LỜI CẢM ƠN Chuyên đề tốt nghiệp chuyên ngành Điều dưỡng Nội với đề tài “Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe người bệnh tăng huyết áp của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Một số định nghĩa a Khái niệm về giáo dục sức khỏe [1]
Giáo dục sức khỏe là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến suy nghĩ, tình cảm, lý trí của con người nhằm làm thay đổi hành vi sức khỏe có hại thành hành vi sức khỏe có lợi, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho cá nhân, tập thể và cộng đồng
GDSK phòng chống tăng huyết áp là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến suy nghĩ và tình cảm của người bệnh, nhằm nâng cao hiểu biết – kiến thức về bệnh Tăng huyết áp, thay đổi thái độ và thực hành các hành vi lối sống lành mạnh để bảo vệ nâng cao sức khỏe cho cá nhân, gia đình và cộng đồng
GDSK phòng chống tăng huyết áp tác động vào 3 lĩnh vực: kiến thức của con người về sức khỏe, thái độ của con người đối với sức khỏe, thực hành hay cách ứng xử của con người đối với bảo vệ và nâng cao sức khỏe [1] b Khái niệm về huyết áp, tăng huyết áp [5]
Huyết áp là áp lực máu cần thiết tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể Huyết áp thể hiện bằng hai chỉ số:
Huyết áp tối đa (còn gọi là huyết áp tâm thu hoặc ngắn gọn là số trên), bình thường từ 90 đến 139 mmHg
Huyết áp tối thiểu (còn gọi là huyết áp tâm trương hoặc ngắn gọn là số dưới), bình thường từ 60 đến 89 mmHg
Tăng huyết áp được định nghĩa là khi huyết áp (huyết áp tâm thu và/hoặc huyết áp tâm trương) cao hơn mức bình thường Theo tổ chức y tế thế giới, tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu từ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương từ 90mmHg trở lên
1.2 Phân loại giai đoạn tăng huyết áp [4]
Bảng 1.1: Phân loại giai đoạn tăng huyết áp
Khái niệm HA tâm thu
HA bình thường < 130 và/hoặc < 85
Tăng huyết áp Độ I 140 - 159 và/hoặc 90 - 99 Độ II 160 - 179 và/hoặc 100 - 109 Độ III ≥ 180 và/hoặc ≥ 110
THA tâm thu đơn độc ≥ 140 Và < 90
THA thường xuyên: Chỉ số huyết áp tăng thường xuyên ở mức ≥ 140 mmHg
THA dao động: Chỉ số huyết áp ≥ 140 mmHg không thường xuyên
THA cơn: Trên cơ sở huyết áp bình thường hoặc gần bình thường, có những cơn THA tăng vọt, những lúc có cơn này thường dễ xảy ra tai biến
THA nguyên phát (vô căn)
THA thứ phát Đối với người bệnh THA khi đo lần đầu: huyết áp (max): 140-159 mmHg, HA (min):90-99 mmHg cần khẳng định lại trong vòng 1-2 tuần
Nếu đo HA lần đầu >160/100 mmHg thì có thể xác định là THA
Vì HA có thể lên xuống trong những điều kiện nhất định nên để biết một người có tăng HA hay không thì không thể xác định qua một lần đo mà phải đo nhiều lần trong ngày, thậm chí là trong tháng Khi đó người bệnh phải tuân thủ những yêu cầu như: không hút thuốc lá hoặc uống cà phê trước khi đo khoảng 30 phút, tinh thần được thoải mái và phải đo đúng phương pháp [5]
1.3 Các nguyên nhân gây tăng huyết áp [4] [5]
Mặc dù nguyên nhân chính xác gây ra tăng huyết áp vẫn chưa được biết rõ nhưng có một số yếu tố có mối liên kết rất chặt chẽ với căn bệnh tăng huyết áp như:
- Béo phì hoặc dư cân
- Công việc đòi hỏi phải ngồi lâu
- Thiếu hoạt động thể lực
- Lượng muối ăn vào nhiều
- Thiếu hấp thu calci, kali, magiê
- Các loại thuốc ví dụ như thuốc ngừa Tăng huyết áp dạng uống
- Gen: yếu tố về gia đình có người tiền căn bị tăng huyết áp
- Bướu hay các bệnh lý của tuyến thượng thận hay tuyến giáp
1.4 Những triệu chứng tăng huyết áp có thể có như [4] [5]
- Có vấn đề về thị giác
- Các vấn đề về hô hấp
1.5 Các biến chứng thường gặp của tăng huyết áp [4] [5]
*Các biến chứng tim mạch:
- THA lâu ngày làm hư lớp nội mạc (lớp áo trong cùng) của mạch vành, làm các phân tử Cholesterol tỷ trọng thấp (Cholesterol-LDL) dễ dàng đi từ lòng mạch máu vào lớp áo trong động mạch vành, sau đó làm hình thành mãng xơ vữa động mạch và làm hẹp mạch vành Khi bị hẹp động mạch vành nhiều, người bệnh thấy đau ngực, ngẹn trước ngực khi gắng sức, khi vận động nhiều, cơn đau giảm khi người bệnh ngừng gắng sức (triệu chứng bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ) Đau trước ngực có thể lan lên cổ, lan ra tay trái và ra sau lưng Nếu mãng xơ vữa động mạch bị nứt, vỡ thì trong lòng động mạch vành hình thành cục huyết khối, làm tắc động mạch vành làm người bệnh bị nhồi máu cơ tim Khi bị nhồi máu cơ tim, người bệnh thấy đau dữ dội trước ngực, khó thở, toát mồ hôi, đau có thể lan lên cổ, lan ra tay trái, lan ra sau lưng
- THA làm cơ tim phì đại (cơ tim dầy lên)
- Người bệnh bị nhồi máu cơ tim do THA sẽ có một vùng cơ tim bị chết, không thể co bóp được, dẫn đến suy tim THA lâu ngày làm cơ tim phì đại, nếu không được điều trị THA cũng sẽ dẫn đến suy tim
* Các biến chứng về não:
- Xuất huyết não: Khi huyết áp lên quá cao, mạch máu não không chịu nổi áp lực cao có thể bị vỡ, lúc đó người bệnh bị xuất huyết não, gây liệt nửa người, liệt hoàn toàn, nặng thì có thể tử vong (triệu chứng của người bệnh tùy vùng xuất huyết lớn hay nhỏ và tùy vị trí vùng xuất huyết)
- Nhũn não: THA làm hẹp mạch máu nuôi não (tương tự hư mạch vành), nếu mãng xơ vữa bị nứt, vỡ, làm hình thành cục máu đông, làm tắc mạch máu não gây chết 1 vùng não (còn gọi là nhũn não)
- Thiếu máu não: THA làm hẹp động mạch cảnh, động mạch não, làm máu bơm lên não không đủ khiến người bệnh thấy chóng mặt, hoa mắt, có khi bất tỉnh
* Các biến chứng về thận:
- THA làm hư màng lọc của các tế bào thận, làm người bệnh tiểu ra protein (bình thường không có); lâu ngày gây suy thận
- THA còn làm hẹp động mạch thận, làm thận tiết ra nhiều chất Renin làm huyết áp cao hơn Hẹp động mạch thận lâu ngày gây suy thận
* Các biến chứng về mắt: THA làm hư mạch máu võng mạc, thành động mạch dày và cứng làm hẹp lòng mạch lại Khi có quá trình xơ cứng thành mạch thì động mạch sẽ đè bẹp tĩnh mạch và cản trở tuần hoàn làm người bệnh hư mắt tiến triển theo các giai đoạn
THA còn làm xuất huyết võng mạc, phù đĩa thị giác làm giảm thị lực, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa
* Các biến chứng về mạch ngoại vi:
- THA làm động mạch chủ phình to, có thể bóc tách và vỡ thành động mạch chủ dẫn đến chết người
- THA làm hẹp động mạch chậu, động mạch đùi, động mạch chân Khi động mạch chi dưới bị hẹp nhiều, người bệnh đi một đoạn đường thì đau chân, phải đứng lại nghỉ (đau cách hồi) Đại đa số người bệnh bị THA thường không có các dấu hiệu nào cảnh báo trước Quan điểm trước đây cho rằng cứ THA là phải có đau đầu, mặt bừng đỏ, béo là hết sức sai lầm Nhiều người bệnh hoàn toàn cảm thấy bình thường, do vô tình khám sức khỏe mới biết bị bệnh Sự xuất hiện triệu chứng đau đầu đã có thể là biến chứng nặng nề của người bệnh THA do bị tai biến mạch máu não Do vậy, việc kiểm tra huyết áp thường xuyên, nhất là những người có nguy cơ cao (như lớn tuổi, béo phì, ít vận động, trong gia đình đã có người thân bị THA…) là hết sức cần thiết và quan trọng
CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trên thế giới có khoảng 7,1 triệu người chết hàng năm do tăng huyết áp gây ra, chiếm 13% tổng tỉ lệ tử vong toàn thế giới [22], [24] và 4,5% gánh nặng bệnh tật toàn cầu (có tới 64 triệu người sống trong tình trạng cơ thể bị tàn phế) [24] Tỷ lệ tăng huyết áp ở các nước Âu- Mỹ khá cao, chiếm từ 15- 20% dân số [22].Theo ước tính tỉ lệ tăng huyết áp ở người lớn trên thế giới năm 2000 là 26,4% (khoảng tương đương với 1 tỉ người mắc) sẽ tăng lên 29,2% vào năm 2025 (khoảng 1,5 tỉ người) [22], [24] Theo Tổ chức Y tế thế giới ước tính tỷ lệ THA năm 2000 là 26,4%, sẽ tăng lên 29,2% vào năm 2025 tương đương với 1,56 tỷ người Tỷ lệ THA ở Mỹ năm 2003 là 28%, năm 2004 là 29% [22]
Theo Peter C.G (1990) có khoảng trên 58 triệu người Mỹ bị tăng huyết áp.Tỷ lệ tăng huyết áp ở các nước trên thế giới không giống nhau dao động từ 6 - 30% dân số [22] Một số kết quả nghiên cứu đã được công bố, ở Pháp (1994) là 41%; Canada (1995) là 22%; Hungary (1996) là 26,2%; Tây Ban Nha ( 1996) là 30%; Cu Ba (1998) là 44%; Pikine – senegen ( 1995) là 10,43%; Thành thị ấn Độ
Trong một nghiên cứu về tỷ lệ hiện mắc THA và kiểm soát, điều trị THA của người cao tuổi ở Bangladesh, Ấn Độ năm 2001, cho thấy tỷ lệ hiện mắc THA của người cao tuổi là 65%, trong đó có 45% đã được phát hiện và điều trị, 40% điều trị bằng thuốc và chỉ có 10% là điều trị có hiệu quả [23]
Một nghiên cứu điều tra sức khỏe tim mạch tại Đức năm 1995 trên 23.129 đối tượng tuổi từ 18-74 của 20 tỉnh thành đã xác định tỷ lệ THA chung là 20%, ở nam chiếm 26%, nữ chiếm 19%, nghiên cứu ở Ấn Độ năm 1997 tỷ lệ THA là 23,7%, nghiên cứu ở Venezuela 1997 là 36,9% cho tỷ lệ THA ở nam là 45,2% và ở nữ là 28,9% [24]
Sonia Hammami nghiên cứu ở Tuydizia năm 2011 cho kết quả 81% nhận thức được mình bị THA, 78,4% người cao tuổi bị THA có điều trị, tuy nhiên chỉ có 30,7% là điều trị đúng [25]
2.1.2 Thực trạng về giáo dục sức khỏe
Truyền thông GDSK có vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng vì thế đã được Tổ chức y tế thế giới xếp là nội dung số một trong các nội dung về Chăm sóc sức khỏe ban đầu Hiện nay trên thế giới đang triển khai công tác GDSK cho người bệnh dưới nhiều hình thức và nhiều nội dung đa dạng khác nhau như tư vấn sức khỏe, thảo luận nhóm, tờ rơi, pano, áp phích… với các bài viết khoa học đầy đủ chi tiết có tính cách xây dựng, giáo dục
Tổ chức GDSK ở Ấn Độ được xem là hợp lý khi bao gồm đa dạng các đơn vị kỹ thuật, khi các cơ quan GDSK được thành lập ở tất cả các tuyến, khi các cơ quan GDSK nhà nước và các chương trình GDSK của các tổ chức phi chính phủ cùng tồn tại và có các hoạt động phối hợp với nhau Ở nước này, các cơ quan GDSK bao gồm 7 đơn vị kỹ thuật chính là: Đào tạo, truyền thông, biên tập, GDSK, nghiên cứu và đánh giá, thực địa và mô phỏng, đơn vị GDSK ở trường học [23]
Nhân lực thực hiện các hoạt động GDSK ở các nước thường đa dạng, gồm các cán bộ thuộc các chuyên ngành khác nhau như các bác sỹ chuyên khoa, bác sỹ đa khoa, các nhà tâm lý học, y tá, bác sỹ gia đình, các nhà dịch tễ học, các nhà quản lý… Các cán bộ này tùy theo vị trí của mình mà tham gia vào các hoạt động GDSK ở các mức độ khác nhau, từ việc thực hiện tư vấn trực tiếp cho bệnh nhân về bệnh của họ đến việc tổ chức các chương trình truyền thông, thiết kế phương tiện truyền thông và lập kế hoạch chiến lược cho các hoạt động GDSK [23]
2.2.1 Thực trạng kiến thức tự chăm sóc của người bệnh THA
Tại Việt Nam gần đây bệnh có xu hướng tăng rõ rệt Sau hơn 30 năm, từ
1960 đến 1999, tỷ lệ THA tăng từ 2-3% lên thành 16,05% (tăng 6-8 lần) và người trên 65 tuổi khoảng 50% bị THA Tỷ lệ trên toàn quốc năm 1992 là 11,78%, năm
2002 ở miền Bắc là 16,62% và Hà Nội là 23,2%, năm 2004 ở thành phố Hồ Chí Minh là 20,52% [3]
Tại Hải Dương, tỷ lệ THA ở người 50-80 tuổi là 28,2% và năm 2007 tỷ lệ này là 19,1% ở người trưởng thành [9]
Theo nghiên cứu của Trần Thiện Thuần về: Xác định yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức – thái độ – thực hành của bệnh nhân THA tại quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh năm 2006, kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân thiếu kiến thức bệnh lý THA cũng như kiến thức về cách theo dõi và điều trị bệnh này cao (50,61%) Nguyên nhân dẫn đến kiến thức thấp: Thiếu thông tin về THA có 61,6% Trình độ học vấn thấp 54% trình độ học vấn từ cấp II trở xuống Tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức sai đối với việc theo dõi và điều trị bệnh THA cao (74%) Nguyên nhân dẫn đến thái độ sai của người bệnh do: Thiếu kiến thức, hoàn cảnh kinh tế khó khăn Tỷ lệ bệnh nhân có thực hành sai trong việc theo dõi và điều trị THA cao (55%) Nguyên nhân dẫn đến thực hành sai do: Kiến thức sai, hoàn cảnh kinh tế Công tác quản lý người bệnh còn chưa hiệu quả: 52% bệnh nhân THA không đến đúng cơ quan y tế để khám bệnh
Số còn lại tuy có đến với cơ quan y tế tham gia theo dõi và điều trị nhưng mức độ không thường xuyên chiếm tỷ lệ cao 79,3% [14]
Nghiên cứu của Hoàng Cao Sạ về: Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành của bệnh nhân THA khu vực nông thôn tại Hà Nội và Vĩnh Phúc năm 2014 Kết quả cho thấy có 33,2% người mắc THA không biết HA thế nào là bình thường và 87,6% không biết HA được phân thành mấy độ Kiến thức về nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây THA còn hạn chế, đa số người mắc THA không biết hoặc hiểu sai về nguyên nhân các yếu tố nguy cơ gây THA, 87,9% người mắc THA biến chứng đột quỵ não nhưng dưới 43% không biết các biến chứng suy tim, suy thận, tổn thương đáy mắt…28% người mắc THA không hiểu điều trị THA thế nào cho đúng và 89,9% hiểu sai khi cho rằng bệnh THA có thể điều trị khỏi hoàn toàn, 38,7% người mắc THA không điều trị hoặc điều trị không liên tục [12]
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Út và cộng sự về Kiến thức, thái độ và thực hành của bệnh nhân THA tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương năm 2007 Kết quả cho thấy: [17]
- Có 71,7% số bệnh nhân biết biến chứng của THA là liệt nửa người
- Có 68,4% số bệnh nhân biết biến chứng của THA là suy tim
- Có 91,4% số bệnh nhân biết phòng THA bằng cách hạn chế ăn mặn,
- Có 92,9% biết phòng THA bằng cách tập thể dục hay đi bộ
- Trên 94% bệnh nhân được bác sỹ khuyên giảm ăn mặn để làm giảm huyết áp
- Có 81,1% được bác sỹ khuyên uống rượu vừa phải để làm giảm THA
- Có 96,2 % bệnh nhân đồng ý hoạt động thể lực như đi bộ, tập thể lực là cần thiết cho người THA
- Có 89,6% bệnh nhân hoạt động thể lực như tập thể dục hay đi bộ để kiểm soát cân nặng và huyết áp
- Có 93,7% bệnh nhân đồng ý rằng người bị THA nên ăn kiêng một số thực phẩm để kiểm soát cân nặng
- Có 92,2% bệnh nhân cho rằng ăn mỡ ít hơn so với trước đây
- Bệnh nhân đồng ý giảm ăn mặn 96,7%
- Bệnh nhân thực hành theo lời khuyên của bác sỹ bệnh viện là 89,6%
- Bệnh nhân có thực hành giảm ăn mặn 92,7%
- Có 69,7% biết bớt muối hay nước mắm vào thức ăn khi nấu để phòng ngừa THA
- Về thực hành có 86,9% bệnh nhân THA không uống bia
- Có 94,2% bệnh nhân THA không uống rượu nhẹ (rượu trái cây, rượu nếp, rượu vang)
- Có 94,9% bệnh nhân không uống rượu nặng như rượu đế
Nghiên cứu của Tạ Văn Trầm và cộng sự (2007) về: Kiến thức thái độ thực hành của bệnh nhân tăng huyết áp tại bệnh viện đa khoa Tiền Giang, kết quả: Có
200 người THA tham gia phỏng vấn: 72,3% biết THA nhờ vào khám định kỳ,
46,6% biết chính xác ngưỡng HA, 88% biết THA là bệnh nguy hiểm, 73,3% biết cách chữa trị, 16% biết ít nhất một tên thuốc trị HA, 56,5% tuân thủ điều trị, 8,9% điều trị thường xuyên, 22,8% mua thuốc theo toa cũ mà không tái khám [15]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Lân Việt (2006) cho thấy chỉ có 34,6% người bị THA biết mình có bệnh còn 65,4% không biết mình bị THA Có 24,9% đối tượng nghiên cứu sử dụng thuốc điều trị bệnh Kiến thức của người dân về các yếu tố nguy cơ bệnh THA dao động từ 35% - 85,6% Kiến thức của người dân về biễn chứng của bệnh THA dao động từ 52% - 84,7% [18]
Như vậy theo các nghiên cứu trên, người ta đã tìm được mối liên hệ giữa NB có kiến thức, thái độ, hành vi chăm sóc tốt thì tỷ lệ NB kiểm soát được huyết áp và xảy ra biến chứng giảm chính vì vậy công tác GDSK cho người bệnh THA là quan trọng và cần thiết tại các cơ sở Y tế và cộng đồng
2.2.2 Các qui định về giáo dục sức khỏe cho người bệnh THA
Thông tin chung về khoa Nội Tim mạch – BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc
Khoa Nội Tim mạch – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc được tách ra từ khoa Nội A của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc theo Quyết định số: 10/QĐ- SYT ngày 18 tháng 01 năm 2006 của Sở Y tế Vĩnh Phúc
Nhân sự hiện có của khoa gồm 32 cán bộ, trong đó: 13 bác sỹ (10 thạc sỹ, 03 bác sỹ) và 19 điều dưỡng (08 đại học và 11 cao đẳng)
Hiện nay, khoa tiếp nhận và điều trị các mặt bệnh liên quan đến tim mạch trong đó, THA là một bệnh phổ biến, chiếm tỷ lệ cao (khoảng 35%)
Số BN bị TBMMN do THA
Biểu đồ 1: Số người mắc bệnh THA và số người bị tai biến mạch máu não do THA điều trị tại Khoa Nội Tim mạch - BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2016 - 2020 Nhận xét: Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy số người bị THA vào điều trị và số người bệnh bị biến chứng TBMMN do THA từ năm 2016 - 2020 có xu hướng ngày càng tăng.
Thực trạng GDSK cho người bệnh THA tại khoa Nội Tim mạch BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc
2.2.1 Thực trạng kiến thức của người bệnh THA
Thông qua phỏng vấn nhanh một số người bệnh THA đang điều trị tại khoa Nội Tim mạch - BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc tôi nhận thấy:
Kiến thức của người bệnh về chăm sóc bệnh THA ở mức độ trung bình
Về chế độ ăn chỉ có một số ít người bệnh có kiến thức tốt về chế độ ăn (cụ thể người bệnh biết không ăn mặn, hạn chế mỡ và các phủ tạng động vật, ăn nhiều rau xanh, trái cây…) Số còn lại chỉ nắm được kiến thức chung chung, khi đi vào hỏi cụ thể thì người bệnh không nắm được chi tiết chế độ ăn, chính vì vậy người bệnh không biết cách xây dựng chế độ ăn đúng cho bản thân Đối với kiến thức về dùng thuốc: Người bệnh chỉ biết dùng thuốc theo đơn của bác sỹ, tuy nhiên người bệnh không biết cách theo dõi những tác dụng cũng như tác dụng phụ của thuốc như thế nào Đối với chế độ tập luyện: Người bệnh biết là THA cần tập luyện thể dục hàng ngày, nhưng không biết lựa chọn hình thức tập luyện thích hợp cho bản thân và cũng không biết thời gian tập cụ thể trong từng trường hợp Đối với kiến thức về biến chứng của THA: Đa số NB chỉ biết biến chứng về tai biến mạch máu não còn các biến chứng về suy thận, suy tim, mắt… hầu như NB đều không biết đến
Về cách theo dõi và tái khám sau khi ra viện: NB biết là phải đến khám lại theo đơn của bác sỹ nhưng NB không biết các dấu hiệu cần phải theo dõi và không biết các dấu hiệu nào chỉ bảo cần phải đi khám bác sỹ ngay
Như vậy người bệnh THA chỉ nắm được kiến thức chung chung về bệnh THA, những kiến thức cụ thể và chi tiết người bệnh vẫn chưa nắm được, chính vì vậy mà người bệnh không áp dụng được kiến thức đó vào trong việc tự chăm sóc cho bản thân tại gia đình và cộng đồng
2.2.2 Thực trạng GDSK tại khoa Nội Tim mạch - BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc
Thông qua phỏng vấn một số người bệnh và quan sát thực tế công tác GDSK cho NB tăng HA của nhân viên y tế tại khoa nội tim mạch BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc tôi nhận thấy:
Hầu hết người bệnh THA khi vào điều trị tại khoa đều được nhân viên y tế GDSK Tuy nhiên, khi tiến hành GDSK cho người bệnh THA, nội dung GDSK còn khá sơ sài nhân viên y tế thường chỉ chú trọng đến cách dùng thuốc và chế độ ăn còn lại những nội dung tập luyện, theo dõi biến chứng, và tái khám NB ít được GDSK
Hình thức GDSK cho NB THA chủ yếu là tư vấn trực tiếp được lồng ghép trong quá trình chăm sóc Người bệnh chưa có các buổi tư vấn cụ thể cũng như chương trình giáo dục chi tiết Khoa cũng chưa tạo được môi trường để NB chia sẻ khiến thức với nhau
Nguồn thông tin người bệnh THA được nhận thông tin GDSK chủ yếu qua nhân viên y tế tư vấn còn lại các hình thức khác (qua đài, tivi, internet, sách báo, tài liệu, tờ rơi, pano, áp phích) hầu như NB ít được biết đến
Trong khi đó, nhu cầu của NB tăng HA về các nội dung GDSK khá đa dạng: Hầu hết NB đều mong muốn GDSK về các nội dung (cách sử dụng thuốc, chế độ ăn, biến chứng THA, cách theo dõi tác dụng phụ của thuốc, chế độ tập luyện…) và mong muốn nhận được các thông tin về THA từ nhiều chiều và nhiều nguồn thông tin
Như vậy thực trạng về công tác GDSK cho NB tăng HA tại khoa nội BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc có những ưu điểm sau:
+ Các lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo khoa luôn quan tâm, hỗ trợ, chỉ đạo công tác GDSK cho NB tăng HA
+ Đa số cán bộ y tế có tâm huyết với nghề
+ Khoa đã tổ chức triển khai GDSK cho NB tăng HA bằng hình thức tư vấn trực tiếp lồng ghép trong quá trình điều dưỡng chăm sóc người bệnh Vì thế khi vào khoa, NB được điều dưỡng tư vấn một số kiến thức về bệnh THA
+ Khi NB được xuất viện về cộng đồng, NB được hướng dẫn về chế độ dùng thuốc, chế độ ăn và cách theo dõi HA thường xuyên tại nhà để phát hiện những biến chứng của THA
- Tuy nhiên công tác GDSK cho NB tăng HA tại khoa nội tim mạch BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc vẫn còn một số nhược điểm/ hạn chế sau: Đa số điều dưỡng tại khoa có trình độ Đại học, cao đẳng nhưng chưa được tập huấn nhiều về công tác GDSK vì thế chất lượng GDSK chưa cao, cách thức GDSK chưa phù hợp với từng NB
Nội dung GDSK còn sơ sài, GDSK cho NB còn mang tính hình thức, chưa sâu sát đến từng NB
Khoa cũng chưa có quy định cụ thể về GDSK cho người bệnh THA tại khoa Hình thức GDSK còn sơ sài, đơn giản Hầu hết mới chỉ tập trung vào hình thức tư vấn trực tiếp, các hình thức khác chưa được quan tâm, đặc biệt là chưa tạo được môi trường cho NB chia sẻ kinh nghiệm với nhau
Hạn chế tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện để thực hiện công tác GDSK: Chưa có phòng truyền thông GDSK, chưa đa dạng các hình thức truyền thông GDSK cho NB tăng HA (không có tranh ảnh, pano, áp phích), NB vào khoa chỉ được cán bộ y tế tư vấn THA
Trình độ hiểu biết của mỗi NB khác nhau nên tiếp thu kiến thức còn hạn chế, điều dưỡng chưa xây dựng được cách thức GDSK phù hợp với các đối tượng người bệnh
Công việc của điều dưỡng đôi khi bị quá tải do nguồn nhân lực còn hạn chế điều dưỡng chưa đầu tư thời gian vào công tác GDSK cho người bệnh
- Nguyên nhân của hạn chế
BÀN LUẬN
Ở nước ta nhận thức được vai trò quan trọng của TT-GDSK trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, Đảng, Nhà nước và Bộ Y tế rất quan tâm đến hoạt động TT- GDSK Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 2 năm 2005 của Bộ Chính trị đã khẳng định công tác thông tin, truyền thông, giáo dục sức khỏe là một trong những nhiệm vụ quan trọng và giải pháp chủ yếu để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới Truyền thông GDSK góp phần tích cực trong tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về y tế, trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng có thể chủ động phòng bệnh, xây dựng nếp sống vệ sinh, rèn luyện thân thể, hạn chế những lối sống và thói quen có hại với sức khỏe, phòng chống dịch bệnh và tham gia hoạt động bảo vệ, chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng, góp phần tạo ra sự bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe
Truyền thông GDSK là hoạt động không thể thiếu được trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Hiện nay ở nước ta hệ thống TT-GDSK đã được hình thành từ tuyến cơ sở đến tuyến trung ương Trong những năm qua, công tác TT-GDSK có nhiều cố gắng trong việc tuyên truyền bảo vệ sức khỏe nhân dân
Truyền thông GDSK cho người bệnh THA ở Việt Nam đã đưa vào chương trình mục tiêu Quốc gia về phòng chống THA Tuyên truyền GDSK dưới nhiều hình thức như truyền thông gián tiếp được triển khai rộng khắp tại các tỉnh/ thành phố thông qua các kênh truyền thông khá phổ biến như phát thanh, truyền hình; truyền thanh qua hệ thống loa truyền thanh của xã/ phường/ cụm dân cư; đăng tải các thông tin trên báo viết, báo điện tử của Trung ương và địa phương; tư vấn qua điện thoại, Internet, thư từ; sản xuất các bản tin GDSK tới cộng đồng dân cư phản ánh các hoạt động về công tác tuyên truyền chăm sóc và bảo bệ sức khỏe cho người bệnh THA
Các hình thức truyền thông trực tiếp được triển khai rộng khắp các tỉnh/ thành phố với nhiều hình thức như thăm hộ gia đình; thảo luận nhóm; tư vấn sức khỏe, tổ chức các buổi nói chuyện sức khỏe tại cộng đồng và thực hành trình diễn/ làm mẫu tại bệnh viện người bệnh THA được tư vấn trực tiếp, thảo luận nhóm, họp hội đồng người bệnh…
Cụ thể: Phối hợp với Đài truyền hình, Đài phát thanh từ Trung Ương tới địa phương xây dựng và phát sóng các chương trình GDSK phổ biến kiến thức về bệnh THA… nhằm cung cấp thông tin, phổ biến kiến thức về bệnh THA đến với đại đa số người dân vì mục tiêu đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng Chương trình được xây dựng một cách ngắn gọn và sinh động thông qua các bài phỏng vấn, nói chuyện với chuyên gia, các tiểu phẩm, tình huống… Ngoài định hướng tuyên truyền nâng cao hiểu biết về bệnh, các chương trình được phát sóng còn phải mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, giúp mọi người hiếu được bệnh THA Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống bệnh THA nhận thức đúng đắn về lối sống, quan điểm chưa đúng, tiến tới từ bỏ những thói quen xấu và thực hiện lối sống lành mạnh để phòng chống THA
Tại cộng đồng, tổ chức các buổi nói chuyện và tư vấn về THA với sự hợp tác của các cơ quan, đoàn thể và các tổ chức xã hội như Hội người cao tuổi, Hội Phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, trường học… Tổ chức giao lưu nói chuyện 2 lần/ 1 năm hưởng ứng ngày THA thế giới (17/5 hàng năm) Tại các địa phương tổ chức các buổi nói chuyện, sinh hoạt định kỳ câu lạ bộ người THA, giúp người dân trao đổi với các chuyên gia về bệnh THA
TT-GDSK kết hợp với các cơ quan truyền thông báo chí: Các bài GDSK phổ biến kiến thức về THA, tìm hiểu về bệnh THA… Các báo có số lượng độc giả lớn, cả trên báo viết và báo mạng
Hình 1 : Tờ rơi về phòng chống THA Đặt các bảng tuyên truyền Pano, áp phích về THA tại các vị trí công cộng như: Tại các điểm công cộng đông người qua lại, tại các bệnh viện tỉnh/ thành phố; tại các bệnh viện và trung tâm y tế quận/ huyện; tại các trạm y tế xã/ phường… Phân phát các tờ rơi tuyên truyền về bệnh THA cho các hộ gia đình, tờ rơi có nội dung dễ hiểu như: THA là gì? Yếu tố nguy cơ của THA? Cách phòng bệnh THA? Biến chứng của THA? Thực hiện lối sống lành mạnh phòng chống bệnh THA?
Hình 2 : Pano về phòng chống THA Thông qua phỏng vấn một số người bệnh và quan sát thực tế công tác GDSK cho NB tăng HA của nhân viên y tế tại khoa nội tim mạch BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc tôi nhận thấy:
Hầu hết người bệnh THA khi vào điều trị tại khoa đều được nhân viên y tế GDSK Tuy nhiên, khi tiến hành GDSK cho người bệnh THA, nội dung GDSK còn khá sơ sài nhân viên y tế thường chỉ chú trọng đến cách dùng thuốc và chế độ ăn còn lại những nội dung tập luyện, theo dõi biến chứng, và tái khám NB ít được GDSK
Hình thức GDSK cho NB THA chủ yếu là tư vấn trực tiếp được lồng ghép trong quá trình chăm sóc Người bệnh chưa có các buổi tư vấn cụ thể cũng như chương trình giáo dục chi tiết Khoa cũng chưa tạo được môi trường để NB chia sẻ khiến thức với nhau
Nguồn thông tin người bệnh THA được nhận thông tin GDSK chủ yếu qua nhân viên y tế tư vấn còn lại các hình thức khác (qua đài, tivi, internet, sách báo, tài liệu, tờ rơi, pano, áp phích) hầu như NB ít được biết đến
Trong khi đó, nhu cầu của NB tăng HA về các nội dung GDSK khá đa dạng: Hầu hết NB đều mong muốn GDSK về các nội dung (cách sử dụng thuốc, chế độ ăn, biến chứng THA, cách theo dõi tác dụng phụ của thuốc, chế độ tập luyện…) và mong muốn nhận được các thông tin về THA từ nhiều chiều và nhiều nguồn thông tin
Như vậy thực trạng về công tác GDSK cho NB tăng HA tại khoa nội BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc có những ưu điểm sau:
+ Các lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo khoa luôn quan tâm, hỗ trợ, chỉ đạo công tác GDSK cho NB tăng HA
+ Đa số cán bộ y tế có tâm huyết với nghề
+ Khoa đã tổ chức triển khai GDSK cho NB tăng HA bằng hình thức tư vấn trực tiếp lồng ghép trong quá trình điều dưỡng chăm sóc người bệnh Vì thế khi vào khoa, NB được điều dưỡng tư vấn một số kiến thức về bệnh THA
+ Khi NB được xuất viện về cộng đồng, NB được hướng dẫn về chế độ dùng thuốc, chế độ ăn và cách theo dõi HA thường xuyên tại nhà để phát hiện những biến chứng của THA