1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phan tich nhan vat vo chong nghi que

11 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích nhân vật vợ chồng Nghị Quế
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Bài văn mẫu
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 229,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phan tich nhan vat vo chong nghi que Download com vn Bài văn mẫu lớp 8 Phân tích nhân vật vợ chồng Nghị Quế Phân tích nhân vật vợ chồng Nghị Quế Mẫu 1 Bản chất của bọn quan lại, địa chủ thời thực dân[.]

Trang 1

Bài văn mẫu lớp 8

Phân tích nhân vật vợ chồng Nghị Quế - Mẫu 1

Bản chất của bọn quan lại, địa chủ thời thực dân phong kiến là dùng mọi thủ đoạn để làm giàu trên xương máu của nhân dân lao động nghèo khổ Vợ chồng Nghị Quế là hình ảnh tiêu biểu sâu sắc nhất đã được Ngô Tất Tố xây dựng thành công trong tác phẩm Tắt đèn

Hình ảnh độc ác, tàn nhẫn của ông Nghị, bà Nghị trong tác phẩm đã giúp ta hiểu thêm về tầng lớp địa chủ thời ấy Trọng xã hội Việt Nam giai đoạn 1936-1939, nhân dân ta đang chịu cảnh một cổ hai tròng: thực dân và phong kiến Thuế thân, thứ thuế đánh trên đầu người rất nặng nề làm cho nhân dân ta vốn không đủ ăn, đủ mặc, lại càng trở nên khánh kiệt, điêu đứng

Đã vậy, bọn địa chủ chỉ nhờ dịp thuế ngặt nghèo, khi cánh cổng làng Đông Xá đóng lại, trâu không được ra đồng làm việc là chúng tha hồ giở thủ đoạn tàn bạo nhất để mua rẻ bán đắt từ tài sản đến sức lao động của người nghèo khổ nhất Phải, chính thời điểm ấy, vợ chồng Nghị Quế đã có dịp bộc lộ bản chất tàn ác, bất nhân mua ổ chó và đứa con ruột của chị Dậu

Trước hết, Nghị Quế là loại địa chủ ngu dốt, vọng ngoại mù quáng, lại rất keo kiệt bủn xỉn Hắn cho rằng theo Tây, giống Tây là sang trọng nên dặn vợ phải gọi con cái là mợ như bà phán, bà kí trên tỉnh Nói năng như vậy là văn minh

Trang 2

Từ xưng hô đến cách bày biện trong nhà đều cải tiến Hắn treo tranh quảng cáo sữa bò giữa hai câu đối trong phòng khách! Tuy nhiên, cách ăn uống của nó thô thiển, thiếu văn hóa, lại mất vệ sinh Hắn súc miệng òng ọc mấy cái, rồi nhổ toẹt xuống nền nhà

Hắn có một cái dinh cơ lớn mà một đĩa giò kho ăn làm mấy bữa, còn dư lại bà Nghị phải đếm từng miếng, giao hẹn với người giúp việc Nhân lúc sưu thuế ngặt nghèo, vợ chồng Nghị Quế đã dùng thủ đoạn ,"ông đánh bà xoa" để mua

rẻ chó của chị Dậu Túng cùng, sợ anh Dậu đang đau ốm mà bị hành hạ, đánh đập, chị Dậu đứt ruột bán cái Tí Nhân tiện, vợ chồng Quế mua luôn đàn chó với giá rẻ ông nghị dùng thủ đoạn "ức hiếp”, "dọa nạt", dồn chị Dậu vào thế bí, biểu hiện qua các cử chỉ đập tay xuống sập, quát , qua giọng nói lúc thì quát, lúc thì cáu , qua lời nói: “Bán thì đi làm văn tự Không bán thi về, về thẳng!” Trái lại, bà Nghị dùng thủ đoạn "dỗ dành", làm ra “thông cảm’’ biểu hiện qua

cử chỉ an ủi:

"Thôi thế này, chó tao cũng mua vậy, cả chó con lẫn chó cái sang đây tao trả cho một đồng nữa Với con bé kia một đồng là hai Thế là mày đủ liền nộp sưu lại khỏi nuôi chó, khỏi nuôi con, sướng nhé!”

Cái từ sướng nhé của bả Nghị thật nhẫn tâm, tưởng như nhát dao cắt thêm một nhát vào tấm lòng đang đứt đoạn của người mẹ nghèo khổ, cùng quẫn Có người mẹ nào sung sướng khi phải xa rời đứa con ruột thịt của mình với niềm vui sướng khỏi phải nuôi con như chị? Tại sao bà Nghị, là một phụ nữ lại không hiểu rõ điêu ấy?

Phải chăng vì mối lợi đã làm bà tối mắt, nói và làm chỉ cố thuyết phục người ta làm theo ý riêng của bà, có lợi cho bà nhất mà thời? Chà đạp lên tình mẫu tử thiêng liêng, bà Nghị quả là con người tàn nhẫn! sự ti tiện bủn xỉn thật dễ nhận

ra khi vợ chồng Nghị Quế muốn mua rẻ con bé đã tỏ ra nghi ngờ, dèm pha, hạ tuổi cái Tí xuống 6 tuổi, có lí do trả giá rẻ hơn nữa! Thảm hại đau đớn cho chị Dậu thì tàn nhẫn, bất nhân bấy nhiêu lại dồn về Nghị Quế! Thực vậy, một đứa trẻ ngây thơ, hiếu thảo nhưng cái Tí lại bị chà đạp Với chó, bà Nghị căn dặn che cho nó khỏi nắng còn cái Tí lại bị bà bắt ăn cơm thừa của chó Thực không

có tính ngươi!

Trang 3

Vơ vét cũng chưa hả Vợ chồng Nghị Quế còn lật lọng bằng cách đê tiện nhất.

Từ hai đồng hứa mua cái Tí, cuối cùng cũng chỉ có hai đồng lại có thêm một bầy chó Chị Dậu van nài, bả hứa cho thêm hai hào nữa nhưng lại bắt đóng lại hai tiền giấy mực Chúng thật xảo quyệt! Chị Dậu biết bị xử ép, thiệt thòi nhưng về thì đâm đầu vào đâu, để chồng bị trói đến bao giờ nữa? Hiểu rõ hoàn cảnh chị, vợ chồng Nghị Quế đã không hề nương tay giúp đỡ mà còn chén ép nhiều hơn

Cho đến khi cái văn tự bán con viết xong thi có lẽ cả chị Dậu, cả người đọc chúng ta đều sửng sốt đến hốt hoảng! Mua bán với giá hai đồng mà văn tự đã thành hai mươi đồng Thực là trắng trợn chưa từng có! Thế là chị Dậu không

có cơ hội chuộc lại đứa con thân yêu của mình Để giải thích cho chị Dậu khốn cùng ấy, bà ta đã nói: “Tao nắm đằng chuôi chứ không nắm đằng lưỡi” Thật là đau xót cho chị Dậu Chị Dậu đứt ruột đến bao lần! Chị Dậu bảo vệ người chồng đau ốm khỏi bị đánh đập mà khó khăn chồng chất đến thế! Sưu thuế đánh lên đầu người dân nghèo mà nặng nề đến thế ư?

Sự ti tiện và lật lọng đến thế vẫn chưa đủ, ta còn hốt hoảng hơn khi “bà” Nghị giàu sang ấy còn trả tiền thiếu cho chị, để đến nỗi việc đóng thuế còn rắc rối mãi Sợi dây khốn cùng bế tắc ngày càng thắt chặt lấy người phụ nữ đáng thương này!

Đến đây thì bản chất “mặt người dạ thú”, giàu mà dốt nát, bất nhân đã lộ rõ ra Chọn lọc chi tiết giàu ý nghĩa biểu hiện, Ngô Tất Tố đã xây dựng được hai nhân vật phản diện rất điển hình cho một địa chủ ngu dốt, bất nhân đương thời Qua hành vi, ngôn ngữ của vợ chồng Nghị Quế, ta hiểu được bản chất bất nhân, tàn ác của một tầng lớp xã hội trong buổi nhân dân ta còn chìm đắm trong bóng đêm của thời Pháp thuộc Đó là cách làm giàu, cách sống của một tầng lớp người quên tình dân tộc và quên tình đồng loại Ta càng hiểu vì sao nông dân ta

đi làm cách mạng để giành lấy quyền sống cho mình Ngày nay và cho mãi mãi sau này, Tắt đến còn mãi như một minh chứng hùng hồn cho tội ác của chế độ sưu thế trước Cách mạng tháng Tám 1945

Trang 4

Phân tích nhân vật vợ chồng Nghị Quế - Mẫu 2

Trong thời kỳ 1936- 1939, văn học hiện thực Việt Nam đã xuất hiện nhiều tác phẩm có giá trị Cũng như một số các nhà văn khác, Ngô Tất Tố đã đi sâu vào đời sống quần chúng lao khổ, tìm thấy ở đó những bất công của chế độ đương thời “Tắt đèn” là tác phẩm của Ngô Tất Tố viết trong giai đoạn này, giai đoạn

mà bọn thống trị thực dân phong kiến đang dùng uy lực bóc lột người dân nghèo Việt Nam cùng cực hơn trước

Tác phẩm “ Tắt đèn” của Ngô Tất Tố là một bản cáo trạng lên án chế độ thực dân phong kiến dã man Người nông dân trong tác phẩm được Ngô Tất Tố vẽ

ra với những nét chân thực Đó là những con người mà quyền sống bị coi rẻ.Thiếu tiền nộp sau thuế ( thứ sưu thuế đánh cả vào người đã chết), họ phải bán con, bán chó

Trong “ Tắt đèn”, chị Dậu là người nông dân có cuộc đời đầy khổ nhục, chị sống trong cảnh xã hội đầy bất công: “ Người ăn không hết, kẻ lần chẳng ra”! Thiếu tiền nộp sưu, chồng chị bị bắt, chị buộc phải bán con, bán chó để trả sưu, chuộc chồng Cuộc mua bán ở nhà Nghị Quế không phải là cảnh mua bán bình thường, mà là một tấn bi kịch Sau lời hỏi vay mượn, đến mặc cả bán con, bán chó Nghị Quế đã dùng bao âm mưu xảo quyệt để hòng bóp chặt lấy yết hầu người nông dân Chúng bắt chị phải ký nhận mượn vàng bạc kết thúc tấn bi kịch, Ngô Tất Tố viết: “ Dứt mạch diễn thuyết, ông Nghị bưng tách nước, ông uống một hớp nước lớn, súc miệng òng ọc mấy cái rồi nhỏ toẹt xuống nền nhà

Trang 5

- Tùy đấy, mày có tin nhà tao thì điểm chỉ vào đem về cho chồng mày ký tên, và xin chữ ký lý trưởng nhận thực tử tế rồi mang sang đây, thì tao sẽ giao tiền cho Nếu mày không tin thì thôi Đây tao không ép.

Hai hàng nước mắt chan hòa với những giọt mồ hôi thánh thót rơi xuống gò

má, chị Dậu cắm mặt đứng im Một lát sau chị quả quyết:

- Con xin vâng theo lời cụ.

Thế rồi chị giơ bàn tay buộc giẻ, chìa hai ngón tay để cho ông giáo bôi mực và

in vào bức văn tự, giắt vào dải lưng Bước ra thềm, chị nhặt cái mê nón bị chó cắn rách Ngần ngại chị đặt mê nón lên đầu, cúi chào vợ chồng ông Nghị và ông giáo Bà Nghị căn dặn nhắc đi nhắc lại:

- Nhớ lấy cái gì đậy cho mấy con chó kẻo nó bị nắng!”

( Trích “ Tắt đèn” của Ngô Tất Tố) Đọc xong đoạn văn, chúng ta thấy hiện ra trước mắt một cảnh thương tâm Chúng ta không khỏi sôi sục căm hờn bọn Nghị Quế và không khỏi thông cảm sâu sắc với chị Dậu Với nghệ thuật sắc bén, Ngô Tất Tố dùng ngòi bút của mình, ngòi bút thấm đượm mồ hôi nước mắt của bao người lao khổ để vẽ nên

bộ mặt vô cùng bỉ ổi của vợ chồng Nghị Quế Nghị Quế là đại diện cho bọn phong kiến thống trị do thực dân Pháp nặn nên; chúng lợi dụng mọi thời cơ để bóc lột người dân nghèo Nhà văn đã nắm chắc cái bản chất, đi sâu vào tim đen của chúng để miêu tả, dựng nên một “ ông Nghị” không có gì là đạo mạo, đứng đắn

“ Ông Nghị” được Ngô Tất Tố vẽ ra bằng cử chỉ “ đặt tăm ngang miệng chén,

vẽ chòm râu” “ đập tay xuống sập”, và bằng lời “ quát” v.v Đọc những từ ngữ đầu tiên của đoạn văn, ta thấy ngay cái vẻ của ông Nghị Đó là con người cậy thế, khinh rẻ người dân Ngô Tất Tố đã dựng nên một tên địa chủ đáng khinh bỉ Với cử chỉ “ uống một hớp nước , súc miệng òng ọc mấy cái rồi nhỏ toẹt xuống nền nhà” tên Nghị Quế thật là xấu xa, kinh tởm! Từ cách miêu tả hành động, cử chỉ bên ngoài tác giả dẫn ta tới nội tâm của nhân vật Chỉ mới qua hành động đầu tiên ấy thôi, ta cũng đã thấy thái độ thô bỉ của hắn Nghị Quế cậy thế, cậy chức “ ông Nghị” để ức hiếp mọi người Trước mắt người dân

Trang 6

nghèo, Nghị Quế cố tăng thêm uy thế hòng bóp hầu bóp cổ người nghèo khổ dễ hơn

Hãy xem tác giả dẫn chúng ta đi vào nội tâm dã man của Nghị Quế như thế nào? “ Tùy đấy ” Lời nói của Nghị Quế bùng ra sau cái súc miệng òng ọc mới cay độc làm sao! Từng cử chỉ, từng cách xưng hô của hắn đều tỏ ra rất hách dịch Trái lại, mụ Nghị Quế lại đong đưa, dụ dỗ Tất cả chỉ là một nhịp, chỉ là hai gọng kìm khít lại, xiết chặt Bản chất của chúng là giả nhân, giả nghĩa Chúng bóc lột, mua người với giá rẻ mạt; mua được đứa con, khúc ruột của gia đình chị Dậu, vợ chồng Nghị Quế còn nói với chị Dậu “ Thôi, tao nuôi cho là phúc”, “ từ nay không phải nuôi con, nuôi chó, sướng nhé!” Chúng

“ nhân đạo” như vậy đó! Giờ đây chúng còn ra mặt tốt, bảo chị Dậu là “ tùy”,

“ có tin thì điểm chỉ” Lời lẽ của Nghị Quế rào trước đón sau Thâm tâm muốn lừa gạt chị Dậu, nhưng mồm lại ra vẻ không thèm:

“ Không tin thì thôi Đây tao không ép”

Chúng ta còn lạ gì cái dã tâm của bọn địa chủ, những kẻ “ Đây tao không ép” Đấy chính là luận điệu lừa gạt của Nghị Quế Chúng biết rằng chị Dậu đang lâm vào bước đường cùng quẫn, trước sau cũng phải làm theo ý chúng mà thôi, nên hẳn tin chắc dù có nói thế, chị Dậu cũng chẳng dám từ chối việc bán con, bán chó

Trong toàn bộ tác phẩm, bộ mặt Nghị Quế bị vạch ra nhiều lần Tác giả đã xây dựng Nghị Quế thành một hình tượng phản diện sắc nét Đó là “ ông Nghị” mà bước đường công danh là “ bước đường tắt”, bắt đầu từ chức lý trưởng, vượt qua những bậc phó tổng, chánh tổng, rồi nhờ cơm, rượu, bò, lợn và nhờ quan phủ, quan tỉnh hợp sức với nhau đưa ông lên ghế Nghị viện Đó là ông Nghị keo kiệt “ suốt năm chí tối không phải thết một ông khách nào trừ hai ngày giỗ cha và mẹ”

Nghị Quế không phải chỉ xấu ở tác phong mà còn dã man trong thủ đoạn bóc lột Nó bắt chị Dậu phải ký một văn tự giả mạo buộc chị vào một món nợ suốt đời không trả nổi Nghị Quế cũng như bọn quan lại đương thời bòn rút người nghèo từng đồng xu nhỏ Nghị Quế có khác chi “ cụ lớn” có thói quen thò tay vét trong chiếc đĩa trên bàn mong có đồng tiền “ hậu tạ” của anh Pha, người

Trang 7

nông dân cùng khốn trong tác phẩm “ Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan!

Tác giả đã mô tả một cách rất hiện thực dã tâm của tất cả bọn chúng Với nghệ thuật khéo léo, với từ ngữ gợi tả, tác giả đã mô tả Nghị Quế vừa gian ác, ti tiện, vừa thô bỉ, xảo quyệt Âm mưu viết tự giả mạo càng lột tả tâm địa dã man của hắn

Nhân vật Nghị Quế được dựng nên để ta căm ghét, phỉ nhổ Bên cạnh “ ông Nghị” bỉ ổi ấy người nông dân- nạn nhân của chế độ hiện ra chất phác, thật thà, hiền lành và đầy đau thương khổ nhục Nếu như trên, Ngô Tất Tố vẽ ra “ ông Nghị” bằng sự khinh bỉ, căm ghét thì giờ đây tác giả vẽ nên chị Dậu bằng xót thương và thông cảm

“ Hai hàng nước mắt chan hòa với những giọt mồ hôi rơi xuống gò má ” khi nói đến chị Dậu, tác giả mở đầu như thế Ta thấy gì ở đây? Căm hờn làm sao, xót thương, thông cảm với người cùng khổ làm sao! Chị Dậu, người nông dân tiêu biểu cho bao người nông dân khác, trong thời Pháp thuộc đã sống trong đói nghèo, cùng cực, trong cảnh nông thôn náo động vì sưu thuế, trong tiếng trống

mõ thúc thuế liên hồi, tiếng tù và, tiếng ốc thổi không ngớt, trong cảnh sản xuất

bị ngừng trệ, trong cảnh người bị đánh đập, cùm kẹp, cảnh bán con cho địa chủ, cảnh chia ly tan tác của gia đình diễn ra không ngớt Ta đã biết nước mắt chị Dậu không phải giờ đây mới chảy mà đã tuôn trào từ lâu

Nước mắt chị chắc đã giàn giụa khi nhìn thấy nhà cửa xơ xác, “mấy ông vua bếp mẻ đầu đang cười với chiếc vung nứt rạn” lòng chị chắc đã thắt lại tê tái khi thấy lũ con tranh nhau bới rễ khoai lang nhá rau ráu Chị khổ đã nhiều! Chồng chị lại bị bắt bị thiếu sưu- thứ sau đánh cả vào người đã chết, cỏ chưa xanh mồ! Người phụ nữ nghèo khổ ấy đã sống trong cảnh:

“ Nửa đêm thuế thúc trống dồn Sân đình máu chảy, đường thôn lính đầy”

“ Ba mươi năm đời ta có Đảng- Tố Hữu” Giờ đây chị lại phải khóc “ nước mắt chan hòa với những giọt mồ hôi thánh thót” Đó là những giọt nước mắt hay nỗi lòng của chị, tình thương con, thương chồng hay nỗi khổ vì cuộc đời cơ cực nhói lên trong tim? Chị Dậu đứng im,

Trang 8

nước mắt chị vẫn “ hòa” với mồ hôi! Hình ảnh chị “ cắm mặt đứng im” gieo vào lòng chúng ta bao cảm xúc Chắc lúc này chị đang nghĩ “ nên hay không”

ký vào văn tự? Về thì đâm đầu vào đâu? Thôi trời đã bắt tội thì phải chịu vậy! Trước mặt chị lại đổ sập xuống bóng tối khủng khiếp của con đường cùng quẫn:

“ Kiếp người cơm vãi cơm rơi Biết đâu nẻo đất, phương trời mà đi”

“Ba mươi năm đời ta có Đảng- Tố Hữu” Tâm trạng chị thật là đáng xót thương! Tác giả để chị Dậu đứng im ở đấy, khiến lòng chúng ta cũng lắng xuống, vừa thương vừa lo âu nặng trĩu! Chị Dậu thương con, thương chồng nhưng làm sao được

Ánh sáng của Đảng, ánh sáng đấu tranh giành cuộc sống chưa dọi tới chị Chị chỉ biết tin ở số trời

Từ suy nghĩ đó, chị đã dám quả quyết Lời nói của chị vẫn là lời nói nhún nhường của kẻ dưới:

“ Con xin vâng theo lời cụ”

Thật đứt ruột đứt gan khi phải quyết định như vậy “ Mẫu tử tình thâm”, thế mà chị dám dứt áo lùa con, ném con vào làm tôi tớ! Chúng ta không có quyền trách móc chị Chúng ta thương chị, chúng ta căm hờn bọn thống trị đã đẩy chị vào thế cùng đường tắc lối!

Qua cơn vật vã của tâm hồn, chị Dậu lại hiện ra với dáng điệu, cử chỉ đầy chua xót Hình ảnh “ Chị giơ tay buộc giẻ cho ông giáo bôi mực” gieo vào lòng ta một cái gì khó tả Cũng như chị Dậu, hàng vạn nông dân Việt Nam đã xót xa, đau đớn khi phải đưa ngón tay điểm chỉ vào những văn tự bán ruộng, bán vợ,

đợ con Họ sống tăm tối, đói nghèo, cơ cực Họ là nạn nhân của bọn thống trị đang tâm dày xéo lên họ, bần cùng Chính từ cái dấu mực loang lổ ấy mà đói nghèo, cùm cha, xiềng xích mọc lên Chính từ cái dấu tay đó mà vợ chồng chị Dậu mất con và còn bị Nghị Quế ức hiếp mãi về sau nữa

Dáng dấp của chị Dậu trông thật đáng thương “ Giắt vào dải lưng” tờ văn tự, chị ra về “ Cái mê nón bị chó cắn rách nát” được chị cầm lên Cùng khổ là ở

đó Chắc tác giả đã đổ nhiều nước mắt với nhân vật ở câu văn này! Tác giả đã

Trang 9

cho ta thấy một nỗi khổ cực không cùng Thật là người bị chủ bóc lột, của cũng

bị chó cắn chẳng tha! Tất cả là rách nát Cái nón chị rách nát ra sao, thì lòng chị cũng rách nát, rớm máu làm vậy! Nhìn thấy nón rách mà chị “ ngần ngại” Chị ngần ngại không phải vì:

“ Chém cha cái nón rách này Làm ta xấu hổ vì mày nón ơi!”

Mà chính là vì bàng hoàng trước những sự việc phũ phàng liên tiếp trút lên đời chị

Tác giả không để chị Dậu “ đội” nón lên đầu mà phải “ đặt nón lên đầu” Thật nặng nề làm sao! Cái mê nón ấy cũng nặng trĩu như tấm lòng của chị

Chị Dậu được miêu tả thật rõ nét Đến chỗ này ta như thấy trước mắt ta một người đàn bà vẻ mặt hốc hác dưới cái nón mê bị chó xé mất vành Ta như thấy chị bước đi chậm rãi và se sẽ đưa tay nắn tờ “văn tự” xem thử nó có còn không! Chúng ta tưởng chị Dậu cứ thế về thẳng, ai ngờ chị vẫn bị gọi giật lại bằng giọng hách dịch của bà Nghị:

“ Nhớ lấy cái gì đậy cho mấy con chó kẻo nó bị nắng!” Tác giả chị để mụ Nghị nói thế thôi, nhưng lời nói ấy lại tăng thêm lòng căm hờn ở chúng ta Phải rồi! Che lấy mấy con chó cho đỡ nắng, còn con bé - con người – thì kệ nó Bộ mặt tàn nhẫn của vợ chồng Nghị Quế lại càng hiện rõ mồn một Ở chúng, tính chất bóc lột, miệt thị con người đang lộ liễu! Mà thật vậy, chúng chỉ biết lợi cho bản thân, còn như người dân nghèo thì chúng không thèm đếm xỉa tới Nếu

có để ý tới cũng chỉ để nhòm xem có cái gì, còn ổ chó con mới mở mắt nào để mua rẻ mà thôi!

Ngô Tất Tố đã miêu tả nhân vật bằng những nét điển hình Khơi sâu lòng căm hờn khi kết thúc tấn bi kịch, tác giả gợi lại cảnh dã man Đọc đến đây ai là người quên được cái xúc miệng òng ọc, cái văn tự trá hình của vợ chồng Nghị Quế!

Lòng căm thù về sự bất lương của bọn Nghị Quế trỗi dậy trong ta Thông cảm cùng chị Dậu, người nông dân khốn cùng, ta hằng muốn theo dõi tâm tình chị sau khi điểm chỉ vào cái văn tự giả mạo kia Chắc rằng trên đường đi về tới làng, chị không sao khỏi suy nghĩ Chị biết trước rằng dứt bỏ đứa con đã cùng

Trang 10

chị chung sống, cùng chị chia sẻ mọi đau xót, là một tội lỗi Chị cũng thấy cái

tờ giấy loang lổ dấu tay chị, giắt bên sườn đây là mầm mống cực khổ sau này của chị Nhưng người nông dân chất phác ấy lại rất thương chồng, thương con Anh Dậu đang bị giam, chị muốn cứu chồng qua cơn cực nhọc, nên chị mới quả quyết điểm chỉ vào văn tự ở nhà Nghị Quế Thấy cực khổ sẽ đến nhưng chị nghĩ, liều cho con vào ở, may ra còn sống có tiền cứu được chồng thoát khỏi gông cùm Sau này ăn ở tốt với ông Nghị thì chắc giấy này –tờ văn tự bất lương- cũng vô giá trị ( bọn họ chẳng hứa với chị thế hay sao!) Ta tin chắc ý nghĩ ấy sẽ chiếm chỗ trong lòng chị Lúc này chị tin như thế Nhưng có biết đâu, bọn địa chủ có bao giờ để cho chị toại nguyện

Cuộc sống sau này của chị vẫn khốn cùng: Lao thêm vào nghề vú em, chị càng chị sâu vào đêm tối mịt mù, cuộc đời chị như ngọn đèn lụi tắt

Màn bi kịch trên đã thuộc về hôm qua Và không còn diễn lại ngày hôm nay nữa Ngày nay cuộc đời đau buồn xưa kia được thay bằng tiếng ca, điệu nhạc vui tươi! Nếu như xưa kia chị Dậu và hàng triệu nông dân:

“Có làm mà chẳng có ăn

Có ngày mà sống tối tăm mịt mù Sống mịt mù vì vua vì giặc Sống mịt mù vì tức vì tô ”

( Dặn con – Trần Hữu Thung) Thì giờ đây, khác hẳn thay đúng hơn ngược lại hẳn Tiền đồ người nông dân lúc bấy giờ như ngọn đèn đã tắt Mặc dầu ngọn đèn ấy có tắt vì gió cường quyền, áp bức song trong bầu dầu vẫn tràn trề Đảng về, tay Đảng bẻ xiềng gông Đảng châm lại ngọn lửa trước đây đã tắt

Ngày nay trên miền Bắc chúng ta không còn những “Nghị Quế”, “ cụ lớn”,

“ thầy cai”, không còn “ con cá há miệng chịu đòn phũ phàng” mà chỉ còn những mái ngói mới, hoa gạo đỏ tươi bên giếng nước đầu làng Chỗ mà bọn lý dịch ngày ấy cùm trói người thiếu sưu, giờ đây là thư viện, là trường học

Miền Bắc vẫn còn gian khổ, nhưng giờ đây người người hợp tác xây dựng cuộc đời Tuy nhiên miền Nam của chúng ta vẫn còn cảnh mà chị Dậu đã sống

Ngày đăng: 05/04/2023, 14:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w