan điểm của Đảng và nhà nước về tăng cường pháp chếtrong đấu tranh phòng và chống các tội phạm về hình sự, đặc biệt là quanđiểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 và Nghị quyết 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của BộChính trị
5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử củaTriết học Mác – Lênin, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp: phươngpháp phân tích - tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh… để làm rõ thựctrạng áp dụng pháp luật và đề xuất những giải pháp phù hợp để bảo đảm việc
áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự đạt hiệu quả
6 Những đóng góp khoa học của luận văn :
- Luận văn hệ thống hoá, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về áp dụngpháp luật trong trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự của Tòa án nhândân nói chung và của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai nói riêng Đề xuất một sốphương hướng, giải pháp cụ thể bảo đảm áp dụng pháp luật trong giải quyết ánhình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp vàxây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
7 Ý nghĩa của luận văn
- Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng
tỏ lý luận về áp dụng pháp luật, nâng cao nhận thức của những người trực tiếplàm công tác xét xử án hình sự của Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai Đồng thờilàm phong phú thêm cơ sở khoa học về áp dụng pháp luật trong hoạt động xét
xử án hình sự đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải cách Tư pháp
- Về mặt thực tiễn: Đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao
trình độ lý luận của bản thân để áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn công tác;
Trang 10là tài liệu tham khảo có giá trị nhất định trong việc nghiên cứu giảng dạy Lýluận chung về Nhà nước và Pháp luật và các cán bộ làm công tác áp dụngpháp luật của Tòa án nhân dân Tạo cơ sở cho việc thống nhất trong nhận thức
về áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án hình sự đạt hiệu quả Tòa ánnhân dân cấp tỉnh có thể khai thác những nghiên cứu của Luận văn về giảipháp áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn được chia thành 2 chương, 9 tiết
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG
XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN
1.1.1 Khái quát chung về áp dụng pháp luật
* Khái niệm
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, pháp luật là hệ thống cácquy tắc xử sự chung (quy phạm pháp luật) do nhà nước ban hành hoặc thừanhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, được nhà nước bảo đảm thực hiện,
kể cả bằng biện pháp cưỡng chế để điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật
tự xã hội có lợi cho giai cấp thống trị
Các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành cần thực hiện trongcuộc sống thì chúng mới có ý nghĩa Mục đích của việc ban hành các vănbản quy phạm pháp luật chỉ có thể đạt được khi các quy phạm pháp luật
do nhà nước đặt ra được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiệnmột cách chính xác, đầy đủ Để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, ngoàicác yếu tố như sự phù hợp của hệ thống quy phạm pháp luật với các điềukiện kinh tế, lịch sử, trình độ phát triển của xã hội, nhà nước còn phải
Trang 11quan tâm đến các hoạt động tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật mộtcách nghiêm minh Bởi lẽ, muốn quản lý đất nước bằng pháp luật đòi hỏiNhà nước phải ban hành pháp luật Nếu pháp luật ban hành nhiều nhưng ít
đi vào cuộc sống, hiệu quả điều chỉnh của pháp luật không cao chứng tỏrằng quản lý nhà nước kém hiệu quả Vì vậy, xây dựng pháp luật, thựchiện pháp luật và áp dụng đúng pháp luật là đòi hỏi khách quan của việcquản lý Nhà nước, tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyềnViệt Nam
Để làm rõ khái niệm áp dụng pháp luật cần làm rõ một số khái niệm cóliên quan, cụ thể như sau:
Thực hiện pháp luật: là hành vi xử sự của con người được tiến hành phù
hợp với yêu cầu của các quy phạm pháp luật Đó là những hành vi không trái,không vượt quá phạm vi các quy định của pháp luật Hành vi xử sự của conngười trong hoạt động thực hiện pháp luật có hai tính chất
- Thứ nhất, nó mang tính xã hội
- Thứ hai, nó mang tính pháp lý
Vì vậy, thực hiện pháp luật bao hàm các hành vi (hành động hay khônghành động) của các cá nhân, các tổ chức phù hợp với các quy định của phápluật Khoa học pháp lý gọi đó là những hành vi hợp pháp Nói khác đi, tất cảnhững hoạt động nào của con người, của các tổ chức mà thực hiện phù hợpvới các quy định của pháp luật thì đều được coi là biểu hiện của việc thựchiện các quy phạm pháp luật
Thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi cá nhân, nhưng cũng cóthể là hoạt động của cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinhtế…"Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho nhữngquy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp
lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật"
* Các hình thức thực hiện pháp luật
Trang 12Các quy phạm pháp luật rất đa dạng, phong phú cho nên hình thức thựchiện pháp luật cũng rất đa dạng, phong phú Căn cứ vào tính chất của các hoạtđộng thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã xác định có bốn hình thức thựchiện pháp luật sau:
- Tuân thủ pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các
chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luậtngăn cấm Việc các chủ thể pháp luật tự kiềm chế là những xử sự thụ động, tựghép mình vàp tập thể, vào xã hội, đặt lợi ích quốc gia, lợi ích tập thể, lợi íchcộng đồng lên trên lợi ích cá nhân, lợi ích của bộ phận cục bộ Pháp luật quyđịnh mọi tổ chức và công dân không được thực hiện những hành vi nguyhiểm cho xã hội, không được xâm phạm đến quyền và nghĩa vụ hợp pháp củangười khác Đó là việc pháp luật cấm Đồng thời vì lợi ích chung, tuỳ theotình hình, hoàn cảnh cụ thể mà pháp luật bắt buộc mọi tổ chức và công dânphải làm một việc nào đó
- Chấp hành pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong
đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình với hành động tích cực.Hoạt động chấp hành pháp luật là cơ sở pháp lý để đánh giá công trạng, thànhtích và danh dự, phẩm giá tốt đẹp của công dân, tổ chức cũng như của cán bộcông chức nhà nước
- Sử dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó,
các chủ thể pháp luật sử dụng các quyền năng pháp lý để bảo vệ các quyền vàlợi ích hợp pháp của mình Song nếu các chủ thể không sử dụng quyền củamình thì pháp luật cũng không bắt buộc Nói cách khác, các quyền chủ thểđược pháp luật cho phép thực hiện theo ý chí của chủ thể chứ không bị bắtbuộc phải thực hiện
- Áp dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà
nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ công chức có thẩm quyền
tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mìnhcăn cứ vào những quy định của pháp luật ra các quyết định làm phát sinh,
Trang 13chấm dứt hay thay đổi những quan hệ pháp luật cụ thể Trong truờng hợp này,các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật có sự can thiệp củaNhà nước.
Trong bốn hình thức thực hiện pháp luật nêu trên thì hình thức áp dụngpháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Áp dụng pháp luật vừa là hình thứcthực hiện pháp luật diễn ra trong hoạt động thực hiện quyền hành pháp vàthực hiện quyền tư pháp của Nhà nước Đây là hoạt động thực hiện pháp luậtcủa cơ quan nhà nước, được xem như để bảo đảm đặc thù của Nhà nước chocác quy phạm pháp luật được thực hiện một cách hiệu quả trong đời sống xãhội Bởi lẽ, tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật và sử dụng pháp luật lànhững hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụngpháp luật lại luôn luôn phải có sự tham gia của cơ quan Nhà nước thông quacác cơ quan hoặc nhà chức trách có thẩm quyền
* Đặc điểm của áp dụng pháp luật
Pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội, vào cuộc sống đạt hiệu quảcao nhất chỉ khi tất cả những quy định của nó đều được thực hiện chính xác,triệt để Nhưng nếu chỉ tuân theo các hình thức Tuân theo pháp luật, Thi hànhpháp luật và Sử dụng pháp luật thì sẽ có rất nhiều quy phạm pháp luật khôngđược thực hiện Lý do có thể là do các chủ thể không muốn thực hiện hoặckhông đủ khả năng tự thực hiện nếu thiếu sự tham gia của cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền Do đó, hoạt động áp dụng pháp luật cần phải được tiến hànhtrong những trường hợp sau:
Theo quy định của pháp luật thì các trường hợp áp dụng pháp luật gồm có:
- Khi cần áp dụng biện pháp cưỡng chế Nhà nước hoặc áp dụng các chếtài pháp luật đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luât Ví dụ, mộtchủ thể thực hiện hành vi phạm tội thì không phải ngay sau đó việc áp dụngtrách nhiệm hình sự tự động phát sinh và người vi phạm tự nguyện chấp hànhhình phạt tương ứng Trong trường hợp này cần có hoạt động của các cơ quantiến hành tố tụng nhằm điều tra, truy tố, xét xử, ra bản án để quyết định trách
Trang 14nhiệm hình sự và các biện pháp tư pháp khác đối với người phạm tội và buộcngười đó phải chấp hành bản án của Toà án.
- Khi những quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiênphát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước Ví dụ,điều 57 của Hiến pháp 1992 quy định, công dân có quyền tự do kinh doanhnhưng quyền này chỉ phát sinh khi công dân làm thủ tục đãng ký kinh doanh
và được một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đãng kýkinh doanh và quyền đó sẽ bị chấm dứt nếu người đó không tuân thủ các quyđịnh của pháp luật
- Khi sảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa cácbên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên đó không thể tự mình giải quyếtđược Trường hợp này quan hệ pháp luật đã phát sinh, nhưng quyền và nghĩa
vụ của các bên không được thực hiện và có sự tranh chấp Ví dụ, kiện đòi bồithưòng thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm; tranh chấp Hợp đồng chuyểnnhượng quyền sử dụng đất…
Áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan Nhànước, nó vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, vừa là cách thức Nhà nước
tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật
Do đó, áp dụng pháp luật có những đặc điểm sau:
Một là, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện
Trang 15Nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật thực hiện chức năng, nhiệm vụ vàquyền hạn của mình
Áp dụng pháp luật là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước.Trong nhiều trường hợp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành áp dụngpháp luật theo ý chí đơn phương, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị ápdụng Sự áp dụng này có tính chất bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và cácchủ thể có liên quan và được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước Như vậy, so với các hình thức thực hiện pháp luật khác, áp dụng pháp luậtchỉ do những cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành.Ngoài ra trong một số trường hợp cá biệt, pháp luật trao cho các tổ chức
xã hội thẩm quyền áp dụng pháp luật
Hai là, áp dụng pháp luật là hoạt động phải tiến hành theo các thủ tục
chặt chẽ do pháp luật quy định Do tính chất quan trọng và phức tạp của ápdụng pháp luật, chủ thể bị áp dụng pháp luật có thể được hưởng những lợi íchrất lớn nhưng có thể cũng có thể phải chịu những hậu quả bất lợi rất nghiêmtrọng nên trong pháp luật luôn có sự xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình
tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trình áp dụng phápluật Ví dụ: để giải quyết một vụ án hình sự phải được tiến hành theo nhữngquy định của pháp luật Tố tụng hình sự và pháp luật có liên quan như phápluật Dân sự, pháp luật Hành chính (nếu có liên quan) Các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền và các bên có liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật phảituân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính chất thủ tục đó, để tránh những sựtùy tiện có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng, không chính xác
Ba là, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh có tính chất cá biệt, cụ
thể đối với quan hệ xã hội nhất định Đối tượng của hoạt động áp dụng phápluật là những quan hệ xã hội cần đến sự điều chỉnh cá biệt, bổ sung trên cơ sởnhững mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật Bằng hoạt động áp dụngpháp luật, những quy phạm pháp luật nhất định được cá biệt hóa một cách cụthể và chính xác
Trang 16Bốn là, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo Bởi vì, áp
dụng pháp luật là quá trình vận dụng cái chung (các quy phạm pháp luật) đểgiải quyết các vụ việc cụ thể Điều này đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền áp dụngpháp luật phải vận dụng cái chung phù hợp với cái riêng phong phú, đa dạng
và phức tạp Khi áp dụng pháp luật các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phảinghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ đólựa chọn quy phạm áp dụng, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành.Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ ràng thìphải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách áp dụng pháp luật tương tự Đểđạt tới điều đó đòi hỏi các những người áp dụng pháp luật phải có ý thức phápluật cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm cuộc sống phong phú, có đạođức trong sáng và có trình độ chuyên môn cao
Kết quả của hoạt động áp dụng pháp luật chủ yếu được thể hiện bằng vănbản áp dụng pháp luật Hình thức thể hiện chính thức và chủ yếu của của hoạtđộng áp dụng pháp luật là văn bản áp dụng pháp luật Văn bản này có các đặcđiểm sau: chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức xã hội đượcnhà nước trao quyền mới có quyền ban hành và được bảo đảm bằng sự cưỡngchế nhà nước; văn bản áp dụng pháp luật chỉ đích danh tên các cá nhân tổchức cụ thể trong trường hợp xác định và chỉ áp dụng một lần; văn bản ápdụng pháp luật phải căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật và phải phù hợpvới chúng Nếu không văn bản áp dụng pháp luật sẽ bị huỷ bỏ Văn bản ápdụng pháp luật thường thể hiện dưới dạng bản án, quyết định lệnh
1.1.2 Khái niệm áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự
Theo từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản từ điển bách khoa, xét xử làviệc” xét xem phải trái để phán xử” [66, tr.1256] Theo từ điển Luật học năm
1999, xét xử là “ hoạt động đặc trưng, là chức năng nhiệm vụ của Tòa án Tòa
án là cơ quan duy nhất được đảm nhận chức năng xét xử" [67]
Theo Hiến pháp năm 1992, được sửa đổi bổ sung năm 2001 và Luật tổchức Tòa án nhân dân năm 2002 khẳng định: “ Tòa án nhân dân tối cao, các
Trang 17Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Tòa án khác theo luậtđịnh là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[35]; Điều 1, Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002; Điều 72 của Hiến phápnăm 1992 (được cụ thể hoá ở điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003)khẳng định: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản
án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật"[ 36, 37] Như vậy, ngoài cơquan Tòa án không có một cơ quan nào có chức năng xét xử
Do vậy, Tòa án là cơ quan xét xử duy nhất của nước cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam, là nơi biểu hiện tập trung của quyền tư pháp, nơi mà cáckết quả hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa, giám định được xem xét mộtcách công khai theo những thủ tục tố tụng chặt chẽ, nhằm đưa ra phán xétmang tính quyền lực Nhà nước Toà án là nơi thể hiện đầy đủ nền công lý, thểhiện chất lượng và uy tín của Toàn bộ hệ thống tư pháp nước ta
Hoạt động xét xử của Toà án là hoạt động nhân danh quyền lực Nhànước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhằm xem xét đánh giá và ra phánquyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi pháp luật hay quyết địnhpháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhautrong các tranh chấp hay mâu thuẫn đó Hoạt động xét xử của Tòa án nhândân là hoạt động trọng tâm và chủ yếu của hoạt động tư pháp, vì hoạt độngxét xử là hoạt động duy trì và bảo vệ pháp luật Theo quy định của Bộ luật tốtụng hình sự thì xét xử được chia thành xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm.Trong đó nguyên tắc xét xử theo hai cấp sơ thẩm và xét xử phúc thẩm đượcthực hiện triệt để và thống nhất Căn cứ vào các bước tiến hành tiến hành tốtụng và thời hạn thì xét xử hình sự được chia thành hai loại là xét xử rút gọn
và xét xử theo thủ tục đầy đủ
Quá trình xét xử án hình sự, để tuyên bố một người có tội và phải chịutrách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nhất định phải thông quahoạt động xét xử của Tòa án Một người bị coi là có tội chỉ khi người đó bịTòa án xét xử bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật Hoạt động xét xử của
Trang 18Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các giai đoạn áp dụng pháp luật theo quyđịnh của bộ luật tố tụng hình sự, cụ thể như thụ lý hồ sơ; áp dụng, thay đổi hoặchủy bỏ biện pháp ngăn chặn; nghiên cứu hồ sơ để chuẩn bị xét xử; quyết địnhđưa vụ án ra xét xử; giao các quyết định của Tòa án; triệu tập những người cầnxét hỏi đến phiên tòa; tổ chức mở phiên tòa; điều khiển việc xét hỏi, tranh luận;tiến hành nghị án và ra các quyết định, bản án của Tòa án Quá trình xét xử phảituân thủ các nguyên tắc: khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độclập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trướcpháp luật; nguyên tắc xét xử công khai; nguyên tắc xét xử tập thể và quyết địnhtheo đa số v.v chỉ có thông qua hoạt động xét xử, Tòa án mới được ra nhữngbản án, quyết định tuyên bố một người có tội hoặc không có tội và áp dụng biệnpháp trừng trị hay khôi phục quyền lợi cho họ theo quy định của pháp luật Đồngthời bảo vệ lợi ích hợp pháp và chính đáng của Nhà nước, lợi ích của tập thể, cánhân và các tổ chức theo quy định của pháp luật
Hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự là một quá trìnhphức tạp, yêu cầu phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật hình sự,
Bộ luật tố tụng hình sự, các Bộ luật và văn bản khác có liên quan Đó chính là
cơ sở để Tòa án đi đến một quyết định xác định một người phạm tội haykhông phạm tội; nếu phạm tội thì tội phạm cụ thể là tội gì và mức hình phạtnhư thế nào, áp dụng các quy phạm pháp luật nào để quyết định hình phạt đốivới người phạm tội Trong quá trình xét xử phải đảm bảo các nguyên tắc xét
xử độc lập, khách quan, công bằng, chính xác Bản án phải có tính thuyếtphục để cải tạo giáo dục người phạm tội và răn đe, phòng ngừa chung
Như vậy, áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa
án nhân dân là một hoạt động đặc biệt và quan trọng của hình thức áp dụngpháp luật nói chung Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự có thể được
quan niệm như sau: Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước của cơ quan Tòa án thông qua Hội đồng xét xử là những người được Nhà nước trao quyền
Trang 19tuân thủ những quy định của pháp luật Hình sự và pháp luật Tố tụng hình sự
về trình tự, thủ tục để xem xét, đánh giá các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử Trên cơ sở đó lựa chọn các quy phạm pháp luật phù hợp để ban hành các bản án, quyết định tuyên bố một người có tội và phải chịu hình phạt tù cùng các biện pháp tư pháp khác; hoặc tuyên bố một người không bị coi là có tội và áp dụng các biện pháp để khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp cho người đó theo quy định của pháp luật.
1.1.3 Đặc điểm của áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân
Hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự của Tòa án nhândân là một hình thức cụ thể của áp dụng pháp luật Khi thực hiện việc áp dụngpháp luật, các chủ thể áp dụng pháp luật đều phải tuân thủ những nguyên tắccủa pháp luật hình sự và thực hiện các giai đoạn áp dụng pháp luật theo quyđịnh của Bộ luật tố tụng hình sự Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự
có nhiều điểm tương tự với việc áp dụng pháp luật trong việc xét xử các loại
vụ án khác Đó là, đều được tiến hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền làTòa án nhân danh quyền lực nhà nước để giải quyết các vụ, việc theo quyđịnh của pháp luật Bên cạnh đó áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sựcũng có một số đặc điểm riêng biệt.Trong luận văn này, em xin nêu một sốđặc điểm cơ bản của áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự như sau:
Thứ nhất, áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự là hoạt
động nhân danh quyền lực nhà nước do Tòa án nhân dân tiến hành mà trực tiếp là Hội đồng xét xử
Điều 127 Hiến pháp năm 1992 quy định “Tòa án nhân dân tối cao, Tòa
án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định
là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [36].
Quá trình giải quyết vụ án hình sự bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau và donhiều cơ quan nhà nước tiến hành (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hànhán), trong đó hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án là một khâu đặc biệt
Trang 20quan trọng thể hiện kết quả tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan điềutra, Viện kiểm sát Tòa án là cơ quan ra phán quyết cuối cùng để xác định tộiphạm và hình phạt và các biện pháp tư pháp khác theo quy định của pháp luật.Hiến pháp năm 1992, được sửa đổi năm 2001 quy định: Tòa án là cơquan duy nhất có thẩm quyền xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam Ở đây, yếu tố nhân danh quyền lực nhà nước nghĩa là, xét xửkhông phải là hoạt động của cá nhân công dân, cũng không phải hoạt động xãhội hay nghiệp đoàn Do đó, khi cần thiết phán quyết của cơ quan nhân danhNhà nước được đảm bảo thi hành bởi sự cưỡng chế hợp pháp của Nhà nước.Xem xét, đánh giá và ra phán quyết là những yếu tố đặc trưng của hoạt độngxét xử Do đó, có thể gọi hoạt động tư pháp là hoạt động xét xử chứ khôngphải là sự phán quyết của một cấp quản lý này đối với cấp quản lý khác
Hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án là một giai đoạn tố tụng độclập Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu mà cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đãthu thập được và kết quả điều tra công khai tại phiên tòa để ra một văn bản ápdụng pháp luật khách quan, chính xác và đúng pháp luật nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của công dân
Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự, Tòa án phải bảo đảm tuânthủ các nguyên tắc cơ bản theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự như:Nguyên tắc xét xử công khai; nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọicông dân trước pháp luật; nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩmnhân dân tham gia; nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dânđộc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Nguyên tắc hai cấp xét xử; nguyên tắc bảođảm quyền bào chữa của bị cáo; nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyếtđịnh theo đa số; nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tốtụng hoặc người tham gia tố tụng nhằm bảo đảm sự công bằng vô tư, kháchquan trong việc ban hành các văn bản áp dụng pháp luật
Để thực hiện được việc nhân danh quyền lực nhà nước khi xét xử án hình
sự, Luật tổ chức Toà án nhân dân đã quy định: "Chánh án Tòa án nhân dân tối
Trang 21cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước"[36, tr.27]; "Phó chánh án và các Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do chủtịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức" [36, tr27]; "các Chánh án, Phóchánh án, Thẩm phán Tòa án nhân dân địa phương do Chánh án Tòa án nhândân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức "[36, tr27-28].
Để đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động xét xử của Tòa án, pháp luậtcòn quy định Tòa án phải thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia Hộithẩm nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra
để tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án Hội thẩm nhân dân cùng vớiThẩm phán là những người được Nhân danh Nhà nước tiến hành hoạt độngxét xử nói chung và hoạt động xét xử án hình sự nói riêng và đưa ra phánquyết cuối cùng của Tòa án Pháp luật quy định “Thành phần của Hội đồngxét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân Trong trườnghợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì thành phần Hội đồng xét xửgồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân” [38, tr146]; “Thành phần củaHội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và trong trường hợp cần thiết
có thêm hai Hội thẩm nhân dân”[38, tr176-177] Vì vậy, hoạt động xét xử củaTòa án nói chung và hoạt động xét xử án hình sự nói riêng là hoạt động nhândanh quyền lực nhà nước, mà những người tiến hành hoạt động xét xử là Hộiđồng xét xử bao gồm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
Việc Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước trong xét xử án hình sự càngđược thể hiện rõ hơn ở nguyên tắc: Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhândân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Như vậy, có nghĩa Thẩm phán và hộithẩm nhân dân cùng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những phánquyết của một vụ án cụ thể được thể hiện thông qua văn bản áp dụng phápluật mà Hội đồng xét xử ban hành là quyết định, bản án Mỗi văn bản áp dụngpháp luật của Tòa án ban hành công bằng, đúng pháp luật và được thi hànhnghiêm minh là thể hiện nền pháp chế xã hội chủ nghĩa được đảm bảo Lòngtin của nhân dân vào chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước được củng
Trang 22cố và ngược lại, mỗi bản án oan, sai của Tòa án không chỉ ảnh hưởng trực tiếpđến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của công dân được pháp luậtbảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến uy tín của ngành Tòa án, đến lòng tin củaquần chúng nhân dân vào pháp luật và Nhà nước Do vậy, mỗi quyết định,bản án của cơ quan của Tòa án cần hết sức thận trọng và đảm bảo đúng phápluật.
Thứ hai, áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
quá trình cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hình sự đối với một hay nhiều hành vi phạm tội trong một vụ án để quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp, trách nhiệm dân sự đối với người phạm tội theo quy định của pháp luật
Việc xác định sự thật khách quan của một vụ án thuộc trách nhiệm củacác cơ quan tiến hành tố tụng trong đó có Toà án Xác định sự thật kháchquan của vụ án bao gồm các việc như xác định các giai đoạn của quá trìnhthực hiện tội phạm từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc; xác định hành vi đó làhành động hay không hành động; hành vi đó có đủ yếu tố cấu thành tội phạmhay không; nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì đó là tội gì, ai là người phạmtội; vụ án có đồng phạm hay không có đồng phạm; ý thức chủ quan của tộiphạm và xác định người thực hiện tội phạm có lỗi hay không có lỗi; nhữngdấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm như công cụ, phương tiện phạm tội;hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra; mối quan hệ nhânquả của hành vi phạm tội; xác định khách thể của tội phạm là những quan hệ
xã hội nào Đồng thời khi nghiên cứu hồ sơ để chuẩn bị xét xử, những người
có thẩm quyền xét xử cần xác định hành vi phạm tội trên thực tế thực hiện ởgiai đoạn nào (chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, phạm tội chưa đạt chưahoàn thành ), các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai tròcủa từng bị cáo trong vụ án (nếu vụ án có đồng phạm)
Để có cơ sở áp dụng đúng pháp luật và đi đến phán quyết cuối cùng, Hộiđồng xét xử của cơ quan Toà án còn phải lựa chọn quy phạm pháp luật nộidung (Bộ luật hình sự) và quy phạm pháp luật hình thức (Bộ luật tố tụng hình
Trang 23sự) phù hợp để áp dụng và xem xét việc bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố có đúngngười, đúng tội hay không, ai là người phải chịu trách nhiệm dân sự (nếu có), xử
lý tang vật của vụ án như thế nào Từ đó làm cơ sở cho những người có thẩmquyền xét xử lựa chọn quy phạm pháp luật nội dung, quy phạm pháp luật hìnhthức để quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp khác và trách nhiệm dân sựđối với bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đúng pháp luật
Áp dụng quy phạm pháp luật trong xét xử án hình sự là nội dung chủ yếutrong hoạt động xét xử án hình sự của cơ quan Toà án Vì vậy, muốn áp dụngmột quy phạm pháp luật để xử lý tội phạm hình sự, chủ thể áp dụng pháp luậtphải căn cứ vào dấu hiệu của các yếu tố cấu thành tội phạm để xác định hành
vi bị truy tố có phải là tội phạm hay không; nghiên cứu để xác định có hành viphạm tội xảy ra trên thực tế hay không; tội đó là tội gì; các chứng cứ chứngminh cho hành vi phạm tội thông qua hoạt động chứng minh của các cơ quantiến hành tố tụng và áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụnghình sự và các bộ luật khác có liên quan để giải quyết vụ án đúng quy địnhcủa pháp luật Để thực hiện được điều này, các chủ thể áp dụng pháp luật phải
có kiến thức pháp lý, có kinh nghiệm thực tiễn và có sự hiểu biết rộng về cáclĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra côngkhai tại phiên toà làm cơ sở để các chủ thể áp dụng pháp luật xác định bị cáophạm tội gì hoặc không phạm tội, từ đó quyết định trách nhiệm hình sự theoquy định của pháp luật đối với bị cáo hoặc tuyên bố bị cáo không phạm tội
Để quyết định trách nhiệm hình sự phải thực hiện các công việc như sau:
- Căn cứ các quy định của pháp luật để xem xét tính chất, mức độ nguyhiểm của hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹtrách nhiệm hình sự đối với bị cáo để đảm bảo nguyên tắc nhân đạo của phápluật hình sự và cá thể hoá hình phạt đối với các vụ án có đồng phạm; có cầnthiết áp dụng hình phạt đối với bị cáo hay không? Vì Bộ luật hình sự 1999còn có những quy định như: Điều 25 quy định về miễn trách nhiệm hình sự;
Trang 24Điều 43 quy định các biện pháp tư pháp khác như bắt buộc chữa bệnh; Điều
70 quy định các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tộinhư: giáo dục tại xã phường, đưa vào trường giáo dưỡng; Điều 54 quy định vềmiễn hình phạt [ 35, tr27,35,43, 54]
Khi thấy có đủ căn cứ để quyết định hình phạt, chủ thể áp dụng pháp luậtcần lựa chọn những chế tài cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự để:
- Quyết định một mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo theo quy định tạiĐiều 45 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999; điều 50 quyết định hình phạttrong trường hợp bị cáo phạm nhiều tội [35, tr40]; điều 53 quyết định hìnhphạt trong trường hợp đồng phạm [35, tr43]…
- Quyết định biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo được quy địnhtại điều 28 đến Điều 40 Bộ luật hình sự năm 1999 [35, tr28-33]
- Quyết định trách nhiệm dân sự theo quy định tại điều 42 Bộ luật Hình
sự "Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đọat cho chủ sở hữu hoặcngười quản lý hợp pháp, phải sửa chữa bồi thường thiệt hại ngoài vật chất đãđược xác định do hành vi phạm tội gây ra" [35, tr34] để buộc bị cáo phải chịutrách nhiệm vật chất đối với các thiệt hại bị cáo đã gây ra, những thiệt hại vềtài sản, thiệt hại về tinh thần, danh dự nhân phẩm
Đối với thiệt hại về tinh thần là không thể khắc phục được, tuy Toà ánnhân dân tối cao cũng đã có hướng dẫn cụ thể về cách tính mức bồi thườngthiệt hại về tinh thần để bù đắp cho người bị hại, nhưng pháp luật hình sự vàpháp luật dân sự còn buộc người gây thiệt hại ngoài việc bồi thường về vậtchất cho người bị hại, bị cáo còn phải công khai xin lỗi người bị hại trongtrường hợp cần thiết
Thứ ba, xét xử án hình sự của Toà án là hoạt động áp dụng pháp luật
được tiến hành theo một thủ tục tố tụng chặt chẽ.
Trong Bộ luật tố tụng hình sự, hoạt động xét xử sơ thẩm hình sự của cơquan Tòa án được quy định tại Phần thứ ba [38, tr136], hoạt động xét xử phúcthẩm được quy định tại Phần thứ tư [38, tr170] Tại các điều này, Bộ luật tố
Trang 25tụng hình sự quy định rất chặt chẽ trình tự thủ tục và cách thức tiến hành cáchoạt động tố tụng buộc cơ quan Tòa án phải tuân thủ triệt để các quy định đókhi xét xử các vụ án hình sự
Các quan hệ phát sinh trong quá trình xét xử đều phải được dự tính trướcnhững vấn đề có thể sảy ra như: việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cácchủ thể, chẳng hạn áp dụng các quy phạm tố tụng hình sự để áp dụng, thay đổihoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án;quyết định triệu tập những người tham gia tố tụng đến phiên tòa; quyết địnhphiên tòa xử công khai hay xử kín, xét xử lưu động hay xét xử tại trụ sở của Tòaán; quyết định thay đổi những người tiến hành tố tụng; xem xét những ngườiđược tòa án triệu tập có mặt, vắng mặt tại phiên tòa để quyết định phiên tòa cóthể tiếp tục được tiến hành hay phải hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật;việc xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Nghị án và ban hành bản án, quyết định củaToà án… Nếu Tòa án vi phạm các thủ tục xét xử do pháp luật quy định thì bị coi
là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, văn bản áp dụng pháp luật do Tòa ánban hành sẽ không được công nhận và sẽ bị Tòa án cấp trên hủy bỏ
Do vậy quá trình xét xử Tòa án phải tuân thủ triệt để các quy định này.Đây chính là việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình thức được quy địnhtrong Bộ luật tố tụng hình sự Việc áp dụng đúng các quy định nêu trên giúpcho các quyền và nghĩa vụ của công dân được bảo đảm thực hiện một cáchnghiêm chỉnh; các bước tiến hành tố tụng được chính xác, khách quan; cácbản án, quyết định của Toà án bảo đảm đúng pháp luật
Thứ tư, hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự được thực hiện
chủ yếu tại phiên toà nhằm xem xét, đánh giá chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ
Theo quy định của pháp luật, hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa ánnhân dân được tiến hành chủ yếu tại phiên tòa thể hiện uy quyền của Nhànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà cơ quan đại diện là Tòa ánnhân dân Bởi lẽ, phiên tòa xét xử án hình sự không chỉ là nơi thể hiện sự tôn
Trang 26nghiêm của pháp luật mà còn là nơi quần chúng nhân dân, các cơ quan Báochí, Đài phát thanh truyền hình trực tiếp chứng kiến các quyền tự do dân chủcủa công dân, của nhà nước được bảo đảm thực hiện; các quyền và nghĩa vụhợp pháp của Nhà nước, của công dân được pháp luật bảo vệ, công bằng xãhội được thực hiện triệt để, nghiêm túc Tuy nhiên cũng có những vụ án vìcần giữ gìn bí mật quốc gia, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặctheo yêu cầu chính đáng của người bị hại nên pháp luật cũng cho phép Tòa
án được xử kín Mặc dù không xét xử công khai nhưng phiên tòa xử kín vẫnphải tuân thủ các trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sựnhư một phiên tòa xử công khai
Phiên tòa xét xử án hình sự như đã nêu ở trên cũng chính là nơi Toà ánkiểm tra công khai tính đúng đắn trong quá trình áp dụng pháp luật của các cơquan tiến hành tố tụng trước đó như Công an, Viện kiểm sát Thông qua cáchoạt động kiểm tra công khai các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, các tài liệuchứng cứ xuất trình tại phiên tòa tại phần xét hỏi, tranh luận, theo quy địnhcủa Bộ luật tố tụng hình sự Có như vậy thì việc áp dụng pháp luật tiếp theocủa Tòa án càng chính xác, khách quan hơn
Phiên tòa hình sự được diễn ra dưới sự điều khiển của Hội đồng xét xử,
mà trực tiếp là chủ tọa phiên tòa Tại đây, các bị cáo được quyền công khaitrình bày ý kiến về việc mình bị truy tố là đúng hay sai; các luật sư có quyềnđưa ra chứng cứ và tham gia tranh luận bảo vệ quyền và nghĩa vụ hợp phápcủa thân chủ mà mình tham gia bảo vệ Những người tham gia phiên tòa cònphải chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà, nếu vi phạm thì tùy theo mức
độ sẽ bị chủ tọa phiên tòa xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.Thông qua việc xét xử tại phiên tòa, các cơ quan công luận đã tham gia việcgiám sát trực tiếp đối với cơ quan tòa án trong việc áp dụng pháp luật, đâycũng chính là cơ sở xem xét, đánh giá chất lượng công tác xét xử của Tòa ánnói chung và khả năng xét xử của người Thẩm phán nói riêng
Trang 27Vì vậy, để đảm bảo cho một văn bản áp dụng pháp luật đạt hiệu quả,đúng pháp luật đòi hỏi Hội đồng xét xử phải tuân thủ chặt chẽ các quy địnhcủa pháp luật, có tâm huyết với nghề Toà án nói chung và uy tín của từng cánhân trong Hội đồng xét xử nói riêng.
Trên cơ sở các quy định của pháp luật chúng ta thấy rằng, áp dụng phápluật trong xét xử án hình sự chính là vừa áp dụng pháp luật nội dung, vừa ápdụng pháp luật hình thức và được tiến hành cả trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
và xét xử phúc thẩm
1.2 VAI TRÒ CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
Với tư cách là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật có vai tròquan trọng trong việc bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội; là phươngtiện để thể chế hóa đường lối chủ trương chính sách của Đảng, bảo đảm cho sựlãnh đạo của đảng có hiệu lực thực thi trên quy mô toàn xã hội; là phương tiện
để nhà nước quản lý kinh tế, xã hội; là phương tiện bảo đảm cho quần chúngnhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội và bảo đảm các quyền và lợiích hợp pháp của công dân được phát huy và thực hiện một cách nghiêm chỉnh.Vai trò của áp dụng pháp luật thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, hoạt động áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự
của Tòa án nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng Nhànước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Bảo đảm cho pháp luật đượcthực hiện nghiêm minh, thống nhất Mọi tổ chức và công dân đều nghiêmchỉnh thực hiện pháp luật Áp dụng đúng đắn pháp luật chính là cơ sở để bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa
Thứ hai, vai trò của áp dụng pháp luật trong việc xây dựng và hoàn thiện
pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng Điều đó thể hiện, qua thựctiễn xét xử án hình sự thấy rằng: các quy phạm pháp luật hình sự và các quyphạm pháp luật khác có liên quan đều được kiểm nghiệm trong thực tiễn cuộcsống về tính phù hợp hay chưa phù hợp trong đời sống xã hội; về tính đầy đủ,
Trang 28toàn diện hay chưa đầy đủ, còn có lỗ hổng trong quy phạm pháp luật; pháthiện ra những quy phạm pháp luật còn chung chung, làm cho mỗi người cómột cách hiểu khác nhau dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật một cách tùytiện, vi phạm tính thống nhất của pháp luật và nguyên tắc pháp chế xã hội chủnghĩa; ngược lại có những hành vi vi phạm pháp luật diễn ra có điểm khác với
dự đoán của nhà làm luật làm cho người áp dụng pháp luật lúng túng; cũng cókhi còn phát hiện ra những vi phạm mới chưa được các quy phạm pháp luậthiện có điều chỉnh, những quy phạm pháp luật đã lỗi thời, không còn phù hợpvới tồn tại xã hội cần được thay thế bằng quy phạm pháp luật mới Như vậy,
có thể nói áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử nói chung và trong xét xử
án hình sự nói riêng chính là nơi kiểm nghiệm các quy phạm pháp luật trongthực tiễn để phát hiện những lỗ hổng của pháp luật và là nơi nảy sinh những
tư duy pháp lý mới góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống phápluật Việt Nam
Thứ ba, áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự còn có vai trò trong
việc trừng trị nghiêm khắc những người có hành vi vi phạm pháp luật Bảo vệ
và khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhà nước vàcông dân, bảo vệ danh dự, nhân phẩm, tính mạng của con người theo quyđịnh của pháp luật, giữ gìn trật tự trị an và an toàn xã hội, giữ gìn kỷ cươngphép nước trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Thứ tư, vai trò của áp dụng pháp luật trong công tác xét xử án hình sự
của Tòa án còn có vai trò trong việc phổ biến và tuyên truyền giáo dục phápluật cho nhân dân, đặc biệt là thông qua các phiên tòa xét xử công khai, cácchủ thể áp dụng pháp luật đã phân tích, giải thích pháp luật để nhân dân hiểu
rõ những gì pháp luật cho phép làm và những gì pháp luật cấm không đượclàm, các biện pháp trừng trị cũng như sự khoan hồng của pháp luật đối vớingười vi phạm pháp luật Đây chính là một trong những kênh chuyển tải kiếnthức pháp luật đến với quần chúng nhân dân đạt hiệu quả rất cao Do đó, việc
mở rộng các phiên tòa lưu động đến tận nơi sảy ra vụ án và nâng cao chất
Trang 29lượng tranh tụng tại phiên tòa là rất cần thiết và góp phần quan trọng trongviệc nâng cao sự hiểu biết về pháp luật và ý thức tôn trọng pháp luật trongnhân dân.
1.3 CÁC GIAI ĐOẠN CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhândân là một quá trình phức tạp liên quan đến nhiều loại hoạt động khác nhauđòi hỏi tư duy pháp lý thực cao độ và sử dụng kiến thức thực tiễn phong phúnhằm khôi phục lại hình ảnh thực tế về những mặt có ý nghĩa pháp lý trongnhững vụ việc cụ thể Những việc làm đó cho phép đi đến những kết luận cụ thể.Tòa án phải dựa vào các kết luận rút ra từ quá trình chứng minh mới có thể ápdụng pháp luật đúng với mục đích của nó và đúng với đối tượng cần áp dụng
Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự phải trải qua cácgiai đoạn như: xác định và phân tích những tình tiết thực tế khách quan của
vụ việc và đặc trưng pháp lý của nó; tìm kiếm và phân tích quy phạm phápluật thích ứng với vụ việc đó để đi đến ra quyết định áp dụng pháp luật giảiquyết vụ việc và tổ chức kiểm tra thực hiện quyết định ấy trên thực tế Đây làmột quá trình phức tạp Để áp dụng pháp luật chính xác và đạt hiệu quả cao,trong hoạt động xét xử án hình sự của Toà án nhân dân phải thực hiện tốt cácgiai đoạn, cụ thể như sau:
Thứ nhất, xác định và phân tích, chứng minh những tình tiết khách quan
của vụ việc và các đặc trưng pháp lý của nó
Trong hoạt động xét xử án hình sự, Hội đồng xét xử là những ngườiđược nhà nước trao cho thẩm quyền xét xử phải xem xét, kiểm tra toàn bộtình tiết của sự việc, phân tích và chứng minh các chứng cứ có liên quan như:vật chứng; lời khai của bị cáo, người làm chứng, người bị hại, nguyên đơndân sự, bị đơn dân sự; kết luận giám định; biên bản hoạt động điều tra, xét xử
và các tài liệu chứng cứ khác Trong những trường hợp cần thiết cần phải sửdụng những biện pháp chuyên môn đặc biệt như giám định để xác định độ tin
Trang 30cậy của các sự kiện Khi điều tra xem xét cần bảo đảm sự công bằng cho các
tổ chức và cá nhân có liên quan đến vụ việc Vì chứng cứ trong tố tụng hình
sự là một vấn đề có tính lý luận và tính thực tiễn cao, là phương tiện để chứngminh tội phạm Chứng cứ giúp cho Hội đồng xét xử xác định tội phạm cũngnhư người phạm tội một cách nhanh chóng, chính xác Hội đồng xét xử muốnxác định có hành vi phạm tội xảy ra hay không, ai là người phạm tội phải dựavào chứng cứ
Khi xem xét các tình tiết thực tế của vụ việc đòi hỏi phải làm rõ tính chấtpháp lý của nó Không thể áp dụng pháp luật đối với những vụ việc không cóđặc trưng pháp lý Do đó, ở giai đoạn này đòi hỏi không chỉ xác định nhữngtình tiết, sự việc của vụ việc mà còn phải đánh tầm quan trọng về mặt pháp lýcủa vụ việc cụ thể
Đây là giai đoạn đầu của quá trình áp dụng pháp luật trong xét xử ánhình sự của Toà án nhân dân, yêu cầu người có thẩm quyền áp dụng pháp luậtphải nghiên cứu một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả các tình tiếtcủa vụ việc; xác định đặc trưng pháp lý của vụ việc; tuân thủ tất cả các quyđịnh mang tính thủ tục gắn với mỗi loại vụ việc để xem xét sự việc xảy ra cóphải là hành vi phạm tội hay không, thời gian địa điểm thực hiện hành viphạm tội; nếu là hành vi phạm tội thì đó là tội gì, ai là người phải chịu tráchnhiệm hình sự và phải chịu như thế nào; người thực hiện tội phạm có lỗi haykhông có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực chịu trách nhiệm hình sự haykhông; mục đích, động cơ phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự của bị cáo; tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tộigây ra Đồng thời phải xem xét các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết
vụ án, nếu như các tình tiết khác đó có ý nghĩa cho việc giải quyết đúng đắn
vụ án như: các tình tiết ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và hình phạt của
bị cáo (tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân người phạm tội); những tìnhtiết không nằm trong cấu thành tội phạm nhưng cũng không ảnh hưởng đếntrách nhiệm hình sự và hình phạt như mối quan hệ giữa bị cáo với người làm
Trang 31chứng, giữa người làm chứng với người bị hại…Ví dụ: đối với những vụ án
mà bị cáo là người chưa thành niên ta phải chứng minh về tuổi; trình độ pháttriển về thể chất và tinh thần; mức độ nhận thức về hành vi phạm tội; điềukiện sinh sống và giáo dục; có hay không có người lớn xúi giục; nguyên nhân
và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, ở giai đoạn xét xử, nghĩa vụchứng minh thuộc về hội đồng xét xử Các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dânphải đưa ra nhiều giả thiết khác nhau, mỗi giả thiết đều phải được chứng minh
để tìm ra kết luận đúng Trên nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dânxét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, Toà án chứng minh mọi tình tiết của
vụ án dựa vào những chứng cứ của vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà (baogồm chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra và chứng cứ mới…), bịcáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra chứng cứ mớinhưng họ không có nghĩa vụ phải chứng minh
Thứ hai, lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp và phân tích làm rõ nội
dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng pháp luật.Sau khi xác định xong đặc trưng pháp lý của vụ việc cần được giải quyết,cần lựa chọn quy phạm pháp luật tương ứng đem ra áp dụng Trước hết phảixác định vụ việc này do ngành luật nào điều chỉnh, sau đó lựa chọn quy phạmpháp luật cụ thể thích ứng với vụ việc Khi lựa chọn quy phạm pháp luật phảitính đến những thay đổi của pháp luật Quy phạm được lựa chọn phải là quyphạm đang có hiệu lực pháp luật.Trong trường hợp văn bản quy phạm phápluật có quy định hiệu lực hồi tố thì áp dụng theo quy định đó Nếu gặp trườnghợp các văn bản có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quyphạm trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn hoặc trong văn bản được banhành sau nếu các văn bản đó do cùng một cơ quan ban hành Trường hợp vănbản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quyđịnh trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi sảy ra trước ngày văn bản
có hiệu lực thì áp dụng quy phạm của văn bản mới
Trang 32Như vậy, giai đoạn thứ hai của quá trình áp dụng pháp luật trong xét xử
án hình sự của Toà án nhân dân yêu cầu phải: lựa chọn đúng đắn quy phạmpháp luật được đưa ra áp dụng; xác định quy phạm được lựa chọn là đang cóhiệu lực và không mâu thuẫn với các đạo luật và văn bản quy phạm pháp luậtkhác; xác định hiệu lực theo thời gian của văn bản quy phạm pháp luật đưa ra
áp dụng Điều này có nghĩa, Hội đồng xét xử phải xác định xem hành vi viphạm pháp luật là do ngành luật nào điều chỉnh (Bộ luật hình sự, Bộ luật dânsự…); Tội danh, điều khoản Bộ luật hình sự cần áp dụng và quy định về hìnhphạt chính, hình phạt bổ sung, mức hình phạt và biện pháp chấp hành hìnhphạt tù; các biện pháp tư pháp khác như: tịch thu tiền, vật trực tiếp liên quanđến tội phạm, trả lại tài sản, bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, việc tiếp tụctạm giam hoặc trả tự do cho bị cáo
Thứ ba, làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp
luật được lựa chọn nhằm mục đích đảm bảo áp dụng đúng đắn pháp luật Đó
là quá trình vận dụng tổng hợp các tri thức chính trị, kinh tế, đặc biệt là các trithức pháp lý Để làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung các quy phạm pháp luậtđưa ra áp dụng đòi hỏi quá trình tư duy phải tuân theo nhưng quy luật củalôgíc hình thức và lôgíc biện chứng và cần phải biết giải thích pháp luật Đểlàm sáng tỏ tư tưởng, nội dung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật được ápdụng Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, để làm cho bản án, quyết địnhcủa Toà án được ban hành đúng pháp luật, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dânphải căn cứ các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật Tố tụng hình sựxem xét đánh giá mọi tình tiết của vụ án với tinh thần trách nhiệm cao, khôngđược dùng lời nhận tội của bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội bị cáo.Phải phát huy ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa của Hội đồng xét xử để xemxét đánh giá chứng cứ của vụ án Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa chính làtoàn bộ hiểu biết của Hội đồng xét xử về pháp luật và thái độ đối với phápluật Đánh giá chứng cứ trên cơ sở ý thức pháp luật có tác dụng làm choThẩm phán và Hội thẩm nhân dân nhận thức rõ ý nghĩa pháp lý của việc mình
Trang 33đang làm, tạo điều kiện cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án vàđánh giá hành vi phạm tội xảy ra được chính xác Hội đồng xét xử còn phải
có niềm tin nội tâm trong quá trình giải quyết vụ án Niềm tin nội tâm là sựtin tưởng một cách chắc chắn vào sự đúng đắn của các kết luận mà Hội đồngxét xử đưa ra nhưng không có nghĩa là đánh giá một cách tự do, không cókiểm tra mà phải dựa trên những sự việc xác thực và những tài liệu chứng cứthu thập được phải có đủ các thuộc tính của chứng cứ theo quy định của phápluật, đó là tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp
Tóm lại, giai đoạn thứ ba của quá trình áp dụng pháp luật trong xét xử án
hình sự của Toà án nhân dân nhằm nhận thức đúng đắn nội dung tư tưởng củaquy phạm pháp luật đưa ra áp dụng thông qua trình độ của người có thẩmquyền áp dụng pháp luật là Hội đồng xét xử
Thứ tư, ban hành bản án, quyết định hình sự của Toà án (văn bản áp
dụng pháp luật) Giai đoạn này chính là kết quả của ba giai đoạn trên và làgiai đoạn quan trọng nhất của áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử ánhình sự Ở giai đoạn này Hội đồng xét xử có quyền ra văn bản quy định quyền
và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các chủ thể tham gia tố tụng theo quy định củapháp luật hoặc những biện pháp chịu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi viphạm pháp luật (bản án, quyết định)
Bản án, quyết định doToà án ban hành còn thể hiện rõ trình độ và nănglực của Hội đồng xét xử, là những người có thẩm quyền áp dụng pháp luật.Bởi vì ở giai đoạn này, Hội đồng xét xử đưa ra phán quyết cuối cùng mangtính pháp lý Các phán quyết này chính là việc vận dụng những quy định pháp
lý chung thể hiện trong những bản án, quyết định để cá biệt hóa, cụ thể hóacho từng trường hợp cụ thể
Khi ban hành bản án, quyết định, Hội đồng xét xử không thể xuất phát từđộng cơ cá nhân hoặc quan hệ riêng tư Bản án, quyết định áp dụng pháp luậtphải phù hợp với lợi ích và mệnh lệnh của Nhà nước được thể hiện trong cácđạo luật và văn bản quy phạm pháp luật khác Do vậy, những đòi hỏi đối vớicác bản án, quyết định là:
Trang 34- Phải được ban hành hợp pháp, nghĩa là phải đúng thẩm quyền, đúng têngọi, đúng trình tự, đúng thủ tục do pháp luật quy định
- Nội dung phải rõ ràng, chính xác, đầy đủ, chứa đựng tất cả những thôngtin cần thiết Bản án, quyết định áp dụng pháp luật được ban hành phải có cơ sởpháp lý Nghĩa là, trong bản án, quyết định hình sự phải chỉ rõ căn cứ vào điềuluật nào của văn bản quy phạm pháp hình sự hay pháp luật khác có liên quan
- Bản án, quyết định hình sự của Toà án được ban hành phải có cơ sởthực tế Nghĩa là nó được ban hành căn cứ vào những sự kiện thực tế mộtcách đầy đủ, chính xác, có thật và đáng tin cậy; phải phù hợp với điều kiệnthực tế của cuộc sống, có khả năng thực hiện được trong tương lai nếu không
nó sẽ khó có khả năng thi hành
Thứ năm, tổ chức thi hành bản án, quyết định của Toà án Về nguyên tắc,
thi hành bản án, quyết định hình sự của Toà án là do cơ quan Công an, cơquan Thi hành án thực hiện Tuy nhiên, để bảo đảm việc thi hành bản án đượcnghiêm chỉnh trên thực tế Điều 257, Bộ luật tố tụng hình sự 2003 còn quyđịnh về thẩm quyền của Toà án trong việc ra quyết định thi hành bản án,quyết định; theo dõi, đôn đốc việc tổ chức thực hiện các quyết định thi hành
án để đảm bảo các bản án, quyết định hình sự của Toà án được thi hành triệt
để và nghiêm minh Cơ quan Thi hành án phải báo cáo với Chánh án Toà án
đã ra quyết định thi hành bản án, quyết định của Toà án và nêu rõ lý do vềtrường hợp quyết định, bản án chưa được thi hành Pháp luật tố tụng hình sựcũng quy định: Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án có thể chongười phải thi hành án phạt tù được hoãn chấp hình phạt tù, hoặc tạm đình chỉchấp hành hình phạt tù; xem xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù [38] Đây là giai đoạn cuối cùng của áp dụng pháp luật trong hoạt động giảiquyết án hình sự của Toà án nhân dân Trong giai đoạn này, các cơ quan cóthẩm quyền cần tiến hành các hoạt động bảo đảm cho việc thực hiện đúngđắn, đầy đủ các nội dung của bản án, quyết định hình sự do Toà án ban hành.Đồng thời tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát việc thi hành bản án,
Trang 35quyết định của Toà án, nhằm bảo đảm cho bản án, quyết định đó được thihành nghiêm chỉnh trong thực tế.
1.4 NỘI DUNG CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT
XỬ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.4.1 Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự sơ thẩm
Sơ thẩm là cấp xét xử đầu tiên hay còn gọi là lần xử thứ nhất trong việcgiải quyết các vụ án, vì tất cả các vụ án nếu phải đưa ra xét xử thì đều phảiqua cấp xét xử này Đây cũng là cấp xét xử có ý nghĩa quan trọng trong xét
xử hình sự Theo khoản 1 và khoản 2 điều 170, Bộ luật tố tụng hình sự 2003quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm:
1 Toà án nhân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực xét xử sơ thẩmnhững vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêmtrọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội sau đây:
a, Các tội xâm phạm an ninh quốc gia
b, Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh
c, Các tội quy định tại điều 93, 95,96,172, 216,217, 218, 219, 221, 222,
223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự
2 Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu xét xử sơthẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền củaTòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực hoặc những vụ ánthuộc thẩm quyền cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử [38]
Như vậy, Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bao gồm:
các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố được gọi là Toà án nhândân cấp huyện; các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươnggọi là Toà án nhân dân cấp tỉnh
Việc phân định thẩm quyền xét xử giữa Toà án các cấp phải căn cứ vàoloại tội phạm và tội danh trong vụ án hình sự Mức độ của tội phạm hình sựcàng nguy hiểm thì Luật hình sự quy định hình phạt đối với tội đó càngnghiêm khắc Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể lấy lên để xét xử những vụ án
Trang 36như: những vụ án có nhiều tình tiết phức tạp không thống nhất trong đánh giá
về tính chất, mức độ hành vi phạm tội; những vụ án liên quan đến nhiều lĩnhvực, nhiều địa bàn; những vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Sĩquan công an, cán bộ chủ chốt ở cấp huyện, người nước ngoài, người có chứcsắc trong tôn giáo, người có uy tín lớn trong dân tộc ít người, v.v
Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dânđược tiến hành với các nội dung cụ thể như sau:
* Áp dụng pháp luật trong giai đoạn chuẩn bị xét xử:
Chuẩn bị xét xử là giai đoạn đầu tiên của xét xử sơ thẩm Thời hạn chuẩn
bị xét xử là khoảng thời gian từ khi Viện kiểm sát chuyển hồ sơ vụ án sangTòa án đến trước ngày mở phiên toà Nhiệm vụ của Toà án có thẩm quyềntrong giai đoạn này là phải tiến hành những việc cần thiết để bảo đảm choviệc xét xử được kịp thời, đúng pháp luật Đây là một bước quan trọng và cầnthiết tạo điều kiện cho việc xét xử được khách quan, chính xác và bảo đảmcho những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của
họ trong quá trình tham gia tố tụng
Thụ lý hồ sơ vụ án là giai đoạn tố tụng đầu tiên ghi nhận việc chuyểngiao hồ sơ vụ án và vật chứng từ Viện Kiểm sát sang Tòa án do thư ký Tòa án
và cán bộ Viện kiểm sát thực hiện Tuy Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định
cụ thể việc giao nhận và thụ lý hồ sơ vụ án, nhưng thông tư liên ngành số07/TTLN ngày 15/9/1990 của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhândân tối cao, Nghị quyết số 04/2004/NQ - HĐTP ngày 05/11/2004 của Tòa ánnhân dân tối cao, lại hướng dẫn rất cụ thể Giai đoạn này, thư ký Tòa án khi nhận
hồ sơ phải thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, cụ thể là:
- Đối chiếu bản kê tài liệu và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xem đã đầy
đủ hay chưa (Thư ký Tòa án nhận hồ sơ phải kiểm tra kỳ từng bút lục đượcđánh số từ một đến hết có trong hồ sơ và đối chiếu với mục lục kèm theo hồsơ); kiểm tra bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã được tống đạt cho bị can
Trang 37theo đúng quy định tại đoạn 3 và khoản 1 điều 166 của Bộ luật tố tụng hình sựhay chưa và xử lý như sau (trường hợp bị can bị tạm giam):
+ Nếu các tài liệu có trong hố sơ vụ án đã đầy đủ so với bản kê tài liệu
và bản cáo trạng đã được tống đạt cho bị can thì nhận và vào ngay sổ thụ lý
vụ án
+ Nếu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án chưa có đầy đủ so với bản kê tàiliệu có trong hồ sơ vụ án và bản cáo trạng của Viện kiểm sát chưa được tốngđạt cho bị can thì không nhận hồ sơ vụ án vì chưa đúng quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự
Trường hợp bị can tại ngoại chưa tống đạt được cáo trạng thì Tòa án vẫnnhận hồ sơ nhưng chưa thụ lý hồ sơ vụ án, trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
hồ sơ Nếu Viện kiểm sát bàn giao được biên bản giao nhận cáo trạng cho Tòa
án thì tiến hành thụ lý hồ sơ vụ án Nếu hết 15 ngày, Viện kiểm sát vẫn chưatống đạt được cáo trạng cho bị can thì Tòa án trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sátvới lý do chưa hoàn thành thủ tục tố tụng
Khi Tòa án nhận hồ sơ vụ án, nếu có vật chứng thì phải tiến hành lậpbiên bản giao nhận vật chứng có chữ ký của người giao, người nhận Khi thấy
đã có đủ thủ tục theo quy định của pháp luật thì tiến hành vào sổ thụ lý và ghi
số thụ lý, ngày thụ lý vào bìa hồ sơ Quá trình nghiên cứu nếu thấy cần trả hồ
sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung thì Thẩm phán được phân công làmchủ toạ phiên toà ra quyết định trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổsung Nội dung yêu cầu điều tra bổ sung phải ghi rõ trong quyết định trả hồ
sơ, đồng thời Tòa án xóa sổ thụ lý vụ án Khi Viện kiểm sát chuyển lại hồ sơ,Tòa án tiến hành thụ lý lại và vào sổ thụ lý, ghi số thụ lý, ngày thụ lý vào bìa
hồ sơ
Sau khi nhận được hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công Chủ toạphiên toà phải tiến hành nghiên cứu hồ sơ vụ án để xác định vụ án có thuộcthẩm quyền của Toà án cấp mình theo quy định tại điều 170 đến 173 Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003 hay không? Nếu vụ án không thuộc thẩm quyền của
Trang 38Toà án cấp mình thì báo cáo Chánh án quyết định chuyển vụ án cho Toà áncấp có thẩm quyền theo quy định tại quy định tại điều 174 Bộ luật tố tụnghình sự năm 2003.
Nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp mình thì tiếp tục thực hiệnnhững công việc chuẩn bị xét xử, cụ thể là:
- Xác định chứng cứ đã được thu thập trong giai đoạn điều tra, truy tốcủa vụ án có đầy đủ để làm sáng tỏ những vấn đề cần phải chứng minh trong
vụ án hay không Các chứng cứ như lời khai, vật chứng, kết luận giám định…
có được thu thập đầy đủ và đúng quy định của pháp luật hay không? nghiêncứu cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố có căn cứ không? các chứng cứ cóphù hợp với nhau không? Cần đối chiếu các thông tin do các lời khai cungcấp với hiện trường, vật chứng và kết luận giám định… Xác định xem việctruy tố và viện dẫn điều luật của Viện Kiểm sát có đúng không? Hành vi mà
bị can thực hiện có cấu thành tội phạm không? So sánh tìm ra những điểmcòn mâu thuẫn giữa các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; có cần tách,nhập vụ án (nếu có) hay không; các thủ tục trong quá trình điều tra, truy tố cóđúng với quy định của pháp luật hay không; kết quả điều tra bổ sung làm rõnhững vấn đề không thể điều tra làm rõ được tại phiên tòa (nếu có); các căn cứ
để đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; chuyển vụ án do không đúng thẩm quyềncủa Tòa án cấp mình theo quy định của pháp luật Có cần áp dụng biện pháp gì
để đảm bảo thi hành án không và thực hiện việc áp dụng, thay đổi hay hủy bỏbiện pháp ngăn chặn theo điều 79 và 94 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Trong khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán có thể đọc cả tài liệu cótrong hồ sơ và tài liệu khác có liên quan; có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cánhân cung cấp tài liệu làm rõ thêm những vấn đề trong vụ án; yêu cầu ngườigiám định giải thích làm rõ kết luận giám định, có thể đến nơi xảy ra tộiphạm, nơi bảo quản vật chứng để xem xét tại chỗ…Vì vậy, giai đoạn này có ýnghĩa rất quan trọng trong việc làm cơ sở thực hiện tốt các giai đoạn sau
Trang 39Kết quả nghiên cứu hồ sơ, nếu có căn cứ để đưa vụ án ra xét xử thì quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử; xác định vụ án cần xử kín hoặc mở phiên tòa côngkhai theo quy định tại điều 18 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; xây dựng đềcương thẩm vấn nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án; tiến hành triệutập những người cần xét hỏi theo quy định của pháp luật.
Nghiên cứu hồ sơ là hoạt động quan trọng giúp cho người có thẩm quyền
áp dụng pháp luật nắm bắt được nội dung của vụ án, các vấn đề cần giải quyết
và xác định được các hành vi tố tụng cần tiến hành áp dụng pháp luật Vì vậy,đòi hỏi người nghiên cứu hồ sơ không chỉ có kiến thức pháp lý vững chắc màcòn phải có kiến thức thực tế để tổng hợp và nắm bắt được toàn bộ diễn biếncủa vụ án Quá trình nghiên cứu hồ sơ đòi hỏi chủ thể áp dụng pháp luật phảiđánh giá chứng cứ thật chính xác Các chứng cứ thu thập được phải bảo đảm
đủ để giải quyết vụ án hình sự, không để lọt tội phạm, không làm oan người
vô tội “mỗi chứng cứ phải được đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực
và liên quan đến vụ án Việc xác định các chứng cứ thu thập phải bảo đảm đủ
để giải quyết vụ án hình sự” [38, tr.56] Để đánh giá chứng cứ chính xác,những người tiến hành tố tụng phải nghiên cứu một cách tổng hợp tất cảnhững chứng cứ có trong vụ án; xem xét chứng cứ một cách khách quan,không định kiến trước là bị can bị cáo phạm tội hay không phạm tội; nghiêncứu toàn diện những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự và nhữngtình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án; xem xét cả nhữngchứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội Toàn bộ những hoạt động đánh giáchứng cứ nói trên phải dựa trên cơ sở những quy định của pháp luật
- Giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu Thẩm phán được phân công làmchủ toạ phiên toà nhận được khiếu nại của người tham gia tố tụng hình sựnhư: đề nghị trưng cầu giám định lại, giám định bổ sung, xem xét thêm cácnguồn chứng cứ khác, yêu cầu về thay đổi biện pháp ngăn chăn…Thì phải
Trang 40giải quyết theo đúng quy định tại chương XXXV Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 [38] Trường hợp Toà án không chấp nhận thì phải nói rõ lý do
Tiến hành các công việc cần thiết khác cho việc chuẩn bị mở phiên toànhư: yêu cầu cơ quan Công an bảo vệ phiên toà và trích xuất bị cáo đang bịtạm giam phục vụ cho việc xét xử; trong trường hợp bị cáo thuộc trường phápluật quy định phải có luật sư bào chữa thì yêu cầu đoàn luật sư cử người bàochữa cho bị cáo; xác định địa điểm mở phiên toà…
Để bảo đảm cho việc xét xử kịp thời, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòngchống tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân,tránh tùy tiện kéo dài việc giải quyết vụ án, khoản 2 Điều 176, Bộ luật tố tụnghình sự năm 2003 quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm căn cứ vàotừng loại tội phạm, như sau:
Trong thời hạn ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốnmươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rấtnghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngàynhận được hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toàphải đưa ra quyết định phù hợp như:
mở phiên toà trong thời hạn ba mươi ngày