MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam học là ngành khoa học nghiên cứu đất nước và con người Việt Nam từ những thành tố văn hóa, lịch sử, địa lí, phong tục tập quán, ngôn ngữ, văn học... để làm rõ những nét riêng độc đáo, nghiên cứu toàn diện và đa dạng những lĩnh vực của một quốc gia trên góc nhìn văn hóa. Chính vì vậy, những di tích lịch sử nói riêng, đất nước và con người Việt Nam nói chung dưới góc nhìn của Việt Nam học luôn mang màu sắc văn hóa hay rộng hơn là mang những giá trị chung và riêng biệt của cả văn hóa thế giới và văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên không phải vậy mà văn hóa Việt Nam hòa tan trong văn hóa thế giới. Việt Nam học nghiên cứu sâu sắc về đất nước, con người Việt Nam, bởi vậy mà tuy là một ngành mới nhưng Việt Nam học đã có nhiều thành công đáng kể, đặc biệt quan trọng trong tiến trình Việt Nam đang xây dựng và hội nhập sâu rộng vào quốc tế. Ngành Việt Nam học được mở với mục tiêu đào tạo người học nắm vững và thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác văn hóa và du lịch; nắm vững kiến thức cơ bản về văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam và kiến thức nghiệp vụ du lịch; có khả năng tổ chức, hướng dẫn các hoạt động du lịch. Lịch sử văn hóa – xã hội Việt Nam đã được xây dựng hàng ngàn năm, những công trình nghiên cứu về các di tích lịch sử, văn hóa, xã hội là rất lớn, tuy nhiên, đứng trên góc nhìn nghiên cứu của nghành Việt Nam học lại không có nhiều công trình thực sự nổi trội. Một trong những di tích lịch sử văn hóa to lớn của Việt Nam có thể nói đến là Hoàng thành Thăng Long. Đứng trên góc độ của nghành Việt Nam học để nghiên cứu về một di tích lịch sử ngàn năm cần đến nhiều thời gian và khối lượng tài liệu tham khảo lớn, khả năng khảo sát thực tiễn cao, trong khoảng thời gian có hạn và khối lượng tri thức nhất định, nên em đã quyết định chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy di tích lịch sử Hoàng thành Thăng Long hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Đối tượng nghiên cứu: 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ HOÀNG THÀNH THĂNG LONG 5
1.1 Giới thiệu về di tích lịch sử Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội 5
1.2 Các yếu tố cấu thành di tích 12
1.3 Một số di tích tiêu biểu 13
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG BẢO TỒN, PHÁT HUY DI TÍCH LỊCH SỬ HOÀNG THÀNH THĂNG LONG HIỆN NAY 18
2.1 Bước tiến lớn về bảo tồn 18
2.2 Thực trạng công tác bảo tồn, tôn tạo, quản lý 24
2.3 Những khó khăn hiện hữu cần được khắc phục để bảo tồn và phát huy di tích lịch sử Hoàng thành Thăng Long 26
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI TÍCH LỊCH SỬ HOÀNG THÀNH THĂNG LONG HIỆN NAY 29
3.1 Giải pháp chung 29
3.2 Giải pháp cụ thể (cho 4 khu vực của Hoàng thành Thăng Long) 30
KẾT LUẬN 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam học là ngành khoa học nghiên cứu đất nước và con người ViệtNam từ những thành tố văn hóa, lịch sử, địa lí, phong tục tập quán, ngôn ngữ,văn học để làm rõ những nét riêng độc đáo, nghiên cứu toàn diện và đa dạngnhững lĩnh vực của một quốc gia trên góc nhìn văn hóa Chính vì vậy, những
di tích lịch sử nói riêng, đất nước và con người Việt Nam nói chung dưới gócnhìn của Việt Nam học luôn mang màu sắc văn hóa hay rộng hơn là mangnhững giá trị chung và riêng biệt của cả văn hóa thế giới và văn hóa ViệtNam Tuy nhiên không phải vậy mà văn hóa Việt Nam hòa tan trong văn hóathế giới Việt Nam học nghiên cứu sâu sắc về đất nước, con người Việt Nam,bởi vậy mà tuy là một ngành mới nhưng Việt Nam học đã có nhiều thànhcông đáng kể, đặc biệt quan trọng trong tiến trình Việt Nam đang xây dựng vàhội nhập sâu rộng vào quốc tế Ngành Việt Nam học được mở với mục tiêuđào tạo người học nắm vững và thực hiện chủ trương, đường lối, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác văn hóa và du lịch; nắm vữngkiến thức cơ bản về văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam và kiến thức nghiệp
vụ du lịch; có khả năng tổ chức, hướng dẫn các hoạt động du lịch
Lịch sử văn hóa – xã hội Việt Nam đã được xây dựng hàng ngàn năm,những công trình nghiên cứu về các di tích lịch sử, văn hóa, xã hội là rất lớn,tuy nhiên, đứng trên góc nhìn nghiên cứu của nghành Việt Nam học lại không
có nhiều công trình thực sự nổi trội Một trong những di tích lịch sử văn hóa
to lớn của Việt Nam có thể nói đến là Hoàng thành Thăng Long Đứng trêngóc độ của nghành Việt Nam học để nghiên cứu về một di tích lịch sử ngànnăm cần đến nhiều thời gian và khối lượng tài liệu tham khảo lớn, khả năngkhảo sát thực tiễn cao, trong khoảng thời gian có hạn và khối lượng tri thức
Trang 3nhất định, nên em đã quyết định chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy di tích lịch sử Hoàng thành Thăng Long hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Một số công trình nghiên cứu về đề tài có liên quan đến Hoàng ThànhThăng Long có thể nói đến như sau:
Bài viết “Khu di tích Hoàng thành Thăng Long và vấn đề bảo tồn chống nguy cơ xâm hại của tự nhiên” của tác giả Nguyễn Thị Anh Đào Trung tâm
Nghiên cứu Kinh thành, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đăng trêntrang Khoa học và Công nghệ đã chỉ ra những vấn đề cần được bảo tồnHoàng Thành Thăng Long
Bài viết “Tìm hướng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội” đăng trên Trung tâm bảo tồn Di sản Thăng Long – Hà Nội chỉ ra những
hướng để bảo tồn và phát huy di tích lịch sử Hoàng Thành Thăng Long
Hay buổi “Toạ đàm về việc bảo tồn, phát huy giá trị Khu di tích Hoàng thành Thăng Long” ngày 6/9/2018 tại Hà Nội Đã chia sẻ kết quả nghiên cứu,
bảo tồn và phát huy giá trị di sản thế giới khu trung tâm Hoàng thành ThăngLong - Hà Nội Tọa đàm đã có sự sự tham gia của gần 100 đại biểu đại diệncác cơ quan của Trung ương, TP Hà Nội, các chuyên gia, nhà khoa học quốc
tế và trong nước thuộc lĩnh vực khảo cổ học, sử học
Mới đây nhất, tác giả Đăng Minh đã có một bài viết trên Báo Thế giới và
Việt Nam với tiêu đề “Hoàng thành Thăng Long: 10 năm gìn giữ và bảo tồn”
đã chỉ ra những bước tiến lớn trong bảo tồn và nói về câu chuyện bảo tồnHoàng thành Thăng Long một cách tốt nhất trong tiến trình phát triển củaViệt Nam
Mỗi công trình nghiên cứu đều mang đến cho người đọc những cái nhìn đãchiều về Hoàng thành Thăng Long, tuy nhiên lại chưa có công trình nào đứngtrên góc độ của Việt Nam học để nghiên cứu về di tích lịch sử này
Trang 43 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích tìm hiểu về việc bảo tồn và phát huy di tích lịch sửHoàng thành Thăng Long, từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực để di tíchnày trường tồn và ngày càng trở thành điểm đến du lịch của các du kháchtrong nước và quốc tế
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu việc bảo tồn và phát huy di tích lịch sử Hoàng thành ThăngLong
- Đưa ra giải pháp để bảo tồn và phát huy di tích lịch sử Hoàng thànhThăng Long
5 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính là Hoàng thành Thăng Long, những giá trị cầnbảo tồn và phát huy và những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị ditích Hoàng thành Thăng Long
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những giá trị cần bảo tồn và phát huy củaHoàng Thành Thăng Long – Tại Hoàng Thành Thăng Long – Hà Nội
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Dựa trên quan điểm lịch sử cụ thể và biện chứng củaChủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Lịch sử, bảo tàng học, dân tộc học,
mỹ thuật học, văn hóa dân gian, xã hội học
- Phương pháp quan sát trực tiếp và phân tích tài liệu từ: sách, báo,internet…
- Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp: Thống kê, so sánh, phântích, tổng hợp…
Trang 58 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, mục lục bài tiểu luậngồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về di tích lịch sử Hoàng thành Thăng Long
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ HOÀNG THÀNH THĂNG LONG
1.1 Giới thiệu về di tích lịch sử Hoàng thành Thăng Long – Hà
Nội
Hà Nội là thủ đô nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là trung tâmchính trị, kinh tế, văn hóa, thương mại, du lịch và khoa học công nghệ của cảnước Nằm ở giữa vùng đồng bằng sông Hồng trù phú, Hà Nội có được vị thếthuận lợi để trở thành nơi giao lưu thương mại trong nước và quốc tế
Là thủ đô của đất nước Việt Nam có lịch sử hàng nghìn năm văn hiến, HàNội đã bảo tồn được rất nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng Ngày nay, HàNội là sự kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp cổ kính của các công trình kiến trúc xưa
và vẻ hiện đại của những toà cao ốc văn phòng, trung tâm thương mại, khu đôthị mới. Hà Nội đang đổi mới từng ngày nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp, giá trịcủa ngàn xưa, xứng đáng với tên gọi nghìn năm văn hiến là trái tim của ViệtNam, là điểm dừng chân lý tưởng cho các du khách bốn phương Mặc dù một
số di tích bị mai một đi cùng với thời gian và do chiến tranh, nhưng Hà Nộivẫn còn giữ được nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh hấp dẫn, vàmột trong những di tích lịch sử nổi tiếng đó là Hoàng thành Thăng Long
Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thànhThăng Long và tỉnh thành Hà Nội bắt đầu từ thời kì tiền Thăng Long (AnNam đô hộ phủ thế kỷ VII) qua thời Đinh - Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời
Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn Đây là công trình kiến trúc
đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành
di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích của Hà Nội nói riêng và
cả nước nói chung. Tại kỳ họp lần thứ 34 tại Braxin ngày 31/7/2010, Ủy ban
Trang 7Di sản Thế giới họp đã công nhận Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long
-Hà Nội là Di sản văn hóa thế giới với các tiêu chí giá trị: minh chứng cho sựgiao lưu giữa các ảnh hưởng đến chủ yếu từ Trung Quốc ở phía Bắc vàVương quốc Champa ở phía Nam; minh chứng cho truyền thống văn hóa lâudài của người dân Việt được thành lập ở đồng bằng sông Hồng, đó là mộttrung tâm quyền lực liên tục từ thế kỷ thứ VII cho đến tận ngày nay; liên quantrực tiếp tới nhiều sự kiện văn hóa - lịch sử quan trọng
Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long được ghi vào Danh mục Di sảnThế giới là một sự kiện có ý nghĩa cực kỳ to lớn đối với Việt Nam, thể hiệnnhững bước đi vững chắc của chúng ta trong công cuộc bảo tồn, phát huy giátrị đối với di tích đặc biệt quan trọng này
Hiện nay, khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội (bao gồmthành cổ Hà Nội và di tích Khảo cổ học 18 Hoàng Diệu) nằm trên một khuônviên khá rộng: 18,395ha, thuộc địa bàn phường Điện Biên và Quán Thánh,quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, được giới hạn bởi: Phía Bắc giáp: đườngPhan Đình Phùng và đường Hoàng Văn Thụ Phía Tây giáp: đường HoàngDiệu, đường Độc Lập và khuôn viên Nhà Quốc hội mới Phía Nam giáp:đường Bắc Sơn và khuôn viên Nhà Quốc hội mới Phía Tây Nam giáp: đườngĐiện Biên Phủ Phía Đông giáp: đường Nguyễn Tri Phương
Lý Thái Tổ - vị Vua sáng lập triều Lý đã chọn Đại La, vốn là trung tâmkinh tế, văn hóa của đất nước thời đó, để xây dựng kinh đô mới Năm 1010,việc rời đô từ Hoa Lư ra Đại La đã được thực hiện Kinh đô mới được đặt tên
là Thăng Long Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê, thành Thăng Long liên tụcgiữ vị trí là kinh đô của đất nước Theo các sách Việt sử lược, Đại Việt sử kýtoàn thư thì: Sau khi định đô ở Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đã cho xây dựngquần thể kiến trúc cung điện, mà trung tâm là điện Càn Nguyên, làm chỗ coichầu, bên tả làm điện Tập Hiền, bên hữu làm điện Giảng Võ Phía trước là
Trang 8Long Trì (Ao rồng), lại mở cửa Phi Long thông với cung Nghinh Xuân, cửaĐan Phượng thông với cửa Uy Viễn, chính hướng Nam là điện Cao Minh,thềm gọi là thềm rồng; bên trong thềm rồng có mái cong, hàng hiên baoquanh bốn mặt Sau điện Càn Nguyên dựng hai điện là Long An và LongThụy làm nơi nghỉ ngơi; bên tả làm điện Nhật Quang, bên hữu làm điệnNguyệt Minh; đằng sau dựng hai cung Thuý Hoa và Long Thụy làm chỗ chocung nữ, phía Đông gọi là cửa Tường Phù, phía Tây gọi là cửa Quảng Phúc,phía Nam gọi là cửa Đại Hưng, phía Bắc là cửa Diệu Đức Ở trong thành làmchùa Hưng Thiên Ngự và lầu Ngũ Phượng Tinh, bên ngoài thành làm chùaThắng Nghiêm ở phía Nam (Càn là một trong bát quái, tượng trưng chodương tính, cương kiện Càn là Trời, là vua, là cha. Nguyên là bắt đầu, là đệnhất, là thiên địa vạn vật, là bản nguyên).
Năm 1027, điện Càn Nguyên bị sét đánh gây hư hỏng nặng và đã bị phá bỏtrong vụ “loạn tam vương” (1028) Đến năm Thiên Thành thứ hai (1029) vua
Lý Thái Tông thấy rồng hiện ở nền cũ điện Càn Nguyên, nên đã cho xây dựnglại chính điện trên đó và đổi tên là điện Thiên An Đồng thời một loạt cungđiện mới được xây dựng xung quanh điện này, bên trái là điện Tuyên Đức,bên phải là điện Diên Phúc, phía trước điện Thiên An là Long Trì Hai bên tảhữu Long Trì đặt lầu chuông để dân ai có việc kiện tụng oan uổng thì đánhchuông lên Bốn xung quanh Long Trì có hành lang để các quan hội họp vàcấm quân túc vệ Phía trước là điện Phụng Thiên, trên điện dựng lầu ChínhDương làm nơi giữ giờ khắc Phía sau dựng điện Trường Xuân, trên điệndựng gác Long Đồ làm nơi nghỉ ngơi ngắm cảnh Bên ngoài đắp tường thànhquây lại gọi là Long Thành, tiền thân của Long Phượng Thành, Cấm Thành ởcác thời Trần, Lê.
Đến cuối thời Lý, xảy ra nhiều cuộc chính biến tranh giành quyền lực, khuvực Cấm Thành trong thành Thăng Long đã bị tàn phá rất nhiều Khi xác lậpđược quyền bính trong tay, các vua Trần đã cho xây dựng, sửa sang lại Hoàng
Trang 9Cung, Cấm Thành Trong thành nội, từ năm 1230, lập cung điện, lầu gác làmnơi thiết triều, phía Đông phía Tây làm hành lang, giải vũ Bên trái là cungThánh Từ - nơi Thượng Hoàng ở, bên phải là cung Quan Triều - nơi vua ở.
Năm 1243, xây nội thành gọi là Long Phượng Nguyên sử chép về thànhLong Phượng khi quân Nguyên tiến chiếm năm 1285 như sau: "Cung thất có
5 cửa, trên đề Đại Hưng môn, có cửa nách ở bên phải và bên trái Chính điện
có 9 gian đề Thiên An ngự điện, cửa chính Nam đề Triều Thiên các" Thực ra,cửa Đại Hưng là cửa Nam của Hoàng Thành ở khoảng chợ Cửa Nam bây giờ,cửa làm theo kiểu tam quan, lại kèm thêm hai cửa nách nên gọi là "ngũ môn".Trên cửa có lầu Qua cổng Nam của Hoàng Thành đi sâu vào bên trong, phảiqua một cổng nữa mới tới chính điện của Hoàng cung Cổng đó cũng ở chínhNam, gọi là Dương Minh môn, trên cổng có gác, gọi là Triều Thiên các Cửanách bên trái gọi là Nhật Tân môn, cửa nách bên phải gọi là Vân Nội môn,bên trong có "Thiên Tỉnh" điện Tập Hiền, trên điện có gác lớn gọi là MinhLinh các, từ phía bên phải đi tới còn thấy một điện lớn nữa gọi là Đức Huyđiện, cửa bên trái gọi là Đông Lạc môn, cửa bên phải là Kiều Ứng môn
Ngoài các cung điện mô tả ở trên, trong Hoàng cung còn có nhiều cungđiện khác Điện Diên Hồng là nơi diễn ra Hội nghị Diên Hồng thời Trần nổitiếng trong lịch sử Điện Diên Hồng, điện Bát Giác là nơi vua thiết yến cácquan Vọng lâu là nơi vua ngự xem lính đấu nhau với voi, hổ
Kiến trúc trong Hoàng Cung, Cấm Thành đời Trần có thể tóm lược nhưsau:
- Cửa thành: Đầu là lối cửa tam quan, dưới là cổng (một chính, hai phụ), trên
là gác hai lầu Cửa rộng và sâu nên phía trên lầu gác cũng khang trang rộngrãi, vua quan có thể tổ chức hội họp, yến tiệc…
Trang 10- Điện: Xây trên nền cao, phải bước qua nhiều bậc mới lên tới điện Nhiềuđiện kiến trúc hai tầng, dưới là điện trên là gác Điện đều có hành lang rộng,đảm bảo thoáng mát, trên hành lang có thể bày tiệc được.
Trong 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông (1258, 1285,1288) thành quách, lâu đài, cung điện đã bị giặc đốt phá Tiếp đến vào cácnăm 1371, 1378 quân Chiêm Thành đánh vào Thăng Long, một lần nữanhững lầu son gác tía lại chịu cảnh tàn phá
Sang thời kỳ nhà hậu Lê, sau khi đánh đuổi giặc Minh, thống nhất nonsông đất nước, vua Lê Thái Tổ vẫn giữ Thăng Long làm kinh đô và bắt đầutiến hành việc xây dựng lại các cung điện Theo Đại Việt sử ký toàn thư, điệnKính Thiên được xây dựng vào năm 1428 đời vua Lê Thái Tổ, công việc đượctiến hành trong nhiều năm và hoàn thiện vào đời vua Lê Thánh Tông ĐiệnKính Thiên được xây dựng trên núi Nùng (một biểu tượng về hình thế tựnhiên của Thăng Long) ngay trên nền cũ của chính điện Càn Nguyên, Thiên
An thời Lý Phía trước điện Kính Thiên có điện Thị Triều, phía Đông là điệnVạn Thọ, phía Tây là điện Chí Kính
Năm 1490, vua Lê Thánh Tông đã "nhân theo quy chế cũ nhà Lý, nhàTrần" sai quân đắp thêm "Phượng Thành" ra ngoài trường đấu võ Năm 1514,
để thoả mãn nhu cầu ăn chơi xa xỉ, vua Lê Tương Dực lại "đắp thành baosông Tô Lịch", "sông dài mấy nghìn trượng, bao vây cả điện Tường Quan,quán Trấn Vũ, chùa Thiên Hoa ở phường Kim Cổ, trên đắp Hoàng Thành,dưới làm cửa cống, lấy ngói vỡ và đất đá nện xuống, lấy đá phiến gạch vuôngxây nền, lấy sắt xâu ngang" Đây là Hoàng Thành có diện tích và chu vi lớnnhất so với Hoàng Thành Thăng Long ở các thời kỳ trước và sau đấy
Thời Lê sơ, điện Kính Thiên là nơi vua thiết triều Thời Lê TrungHưng, với sự hiện diện của lầu Kính Thiên trong phủ chúa Trịnh, điện Kính
Trang 11Thiên được sử dụng làm nơi thờ trời đất và diễn ra những nghi thức quantrọng như lễ lên ngôi và ban chiếu, lễ thánh thọ, lễ tiết chính đán…
Sang thế kỷ XVIII, Hoàng Cung không được tu sửa thường xuyên doquyền hành vào tay chúa Trịnh Phủ chúa ngoài Hoàng Thành được mở rộngcòn tường Hoàng Thành thì bị sụt lở nhiều Cuối thế kỷ XVIII, khi quân TâySơn ra Bắc, các cửa Hoàng Thành đã đổ gần hết, chỉ còn lại hai cửa Đại Hưng
và Đông Hoa
Khi vua Quang Trung lên ngôi, tạm đóng đô ở Phú Xuân – Huế và xâydựng Vinh làm Phượng Hoàng Trung đô, Thăng Long trở thành trị sở của trấnBắc Thành Nhà Tây Sơn đã cho sửa đắp lại Hoàng Thành "theo nền cũ đắpthành quanh từ cửa Đông Hoa đến cửa Đại Hưng" và làm thêm một số côngtrình mới.
Tiếp đó, nhà Nguyễn (1802 - 1945) tiếp tục lấy Huế làm nơi định đô vàThăng Long vẫn giữ vai trò là trị sở của trấn Bắc Thành Năm 1803 - 1805,vua Gia Long cho xây dựng lại thành Thăng Long theo kiểu Vauban (mộtkiểu kiến trúc thành lũy quân sự của người Pháp) Năm 1805, trong tên ThăngLong, chữ Long là rồng đổi thành chữ Long là thịnh vượng
Năm 1831, vua Minh Mạng thực hiện một cuộc cải cách hành chínhlớn, lập các tỉnh trong đó có tỉnh Hà Nội Tên Hà Nội có từ đây và thành HàNội là trị sở của tỉnh Hà Nội
Cuối thế kỷ XIX, khi chiếm được Hà Nội, người Pháp đã phá thành HàNội và biến nơi đây thành nơi đóng quân Năm 1886, phá điện Kính Thiênxây trụ sở chỉ huy pháo binh của quân đội Pháp
Từ sau năm 1954, khu vực Thành cổ Thăng Long - Hà Nội trở thànhtrụ sở làm việc của Bộ Quốc phòng Từ đây, có thêm nhiều di tích cách mạng
Trang 12trong khu vực thành cổ, điển hình là Di tích cách mạng Nhà D67 Tại nơi nàynhiều quyết định quan trọng của Bộ Chính trị và quân đội ta trong khángchiến chống Mỹ cứu nước đã được ra đời, tiêu biểu là trong Chiến dịch MậuThân (1968), trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng khôngquân của đế quốc Mỹ 12 ngày đêm cuối năm 1972 và đặc biệt là Chiến dịch
Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước(30/4/1975)
Sau khi nước nhà thống nhất, đây vẫn là nơi làm việc của Bộ Quốcphòng và nhiều quyết định quan trọng trong cuộc chiến tranh biên giới phíaBắc, biên giới Tây Nam cũng được ra đời từ đây
Như vậy, từ khi vua Lý Thái Tổ định đô ở Thăng Long cho đến nay, thànhThăng Long gần như liên tục giữ vị trí là quốc đô, trừ vài gián đoạn ngắn.Vào những năm từ 1397 - 1400, Hồ Quý Ly sau khi tiếm quyền của nhà Trần,
đã dời đô về Thanh Hoá lập thành Tây Đô, nhưng Thăng Long vẫn mang tên
là Đông Đô Thời thuộc Minh với tên gọi thành Đông Quan, Thăng Long vẫn
là thủ phủ của chính quyền đô hộ Thời Lê sơ (thế kỷ 15) đổi tên gọi là ĐôngKinh, Thăng Long trở lại vị trí quốc đô Thời Tây Sơn, khi Quang Trung đóng
đô ở Phú Xuân - Huế (1788 - 1802) và thời Nguyễn (1802 - 1945) khi GiaLong tiếp tục đóng đô ở Huế, Thăng Long vẫn là đô thị hàng đầu của đấtnước Thời Pháp thuộc, Hà Nội là thủ phủ của toàn xứ Đông Dương thuộcPháp Sau Cách mạng tháng 8 - 1945, Hà Nội khôi phục vị trí Thủ đô củanước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, rồi nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam cho đến nay Đây là đặc điểm nổi bật và rất độc đáo của Thăng Long -
Hà Nội mà hiếm thấy một Thủ đô của quốc gia nào trên thế giới có được
Trang 131.2 Các yếu tố cấu thành di tích
Trải qua thời gian và những biến cố của lịch sử, thành Thăng Long đã cónhiều thay đổi, biến dạng, nhưng đến nay vẫn còn thấy được cả di tích trênmặt đất, dưới lòng đất, di tích lịch sử cách mạng, di tích khảo cổ, di tích kiếntrúc nghệ thuật,… tạo thành hệ thống các di tích được đánh giá là quan trọngbậc nhất trong hệ thống các di tích đô thị cổ, trung, cận, hiện đại của nước ta.Hiện tại, trong khu vực trung tâm Thành cổ Thăng Long - Hà Nội còn lại 5điểm di tích nổi trên mặt đất phân bố theo trục Bắc – Nam, còn gọi là “Trụcchính tâm”, “Trục ngự đạo”, gồm có: Kỳ Đài, Đoan Môn, nền điện KínhThiên, Hậu Lâu, Bắc Môn, tường bao và kiến trúc cổng hành cung thờiNguyễn, di tích nhà và hầm D67, các công trình kiến trúc Pháp…
Kinh thành Thăng Long từ thời Lý được xây dựng theo cấu trúc ba vòngthành, gọi là “tam trùng thành quách”: vòng thành ngoài là La thành hay Đại
La thành, vòng thành giữa là Hoàng thành (thời Lý - Trần - Lê gọi là ThăngLong thành, thời Lê còn gọi là Hoàng thành) và vòng thành trong cùng gọi làCấm thành (hay Cung thành) Cấm thành từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII hầunhư không thay đổi và còn bảo tồn cho đến nay hai vật chuẩn rất quan trọng.Thứ nhất là nền điện Kính Thiên xây dựng thời Lê sơ (1428) trên nền điệnCàn Nguyên (sau đổi tên là điện Thiên An) thời Lý, Trần Đó vốn là vị trí củanúi Nùng (Long Đỗ - Rốn Rồng), được coi là tâm điểm của Cấm thành vàHoàng thành, nơi chung đúc khí thiêng của non sông đất nước theo quan niệmphong thuỷ cổ truyền, mà di tích hiện còn là nền điện với bậc thềm và lan can
đá chạm rồng thế kỷ 15 Thứ hai là cửa Đoan Môn, cửa Nam của Cấm thànhthời Lý - Trần - Lê Trên vị trí này hiện nay vẫn còn di tích cửa Đoan Mônthời Lê
Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (1799-1872), trong sách Đại Việt địa dưchí toàn biên có đoạn mô tả khá rõ ràng về Hoàng thành Thăng Long thời Lê:
Trang 14“Ở giữa là Cung thành, trong cửa Cung thành là Đoan Môn Trong Đoan Môn
là điện Thị Triều, trong điện Thị Triều là điện Kính Thiên Bên hữu KínhThiên là điện Chí Kính, bên tả là điện Vạn Thọ Bên hữu Đoan Môn là TâyTrường An, bên tả là Đông Trường An, ở giữa có Ngọc Giản Trong Hoàngthành và ngoài Cung thành ở phía Đông là Thái Miếu, sau là Đông Cung”
1.3 Một số di tích tiêu biểu
1.3.1 Kỳ Đài
Kỳ Đài còn gọi là Cột cờ Hà Nội, khởi dựng vào đầu thời Nguyễn (1805 –1812) Kỳ đài gồm 3 tầng đế và 1 thân cột Tầng 1 mỗi chiều dài 42,5m, cao3,1m, có hai thang gạch dẫn lên Tầng 2, mỗi chiều dài 27m, cao 3,7m có 4cửa Tầng 3, mỗi chiều dài 12,8m, cao 5,1m, có cửa lên cầu thang trông vềhướng Bắc Trên tầng này là thân Cột Cờ, cao 18,2m, hình trụ tám cạnh, thondần lên, mỗi cạnh đáy chừng 2m Trong thân cột có cầu thang 54 bậc xâyxoáy trôn ốc lên tới đỉnh Đỉnh Kỳ Đài được cấu tạo thành một cái lầu hìnhbát giác, cao 3,3m, có 8 cửa sổ tương ứng với 8 cạnh Giữa lầu là một khốihình trụ tròn, đường kính 40cm, cao đến đỉnh lầu, là chỗ để cắm cờ (cán cờcao 8m) Toàn bộ Cột Cờ cao 33,4m Khi người Pháp phá thành Hà Nội, họđịnh phá luôn cột cờ, song may mắn là họ không tiến hành việc này vì họmuốn biến nó thành đài xem đua ngựa Kỳ Đài được xếp hạng di tích quốc giangày 21/01/1989
1.3.2 Đoan Môn
Đoan Môn là cửa trong cùng dẫn vào Cấm thành – nơi ở, làm việc của Vua
và hoàng gia Đoan Môn được xây dựng từ thời Lý với tên gọi Ngũ Môn Lâu.Tuy nhiên, kiến trúc hiện còn là được xây dựng vào thời Lê và được tu bổ,sửa sang vào thời Nguyễn Đoan Môn là cổng có vị trí rất quan trọng GiữaĐoan Môn và điện Kính Thiên là Long Trì, nơi cử hành các nghi lễ chính trị
và tôn giáo thiêng liêng Đoan Môn còn tương đối nguyên vẹn, được xây
Trang 15dựng theo chiều ngang, cấu trúc hình chữ U, từ Đông sang Tây dài 46,5m, từNam lên Bắc đoạn giữa dài 13m, cánh gà hai bên đo được 26,5m, cao 6m.Phần kiến trúc chính làm kiểu vọng lâu, với 3 cửa vòm cuốn Cửa giữa lớnnhất dành riêng cho nhà Vua, hai bên có 4 cửa nhỏ hơn dùng để các quan,hoàng thân quốc thích ra vào cung cấm Đoan Môn được xếp hạng di tíchquốc gia ngày 06/4/1999.
1.3.3 Nền điện Kính Thiên
Là di tích trung tâm, hạt nhân chính trong tổng thể các di tích của Thành
cổ Thăng Long – Hà Nội Điện Kính Thiên được xây dựng năm 1428, đượccoi là “một trong những tuyệt tác của kiến trúc An Nam”, tuy nhiên đã bị thựcdân Pháp phá năm 1886 để xây dựng trụ sở chỉ huy pháo binh, hiện chỉ cònlại nền điện Kính Thiên và hai bậc thềm rồng đá Thềm Rồng phía trước đượctạo tác năm 1467, gồm 9 bậc đá, với 3 lối lên xuống, lối chính dành cho Vua
đi, hai bên dành cho quần thần Đôi rồng ở giữa uốn 7 khúc, chân có 5 móng.Thềm rồng phía sau tạo tác khoảng cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ XVIII Đây lànhững hiện vật vô cùng quý giá, biểu tượng cho sức sống mãnh liệt, trườngtồn của văn hóa dân tộc
1.3.4 Hậu Lâu
Hậu Lâu còn gọi là Tĩnh Bắc Lâu, Lầu Công Chúa, hay Chùa Các Bà,được xây dựng năm 1821, với mục đích ban đầu sử dụng làm nơi thờ Phật.Cuối thế kỷ XIX, Hậu Lâu bị hư hỏng nặng, người Pháp đã cải tạo xây dựnglại như hiện nay Hậu Lâu được xếp hạng di tích quốc gia ngày 06/4/1999
1.3.5 Chính Bắc MônCòn gọi là Bắc Môn hay Cửa Bắc, là cổng thành phía Bắc, được xây dựngnăm 1805 Theo bản đồ năm 1884, phần trên cổng thành là một Vọng lâu 8
Trang 16mái Vọng lâu đã bị thực dân Pháp phá Vọng Lâu hiện nay gồm hai tầng támmái, với đầu đao truyền thống, mới được trùng tu, xây dựng năm 1999 –
2000 Chính Bắc môn được xếp hạng di tích quốc gia ngày 06/4/1999
1.3.6 Tường bao và 8 cổng hành cung thời Nguyễn
Theo Đại Nam nhất thống chí: Năm 1805, khi xây thành Hà Nội theo kiểuVauban, nhà Nguyễn đã xây dựng tường bao từ cửa Đoan Môn quanh nộiđiện làm Hành cung để Vua làm việc và nghỉ ngơi mỗi khi Bắc tuần Hiệnnay, trong khu thành cổ còn 8 cổng cùng với tường bao Hành cung bằng gạch
vồ, xung quanh trung tâm thành Hà Nội thời Nguyễn
1.3.7 Di tích nhà và hầm D67Năm 1966, Mỹ bắt đầu đánh phá Thủ đô Hà Nội bằng không quân ngàycàng ác liệt Để đảm bảo an toàn nơi làm việc của cơ quan Tổng hành dinhtrong chiến tranh, Bộ Quốc phòng quyết định xây dựng hầm và một ngôi nhàkiên cố trong khu A, Thành cổ Hà Nội Ngôi nhà thiết kế năm 1967, được gọi
là Nhà D67 Nơi đây, từ tháng 9/1968 đến ngày 30/4/1975, Bộ Chính trị,Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh đã đề ra nhiều chủ trương, kếhoạch chiến lược, chiến dịch, chỉ thị, mệnh lệnh cho quân, dân cả nước chiếnđấu, đánh bại các chiến lược quân sự của Mỹ, giành thắng lợi trọn vẹn chocuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Nhà D67 là nơi gắn bó với các đồngchí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội trong cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước
1.3.8 Những công trình kiến trúc Pháp
Hệ thống các công trình mang phong cách kiến trúc Pháp trong khu vựcthành cổ Hà Nội được xây dựng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, gồm có: tòanhà sở chỉ huy pháo binh quân đội Pháp; một tòa nhà 2 tầng xây dựng năm
Trang 171897, nay dùng làm trụ sở của Cục Tác chiến; hai tòa nhà một tầng xây dựngnăm 1897 Phía Đông của tòa nhà Cục Tác chiến có một ngôi nhà khách xâydựng năm 1930 với mái ngói dốc đứng, mái hiên rộng thể hiện kiến trúc đặcthù của thời kỳ này.
1.3.9 Cây xanh trong khu di tích
Quần thể cây xanh với mật độ dày, đa dạng về chủng loại và số lượng,tạo nên một môi trường trong lành, cảnh quan hài hòa của khu di tích Phầnlớn được trồng từ thế kỷ XIX, nhiều cây đến nay đã thành cổ thụ, làm tăngthêm nét cổ kính và thiêng liêng của khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long– Hà Nội
1.3.10 Di tích khảo cổ tại 18 Hoàng Diệu
Khu di tích khảo cổ tại 18 Hoàng Diệu nằm ở phía Tây, cách nền điệnKính Thiên hiện còn trong Thành cổ Hà Nội khoảng 100m và cách Đoan Mônkhoảng 170m Ở vị trí này, khu di tích được xác định rõ là nằm ở phía Tâycủa Cung thành hay Cấm thành (trung tâm của Hoàng thành) Cấm thành làtrung tâm đầu não của các vương triều, nơi diễn ra các nghi lễ quan trọng bậcnhất của đất nước, trung tâm làm việc và nơi ở của Vua và Hoàng gia qua cáctriều đại Lý - Trần - Lê Khu tích tích có diện tích rộng 4,530 ha (45.300 m2),được khai quật từ tháng 12/2002, phân định làm 4 khu, đặt tên là A, B, C, D.Tại đây đã phát hiện rất nhiều dấu tích nền móng của các công trình kiến trúc
gỗ có quy mô bề thế và nhiều loại hình di vật có giá trị, bao gồm vật liệutrang trí kiến trúc, đồ gốm sứ, đồ kim loại, đồ gỗ, di cốt động vật… có niênđại từ thế kỷ 7 – 9 đến thế kỷ XIX, với hàng trăm kiểu mẫu khác nhau
Tiểu kết chương 1
Trang 18Giá trị của Hoàng thành Thăng Long là giá trị tự thân Giá trị tự thân ấyđược tích lũy từ ngàn đời xưa cho đến hôm nay UNESCO công nhận danhhiệu di sản văn hóa thế giới cho Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long xácnhận giá trị tự thân và tầm cỡ quan trọng của Hoàng thành Thăng Long Trởthành Di sản văn hóa thế giới, Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long sẽ có
cơ hội được nhiều người biết đến hơn, đặc biệt là những người ở ngoài ViệtNam Đó là thuận lợi lớn để quảng bá và thu hút du khách đến với Hoàngthành Thăng Long đến với Hà Nội
Không chỉ mang lại lợi ích về mặt kinh tế, sự công nhận của tổ chức vănhóa uy tín nhất thế giới về giá trị của Hoàng thành Thăng Long còn là nguồnđộng viên tinh thần rất lớn cho nhân dân Việt Nam Di sản ngàn đời của chaông truyền lại, nay được khẳng định là di sản của toàn nhân loại, được thếgiới tôn vinh và được bè bạn khắp năm châu nâng niu Là người dân ViệtNam, người dân Hà Nội có ai không thấy phấn khởi, tự hào Tuy nhiên, giá trị
tự thân ấy không phải là vĩnh cửu Nó có thể bị mai một nếu hậu thế khônggắng sức giữ gìn